Liên kết website
Thống kê truy cập

14.Tùy bút về CAO BÁ QUÁT (TBHNH 2002)

03/04/2007

TUỲ BÚT VỀ CAO BÁ QUÁT

NGUYỄN TIẾN ĐOÀN

Thái Bình

       Cao Bá Quát một nhân vật lịch sử, một nhà thơ đặc sắc trong lịch sử văn học nước ta. Hiếm thấy một nhà thơ nào nửa đầu thế kỷ XIX được bao quanh nhiều huyền thoại và giai thoại như ông. Sinh thời có lẽ tiếng tăm ông đã bao trùm cả triều đình lẫn thứ dân trong thôn ấp nên mới có câu “Thần Siêu, Thánh Quát”. Trước ông không xa đã có bao ngọn núi lớn cuối thế kỷ XVIII rồi. Cứ cho rằng câu “Văn như Siêu Quát” là lối ngoa ngôn của người đương thời tỏ lòng yêu kính ông, mặt khác là một cách đả kích một số triều thần nhà Nguyễn khi ấy là ngu dốt, nịnh bợ – Rất có thể. Song khi ông đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương thì đôi câu đối người đời khóc ông chẳng lẽ lại vẫn là ngoa ngôn?

嗟 哉! 冠 古 才 名, 難 弟 亦 難 兄, 不 世 偶 生 還 偶 死.

已 矣! 到 頭 事 勢, 此 人 而 此 景, 混 塵 留 臭 即 留 香.

Phiên âm:

Ta tai! Quán cổ tài danh, nan đệ diệc nan huynh, bất thế ngẫu sinh hoàn ngẫu tử.

Dĩ hĩ! Đáo đầu sự thế, thử nhân nhi thử cảnh, hỗn trần lưu xú tức lưu hương!

Dịch nghĩa:

         Than ôi! Tài danh tuyệt thế, khó có người anh em như thế, sinh chẳng gặp thời, cùng sinh và cùng mất(1),

         Thôi rồi! Sự thế đáo đầu, người như thế mà cảnh như thế, đời này hỗn độn, tiếng xấu tức tiếng thơm.

       Cao Bá Quát có nhiều dữ kiện để xác định ông là bậc tài danh bất tử. Một mảng là truyền thuyết dân gian và giai thoại về ông. Những gì đã thuộc về dân gian thì thật tuyệt vời. Mảng này vừa là giá trị vừa là thước đo tài năng nhân cách ông. Nó in sâu vào trí nhớ nhân dân, lưu truyền từ đời nọ qua đời kia và nghiễm nhiên nó trở thành một di sản tinh thần góp vào di sản chung của cả dân tộc; trong đó có cái mà ta gọi là bản sắc Việt Nam. Từ ngày Cao hy sinh đến nay đã một trăm năm mươi năm, ở nông thôn Thái Bình tôi đã có dịp tiếp xúc với nhiều cụ cao tuổi trong việc sưu tầm văn nghệ dân gian ở các xã trong tỉnh thì thấy các cụ còn nhớ khá nhiều giai thoại về Cao Bá Quát – Mỗi người kể theo một cách, nhưng cái lõi vẫn là văn tài, trí thông minh và tính uyên bác của ông. Qua những giai thoại ta có thể hình dung ra cốt cách anh hùng và cao thượng của ông.

       Chẳng hạn giai thoại sau đây nhiêu người đã biết, nay nhắc qua một vài chi tiết đáng lưu ý.

       Tự Đức là một ông vua sính văn học, hay làm thơ vịnh sử, vịnh vật, vịnh cảnh và thích nói chuyện văn chương với quần thần.

       Chuyện kể rằng: Có một đêm vị vua này nằm không ngủ vì thích thú nghĩ được hai câu thơ nửa Nôm nửa Hán:

Viên trung oanh điểu khề khà ngữ

Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai

(Chim oanh trong vườn khề khà hót

Ngoài nội hoa đào lấm tấm nở)

       Sáng dậy gặp Quát, Tự Đức liền hỏi, hỏi để khoe:

       - Trẫm có hai câu thơ, khanh nghe thế nào?

       Quát nghe xong, cười rồi nói: “Hai câu này ở trong bài Đường luật, cổ nhân đã có”. Tự Đức bảo, vậy khanh đọc trẫm nghe. Và Cao đọc luôn:

Bảo mã tây phong huếch hoác lai,

Xênh xang nhân sự thác đê hồi.

Viên trung oanh điểu khề khà ngữ,

Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai.

Xuân nhật bất văn sương lộp bộp,

Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài.

Khù khờ thi tứ vô nhân thức,

Khệnh khoạng tương lai vấn tú tài.

Đại ý bài này nói:

Con ngựa quý phóng nhanh như gió tây huyếch hoác lại,

Xênh xang chuyện người muốn gửi gắm chút cảm hứng.

Chim oanh trong vườn hót khề khà.

Hoa đào ngoài nội nở lấm tấm

Ngày xuân không nghe thấy sương rơi lộp bộp,

Trời thu chỉ thấy mưa bay bài nhài

Thi tứ khù khờ không người hiểu cho,

Khệnh khoạng mang đến hỏi người tài giỏi về tứ thơ đó.

Nghe xong Tự Đức bảo: “Đây là thơ ứng tác của khanh. Vì nể trẫm mà nói là thơ của cổ nhân!”

       Một hôm Tự Đức chuẩn bị ngựa xe, võng lọng, thị vệ lính tráng đầy đủ để đi săn. Chẳng may giữa đường gặp mưa. Tự Đức sự nhớ đến bài thơ của Cao Bá Quát bữa trước nhà vua chỉ sửa lại một số câu chữ mà rõ ra một bài thơ đi săn gặp mưa.

       Toàn bài như sau:

Bảo mã tây phong lạt xạt lai

Oanh xanh xa cái công bồi hồi

Lâm trung hảo điểu liêu tiêu ngữ

Dã ngoại hoàng hoa lát xát khai

Bạch nhật hốt văn lôi hống động

Thanh thiên sạ kiến vũ lai nhai

Kỳ khu thi vô nhân thức

Chảnh hoảnh tương lai vấn tú tài.

       Những chữ khác với bài trước là: Lạt xạt, lát xát, oanh xanh, liêu tiêu, lai nhai, chảnh hoảnh. Về chữ Hán đổi chữ xuân ra chữ bạch, chữ thu ra chữ thanh.

Tự Đức nhân lúc rảnh việc, vua tôi vui vầy, triệu tập quần thần bảo lấy bút mực viết bài thơ này xem ai viết được những chữ Nôm khó trong bài. Tất cả đều không viết được. Chỉ có Quát viết một cách dễ dàng.

        Có ba từ lấp láy: Lạt xạt, lát xát, liêu tiêu. Quát chỉ thêm “nháy vai” và đổi đội hình tiền tam giác với hậu tam giác. Ví dụ: Lạt xạt là ba chữ mã chồng. Chữ Lát theo đội hình tiền tam giác. Chữ Xạt theo đội hình hậu tam gác và đều có “nháy vai”. Còn “Lát xát” cũng viết như thế nhưng không nháy vai. Chữ “Liêu tiêu” là ba chữ Liễu chồng theo đội hình trên.

       Tự Đức xem xong bài của Quát tỏ ra đắc ý, cho đó là một cách sáng tạo chữ Nôm, vận dụng cả tượng thanh, tượng hình, tượng ý vào trong một chữ.

       Những giai thoại về thi sĩ họ Cao ứng đối với vua Tự Đức còn trong trí nhớ dân gian thường là những câu chuyện có tính điển hình mang biểu tượng hai mặt (symbole équivoque). Người nghe có thể rộng đường suy luận và học ở đó một sự khôn ngoan nào đó như trong truyện cổ tích. Ví dụ chuyện Cao sửa câu đối cho Tự Đức dự kiến đề ở điện Cần Chánh. Tự Đức soạn rằng:

Tử năng thừa phụ nghiệp

Thần khả báo quân ân.

và còn đề ở bộ Lễ. Cao xem rồi cầm bút phê luôn: “Hảo! Tuyệt hảo! Quân thần điên đảo (Tốt! tốt lắm! Vua tôi điên đảo). Các quan ở bộ Lễ tỏ ý lo sợ, thánh thượng mà biết thì cả bộ Lễ sẽ bị hình phạt nặng nề. Quát nói: “Các bác không lo. Phê được thì sửa được!”

       Quát chỉ đảo lại là:

Quân ân thần khả báo,

Phụ nghiệp tử năng thừa.

       Chuyện đến tai vua. Tự Đức không những nhất trí câu sửa của Quát mà còn thưởng cho ông ba lượng bạc, đồng thời cũng phạt ông ba roi về tội tự động vô phép tắc.

       Chuyện đêm mưa rào tháng tư lại mang những hàm nghĩa tế nhị khác nhau. Đêm mưa rào tháng tư, Tự Đức ngồi trên lầu xem mưa. Xa xa nhìn thấy những bó đuốc chập chờn ngoài cánh đồng. Nhà vua cao hứng làm thơ. Như mọi lần, Tự Đức cho triệu một số văn quan lấy giấy bút viết bài thơ đó và yêu cầu giải nghĩa.

       Bài thơ như sau:

Hạ vũ xương chu lưu lý đường,

Minh minh dạ chúc chiếu âm dương.

Tung hoành nam bắc công doanh quán,

Khứ thủ ly bì tác kỷ cương.

       Một bài thơ đồng âm, khác tự dạng, rất khó đoán trúng ý Tự Đức.

       Vị quan văn nào hiểu theo khẩu khí đế vương thì phải giải nghĩa như sau:

“Thời vua Vũ nhà Hạ, nhà Chu thịnh vượng, rồi đến nhà Hán họ Lưu, nhà Đường họ Lý.

Nền chính trị sáng như bó đuốc chiếu khắp trời đất.

Dọc ngang Nam Bắc công lao trùm thiên hạ,

Triều thần nào ngang bướng thì chặt đầu lột da để tỏ rõ kỷ cương.”

Riêng Cao Bá Quát không hiểu như vậy. Ông giải bài này như sau:

“Mưa mùa hạ như xối, nước tràn xuống ao chuôm,

Đuốc sáng chiếu rọi thấy những con ếch rạp nhau,

Chạy ngang chạy dọc bắt đầy xâu ếch,

Chặt đầu, lột da làm mấy xanh thịt!”

       Quả là Tự Đức đêm mưa ngồi trên lầu cao xem bà con nông dân ngoại thành bắt ếch. Thêm một lần Tự Đức lại phục tài Cao Bá Quát, khen trí thông minh, óc phán đoán của ông không kém gì Lưu Bá Ôn(2)

       Nếu gọi Nguyễn Du là ngọn sáo trời nhiều cung bậc chất chứa cơ sự trần gian thì Cao Bá Quát là tiếng nấc vĩ đại của con người. Thi sĩ họ Cao để lại một di sản phong phú về thơ văn mà phần nổi trội nhất trong ông là tinh thần “đại vô uý” (không hề biết sợ) của kẻ sĩ tiêu biểu của đất Thăng Long, đất Bắc Hà vốn từ xưa được coi là biểu tượng của đất nước. Hơn 1300 bài thơ và trên hai chục bài văn xuôi của Cao Bá Quát còn lại đến ngày nay là một di sản vô giá. Qua con người này, qua thơ văn ông và toàn bộ sự nghiệp ông, có thể thấy được cốt cách con người Việt Nam qua các thế hệ mà phần thực tiễn sinh động lại ở nơi ông và thế hệ ông bấy giờ.

       Cái tinh thần phản kháng không biết sợ vốn là bản chất của người anh hùng, người hiệp sĩ cứu khổ phò nguy, không chịu nổi sự giả dối, sự áp bức bất công, sự chà đạp phẩm giá con người. Cái tinh thần vô uý của ông biểu hiện thật đa dạng trong các bài thơ ông viết, dù là chủ đề nào cũng thấp thoáng tinh thần ấy.

       Khi Cao bị giam trong ngục đang bó gối ngồi buồn có ông chủ sự coi kho vũ khí đến bảo vịnh cái gông. Cao cười khoái chí, cười mà làm ngay một chùm thơ ba bài, chẳng khác nào dòng phún thạch âm ỉ tích tụ nay được phun trào. Ngay câu mở:

Nhậm giao thuỳ thị, nhậm thuỳ phi

Tổng dữ nhân gian quản nhục ki.

(Trường giang thiên)

(Dù ai phải, dù ai trái cũng mặc

Đây chỉ là cái máy làm nhục người ở cõi đời thôi).

       Chỉ hai câu ông đã khái quát lên án cái triều đình phi lý, thậm chí ngu dốt của nhà vua bấy giờ là Thiệu Trị. Năm ấy ông mới 32 tuổi, được cử làm sơ khảo trường Thừa Thiên. Việc ông phải vào nhà ngục với tội giảo giam hậu (3) vì đã lấy muội đèn chữa cho những bài làm tốt của một số sĩ tử, mà sai phạm của họ chỉ vì đụng vào tên huý nhà vua!

       Qua chùm thơ vịnh “Cái gông dài”, từ vị trí một phạm nhân ông trở thành một quan toà lên án nỗi oan khuất, lên án cái triều đình không biết trọng dụng nhân tài để những sĩ tử có tài cũng chịu chung số phận như ông. Giọng thơ ông không tỏ vẻ hằn học, vượt lên thường tình bằng những ý tứ sâu sắc, rung động lòng người pha chất u-mua (humour) rất Việt Nam.

Trước cước khởi tri cơ sự giới

Phấn nhiêm trường quái tửu tinh

Hà đương giá tác vân thê khứ

Nhất tiếu thừa phong ổn xấn hưu.

Quàng vào chân biết đâu rằng mình đã mắc bẫy,

Vểnh râu lên lấy làm lạ vì sao ngôi “sao rượu”(4) cũng bị tù?

Ước gì đem gông này bắc làm cái thang mây,

Cười xoà một tiếng, cưỡi gió mà lên cho rảnh!)

Nếu không có tinh thần tự tại vô uý thì làm sao có được một giọng thơ khoái chá như vậy!

       Đọc “Bài ca cái roi song” (Đằng tiên ca) thì tiếng nấc ông đã bật thành tiếng gào. Đọc những câu thơ sau thật buốt ruột muốn trào nước mắt cùng ông.

... “Giờ lâu bị tra hỏi, miệng không nói được,

Chỉ khan vã kêu: “oan! oan!” và gào trời.

Quan thét lên như tiếng sét rung cả rường nhà,

Roi quất nhoang nhoáng bay đi liệng lại như ánh chớp.

Lúc giơ lên như hai con thuồng luồng quật vào bờ ao lở,

Lúc ngừng như nước lạnh đổ vào nồi nước sôi.”

       Chiếc roi song như “hai con thuồng luồng quật vào bờ ao lở” giáng xuống than thể vị quan văn không biết lên “gồng” xuống “tấn” thì mạng sống chỉ là ngàn cân treo sợi tóc. Vậy mà khi tỉnh lại ông còn làm được thơ mà là thơ hay.

       Ông viết:

... “Ta cũng mày mặt như mọi người việc gì mà đau thương?

Ơn nhà, nợ nước chưa chút đền đáp,

Là người dũng cảm, đâu có chịu chết ở nơi văn tự!

Chao ôi, roi song ơi!

Mày không thấy:

Ở phía nam sông Đức Giang(5)

Ở đỉnh núi Nguyệt Hằng(6)

Trên đó có cây tùng, cây bách chết một nửa.

Nhưng vẫn cùng nhau đứng chót vót giữa trời rét mướt.

Ví phỏng có người thợ giỏi biết dùng, không bỏ nó,

Thì những hạng cây như là bồ kết và chướng não kia có đáng kể vào đâu.

Vậy mà còn đẵn phá nó thì có đang không?

       Đọc Đằng tiên ca ta có quyền liên tưởng đến hùng khí trong bài: Ngục trung nhật ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

       Không có hùng khí trong Đằng tiên ca thì ông Giáo thụ phủ Quốc Oai trước sau cũng chỉ là một bạch diện thư sinh gõ đầu trẻ, khó có thể trở thành thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương năm 1853 triều Tự Đức. Năm ấy ông mới 44 tuổi.

       Cao Bá Quát hiểu sâu sắc các triều đại phong kiến trước ông và đến triều ông sống và hoạt động đều là “Dương Nho âm Pháp” giả hiệu cả. Ông không làm nhiệm vụ tổng kết lịch sử phong kiến Việt Nam, nhưng qua thơ văn ông, thấy ông có những nét tổng kết sắc sảo, lạnh lùng. Trước hoàng quyền với quyền uy, sinh, sát, dữ, đoạt thì cái mạng sống của con người dưới thể chế ấy phỏng có nghĩa lý gì! Thế mà ông không sợ. Ông không sợ vì ông có lý tưởng. Lý tưởng ấy là gì? Đó là ý muốn xây dựng một xã hội Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang của các nhà nho xưa, là noi theo đạo các tiên vương (pháp tiên vương chi đạo) một mô hình lý tưởng theo các cấp độ khác nhau của từng thời đại. Nghiêu Thuấn với Cao là một ý niệm như ông mong muốn: phế truất bọn vua tối, tôi hèn, không có sự áp bức bất công đối với người nghèo khổ, không có sự lừa gạt nhau, biết trọng dụng hiền tài, nhân dân được no ấm, người già cả không phải gồng gánh nặng trên đường. Ông giàu lòng thương gia đình, bạn bè nghèo khổ, ông thương dân nghèo khổ mà ông chưa làm gì được cho họ. Trong bài Bệnh trung (trong lúc ốm) ông viết: “át đồng bất thức Duy Ma bệnh”. (Chú bé con không hiểu cái bệnh Duy Ma của ta). Quả là ông muốn làm Duy Ma Cật ở thành Tỳ-da-ly, một người có trí tuệ đạo đức rất cao hết lòng vì chúng sinh. Với ông là hết lòng vì dân, vì nước. Cái tư tưởng này lại được ông nhắc tới trong bài Luận thi (bàn về thơ). “Ta tự hướng tới cõi Bà sa để chuyển tống kinh Pháp hoa thôi” ý nói việc ông ra làm quan là để chuyển biến và xây dựng một xã hội tốt đẹp cho chúng sinh, cho dân tộc Việt Nam.

       Tư tưởng ấy nung nấu ông, được toát lên trong các bài thơ ông sáng tác từ tuổi thanh xuân đến khi tuổi đã luống để trở thành lý tưởng nhất quán.

       Khi qua sông Hồng với sóng nước mênh mông đã gợi lên trong ông tấm lòng vạn dặm:

Bất kiến ba đào tráng.

An tri vạn lý tâm.

(Nếu không thấy ba đào hùng tráng,

Thì biết sao được tấm lòng muôn dặm)

(Từ Thanh Trì buông thuyền xuôi nam)

       Khi lên núi thì ông muốn trèo tới đỉnh cao rồi hát vang cùng mây nước:

Ngã dục đăng cao sầm,

Hạo ca ký vân thuỷ.

(Ta muốn trèo lên đỉnh cao ngất,

Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước).

(Qua núi Dục Thuý)

       Khi tuổi đã luống mà tráng chí vẫn còn thì biên độ thơ được mở rộng, những tiết tấu trong cuộc sống bình thường và bất bình thường của ông đã nâng lên như những bản hùng ca. Trong bài thơ gửi người bạn là Nguyễn Trúc Khê lên đường nhậm chức Tri phủ Thường Tín, ta thấy khí phách và tư tưởng ông cao vời rõ ra là một vị anh hùng cứu nước giả điên đang mai phục chờ thời phất cao cờ khởi nghĩa.

... “Tiểu Ẩn(7) và Ức Trai(7) là hai nhân vật tuyệt vời

“Tài trai sống ở đời, đã không làm được việc phơi gan, bẻ gãy chấn song, giữ vững cương thường.

Lại ngồi nhìn bọn cầm quyền lang sói hoành hành,

Đến lúc tuổi già thì mặc áo gấm, ban ngày về bôi nhọ quê hương.

Cũng không làm nổi việc mài mực ở mũi lá mộc, truyền hịch định bốn phương.

“Chỉ cúi đầu luồn xuống mái nhà thấp, nhụt cả khí phách

Đến lúc già thì gối đầu vào vợ con mà chết.

Giả sử hạng người ấy xuống suối vàng gặp hai cụ, thì cũng mặt dầy, trống ngực đánh, thần sắc dũ rượi ra mà thôi.

Ngồi nghĩ đến những chuyện ấy mà dạ những bùi ngùi

Than ôi tôi già rồi còn trông mong gì nữa!

Bạn về đây xin hãy đến thăm làng Nhị Khê(7) và làng Cung Hoàng(7)

Bước lên nhà thờ của hai cụ,

Vì tôi mà lạy xuống hai lạy, dâng lên chén rượu.

Và cũng báo cho bạn cũ của tôi là Lê Hi Vinh biết,

Rằng tôi còn khoẻ không chết, chỉ mắc chứng điên mà thôi

(Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra nhậm chức tại phủ Thường Tín, đồng thời gửi cho ông bạn già là Lê Huy Vinh(11)

       Chỉ ít lâu sau ông Giáo thụ “điên” phủ Quốc Oai đã cầm đầu cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (1853) đứng lên quyết đạp đổ cái triều đình phong kiến hủ bại đã đến buổi suy vong.

       Cao Bá Quát và thơ văn ông là cả một hệ thống đề tài rất đa dạng và phong phú. Trong một bài viết không thể bao trùm, như các cụ thường nói, chẳng qua là “nhìn con báo qua lỗ ống” (Quản trung khuy báo). Nếu có thể duy danh cho ông về phương diện thơ, thì có thể gọi ông là một trong những nhà thơ anh hùng, nhà thơ trữ tình hiện thực có hoài bão và thực hiện hoài bão lớn nhất của thế kỷ 19, có tinh thần “đại vô uý” của kẻ sĩ với phẫn khí ngút trời tiêu biểu cho một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn rất đáng được tôn vinh trong lịch sử văn học Việt Nam.

Vũ Trung cuối thu năm Nhâm Ngọ

Chú thích:

(1) Chỉ hai anh em sinh đôi: Cao Bá Đạt và Cao Bá Quát. Nhưng cũng có thể hiểu: ngẫu nhiên ra đời rồi ngẫu nhiên lìa dời – cũng là một ý hay!

(2)Lưu Bá Ôn (1311-1375) tên thật là Lưu Cơ, quê huyện Thanh Điền, tỉnh Chiết Giang. Là người nổi tiếng có học vấn cao, hiểu thiên văn, giỏi binh pháp, làm quân sư cho Chu Nguyên Chương (sau trở thành vua Minh Thành Tổ) người đời lưu truyền nhiều giai thoại về ông như một Gia Cát Lượng triều Minh. Đôi câu đối:

Vạn đại quân sư Gia Cát Lượng

Nhất thống sơn hà Lưu Bá Ôn.

Được người đời truyền tụng đến ngày nay.

(3)Giảo giam hậu là một thứ hình phạt: người phạm đáng lẽ bị thắt cổ chết, nhưng hoãn việc thi hành, giam lại đợi lệnh.

(4)Sao rượu: thơ vịnh Lý Bạch của Bì Nhật Hưu đời Đường có câu “Ngô ái Lý Thái Bạch. Thân thị tửu tinh hồn” (Ta yêu Lý Thái Bạch - Ông là hồn của sao rượu).

(5) (6)Sông Đức Giang, núi Nguyệt Hằng đều thuộc tỉnh Bắc Ninh, quê hương Cao Bá Quát.

(7)Tiểu Ẩn tức Chu Văn An một danh nho đời Trần, nỏi tiếng với “Thất trảm sớ”, đòi chém7 tên nịnh thần.

(8)Ức Trai: biệt hiệu của Nguyễn Trãi, khai quốc công thần đời Hậu Lê.

(9)(10) Quê hương Nguyễn Trãi và Chu Văn An.

(11)Lê Huy Vinh, tức Lê Văn Trung người làng Thượng Phúc, huyện Thượng Phúc tỉnh Hà Nội nay là huyên Thường Tín tỉnh Hà Tây, đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1838) triều Minh Mệnh, là bạn thân của Cao Bá Quát.

Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.135-148


In