Từ điển này thu thập 3.260 đơn vị điển cố (bao gồm cả điển gốc và biến thể) trong văn bản Nôm - lời ăn tiếng nói của người Việt xưa, cung cấp một chìa khoá quan trọng, giúp bạn đọc mở cánh cửa đi vào thế giới của văn học cổ điển Việt Nam và Đông Á.
Các mục từ đều chua chữ Nôm kèm theo. Các dẫn liệu đều ghi rõ tên sách, kí hiệu sách trong kho Hán Nôm, số trang số dòng để tiện kiểm chứng nguồn tài liệu gốc.
LỜI DẪN
Dùng điển là một thủ pháp nghệ thuật được sử dụng phổ biến
trong văn học thế giới, đặc biệt là văn học cổ. Ở Trung Quốc, truyền thống dùng
điển xuất hiện từ khá sớm, đã hình thành một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học
chuyên nghiên cứu về điển cố, các bộ từ điển điển cố cũng lân lượt được xuất bản.
Học giả Trung Quốc Hồ Thích từng nói: "Văn học Trung Quốc là đất trời của
điển cố . Tuy vậy, điển cố cũng là một trong những chướng ngại lớn khi giải đọc
thư tịch cổ Trung Quốc. Nhận định của Hồ Thích cũng có thể áp dụng khi xem xét
trường hợp văn học Trung đại Việt Nam. Do ảnh hưởng của Triết học và Mĩ học
phương Đông, đặc biệt là ảnh hưởng của truyền thống dùng điển ở Trung Hoa, các
tác gia Trung đại Việt Nam cũng rất thường xuyên dùng điên khi sáng tác cả văn
Hán lẫn văn Nôm. Điển cố đã được xem là một trong những tiêu chuẩn đánh giá sở
học uyên thâm của văn nhân.
Các tác gia Trung đại Việt Nam để lại một số lượng thư tịch
Nôm khá lớn hiện còn, với gần 1.500 tác phẩm Nôm, trong đó có rất nhiều tác phẩm
thơ phú, truyện thơ Nôm, diễn ca lịch sử, văn xuôi tự sự... Các thư tịch chữ
Nôm này ghi chép lại tiếng Việt - ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam trong quá khứ,
cho nên muốn hiểu được tư duy ngôn ngữ của người Việt xưa thì không thể không
giải đọc các văn bản Nôm, nắm vững từ ngữ Việt xưa, có hiểu biết nhất định về
điển cố, từ đó mới có thể nghiên cứu các tác phấm Nôm.
Thực tế phiên âm, giải đọc các văn bản Nôm đòi hỏi phải nắm
chắc nghĩa từ, không ít từ trong số đó là các điển cố có nguồn gốc từ cả Trung
Hoa và Việt Nam. Mỗi khi vấp phải các từ ngữ ghi điển cố, độc giả thường gặp
nhiều khó khăn, cần phải tìm tòi tra cứu các bộ từ điển điển cố. Qua khảo sát
các bộ sách tra cứu đã xuất bản, chúng tôi thấy rằng lâu nay các học giả Việt
Nam đã dành sự quan tâm nghiên cứu, biên soạn nhiều sách công cụ tra cứu và từ
điến về điển cố. Tính đến nay, đã có 14 bộ sách tra cứu về điển cố được xuất bản
ở Việt Nam. Có một thực tế là một số bộ chưa đáp ứng nhu cầu tra cứu, tìm hiểu
về điển cố, một số bộ còn lại thì, tuy đã đáp ứng được các yêu cầu của việc
biên soạn mục từ trong từ điển (về quy cách biên soạn mục, về các chỉ dẫn nguồn
điển, chỉ dẫn điển gốc và biến thể cũng như việc dụng điển ở Việt Nam) nhưng vẫn
còn để lại một số tồn tại như:
- Nhìn chung, sõ lượng các điển ngữ đưa ra trong các bộ từ
điển điển cố còn chưa nhiêu, thể loại văn bản đưa ra khảo sát chưa phong phú
(chủ yểu tập trung ở truyng chưa đấp, ao đó chựa thấy hết được thực tế dụng điển
ở Việt Nam, cũng chưa đáp ứng nhu cầu tra cứu, học tập về văn học Trung đại Việt
Nam.
- Cách trích dẫn còn chưa thật nhất quán và khoa học, thể hiện
ở việc trình bày trong nội dung mục từ: không xếp theo trật tự chữ cái; hoặc là
cách chỉ dẫn điển gốc và biến thể điển chưa khoa học, gây sự rối rắm, khó theo
dõi. Ở một số bộ, cách diễn đạt trong nội dung mục từ chưa thể hiện rõ văn
phong của từ điển.
- Một số bộ được xếp vào loại từ điển chuyên dụng về điển cố.
Tuy nhiên, trong các bộ từ điển loại này có một nhược điểm là chưa tạo được sự
nhất quán theo một quy chuẩn riêng cho biên soạn từ điển. Bộ sách có số lượng
điển ngữ lớn nhất là Từ ngữ văn Nôm (2.218 điển), sau đó là Điển cố văn học
(1.553 điển), Từ điển văn liệu (1.455 điển), Từ điển điển cố văn học trong nhà
trường (1.108 điển), Điển nghĩa văn học Nôm Việt Nam (516 điển).
Nếu tính số lượng văn bản dùng để thu thập dữ liệu thì Điển
nghĩa văn học Nôm Việt Nam chiếm số lượng lớn nhất (55 văn bản) và theo sau là
Từ ngữ văn Nôm (50 văn bản).
Trước tình hình đó, chúng tôi tố chức biên soạn bộ Từ điển
Điển cố văn Nôm trích dẫn (gọi tắt: Từ điển) này với mong muốn cung cấp thêm một
bộ sách công cụ phục vụ cho việc tra cứu, giải đọc văn bản ghi bằng chữ Nôm của
người Việt, là phương tiện giúp ích cho những ai muốn học tập, nghiên cứu về chữ
Nôm, về tiếng Việt và về văn học Trung đại của Việt Nam.
Để biên soạn mục từ theo định hướng chỉ ra, chúng tôi đã thực
hiện lần lượt các công việc sau:
- Khảo cứu có tính lí thuyết về việc dùng điển tại Trung Quốc
và Việt
Nam thời Trung đại. Sau khi hoàn thành công việc này, chúng
tôi triển khai thu thập phiếu tư liệu từ 61 văn bản Nôm cụ thể. Để có thể thu
thập được lượng điển cố phong phú, đa dạng, chúng tôi chú ý đến niên đại của
Vẫn bản (chọn các văn bản thuộc nhiều thời điểm khác nhau, từ
thế kỉ XV đến thế kỷ XIX), đông thời cũng chú ý đến nội dung, thể loại của tác
phẩm khá thú vị: Khi đi vào văn bản Nôm, để đảm bảo vẫn luật, đăng đối trong
các dòng thơ (lục bát, song thất lục bát), hoặc để đặt trong một câu văn thuần
Việ...., thì các điển cố Hán có sự biến đổi khá lớn. Bộ Từ điến này sẽ chỉ rõ
những dạng biến thể điển cố Hán Khi chúng đi vào trong văn thơ Nôm. Theo sự khảo
sát sơ bộ của chúng tôi, nhiều điển gốc Hán đã được người Việt dẫn dụng nhiều,
từ đó tạo ra số lượng lớn các biến thể điển cố như: Nguyệt hạ lão nhân (53 biến
thê), Ngưu nữ (29), Thệ hải minh sơn (24), Đào yêu (23), Thương tang (21), Đan
thư thiết khoán (20), Vũ môn tam cấp (17), Trí nhân (16), Định tỉnh thần hôn
(16), Thung huyện (15), Bạch thỏ (thô) (15), Nữ Oa (14), Ăn mận giả đào (12),
Nâng khăn sửa túi (10)... ví dụ điển Nguyệt hạ lão nhân có các biến thể như: Bà
nguyệt, Bà nguyệt chỉ xe dây, Bà nguyệt lão, Bà nguyệt ông tơ, Bà tơ, Bà trăng,
Chỉ thăm, Cụ nguyệt, Dây đỏ, Dây xe, Dây xích thằng, Duyên chỉ đỏ, Duyên chỉ thắm,
Duyên tơ chỉ đà xe, Dưới trăng, Khách đưới trăng, Khách trăng già, Môi đỏ, Nguyệt
hạ chi ti, Nguyệt lão, Nguyệt lão xe tơ, Nguyệt ông, Người xe dây, Ong nguyệt,
Ông nguyệt lão, Ông tơ, Ông tơ...bà nguyệt, Ông tơ bà nguyệt, Ông tơ chi lựa
môi, Ông tơ hồng, Quấn chỉ dây tơ, Tơ đưới trăng, Tơ đỏ, Tơ đỏ buộc chân, Tơ hồng
nguyệt lão, Tơ nguyệt, Tơ xe dưới nguyệt, Tơ thắm, Tơ vận... nguyệt xoay, Trăng
buộc, Trăng già, Trăng già lẻo mách, Trăng già xe duyên, Vò tơ, Xe chỉ, Xe chỉ...
cung nguyệt, Xe dây, Xe dây xích thằng, Xe duyên, Xe mối chỉ, Xe tơ, Xích thằng,
Xích thằng sẵn xe. Sở dĩ có các biến thể này là do các tác gia Trung đại Việt
Nam đã am tường luật thơ, nắm chắc nguyên tắc dùng điển và tạo điển. Cho nên, từ
một điển nguyên Hán, áp dụng nguyên tắc tạo điển thì có thể tạo ra nhiều điển
ngữ mới trong văn Nôm tiếng Việt.
- Khi khung lí thuyết đã được tạo dựng, tư liệu đã thu thập
và chỉnh lí, chúng tôi tiến hành biên soạn phiếu tư liệu và biên tập phiếu mục
từ.
Trên cơ sở một bộ quy chuẩn chi tiết cho mẫu phiếu, chúng
tôi bắt tay vào "công việc bếp núc" khá vất vả của việc biên soạn từ
điển. Có thể nói, ưu điểm lớn nhất của bộ Từ điến này là ở những thông tin ghi
trên điến nguyên và trên tư liệu phiếu mục từ, tất cả đều có y cứ rõ ràng từ
văn bản gốc bằng chữ Nôm. Đây là điều mà chúng tôi chưa thấy có ở các bộ từ điển
điển cố trước đây.
Trong tương quan so sánh với các bộ sách công cụ tra cứu điển
cô trước đây, bộ Từ điển này có sự khác biệt ở nội dung, tính chất, và quy mô.
Bộ sách này đã sưu tập 3.260 đơn vị điển cố, trong đó: điển
ghi nhân danh có 232 đơn vị, điển ghi địa danh có 67 đơn vị, nguồn điển từ Việt
Nam (còn goi là mục từ điến có) đon vị, hợp điên (rúc là do kết hợp hai điến cỡ
thành một mục từ đin thể ) cố 4 đơn vị, Xét về mặt biến thế chai điến cón vị điến
không có biến thể. Số lượng 2.051/3.260 đơn vị là các biết: 149 điến cho thấy mức
độ sáng tạo điền cố (biến thể điển) là rất lớn.
Công trình này ban đâu được thực hiện trong hai năm
2009-2010 (đề tài cấp Bộ), với sự hiệp lực đây nhiệt tâm của toàn bộ thành viên
nhóm đè tài. Bên cạnh đo, chúng tôi cũng nhận được sự giúp đỡ của các nghiên cứu
viên và giảng viên trong và ngoài Viện Nghiên cứu Hán Nôm trong việc tra cứu dịch
thuật nguồn điển Trung Hoa. Kể từ thời điểm đó đến nay, chúng tôi cũng đã bỏ
thêm nhiều công sức cho việc hoàn thiện, tra cứu, đính chính, bỗ sung.. để có
được bản thảo như hiện nay. Chúng tôi hi vọng rằng, bộ Từ điễn này không chỉ
dùng để tra cứu mà còn là sách học, đọc hiểu về từ ngữ Việt, phân nào đáp ứng
được nhu cầu học tập tiếng Việt và văn học cổ Trung đại Việt Nam hiện nay.
Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng việc biên soạn từ điển vốn
vô cùng phức tạp, tỉ mỉ, cho nên khó tránh khỏi khiếm khuyết. Rất mong các đồng
nghiệp và quý độc giả chỉ chính để Từ điển được hoàn thiện hơn cho khi có điều
kiện tái bản.
Trong quá trình thực hiện, chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến
đóng góp quý báu từ Hội đồng nghiệm thu các cấp (GS.TS. Kiều Thu Hoạch,
GS.TS. Lã Nhâm Thìn, PGS.TS. Nguyễn Đăng Na, PGS.TS. Nguyễn
Tá Nhí, PGS. TS. Trịnh Khắc Mạnh). Chúng tôi luôn nhận được sự giúp đỡ từ Lãnh
đạo Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Ban Quản lí Khoa học (nay là Ban Tài
chính và Khoa học) Viện Hàn lâm Khoa học xã hội
Việt Nam, Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Phòng Quản lí
Khoa học
Viện Nghiên cứu Hán Nôm; chúng tôi cũng luôn nhận được sự
giúp đỡ ủng hộ của các đồng nghiệp.
Đến nay, sau thời gian 16 năm tính từ khi bắt tay vào thực
hiện đề tài cấp Bộ, dưới sự trợ giúp của Dự án Vietnamica (về kinh phí) và Nhà
xuất
bản Khoa học xã hội (về xuất bản ), cuốn sách đã có cơ hội đến
tay độc giả .
Nhân dịp sách được xuất bản, chúng tôi xin tri ân tất cả sự
giúp đỡ quý báu kể trên.
THAY MẶT NHÓM BIÊN SOẠN
(Chủ biên PGS.TS. Lã Minh Hằng)