Bài thơ đền Trấn Võ của Tùng Thiện Vương (Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (90)2008; Tr.67-69)
BÀI THƠ ĐỀN TRẤN VÕ CỦA TÙNG THIỆN VƯƠNG
DƯƠNG VĂN KHOA
Hội nhà văn, Hà Nội
Miên Thẩm - Tùng Thiện Vương (1819 - 1870), tự là Thận Minh, hiệu là Thương Sơn, biệt hiệu là Bách Hào tử, là con thứ 10 của vua Minh Mệnh. Tác giả Thương Sơn thi tập và Nạp bị tập, ông là nhà thơ nổi tiếng nửa cuối thế kỷ XIX. Thi phẩm được giới thiệu trên đây in ở trang 356 sách Việt Nam Văn học sử yếu, Nha học chính Đông Pháp ấn hành 1941, Dương Quảng Hàm chủ biên. Tác phẩm được viết bằng chữ Hán - Thất ngôn bát cú luật Đường.
高樓獨上思低徊
寂寞寒鐘暮色催
古樹有枝棲夜月
殘碑無字鎖蒼苔
百年銅像巍然在
五代金門半已頹
只剩西湖雲太好
隨風猶拂畫簾來
松善王
Bài thơ được ông Việt Ngâm (chưa rõ danh tính) chuyển ra chữ Quốc ngữ:
Phiên âm:
Cao lâu độc thượng tứ đê hồi,
Tịch mịch hàn chung mộ sắc thôi.
Cổ thụ hữu chi thê dạ nguyệt,
Tàn bi vô tự tỏa thương đài.
Bách niên đồng tượng nguy nhiên tại,
Ngũ đại kim môn bán dĩ đồi
Chỉ thặng Tây hồ vân thái hảo,
Tùy phong do phất họa liêm lai.
Tùng Thiện Vương.
Dịch nghĩa:
Lầu cao một chắc ruột vò tơ,
Trời tối chuông chùa tiếng vẩn vơ.
Cây cổ có ngành treo nguyệt rạng
Bi tàn mất chữ phủ rêu lờ.
Tượng đồng muôn thuở còn trơ trọi,
Cửa ngọc năm triều nửa đổ hư,
Lựa có Hồ Tây mây khá đẹp,
Bay theo chiều gió lọt rèm thưa.
(Việt Ngâm dịch Tiếng dân, ngày 21/9/1935)
Khởi thủ Miên Thẩm viết: "Cao lâu độc thượng tư đê hồi". Câu thơ trên, ông Việt Ngâm dịch và in trên báo Tiếng dân, ngày 21/9/1935, Học giả Dương Quảng Hàm, in lại vào sách đã dẫn,t r.357: "Lầu cao một chắc ruột vò tơ". Phải nói, lời dịch theo sát nội dung và nhạc tính thơ nguyên tác. Ở câu thơ này ta đặc biệt chú ý và suy nghĩ sâu hơn vào năm tiếng: "độc thượng tư đê hồi" - một mình trên lầu cao ruột rối như tơ vò
vì sao! - nghĩ thương những kẻ cúi thấp cầu xin được chở che - bảo vệ. Về nhạc thơ, ta nhận ra có dấu trầm buồn, một thứ buồn, âm ỷ, kéo dài. Tìm hiểu sâu hơn vào ba tiếng tư đê hồi, ta nhận ra ở đây hai chữ có bản chất phù bình rồi, hạ xuống trầm bình. Câu thơ chỉ bảy con chữ đã có tới năm tiếng mang thanh bằng cao rồi hạ xuống thanh bằng thấp đứng ở cuối câu thơ “hồi” ý như nén lại không cho lời thơ thoát - bay lên. Cái buồn ấy không được chia sẻ - nó âm thầm tượng hình trong lòng nhân vật thơ. Chỗ này lời dịch không theo được nguyên tác.
Câu hai - thừa đề, nói sâu hơn vào câu đề, tác giả viết: "Tịch mịch hàn chung mộ sắc thôi" - Chiều lạnh, bóng sáng vẻ run sợ, giữa khi đó tiếng chuông chùa lại lặng lẽ ngân vang thúc dục tối. Ông Việt Ngâm chuyển câu thơ trên thành: "Trời tối chuông chùa tiếng vẩn vơ". Kể dịch như thế đọc lên nghe êm tai. Xem xét kỹ một chút hóa ra chưa ổn bởi lời dịch mới chỉ làm thoát đôi phần ý tưởng trong nguyên bản. Nói rõ hơn, câu thơ dịch chưa theo sát ý tứ có trong bản chữ Hán vì thế nhiều ý thơ bị vương mất - chưa gợi lên được cái không khí của buổi chiều mùa đông tĩnh lặng - buồn; giữa khi đó tiếng chuông chùa lại đủng đỉnh ngân lên như gợi các linh hồn từ bốn phương về nhập, vì thế càng gợi sâu hơn về cái sự thanh vắng nơi chùa Trấn Võ xưa.
Về nhạc, câu thơ dịch cũng không theo được nhạc trong nguyên tác. Cụ thể nhạc trong câu hai của Miên Thẩm trầm lắng, lan sâu vào - bốn phương trên dưới rồi êm dịu cất lên tan loãng vào bao la. Trong khi đó nhạc của câu thơ dịch lại bát ngát bay bổng với giọng điệu ngắn và nhỏ. Đó là bởi các chữ mang thanh (mang dấu giọng) ở mỗi câu thơ gợi nên thí dụ: với câu thơ nguyên tác có bảy (7) con chữ thì đã có tới hai con chữ mang thanh trọc đứng ở đầu câu thơ - thanh có bản chất trầm đục “tịch mịch”, đọc lên không có âm vang, không những thế tiếng thứ năm (5); tiếng có chức năng phát động cho cả dòng thơ lại là một hạ thanh “mộ”, thử hỏi làm sao câu thơ không âm thầm buồn - một nỗi buồn sâu. Ngược lại câu thơ dịch không có được các nét ý như đã phân tích trong câu thơ nguyên tác. Thế mới biết dịch thơ là rất khó, dịch thơ của các bậc tài danh lại càng khó.
Hai câu: ba, bốn - Hai câu thực hay còn gọi là hai câu trạng, hai câu này tiếp tục khai thác, mở rộng câu đề và thừa đề, Miêu Thẩm - Tùng Thiện Vương, viết:
"Cổ thụ hữu chi thê dạ nguyệt
Tàn bi vô tự tỏa thương đài".
Xưa tấp nập, cây (cổ thụ) có cành cho trăng đậu nghỉ. Rêu, cỏ xanh rủ kín văn tự - mặt bia. Hai câu thơ, một lãng mạn thơ mộng và một lại trần trụi hiện thực - một gợi về thời thanh bình “tấp nập”, trăng đậu trên cành cổ thụ nghỉ, câu bốn (4) lại gợi không khí điêu tàn, cỏ, rêu lan lấn mặt bia. Đây còn là một cặp đối chặt chẽ về cả chữ lẫn ý: xưa và nay, thanh bình và tao loạn, tấp nập và hoang vắng. Việt Ngâm dịch hai câu thơ ấy là:
"Cây cổ có ngành treo nguyệt rạng
Bi (bia) tàn mặt chữ phủ rêu lờ"
Xét về ý tứ, câu thơ dịch trên đây theo sát nguyên tác. Song, nhạc thơ, đặc biệt hai chữ cuối câu ba (chữ Hán) có bản chất mạnh mẽ (dạ), đứng trước chữ (nguyệt), bản chất trầm nhập - chìm xuống, co lại, không lan được xa, sâu, thể hiện sự âm thầm bức bối của chủ thể - nhân vật thơ. Trong khi đó, ở câu thơ dịch, chữ (nguyệt), lại đứng trước chữ (rạng) trầm khứ thanh - cái co cụm giờ đã được cởi bỏ và triển nở. Như vậy câu thơ dịch không phản ánh đúng cảm xúc - tâm trạng của tác giả - Tùng Thiện Vương gửi vào nhân vật thơ của mình. Bản chất lặng lẽ có ở mọi bức tượng nói chung, tượng quan Trấn Võ nói riêng là sự thật.
Hai câu luận - khai thác - mở rộng sâu hơn vào hai câu thực. Tác giả viết:
"Bách niên đồng tượng nguy nhiên tại
Ngũ đại kim môn bán dĩ đồi".
Tượng đồng cao trăm tuổi còn đốt cháy (như thế), bỏ nửa cửa vàng (kim môn - cửa sang trọng, đài các) năm triều đại sụt lở. Đây cũng là một cặp đối cân xứng cả chữ lẫn ý:
Tượng đồng trăm tuổi > đối < cửa sang năm đời
Bốn dòng thơ - hai cặp đối, chỉ hai mươi tám con chữ không có gì gọi là ẩn mật, Tùng Thiện Vương đã dựng lên, gợi về một giai đoạn lịch sử đau thương của dân tộc nửa cuối thế kỷ XIX - thời kỳ thực dân Pháp căn bản đã bình định xong Bắc kỳ, nói chung, thành Thăng Long - Hà Nội nói riêng.
Câu bẩy - thúc kết - gom lại những ý chính đã nói ở hai phần thực và luận, nhà thơ viết: "Chỉ thặng Tây Hồ vân thái hảo" - Chỉ đám mây lớn phía Tây Hồ như còn (hiếu) yêu thích. Câu thơ có cái vẻ khó hiểu. Bản dịch thơ của Việt Ngâm là: "Lựa có Hồ Tây mây khá đẹp" cũng không cho ta thông tin gì mới, ý tứ câu thơ còn ẩn mật quá. Suy nghĩ sâu hơn vào tiếng vân (mây), thấy rằng mây là do hơi - khí khắp vùng miền trong vũ trụ bốc lên, tụ thành từng đám dầy, mỏng khác nhau. Người xưa có câu: "Bạch vân thương cẩu" - đám mây màu trắng đã biến thành hình con chó xanh, ý nói sự biến hóa khôn lường của trời đất. Như vậy, bảy tiếng: "Chỉ thặng Tây Hồ vân thái hảo". Câu thơ lửng lơ, nhiều ý tứ. Như chúng ta đều biết bản chất của mây là vô tình, vô sắc hương, vô dạng. Ấy vậy mà nhà thơ lại nói chỉ thặng hảo - còn như yêu thích - quyến luyến. Đám mây yêu thích Tây Hồ ư ! không lỡ rời xa cảnh “sụt lở” của “Kim môn ngũ đại” ư !
Vẫn biết ngôn ngữ thơ không mang tính chỉ định, nó mang tính ẩn dụ bậc cao, góp gợi người đọc tự suy nghĩ, liên tưởng về các chiều, các hướng của cuộc đời. Từ ý thức ấy câu thơ của Miên Thẩm như muốn nói mây - vật vô tri vô giác còn biết quyến luyến không lỡ rời xa cảnh Tây Hồ, huống chi là người.
Kết hay còn gọi là hoàn kết - khép lại bài thơ, Tùng Thiện Vương viết: "Tùy phong do phất họa liêm lai". Có thể hiểu: Gió theo sau giống như phẩy vẽ bức rèm an ủi, cũng có thể hiểu gióng lên mưu kế đánh lại lúc này có khác nào gió động bức mành mành. Ông Việt Ngâm dịch câu thơ này là: "Bay theo chiều gió lọt rèm thưa".
Sự thật câu thơ nguyên tác đa tầng, lắm ý khó dịch cho sát một ý cụ thể. Nhưng dịch như thế thì không chỉ làm mất vẻ đẹp câu thơ mà còn làm vơi đi nhiều ý tưởng của tác giả. Sự lửng lơ này phù hợp cho nhiều thức giả, nhiều đối tượng người đọc.
Bài thơ tuy đã khép lại mà dư vị của nó như còn vương mãi trong không gian: "Tùy phong do phất họa liêm lai" (Bay theo chiều gió lọt rèm thưa)./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (90)2008; Tr.67-69)