16. Hiệp trấn Ngô Thì Vị qua một số bài viết của ông về Lạng Sơn. (TBHNH 1997)
HIỆP TRẤN NGÔ THÌ VỊ QUA MỘT SỐ BÀI VIẾT CỦA
ÔNG VỀ LẠNG SƠN
HOÀNG GIÁP
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Họ Ngô Thì và cha con Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Vị ở làng Tó tức làng Tả Thanh Oai bên dòng sông Nhuệ đã được nhiều người biết đến, nhiều sách nói đến. Cách sách Hán Nôm như Ngô gia thế phả, Ngô tộc gia phả, Ngô gia văn phái, Lạng trình ký thực… đều viết về họ nhưng nặng về thơ văn ít về hành trạng. Gần đây có các sách Ngô Thì Sĩ, Thơ đi sứ và đặc biệt là bài Bước đầu tìm hiểu về một số nhà văn trong Ngô gia văn phái đã dầy công nghiên cứu về dòng họ Ngô Thì. Phải chăng do Ngô Thì Vị là con út của Ngô Thì Sĩ nên ít được nói tới? Ngay ngày sinh, ngày mất của ông cũng chỉ đoán qua thơ văn mà thôi. Về vợ ông, con ông không ai hay biết gì. Người Lạng Sơn truyền rằng thời gian làm Hiệp trấn ở đây, Ngô Thì Vị đã kết duyên cùng một sơn nữ vùng này rồi sinh con đẻ cái. Hiện ở vùng Chi Lăng, Đồng Mỏ có dòng họ cứ nhận là miêu duệ của Ngô Thì Vị. Truyền thuyết này rất đáng phải nghiên cứu vì Ngô Thì Sĩ lấy đến 3, 4 vợ, như vậy sao có thể nói Ngô Thì Vị chỉ có một vợ. Ông cha ta xưa làm quan ở đâu là thường lấy vợ bé ở đấy. Chúng ta phải đi khảo sát thực địa để đem con cháu của Ngô Thì Vị trả về cho Ngo Thì Vị.
Thừa hưởng những thành quả của các công trình nghiên cứu ở trên, ta tìm đến tiểu sử của Ngô Thì Vị: Ngô Thì Vị còn một tên lúc để chỏm là Ngô Thì Hương. Chữ Vị và chữ Hương đều có bộ “nhân đứng” bên cạnh. Tên tự của ông là Thành Phủ, hiệu là Ước Trai tước Phong Khê hầu. Ngô Thì Vị sinh ngày 17 tháng 10 năm Giáp Ngọ (1771) là con út của Ngô Thì Sĩ. Theo sách Đại Nam thực lục thì vua Gia Long đã dùng Ngô Thì Vị ngay những năm đầu lên ngôi, phong cho ông chức Thiêm sự bộ Lại. Tháng 4 năm 1809 ông làm Phó sứ cùng Nguyễn Hữu Thận đi sứ nhà Thanh. Tháng 7 năm 1813 ông làm Hiệp trấn Tuyên Quang (Đốc trấn), tháng Chạp năm đó chuyển làm Hiệp trấn Lạng Sơn. Cuối năm 1817 ông được triệu về kinh, thăng chức Hữu tham tri bộ Lại. Tháng 7 năm Kỷ Mão 1819 làm Đề điệu trường thi Gia Định. Tháng 9 năm Cảnh Thìn 1820 làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Tháng 11 năm đó qua ải Nam Quan đến Nam Ninh. Ngày 27 tháng 11 năm 1821 mất tại Quảng Tây.
Tác phẩm của ông có: Mai Dịch trâu dư văn tập, Thành phủ công thi văn tập Lạng trình ký thực và một số bài văn bài khắc trên vách đá động Nhị Thanh, động Tam Thanh…
Thật hiếm thấy gia đình nào mà hai cha con thay nhau làm Hiệp trấn một tỉnh biên cương như cha con Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Vị. Ngô Thì Vị là người có tài. Ngay từ lúc trẻ, ông đã có chí kinh bang tế thế, lại yêu đất Lạng Sơn như cha. Năm 1809 trên đường đi sứ nhà Thanh, ông ghé thăm động Nhị Thanh, lễ bái thân phụ, cảm xúc mà viết: “Tôi lúc còn nhỏ có đọc văn tập của cha (Ngô Thì Sĩ) được thấy bài tán Ký sự động Nhị Thanh(1) mà đem lòng say mê hình thắng núi non ở đây, định một ngày đến thăm, nhưng vì quá nghèo nên không thực hiện được chí của mình. Đến nay vào mùa xuân năm Kỷ Tỵ 1809 nhận mệnh đi sứ nên đến Lạng Sơn”. Nhân buổi tiếp xúc với dân địa phương, Ngô Thì Vị làm bài thơ để tỏ ý chí của ông với Lạng Sơn với thân phụ:
Hai chục năm rồi Trấn Bắc đây
Sương mờ khói tỏ tượng thân gầy
Dung nhan chẳng đổi thần như hiện
Nét bút đâu mờ rõ dấu tay
Con đại bái trông lòng thổn thức
Lời bàn to nhỏ lệ tuôn đầy
Bể dâu thay đổi khôn lường được
Thân phụ thác sinh một chốn này(2)
(Hoàng Giáp dịch)
Trong một năm, Ngô Thì Vị được cử làm Hiệp trấn Tuyên Quang, rồi đổi làm Hiệp trấn Lạng Sơn. Lòng trung hiếu thương dân của ông được thể hiện qua tấm bia ma nhai ở động Nhị Thanh:
“Tiên công sáng lập ra động Nhị Thanh này đã ba mươi sáu năm, đến nay đứa con kém cỏi là Vị này mới được vâng mệnh lên trấn giữ nơi đây, sớm hôm thường tới động thăm nom cúng bái. Nghĩ công ơn vun trồng, che chở của vua, của cha đối với Vị thật to lớn, đâu cần phải nói ra thành lời. Hôm bước lên xe ra đi, các vị quan chức, các nhà Nho đều có tặng thơ chúc mừng và khuyến khích động viên. Bởi thấy Vị còn ít tuổi, việc chính sự còn vụng về, nên họ không chỉ chức mừng Vị nối tiếp được cha xưa, coi sóc võ về dân xứ này cho tử tế, mà còn khuyên bảo khi đối xử với dân phải luôn nghĩ đến ân đức của vua, của cha mà làm tròn trách nhiệm của người con và của kẻ bầy tôi. Đó thực là ý tứ sâu xa, niềm trông đợi của các quan chức và của các nhà Nho vậy.
Nhân khi việc công rảnh rỗi, kính cẩn đem các bài thơ ấy chép và khắc lên đá để giúp mình thêm vững chí. Còn nếu bảo như thế là mượn việc tôn trọng người hiền để tự kiêu căng, huyền hoặc mình thì Vị này thực cũng khó tránh được sự chê cười.
Sau bia ấy khắc bài thơ của anh là Ngô Thì Hoàng để răn mình:
Tiên phụ xưa kia trấn Lạng thành
Nay em lại bước tiếp hành trình
Gia truyền y bát ngời Long Động
Đời rộn cờ sao rạng Mã Doanh
Trung hiếu toàn nhờ vào phúc đất
Hiển vinh muốn cậy đấng uy linh
Đạo làm quan hãy thôi không nhắc
Gia huấn Châm Như một bộ kinh.
Tiết xứ thử tháng 7 năm
Giáp Tuất, niên hiệu Gia Long thứ 13 (1814).
Con trai thứ là Vị kính cẩn ghi lại.
(Nguyễn Văn Nguyên dịch)
Trong thời gian làm Hiệp trấn Lạng Sơn, Ngô Thì Vị tỏ ra là người có tài năng xuất chúng nên biên cương yên ổn, kinh tế phát đạt. Chính vì vậy qua 4 năm làm Hiệp trấn Lạng Sơn, Ngô Thì Vị được vua triệu về kinh, thăng chức Hữu tham tri bộ Lại. Ngô Thì Vị là người nhiệt tâm khảo sát các di tích lịch sử ở xứ Lạng. Khi đến Quỷ Môn Quan ông nhận xét: “Xưa quân Nguyên xâm lược, Vũ quận công người ở Quế Ổ (Bắc Ninh) và Hoa quốc công người Du Lâm đã chặn đánh chúng tại đây. Quân Nguyên đào hố bẫy voi, Vũ quận công bị bắt sống. Quân Nguyên dụ hàng nhưng bị cự tuyệt. Chúng đã mổ bụng cắt ruột ông cho đến chết rồi đem chôn ở núi này. Sau vua ban cho ông là Thân Không Đại Vương, lập đền thờ trên núi có hoành phi đề:
[Kim Tướng ân đàm] và [Đức phối nhị nguyên]. Trong đền có tượng Đại Vương”(3).
Tại đây còn có hòn đá tương truyền là đá Liễu Thăng. Về truyền thuyết này Ngô Thì Vị phân tích:
“Ở quãng đồn Quang Lang, đền Hổ Lao, cách Quỷ Môn Quan độ mấy dặm có năm bảy hòn đá nằm ở bên trái đường. Trong đó có một hòn giống hình người, có chân tay mà không có đầu. Tục truyền đấy là Liễu Thăng bị Lê Lợi chém đầu. Khí thiêng của y không tan biến đi mà kết lại thành hòn đá này. Bấy giờ nước ta thuộc về nhà Minh. Chúng chia nước ta thành các quận huyện, coi dân ta như loài vật. May có Lê Thái Tổ nổi lên, mở chiến dịch ở Chi Lăng, nên người Minh phải sợ ta. Nước ta được khôi phục từ đấy. Sau thời Lý Trần, công đức của Lê Thái Tổ thực lớn lao thay! Người xưa chiến thắng giặc, đắp tượng cá kình để tượng trưng võ công. Còn nước ta xưa, đoạt sáo Chương Dương Độ, cầm hồ Hàm Tử Quan, nay lại truyền tụng về hòn đá Liễu Thăng. Vậy việc truyền tụng này như thế nào? Tóm lại thiên cổ thích bàn luận như thế. Tốt nhất dưới vết tích này của núi Sài Sơn xin tặng bài thơ:
Đá Liễu ai hay có thực không
Ghi sâu Lê Lợi đại huân công
Vết đá vẽ hình gươm chém xuống
Làn rêu hằn rõ máu hoen nồng
Nước chảy reo vang âm chiến thắng
Trả vàng rõ khéo kiểu chơi ngông
Thôi hãy dừng xe xem dấu cũ
Trận đồ năm ấy cảnh mênh mông(4)
(Hoàng Giáp dịch)
Về hòn Vọng Phu, Ngô Thì Vị có lời bình và một bài thơ: “Núi Vọng Phu ở phía bắc sông Kỳ Cùng trông về Tam Thanh, sau lưng là Kỳ Lừa, xa xa là núi Tử núi Mẫu. Trên đỉnh có khối đá cao hơn 1 trượng trên có hòn đá hình đầu người trông về hướng nam tục vẫn gọi là Tô Huệ Vọng Phu. Không biết dựa vào đâu mà gọi như vậy. Thổ dân thường xoay đầu người về phương bắc. Người phương bắc lại xoay đầu người về phương nam.
Kinh Thi nói:
Trèo lên gò trông chồng của ta
Trèo lên đồi trông anh của ta
Trèo lên đài trông con của ta
Trèo lên quán trông vợ của ta
Vậy biết trông ai đây, sao cứ là vợ trông chồng? Nếu vậy ngàn năm trước đây vợ chồng chia tay ở núi này là ai? Là quan lại hay thương nhân, là lính thú hay tù nhân, là lữ khách hay thần dân. Họ chia tay nhau đi về phía nam, hay chia tay nhau đi về phía bắc. Họ sinh vào lúc nào, chết vào lúc nào. Sử sách bia đá không nói rõ. Tôi bất đắc dĩ phải nói, đã bất đắc dĩ phải nói thì đành phải theo truyền thuyết của người xưa vậy.
Đá Vọng Phu
Người người đều gọi đá Vọng Phu
Trèo tít đỉnh non dõi thấy chưa
Một tấm lòng son lay chẳng chuyển
Hai hàng nước mắt hỏi còn khô?
Hằng Nga tối tối ngồi cô quạnh
Núi Mẫu chiều tà đứng chỏng chơ
Lạ nỗi tuổi tên nào có biết
Ai ai cũng gọi ấy Nàng Tô(5).
(Hoàng Giáp dịch)
Ngô Thì Vị nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cứu có tài. Khi làm Hiệp trấn ở một trọng trấn biên cương - Lạng Sơn, thì ông đã làm cho biên cương yên ổn, nhân dân lạc nghiệp. Khi ở trong triều, ông được vua và các triều thần kính nể. Khi được cử đi sứ, ông đã làm vẻ vang cho đất nước. Tất cả những điều này được thể hiện trong thơ văn của ông, thơ văn của anh em và đồng liêu của ông. Đặc biệt là ở các cuốn gia phả, lệnh chỉ, văn bia mà người dân Xứ Lạng còn giữ được. Hy vọng qua nhiều chuyến khảo cứu thực địa trên con đường hoàng hoa của Ngô Thì Vị, chúng ta thu thập được nhiều trước tác của ông.
Chú thích:
1. Bài ký khắc trên vách đá động Nhị Thanh
2. Bài thơ này khắc trên vách đá động Nhị Thanh.
3. Gia phủ họ Bế do ông Hoàng Trường cung cấp.
4. Mai dịch trâu dư văn tập. Ngô Thì Vị. Ký hiệu Viện Hán Nôm, VHv.1417.
5. Mai dịch trâu dư văn tập. Ngô Thì Vị. Ký hiệu Viện Hán Nôm: VHv.1417.
Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.133-140)