Đôi nét liên quan đến tôn giáo của dân tộc Tày - Nùng, vai trò của thầy trò Tào trong ma chay, cúng bái (Tạp chí Hán Nôm, Số 5(96) 2009; Tr. 54-57)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 5(96) 2009; Tr. 54-57)
ĐÔI NÉT LIÊN QUAN ĐẾN TÔN GIÁO CỦA
DÂN TỘC TÀY - NÙNG, VAI TRÒ
CỦA THẦY TRÒ TÀO TRONG MA CHAY, CÚNG BÁI
HOÀNG HỰU
Giảng viên Đại học Thái Nguyên
Tào, Bụt, Then, Nàng Hương là loại hình tôn giáo trong ma chay, cúng bái của đồng bào Tày, Nùng. Tiếng dân tộc thường dùng các khái niệm trên kèm theo một động từ “hết Tào, hết Bụt, hết Then” (làm Tào, làm Bụt, làm Then). Ông Tào, có vai trò lớn hơn trong xã hội. Nàng Hương ở vùng Bắc Kạn thường là phụ nữ.
Bụt là âm đọc cổ của từ Phật. Ngôn ngữ trong văn phong của Bụt chủ yếu xướng ca bằng tiếng Tày, Nùng, thuộc lòng, không xem sách, cũng có các chương đoạn giống Then, như Khảm khải (Vượt biển); trình Quán Ân, lên thượng giới,… dọc đường hành quân nhiều binh mã, đầy gian nan trắc trở, đánh nhau với ma quỷ. Lời xướng có kèm theo nhạc (tiếng Tày là: mjạc樂), tượng trưng nhịp hành quân của kỵ binh. Chùm nhạc dùng tay rung. Thầy Bụt ở Cao Bằng, Bắc Kạn nhiều, Lạng Sơn ít. Mỗi vùng có những điệu xướng khác nhau. Ông Bụt thường được mời đi cúng cho người ốm, giải hạn, ma chay, lễ “thăng quan tiến chức” trong giới Bụt. Trang phục của Bụt trong đám ma, lễ tiến chức thường thường mặc áo mũ thêu thùa kim tuyến như Đường Tăng, nhưng sắc vải áo không rạng rỡ bằng thầy Tào. Xuất xứ của Bụt trong dân tộc Tày, Nùng chưa biết có từ giờ.
Then là loại hình tôn giáo theo đạo giáo, vừa có Phật vừa có tiên, được nhiều học giả nghiên cứu; quần chúng yêu chuộng; giai điệu phong phú, nhiều chương mục. Nhạc cụ của Then là một chùm nhạc, ngoắc vào ngón chân cái, dùng bàn chân để rung tiếng nhạc hoà nhịp với đàn tính, hát suốt đêm, người rất đông. Then được mời trong các đám ma (kèm theo ông Tào), đi giải hạn, cúng lễ ốm đau, “thăng quan tiến chức” cho những người làm nghề cúng bái. Thực chất làn điệu Then là một loại hình văn học dân gian, phản ánh tâm trạng quần chúng mang mầu sắc tôn giáo. Then ngày nay đã được vận dụng sáng tạo dưới dạng “bình cũ rượu mới” trong các buổi liên hoan văn nghệ.
Nghiên cứu về Then là một công trình, một đề tài lớn cần tiếp tục tìm hiểu. Then, Bụt chủ yếu là thuộc lòng, không mấy khi xem sách (cũng có ông Then xem sách chữ Nho).
Tào - tiếng Tày phiên âm từ chữ道 (đạo) mà ra, chủ yếu là theo đạo giáo, thần linh, ma quỉ. Trong đám ma có thể có Then, Bụt nhưng vai trò chính là ông Tào. Theo nghề làm Tào phải biết chữ Hán, có ông biết cả chữ Nôm. Không phải ai cũng làm được Tào. Ngoài việc chữ nghĩa, ông Tào phải biết yểm bùa, phù phép. Sách vở của thầy Tào mang theo làm đám tang hàng chục cuốn đựng vào hai cái hộp đan bằng mây, gọi là "choóng", trong đó còn có trang phục và các nhạc cụ. Vì liên quan đến thư tịch cho nên cần tìm hiểu kỹ cung cách làm việc của ông Tào.
Người viết bài này là con ông Tào, trực tiếp nhiều lần được thể nghiệm “mục sở thị, nhĩ sở văn” (tai nghe mắt thấy). Tuy nhiên do khuôn khổ của bài viết không thể nêu được quá chi tiết.
Cho đến ngày nay Tào, Then, Bụt vẫn đang được sử dụng. Vì nó thuộc một hình thái ý thức xã hội gần như là nhu cầu bức thiết của quần chúng. Khi có ma chay mà không có ông Tào “xử lý” êm thấm thì khi chết sẽ thành con ma đói, đi lang thang, quấy nhiễu chủ nhà, họ hàng.
ĐÁM TANG:
Khi thầy Tào được mời đến sẽ viết ngay các tờ tấu, sớ, lá bùa có đóng triện. Đám tang xưa kia (cách đây vài chục năm) nhà nghèo thì để 3 ngày, nhà giàu thì để từ 10, 12 ngày. Ông Tào nào giỏi phù phép thì thi thể không thối rữa ngay. Người viết bài này khi đó quá non trẻ, không biết chữ Hán, chỉ thuộc làu, làm thay cha vài công đoạn. Nhiệm vụ chủ yếu là đánh trống, chiêng, chũm, chọe.
1. Nhạc cụ
- “Nào” 钅闹loại nhạc cụ bằng đồng, pha gang sắt, kêu vang xa khoảng vài chục mét, tiếng giòn tan.
- Choong (𪔠trống)
- Chũm chọe.
- Thanh la钅青羅
2. Trang phục
- Áo dài đến gót, gắn chữ, các hình con vật thêu thùa ánh bạc; hàng loạt gương con có đường kính của mỗi gương khoảng 1,5cm;
- Mũ kiểu Đường Tăng có thêu thùa rồng, gắn gương.
3. Dụng cụ kèm theo
- “Trản”: là một cây gỗ dài khoảng 60-70cm, một đầu to toè ra, một đầu nhỏ vừa tay cầm. Đầu to có khoét một lỗ tròn lõm xuống, vừa đủ đặt chén rượu.
- “Thẻn”: hai mảnh gỗ khép lại thành hình tròn - thuôn thuôn từ nhỏ đến lớn dài khoảng 10cm, dùng để bói xin “lệnh” của thần, tổ tiên. Khi khép hai mảnh vào bật xuống chiếu, nếu hai mảnh đều ngửa là được phù hộ hoàn toàn. Nếu hai mảnh úp chỉ có nghĩa là nâng đỡ. Tiếng Tày gọi hai hiện tượng úp, mở này là "sloong khoẳm lồng tài, sloong ngai lồng cụm". Nếu một mảnh ngửa, một mảnh úp xem chừng chưa ổn, phải xin “lệnh” tiếp. Thao tác này có thể lặp lại vài lần đến khi được phù hộ hoàn toàn mới thôi. Các dạng bài cúng đều dùng “thẻn”.
4. Sách chữ Nho của ông Tào
Có hàng chục cuốn, làm đến công đoạn nào thì lấy sách đó ra bày trước mặt mà xướng lên. Các công đoạn ngoài trời chủ yếu là thuộc lòng trên nền văn bản. Dưới đây xin trình bày vài đoạn thuộc lòng mà bản thân tôi đã từng mặc trang phục Tào làm lễ thay cha. Các đoạn thuộc lòng cho đến bây giờ dù biết tiếng Hán vẫn không rõ là phương ngôn Quảng Tây hay Quảng Đông. (Theo phán đoán chủ quan là phương ngôn Quảng Đông):
a) Đoạn trình Ngọc Hoàng thượng đế:
“Phung dén giang hò xà, giang vài xà, phung phúng den, phung dén giang hò xà, giang vài xà, phung hò hỏ hó den à !!...”
b) Đoạn trình tổ tiên:
“Dền vàng chí slim slao sle a à à! Pà tố slư vàng lềnh, pà tố ề sao sinh; chám ly hủ sang hò hỏ hó thien à!”.
c) Đoạn trình mời rượu tổ tiên, thượng giới.
“Cứu khú chân hủ sáng hừ chân hủ sang, nàm khì tản thén phu, cứu lù chu vàng lềnh, từ dến vang lềnh sào, vàng slâng sần, then hò hỏ hó chân à!”.
Những từ “hò”, “a, à”, “hừ” là những ngữ khí từ - tựa như hát dân ca có “ới a”, “ý a”, vừa có giá trị biểu cảm, vừa làm sinh động hóa nhạc tính trong câu “hát xướng”.
5. Về phù phép (còn gọi là bùa)
a) Ông Tào:
- Khi khâm liệm, nhập áo quan cần yểm bùa cho thi thể yên ngủ ngàn thu. Ông Tào nào cao tay thì kể cả mùa hè nóng bức, xác cũng chậm thối rữa, không có mùi hôi thối.
- Phù phép khi hát xướng, chương “phá ngục” ở ngoài trời. Đó là một mảnh vải trắng quây quanh tròn, tượng trưng cho lao ngục, đường kính khoảng 2m2, ở giữa có thắp hương, chén rót rượu, một bát gạo có cắm hình “mào dần”, một quả trứng gà đặt trên “trấu”. Khi kết thúc ông Tào dùng dao chặt đôi quả trứng sau đó yểm bùa, coi như ngục đã bị phá. Hình thức “phá ngục” ở mỗi vùng về mặt chi tiết có thể có khác nhau đôi chút.
* Qua rãnh than:Một cái rãnh đào xuống đất sâu 2 gang, dài 3-4m, rộng 3 gang, trong lòng rải một lớp than củi cháy đỏ rực. Sau khi yểm bùa ông Tào mặc áo mũ cân đai đi trước, toàn gia quyến tang chủ cùng đi theo bằng chân đất không thấy bỏng. Không phải ông Tào nào cũng đủ phù phép làm việc này.
*Qua chảo dầu:
Một cái chảo chứa dầu hoặc mỡ cỡ lớn để cách rãnh than 2m, đang cháy bùng bùng, ông Tào từ từ bước qua mà không cháy áo quần.
* Lên chòi:
Cái chòi tạm thời, 4 cột có diện tích mặt chòi 2m2, ông Tào đứng trên đó xướng lên một bài gì đó, một tay cầm rượu, một tay cầm nhành cây thanh táo, chấm vào chén rượu, hất vẩy về bốn phương tám hướng để báo thần linh tứ phương phù trợ và răn đe ma quỉ.
b) Phù phép của ông Then (bà Then), ông Bụt:
Ông Bụt, ông Then (bà Then) có động thái gần như nhau, là khi ma tổ tiên nhập thân trước khi kết thúc lễ cúng thường nhảy ngồi cao khoảng 50-60cm, phát ra âm thanh của người đã khuất. Người đã khuất thường nói về những điều gì không hài lòng hoặc đòi hỏi điều gì với gia đình…
Ví dụ: Nếu động mồ mả thì phải làm lễ cúng bái, sửa sang (động mả có thể do đào bới, do dễ cây đâm vào…) sau khi ông Bụt, ông Then được tổ tiên nhập thân, liền nhảy vào đống lửa đỏ rực đã rút hết củi ra, ngồi trên đống than đỏ đạp toé tung; tiếp đó nhai mịn một bóng đèn dầu rồi mới tỉnh lại như người bình thường.
6. Về tế lễ
Trong đám tang thường có buổi tế lễ. Tế lễ thường diễn ra ở gia đình khá giả. Người ta dùng một con lợn mổ xong rồi để nguyên vẹn nằm phục ngoảnh đầu vào thi hài, một người cầm cờ tang vẫy đi vẫy lại trước mặt gia chủ có tang ngồi xếp theo hàng ngang. Ông Tào xướng lên một bài văn tế tiếng Tày đã chuẩn bị sẵn bằng chữ Nôm. Tùy quan hệ giữa người đã khuất và tang chủ mà nội dung văn tế có khác nhau.
Ví dụ: Bà mất hoặc mẹ mất thì mào đầu văn tế thường có câu:
(Mẻ tả lục lô) ! 媄佐子六口罗
(Mẹ bỏ con ra đi) !
Cuối mỗi đoạn ngắn của văn tế thầy Tào xướng lên từ “ô hô)嗚呼cả nhà hô theo.
Nội dung văn tế thường nói lên tình cảm tốt đẹp, cần cù của người đã khuất.
*
Tào, Bụt, Then, Nàng Hương là các loại hình hoạt động thuộc phạm trù tôn giáo đã tồn tại bao đời nay và ăn sâu vào tiềm thức của quần chúng nhân dân các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc nước ta.
Trong cuộc sống văn hoá mới, các hình thức hoạt động mo, cúng bái có phần thuyên giảm một khi nhận thức của quần chúng ngày một nâng cao. Tuy nhiên phần tang lễ vẫn được duy trì với mức độ giản tiện hơn.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 5(96) 2009; Tr. 54-57)