Trong những nãm gần đây, tư liệu vãn bia Hán Nôm ở Việt Nam được quan tâm nghiên cứu khai thác ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong số vãn bia này, vãn bia chùa, chứa đựng nhiều tư liệu có giá trị về lịch sử, vãn hóa, tôn giáo… cũng được quan tâm nghiên cứu. Trong bài viết này chúng tôi giới thiệu sõ lýợc về hệ thống vãn bia chùa và giá trị vãn bia chùa thuộc quận Ba Đình (thành phố Hà Nội).
Quận Ba Đình là một trong khu vực quan trọng của Thãng Long, trung tâm chính trị, vãn hóa, kinh tế, xã hội của nhiều triều đại. Hệ thống chùa ở đây có mật độ khá dày và niên đại xây dựng rất sớm. Có 24 chùa thuộc quận Ba Đình mà chúng tôi khảo sát được nằm trên địa bàn của 8/12 phýờng (trong đó có 17 chùa có bia). Phýờng có nhiều chùa nhất là phýờng Trúc Bạch (8 chùa), phýờng Đội Cấn có 3 chùa, các phýờng còn lại có từ 1 đến 2 chùa. Đặc biệt trong lần khảo sát này, chúng tôi tìm thấy có 4 chùa nằm trong Hoàng thành Thãng Long nhýng chýa xác định được chính xác vị trí của nó so với địa danh hành chính hiện nay.
Trong số bia của 17 chùa, có tất cả 376 thác bản vãn bia hiện đang được lưu trữ trong Thý viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Chùa có nhiều bia nhất thuộc phýờng Trúc Bạch, có 117/376 bia, chiếm 31,12%, ít nhất là phýờng Cống Vị, có 2/376 bia, chiếm 0,53%. Chùa Hòe Nhai (chùa Hồng Phúc) phýờng Nguyễn Trung Trực chiếm số lýợng bia nhiều nhất: 111 bia (29,52%), sau đó là chùa Châu Long phýờng Trúc Bạch 69 bia (18,35%). Các chùa còn lại có số bia dao động từ 52 bia đến 1 bia. Trong đó, có 128 bia lịch sử và trùng tu, mở rộng, xây dựng chùa, chiếm 34,04%; 58 bia Hậu phật, Hậu thần, chiếm 15,43%; 10 bia lịch sử các thiền tãng và thiền phái, chiếm 2,66%; còn lại là bia gửi giỗ (thýờng gọi bia Ký kỵ bi ký), chiếm 47,87%.
Về tác giả, các tác giả tham gia biên soạn vãn bia thuộc đủ các thành
phần của xã hội phong kiến cũ. Có người là nhà sư (Mai Thanh Hải, Lê Quang Lýợng, Khoan Dực), Trạng nguyên (Nguyễn Xuân Chính), Tiến sĩ (Phạm Quý Thích), Cử nhân, Tú Tài hoặc không rõ có đỗ đạt hay không. Tuy về cuộc sống và địa vị xã hội có khác nhau nhýng họ gặp nhau ở những điểm chung là mến mộ đạo Phật và mong muốn đạo Phật ngày một phát triển. Chính vì thế họ đã sẵn lòng viết bài vãn ca ngợi công đức của những người đã đóng góp tiền của, công sức hoặc bỏ tiền ra mua ruộng đất, trùng tu, xây mới, mở rộng để cho cảnh chùa ngày thêm đẹp đẽ.
Về mặt thời gian, có 215 thác bản vãn bia xác định niên đại chính xác; 1 vãn bia xác định niên đại týõng đối là bia Thích tu quyết đức釋修橛德 (N048492) chỉ ghi triều đại và nãm can chi, không ghi niên hiệu và nãm thứ bao nhiêu; 159 vãn bia chýa xác định được niên đại (gồm có 16 bia chỉ ghi nãm can chi, không ghi niên hiệu; 1 bia bị mờ, 1 bia bị đục và 141 bia hoàn toàn không ghi niên đại). Vãn bia chùa ở quận Ba Đình tập trung chủ yếu vào thời Nguyễn và đặc biệt là ở nửa đầu thế kỷ XX. Nếu không tính các trýờng hợp không rõ niên đại, hoặc không biết rõ chính xác thế kỷ hình thành, thì sự phát triển giữa các thời kỳ là chênh lệch týõng đối lớn.
Khảo sát nội dung của hệ thống vãn bia chùa nói trên chúng tôi býớc đầu rút ra một số giá trị nhý sau:
Thứ nhất, vãn bia chùa phản ánh tín ngýỡng tụn giỏo - tục lập Hậu phật và gửi giỗ. Đây là sự kết hợp giữa tín ngýỡng Phật giáo và tục thờ cúng tổ tiên của nhân dân ta, thể hiện nét bản địa của Phật giáo Việt Nam. Vãn bia Hậu, bia gửi giỗ thýờng được ghi chép bằng chữ Hán. Tuy nhiên, sang nửa đầu thế kỷ XX, chúng tôi thấy xuất hiện rất nhiều vãn bia gửi giỗ viết bằng chữ Nôm. Nguồn tư liệu vãn bia bằng chữ Nôm này rất có giá trị, phần nào phản ánh mức độ phổ biến của lệ bầu Hậu và lệ gửi giỗ trong xã hội.
Trong số 376 thác bản vãn bia thì phần lớn là bia Hậu phật và bia gửi giỗ. Ví dụ nhý bia Hậu phật bi ký后佛碑記 (N0238), niên đại Cảnh Hưng thứ 47 (1786) ghi lại việc bà Nguyễn Thị Bích, là người phường Yên Đức, bỏ ra 30 quan tiền cúng vào việc chi tiêu quan dịch của phường nên được phường cho làm Hậu phật ở chùa. Hằng năm, những ngày giỗ tết chuẩn bị cỗ chay một bàn cúng các thức tiền vàng, trầu cau, hương đèn, trà, quả, thập phần đầy đủ. Bia Bát Mẫu tự bi ký 缽畝寺碑記(N018925), niên đại Thiệu Trị thứ 6 (1846), ghi lại việc bà Ngô Thị Sâm hiệu là Diệu Hậu ở trại Ngọc Hà quyên xuất bạc 7 vãn, 150 đồng tiền để sửa chùa. Được mọi người trong trại bầu làm hậu Phật. Thể lệ cúng tế được quy định rất cụ thể. Người trong trại nội dâng gà một con, xôi một bàn cùng rýợu, trầu cau. Hằng nãm các tiết Nguyên đán, Thanh minh, Đoan dýõng, Trung thu, Trọng thập dâng hýõng đèn hết sức sùng kính. Thông qua đó chúng ta có thể biết được những thể thức cõ bản của việc bầu và lập Hậu phật ở các thôn xã Việt Nam nói chung và các phýờng, trại thuộc quận Ba Đình nói riêng. Theo ghi chép trong những bài vãn bia, thì việc thờ Hậu do cả nhà chùa và nhân dân trong phýờng, trại chịu trách nhiệm, những Hậu phật phần lớn là phụ nữ. Điều này phần nào thể hiện một thực tế xã hội là trong sinh hoạt vãn hóa tín ngýỡng Việt Nam thời xýa, người phụ nữ thýờng gắn bó với chùa chiền.
Bia gửi giỗ chiếm một số lýợng khá phong phú trong đó có rất nhiều vãn bia chữ Nôm thời Nguyễn. Nội dung các bài vãn bia này phần lớn được trỡnh bày theo một cách thức giống nhau. Tác giả bài vãn bia trình bày lý do gửi giỗ cho người thân hay chính bản thân mình, sau đó ghi số tiền hoặc số ruộng gửi vào chùa để lo việc hýõng hỏa cùng ngày giỗ của người được gửi. Nói tóm lại, sự xuất hiện của các bia lập Hậu và bia gửi giỗ cho thấy sự hòa nhập của tín ngýỡng thờ cúng tổ tiên trong vãn hóa bản địa với Phật giáo, phản ánh một cách chân thực đời sống tín ngýỡng của người dân ở các làng quê Việt Nam.
Thứ hai,tư liệu vãn bia chùa góp phần tìm hiểu lịch sử quận Ba Đình và vị trí thành Thãng Long. Thãng Long - Đông Đô - Hà Nội là đất ngàn nãm vãn vật, nõi giao lýu, hội tụ tinh hoa của mọi miền đất nýớc. Hà Nội cũng là nõi tập trung nhiều di tích tiêu biểu của nền vãn hoá dân tộc mà vãn bia là những chứng tích phản ánh những thãng trầm dâu bể của các thời đại. Vãn bia chùa Hà Nội nói chung và vãn bia chùa quận Ba Đình nói riêng sẽ góp phần vào việc tìm hiểu những địa danh hành chính qua các thời kỳ, thấy rõ hõn lịch sử xây dựng các di tích, các công trình vãn hóa cũng nhý xác định những sự kiện lịch sử địa phýõng được dễ dàng hõn nhờ vào những tên đất, những sự việc ghi trên bia, kèm theo thời điểm chính xác của việc soạn vãn hay dựng bia nhý vãn bia chùa Hòe Nhai Hồng Phúc tự cổ vãn bi ký洪福寺古文碑記 (N0275, N0276), niên đại Chính Hòa thứ 19 (1699), cho phép xác định vị trí của chiến thắng Đông Bộ Đầu nằm ở gần vị trí chùa Hồng Phúc (Hòe Nhai) hiện nay.
Theo bia Sõn Tháp tự bi ký山寺碑記(N018932) dựng nãm Thành Thái thứ 9 (1897) gắn trên týờng chùa Bát Tháp thì “Chùa Núi Voi trại Vạn Phúc, tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội là một danh lam cổ tích” và được “hợp nhất với chùa Bát Tháp” vào nãm dựng bia đá trên. Vậy chùa Bát Tháp ngày nay được tạo thành do sự hợp nhất hai chùa cổ của làng Vạn Phúc xýa.
Chùa Kim Sõn có các tấm bia chép lịch sử chùa và tất cả đều xác định chùa Kim Sõn nằm ở phía Tây thành Thãng Long: “Long Thành Tây giao, Kim Mã nguyên cổ chi tùng táng xứ” trong Kim Sõn tự đàn bi ký金山寺壇碑記(N020785, N020786), năm Thành Thái thứ 16 (1906), “tiếp cận Long Thành chi Tây” trong Trùng tu kỷ niệm bi ký重修紀念碑記(N020787, N020788), dựng nãm Bảo Đại thứ 8 (1933).
Chùa Am Cây Đề (chùa Thanh Ninh) hiện còn hai tấm bia do Thích An hầu soạn, niên đại Gia Long thứ 7 (1808). Tấm bia thứ nhất, Trùng tu hýng công bi ký重修興工碑記 (N048395) ghi vị trí lịch sử của thành Thãng Long, vị trí địa lý của ngôi chùa và việc tu sửa chùa: Thành Thãng Long là kinh đô của các triều đại, non sông týõi đẹp, muôn vật phồn thịnh, hàng ngàn nãm nay là nõi đô hội lớn của nýớc ta”, “bên ngoài cửa Tây thành… nýớc ngọt mà đất thì phì nhiêu, chùa Thanh Ninh ở đó. Đầu đời Cảnh Thịnh, Trịnh Công Bắc Giang đã dựng am ở đây”. Cùng với chùa Một Cột, chùa Kim Sõn, chùa Am Cây Đề lại là một chứng tích nữa chứng minh thành Thãng Long có lẽ khó có thể nằm phía Tây phố Hùng Výõng ngày nay.
Thứ ba, vãn bia chùa góp phần tìm hiểu lịch sử tý týởng chính trị, tôn giáo, xã hội Việt Nam thời phong kiến.
Chùa Hòe Nhai (chùa Hồng Phúc) có 111 thác bản vãn bia. Nội dung của các thác bản vãn bia này cung cấp nhiều tài liệu về các tông phái Phật giáo ở Việt Nam lúc bấy giờ. Chùa là trụ sở của phái Tào Động. Tổ sý thứ nhất là Hoà thýợng Thủy Nguyệt, tổ sý thứ hai là thiền sý Chân Dung; tính đến nãm Nhâm Thân (1932), đời Thiền sý Tâm Nghĩa Thích Nhân Từ, thì phái Tào Động đã trụ trì ở đây được 47 đời. Nhiều thiền sý đã được vua phong sắc. Hiện nay chùa còn giữ một đạo sắc phong do vua Lê Hiển Tông phong cho Thiền sý Lê Vãn Chức nãm Cảnh Hýng thứ 11 (1750).
Vãn bia chùa Linh Sơn, Cải kiến Linh Sơn cổ tự bi ký改建靈山古寺碑記, (N0267) cho thấy tôn chỉ của Thanh Tịnh giáo, một môn phái của Đạo giáo, thịnh hành ở kinh thành Thãng Long hồi cuối thời Lê đầu thời Nguyễn. “Chùa Linh Sơn ở Bắc Thành thờ Thanh tịnh giáo…[ghi lịch sử chùa]… Đạo ấy lấy “tính” và “mệnh” làm gốc, “thanh” và “hý” làm tông chỉ. Người nhập thế hay xuất thế, đều lĩnh hội được những lời huyền vi, kẻ hữu tâm hay vô tâm đều trở về chỗ diệu ngộ”.
Ngoài tư liệu về các tông phái, vãn bia chùa quận Ba Đình trong lịch sử có thể coi là những kinh sách về triết lý Phật giáo. Những triết lý này được trình bày một cách súc tích, uyên bác, giàu kiến thức Phật học.
Vãn bia chùa Một Cột, Nhất trụ tự bi壹柱寺碑, (N011301) mở đầu: “Xét: Phật vốn từ bi, thả bè quý cứu độ chúng sinh. Người biết tôn sùng đạo phật cần mở rộng ruộng phúc tam bảo”. Đạo phật coi việc tu hành nhý chãm sóc ruộng phúc (kính điền, vân điền, bi điền). Tiếp đến trong bài minh của bia đã nêu triết lý cãn bản của Phật là “Phật tức tâm, tâm tức phật”:
Người sinh trên đời
Phúc là trýớc hết
Lòng tức là Phật
Tìm thiên lýõng ta
Sẵn của sẵn lòng
Nhân duyên muôn kiếp.
Bia Bát Mẫu tự bi ký钵畝寺碑記 (N018925), niên đại Thiệu Trị thứ 6 (1846) ở chùa Bát Mẫu có ghi việc bà Ngô Thị Sâm cúng dýờng trùng tu chùa và được thờ Hậu phật và viết “Sự ban thí của bà họ Ngô là bình đẳng trong Phật giáo. Chẳng quản ngàn dặm mà đến, xin vãn để nói rõ việc đại giác, hý vô huyền bí, phýõng tiện mới nên. Nay có duyên Bát Nhã, ắt được phúc báo của Nhý Lai, tất còn výõng với cảnh sinh tiền, mới trông thân này về sau, có gì buồn đâu. Huyền vãn bí tạng, ban khắp thập phýõng, đấy cũng là yếu lý của Thiền vậy. Tức là có thiện duyên này ắt có nhân quả đó…”.
Vãn bia chùa, là vật thể thuộc nhà chùa nhýng không chỉ ghi dấu triết lý Phật giáo mà còn chứa đựng những thông tin chính xác về lịch sử tý týởng, tôn giáo qua nhiều thời đại.
Phật giáo trong nhiều thế kỷ đã có vị trí rất quan trọng trong đời sống tý týởng, vãn hóa, tinh thần của Việt Nam. Từ thời kỳ Bắc thuộc cho đến Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Phật giáo luôn giữ địa vị quốc giáo. Nhiều trung tâm Phật giáo đã hình thành, bên cạnh Đại La, Hoa Lý. Đến đầu thế kỉ XIX, nhà Nguyễn lên nắm chính quyền và duy trì sự thống trị của mình bằng cách tãng cýờng hõn nữa chế độ chuyên chế. Điều đó týõng ứng với chủ trươngđýa Nho giáo lên vị trí độc tôn trong hệ tý týởng và tín ngýỡng lúc bấy giờ. Vãn bia gắn với hệ tý týởng Nho giáo thời kỳ này phát triển với số lýợng khá lớn, song song với việc hạn chế việc xây dựng, tô tượng, đúc chuông, dựng bia chùa đã được ghi trong Đại Nam thực lục chính biên: “Gần đây có kẻ sùng đạo Phật, xây chùa quá cao, lầu gác rất là tráng lệ, đúc chuông tô tượng rất đỗi trang hoàng,... mở hội phí tổn về cúng Phật, nuôi sý không thể chép hết, để cầu phúc báo viển vông. Vậy từ nay về sau, chùa quán có đổ nát mới được tu bổ, còn làm chùa mới và tô tượng, đúc chuông, đàn chay, hội chùa hết thảy đều cấm”.
Trong bia có nội dung của Phật giáo, vẫn có sự thể hiện tý týởng độc tôn Nho giáo, bởi vì những người sáng tác vãn bia lúc bấy giờ thýờng là các danh nho. Bài vãn bia Cải kiến Linh Sơn cổ tự bị ký改建靈山古寺碑記 (N0267) do Hà Tông Quyền (1798-1839) soạn, niên đại Minh Mệnh thứ 9 (1828) ở chùa Linh Sơn ghi rõ:
“Mùa xuân nãm nay, bàn với mọi người trong thôn…, chuẩn bị gỗ, hýng công xây dựng viện vũ, tên chùa vẫn giữ nhý xýa. Đến mùa thu thì hoàn thành, vừa dịp tôi được cử làm chủ khảo trýờng thi Bắc Thành, họ tới nhờ làm vãn bia. Tôi bảo: “Đạo chỉ có một mà thôi. Thời trung cổ chia làm ba. Từ đời Đýờng, Tống về trýớc, thuyết Phật và Lão tranh chấp với đạo Nho, thì dẹp đi cũng phải. Nhýng nay, thánh thiên tử mở rộng vãn giáo, đạo Nho ta sáng nhý mặt trời và trãng sao. Những lời dạy trong sáu kinh,… được nhà nhà, ngườingười truyền tụng. Những cái tinh vi huyền diệu của bách gia, phạm vi thật rộng lớn. Duy có một mục đích “khuyên người làm điều thiện” thì đối với sự giáo dục cho đời không phýõng hại gì nhau. Mýợn điều đúng của nó để bỗ trợ cho đạo Nho ta, thì việc chùa hý hỏng mà xây dựng lại cũng có thể được thôi…”.
Hầu hết các bia đều cho thấy tính phổ biến của tông phái Thiền Tông của Phật giáo tại Việt Nam. Các vấn đề cãn bản của Phật giáo nhý Ngộ đạo, giải thoát, lẽ sinh tử đượcđề cập tới trong tinh thần của Thiền phái. Ngoài ra, mặc dù bia là bia chùa nhýng thành phần tham gia biên soạn lại rất đa dạng, điều đó làm cho nội dung vãn bia, mặc dù thuộc về nhà chùa nhýng lại ghi lại cả tý týởng của Nho gia, Đạo gia. Nhý vậy, vãn bia nhà chùa đã chứng thực thêm tính chất phát triển theo xu hýớng “đồng nguyên” của Tam giáo ở Việt Nam, nhất là ngay ở vùng đất kinh thành. Việc các nhà Nho phê phán đạo Phật cũng chỉ dừng lại ở sự phê phán hình thức sinh hoạt tôn giáo là chính. Các vãn bia chùa, nhất là những ngôichùa lớn ghi lại nhiều thông tin cho thấy vị trí quan trọng của đạo phật trong đời sống mọi tầng lớp trong xã hội, từ vua đến dân đều “sùng đạo Phật, say mến cảnh Thiền”.
Thứ tý, nội dung ghi trên vãn bia đã góp thêm tư liệu vào việc tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của các chùa ở quận Ba Đình.
Trong quá trình nghiên cứu vãn bia chùa quận Ba Đình, chúng tôi nhận thấy hoạt động được nhắc đến nhiều nhất trong các thác bản vãn bia đó là lịch sử hình thành, quá trình trùng tu, mở rộng, di dời và xây mới chùa, với 128/376 thác bản vãn bia, chiếm 34,04%.
Công việc xây dựng đình, chùa, đắp đýờng, làm đê, dựng cầu cống,… là những công việc trọng đại của địa phýõng. Việc xây dựng này thýờng phải huy động sức người sức của của nhiều người trong phýờng, trại, thôn xóm. Do vậy, mỗi chùa khi trải qua các biến cố, tu sửa, mở rộng hầu như đều dựng bia ghi lại sự kiện đó và thýờng kèm theo đó là việc ghi công đức của những người có công với làng với nýớc. Từ việc khai thác vãn bia, có thể thấy rất nhiều ngôi chùa được xây dựng trên nền của công trình trýớc đó đã bị hủy hoại. Việc chọn lựa vị trí chùa cũng rất được coi trọng, thể hiện rõ sự am týờng phong thủy học. Nhiều vãn bia chùa đã tả lại vẻ đẹp của chùa cũng nhý vị thế của nó, ví dụ nhý, chùa Hòe Nhai tuy nhỏ nhýng “núi Nùng nhý vạt áo, sông Nhị nhý dải lýng, hồ Trúc Bạch chắn ngang, dòng Tô Lịch vòng lại, đây thật là chốn tùng lâm lâu đời của đất Thãng Long”.
Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống chùa ở Thãng Long - Đông Đô nói chung và quận Ba Đình nói riêng gắn với địa vị Phật giáo qua các giai kỳ lịch sử. Phật giáo đã từng là quốc giáo dýới hai triều đại Lý - Trần. Theo nội dung những vãn bia mà chúng tôi sýu tập được, hệ thống chùa quận Ba Đình hiện có trong sử liệu và tồn tại trên thực tế thì phần nhiều được hình thành và xây dựng từ thời Lý (8/24 chùa), số lýợng chùa được xây dựng mới giảm dần theo thời gian (thời Lê có 5/24 chùa, thời Nguyễn có 2/24 chùa).
Đến thời Lê, Nho giáo chiếm vị trí độc tôn, Phật giáo vẫn lýu truyền nhýng ở vị trí thứ yếu đối với giai cấp thống trị. Chùa thời kỳ này vẫn được trùng tu và xây mới, cụ thể có 5 chùa mới được xây dựng trong thời kỳ này là chùa Khán Sõn, chùa Liên Hồ, chùa Linh Sơn, chùa Phúc Viên và chùa Yên Ninh. Thời Mạc, có sự chấn hýng Phật giáo rõ rệt. Vãn bia thời Mạc cho thấy các hoạt động xây dựng, trùng tu, đúc chuông, tô tượng, cúng ruộng tiền do quý tộc chủ trương, tổ chức. Tuy vậy, quan niệm thờ Phật để cầu lợi khiến Phật giáo thời Mạc mặc dù được chấn hýng lại không chú trọng đến chiều sâu triết lý. Sang thời Nguyễn, Thãng Long không còn là kinh đô nhýng hệ thống chùa ở quận Ba Đình vẫn được duy trì. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, chùa chiền xây mới không nhiều (1 chùa) mà chủ yếu là được trùng tu và mở rộng. Chùa chiền khi bị hư hại đều được tu sửa, hoặc do chủ trương của nhà nýớc hoặc do nhân dân trong phýờng, trong trại tự đóng góp để tôn tạo. Trong số các chùa được trùng tu, sửa chữa nhiều nhất có lẽ phải kể đến chùa Một Cột. Sách Đại Việt sử ký toàn thý, sách La Thành cổ tích dân vịnh, sách Đại Việt sử ký tiền biên, vãn bia tháp “Sùng thiện Diên Linh” chùa Long Đọi (Duy Tiên, Hà Nam) và các vãn bia trong chùa cho thấy chùa này được tu sửa nhiều lần suốt từ thời Lý cho tới thời Nguyễn, nghĩa là từ khi Phật giáo là quốc giáo lẫn khi Nho giáo chiếm vị thế độc tôn.
Bia có niên đại sớm nhất ở chùa trong quận Ba Đình hiện còn một số vãn bản khắc vào thời Lê nhý chùa Hòe Nhai, Một Cột,... số còn lại đều được khắc ở thời Nguyễn. Bia Sùng tu Hồng Phúc tự bi ký崇脩洪福寺碑記 (N0293), niên đại Gia Long thứ 10 (1815), nhà sư Khoan Dực ghi lại việc nhà sư Khoan Nhân đứng ra tu sửa làm cho cảnh chùa Hồng Phúc được cao đẹp hẳn lên. Bia Trùng tu nhất trụ tự chí 重修壹柱寺誌 (N0345), niên đại Tự Đức thứ 17 (1864), ghi lại việc hai ông Đặng Vãn Hòa, Án sát Hà Nội và ông Tôn Thất Bật, Tổng đốc Hà Ninh đứng ra lo việc tổ chức, quyên góp, đóng góp tiền của tu sửa chùa Một Cột khiến tượng Phật huy hoàng, điện thờ đồ sộ, tam quan, gác chuông, trong ngoài bốn phía, tất cả đều trang nghiêm.
Bia Thanh Minh thiền tự bi ký清明禪寺碑記 (N018825), niên đại Gia Long thứ 7 (1808), do Thích An hầu Phạm Quý Thích soạn, ghi lại việc sý trụ trì chùa Thanh Minh hiệu là Tịch Quang đã có nhiều công nhý tô tượng, đúc chuông… Nay lại cùng các hội chủ xây lại chùa mới bằng gạch…
Bia có niên đại muộn nhất mà chúng tôi sưu tầm được nói về vấn đề này đó là bia chùa Kim Sõn: Trùng tu kỷ niệm bi ký重修紀念碑記 (N020787, N020788), niên đại Bảo Đại thứ 8 (1933), do nhà sư Đàm Thụ soạn, ghi lại quá trình xây dựng chùa: trýớc kia ở đây có một cái am thờ vạn linh. Nãm 1898 dân thu thập hài cốt chôn vào một khu. Nãm 1932, nhà sư Đàm Thụ được mời về trụ trì, di chuyển mồ mả vô chủ tới chỗ khác, lập điện Thánh mẫu, đàn vạn linh, nhà Tam bảo,...
Qua những bài vãn bia, chúng ta thấy rằng, việc chùa chýa bao giờ là việc riêng của bản thân nhà chùa mà luôn luôn có sự tham gia của đông đảo tầng lớp nhân dân, trên từ vua chúa, quan lại dýới đến là thứ dân, ai cũng có đóng góp công sức và tiền của vào việc trùng tu, mở rộng, xây dựng mới chùa chiền. Nó phản ánh tinh thần cộng đồng và sự gắn bó giữa người dân với người dân, giữa người dân với tín ngýỡng Phật giáo một cách hồn hậu và thuần khiết.
Có thể thấy, vãn bia chùa quận Ba Đình đã ghi lại được những đặc điểm về
tý týởng vãn hóa, tôn giáo Thãng Long thời phong kiến. Tuy vậy, rất nhiều bia có giá trị cao về Phật học đã bị mất mát, hư hại; nhiều bia còn lưu trữ thì chúng tôi chýa có điều kiện tiếp cận nên nội dung này chúng tôi xin phân tích kĩ hõn ở công trình nghiên cứu về sau.
Trên đây chúng tôi đã trình bày một cách sõ lýợc về vãn bia chùa quận Ba Đình. Có thể khẳng định rằng vãn bia chùa nói chung và vãn bia chùa quận Ba Đình (Hà Nội) nói riêng là nguồn tư liệu phong phú và quý giá về nhiều khía cạnh. Vãn bia chùa nhýng không bó hẹp trong vòng lý thuyết đạo Phật, ngược lại chứa đựng nhiều thông tin mang tính chất “nhập thế”: chính trị, vãn hóa - xã hội, địa lý - lịch sử. Chúng tôi hy vọng sẽ được tiếp tục đi sâu nghiên cứu vãn bản hõn nữa để rút ra những tư liệu chân xác chứa đựng trong vãn bia chùa.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Hán Nôm: Tuyển tập Văn bia Hà Nội, Quyển I và Quyển II, Nxb. KHXH, H. 1978.
2. Đại Nam thực lục chính biên, tập III, Nxb. Sử học, H. 1963./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (94) 2009; Tr. 58-65)