48. Nguyễn Du và Thăng Long (TBHNH 2009)
NGUYỄN DU VÀ THĂNG LONG
PHẠM NGỌC LAN
Viện Văn học
Nguyễn Du là người con của làng quê Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An(1) nhưng ông vốn được sinh ra trên vùng đất kinh thành Thăng Long vào cái thời vẫn còn đang hiện diện những cung điện đền đài hoa lệ của vua Lê - chúa Trịnh; thời niên thiếu của ông chủ yếu cũng trôi qua ở mảnh đất kinh kỳ văn vật này. Thân phụ ông là Nguyễn Nghiễm; từng làm Tể tướng triều đình, được trao chức Tư đồ, tước Xuân Quận công, một người từng được triều đình Lê - Trịnh dành một sự biệt đãi hiếm có(2). Thân mẫu ông là Trần Thị Tần, vợ lẽ của quan Tư đồ Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm, kém Xuân Quận công 32 tuổi, một người phụ nữ xuất thân bình dân, người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc(3). Bà là người mà Nguyễn Du đã chịu ảnh hưởng sâu sắc trong những năm thơ ấu.
Nhìn lại những chặng đường đời của Nguyễn Du, có thể đoán định ông chắc đã được tiếp nhận thêm - ở một tầng bậc cao -một nền tảng văn hóa sâu dày từ môi trường văn hóa Thăng Long kinh kỳ đô hội, từ những ngày lưu lạc ăn nhờ ở đậu ở Thái Bình, những ngày làm quan khá hanh thông dưới triều Nguyễn khi ở nơi này khi ở nơi khác, từ những ngày sống tại kinh đô Huế, được giao lưu với các thi văn gia trong các sinh hoạt văn chương(4), và từ cả những ngày dằng dặc ruổi rong trên những dặm đường Bắc sứ. Điều này cho thấy ảnh hưởng mà ông tiếp nhận được đã vượt ra ngoài phạm vi địa phương quê hương mà mang tính chất dung hợp sắc thái văn hóa của nhiều vùng miền trong cả nước, đặc biệt là từ hai trung tâm văn hóa lớn là cố đô Thăng Long và kinh đô Huế. Như vậy hai nguồn tri thức - văn hóa và vốn sống- tiếp thu từ cha và anh, từ một trong những dòng họ văn hóa văn chương nổi tiếng ở Bắc Hà là dòng họ Nguyễn Tiên Điền và từ vùng đất văn hiến lâu đời Đàng Ngoài là Thăng Long, chính là những nhân tố quan trọng góp phần đào luyện nên thi tài Nguyễn Du. Gia phả chép có phần khuyếch trương về Nguyễn Du như một người đặc biệt đa tài, học rộng nhớ lâu, về cầm kỳ thi họa, môn nào cũng tinh diệu, lại thông cả binh pháp, giỏi võ nghệ, tính kính cẩn, khiêm tốn, không hay khoe khoang, khích bác; ông cùng người cháu gọi ông là chú ruột là Nam Thúc Nguyễn Đàm (còn gọi là Nguyễn Hành) được coi là hai trong năm nhà thơ giỏi nhất ở An Nam (An Nam ngũ tuyệt), song những tác phẩm của ông để lại cho đời quả thực đã có được những giá trị đột xuất trong sáng tạo từ chương: Thanh Hiên thi tập, Thác lời trai phường nón, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, Nam trung tạp ngâm, Truyện Kiều, Bắc hành tạp lục, Văn chiêu hồn.
*
**
Nguyễn Du viết về Thăng Long không nhiều. Ngoài Điếu La thành ca giả trong Thanh Hiên thi tập, Long thành cầm giả ca, Ngô gia đệ cựu ca cơ và hai bài thơ Thăng Long trong Bắc hành tạp lục, Ngẫu hứng V, Mộng đắc thái liên trong Nam trung tạp ngâm... còn thấy thấp thoáng hình ảnh Thăng Long qua một số bài thơ khác. Và phải chăng hình ảnh của một xã hội thị dân trải nhiều biến cố trong Truyện Kiều, những cảnh đời lăn lóc phong trần trong Văn chiêu hồn hay thân phận mỏng manh của người con gái tài sắc trong Độc Tiểu Thanh ký... cũng đã được viết ra trong cảm hứng chung về nét hào hoa phong nhã cũng như cái phức tạp bề bộn của đời sống kinh kỳ? Dẫu sao Nguyễn Du không phải là người đầu tiên viết về Thăng Long. Chỉ có điều, vẽ lên được một Thăng Long vừa hiện thực cụ thể vừa giàu chất trữ tình và với một nỗi đau nhân tình sâu sắc như Nguyễn Du thì cũng là hiếm trong thơ văn cổ nước nhà.
Trong cuộc đời rất nhiều “xê dịch” của mình, Thăng Long tuy không phải là nơi Nguyễn Du đã sống những năm tháng dài nhất, nhưng đó lại là nơi lưu giữ nhiều kỷ niệm của một thời vui tươi êm ả. Như đã biết, xuất thân trong một gia đình quý tộc có thế lực vào bậc nhất ở Thăng Long lúc bấy giờ, tuổi thiếu niên của Nguyễn Du đã trôi qua trong vàng son nhung lụa. Sau khi cha mẹ lần lượt qua đời, ông tiếp tục sống một thời gian nữa trong gia đình người anh là Nguyễn Khản. Mãi đến khi tai biến xảy ra với Nguyễn Khản, Nguyễn Du mới rời Thăng Long, và từ đó bắt đầu nếm trải cuộc sống phong trần, ít có điều kiện trở lại, ngoại trừ những lần ông ra thăm người anh làm quan với Tây Sơn hoặc trên đường đi sứ chắc ông có ghé qua Thăng Long. Có thể nói chính ở Thăng Long, lần đầu tiên Nguyễn Du đã có những trải nghiệm về cuộc sống, và mảnh đất này đã góp phần không nhỏ tạo nên cốt cách tinh thần của nhà thơ. Điều này cũng lý giải vì sao trong thơ ông không chỉ có nỗi đau của người trí thức đối với cố đô yêu dấu mà còn có ý nghĩa như sự ngưỡng vọng một khoảng đời đã qua, một quá khứ tươi sáng, một đi không trở lại. Quá khứ ấy có khi đột nhiên hiện về trong hồi tưởng và những giấc mơ của Nguyễn Du với những nét ý nhị và thơ mộng hiếm có:
Xắn gọn quần cánh bướm,
Chèo thuyền con hái sen.
Nước hồ đầy lai láng,
Dưới nước bóng người in.
II
Hái, hái sen ở hồ Tây,
Cả hoa và gương đều bỏ trên thuyền.
Hoa để tặng người mình sợ,
Gương để tặng người mình thương.
III
Sáng sớm nay đi hái sen,
Có hẹn với cô hàng xóm.
Không biết đến lúc nào,
Sau khóm hoa nghe có tiếng người nói.
(Mộng đắc thái liên)(5)
Bài thơ thật nhẹ nhõm thanh thoát. Có lẽ trong những ngày ở Thăng Long nhà thơ từng có lần đi hái sen ở hồ Tây và thú vui phong nhã này đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng ông, trở thành một nỗi niềm yêu thương len cả vào trong giấc ngủ. Phải chăng dư âm của cuộc hẹn hò, ý nghĩa tinh tế ẩn sau hình thức trao tặng, và tiếng cười, giọng nói của người con gái sau khóm hoa không chỉ đọng lại trong lòng nhà thơ như một kỷ niệm đẹp khó phai mờ mà sâu xa hơn là một nhớ tiếc khôn nguôi về vùng đất Tràng An thanh lịch.
Tuy nhiên, phần thành công cũng là những đóng góp đáng kể của Nguyễn Du trong dòng văn học Thăng Long là những bài thơ trực tiếp viết về mảnh đất này. Ở hai bài thơ Thăng Long một hiện thực tự nó với những vận động, biến đổi của cảnh và người Thăng Long hiện dần lên qua những hồi ức và liên tưởng của nhà thơ:
Núi Tản, sông Lô vẫn núi sông,
Bạc đầu còn được thấy Thăng Long.
Nghìn năm dinh thự thành quan lộ,
Một dải tân thành lấp cố cung.
Người đẹp thuở xưa nay bế trẻ,
Bạn chơi thuở nhỏ thảy thành ông.
Thâu đêm chẳng ngủ lòng thêm bận,
Địch thổi trăng trong tiếng não nùng)(6).
(Thăng Long, I)
Bấy nhiêu hình ảnh đứng sóng đôi bên nhau, tương phản nhau đã tạo nên hai bức tranh Thăng Long khá cụ thể chi tiết. Có lẽ vẻ đẹp của Kinh đô trong quá khứ càng khiến cho trái tim mẫn cảm của nhà thơ cảm nhận sâu sắc sự đổi thay đáng buồn: Thăng Long vàng son đô hội từng sống trong hoài nhớ như biểu tượng của một vẻ đẹp tươi sáng, rực rỡ đang mất dần những nét đẹp vốn có. Đối với tiếng lòng của nhà thơ thì một mảnh trăng ngày trước soi xuống ngôi thành mới, một chốn cũ đã lạc mất dấu xưa, một tiếng đàn sáo có xen những âm thanh mới, những người bạn ngày xưa kẻ mất người còn... đều như một nghịch lý, lay động tận đáy lòng ông nỗi buồn. Có người nói hai bài Thăng Long đó là một tiếng khóc, khóc nhà Lê nhưng chủ yếu là khóc cuộc đời chìm nổi biến hóa, khóc chuyện nương dâu bãi bể, khóc chuyện vật đổi sao dời. Ở đây chỉ qua việc khắc họa tâm trạng bâng khuâng, đượm buồn của người trở về chốn cũ (nhưng chốn cũ đã xuất hiện những yếu tố xa lạ, đã khác xa với những hình ảnh còn lưu giữ trong ký ức và tưởng tượng của mình), Nguyễn Du đã cho thấy hình ảnh của Thăng Long sau những biến động bể dâu. Nhà thơ vừa nhận thức từng chi tiết đổi thay của hiện thực sống động đang diễn ra trước mắt vừa ngậm ngùi xót xa, “suốt đêm thao thức không ngủ”. Ở đây rõ ràng là một con người đang đắm chìm trong những ký ức về những ngày xưa êm đềm đẹp đẽ trong quá khứ với ký ức về những người bạn cũ cùng các kỷ niệm khó phai. Có lẽ trong bấy nhiêu da diết và nỗi niềm có bóng dáng của hiện tại, có một dĩ vãng thân thiết ẩn hiện, có cảm giác thấm thía đớn đau về sự tan vỡ những giấc mơ và ước vọng, có nỗi sầu “vạn cổ” của một trái tim nghệ sĩ đa cảm. Những triết lý về cuộc đời chìm nổi biến hóa, về sự tranh đoạt phú quý - kết quả của những năm tháng nếm trải và suy nghĩ về thế thái nhân tình - đã làm cho những bài thơ Thăng Long của ông như chính là tiếng vọng của đời sống. Âm điệu buồn bã, nhuốm màu hoài cổ của bài thơ không chỉ gợi nhớ về quá khứ đã trôi qua - ở đó có những ngày tháng vui tươi, hồn nhiên, những trò chơi, những giấc mơ mà còn mang đến cho người nghe sự thấm thía những trải nghiệm của cuộc đời, cả những day dứt, tiếc nuối. Vì thế, nếu những hoài cảm của Bà Huyện Thanh Quan có cái cao sang mơ màng, có tiếng thở dài buồn bã thì tâm trạng nhớ cổ thương kim của Nguyễn Du lại có cái thực của cuộc đời “dâu bể và lắm nỗi đau thương”, nó là một tiếng khóc đắng cay, một lời phản kháng chua chát trước xã hội. Nhưng bóng dáng của Thăng Long không chỉ hiện lên từ những phác họa gián tiếp qua tâm trạng, qua những lời thơ tâm tình của tác giả mà còn hiện lên trực tiếp qua “bức họa” người lữ khách có một vẻ buồn thảm, khốn cùng:
(Có một người kia thật đáng thương,
Áo rách nón cời, sắc mặt đen sạm như tro.
Lánh người chỉ tìm bên đường mà đi,
Biết đó là người từ thành Thăng Long mới về).
(Ngẫu hứng, V)
Bức chân dung hiện thực đến như vậy sau này còn xuất hiện khá nhiều trong thơ ông. Phải chăng “hiện thực” đột xuất đó cũng là xuất phát từ nỗi đau sâu xa vì con người. Ngay cả khi nhà thơ tự nhủ bằng một tiếng thở dài bất lực: Thế sự phù trầm hưu thán tức/Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh (Thăng Long, II) (Thôi đừng than thở chuyện đời chìm nổi/Mái tóc mình cũng đã bạc lốm đốm) thì chỉ càng cho thấy nỗi đau đời của ông da diết sâu sắc hơn. Những đánh giá của ông về cuộc đời chìm nổi biến hóa sau tất cả mọi trải nghiệm thăng trầm của chính mình và của thời cuộc có thể nói là khá sâu sắc, những đánh giá đó quả không hề cảm tính. Có lẽ đôi mắt thao thức trong đêm và mái tóc bạc của Nguyễn Du cũng không khác một Nguyễn Trãi trước đây. Chỉ có điều trước Nguyễn Du gần ba thế kỷ, khi giai cấp phong kiến còn đóng vai trò tích cực xây dựng nhà nước thì Nguyễn Trãi băn khoăn trăn trở trước những vấn đề đất nước, dân tộc và lý tưởng của nhà nho. Còn trong thế kỷ XVIII đầy những biến cố đảo lộn dữ dội, khi vấn đề thân phận con người, quyền sống hạnh phúc đã trở nên nóng bỏng thì Nguyễn Du lại đau đớn cùng với những số kiếp “đoạn trường”. Chắc chắn những ngày sống ở Thăng Long không chỉ giúp nhà thơ hiểu sâu cuộc sống của tầng lớp thượng lưu trong xã hội cả về cách sống hào hoa lẫn sự ăn chơi phóng túng và xa xỉ của họ, mà còn cho ông có điều kiện tiếp xúc với những người phụ nữ làm nghề ca kỹ và có sự thương cảm đặc biệt với nỗi khổ của lớp người tài hoa phận bạc này. Tự coi là người “cùng hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã”, Nguyễn Du không chỉ thông cảm, xót thương mà còn đồng cảm, trân trọng đối với cuộc đời đau khổ của những Tiểu Thanh, những cô Cầm, những người ca nữ... Bức tranh Thăng Long của Nguyễn Du vì thế cũng trở nên sinh động hơn bởi có những con người, những cuộc đời cụ thể. Về điều này ông đã làm cho những áng thơ về Thăng Long của mình vượt ra ngoài mạch văn hoài cổ đơn thuần để trở thành tiếng nói đầy yêu thương con người. Trong những vần thơ ấy không phải là câu hỏi mơ màng về nỗi cô đơn của con người trước xã hội biến động, cũng không phải là một hoài niệm chung chung mà là câu hỏi lớn về số phận của con người, một tiếng kêu da diết, bức thiết về quyền sống hạnh phúc. Một người hát cũ có giọng ca uyển chuyển, một Tiểu Thanh giàu tâm hồn, tình cảm, một cô Cầm với tiếng đàn réo rắt... đều là những hiện thân sinh động của Thăng Long tài hoa phong nhã. Nhưng chính cuộc đời của họ lại đầy bất hạnh: nàng Tiểu Thanh chết yểu, cô ca nhi đến lúc ba con vẫn phải làm một đào hát nghèo hèn, còn số phận cô Cầm cũng trôi nổi, tàn tạ. Long thành cầm giả ca (Bài ca người đàn hay ở thành Thăng Long) là bài thơ tập trung điển hình số phận đau khổ của những người phụ nữ tài sắc, cũng là số phận của những con người Thăng Long, những con người tài sắc Thăng Long trước những biến động bể dâu của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII. Quán xuyến toàn bộ bài thơ là cảm hứng trữ tình bi thiết về sự nhỏ bé mong manh của đời người, của số phận cá nhân trước quy luật đổi thay khắc nghiệt của tự nhiên, trước những biến thiên của lịch sử và những thăng trầm của các triều đại. Cũng giống như nàng Kiều, cô Cầm cũng được Nguyễn Du hết lời yêu thương ca ngợi. Nhưng khác với nàng Kiều được xây dựng bằng những miêu tả ước lệ, Nguyễn Du đã dùng ngòi bút tả thực để vẽ chân dung cô Cầm đẹp cả về hình thức lẫn phẩm chất bên trong. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa nhan sắc hồn nhiên với nét hào hoa và tài đàn:
Lúc đó cô ta khoảng hai mốt tuổi,
Áo hồng ánh lên gương mặt hoa đào.
Má đỏ vì rượu, vẻ ngây thơ rất dễ thương,
Năm cung réo rắt thay đổi theo ngón tay.
Vẻ hào hoa át cả các bậc vương hầu,
Còn bọn thiếu niên ở đất Ngũ Lăng thì không đáng kể.
Tưởng như ba sáu cung xuân,
Chung đúc thành vật báu vô giá ở đất Tràng An.
Dưới ngòi bút tài tình của Nguyễn Du, cô Cầm mà ông đã gặp trong đời trở thành nhân vật sống động và có một sức hấp dẫn đặc biệt. Người con gái đã khiến bao người “khuynh đảo” ấy đáng nhẽ phải được yêu chiều và hạnh phúc. Nhưng phải chăng “Đau đớn thay phận đàn bà /Lời rằng bạc mệnh ấy là lời chung” mà “Bài ca Người đàn bà hay ở Long Thành cũng là một khúc ca đoạn trường của Nguyễn Du”(7). Triết lý “tài mệnh tương đố” được phát biểu trong Truyện Kiều lại một lần nữa được Nguyễn Du nói đến ở đây, mặc dù sự lý giải không phải không có phần hiện thực: những đổi thay của thời cuộc có thể tác động sâu xa đến số phận của những người sống ở kinh kỳ, và cùng với nó là sự phai tàn của sắc đẹp, sự tàn phá huỷ diệt nhanh chóng những tài năng và các giá trị tinh thần trong xã hội, mà dường như Nguyễn Du muốn nâng lên thành một triết lý khái quát về số phận những con người tài hoa. Với một cái nhìn đầy xót thương, Nguyễn Du đã khắc họa chân thực hình ảnh cô Cầm hai mươi năm sau với vẻ ngoài héo hắt, tiều tụy, thật là một tương phản đau xót với cô Cầm rực rỡ, kiêu hãnh ngày trước:
Duy ở phía cuối có một người tóc hoa râm,
Nét mặt võ vàng, thần sắc khô khan, thân hình hơi bé nhỏ.
Đôi mày phờ phạc không điểm tô,
Ai biết đấy là người giỏi bậc nhất ở trong thành thuở bấy giờ.
Không còn đâu sức sống thanh xuân, vẻ đẹp hồn nhiên phóng khoáng và ý thức tự tin yêu đời cũng như khả năng chinh phục của nhan sắc và tiếng đàn diệu kỳ, mà chỉ còn lại sự mệt mỏi, tàn tạ. Vẻ buồn thảm của người con gái đã một thời “tài hoa nhất thành” ấy không phải chỉ vì tuổi tác và nỗi khổ của một đời “xướng ca” đã in đậm dấu ấn, đó còn là quá trình vận động biến đổi tự nhiên của cái đẹp mà nhà thơ dù rất trân trọng nâng niu cũng không thể giữ lại được. Có lẽ vì vậy trong bài thơ này, Nguyễn Du xót thương cho cuộc đời tàn tạ của cô Cầm - người phụ nữ Thăng Long tài sắc, cũng là khóc cho những tài hoa Thăng Long đang bị mai một dần, khóc cho cuộc đời phong trần lận đận của chính mình:
Khúc xưa đàn lên từng tiếng mà nước mắt tôi thầm rơi,
Tai lắng nghe mà trong lòng đau xót.
Những khoảng “thầm” “lắng” như vậy chính là tình thương yêu sâu sắc Nguyễn Du dành cho những cuộc đời, những số phận khổ đau bất hạnh xung quanh mình. Phải chăng chính những năm tháng nay đây mai đó với bao nỗi khổ đau và sự nếm trải vất vả, nghèo đói đã biến con người lưu lạc phiêu bạt ngày nào trở thành một con người có tâm hồn và trái tim rộng mở đầy yêu thương. Thông qua việc xây dựng hình tượng cô Cầm, nhà thơ đã bộc lộ chiều sâu nội tâm của một nhà nghệ sĩ lớn luôn suy nghĩ, tâm tình với con người, về con người, về những vấn đề xã hội nóng bỏng thời ông. Và cũng vì xuất phát từ mối quan tâm sâu sắc đến vận mệnh của người phụ nữ, đến cuộc đời buồn đau của họ, nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa Nguyễn Du đã có lúc dường như đang “nhận thức lại” những gì mình từng theo đuổi nhưng đã không còn nhiều ý nghĩa và đi đến cảm hoài cho một triều đại mà ông đã từng không muốn thừa nhận:
Thành quách đổi dời, việc người cũng khác,
Bao nơi nương dâu trở thành biển cả.
Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu vong đâu hết,
Mà còn sót lại một người trong làng ca múa.
Phải chăng đến với tâm hồn và cuộc đời quần chúng bằng tấm lòng chân thành yêu thương, đó là khi nhà thơ trở về thực tiễn của đời sống, đó cũng là khi nhà thơ thoát ra ngoài thiên kiến giai cấp, phần nào cảm nhận được chân lý của thời đại qua phong trào nông dân Tây Sơn.
*
* *
Với một cái nhìn sắc sảo và đầy khám phá, với tinh thần yêu thương con người và tình cảm gắn bó với Thăng Long, Nguyễn Du đã làm sinh động, sâu sắc những vấn đề xã hội trong bức tranh Thăng Long cuối thế kỷ XVIII. Chính ở đề tài này, một lần nữa nhà thơ đã khẳng định tài năng của một ngòi bút nhân đạo chủ nghĩa, một ngòi bút đã đi đến gần với chủ nghĩa hiện thực. Điều băn khoăn da diết của Nguyễn Du tưởng như nói về mình “Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khốc Tố Như”(Không biết ba trăm năm lẻ nữa / Thiên hạ ai người khóc Tố Như) cũng không ngoài mong mỏi tìm thấy ở đời sau những tấm lòng đồng điệu với nỗi đau nhân tình của ông. Và đó cũng là tiếng lòng của nhà thơ đối với Thăng Long.
Theo Gia phả, hồi ông làm quan ở kinh, trong những ngày nhàn rỗi có dạy học trò làm văn bài, nhiều văn sĩ theo ông học tập, trong đó có Trương Đăng Quế, Nguyễn Đăng Giai... Ngoài ra căn cứ vào bài thơ ông viết Tống Ngô Nhữ Sơn công xuất trấn Nghệ An (Tiễn ông Ngô Nhữ Sơn (tức Ngô Nhân Tĩnh-PNL) ra làm Hiệp trấn Nghệ An), và việc ông từng cùng Ngô Thì Vị phẩm bình hầu hết các bài thơ trong Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định - một trong ba nhà thơ trong nhóm Gia Định tam gia có thể thấy ông từng có giao du với khá nhiều văn nhân thi sĩ Đàng Trong.