Trách nhiệm của người tiến cử nhân sự qua bản dụ Minh Mệnh gửi Nguyễn Hữu Thận: Chuyện xưa bài học nay
Tiến cử là giới thiệu người tài tham gia vào bộ máy quản lý mà không thông qua thi cử (hoặc chỉ kiểm tra riêng, không tổ chức thành kỳ thi tuyển). Năng lực của người được tiến cử chủ yếu dựa vào mức độ uy tín của người tiến cử. Người tiến cử phải chịu trách nhiệm đảm bảo về năng lực, đạo đức của người được tiến cử. Bài viết giới thiệu bản Dụ của vua Minh Mệnh trách phạt Nguyễn Hữu Thận về việc giới thiệu người tham lam, không đủ năng lực tham gia vào bộ máy chính quyền. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác giới thiệu, lựa chọn cán bộ hiện nay.
1. Câu chuyện về việc tiến cử
Nguyễn Hữu Thận từng làm quan cho nhà Tây Sơn và Nguyễn, trải qua nhiều chông gai chốn quan trường. Nhiều lần ông được khen thưởng, thăng chức nhưng cũng không ít lần bị giáng cấp, trách phạt. Chưa có nhiều công trình đánh giá về nhân cách của ông, song những đóng góp của ông trong việc tiến cử người tài, hay về học thuật (đặc biệt là lĩnh vực toán học) thì không thể phủ nhận được.
Nguyễn Hữu Thận 阮有慎(1757-1831), tự Chân Nguyên 真原, hiệu Ý Trai 意齋, quê làng Đại Hòa, huyện Hải Hưng, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Khoảng năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Hữu Thận làm quan với nhà Tây Sơn, thăng đến chức Hữu Thị lang Bộ Hộ. Năm Nhâm Tuất (1802), thời thế thay đổi, ông ra làm việc với nhà Nguyễn từ các chức quan như Chế cáo ở Viện Hàn lâm, Thiêm sự ở Bộ Lại. Ít lâu ông được điều vào Quảng Nghĩa (Ngãi) làm Cai bạ. Năm Kỉ Tị (1809), ông về triều nhậm chức Hữu Tham tri Bộ Lại. Sau đó ông được cử làm Chánh sứ cùng với hai Phó sứ Lê Đắc Tần và Ngô Thì Vị sang Trung Quốc. Vốn là người say mê lịch pháp từ nhỏ nên trong thời gian đi sứ ở Bắc Kinh ông đã tìm mua được nhiều sách quí về lịch số và toán học. Sau khi đi sứ về, năm 1811, ông được bổ làm Tham tri Bộ Hộ. Năm 1812, ông làm Phó quản lí Khâm thiên giám, sau đó triều đình cử ra làm Hộ tào Bắc Thành. Một thời gian sau ông lại trở về triều nhận chức Thượng thư Bộ Lại. Năm Nhâm Thân (1812), triều đình giao cho ông kiêm quản tòa Khâm thiên giám. Năm Bính Tý (1816), ông lại được điều ra làm Hiệp trấn Bắc Thành, rồi sau đó về triều tiếp tục giữ chức Thượng thư Bộ Lại. Năm 1820, ông đổi sang làm Thượng thư Bộ Hộ, trông coi việc ở Khâm thiên giám. Ông mất năm Tân Mão (1831), thọ 74 tuổi. Ông để lại bộ sách quý về toán học: Ý Trai toán pháp nhất đắc lục意齋算法一得錄; đặc biệt khi làm Hiệp Tổng trấn Bắc thành ông đã chép sách Minh Mệnh công văn 明命公文… Ông được tác giả sách Quốc triều sử toát yếu 國朝史撮要khen ngợi rằng: “(Nguyễn Hữu) Thận tinh thiên văn học và lịch học, lúc sang sứ Tàu, học được phép làm lịch lại càng thêm tinh. Ngài (Gia Long) thường bàn thiên văn với Thận, khen lắm”1 .
Ông có đóng góp không nhỏ trong việc giúp triều đình chọn người hiền tài ra giúp nước. Ông từng tiến cử Trương Đăng Quế, Doãn Văn Xuân và Ngô Hữu Vĩ2 tham gia triều chính. Việc này được Quốc triều sử toát yếu cho biết: “Tháng 5 âm lịch năm đó (tức năm 1820), nhà vua sai Thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Hữu Thận lựa người nào học hạnh thuần cẩn, sung làm Hoàng tử trực học để dạy các Hoàng tử. Trương Đăng Quế, Doãn Văn Xuân và Ngô Hữu Vĩ liền được cử lên và được dùng3.
Ông được đánh giá cao trong việc phát hiện và tiến cử danh thần Trương Đăng Quế. Trương Đăng Quế sau đó đã trở thành triều thần trụ cột của 4 đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức với nhiều chức vụ quan trọng như: Thượng thư Bộ Binh, Cơ mật viện đại thần (1831), Chánh chủ khảo thi Hội (1833, 1838), Thượng thư Bộ Lễ (1839), Quốc sử quán Tổng tài (1841), Cần chánh điện Đại học sĩ (1848)… Dù nắm giữ vị trí cao trong triều nhưng Trương Đăng Quế sống giản dị, liêm khiết. Trong nhiều bản tấu sớ dâng vua, ông luôn nhấn mạnh đề nghị tiết kiệm công quỹ, không xuất của kho mua hàng xa xỉ của phương Tây, chấn chỉnh, tinh giản hàng ngũ quan lại, chú trọng việc bổ nhiệm cho người có thực học, thực tài. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện 大南正編列傳 có đoạn chép: “Quế lúc làm quan giữ mình khiêm tốn, chính trực, kiến văn nhiều, xử đoán khéo, làm quan hơn 40 năm, ngồi ở chức Tể tướng thế mà ăn mặc giản tiện sơ sài, không khác gì lúc còn chưa làm quan và lại có tính siêng năng... Triều đình lấy làm trọng, các tiên thánh vốn vẫn chọn dùng... Các danh thần lúc bấy giờ như Tráng liệt bá Nguyễn Tri Phương, mà vua cũng bảo là phong độ không bằng Quế. Sau khi Quế chết, Hoàng
thượng thương nhớ, triều đình lấy làm tiếc. Các hoàng thân, công chúa và sĩ phu trong ngoài đều làm thơ văn, câu đối đem đến phúng” 4. Nhờ sự tiến cử của Nguyễn Hữu Thận mà Trương Đăng Quế có điều kiện thuận lợi để cống hiến cho đất nước. Triều đình nhà Nguyễn cũng nhờ đó có một vị quan tài giỏi, thanh liêm.
Tuy nhiên trong cuộc đời làm quan của mình, Nguyễn Hữu Thận đã có lần nhầm lẫn, tiến cử người không có năng lực, đạo đức yếu kém, tham lam vơ vét của công nên ông đã bị vua Minh Mệnh ban Dụ trách phạt. Việc này khiến ông vừa bị giảm uy tín vừa bị xử phạt lương bổng. Bản Dụ của Minh Mệnh gửi Nguyễn Hữu Thận được chép trong Ngự chế văn sơ tập 御 製 文 初 集 , kí hiệu VHv.69/1-7 hiện được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Bản Dụ đã được phiên dịch trong sách Minh Mệnh Ngự chế văn (dụ văn)5 như sau: “Dụ Nguyễn Hữu Thận, Nguyễn Văn Hưng trước đây tiến cử Nguyễn Đức Hoa làm Tri huyện huyện Tuy Viễn. Nay Nguyễn Đức Hoa tham của đã bị hạt này tâu trình, nên hai người tiến cử người không ra gì này đáng phải chịu tội. Nhưng nghī việc hai người đều tự nhận tội và xin được xét xử là hợp lẽ. Vậy gia ân phạt Nguyễn Hữu Thận và Nguyễn Văn Hưng mỗi người 6 tháng bổng để tỏ rõ sự phạt nhẹ. Từ nay về sau, ai tiến cử người thì nên chú ý xem xét người đó thế nào, không được để họ lừa mình như trước, làm cho mình mắc tội. Cũng không được coi đó là việc khó mà im lặng giữ mình, để phụ sự uỷ nhiệm của trẫm. Hai ngươi chắc lĩnh hội được ý đó.
Hãy kính theo dụ này.
Ngày 11 tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 4 (1823)”6.

“Dụ Nguyễn Hữu Thận, Nguyễn Văn Hưng đẳng” trong sách Ngự chế văn sơ tập7.
Chưa rõ tiểu sử của Nguyễn Đức Hoa ra sao, thành tích thế nào mà được Nguyễn Hữu Thận tiến cử nhưng căn cứ vào bản Dụ vua Minh Mệnh ban cho Nguyễn Hữu Thận thì có thể suy đoán vì vội vàng không xem xét, thử thách kỹ lưỡng, hoặc cũng có thể do Nguyễn Đức Hoa nịnh nọt, che mắt mà để đến cuối cùng người như Nguyễn Hữu Thận vẫn có thể bị mắc lừa, bị vua Minh Mệnh khiển trách.
2. Công tác cán bộ và việc giới thiệu, tiến cử
“Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, việc tiến cử người thực tài, có đạo đức vào các vị trí lãnh đạo, quản lý đất nước cần hết sức thận trọng. Ví như việc Nguyễn Hữu Thận giới thiệu, đề cử hai trường hợp là Trương Đăng Quế và Nguyễn Đức Hoa. Nếu giới thiệu, tiến cử đúng người sẽ đem lại lợi ích to lớn cho đất nước đồng thời tạo điều kiện cho cán bộ có năng lực, nhiệt huyết thật sự được tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước. Và nếu bất cẩn có thể giới thiệu sai người, không chỉ ảnh hưởng đến uy tín cá nhân mà còn ảnh hưởng tới tập thể, tạo dư luận không tốt cho bộ máy chính trị. Vua Minh Mệnh là người đề cao tính
kỷ luật, trọng dụng nhân tài đã chỉ ra bài học trong công tác giới thiệu, lựa chọn nhân tài: “ai tiến cử người thì nên chú ý xem xét người đó thế nào, không được để họ lừa mình như trước, làm cho mình mắc tội...”.
Công tác cán bộ luôn được Đảng và Nhà nước ta coi là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới sự phát triển bền vững của đất nước. Việc ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm người đề cử, tiến cử cán bộ là điểm then chốt trong công tác nhân sự để lựa chọn được cán bộ có đức, có tài tham gia vào bộ máy chính trị. Người giới thiệu phải chịu trách nhiệm và sẽ bị kỷ luật khi người được giới thiệu không đủ phẩm chất đạo đức. Trong bài viết “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng”, Tổng Bí thư, Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, công tác nhân sự phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, bảo đảm thật sự công tâm, thật sự trong sáng, khách quan, đặc biệt phải "có con mắt tinh đời" trong việc đánh giá, giới thiệu, lựa chọn... Muốn thế, phải thật sự phát huy dân chủ trong việc phát hiện, giới thiệu nhân sự đi đôi với xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan...8. Việc này khó nhưng “cũng không được coi đó là việc khó mà im lặng giữ mình” như trong lời Dụ của vua Minh Mệnh căn dặn Nguyễn Hữu Thận nói riêng và các quan chức nói chung. Thế mới biết, công tác cán bộ thời nào, ở đâu cũng cần có sự tinh tường, nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức vì dân vì nước.
Mượn lời sớ của danh thần Trương Đăng Quế - một trong những người được tiến cử vừa có tài vừa có đức để thay lời kết, chứng minh nếu tiến cử đúng người thì đất nước sẽ phát triển, người được tiến cử luôn tràn trề nhiệt huyết vì “dân giàu nước mạnh”: "Đường lối trị nước, cần ở dùng người, nhất là quan lại cấp huyện; Muốn quan thanh liêm, không gì bằng bớt viên chức đi, mà tăng lương bổng...9. Công tác nhân sự từ xưa đã để lại nhiều bài học cho ngày nay. Và đây cũng là một trong những ý nghĩa của công tác bảo tồn, khai thác và phát huy di sản Hán Nôm; khai thác vốn cổ của dân tộc phục vụ công cuộc đổi mới toàn diện, phát triển bền vững mà Đảng ta đang phát động hiện nay./.
Tài liệu tham khảo và trích dẫn
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều sử toát yếu, bản dịch NXB. Văn học, 2002, tr.111.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều sử toát yếu, bđd, tr.145.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều sử toát yếu, bđd, tr.145.
4. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện, bản dịch NXB Thuận Hóa, 1993, tập 2, tr.459, 464.
5. Khi dịch Trần Văn Quyền lấy tên: Minh Mệnh, Ngự chế văn (dụ văn), NXB. Hà Nội, 2000.
6. Minh Mệnh, Minh Mệnh Ngự chế văn sơ tập, bản dịch Trần Văn Quyền, bđd, tr.116.
7. Minh Mệnh, “Dụ Nguyễn Hữu Thận, Nguyễn Văn Hưng đẳng” trong sách Ngự chế văn sơ tập, quyển 5, tr.35a,b.
8. Nguyễn Phú Trọng: “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng”, Tạp chí Cộng sản, số 941 (5-2020), tr.5,6.
9. Lược theo Đại Nam chính biên liệt truyện (bản dịch), bđd, tr.454-456.
10. Lương An (1986), "Nguyễn Hữu Thận" in trong Danh nhân Bình Trị Thiên, NXB. Thuận Hóa.
11. Trịnh Khắc Mạnh chủ biên (2021), Từ điển tác gia Hán Nôm, NXB. Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
12. Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế (1992), Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB. Khoa học xã hội.