TB

CÙNG BẠN ĐỌC THÂN MẾN

Để phục vụ các bạn kịp thời hơn, kể từ nay, 1993, TẠP CHÍ HÁN NÔM sẽ ra hàng quý, thay vì mỗi năm 2 số.

Về tôn chỉ mục đích, Tạp chí vẫn tiếp tục đăng tải các công trình nghiên cứu Hán Nôm, các tư liệu văn bản Hán Nôm mới phát hiện; hướng dẫn, trao đổi kinh nghiệm về công tác sưu tầm, giám định, bảo tàng, chỉnh lý, dịch thuật các thư tịch, tài liệu Hán Nôm, thông tin các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm Hán Nôm trong và ngoài nước.

Về đối tượng phục vụ, ngoài giới nghiên cứu, giảng dạy Hán Nôm ở các viện nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng sư phạm, các cán bộ làm công tác nghiên cứu thuộc các ngành khoa học xã hội… Tạp chí từ nay sẽ mở rộng diện phục vụ tới các giáo viên Văn, Sử… ở các trường phổ thôn; sinh viên Văn, Sử, Triết… ở các trường đại học; giới sáng tác văn học, nghệ thuật trong cả nước, kể cả các bạn đồng nghiệp Hán Nôm đang sống hoặc làm việc ở nước ngoài.

Khung bài mục Tạp chí đại thể gồm 4 mảng chính:

- Nghiên cứu: những thành tựu mới trong việc nghiên cứu chữ Hán, chữ Nôm, văn bản học Hán Nôm, thư tịch học Hán Nôm, mối quan hệ đối sánh giữa hiện tượng Hán Nôm Việt Nam và hiện tượng Hán Nôm ở một số nước trong khu vực. Ở đây có vấn đề truyền thống và hiện đại, quốc gia và khu vực, dân tộc và cộng đồng quốc tế.

- Trao đổi ý kiến: phê bình, nhận xét, đánh giá các bản dịch chú sách chữ Hán và phiên chú sách chữ Nôm đã xuất bản. Khi cần thiết cũng có thể đi sâu vào cách dịch, cách phiên một số câu, chữ tiêu biểu, nhằm từ đó rút ra những kinh nghiệm bổ ích cho công tác dịch thuật Hán Nôm từ nay trở đi. Bàn về quan điểm, nhận định, đánh giá một hay một số tác gia, tác phẩm Hán Nôm cụ thể, dưới ánh sáng của công cuộc đổi mới ngày nay.

- Sưu tầm: giới thiệu các tư liệu mới, có giá trị về học thuật, có ý nghĩa về mặt văn bản học.

- Tin tức: những thông tin về hoạt động Hán Nôm ở trong nước cũng như ở nước ngoài.

Khi cần, Tạp chí cũng có thể dùng một số trang thích đáng để đăng những bài phát biểu tập trung về một chủ đề nào đó.

TẠP CHÍ HÁN NÔM sẽ không ngừng phấn đấu để nâng cao chất lượng bài vở và kỹ thuật trình bày, mong phục vụ bạn độc ngày một tốt hơn.

Thành thật mong sự giúp đỡ, hợp tác và góp ý kiến của đông đảo các bạn trong giới Hán Nôm, các bạn yêu thích Hán Nôm, các bạn quan tâm đến việc xây dựng một ngành Hán Nôm học Việt Nam.

Bài viết và thư từ xin gửi đến Toà soạn TẠP CHÍ HÁN NÔM, đường Đặng Tiến Đông, quận Đống Đa, Hà Nội.

Dây nói: 2.43194.

TẠP CHÍ HÁN NÔM

TB

KHẢO SÁT LẠI NHỮNG ĐIỀU KIỆN TỒN TẠI CỦA NHỮNG GIẢ THUYẾT XUNG QUANH
VẤN ĐỀ "DỊCH GIẢ CHINH PHỤ NGÂM KHÚC"

NGUYỄN THẠCH GIANG

Lịch sử văn học của chúng ta còn có những vấn đề cần bàn lại cho thấu đáo hơn. Một trong những vấn đề đó là sự tồn nghi về tác giả hay dịch giả của một số tác phẩm. Bài này nhằm góp ý kiến về một trường hợp cụ thể: vấn đề dịch giả Chinh phụ ngâm khúc.

I. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Trong tập Giảng văn Chinh phụ ngâm xuất bản ở Thanh Hoá năm 1950, Giáo sư Đặng Thai Mai có viết: “Sự thực, thì hai trăm năm sau khi tập Chinh phụ ngâm đã được viết bằng chữ Hán và phu diễn vào trong hình thức Việt văn của nó, người ta chỉ biết có một bài chinh phụ, người ta chỉ nhớ đến một khúc ngâm chinh phụ: ấy là Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm”. Đây là một nhận xét đúng đắn, xuất phát từ thực tế nghiên cứu văn học, từ thực tế dư luận thống nhất của nhân dân ta hơn 200 năm nay về dịch giả Chinh phụ ngâm khúc. Thế thì, tại sao hôm nay vấn đề lại đưa ra bàn lại? Nguyên do như sau:

- Báo Nam phong số 106 tháng 6 năm 1926 có đăng một bài nhan đề Phan Dụ Am tiên sinh văn tập của ông Đông Châu. Trong bài đó, tác giả có viết: “Chinh phụ ngâm khúc bấy lâu nay ta vẫn truyền là bà Điểm diễn Nôm, dễ thường không phải, mà chính là của cụ Phan Huy Ích diễn ra đó chăng?”

Mối ngờ này được đặt ra một cách hết sức dè dặt là vì “Tôi - lời ông Đông Châu – có tiếp thư ông Phan Huy Chiêm cũng là con cháu về họ Phan nói rằng cứ tra cứu trong Phan gia tộc phả cùng lời các cụ phụ lão trong họ Phan truyền lại, thì bài Chinh phụ ngâm bằng Hán văn là của ông Đặng Trần Côn, người làng Nhân Mục làm ra, mà cụ Phan Huy Ích dịch ra văn Nôm, hiện nhà họ Phan còn giữ được bản chính vừa Chữ vừa Nôm, và khi phiên dịch xong bài Chinh phụ ngâm, có làm bài thơ ngẫu thuật bằng chữ Nho rằng:

Nhân Mục tiên sinh “ Chinh phụ ngâm”,
Cao tình dật điệu bá từ lâm.
Cận lai khoái trá tương truyền tụng,
Đa hữu thôi xao vi diễn âm.
Vận luật hạt cùng văn mạch tuý,
Thiên chương tu hướng nhạch thanh tầm.
Nhàn trung phiên dịch thành tân khúc,
Tự tín suy minh tác giả tâm.

(Ông Đặng Trần Côn người làng Nhân Mục làm ra bài Chinh phụ ngâm bằng chữ Nho, từ điệu cao kỳ đã truyền bá ở chốn từ lâm. Ai cũng truyền tụng, lấy làm khoái chá lắm, đã có nhiều người thôi xao diễn ra ca Nôm. Nhưng theo về âm luật thì dịch sao cho hết được cái tinh tuý trong mạch văn, vậy phải theo thiên chương mà hiệp với âm nhạc mà diễn ra mới được. Nay nhân buổi nhàn đã dịch ra thành khúc mới, tin chắc rằng suy minh được bụng tác giả).

Bức thư của ông Phạm Huy Chiêm cùng với bài thơ trên đây quả đã làm cho ông Đông Châu phải ngờ, nhưng chưa làm cho ông đủ tin nên ông kết luận: “Ước mong ông Huy Chiêm sẽ lai cảo lục đăng dần để giữ một nền văn cổ, và làm khảo chứng cho sử học nước nhà về sau này”. Bài báo không có tiếng vang trong dư luận, và lời ước mong kia của họ Nguyễn cũng không được họ Phan đáp lại.

Năm 1943, ông Hoa Bằng mới trở lại vấn đề này với bài Dịch phẩm Chinh phụ ngâm phải chăng của bà Đoàn Thị Điểm? đăng trên tạp chí Tri tân số 113. Bài báo đã dựa vào ba tài liệu chủ yếu: Lịch triều hiến chương loại chí, Tang thương ngẫu lục và Đoàn thị thực lục. Nhưng cả ba bộ sách đều không cho được một ánh sáng nào để giải quyết vấn đề cả. Cuối cùng ông chỉ xác nhận một điều là: Đoàn Thị Điểm và PHan Huy Ích đều có dịch Chinh phụ ngâm khúc. Còn như bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành là của ai? thì không giải quyết được. Ông Hoa Bằng đã kết luận: “Trong khi chưa đủ chứng cớ mà phán đoán cái án văn học này vì chưa tìm được những nguồn chắc chắn để giải quyết bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành là của bà Đoàn Thị Điểm, thì thiết tưởng nên đề chữ “khuyết danh” ở bản dịch”.

Một năm sau, ông Trúc Khê lại quay về tìm ở nhà họ Đoàn với bộ Đoàn thị thực lục – gia phả của họ Đoàn. Kết quả cũng không biết gì hơn, vì Đoàn thị thực lục không nói gì đến việc bà dịch Chinh phụ ngâm khúc cả - và ông cũng chỉ có thể kết luận: “Bản dịch Chinh phụ ngâm khúc có thể không phải là của bà Đoàn Thị Điểm (Trúc Khê: Những tài liệu mới về Đoàn Thị Điểm. Tiểu thuyết thứ bảy, 9-1944).

Đến năm 1953, công việc đã đến tay ông Hoàng Xuân Hãn. Trong Chinh phụ ngâm bị khảo, xuất bản năm ấy tại Pa-ri, ông Hãn đã sưu tầm được bốn bản Chinh phụ ngâm khác nhau và một số bản phỏng tác khác. Trên cơ sở bốn bản Chinh phụ ngâm khúc này, ông đã thống kê, phân tích và đi đến kết luận rằng: bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành là bản của Phan Huy Ích. Cho xuất bản cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo, ý chừng ông muốn giải quyết cho xong xuôi vấn đề - và chính ông cũng tin như thế. Điều đó chúng ta có thể thấy rõ ở bài tựa cuốn Bị khảo của ông.

Còn có thể kể một số bài bản khác nữa về vấn đề trên, nhưng phần nhiều không ngoài những quan điểm đã giới thiệu.

II. KHẢO SÁT LẠI NHỮNG GIẢ THUYẾT CỦA VẤN ĐỀ

Như phần trên chúng tôi đã trình bày, những người nghiên cứu trước đây đều không ngờ vực gì cả về một việc này: Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích, cả hai người đều có dịch Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn.

Trong Chinh phụ ngâm bị khảo, ông Hoàng Xuân Hãn đã sưu tầm được bốn bản dịch Chinh phụ ngâm khúc được sắp xếp đánh dấu theo thứ tự A, B, C, D (chúng tôi sẽ giữ nguyên cách đánh số này). Và, theo ông:

- Bản A, bản Chinh phụ ngâm khúc, hiện hành là của Phan Huy Ích.

- Bản B, là của Đoàn Thị Điểm, vì bản này ở đầu sách có ghi hai chữ “nữ giới”, ý nói đó là do đàn bà diễn ca (tr.27).

- Bản C, bản của Nguyễn Khản. Vì Đoàn Thị thực lục có chép: chỉ có nhà Nguyễn Nghiễm tàng trữ các tác phẩm của Đoàn Thị Điểm mà thôi, và xem thế thì biết rằng họ Nguyễn chuộng thi văn của bậc tài tử, mà trong đó chắc có bài Chinh phụ ngâm khúc diễn ca. Nhân đó, nếu Nguyễn Khản có ý đem Chinh phụ ngâm mà tái diễn, thì cũng không vô lý (tr.24).

- Bản D, không biết là do ai dịch. Bản này chỉ là một bản đã phiên âm ra chữ Quốc ngữ. Lời văn kém hơn các bản kia.

Những người chủ trương cho là của Phan Huy Ích, luận cứ của họ có thể quy lại đầu đủ như sau:

1. Gia phả của họ Phan. Vì trong gia phả có chép: “Ông lại từng diễn Chinh phụ ngâm khúc. Nay từ các bậc danh nhân văn sĩ cho đến trai gái thôn quê ai mà không đọc”. Hiện nay có một số người họ Phan còn thuộc cả khúc ngâm, chỉ có khách bản hiện hành 13 vế (Bản Quốc ngữ ông Huy Chiêm ghi lại gửi cho ông Hãn vào mùa hè năm 1952 thì khác 13 vế, nhưng một người khác của họ Phan được cho anh Lại Ngọc Cang vào tháng 8-1961, thì khác 21 vế và có một vài chỗ khác với cả 13 vế của ông Huy Chiêm đã ghi) và theo tương truyền các cụ theo bản đó là của Phan Huy Ích.

2. Bài thơ Ngẫu thuật của Phan Huy Ích, vì qua thơ ngẫu thuật đó họ Phan đã nói lên quan điểm dịch của mình, và quan điểm đó lại được thể hiện rất rõ trong Chinh phụ ngâm khúc, bản hiện hành.

3. Bản A (bản hiện hành) gần với ta hơn trong thời gian. Vì bản A ít có tiếng cổ, về cú pháp hầu như đã rũ sạch ảnh hưởng của cú pháp tiếng Hán. Và đặc biệt là thi pháp và thể loại, thì ở bản A đã đạt đến một trình độ hoàn thiện nhất. Nó chỉ có thể xuất hiện vào đầu thế kỷ XIX. Ở thế kỷ XVIII thể loại này chưa đạt đến trình độ hoàn hảo như bản hiện hành được.

4. Đoàn Thị Điểm đã có một bản Chinh phụ ngâm khúc diễn ca khác: ấy là bản có hai chữ “nữ giới” ở đầu sách, vì hai chữ đó, ý nói là do đàn bà diễn ca.

Dưới đây, khi đi vào phần khảo sát cụ thể từng luận cứ một mà chúng tôi gọi là “giải thuyết”, chúng tôi đặc biệt chú ý đến:

+ Sự phát triển của văn học chữ Nôm thế kỷ XVIII. Thế kỷ XVIII là thế kỷ của song thất lục bát.

+ Vai trò của nhà văn lớn trong việc sử dụng ngôn ngữ đối với một giai đoạn văn học nhất định.

+ Đặc thù của văn học Việt Nam, cần xét nó trong khi đề cập đến vấn đề ngôn ngữ để xác định thời điểm xuất hiện của một tác phẩm văn học.

1. Gia phả của họ Phan. Quả gia phả họ Phan có chép: “Ông lại từng diễn Chinh phụ ngâm khúc. Nay từ các bậc danh nhân, văn sĩ, cho đến trai gái thôn quê, ai mà không đọc”. Nhưng từ những lời đó mà đi đến kết luận rằng: “Bài diễn ca được phổ truyền như vậy là bản “A” (Chinh phụ ngâm bị khảo tr.27) thì cũng cần bàn lại.

Gia phả họ Phan, viết về Phan Huy Ích chắc chắn là phải vào sau khi ông mất (1822) – mà dù cho có viết trong sinh thời của ông, nghĩa là trước cái mốc 1822 bao lâu cũng được – thì như thế có nghĩa là: từ năm 1804 (năm giả thiết Phan Huy Ích dịch Chinh phụ ngâm khúc) đến năm 1822, Chinh phụ ngâm khúc được phổ biến rộng rãi với tên dịch là Phan Huy Ích (vì bản của Đoàn Thị Điểm không được phổ biến!), nhưng từ năm 1822 đến năm 1902, không hiểu vì lẽ gì mà trong dư luận lúc bấy giờ người ta lại cho là của Đoàn Thị Điểm, để cho Vũ Hoạt năm 1902 khắc in bản Long hoà, trong bài mở đầu có nói: “Nhớ xưa Đặng tiên sinh làm sách ấy, Đoàn phu nhân diễn ra Quốc âm”. Và rồi từ đó về sau nhân dân ta cứ vẫn mặc nhiên công nhận bản Chinh phụ ngâm hiện hành là của Đoàn Thị Điểm.

Sự thực, thì trong nhiều trường hợp , và thường là thế- cái “bia miệng” còn có hiệu lực, còn phản ánh đúng gấp mấy lần cái bia của sử sách. Lại nữa, ai chép gia phả họ Phan, thái độ của người chép ra làm sao. Đó cũng là những vấn đề cần được chú ý cân nhắc. Và cho đến nay, cả chúng ta và cả đến những nhà nghiên cứu văn học có uy tín cũng vẫn băn khoăn khi có người trở lại vấn đề này và cho là của Phan Huy Ích.

Tại sao vậy? Không phải bởi tại dư luận bao đời nay có cảm tình riêng gì đối với Hồng Hà nữ sĩ, bởi tại chúng ta chịu ràng buộc về cái dư luận ấy, mà chính là khúc ngâm hiện hành về tình và lý chỉ có thể là của Đoàn Thị Điểm. Văn là người - một người đàn ông suốt đời làm quan như Phan Huy Ích người đàn ông suốt đời làm quan như Phan Huy Ích thì khó mà có mối cảm tình, có mối cảm xúc sâu sắc biểu lộ ra trong cái văn của bản Chinh phụ hiện hành. Để tâm hồn cho thật yên tĩnh, chúng ta đọc lại thật kỹ bản A và cả bản B, chúng ta thấy rõ cái cảm tình trong bản Am bản hiện hành - chỉ có thể xuất phát từ cái từng trải nhân tình thế thái trong suốt cả cuộc đời sống gần gũi với quần chúng nhân dân của tác giả. Chúng tôi xin lấy hai câu mở đầu làm thí dụ:

Bản A:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.

Bản B:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách hồng nhan nhiều nỗi truân chuyên.

Xin các bạn chú ý hai chữ má hồng với hồng nhan ở hai câu thất bình ở hai bản. “Má hồng” với “hồng nhan” là một, “má hồng” chỉ là tiếng dịch của “hồng nhan”. Nhưng không phải đơn giản như thế. Trong quan niệm của nhân dân ta suốt bao đời nay, “má hồng” với “hồng nhan” vẫn có chỗ khác nhau rất rõ. Hai tiếng này không bao giờ lẫn lộn làm được cả. “Hồng nhan”, nghe như có cái gì khinh bạc, rẻ rúng ở bên trong: “Hồng nhan” bao giờ cũng đi đôi với “bạc mệnh”. Hai cái như hình và bóng.

Như vậy, rõ ràng là khi để chữ “má hồng”, ở bản A, Đoàn Thị Điểm rất có ý thức về mình, về cả cái giới của mình, và qua đó để lộ một mối thông cảm, một sự cảm xúc vô cùng sâu sắc, vô cùng quý báu. Và “hồng nhan” ở đây (ở bản B) chỉ có thể là quan niệm của người đàn ông quen xem nhẹ “đàn bà”, bàng quan trước mọi tâm tư tủi nhục của họ trong xã hội cũ! Lý thú ở đây là còn ở chỗ, ở bản C mà ông Hoàng Xuân Hãn cho là của Nguyễn Khản cũng để chữ “hồng nhan”.

Nẻo trời đất nổi cơn gió bụi,
Kẻ hồng nhan nhiều nỗi truân chuyên.

Tôi muốn các bạn lưu ý đến câu bát của bản A: “Vì ai gây dựng cho nên nỗi này”, và câu bát bản B: “Mấy ai gây dựng nhân duyên lỡ làng”, và xa hơn các ví dụ tương tự rải rác ở trong bản B để thấy rõ vấn đề hơn. Vấn đề đó là: Chỉ có Đoàn Thị Điểm một tâm hồn, một người đàn bà mới có được cái bút pháp, cái phong cách biểu lộ một mối cảm xúc vô hạn đối với người đàn bà như ở bản A, bản hiện hành.

Chúng ta có thể xem một số thí dụ khác ở tập Truyền kỳ tân phà, tác phẩm của nữ sĩ.

Giờ xin nói đến việc thuộc Chinh phụ ngâm của một số người của nhà họ Phan, và bản Quốc ngữ ông Huy Chiêm ghi gửi cho ông Hoàng Xuân Hãn vào năm 1952 khác bản hiện hành 13 vế. Một thực tế hiển nhiên ai cũng thấy được là trong những tác phẩm văn học trước đây, thì Chinh phụ ngâm khúc (bản hiện hành) là tác phẩm được nhân dân trong cả nước yêu mến và trân trọng sau Truyện Kiều của Nguyễn Du. Vì thế việc thuộc lòng Truyện Kiều cũng như thuộc lòng Chinh phụ ngâm, đối với chúng ta không có gì lạ. Và từ đó, chúng ta cũng thấy được dễ dàng rằng, cũng như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm khúc cũng đã trải qua rất nhiều lần “nhuận sắc” của nhân dân qua bao đời nay rồi. Nay chúng ta chỉ cần lấy các bản Chinh phụ ngâm Quốc ngữ đã được in ra trên giấy trắng mực đen đối chiếu với nhau, cũng thấy dễ dàng điều đó. Huồng hồ Chinh phụ ngâm khúc nằm trong thời lưu truyền bằng miệng, hay với một bản Nôm trước đây. Điều này ta thấy rất rõ ngay trong những người nhà họ Phan thuộc Chinh phụ ngâm khúc: ông Huy Chiêm ghi lại cho ông Hoàng Xuân Hãn chỉ khác 13 vế, nhưng có người khác lại đọc cho anh Lại Ngọc Cang nghe thì khác đến 21 vế, và khác cả ngay với số 13 câu khác kia mà ông Hãn đã côgn bố trong cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo.

Không chú ý đúng mức đến tình hình đó, mà chỉ căn cứ vào việc “ghi”, “thuộc” và “khác” này để làm căn cứ đoán định bản hiện hành là của họ Phan là không thích đáng.

Ngoài ra còn có một số câu hỏi cũng cần đặt ra ở đây: Bản Chinh phụ ngâm chữ và Nôm mà nhà họ Phan còn giữ được như ông Phan Huy Chiêm đã nói từ năm 1926 tại sao không thấy có trong Dụ Am văn, thi ngâm tậ là bộ “toàn tập” của Phan Huy Ích hiện có? Bảo rằng Phan Huy Ích không thể cùng vào mấy tập này vì ý định đóng riêng ra thành một quyển, sợ để gộp vào, tập sách dày quá. Điều đó có lẽ không đúng, vì với khổ lớn của các tập sách của Dụ Am, thì có thêm Chinh phụ ngâm vào cũng chỉ dày thêm 8 tờ. Hơn nữa sách Dụ Am cũng không dày là bao, quyển dày nhất chưa đến 2cm. Hay vì Phan Huy Ích dù sao cũng là một người có tội với triều Nguyễn nên không muốn để gộp vào? Cũng không phải.Vì trong tập Dụ Am thơ văn, văn tế viết hồi triều Tây Sơn còn có ghi đủ cả theo thứ tự năm làm mà xếp thành sách. Nghiên cứu các tập sách của Dụ Am, chúng tôi thấy nhà họ Phan rất có ý thức bảo vệ di sản của tổ tiên, bảo vệ quyền tác giả của những tác phẩm của họ Phan.

Còn như việc người nhà họ Phan cho rằng bản dịch Chinh phụ ngâm khúc hiện hành là bản của Phan Huy Ích, vì người nhà họ Phan (mà trước đây cả chúng ta nữa) chỉ biết theo như trong gia phả đã ghi, cho nên các cụ tin như thế cũng dễ hiểu. Không những các người nhà họ Phan hiện nay đã nhầm điều đó, mà ngay cả người chép gia phả họ Phan trước kia cũng nhầm như các cụ hiện nay nên đã ngộ chép vào gia phả như thế. Điều đó không phải là hiếm ở văn gia phả của ta.

Vì thế mà, qua gia phả họ Phan càng làm cho chúng ta ngờ về việc Phan Huy Ích là dịch giả bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành, và càng thấy rõ Đoàn Thị Điểm là dịch giả khúc ngâm.

2. Bài thơ Ngẫu thuật của Phan Huy Ích: như đã trình bày ở phần I, trong Dụ Am ngâm tập (ký hiệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm là A.603), tờ 60a-b có chép bài Tân diễn Chinh phụ ngâm khúc thành ngẫu thuật. Qua bài ngẫu thuật này, các nhà nghiên cứu trước đây đều thống nhất ở một điểm nhất định: Phan Huy Ích có dịch Chinh phụ ngâm khúc, nhưng vấn đề mấu chốt là bản dịch của Phan Huy Ích là bản nào? Số người chủ trương bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành là của Phan Huy Ích (Hoàng Xuân Hãn, Lại Ngọc Cang) đã khai thác bài Đường luật này (tìm xem quan điểm dịch của Phan Huy Ích) và đi đến kết luận đại để rằng:

a) Trước Phan Huy Ích đã có nhiều người diễn âm Chinh phụ ngâm khúc, nhưng nay họ Phan lại dịch lại vì ông nhận thấy những người diễn âm trước đã quá gò lời chuốt chữ, câu nệ ở vận luật nên đã không diễn được hết cái “văn mạch tuý” của khúc ngâm (chú ý câu thứ tư).

b) Quan điểm của Phan Huy Ích biểu lộ ở hai câu luận: “Vận luật hạt cùng văn mạch tuý, Thiên chương tu hướng nhạc thanh tầm”, nghĩa là: lấy vận luật thì không sao diễn hết được tinh tuý của mạch văn, cho nên phải theo từng thiên, từng chương mà tìm âm thanh cho êm ái (Chinh phụ ngâm bị khảo, tr.27), quan điểm đó được thể hiện ở bản A, vì bản A là bản dịch không câu nệ về nghĩa đen và về các vế. Bản B thì trái lại. Phan Huy Ích là phỏng dịch, còn Đoàn Thị Điểm chỉ áp dịch (Sđd tr.67)

Nhưng chúng tôi thì lại nghĩ khác

Một điều cần nói rõ trước hết là: cũng một bài Đường luật tám câu trên đây mà mỗi người lại lĩnh hội một khác. Cứ đối chiếu các bản dịch của các ông Đông Châu, Hoa Bằng, Hoàng Xuân Hãn, Đặng Thai Mai thì thấy rõ điều đó. Về bài Ngẫu thuật của họ Phan, chúng tôi cho rằng:

a) Câu 4: “Đa hữu thôi xao vi diễn âm”, không nên hiểu cái sự thực của “câu thực” ấy thành một lời nhận xét, một lời phê phán các bản diễn âm có từ trước-nhất là khi lời nhận xét đó là không tốt, như “đã nhiều kẻ gò lời chuốt chữ…”

b) Hai câu luận:

“Vận luật hạt cùng văn mạch tuý,
Thiên chương tu hướng nhạc thanh tầm”.

Luận cái gì? Thì hẳn là luận cái thực ở câu 3, câu 4. Nhưng ở đây là bài Ngẫu thuật sau khi dịch xong Chinh phụ ngâm khúc nên “cái thực” đây là cái việc dịch lần này của mình (Phan Huy Ích) đối với cái khúc ngâm “cao tình dật điệu bá từ lâm” của Đặng Trần Côn.

Do đó mà bài Ngẫu thuật này, chúng tôi tán thành bản dịch của ông Đặng Thai Mai về hai câu luật: “Trong bấy nhiêu vận luật mạch văn uyên súc thiệt khó mà phu diễn cho thâu triệt. Rồi lại còn phải phân tích từng chương tiết trong nhạc điệu (của khúc ca) nữa”. Như vậy, chúng tôi xem hai câu luận này chỉ là lời bàn, lời bình luận đến cái công việc thực tế của việc dịch của Phan Huy Ích, chứ không phải là để bày tỏ quan điểm dịch. Quan điểm dịch của họ Phan là ở chỗ khác.

Chúng tôi đặc biệt chú ý đến mấy chữ này: chữ diễn âm ở câu bốn, chữ phiên dịch ở câu bảy. Chúng tôi cho rằng chính quan điểm dịch của Phan Huy Ích được biểu hiện ở mấy chữ đó. Một bài Đường luật 56 chữ, mỗi chữ vận dụng đều được cân nhắc thật chính xác. Điều đó là tất yếu, đối với văn đại khoa hay đối với các thi sĩ có tài. Mà Phan Huy Ích là một ông nghè, thì tất nhiên là không dễ dãi trong khi dùng chữ.

“Diễn âm” và “phiên dịch”, mỗi chữ có một nội dung không phải giống nhau hẳn. “Diễn âm”, nghĩa đen của chữ diễn có nhiều nghĩa, nhưng ở trong “diễn âm” thì nó chỉ có nghĩa là: căn cứ vào một bài đã có sẵn mà suy rộng nghĩa ra rồi lấy ý mà diễn đạt ra bằng Quốc âm (nghĩa ở đây). Vậy ở ta trước đây, “diễn âm” có nghĩa như là “phỏng dịch” của ta hiểu bây giờ. Vì từ tiếng Hán thì gọi là “ý dịch”. “Phỏng dịch” không có trong từ vị tiếng Hán. Đã là “diễn” thì không đòi hỏi phải theo từng lời, từng chữ, từng câu mà chỉ cần dịch thoát ý, lấy cái tinh thần của câu văn. Do đó mà số câu ở bài diễn âm ít hơn ở bài nguyên tác là một điều dễ hiểu.

Còn “phiên dịch” thì hoàn toàn không có nghĩa là “phỏng dịch”. Vì “phỏng dịch” mà từ tiếng Hán gọi là “ý dịch” đó, thì “ý dịch” – cái từ này cũng mới xuất hiện sau nay, chữ từ “Dân quốc tam thập lục niên” trở về trước là không có. Khái niệm “phiên dịch” vẫn có trong từ vị tiếng Hán đã từ lâu. Đã là “phiên dịch” thì phải dịch cho hết nghĩa, phải dịch từng chữ, từng câu. Nhất là ở đây, lại dịch một khúc ngâm nổi tiếng của Đặng Trần Côn như chính tự tác giả nói ở câu thừa “Cao tình dật điệu bá từ lâm”. Do đó mà số câu ở bản B dịch theo quan niệm này, số câu lại nhiều hơn nguyên tác, vì phải dịch cho hết ý của bài chữ Nho Đặng Trần Côn.

Chúng ta theo dõi bảng thống kê do ông Hoàng Xuân Hãn thống kê ở Chinh phụ ngâm bị khảo (tr.67).

Nhìn vào bản thống kê này, có hai điểm cần chú ý:

a. Số vế ở cột 1 càng nhiều, chứng tỏ bản dịch càng phải sát với nguyên tác. Bản A bản hiện hành có 8 vế, bản B có 36 vế.

b. Số vế ở các cột 2, 3, 4, 5, 6 càng nhiều, chứng tỏ bản dịch càng xa nguyên tác. Bản A là bản dịch theo quan điểm diễn âm. Còn bản B, thì theo quan điểm phiên dịch, dịch từng câu, từng chữ, dịch cho hết ý của bản Hán mới “suy minh tác giả tâm”. Và quan điểm đó là quan điểm của Phan Huy Ích (nên không phải là bản C). Bản A (bản hiện hành) là của Đoàn Thị Điểm.

Một lý do nữa khiến chúng ta tin chắc điều nhận xét của bản B chỉ có thể do Phan Huy Ích dịch là đúng, bởi lẽ bản B dịch hết ý, câu nào dịch câu nấy. Một nhà Hán học uyên bác như họ Phan nhất định là có một trình độ thưởng thức bản Hán văn của Đặng Trần Côn cao lắm. Điều đó thấy rõ ở hai câu đầu bài Ngẫu thuật của cụ.

Đối chiếu kỹ bản Hán văn với bản A, chúng ta thấy rằng bản A vì phỏng dịch nên đã bỏ đi rất nhiều ý của bản Hán.

Những ý này đã làm cho họ Phan không vừa lòng mà phải dịch lại. Vì vậy trong khi đánh giá bản dịch, chúng ta nên chú ý đánh giá cho vừa phải. Một vài thí dụ:

Câi 164:

Thương đài, thương đài, hựu thương đài
Nhất bộ nhàn đình bách cảm thôi.

Bản A:

Rêu xanh mấy lớp chung quanh
(Sân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ).

Bản B:

Rêu lại rêu xanh xanh đòi chốn
(Bước nhàn đình ngâm ngụt kẻ trăm)

Câu 169-171:

Sa song tịch mịch chuyển tà huy
Tà huy, tà huy hựu tà huy
Thập ước giai kỳ cửu độ vi

Bản A:

Bức rèm thưa lần giải bóng dương
Bóng dương mấy buổi xuyên ngang
Lời sao mời hẹn, chín thường đơn sai

Bản B:

Chón song the tứ bề vắng vẻ
Ác tà tà bóng xế rèm hoa
Tà tà thôi đã lại tà,
Xem trong mười hẹn kể đà chín sai.

Qua hai ví dụ trên đây, chúng ta thấy rõ ràng quả bản B dịch sát hơn bản A, đã thể hiện được trong phần dịch của mình cái “Khái niệm vô cùng” đọc lên nó gợi cho ta cái cảm giác mông lung man mác của cách kết cấu tiếng Hán: thương đài, thương đài hựu thương đài, hay: tà huy, tà huy hựu tà huy. Bản A vì phỏng dịch nên đã bỏ mất, không thể hiện được cái “văn mạch tuý” ấy của tiếng Hán.

3. Luận cứ thứ ba, chủ trương bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành là của Phan Huy Ích là bởi vì: “văn bản A gần với ta hơn trong thời gian ít tiếng cổ hơn so với bản B”(ý của ông Hoàng Xuân Hãn trong Chinh phụ ngâm bị khảo). Trên cơ sở nhận định đó, có người (anh Lại Ngọc Cang) lại đi xa hơn một chút về tiếng cổ, về thể loại, để xác nhận từ đó trên một mặt khác nữa là: thể loại song thất lục bát trong bản A đã đật đến một trình độ hoàn thiện nhất, nó chỉ có thể xuất hiện vào đầu thế kỷ XIX, thế kỷ của Đoạn trường tân thanh.

Trước hết cần phải nói rằng, cách làm này (cách so sách chữ cổ, xem sự xuất hiện hay mất đi của một từ trong văn học, xem sự phát triển của thể loại văn học…) là một điều thường thấy ở trong văn học các nước để xác định thời điểm xuất hiện của một tác phẩm văn học nếu có. Song đối với chúng ta, khi làm công việc này, một điều hết sức quan trọng là phải đặc biệt chú ý đến đặc điểm của tình hình văn học của chúng ta, phải cố gắng khai thác cho hết mọi tác phẩm văn học có thể khảo được. Bởi vì không làm như thế, chúng ta sẽ chỉ có thể có được một kết quả mà bên ngoài thì có vẻ khoa học, nhưng thực ra không phản ánh được cái thực chất; chỉ có thể có được một kết quả hết sức phiến diện, không phản ánh được cái chung, cái khái quát của văn học của ta. Ở đây, về thời gian: từ 1742 – 1745 - thời điểm giả sử xuất hiện bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, năm 1803 - thời điểm giả sử xuất hiện bản dịch Chinh phụ ngâm khúc của Phan Huy Ích, thì không lâu là bao. Năm mươi năm so với lịch sử phát triển tiếng nói của một dân tộc không có một ý nghĩa đáng kể lắm. Ai tự vãn ra đời từ nửa cuối thế kỷ XVIII và Truyện Kiều, đầu thế kỷ XIX là một thí dụ. Cho nên đọc lại hai áng văn đó, chúng ta không hề thấy nó “cổ”.

Về mặt chữ viết, chữ của ta là chữ Nôm, vốn không có một qui cách nào thống nhất, cho nên cách đọc không có gì là ổn định. Hơn nữa thử hỏi: có phải là trong thời gian ngắn năm mươi năm ấy, ngôn ngữ của ta chỉ có những chữ như đăm chiêu (Dạo hiên vắng đắm chiêu từng bước - bản A câu 193), bẻ bai (Trúc sập soè, mai cũng bẻ bai - bản A câu 282), chốc mòng (Bến ngâu sàn sạt, cung trăng chốc mòng - bản A câu 240)…để diễn đạt tư tưởng cho tất cả mọi trạng thái tâm lý, tình cảm hay không? Không phải. Ở bản A cần diễn đạt dáng đi tư lự, cái nhịp nhàng uốn éo, diễn đạt cái tâm lý ngóng trông, mong mỏi tha thiết … nên Đoàn Thị Điểm đã dùng đăm chiêu, bẻ bai, chốc mòng … mà thôi. Còn ở chỗ khác, không cần diễn tả những trạng thái ấy nên người ta không dùng. Xét về tiếng cổ trong bản B cũng thế. Một chữ như: lãi linh (thiếp lãi linh đâu làm Tố nữ - bản B, câu 471), giang (Bến ngân tranh, tay ấp bùng giang - bản B, câu 308) chỉ nói rằng nó cổ, nó mất đi không thấy xuất hiện trong các tác phẩm văn học, trong tiếng nói của ta nữa trong năm mươi năm ấy, khi mà nó:

- Không thấy có ở những tác phẩm văn học của một người hay của nhiều người ở trong thời gian ấy.

- Không dùng được nữa để diễn tả cùng một nội dung tâm lý, cùng một nội dung tình cảm như nhau ở trong những tác phẩm văn học qua các thời kỳ xuất hiện của các tác phẩm tương đối đều đặn.

Đằng này, thì rõ ràng là không phải như thế, cho nên không thể cho nó là “tiếng cổ” xuất hiện ở đầu thế kỷ XVIII mà không xuất hiện ở đầu thế kỷ XIX được. Huống hồ, về từng “tiếng cổ” cụ thể, theo chúng tôi, quan niệm như trên đây, và theo sự thống kê của chúng tôi, thì ở bản A có 21, bản B chỉ có 12 chứ không phải như có người đã nghĩ: bản A gần với ta hơn vì “tiếng cổ” ít hơn so với bản B.

Thế thì, tại sao mà bản A (bản hiện hành của Đoàn Thị Điểm) có nhiều tiếng cổ hơn bản B, khi đọc lên ta có cảm giác “gần với ta hơn trong thời gian”. Hay nói một cách khác, mới hơn, trẻ hơn? Mới hơn, hay trẻ hơn, cái cảm giác đó thực ra hoàn toàn không phải là vì bản thân cái từ nó mới. Cảm giác cổ hơn, xưa hơn cũng thế. Cổ, xưa, cái cảm giác đó thực ra không phải là do cái bản thân từ cổ gây nên, mà chủ yếu là bởi tại cách vận dụng nó, các sử dụng nó trong cú pháp, trong cái phong cách ngôn ngữ của từng nhà văn.

Ở đây tôi còn chủ ý một điều nữa là: xét trong Dụ Am thi văn tập, rải rác trong một đôi bài văn tế có những từ Phan Huy Ích có dùng như:

- Hầu cách linh dư, kính dâng điện lễ (Từ cung, mẹ Lê Ngọc Hân tế con)

- Cách mái linh dư, dâng tuần điện tế … vơi vơi hoàng giản một điêu … (Hoa lệ tế Lê Ngọc Hân 1799).

Đem đối chiếu bài văn tế cuối này với bản A, có những từ giống nhau:

- Tự ta đội chín lần sống thác, lệnh cửa viên nổi tiếng trống ngọn cờ; cùng nhau vâng muôn dặm ruổi giong, đoàn áo giáp trải chân rừng mặt bể.

- Giữ chiến pháp lấy mình làm nhẹ.

Vấn đề là: có nên xem có sự thống nhất một số từ, một số ý ở bài văn tế này với Chinh phụ ngâm khúc bản A mà cho rằng chính Phan Huy Ích là dịch giả bản A, mà cho rằng hai bản này (Bài Văn tế và bài Chinh phụ ngâm khúc) chỉ có thể hiểu là do một người viết không?

Không phải thế. Vì ta có thể hỏi ngược lại, làm sao lại không đặt vấn đề cho Phan Huy Ích trong khi làm bài văn tế này đã chịu ảnh hưởng bản Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm. Hơn thế, xét ra những từ này đều là những từ dịch từ tiếng Hán, hay là những từ thuần Nôm của ta nổi tiếng trống ngọc cờ, gió lộng, đáy nước biển…, và cả những từ nguyên tiếng Hán: chinh phụ, dũng sĩ…Vô luận là từ thuộc loại nào đó cũng đã nhập vào vốn từ vị ngôn ngữ của ta rồi, và hơn thế nữa, tất cả những từ đó đều chỉ sử dụng trong một đề tài nhất định, để diễn tả một trạng thái tâm lý tương tự, cho nên sự thống nhất này là không quan trọng, mà là tất yếu.

Một người, hai người, hay rất nhiều người khác nữa, vô luận là thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX và cho đến giữa thế kỷ XX và ta tin rằng cả sau này nữa nếu có viết về đề tài này thì bất kỳ ở thế nào cũng vận dụng những từ hay cả những ý ấy. Xin đọc các bài văn tế của Đặng Vũ Khiên viết năm 1946, của Tú Mỡ viết năm 1984… cũng thấy rõ điều đó.

Hơn thế, khái niệm của những từ này, ở đây đã được sử dụng trong một bài văn vần, phải bị qui định bởi vận, luật, cho nên dù cho dùng “cửu trùng” hay “chín lần”, hay “bệ rồng” cũng là một điều dễ hiểu. Ở đây không có sự vận dụng từ một cách tự do như trong một bài văn xuôi.

Vì thế, chúng ta không thể hễ thấy một số từ nào đó được vận dụng trong một số bài viết về một số đề tài tương tự nào đó mà cho rằng những bài đó phải là do một người viết được.

Cái quan trọng chủ yếu ở đây không phải là do cả những từ. Ở đây, Phan Huy Ích không vừa lòng với những bài diễn âm Chinh phụ ngâm khúc có từ trước, thì điều không vừa lòng của họ Phan không phải là không vừa lòng với những từ, mà không vừa lòng với cách dịch như đã nói ở phần trước. Cho nên ở đây Phan Huy Ích trong khi làm văn tế, sử dụng các vốn từ ngữ chung ấy thì không có gì là lạ.

Thêm vào đó, Chinh phụ ngâm khúc có trên 400 câu, sáng tác của Dụ Am gồm 3 tập dày, mà ở đây chúng ta chỉ thấy được năm, mười câu có một đôi từ giống nhau, thì riêng về tỷ lệ này so với khối lượng kia là một lý lẽ không đáng kể. Tóm lại, ở đây cũng không có cái lẽ gì để bảo Phan Huy Ích là dịch giả của bản A cả. Trái lại, theo chúng tôi thì Phan Huy Ích đã chịu ảnh hưởng Đoàn Thị Điểm và chính Đoàn Thị Điểm là dịch giả ản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành.

Trong lịch sử văn học nước ta, thế kỷ XVIII đã đánh dấu một giai đoạn phát triển căn bản của văn học chữ Nôm, nó được bắt nguồn từ trước kia, chỉ kể từ cuối thế kỷ XVI với Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sĩ Khải rồi đến Ngoạ Long Cương văn của Đào Duy Từ, Sãi vãi của Nguyễn Cư Trinh, phú của Nguyễn Bá Lân … và đến An Đô Vương (Trịnh Cương), Định Vương (Trịnh Căn), Minh Đô Vương (Trịnh Doanh) rồi đến Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Ai tư vãn của Ngọc Hân.

Điểm đặc biệt ở thế kỷ XVIII là thể loại song thất lục bát khá thịnh hành. Thể này có lẽ bắt nguồn từ Tứ thời khúc vịnh (hay trước nữa) và ổn định đến mức hoàn hảo nhất với Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm, với Cung oán của Nguyễn Gia Thiều, và với Ai tư vãn của Ngọc Hân. Nó không phải đợi đến đầu thế kỷ XIX mới ổn định như có người đã nghĩ.

Về mặt thể loại, một điểm nữa cần nói rõ ở đây là: bản B ra đời vào đầu thế kỷ XIX mà lại có vẻ cổ hơn, và lại đã sử dụng sai quy luật kết cấu và chu kỳ bốn câu, ở các đoạn : 143 – 148 gồm 6 câu lục bát liên tục. 221 – 224 gồm 4 câu thất liên tục, 233 - 238 gồm 6 câu lục bát liên tục, không bằng bản A ra đời vào giữa thế kỷ XVIII? Những điều chúng tôi trình bày trên đây tưởng cũng đã có thể trả lời căn bản câu hỏi này. Nghĩa là do tài sử dụng ngôn ngữ, cái tài của nhà văn. Lại nữa, Phan Huy Ích dịch chứ không phải sáng tác.

Một bài văn dịch, Phan Huy Ích chú ý làm sao diễn tả hết tứ thơ chữ Hán là chủ yếu, chứ không phải vì vận luật mà bỏ mất ý của nguyên tác. Bởi thế, Phan Huy Ích nói rất có lý rằng: “vận luật hạt cùng văn mạch tuý”. Cứ gò bó với âm luật thì làm sao mà diễn tả cho hết được ý của tác giả?

Đoàn Thị Điểm thì phỏng dịch, nên ý tứ thoát hơn, có nhiều sáng táo. Đó là cái ngoài cộng thêm cái tài thơ Nôm của nữ sĩ. Vậy chính Hồng Hà nữ sĩ là dịch giả bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành.

III. VÀI KẾT LUẬN NHỎ

Một nghi vấn văn học âm thầm kéo dài trong suốt hơn 60 năm qua, hôm nay lại đặt ra với chúng ta. Những tài liệu xung quanh cái nghi vấn nay tưởng cũng đã khai thác gần đủ. Nhưng không có một tài liệu nào làm bằng chứng chắc chắn cho Phan Huy Ích là dịch giả bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành cả. Vì vậy,

1. Những giả thuyết về Phan Huy Ích không có điều kiện tồn tại, mà trái lại qua đó, chúng ta lại thấy rõ hơn: chính Đoàn Thị Điểm là dịch giả bản dịch Chinh phụ ngâm khúc hiện hành. Điều đó phù hợp với công luận của nhân dân ta trong hơn 200 năm nay, như ông Đặng Thai Mai đã nói “người ta chỉ biết có một bài chinh phụ, người ta chỉ nhớ đến một khúc ngâm chinh phụ: ấy là tập Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm”.

2. Một nghi vấn văn học được nêu ra thiếu chứng cớ có khoa học chắn chắn, thì tưởng chúng ta cũng không nên quá băn khoăn với nó. Và, cũng không nên cho đây là một nghi vấn văn học nữa. Bản dịch Chinh phụ ngâm khúc hiện hành là của Đoàn Thị Điểm. Thái độ đó không phải là thái độ bảo thủ, mà là một thái độ khoa học, biết triệt tiêu đi những yếu tố nào mà sau khi đã xét hết những điều kiện để tồn tại của nó.

Chừng nào có ai phát hiện được tài liệu mới, chắc chắn, thì chúng ta sẽ đưa vấn đề ra bản lại (1)

CHÚ THÍCH

(1) Viết tại Giả Ngoại Hương Viên, ngày 8/10/1992 kỷ niệm 90 năm năm sinh của thầy: Giáo sư Đặng Thai Mai (25/12/1992). N.T.G

TB

TÌNH HÌNH VĂN BẢN THƠ CHỮ HÁN
LÊ THÁNH TÔNG

MAI XUÂN HẢI

Chắc chắn Lê Thánh Tông đã sáng tác thơ từ hồi còn rất trẻ. Sử sách còn chép rằng ngay từ khi ông còn là Hoàng tử, sống ở nhà riêng (phiên để), ông đã hoạ liền 12 bài thơ với nhan đề là Giang hành ngẫu thành (Đi trên sông ngẫu nhiên thành thơ) của Lê Hoằng Dục, một người bạn thơ của ông. Mà như chúng ta biết, ông lên ngôi vua vào năm 1460, tức là lúc ông mới 18 tuổi. Như vậy chứng cớ trên cho ta thấy chí ít là ông đã sáng tác từ trước tuổi 18. Đó chỉ là chứng cớ còn lại ghi trong thư tịch Hán Nôm mà chúng ta biết được. Trong thực tế chắc chắn còn là sớm hơn nữa. Thứ hai là, bút lực thơ của ông còn rất dồi dào. Bất cứ lĩnh vực gì, sự vật gì trừu tượng hay cụ thể, chúng cũng có thể trở thành nguồn cảm hứng cho thơ ông. Mà đối với lĩnh vực ấy, sự vật ấy, ông có thể là trực tiếp kinh nghiệm, hay gián tiếp thông qua sách vở, thông qua người khác, thế mà vẫn sáng tác rất hay, tứ thơ rất mới. Cùng một chủ đề, ông không chỉ sáng tác một bài, mà sáng tác cả một xê – ri bài. Thí dụ như ông hoạ liền 12 bài Giang hành ngẫu thành của Lê Hoằng Dục. Ông sáng tác liền một chùm đúng 10 bài về trăng, một chùm hơn 10 bài về chiếc quạt, 6 bài tiễn các bề tôi đi sứ Bắc quốc, hơn 10 bài về ốm đau bệnh tật, đến 40 bài về rượu chè yến ẩm, 24 bài liền về cái thú sống ở nơi mây nước của đạo sĩ, 14 bài liền vịnh các cửa biển từ Thanh Hoá tới Quảng Nam, hàng trăm bài về sông núi chùa chiền, danh lam thắng tích… Rồi còn các bài thơ vịnh về mai, trúc, đàn, gương, bút, mực. Và cũng phải kể đến cả một số tập thơ sáng tác chuyên về những chủ đề riêng biệt như: Chinh Tây kỉ hành, tập thơ nhật ký nói về việc đi đánh Chiêm thành; Châu cơ thắng thưởng, ca ngợi phong cảnh núi sông; Văn minh cổ xuý, nói về tấm lòng hiếu thảo tưởng nhớ công đức của tổ tiên khi về Lam Sơn bái yết sơn lăng; Quỳnh uyển cửu ca, những suy nghĩ về đạo làm vua, làm tôi, về nhân tài, về văn chương nghệ thuật … trong xã hội no ấm thịnh trị; Minh lương cẩm tú, chủ yếu vịnh về 14 cửa biển; và suýt soát 100 bài vịnh về các đề tài lấy từ Bắc sử trong tập Cổ tâm bách vịnh. Chủ đề thơ ông bao quát khắp mọi lĩnh vực như vậy. Nhưng có lẽ số những bài thơ miêu tả phong cảnh non sông đất nước là nhiều nhất và có giá trị nhất. Trong những bài thơ này của ông, ta thấy tấm lòng ông trong sáng như thanh niên bạch nhật, và văn chương ông nảy sinh từ núi cao sông dài. Đúng như một đôi câu đối cổ đã viết:

Tâm sự đương như thanh niên bạch nhật;
Văn chương đắc ư danh sơn đại xuyên.

Nghĩa là:

Tâm hồn trong sáng như thanh niên bạch nhật.
Văn chương nảy sinh từ núi cao sông dài.

Sử còn ghi chép rằng ông còn sáng tác thơ cho tới khi ông sắp qua đời. Đó là bài Tự thuật nổi tiếng mà sử sách còn ghi lại.

Với một quá trình sáng tác lâu dài và với một bút lực dồi dào như vậy, nếu thơ ông không bị mất mát, rơi rụng theo thời gian, thì có lẽ phải tới con số hàng ngàn bài. Nhưng thực tế còn lại thì ít hơn nhiều.

Hiện nay, trong kho tàng thư tịch Hán Nôm, thơ chữ Hán của ông được chép rải rác trong hơn 40 tập sách Hán Nôm, bao gồm từ những bộ hợp tập, tuyển tập, chuyên tập thơ ca, những bộ sách lịch sử, địa lý toàn quốc và địa phương, một số sách truyền kỳ, chí quái, ngoài ra chúng ta còn thấy thơ của ông được khắc treo rải rác ở những biển gỗ trong một số ngôi chùa, đền, và được khắc nhiều nơi trên vách núi, hang động… từ Quảng Ninh cho tới tận Thanh Hoá. Những thơ chữ Hán của ông được chép nhiều nhất vẫn là sách Toàn Việt thi lục (A .1262, A .132, A . 3200…) của Lê Quý Đôn. Các bản Toàn Việt thi lục đều ghi rõ: “Quyển 5 Thượng 140 bài; quyển 6 Hạ 190 bài”. Ngoài ra phải kể tới các sách Thiên Nam dư hạ (A . 334), Lê Thánh Tông thi tập (A . 698) cũng chép hơn 100 bài. Nếu cộng với số bài thơ khắc trên vách đá, biển gỗ, và được chép ở một số sách khác mà không thấy chép trong Toàn Việt thi lục, thì tổng số thơ chữ Hán còn lại đến ngày nay của ông là khoảng hơn 350 bài.

Hầu hết số thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông còn lại cho tới ngày nay đều là văn bản chép tay, trừ số bài trong Hoàng Việt thi tuyển do Bùi Huy Bích biên soạn được nhà Hi Văn Đường khắc in năm Ất Dậu, Minh Mệnh 6 (1825). Ngay về tác phẩm Quỳnh uyển cửu ca, trong bài tựa của chính nhà vua Lê Thánh Tông, ông có nói rằng: “Ta nghĩ cán cân văn chương phải là công khí, không muốn để riêng cho ta thưởng thức một lúc, mới sai khắc bản in để truyền bá được rộng; hơn một tuần thì khắc xong; mới in ra để ban bố”(1), thế mà cho tới nay tác phẩm này cũng không thấy còn một bản khắc in nào, toàn bộ đều là bản chép tay cả.

Sử sách chép rằng Lê Thánh Tông rất hay thơ và thơ hay. Phan Huy Chú nhận xét : “Kinh sử, chư tử, lịch số, toán chương ông đều tinh thông, văn thơ càng giỏi hơn các bề tôi”(2). Hoặc khi nhận xét về tập thơ Xuân văn thi tập của Lê Thánh Tông, Phan Huy Chú cũng khen:”Bài nào cũng có khí khái mạnh mẽ, lời ý bay bướm”(3). Sau đây là tên những tập thơ chữ Hán của ông mà sử sách có nhắc tới: Anh hoa hiếu trị, Châu cơ thắng thưởng, Chinh tây kỷ hành, Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ xúy, Quỳnh uyển cửu ca, Cổ tâm bách vịnh, Cổ kim cung từ thi tập, Xuân vân thi tập, và một số lượng lớn những bài thơ không thuộc tập thơ nào.

Trong số những tập thơ trên, thì các tập: Anh hùng hoa hiếu trị; Cổ kim cung từ thi tập; Xuân vân thi tập, hoặc là đã được Toàn thư hoặc là đã được các ông Lê Qúy Đôn, Phan Huy Chú nhắc tới, nhưng tới nay đều không còn. Số tập còn lại, về mặt văn bản, cũng có một số vấn đề cần giải quyết như: 1- Nhầm lẫn một số bài của tập thơ nọ sang thơ kia cũng của chính Lê Thánh Tông; 2 - Chép lẫn thơ của ông với thơ của vua Lê Hiến Tông, là vị Hoàng Thái Tử, tức con trưởng của ông; 3 - Một số bài các ông Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích còn cho rằng không phải của Lê Thánh Tông, và xếp chúng vào mục “vô danh thị”. Nay chúng ta điểm qua số tác phẩm hiện còn.

CHÂU CƠ THẮNG THƯỞNG

Hiện nay, tập thơ này được chép trong tập Minh lương cẩm tú thi tập (A .254; từ tờ 21b đến 31a). Phần này gồm 22 bài, nội dung chính là ca ngợi cảnh đẹp núi sông, chùa chiền, đúng với cái tên của tập thơ Châu cơ thắng thưởng, nghĩa là những vần thơ đẹp như châu báu làm khi đi thưởng lãm những nơi danh thắng. Ngoài một số bài, ở những văn bản khác như Toàn Việt thi lục, Thiên Nam dư hạ, Hoàng Việt thi tuyển … đề rõ tên “ Thượng Dương Động Chủ”, cùng niên hiệu Cảnh Thống là tên hiệu và niên hiệu của Lê Hiến Tông, chúng tôi đếm được số thơ của Lê Thánh Tông còn lại gồm 10 bài là:

1. Ngự chế đề Hồ Công động (tờ 21b).

2. Ngự chế Bảo Thiên Động Chủ (tờ 23a).

3. Ngự chế đề Long Quang động(4) (tờ 23a).

4. Ngự chế Tu Mộng tự trụ khắc (tờ 24b)(5)

5. Ngự chế đề Long Đọi sơn Sùng Thiện Diên Ninh bảo tháp bi (tờ 26b)(6)

6. Ngự chế Thiên Nam Động Chủ đề (tờ 26b).

7. Đề Sài Sơn tự (tờ 27a).

8. Đề Chiếu Bạch sơn (tờ 27a).

9. Ngự đề trú Giao Thủy giang

10. Ngự chế Thuý ái Châu thanh minh tứ yến (tờ 30b).

Hai bài 9 và 10, có nội dung và thời điểm gần gũi với những bài thơ trong tập Văn minh cổ xúy. Ngoài ra còn 2 bài:

1. Hạnh Kim Âu Phong Công tự

2. Đề Bạch Nha động.

Trong đó có bài ghi rõ “Quang Thuận bát niên” giống thời điểm của một vài bài thơ trên, xét thấy nội dung của hai bài này giống với 10 bài thơ trên, và ở trong Toàn Việt thi lục, chúng được xếp liền nhau, rất có khả năng chúng thuộc Châu cơ thắng thưởng, nhưng tôn trọng nguyên bản, chúng tôi vẫn giữ đúng 10 bài theo danh sách trên.

CHINH TÂY KỶ HÀNH

Sử sách chép rằng vua Chiêm Thanh là Trà Toàn bấy giờ muốn sinh sự với nước ta, một mặt sai người cầu viện nhà Minh, một mặt đem quân sang đánh phá vùng Hoá Châu (thuộc Quảng Bình ngày nay). Vì vậy, vua Lê Thánh Tông phải thân làm tướng đem 20 vạn quân đi đánh Chiêm Thành. Chiến dịch này kéo dài từ thang 11 năm Hồng Đức thứ hai (1471) thì thắng lợi hoàn toàn. Và đây là tập thơ có tính chấp nhật ký làm trên chặng đường hành quân của ông.

Về tập thơ này, sách Thiên Nam dư hạ (A .334, tập 7, từ tờ 22a đến tờ 38a, và tập 8, từ tờ 27a đến tờ 36a) chép từ bài thơ khởi hành thứ nhất đến bài cuối cùng là “Toạ nguyệt khiển hoài” (ngồi ngắm trăng tỏ nỗi lòng), giống nhau cả về số lượng (tròn 30 bài) và thứ tự, chỉ xuất nhập một số chữ không đáng kể, sau đó chuyển sang tập thơ khác Minh lương cẩm tú.

Sách Toàn Việt thi lục (A .1262, A .3200), về tập thơ này, còn chép tiếp liền 11 bài nữa thuộc các tập Văn minh cổ xuý, Minh lương cẩm tú.

Sách Hoàng Việt thi tuyển (A .608, Q1, tờ 13a) cũng có chọn in 15 bài xếp vào Chinh Tây kỉ hành, và lấy tên là Nam sư kỉ hành. Nhưng thực ra chỉ có 5 bài đầu (từ tờ 13b đến tờ 14b) là thuộc Chinh Tây kỉ hành mà thôi. Số còn lại cũng là thơ Lê Thánh Tông và cả của Hiến Tông nữa.

Chùm thơ về trăng trong Chinh Tây kỉ hành, gồm 10 bài, nhưng Toàn Việt thi lục, bản A .3200 (Q1, tờ 308, 309) lại xếp rời ra, gồm 5 bài về trăng và bài “Tây chinh nhập Xước cảng” cũng thuộc Chinh Tây kỉ hành thì lại chép xuống tận cuối cùng phần thơ Lê Thánh Tông, còn bản A. 1262 (tập2, tờ 81b - 82b) thì bài này lại xếp vào phần thơ của Lê Hiến Tông.

Tóm lại, số lượng và thứ tự các bài thơ trong Chinh Tây Kỉ hành, chúng tôi dựa theo Thiên Nam dư hạ với con số tròn là 30 bài.

MINH LƯƠNG CẨM TÚ

Hiện nay, trong Thư viện Viện Hán Nôm còn một số văn bản Minh lương cẩm tú, mang ký hiệu là: Vhv.826, VHv .94, VHv .127, A .254, A .1413…Chúng đều là bản chép tay, không có tựa, bạt, mục lục. Trong đó bản VHv .94 có thể là bản đầu thời Nguyễn, với những chữ kiêng huý viết bới nét như: Tông @ Hoa@ Nhậm @.

Tập thơ gồm 2 phần:

1. Gồm từ 13 đến 15 bài thơ Vịnh các cửa biển, từ cửa biển Thần Phù tới cửa biển Hải Vân.

2. Từ 2 đến 3 bài là:”Tư gia tướng sĩ”, “Đề Lục Vân độc”, và “Anh tài tử”.

Chúng tôi xin lập bảng thống kê sau:

Số TT Ký hiệu văn bản

Tên bài thơ
VHv.826 VHv.94 VHv.127 A .254 A .1413 A .1168 (Cúc Đường bách vịnh)
1 Thần Phù hải môn thi + + - - + -
2 Thần Phù hải môn lữ thứ + + + + + +
3 Giáp hải môn lữ thứ + + + + + +
4 Du hải môn lữ thứ + + + + + +
5 Càn hải môn lữ thứ + + + + + +
6 Đan Nhai hải môn lữ thứ + + + + + +
7 Nam Giới hải môn lữ thứ + + + + + +
8 Kì La hải môn lữ thứ + + + + + +
9 Hà Hoa hải môn lữ thứ - + + + + +
10 Xích Lỗ hải môn lữ thứ + + + + + +
11 Di Luân hải môn lữ thứ + + + + + +
12 Bố Chính hải môn lữ thứ - + + + + +
13 Nhật Lệ hải môn lữ thứ + + + + + +
14 Tư Dung hải môn lữ thứ + + + + + +
15 Hải Vân hải môn lữ thứ + + + + + +
16 Đề Lục Vân động + + - + + +
17 Tư gia tướng sĩ + + + + + +
18 Anh tài tử thi + + + + + +
TỔNG CỘNG 16 18 16 17 18 17

Bài thứ 7, chữ Nam Giới, bản VHv.94 và bản A .1413 chép là Nam Aó @@. Về phần 1 gồm 15 bài vịnh các cửa biển, chúng tôi thấy bài 1 (Thần Phù hải môn thi) trong Thiên Nam dư hạ (A .334/8 tờ 84b; 85a) ghi rõ tác giả là Thượng Dương Động Chủ ( tên hiệu của Lê Hiến Tông); và thời điểm sáng tác là “Cảnh Thống tứ niên, tuế thứ Tân Dậu, thập nhất nguyệt” (tháng 11, năm Tân Dậu, niên hiệu Cảnh Thống thứ 4 (1501).

Minh lương cẩm tú bản A .254, tờ 25a cũng chép bài thơ này và ghi rõ tác giả và niên đại giống như vậy. Vậy chúng tôi trả bài này về cho Hiến Tông.

Ba bài còn lại ở phần 2 gồm cả các bài hoạ của các từ thần, đúng như Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú đã nói về tác phẩm này là: ”Minh lương cẩm tú, 1 quyển. Khoảng đời Hồng Đức, từ thần biên tập thơ của vua ngự chế và thơ của bề tôi hoạ lại” (7).

Số 14 bài vịnh cửa biển trên, Lê Quý Đôn và Bùi Huy Bích cho rằng chúng không phải là của Lê Thánh Tông, nên đã xếp vào mục “vô danh thị” (không rõ tác giả). Ngoài ra, trong Thiên Nam dư hạ, phần nguyên chú ở bài “Hải Vân môn lữ thứ” viết rằng: “Nghi là sai,, thực không phải ý của nhà vua”. Thật ra phần nguyên chú phần nhiều là của người đời sau thêm vào khi sao chép thơ của ông, như ở bài thơ trên đây. Hoặc ở bài “Tư Dung hải môn lữ thứ” chẳng hạn: “Nhà Mạc thấy chữ Dung @ trùng âm với chữ Dung @ là tên của Mạc Đăng Dung, nên đối ra là Tư Khách @. Chúng ta không nên vì một đôi chỗ ở phần nguyên chú do người sau thêm vào, mà cho những bài thơ đó không phải của Lê Thánh Tông. Hơn nữa, những bộ sách địa lý có uy tín nhất của nhà Nguyễn, như Đại Nam thống nhất chí, hoặc những bộ địa phương chí nổi tiếng như Nghệ An kí… đều cho đó là của Lê Thánh Tông cả.

Một điểm nữa, trong một số văn bản Minh lương cẩm tú, 14 bài thơ vịnh cửa biển này đều có lới đề từ ghi rõ là: “Năm Canh Dần, Hồng Đức thứ nhất (1470), ngày 01 tháng 3, bắt sống chúa Chiêm là Trà Toàn. Ngày 11 tháng 4 về tới cung”, và đề hai rõ hai chữ “Ngự chế”. Vậy tác giả 14 bài vịnh cửa biển đó đích thực là vua Lê Thánh Tông vậy.

Nhưng tại sao chúng không được xếp vào trong tập Chinh Tây kỷ hành. Hơn nữa, 14 bài thơ này, không có một bài hoạ nào, như Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú đã nói về Minh lương cẩm tú, là phải có những bài hoạ của các bề tôi. Còn điểm nữa, 3 bài thơ ở phần hai, có bài như “Tư gia tướng sĩ”, “Đề lục vận động”, nhiều văn bản còn ghi rõ thời điểm sáng tác là “ngày 16 tháng 2, và ngày 17 tháng 3 năm Hồng Đức thứ 25 (1949). Vậy lẽ nào một tập thơ lại gồm 2 phần cách xa nhau đúng một phần tư thế kỉ?

Tuy vậy, xét độ ổn định trong tất cả các dị bản hiện còn, chúng tôi vẫn coi tập Minh lương cẩm tú của Lê Thánh Tông là gồm 17 bài, trong đó gồm 14 bài vịnh các cửa biển, và 3 bài khác là:”Đề Lục Vân đông”, “Tư gia tướng sĩ”, và “Anh tài tử”.

VĂN MINH CỔ XUÝ

Đây là tập thơ vua Lê Thánh Tông cùng các con và các triều thần sáng tác khi về bái yết sơn lăng, viếng thăm lăng mộ ông bà, tổ tiên và tháng 2 mùa xuân sang 1491, để tỏ lòng tưởng nhớ công đức ông cha, và mong ước đất nước thịnh trị.

Văn minh cổ xúy hiện được chép trong Toàn Việt thi lục (a.3200); từ tờ 268 đến tờ 270, Hoàng Việt thi tuyển chỉ chọn có 01 bài (bài số 2). Trong tập Minh lương cẩm tú (A.254 từ tờ 32a đến 61b) Văn minh cổ xuý gồm 6 bài sau:

1. Ngự chế bái yết sơn lăng cảm thành: (tờ 32a). Bài này chỉ có tên bài, không có phần thơ..

2. Ngự chế Thiên Vực giang hiểu phát (tờ 35a).

3. Ngự chế chu chí Lam Sơn, truy hoài Thánh Tổ huân nghiệp (tờ 40a).

4. Ngự chế Quang Đức điện thượng, bái yết lễ chung, tư cảm chi gian, nga thành tử vận (tờ 35a).

5. Ngự chế hạnh kiến Thụy Đường ngẫu thành (tờ 50b).

6. Ngự chế tam nguyệt sơ nhất nhật, đại giá thượng kinh, thập nhật ngự chu túc vu Thúy Ái châu, thứ liên nghênh bái, bách tính tự quan, nãi tả xuất ngũ thập lục tự, dĩ kí kỳ thực (tờ 56a).

Những bài thơ trên, sau đó đều có lời bình và thơ họa của Hoàng Thái tử (tên Tăng, tức vua Hiển Tông), của các hoàng tử khác như Lương Vương Thoan, Phúc Vương Tranh, Kiến Vương Tân, và các bề tôi như Thánh Nhân Trung, Đào Cử… đúng như đặc điểm về Văn minh cổ xúy mà Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú đã nói.

Chúng tôi còn nhận xét thấy rằng bài 9, bài 10 trong Châu cơ thắng thưởng, và bài “Truy tư nhị thánh công nghiệp” có nội dung và thời điểm gần với những bài trên. Nhưng tôn trọng nguyên tác, chúng tôi vẫn chỉ coi 4 bài trên (thực còn là 5) là của Lê Thánh Tông trong tập Văn minh cổ xúy.

QUỲNH UYỂN CỬU CA

Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép khá tỉ mỉ về tập thơ này, cả về thời gian và hoàn cảnh ra đời của nó như sau: “Năm Ất Mão, niên hiệu Hồng Đức thứ 26 (1495) mà Đông tháng 11, làm sách Quỳnh uyển cửu ca. Vua thấy hai năm Sửu, Dần (1493, 1494) các thứ lúa được mùa, bèn đặt ra các bài ca vịnh để ghi điểm tốt”. Toàn thư còn ghi chép cả họ tên 28 vị văn thần được tham gia Hội Tao Đàn để họa thơ, và tên 9 bài thơ của nhà vua. Đó là các bài:

1. Phong niên (năm được mùa).

2. Quân đạo (đạo làm vua)

3. Thần tiết (tiết làm tôi)

4. Minh lương (vua sáng tôi hiền)

5. Anh hiền (các bậc anh tài, hiền triết)

6. Kì khí (khí lạ)

7. Thảo tự (chữ thảo)

8. Văn nhân (nhà văn)

9. Mai hoa (Hoa mai)

Ngoài 9 bài thơ trên, Quỳnh uyển cửu ca còn có bài tựa của chính Lê Thánh Tông viết và bài bạt do Đào Cử viết.

Quỳnh uyển cửu ca làm một tập thơ mang tính vua tôi xướng họa như các tập Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ xúy, sau mỗi bài xướng của nhà vua, đều có các bài họa của các nhà văn thần trong hội Tao Đàn nữa.

Mặc dù trong bài tựa, Lê Thánh Tông có cho ta biết sách này đã được khắc in, nhưng cho tới nay chúng ta chưa tìm thấy một bản in nào.

Sau đây là Bảng Thống kê số bài thơ của Lê Thánh Tông trong Quỳnh uyển cửu ca trong 7 dị bản khác nhau, toàn bộ đều là bản chép tay.

Số TT Quỳnh uyển cửu ca

Tên 9 bài thơ
của Lê Thánh Tông
Nam Thiên dự hạ A 334/7 Toàn Việt thi lục A3200 Minh lương cẩm tú Vhv94 Minh lương cẩm tú A1413 Quỳnh uyển cửu ca Vhv826 Cúc Đường bách vịnh A1168 Lê Thánh Tông thi tập A698
1 *Bài tựa của Lê Thánh Tông + - + + + + +
2 Phong niên + + + + + + +
3 Quân đạo + + + + + + +
4 Thần tiết + + + + + + +
5 Minh Lương + + + + + + +
6 Anh hiền + + + + + + +
7 Kì khí + + + + + + +
8 Thảo tự + + + + + + +
9 Văn nhân + + + + + + +
10 Mai hoa + + + + + + +
11 Bài bạt của Đào Cử + - + + + + +

CỔ TÂM BÁCH VỊNH

Về tác phẩm này, Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú, trong thiên Nghệ văn chí Văn tịch chí ở sách Đại Việt thông sử, Lịch triều hiến chương loại chí nói khá kỹ rằng: Cổ tâm bách vịnh, 10 quyển. Vua Lê Thánh Tông ngự chế, hoạ thơ vịnh sử của nhà nho đời Minh là Tiền Tử Nghĩa (Pham Huy Chú chép là Tiền Tử Mĩ). Các từ thần là Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận phụng bình. Thơ đều làm theo thể ngũ ngôn tuyệt cú”.

Hiện nay trong Thư viện Viện Hán Nôm còn hai văn bản mang tên Cổ tâm bách vịnh mang ký hiệu A .702 và VHv .1010. Hai văn bản này không chỉ thuần chép số thơ của Cổ tâm bách vịnh mà còn chép nhiều bài thơ khác của Lê Thánh Tông. Nếu tính từ bài đầu tiên là bà “Đỉnh hồ” đến bài “Xích bích”, rồi liền sau đó là ba chữ “Cổ vịnh chung” (Cổ tâm bách vịnh hết), chúng tôi thống kê được 97 bài.

Những bài đó có nội dung hoàn toàn là vịnh sử Trung Quốc, và có thể loạilà thể thơ ngũ ngôn tuyệt cú, gần đúng với cái tên “Bách vịnh” của tập thơ.

*
**

Trên đây là khái quát tình hình văn bản của những tập thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông hiện còn lưu trữ trong thư viện của Viện Hán Nôm. Trong số những tập tới nay không còn thì riêng Xuân vân thi tập được Phan Huy Chú dẫn khen tới 8 bài. Mà chúng ta thấy trong 8 bài đó, có bài thuộc Chinh Tây kỉ hành, có bài thuộc Châu cơ thắng thưởng, có bài thuộc Minh lương cẩm tú. Vậy phải chăng Xuân vân thi tập là tập thơ được tuyển chọn từ những tập thơ khác cũng chính của Lê Thánh Tông?

Số những bài thơ sáng tác rải rác không thuộc tập nào của Lê Thánh Tông cũng rất lớn, tới cn số xấp xỉ 150 bài, nói chung là không có vấn đề văn bản lớn. Chỉ có điều là sách Toàn Việt thi lục (A.1262, tập 2, từ tờ 79b đến tờ 84b) lại đóng lộn tới 10 bài, trong đó có 6 bài thuộc Chinh Tây kỉ hành, và 16 bài “Đề đạo nhân vân thủy cư” của Lê Thánh Tông sang phần thơ của Lê Hiển Tông. Nay chúng ta trả lại chúng cho Lê Thánh Tông vì lẽ trong sách Cổ tâm bách vinh (VHv.1010), ở nhiều bài này còn chép đủ cả lời bình của Nguyễn Trực và Vũ Lãm, hai vị văn thần được Lê Thánh Tông đặc cách cho bình thơ của mình. Mà như chúng ta biết, Nguyễn Trực mất năm 1474, khi đó Hiến Tông mới 13 tuổi (ông sinh năm 1461). Ở độ tuổi ấy, khó mà sáng tác thơ với những tư tưởng nhàn tản, ẩn dật kiểu Lão Trang như trong 24 bài “Đề đạo nhân vân thưởng” này được.

*
**

Trên đây là tình hình văn bản thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông mà chúng tôi đã trình bày một cách đại lược thông qua sự tìm hiểu thơ của ông ở một số bộ sách Hán Nôm chính như Toàn thư, Toàn Việt thi lục, Thiên Nam dư hạ, Hoàng Việt thi tuyển , và ở một số tập thi tuyển khcs. Chắc chắn là còn chưa đầy đủ, và chưa thấu đáo. Rất mong đồng nghiệp chỉ giáo (*).

CHÚ THÍCH

(*) Xin xem thêm bài “Khái quát tình hình văn bản.. ”Thơ văn Lê Thánh Tông, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội, 1986.

TB

THỬ XÁC ĐỊNH SỐ LƯỢNG VĂN KIỆN "TỪ MỆNH TRONG QUÂN" HIỆN CÒN

NGUYỄN VĂN NGUYÊN

Với phần thơ chữ Hán (Ức Trai thi tập) và thưo chữ Nôm (Quốc âm thi tập) của Nguyễn Trãi, các nhà nghiên cứu vẫn còn phân vân do có những dấu hiệu nghi ngờ có thể có sự lẫn lộn thơ của tác giả khác vào thơ Ức Trai. Nhưng với Quân trung từ mệnh tập (QTTMT) của Nguyễn Trãi, vấn đề tác giả dường như không phải đặt ra nữa. Cái đang thành vấn đề ở đây lại là số lượng văn kiện “từ mệnh trong quân” của tập sách.

Tình trạng hiếm hoi nguồn tài liệu liên quan đến vấn đề số lượng văn kiện trong QTTMT, không phải chỉ đến ngày nay mới xảy ra, mà trước đây khá lâu, giới nghiên cứu cũng vấp phải khó khăn này. Từ sau khi QTTMT của Trần Khắc Kiệm thất truyền cho tới mãi thế kỉ XIX, một số nhà nho đời Nguyễn sưu tập lại tác phẩm Nguyễn Trãi và in thành Ức Trai di tập (ƯTDT), những người thực hiện sách này có lẽ không tìm được một chỉ dẫn cụ thể nào cho vấn đề trên. Bởi thế các vị ấy đành phải căn cứ vào những tài liệu sưu tầm được rồi theo quan điểm riêng của mình mà sắp xếp văn kiện cho QTTMT. Tình hình không thống nhất trong việc xác định mục lục QTTMT ở các bản ƯTDT hiện còn chính là thể hiện của cách làm đó. Cụ thể trong 5 bản ƯTDT có chép phần QTTMT thì bản mang kí hiệu A.139 Thư viện Viện Hán Nôm (TV.VHN) và Hv.179 Thư viện Viện Sử học (TV.VSH) kê mục lục 42 văn kiện, hai bản VHv.2159 (TV.VHN) và Hv.462 (TV.VSH) xác định 40 văn kiện; và bản A.140 (TV.VHN) lại chép những 61 văn kiện. Rồi đến ngày nay, thời đại tuy đã khác, song việc lấy hay bỏ văn kiện cho QTTMT xem ra vẫn cùng một cung cách. Trừ những công trình trích dịch ra, các bản dịch xưa nay đều thống nhất xác định số 42 văn kiện chép ở quyển 4 bản in Phúc Khê (A.139). Bản dịch của Phan Duy Tiếp (1) căn cứ vào nội dung, chọn theem 4 văn kiện nữa từ quyển 3 “Văn loại” đề được số lượng 46 văn kiện. Trong Nguyễn Trãi toàn tập (2), ngoài phần tiếp thu bổ sung văn kiện mới phát hiện của Trần Văn Giáp ra, sách này còn nhập bào QTTMT của một số biểu, cáo, tấu khác của quyển “Văn loại”. Mấy văn kiện này ở bản dịch QTTMT của Phan Duy Tiếp vốn chỉ coi là phần Phụ lục với mục đích”…để giới thiệu thêm với độc giả về văn của Nguyễn Trãi”, sang đến Nguyễn Trãi toàn tập chúng nghiễm nhiên được xếp chung với các văn kiện khác mà không có lời giải thích. Như vậy cứ tính theo mục lục của sách này thì với 54 văn kiện lấy từ 2 quyển của bản Phúc Khê, cộng với 23 văn kiện mới phát hiện, sẽ được tổng số lên tới 77 văn kiện. Có lẽ do còn thiếu một cơ sở văn bản học đáng tin cậy nên những kết quả được đưa ra đó vẫn khiến người ta phân vân, mỗi khi đề cập đến QTTMT các tài liệu thường chỉ nêu con số tròn trĩnh áng chừng. Vả quả có phần lúng túng khi cần phải xác định chính xác hơn. Ví dụ trong một cuốn sách tra cứu làm nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi, sau khi tổng hợp văn kiện QTTMT ở các văn bản khác nhau lại chỉ đưa ra kết luật khá mơ hồ:”…số lượng đó gần 76 văn kiện” (3).

Kể ra, theo một số nhà nghiên cứu, trong các tài liệu Hán Nôm cũng có thể tìm được một chỗ dường như có động chạm đến số lượng văn kiện. Đó là đoạn trích Nghệ văn chí mà bản in Phúc Khê đặt ở ngay đầu quyển QTTMT. Đoạn này như sau (phiên âm):” Án Nghệ văn chí vân: Quân trung tử mệnh nhất tập, Nguyễn Trãi thảo, dữ Bắc triều như tướng vãng phục thư, tam giới dụ tướng sĩ văn…”Bản dịch của Phan Duy Tiếp dịch:”Xét thiên Nghêj văn chí, sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn nói: Tập Quân trung tử mệnh tập là những thư từ đi lại với chư tướng Bắc Triều và ba bài giới dụ tướng sĩ do Nguyễn Trãi soạn thảo…”, đồng thời đoàn rằng:”Ba bài giới dụ có lẽ là các bài đề các số XL, XLI, XLV…(4)”.

Tiếc rằng đây chỉ là nhầm lẫn do sai sót cảu bản in Phúc Khê gây ra. Câu văn trên của Lê Quý Đôn chép ở tất cả các ƯTDT chép tay cũng như trong chính Đại Việt thông sử đều không hề nhắc tới một con số nào. Chỗ của chữ “tam”trong bản in, các bản khác đều chép chữ “cập”. Hẳn là văn in bị mất vài nét mà thành ra thế.

Khó khăn trong việc xác định số lượng văn kiện do QTTMT xét ra chính xuất phát từ một thực tế là số công văn, giấy tờ do Nguyễn Trãi soạn thảo vốn bao gồm nhiều thể loại. ƯTDT có trích câu từ sách Lam Sơn kí nói rằng: “Nhà vua từ lúc bình định giặc Ngô cho tới khi khôi phục đất nước, phàm bao nhiêu văn thư qua lại trong quân đội đều sai văn thần Nguyễn Trãi soạn thảo cả”. Như vậy số văn thư đó có thể bao gồm những thư từ qua lại với quân tướng giặc Minh đang chiếm đóng hoặc sắp tiến vào bờ cõi nước ta, các tờ tấu, biểu đấu tranh ngoại giao với triều đình phương Bắc, thư địch vận dụ hàng ngụy quân, các mệnh lệnh cho tướng sĩ nghĩa quân Lam Sơn và cả số lượng không nhỏ những tờ chiếu, lệnh ban hành trong giai đoạn đầu mới giành được độc lập… Trong các văn kiện thuộc nhiều thể loại nêu trên, cần phải dựa vào căn cứ nào để có thể tách ra một cách hợp lý những văn kiện cho QTTMT?

Đối với trường hợp này, theo chúng tôi, phương pháp loại trừ xem ra tương đối thích hợp.

Trong những ghi chép về tác phẩm Nguyễn Trãi của Lê Quý Đôn, Diệp Xuân Huyên, Dương Bá Cung và ở một vài sách vở khác, ta thấy có nhắc tới tên một tập sách gọi là Ngọc đường di phạm (hoặc Ngọc đường di cảo). Tập sách này ngày nay không còn, nhưng đáng chú ý là hai chữ “Ngọc đường” ở đây chính là chỉ Viện Hàn lâm (5). Sách Ngọc đường di cảo được hiểu là tập hợp những giấy tờ, công văn còn sót lại do Nguyễn Trãi soạn thảo trong thời gian ông làm Thừa chỉ ở Viện Hàn lâm. Như vậy, đặt sách này bên cạnh QTTMT chỉ nhìn vào tên nhan đề ta đã có thể nhận thấy một sự phân biệt, đối lập giữa chúng với nhau. Sự đối lập này trước đây đã được ông Bùi Văn Nguyên phân tích khá rõ qua một bài viết, trong đó ông giải thích: “… thời chiến thì công việc từ hàn nói chung do bộ Tổng tham mưu chỉ đạo, như vậy mới gọi là Quân trung từ mệnh, còn ở thời bình thì Viện Hàn lâm làm việc bình thường đó. Đó là lý do chính đáng khiến các cụ xưa đã chia văn kiện ra làm hai loại: một loại thuộc quân trung , một loại thuộc Ngọc đường, chứ không thể gộp lại một cách đơn giản được” (6).

Đây là một ý kiến xác đáng, theo tinh thần đó, để phân biệt các văn kiện, ta phải lấy một cái mốc trước hòa bình khi còn ở “Quân trung” và sau hòa bình đã vào Viện Hàn lâm làm ranh giới, tức là những văn kiện nào Nguyễn Trãi soạn thảo trước ngày Lê Lợi chính thức lên ngôi Hoàng đế, khôi phục nước Đại Việt (ngày 16 tháng 4 năm Mậu Thân, 1428) là thuộc QTTMT, còn soạn thảo sau ngày đó là thuộc Ngọc đường di cảo. Theo cách này ta có thể gạt ra một bên hầu hết số văn kiện chép ở quyển Văn loại của ƯTDT, trong đó có cả nhiều văn kiện mà các bản dịch trước đây vẫn coi là thuộc QTTMT như: Chiếu cầu hiền tài, Chiếu bàn về phép tiền tệ, Chiếu truyền bá quan không được làm lễ nghi khánh hạ, Chiếu cấm các đại thần tổng quản cùng các quan ở Viện, Sảnh, Cục tham lam lười biếng, Chiếu cho Tề quyền nhiếp quốc chính, Chiếu giáng Tư Tề làm quận Vương, đặt con thứ là Nguyên Long nối nghiệp, Chiếu về việc làm bài Hậu tự huấn để răn bảo Thái tử và Biểu tạ của Gián nghị đại phu. Sau khi đã loại ra như trên, số văn kiện còn lại đã khá phù hợp với tên gọi của QTTMT. Nhưng đó là ta mới chỉ xem xét vấn đề từ góc độ thời gian. Theo sử sách ghi lại thì trong thời gian. Theo sử sách ghi lại thì trong thời gian khởi nghĩa, tất cả mọi công việc từ hàn vua đều sai Nguyễn Trãi làm cả. Công việc từ hàn trong chiến tranh tất nhiên cũng gồm rất nhiều loại giấy tờ, và hẳn là Trần Khắc Kiệm không phải đã đưa tất cả các loại đó QTTMT. Cho nên, bên cạnh vấn đề thời gian, ta cần xem xét cả về nội dung của QTTMT. Lúc này những mô tả định tính về QTTMT của Lê Quý Đôn ở mục 27 Nghệ văn chí sẽ có tác dụng như là căn cứ rõ ràng và tin cậy nhất để xác định nội dung tập sách này. Câu của Lê Quý Đôn đã được ông Trần Văn Giáp dịch như sau: “Quân trung tử mệnh tập, 1 quyển, Nguyễn Trãi thảo. Đây là tập văn gồm các thư từ đi lại với tướng soái nhà Minh cùng là các bài văn khuyên răn dụ bảo các tướng sĩ [nhà Minh và Việt Nam], khoảng đời Hồng Đức (1470 – 1497), Trần Khắc Kiệm biên thứ”.

Theo lời chỉ dẫn này thì QTTMT do Trần Khắc Kiệm biên tập chỉ gồm 2 loại văn kiện: thứ nhất là thư từ qua lại với quân tướng nhà Minh và thứ hai là văn khuyên răn dụ bảo tướng sĩ. Trong số di văn Nguyễn Trãi hiện còn giữ được tới ngày nay ta còn thấy một số lượng tương đối những tấu, biểu gửi triều đình phương Bắc. Đây cũng là những công văn qua lại với người Minh trong thời gian khởi nghĩa, nhưng nổi bật lên ở chúng là tính chất ngoại giao quan phương, là những “công hàm” chính thức của Nhà nước Việt Nam giao thiệp với triều đinh nhà Minh, nó khác với ý nghĩa chiến thuật, chiến dịch của những bức thư gửi cho một viên tướng Vương Thông, Sơn Thọ, các “tì tướng thiên triều” hoặc với ngay cả viên Tổng binh Vân Nam v.v. Tầm quan trọng của những công văn này khiến chúng vượt ra khỏi tính chất của những tờ giấy làm ở “quân trung”, và đối với chúng, tên họ người trực tiếp soạn thảo ra chúng cũng chẳng còn mấy ý nghĩa. Cũng với ý nghĩa quan trọng như vậy, bài Văn hội thề ghi ngày 1 tháng 11 năm Đinh Mùi (1427) là một hiệp đình chấm dứt chiến tranh giữa hai quốc gia mà đại diện phía Đại Việt là Lê Lợi cũng một số tướng tá kí kết với phía bên kia do Vương Thông và một số quan tướng khác làm đại diện. Chính vì nhận rõ sự phân biệt này nên Trần Khắc Kiệm đã không đưa chúng vào QTTMT và ngày nay khi chúng ta xử lý văn kiện QTTMT hiện còn cũng phải tôn trọng tinh thần ấy, tiếp tục đưa ra khỏi QTTMT thêm một số văn kiện không phải loại thư từ, lệnh dụ như Biểu cầu phong, Tấu cầu phong, Tờ tâu về việc tìm hỏi con cháu họ Trần, Văn tấu cáo, Văn hội thề v.v…

Đến đây, từ kết quả cách làm đã phân tích ở trên, đem đối chiếu với các bản ƯTDT hiện còn, ta có thể ngạc nhiên khi nhận thấy đó chẳng phải là “phát hiện” mới mẻ gì của chúng ta, mà từ lâu cách đây hơn hai thế kỷ, nhà học giả Ngô Thế Vinh (1802 – 1856) cũng đã quán triệt và làm như vậy khi xử lý văn kiện QTTMT. Trong quyển Văn loại – Quân trung từ mệnh của hai văn bản ƯTDT đã được chứng minh là do Ngô Thế Vinh biên tập sắp xếp lại (7) ta thấy ông đã đưa 3 văn kiện là: Biểu cầu phong [21] (8), Văn tấu cáo [22], Tấu cầu phong [44], ra khỏi quyển Văn loại- Quân trung từ mệnh, đồng thời lấy Thư gửi Vương Thông [42] vốn chép ở quyển Văn loại, bản Dương Bá Cung, nhậ về quyển Văn loại – Quân trung từ mệnh của mình. Bằng cách đó, quyển Văn loại – Quân trung từ mệnh của Ngô Thế Vinh hoàn toàn phù hợp với mô tả của Lê Qúy Đôn, tức là chỉ bao gồm trong nội dung hai loại văn kiện thư từ và lệnh dụ.

Đến đây ta có thể đi vào xác định số lượng cụ thể văn kiện cho QTTMT. Trước hết, đó là toàn bộ 40 văn kiện ở quyển Văn loại – Quân trung từ mệnh của hai văn bản VHv.2159 hoặc Hv.462. Kế đến là 2 văn kiện mà bản Dương Bá Cung sưu tầm thêm về sau và nhập vào quển Văn loại Lệnh dụ các tướng hiệu quân nhân Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa [41] và Chiếu dụ thiên hạ hào kiệt [45]. Cuối cùng là số văn kiện mới phát hiện do Trần Văn Giáp bổ sung. Số văn kiện này trong Nguyễn Trãi toàn tậ p xác định là 23 văn kiện. Song trên thực tế, văn kiện bổ sung số 1 Thư lại gửi cho Vương Thông chỉ là dạng đầy đủ của văn kiện số 43 nằm trong 40 văn kiện đã tính ở trên mà thôi. Lại còn phải gạt ra hai văn kiện không thuộc loại thừ từ, lệnh dụ nữa là Biểu tiến cống, tâu trình tạ tội Văn hội thề. Như vậy, phần bổ sung chỉ còn 20 văn kiện. Tổng cộng lại, ta được số lượng là 62 văn kiện.

Cần phải nhấn mạnh một điều là kết quả xác định trên đây chỉ là số lượng văn kiện trong QTTMT còn lưu truyền được tới ngày nay và đã được mọi người biết đến. Nó không phản ánh số lượng văn kiện vốn có của tập sách này, bởi chắc chắn dung lượng ban đầu của sách phải lớn hơn thế nhiều. Ngay trong nội dung văn kiện hiện còn cũng thấy nhắc tên những bức thư mà ngày nay ta không thấy đâu nữa. Đồng thời con số nêu ra đó cũng có thể không phải là toàn bộ văn kiện trong QTTMT còn lưu tới ngày nay. Phát hiện của Trần Văn Giáp những năm 60 chứng tỏ vào thời chúng ta bây giờ vẫn có thể tìm kiếm thêm được những văn kiện QTTMT nằm trong tài liệu sách vở Hán Nôm. Tuy nhiên thử xét xem khả năng này ra sao. Chúng tôi có dịp trình bày kết quả khảo sát văn bản QTTMT cho thấy, số văn kiện được lưu truyền chủ yếu nhờ vào hai nhóm văn bản là ƯTDT và Di văn thời Lê (9). Về bộ ƯTDT, qua theo dõi việc hình thành bộ sách nà, ta thấy trong suốt quá trình đó, từ bản cơ sở đầu tiên cho đến các bản trung gian và cuối cùng là bản in Phúc khê, văn kiện của QTTMT chỉ có những thay đổi về vị trí sắp xếp hoặc huyển đổi qua lại giữa hai quyển Văn loại QTTMT, chứ hầu như không có thay đổi gì đáng kể về số lượng. Cho nên có thể nhận định số văn kiện trong QTTMT thuộc nhóm văn bản ƯTDT hầu như đã cố định trong mục lục các bản đó, và ta ất ít có hy vọng gặp được mọt bản ƯTDT khác có số văn kiện nhiều hơn các văn bản ƯTDT hiện có. Ngược lại ở nhóm văn bản Di văn đời Lê có thể có nhiều khả năng hơn. Nhóm náy gồm nhiều loại sách vở với những phưong pháp biên soạn khác nhau và thời gian biên soạn khác nhaunên xác suất tìm được văn kiện mới ở chúng có thể nhiều hơn. Chính phần lớn số văn kiện bổ sung thêm của Trần Văn Giáp đã được phát hiện từ nhóm văn bản này. Bởi vậy nên coi đây là đối tượng chủ yếu trong việc tìm kiếm thêm những văn kiện mới có thể còn tuyền lại tới nay.

CHÚ THÍCH

(1). Quân trung từ mệnh: Nxb Sử học, Hà Nội.1961.

(2). Nguyễn Trãi toàn tập: Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.1969

(3). Nguyễn Trãi - thư mục chọn lọc có chú giải: Viện Thông tin KHXH, Hà Nội.1980, mục 012, tr.5.

(4). Tức các văn kiện : “Thư dụ các thành Thanh Hóa, Nghệ An”, “Lệnh dụ các tướng hiệu quânnhân ở Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa” và “Chiếu dụ hào kiệt”.

(5). Theo Từ nguyên.

(6). Bùi Văn Nguyên: “Mấy vấn đề cần được xác minh trong văn thơ Nguyễn Trãi”, Tạp chí Văn học, số 6 năm 1972, tr.35-51.

(7). Tức hai bản mang ký hiệu VHv.2159 và Hv.462 Tham khảo Nguyễn Văn Nguyên: “Khảo sát thêm về Ức Trai di tập”, Tạp chí Hán Nôm số 1-1988.

(8). Số hiệu văn kiện lấy theo thứ tự trong Nguyễn Trãi toàn tập (Sđd).

(9). Xem Nguyễn Văn Nguyên: “Về hai nhóm văn bản Quân trung từ mệnh tập hiện còn”, Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán nôm, số 2-1985.

TB

MỘT BẢN LỤC VÂN TIÊN IN BẰNG CHỮ NÔM MANG NIÊN ĐẠI SỚM NHẤT VỪA
TÌM THẤY Ở PARIS

TRẦN NGHĨA

Tính đến nay, đã có tất cả 57 bản thơ Lục Vân Tiên ra mắt bạn đọc dưới các dạng hoặc chữ Nôm, hoặc chữ Quốc ngữ, hoặc tiếng Pháp. Loại in bằng chữ Nôm có 6 bản. Bản sớm nhất là của hiệu sách Quảng Thạnh Nam, Chợ Lớn, 1865; bản muộn nhất là của Tụ Văn Đường, Hà Nội, 1924. Loại in bằng chữ Quốc ngữ có 40 bản. Bản sớm nhất là của G.Janneau, Sài Gòn, 1867; bản muộn nhất là của Ty Văn hóa - Thông tin Bến Tre, 1982. Loại in bằng tiếng Pháp có 9 bản. Bản sớm nhất do G.Aubaret dịch, đăng ở Journal asiatique, 1864; bản muộn nhất ở Sài Gòn, 1972. Trong cả bản dịch ra tiếng Pháp, thỉnh thoảng cũng xuất hiện phần đối chiếu với bản chữ Nôm hoặc bản chữ Quốc ngữ.

Ngoài các bản trên ra, năm 1989, nhân chuyến đi công tác tại Pháp, tôi có vào đọc ở Thư viện Trường Sinh ngữ Phương Đông Paris (école des langues orientales, Paris). Tại đây, tôi đã tìm thêm được một bản Lục Vân Tiên in bằng chữ Nôm mà trong nước chúng ta chưa có: cuốn Lục Vân Tiên truyện. Sách gồm 55 tờ giấy bản đã ngả màu, khổ 20cm x 13,5cm; mỗi tờ in hai mặt, mỗi mặt 10 dòng, mỗi dòng trên là câu lục, dưới là câu bát. Có cả thảy 2174 câu thơ lục bát và 1 bài thơ thất ngôn bát cú bằng chữ Hán xuất hiện ở ngay sau câu bát 222. Trên mặt bìa 1 của sách, khoảng giữa, từ trên xuống có 4 chữ “Lục Vân Tiên truyện” (Truyện Lục Vân Tiên). Bên phải góc phía trên, từ trên xuống, đề “Gia Định thành Duy Minh Thị đính chính” (Duy Minh Thị ở thành Gia Định hiệu đính). Bên trái, góc phía dưới, từ trên xuống đề: “Việt Đông Phật Trấn Phúc Lộc đại nhai Kim Ngọc Lâu tàng bản” (Ván khắc để tại Kim Ngọc Lâu, đại lộ Phúc Lộc, Phật Trấn, Việt Đông). Phía trên cùng của tờ bìa có dòng chữ in vắt ngang: “Giáp Tuất niên san khắc (Khắc in vào năm Giáp Tuất, tức 1874). Trang cuối sách có ghi: “Vân Tiên lục thứ quyển chi chung” (Cuốn Vân Tiên 6 đoạn đến đây là hết). Đây là bản Lục Vân Tiên in bằng chữ Nôm mang niên đại sớm nhất mà nay có thể tìm thấy.

Phải nói ngay rằng đây là một tài liệu quý. Với sự góp mặt của văn bản mới sưu tầm, ta có thể nhìn lại một số vấn đề mang tính chất văn bản học đối với truyện Lục Vân Tiên.

Trước hết là việc sắp xếp, phân loại và đánh giá các bản Lục Vân Tiên in bằng chữ Nôm hiện biết. Như trên đã nói, ta có tất cả 7 bản Lục Vân Tiên in bằng chữ Nôm. Ngoài Lục Vân Tiên truyện bản vừa giới thiệu, các bản còn lại là:

1. Lục Vân Tiên: do Duy Minh Thị sao lục, Tôn Thọ Tường trông nom in, hiệu sách Quảng Thạnh Nam, Chợ Lớn phát hành năm 1865. Đáng tiếc là bản này hiện chưa tìm được. Công việc ấn loát có thể tiến hành tại Quảng Đông, rồi mang ấn phẩm về bán ở Đề Ngạn (Chợ Lớn) như trường hợp các cuốn ấu học thi diễn nghĩa, Dương Ngọc cổ tích, Kim Long Xích Phụng toàn tập, Lâm Sinh Lâm Thụy truyện, Tam tự kinh diễn nghĩa, Thiên tự văn diễn nghĩa v.v...

2. Lục Vân Tiên truyện: do Duy Minh Thị đính chính, Bảo Hoa Các ở đại lộ Thiền Phúc Lộc, Quảng Đông ấn hành. Sách dày 46 tờ, khổ 20x13,5cm mỗi tờ in 2 mặt, mỗi mặt 2 dòng, mỗi dòng phía trên là câu lục phía dưới là câu bát. Có cả thảy 2180 câu thơ lục bát và 1 bài thơ thất ngôn bát cú bằng chữ Hán xuất hiện ở ngay sau câu bát 222. Bản này tuy không ghi năm in, nhưng căn cứ vào hai chữ “đính chính” trong “Duy Minh Thị đính chính”, có thể nghĩ nó ra đời sau bản Lục Vân Tiên do Duy Minh Thị “sao lục” trên. Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện có bản sao chụp mang ký hiệu Nc.86.

3. Vân Tiên cổ tích tân truyện: do Tụ Văn Đường, Hà Nội ấn hành năm Thành Thái thứ 9 (1897). Sách dày 53 tờ, khổ 18x12cm, gồm 2034 câu thơ lục bát. Hiện tàng trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AB.62.

4. Vân Tiên cổ tích tân truyện: do Liễu Văn đường, Hà Nội ấn hành năm Khải Định thứ 6 (1921). Bản này in lại trên cơ sở bản in của Tụ Văn Đường năm 1897. Hiện tàng trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AB.470 và VN.43

5. Vân Tiên cổ tích tân truyện: do Tụ Văn Đường tái bản năm Khải Định thứ chín (1924).

6. Lục Vân Tiên: do Phúc Văn Đường, Hà Nội ấn hành. Không ghi năm xuất bản.

Trong số các bản Lục Vân Tiên Nôm kể trên, bản thứ 2 (Lục Vân Tiên truyện) và bản thứ 6 (Lục Vân Tiên) đều không mang niên đại. Riêng bản thứ 2 vẫn có thể đoán định thời gian ra đời của nó bằng cách đối chiếu về mặt câu chữ giữa nó (gọi là Bản B) với bản mới sưu tầm (gọi là Bản A). Lấy đoạn đầu (từ câu 1 đến câu 286) trong số 6 doạn của 2 bản làm một thí dụ. Sau đây là những trường hợp có chỗ khác nhau:

CÂU/CHỮ BẢN A BẢN B BỊ CHÚ
7/6 Có người ở quận Đông Thành Kinh = (tương đương)
18/5-8 Vân Tiên vào lạy [ ] tôn sư một khi ct (chính tả)
45/2 Thịnh suy [衰 ] chưa biết làm sao triển 展 ct
48/5 Ban mai ngàn dặm thượng trình mới an đăng =
63/5 Tuy là soi khắp mọi nơi nơi =
70/3 Thỏ vừa núp bóng gà đà gáy tan lố ?
80/7-8 Ngùi ngùi lại ngó và nơi học đường sân trường h (hay hơn)
85/5 Ngày nào ngư thủy gặp duyên hội h
96/4 Việc chi gấp rúc bon bon chạy hoài gấp =
100/4 Xin dừng gót ngọc ngỏ trao một lời bước h
106/8 Người đền sợ nó có tài khôn đương [當] lập [立 ] ct
108/7 Thấy con gái tốt qua đường bắt đi vin [援 ] h
110/4 Cảm thương hai ả nữ nhi mắc nàn đứa h
111/3 Con ai xác ngọc mình vàng vóc k (kém hơn)
113/1,5 E [ ] khi mắc đảng gian hung , hành ct,h
114/7-8 Uổng trang thục nữ sánh cùng sất phu , 收 ct
116/6 Chạy đi cho khỏi kẻo âu tới mình trây k
118/7-8 Hỏi rằng lũ nó còn dừng ở đâu đâu sao h
122/1-2,6 Qua xem mặt bậu thơ ngây [ 癡 ] chưa đành xem qua khuất (屈 ) ct (đảo), h ct
123/6 E khi họa hổ bất thành bằng h
128/1-4 Chớ quen thói dữ mồ hồ hại dân Quen chớ làm thói ct (đảo), h
136/8 Đầu quăng gươm giáo, nhắm đường chạy ngay ct
148/1-5 Đó là phận gái, đây là phận trai Nàng, ta =
174/4 Lấy chi cho thỏa tấm lòng cùng ngươi phỉ h
178/5,8 Nào ai tính thiệt so ( ) hơn làm gì 咦 vô 無 minh 明 ct
180/5 Lâm nguy bất cứu cố phi anh hùng mạc h
188/3,4 Vân Tiên cảm động tâm bào phôi pha ảo não h
192/2 Nghe lời phân hết, tay liền rút trâm ta h
196/4 Nguyệt Nga liếc thấy càng thìn nết na biết h
197/1 Của này thôi mới trao ra vật h
198/4,8 Thiếp thưa chưa dứt [ ] chàng đà làm ngơ 戈 , lơ ct,h
219/3 Nga rằng dạy tiếng xin hầu ứng k
231/5,6 Xem thời biết ý gần xa 口 口 ct
233/3,5 Có câu xúc 觸 cảnh tỉnh hoài độc 獨 ct
6 251/5 Vái trời xin đặng vuông tròn bự 口 口 h
252/1 Trăm năm cho trọn lòng son cùng chàng Phổ 普 ct
253/1 Phút đâu về tới phủ đàng Viên 爰 ct
254/7 Kiều Công xem thấy lòng càng sinh 生 nghi vương 王 ct
265/1 Bề nào cha cũng liệu toan Duyên h
278/1 Muốn 悶 phân khó nói, muốn dầm khó phai Náo 鬧 ct

Qua 40 trường hợp đối chiếu ta thấy chỗ khác nhau giữa hai bản trước hết là về mặt chính tả. Những chữ viết sai ở Bản B đều được viết đúng ở Bản A (xem các câu có ghi chữ “ct” tức lỗi chính, ở cột bị chú). Những trường hợp còn lại, phần nhiều là sự khác nhau trong cách dùng từ, mà cảm nhận được bao trùm đối với người đọc là Bản A hay hơn Bản B (Xem các câu có ghi chữ “h” nghĩa là hay hơn). Tất nhiên cũng có chỗ chữ dùng ở Bản A chưa hẳn vượt Bản B, thậm chí còn kém hơn nữa là khác nhưng số này chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ (Xem các câu có ghi dấu “=” chỉ có giá trị tương đương hoặc chữ “k” có nghĩa là kém hơn).

Từ đây ta có thể kết luận mà không sợ thiếu căn cứ rằng bản A ra đời sau bản B và là một “đính chính”, một “thôi xao” của bản B. Nói khác đi, bản B có trước bản A xét về mặt thời gian và kém thua bản A xét về mặt chất lượng.

Vậy ta có thể sắp xếp 7 bản Lục Vân Tiên in bằng chữ Nôm theo trật tự thời gian như sau:

TT TÊN SÁCH SỐ TỜ KHỔ SÁCH SỐ CÂU NƠI IN NĂM IN ĐẶC ĐIỂM
1 Lục Vân Tiên ? ? ? Quảng Đông 1865 - Duy Minh Thị sao lục - Sách chưa tìm thấy
2 Lục Vân Tiên truyện 46 20x13,5 2180 Quảng Đông ? - Duy Minh Thị đính chính - có 1 bài thơ thất ngôn bát cú bằng chữ Hán
3 Lục Vân Tiên truyện 55 20x13,5 2174 Quảng Đông 1874 - Duy Minh Thị đính chính - có 1 bài thơ thất ngôn bát cú bằng chữ Hán
4 Lục Vân Tiên cổ tích tân truyện 53 18x12 2034 Hà Nội 1921 - Liễu Văn Đường ấn hành
5 Vân Tiên cổ tích tân truyện 53 18x12 2034 Hà Nội 1921 - Liễu Văn Đường ấn hành
6 Lục Vân Tiên cổ tích tân truyện 53 18x12 2034 Hà Nội 1924 Tụ Văn Đường ấn hành
7 Lục Vân Tiên ? ? ? Hà Nội ? - Phúc Văn Đường ấn hành - Sách chưa tìm thấy

Nhìn vào bảng sắp xếp, ta thấy các bản Lục Vân Tiên in bằng chữ Nôm hình thành 2 nhóm lớn.

Nhóm thứ nhất gồm bản 1, 2 và 3. Đặc điểm chung của nhóm này là đều do Duy Minh Thị sao lục hoặc đính chính; đều có một bài thơ thất ngôn bát cú bằng chữ Hán xuất hiện ở ngay sau câu 222 (Bản 1 có thể cũng vậy); và cuối truyện đều có đoạn vua Sở nhường ngôi cho Vân Tiên (Bản 1 có thể cũng như vậy). Về ấn loát, tất cả đều được in tại Quảng Đông, Trung Quốc. Về niên đại, tất cả đều thuộc loại ra đời sớm, mà ta có thể gọi là nhóm Lục Vân Tiên sơ kỳ.

Nhóm thứ hai gồm các bản 4, 5,6 và 7. Đặc điểm chung của nhóm này là đều từ bản cũ soạn lại (Bản 7 có thể cũng như vậy, dù ở nhan đề sách không có 2 chữ tân truyện); đều không có bài thơ thất ngôn bát cú bằng chữ Hán (bản 7 có thể cũng như vậy); đều không có đoạn vua Sở nhường ngôi cho Vân Tiên (Bản 7 có thể cũng như vậy), và được in lại tại Hà Nội. Về ấn loát, đây là loại bản in trong nước. Về niên đại, đây là loại ra đời muộn, mà ta có thể gọi là nhóm Lục Vân Tiên hậu kỳ.

Về mặt chất lượng, ta có thể xem bản A là bản tiêu biểu nhất của nhóm Lục Vân Tiên sơ kỳ.

Từ bản Lục Vân Tiên mới sưu tầm, ta lại còn có thể tìm hiểu những khác biệt về mặt nội dung giữa Lục Vân Tiên sơ kỳ với Lục Vân Tiên hậu kỳ, bao gồm cả các bản Lục Vân Tiên in bằng chữ Quốc ngữ về sau.

Trở lại một chút về chuyện Nguyễn Đình Chiểu sửa chữa Lục Vân Tiên vào cuối đời ông. Như ta biết, vào năm 1883, Lục Vân Tiên được chính tác giả của nó sửa sang lại một lần. Sự kiện này được Mai Huỳnh Hoa là chắt ngoại của Nguyễn Đình Chiểu nói tới trong bài Tiểu sử cụ Đồ Chiểu đăng trên báo Tân văn số 27, năm 1935: “Vào quãng năm 1884 (đúng ra phải là 1883 - TN) nhà nước Pháp có sai quan Chủ tỉnh Bến Tre bấy giờ là ông Ponchon đến thăm Tiên sinh (chỉ Nguyễn Đình Chiểu - TN) để tưởng lệ văn sĩ. Tiên sinh thác bệnh ngồi trong buồng không chịu ra tiếp khách. Túng thế, ông Ponchon phải xin phép vào thăm tận giường bệnh. Khi ông Ponchon nói chuyện, nhờ ông Đốc phủ sứ Lê Q.Hiền làm thông ngôn, ngỏ ý yêu cầu Tiên sinh nhuận chính cho bản Lục Vân Tiên. Bấy giờ Tiên sinh có sai người kêu là Biện Đống chép truyện ấy lại, giao cho ông Ponchon đem về”. Cuốn truyện Lục Vân Tiên do Biện Đống chép đưa cho Michel Ponchon mang về này có gì đặc biệt? Ta hãy nghe chính viên Chủ tỉnh Bến Tre, người trực tiếp đến thăm Nguyễn Đình Chiểu hồi bấy giờ kể lại: “Cụ Đồ là một ông già cao lớn đẹp đẽ, gương mặt trầm tĩnh, xanh xao, đầy vẻ cao nhã. Lời nói của Cụ rất thanh tao trôi chảy và tôi nghe được rõ ràng đầy đủ. Về phần tôi thì khác hẳn, Cụ không nghe đặng tôi vì Cụ hoàn toàn điếc. Chỉ có đôi ba người quen gần Cụ là có thể nói cho cụ nghe hiểu. Sau vào chuyện sức khỏe của Cụ, tôi đề cập đến việc quan trọng của tôi, nhưng không hy vọng thành công. Cụ Đồ Chiểu tỏ thật với tôi rằng sức khỏe và trí nhớ của Cụ đã giảm nên khó cho Cụ nhuận chính bản Lục Vân Tiên. Tôi bèn bàn cùng Cụ để cho những người đã quen với chính thính quan của Cụ ngâm thơ Lục Vân Tiên theo một bản in của người Tàu. Rồi Cụ chỉ những câu thừa nên bỏ, những câu trật nên sửa và những câu bị bớt nên thêm vào: Cụ nhận làm cái công việc có phần nhọc nhằn ấy...” (Xem Indépendant de Saigon, 1883).

Bản dùng để hiệu đính, theo Ponchon cho biết, là bản in của người Trung Quốc, tức lại mà trên kia ta gọi là“Lục Vân Tiên sơ kỳ”. Còn bản đã được hiệu đính, do Biện Đống chép giao cho Ponchon mang về năm 1883, hẳn là loại “Lục Vân Tiên hậu kỳ”, trong đó có cả những bản in bằng chữ Quốc ngữ mà cuốn Lục Vân Tiên truyện của Trương Vĩnh Ký phát hành năm 1889 có thể xem là tiêu biểu nhất.

Đem đối chiếu bản Trương Vĩnh Ký (TVK), đại diện cho Lục Vân Tiên hậu kỳ với bản Duy Minh Thị (DMT) mới sưu tầm, đại diện cho Lục Vân Tiên sơ kỳ, ta sẽ thấy một cách cụ thể những câu “thừa” mà Nguyễn Đình Chiểu đã bỏ (-), những câu “trật” mà tác giả đã chữa (=), và những câu “bị bớt” mà tác giả đã thêm vào (+). Xem bảng so sánh sau đây:

CÂU BẢN DMT BẢN TVK BỊ CHÚ
Sau câu 168 0 + 2 câu
- - 222 có 1 bài thơ chữ Hán - - Thơ Nguyệt Nga đưa Vân Tiên
- - 374 0 + 2 câu
- - 416 có 4 câu -
- - 438 có 14 câu - Bớt đoạn Tôn sư giả làm ô. Quán để giúp đỡ LVT
- - 554 0
- - 568 0 + 2 câu
- - 570 0 + 2 câu
- - 630 có 4 câu -
- - 740 có 2 câu -
- - 770 0 + 4 câu
- - 780 0 + 2 câu
- - 850 có 2 câu -
- - 1030 0 + 2 câu
- - 1096 có 14 câu » 16 câu
- - 1112 0 + 2 câu
- - 1148 có 6 câu » 4 câu
- - 1244 0 + 4 câu
- - 1284 có 4 câu » 6 câu
- - 1294 có 8 câu » 8 câu Thêm đoạn Lục Ông khuyên giải Nguyệt Nga
- - 1308 0 + 2 câu
- - 1311 0 + 2 câu
- - 1314 0 + 2 câu
- - 1320 0 + 4 câu
- - 1470 0 + 2 câu
- - 1702 0 + 8 câu Phát triển cuộc đối thoại giữa Kiều Công với Vân Tiên trong lần gặp lại.
- - 1730 có 2 câu » 12 câu Phát triển đoạn Vân Tiên ra quân trừ giặc Phiên.
- - 1744 có 12 câu » 12 câu
- - 1782 có 8 câu » 2 câu Bớt đoạn Nguyệt Nga than thở cùng bức tượng LVT
- - 1826 có 16 câu » 4 câu Bớt đoạn Nguyệt Nga kể lể trách cứ LVT
- - 1902 có 2 câu -
- - 1912 có 14 câu » 10 câu
- - 1976 có 34 câu » 2 câu Bớt đoạn Nguyệt Nga đi tạ ơn Lão Bà và về thăm Kiều Công
- - 2028 có 12 câu » 18 câu
- - 2044 0 + 2 câu
- - 2056 có 6 câu » 8 câu
- - 2092 có 82 câu » 4 câu Bỏ đoạn Vân Tiên đền ơn đáp nghĩa vua Sở nhường ngôi cho Vân Tiên

Qua những câu thơ thêm, bớt hoặc sửa chữa, ta có dịp hiểu thêm tâm trạng của Nguyễn Đình Chiểu khoảng cuối đời: ông trở nên thực tế hơn và không còn bay bổng như hồi còn trẻ.

TB

ÂM CHỮ HÁN TRIỀU TIÊN(*)

AKIYASU TODO

Nhật Bản do chữ Hán du nhập gián đoạn nên có thể phân biệt tầng lớp âm như Ngô âm (hình thức Lục triều)(1). Hán âm (tiếng Trường An thời Đường) và Đường Tống âm (tiếng Giang Nam phổ thông thời Tống Nguyên). Nhưng ở Triều Tiên và Việt Nam chữ Hán được truyền vào liên tục từ thời Thượng cổ đến thời Cận thế(2) cho nên nó trở thành một thể thống nhất, không có sự ý thức về tầng thứ (như trong tiếng Nhật - ND). Đặc biệt là ở Triều Tiên do ảnh hưởng Trung Quốc liên tục được truyền vào trực tiếp, cho nên hầu như đã có đủ điều kiện để gia công theo phong tục của nước mình và đưa ra tổ hợp gọi là văn tự kana (văn tự giả danh - mượn chữ Hán để tạo chữ nước mình - ND). Cốt lõi của âm chữ Hán Triều Tiên là Hán ngữ vùng Hoa Bắc thế kỷ X - XI [Bắc phương ngữ thời Trung thế]. Hệ thống vận mẫu này rất giống với hệ thống vận mẫu trong tác phẩm Nhất thiết kinh âm nghĩa của Tuệ Lâm cuối đời Đường. Mặt khác âm răng tắc xát như 子 思 trở thành vận mẫu e biểu thị sự đặc thù gần với tiếng Bắc Tống. Còn chữ 彌 và chữ 撕 (cuối đời Đường đọc là mi-si) được phát âm là mia-sia là hình thức cổ trước thời Lục triều còn xem kẽ tồn tại.

VỊ TRÍ ÂM CHỮ HÁN TRIỀU TIÊN

Âm chữ Hán Triều Tiên chủ yếu gần với Hán ngữ của Bắc phương ngữ thời Bắc Tống. Ví dụ chữ 子 và chữ 司 (từ âm răng thuộc mẫu i), ngay trong âm Đường Tống của Nhật Bản (do các sư tăng truyền vào thời Kamakura) (thế kỷ XII đến XVI - ND) cũng có 子 (tiếng Nhật đọc là su) và 司 (tiếng Nhật đọc là su), nhưng trong tiếng Triều Tiên thời Trung thế người ta lại đọc 子 là tse và 司 se. Đến cuối đời Đường đọc 子 là tsi và đọc 司 là si, nhưng thời kì đầu Bắc Tống được biến hóa thành âm 子 tsw và 司 sw (sự thực đó là lần đầu tiên tái hiện ở tác phẩm 皇 極 經 世 聲 音 圖 Hoàng cực kinh thế thanh âm đồ của Thiệu Ung được biểu hiện âm của kinh đô Khai Phong thời Bắc Tống thế kỷ thứ XII. Chữ 子 tse, se của Triều Tiên thời Trung thế (tiếng hiện đại đọc là Ca.sa) không thể không cho rằng đó là cách biểu hiện Hán ngữ Trung thế thời Bắc Tống. Nhưng ở mặt trái của nó cũng có trường hợp sự phân biệt này như là bị tiêu diệt bằng Hán ngữ thời Trung thế vẫn còn sót lại ở chữ Hán Triều Tiên. Ví dụ ở trong ảo âm 拗 音 (3) của Hán ngữ Trung cổ thời Tùy Đường vẫn còn tồn tại một cách rõ ràng sự phân biệt giữa từ gồm giới âm i không rõ ràng (là cái gọi là tam đẳng vận)(4). Nhưng âm chữ Hán của Triều Tiên trên thực tế đã phản ánh rõ sự khác nhau. Tam đẳng vận được phát âm với hình thức triệt tiêu giới âm yếu; Tứ đẳng vận là hình thức còn sót lại của giới âm i mạnh. Cái đó rất gần với âm Ngô âm của Nhật Bản trước đây.

Chúng ta hãy thử nêu một vài thí dụ dưới đây:

三 等 字 : 危 巾 乙

ui ken ir kun un

四 等 字: 規 緊 一 均 @

kiu kin ir kiun iun

三 等 字 : 愆 諺 險 驗

ken en hen hem

四 等 字 : 甄 延 兼 謙

kien len kiem hiem

Trong Ngô âm của Nhật cũng có sự phân biệt 一 (Nhất) được đọc là itchi, 乙 (ất) được đọc là ochi, 巾 (cân) được đọc là kon, 緊 (khẩn) được đọc là kin. Sự phân biệt giữa tam đẳng và tứ đẳng này không còn trong Hán ngữ Trung thế nên âm Triều Tiên đã biểu thị giai đoạn cổ hơn nhiều. Hơn nữa ở Triều Tiên trong các ngữ vĩ (âm cuối) nhập thanh p, t, k của Hán ngữ chỉ có t được phát âm thành r.

Ví dụ:

急 kip 吉 kir 極 kik

Chữ Hán đời Tống, ngữ vị nhập thanh hoàn toàn bị yếu và trở thành khó hiểu tới mức chỉ còn sót lại có âm tắc của vòm họng, vì thế người ta dễ hiểu rằng điều đó cũng là do bắt chước Hán ngữ đời Tống. Những việc phát âm ngữ vĩ t thành r thực ra đã có từ rất xưa ở Triều Tiên nên điều này không phải là căn cứ.

Tại sao vẫn còn tồn tại lẫn lộn yếu tố cổ ở trong âm chữ Hán Triều Tiên như vậy? Vào khoảng triều Cao Lệ trước khi chữ Hán Bắc Tống được dùng rộng rãi làm âm đọc cho khoa thi cử đã tồn tại một phần âm chữ Hán Trường An (thời đại Tân La) của đời Đường và âm chữ Hán Nam Triều của Lục triều (thời đại Bách Tế) vì thế vẫn tồn tại một phần đến thời Hậu thế. Chữ 筆(đời Đường đọc piét) Văn ngôn đọc là p’ir vậy mà tiếng phổ thông lại phát âm là put (cách phát âm này rất cổ) và đối với chữ 金 phiên là kim (trường hợp là họ) nhưng chữ 金 trong 金 銀 (tiền tệ) lại được phát âm là kwm (cách phát âm này là rất cổ). Có lẽ đây là một ví dụ.

Người Bách Tế và Tân La dùng chữ Hán để phiên âm tên người và tên quan lại của Triều Tiên. Nhưng trong ngôn ngữ Triều Tiên có phức âm và âm tiết tắc, nó không đơn giản như âm tiết của tiếng Nhật nên không thể dễ dàng phiên âm được. Ví dụ: Tên một viên quan thứ nhất của triều Tân La được viết là 伊 伐 滄 罰 干 岐 nhưng đối chiếu với các từ 新 羅 王 宇 留 助 富 利 知 干 "Tân La vương vũ lưu trợ phú lợi chi can”, những từ này được phiên âm cực kỳ đơn giản như từ syapwr (nhóm từ gọ là souru phiên theo tiếng Nhật - ND) và hankisi (大 君) của tiếng Tân La.

Còn 波 珍 滄 là tên của viên quan thứ tư trong triều đối chiếu với từ 波 珍 干 岐 trong sách 書 紀 (Thư kỷ) (phần Hậu thần kỷ) được phiên âm là patarhan của tiếng Tân La. Nhưng chủ yếu cách phiên âm như trên, theo việc bổ sung bằng Hán ngữ giải thích bằng nghĩa một vài từ ở đó thì Hương ca của Tân la (khổ thơ 14 âm tiết trong tác phẩm 三 國 遺 事 Tam quốc di sự và khổ thơ 11 âm tiết trong Thích quân như truyện) đã được ghi lại bằng chữ Hán.

tong - kyeng (par)(1) ke[n] (te) rai

東 京 明 期 月 良 (5)

(pam) (twr) i (noni) ta ka

夜 入 伊 遊 行 如 可

(處 容 歌 )

Hơn thế nữa nếu không đưa ra một khu vực dự đoán thì không thể đọc hiểu 1 cách đầy đủ. Việc dùng âm chữ trong đó được biểu thị các trợ từ, trợ động từ của tiếng Triều Tiên bằng chữ Hán như là 伊 (i) 可(ka) 期 (ke)(ra.rai) . Chúng tôi xin nêu tấm bia 南 山 新 城 碑 Nam sơn tân thành bi (năm 591) làm ví dụ trong văn xuôi như sau:

辛 亥 年 二 月 二 十 六 日 南 山 新 城 作 節 如 法 以 作

後 三 年 崩 破 者 罪 教 事 為 聞 教 令 誓 事 之

Dấu gạch chân _ (đánh dấu ở chữ - ND) dùng làm bổ nghĩa cho trợ từ. Ví dụ chữ 節 (tiết) (tiếng Nhật là site nghĩa là làm - ND) 者 tương đương với trợ từ chủ cách trong tiếng Nhật wa 為 tiếng Nhật là suru - nghĩa là làm 之 (ngữ vĩ kết thúc). Còn có ví dụ như từ 己 只 (tương đương với từ mađe - đến trong tiếng Nhật), 彌 mia (ngữ vĩ tiếp tục). Nhưng các từ như 期 (ke) và chữ 己 (ke) trong từ 己 只 rõ ràng đã mượn chữ 期 giai 己 kiai của âm Lục triều, phù hợp với 期 己 (âm Nhật là go) và chữ 己 (âm Nhật là ko) của Ngô âm Nhật Bản (Nếu là đời Đường thì đọc là ki). Nhưng khác với trường hợp “Vạn điệp giả danh” của Nhật Bản, ở Triều Tiên vì âm tiết phức tạp nên không thể cố định chữ Hán bằng âm gana (giả danh) còn chính “huấn” (huấn độc - ND) được cố định cho nên sinh ra cách huấn gana (huấn giả danh), nhưng nếu trừ một số ít trường hợp ngoại lệ như 為 he thì cách huấn tự ở thời Tân La đã không tiến tới được cách sử dụng tập quán còn sót lại ở thời hậu thế.(7)

Nguyễn Thị Oanh sưu tầm và dịch

CHÚ THÍCH

* Trích trong cuốn Kanli to sono bunkaken (chữ Hán và phạm vi văn hóa ấy) của học giả người Nhật tên là Tôđô Akiyasu. Cuốn sách này là một trong 15 cuốn sách thuộc bộ sách Trung Quốc chữ nghĩa họ tập song thư xuất bản tại Tokyo năm 1971, tái bản năm 1974, 1979 và 1988. Theo lời nói đầu, nội dung sơ lược của cuốn sách này được ghi ở chương 1 quyển 15 tập 6 cuốn Lịch sử thế giới với tiêu đề: Sự hình thành văn hóa chữ Hán, do Nxb. Ishiba phát hành. Nhưng lúc đó do bị hạn chế về số trang bản thảo nên sách bị cắt xén khá nhiều. Lần này được sự giúp đỡ rất nhiệt tình của công ty Kosekan tác giả đã biên soạn lại, bổ sung đầy đủ.

Cuốn sách dày 267 trang, khổ 19x13cm, chia làm 4 chương lớn: Chương thứ nhất: Sự ra đời của chữ Hán (tr.1 đến tr.56); Chương thứ hai: Sự hình thành văn hóa chữ Hán ở Triều Tiên (tr.59 đến tr.99); Chương thứ ba: Sự hình thành văn hóa chữ Hán ở Nhật Bản (tr.101 đến tr.236; Chương thứ tư: Sự hình thành văn hóa chữ Hán ở Việt Nam (tr.237 đến tr.253).

Đây là một cuốn sách có giá trị, cung cấp cho bạn đọc một cách nhìn khái quát về sự hình thành văn hóa chữ Hán ở Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Đồng thời, qua sự so sánh văn hóa chữ Hán của từng nước với Trung Quốc và giữa các nước ấy với nhau, cuốn sách cũng đã nêu lên được cái chung và cái riêng trong bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc.

Chúng tôi chọn dịch phần âm chữ Hán Triều Tiên trong chương thứ hai của cuốn sách để bạn đọc tham khảo (ND)

(1) Lục triều: 6 vương triều ở Trung Quốc: Ngô, Đông, Tấn, Tông, Tề, Lương, Trần (thế kỷ II - VI).

(2) Trung thế và Cận thế là hai thuật ngữ được dùng ở Nhật Bản, tương đương với cách gọi thời Trung đại và Cận đại ở Việt Nam. Trung thế: từ thế kỷ XI - XVI; Cận thế từ thế kỷ XVI - XIX.

(3) Ảo âm: là âm được hiển thị bằng cách viết thêm vào một ít chữ giả danh thuộc hàng "ya" và “kya”, “shu”, “cho” trong âm tiết tiếng Nhật Bản (ND).

(4) Việc phân chia thành đẳng là căn cứ vào độ mở của miệng và độ nâng của lưỡi. ở tam đẳng miệng mở hơi hẹp, lưỡi hơi tiến về phía trước. Ví vụ [e] ổ tứ đẳng miệng mở hẹp, lưỡi tiến hẳn về phía trước. Ví dụ [ie]

(5) (6) Dấu ngoặc đơn ( ) là phục nguyên theo ý nghĩa; [ ] dấu ngoặc vuông là bộ phận bổ sung.

(7) Bản dịch đã được các ông Yao Takao, Phạm Văn Nha và GS.TS. Nguyễn Quang Hồng xem lại. Nhân đây xin có lời cảm ơn./.

TB

MỘT SỐ Ý KIẾN NHẬN XÉT VỀ CUỐN TỪ ĐIỂN TRUNG VIỆT(*)

ĐẶNG ĐÌNH MINH

Đầu tháng 7 năm 1992, Viện KHXH VN và Nxb. KHXH, Hà Nội, có xuất bản cuốn Từ điển Trung Việt do một tập thể gồm mười hai tác giả biên soạn. Phần chính văn của cuốn từ điển gồm 1626 trang, kèm theo một số phụ lục về niên biểu lịch sử, các bảng đối chiếu các đơn vị đo lường và các bảng tra chữ...

Nếu so sánh những cuốn Từ điển Hán Việt hoặc những cuốn Từ điển Trung Việt xuất bản trước đây thì cuốn Từ điển Trung Việt này được biên soạn có công phu hơn.

Là một người ham mê nghiên cứu Hán văn lâu nay, nhìn thấy cuốn Từ điển Trung Việt với bìa đỏ láng cứng được tô những chữ vàng óng và nhất là khi nhìn thấy phần trên cuốn sách đề Viện Khoa học xã hội Việt Nam cũng như ở dưới đề “Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội”... tôi đã mua ngay với giá khiêm tốn là 110.000 đồng Việt Nam. Tôi hoàn toàn yên tâm tin tưởng vì tác giả cuốn sách là Viện Khoa học xã hội Việt Nam.

Nhưng rồi, tôi đã hoàn toàn thất vọng. Mở trang đầu tiên của vần A, xem chữ 阿 ở cột 1, dòng 5 và dòng 7... tôi tự nhiên thấy sững lại và rất bất ngờ. Tôi không nghĩ rằng cuốn Từ điển này lại có những sơ sót như thế. Cố tìm xem ở cuốn sách, nhưng không hề thấy phần đính chính nào cả. Sau đó, tôi tiếp tục xem các phần kế tiếp thì nhận thấy trong sách có rất nhiều sai sót mà đáng ra ta có thể tránh được nếu có sự rà soát lại cẩn thận trước khi ấn hành hoặc nếu có sự tham gia của những nhà chuyên môn biết tiếng Trung Quốc. Những sai sót thể hiện ở những mặt sau:

In sót hoặc nhầm. Viết sai chính tả; Dịch nghĩa thiếu chính xác; Dịch nghĩa sai; Chưa cập nhật hóa...

Điều đáng nói, cuốn sách là kết quả biên soạn của một tập thể mười hai người với sự chỉ đạo của một nhóm gồm năm người, được biên soạn trong một hoàn cảnh tương đối thuận tiện: tư liệu tham khảo rất nhiều và quan hệ Việt Trung đã được cải thiện… Nhưng thật đáng tiếc là cuốn sách đã có những sai sót, những nhầm lẫn (mà chúng tôi sẽ nêu một số ví dụ cụ thể dưới đây) đã làm ảnh hưởng một phần nhất định đến giá trị thực của nó.

Sau đây, chúng tôi xin trình bày một số ví dụ về các mặt đã nêu trên.

1, In sót, in thiếu hoặc nhầm lẫn.

- Trong phần bảng tra theo bộ, tra bộ 27 () ở phần 10 nét trở lên ta tìm thấy chữ (隱), bảng tra hướng dẫn độc giả xem trang 1497 nhưng ở trang 1497 không có chữ này.

- Trong phần bảng tra theo bộ, tra bộ 48 扌 ở phần 8 nét ta tìm thấy chữ (掩), bảng tra hướng dẫn độc giả xem trang 1313 nhưng ở trang 1313 không có chữ này.

- Trang 1 cột 1 dòng 7:

In là “oooo Bố”; đúng ra là “ ~ 爸 : Bố” hoặc là “ ~ 爹 : Bố”.

- Trang 580 cột 1 dòng 43:

In là “甲 子 jiǎ zĭ X [干 支 ]”, nhưng khi lật đến trang 386 của chữ thì độc giả không thấy giải thích gì về chữ 甲 子 .

- Trang 804 cột 2 dòng 12:

In là “馬 鮫 魚 : xem (bà) nhưng lật đến trang 21 và trang 22 của vần “bà” thì không có chữ

- Trang 1383 cột 2 dòng 39:

In là 燕 魚 yān yú: Xem (bà), nhưng lật đến trang 21 và 22 của vần “bà” thì không có chữ

- Trang 1477 cột 1 dòng 24

In là "蕷 yù dự X [薯蕷]”, nhưng khi tìm đến chữ ở trang 1113 người ta không tìm thấy chữ 薯蕷 ở đâu cả! vân vân...

2, Viết sai chính tả:

Mặc dầu hiện nay sự nhầm lẫn khi viết giữa chữ “ch” và “tr”; chữ “s” và “x”, chữ “l” và “n” vẫn còn tương đối phổ biến, song sự nhầm lẫn đó không cho phép đối với những người làm từ điển và những nhà nghiên cứu ngôn ngữ. Sau đây là hai ví dụ:

- Trang 24 cột 2 dòng 22:

In là “canh xuông” phải sửa lại là “canh suông”

- Trang 490 cột 1 dòng 39:

In là “cá chắm đen” phải sửa lại là “cá trắm đen” v.v...

3. Định nghĩa thiếu chính xác hoặc thiếu tính phổ cập:

- Trang 19 cột 1 dòng 1:

Cần định nghĩa về vị trí của chữ 把 đối với số lượng từ như vậy là chưa khoa học và thiếu chính xác. Độc giả Việt Nam dễ nhầm lẫn trong quá trình sử dụng. Vị trí tương đối của chữ 把 đối với số lượng từ hoàn toàn giống chữ 多 . Nên sửa lại là: “Nếu số từ là 10 trở lên thì 把 đi sau số từ nhưng đứng trước lượng từ”. Ví dụ : á ~月 ; 丈 高 十 ~斤 ; 千 ~ 人 ;百 ~ 本 書 v.v…

- Trang 277 cột 2 dòng 24:

In là “Bơm điện” phải sửa lại là “Tưới bằng trạm bơm điện”.

- Trang 278 cột 2 dòng 24

In là “Sta-to” phải sửa lại là “Phần ứng (sta-to của máy phát, rô to của động cơ điện).

- Trang 278 cột 1 dòng 6:

In là “Nút điện, công tắc điện” phải sửa lại là “Cầu dao điện”.

- Trang 296 cột 1 dòng 12:

In là “Đấu củng, một loại kết cấu (...) và gọi là đấu”.

Phần này nên sửa lại là “Giá chìa đỡ mái đua, giá công xôn, vòm tam giác”.

- Trang 464 cột 2 dòng 16:

In là “Vồ máy (máy đập)” nên sửa lại là “Đầm cóc (dùng để dầm đất)”.

- Trang 572 cột 1 dòng 22:

In là “Cài khuy áo cổ lại” nên đổi thành “Cài (khuy) cổ áo lại”

- Trang 666 dòng 12:

In là “Xe vận tải” nên sửa lại là “Xe tải nặng, xe chở hàng (âm dịch của chữ CAR)”.

- Trang 666 cột 2 dòng 13:

In là “Thước kẹp trượt” nên sửa lại là “Thước cặp có du xích”.

- Trang 741 cột 1 dòng 29 và trang 147 cột 1 dòng 23; trang 1041 cột 2 dòng 23 và dòng 25:

ở các trang này, tác giả dùng từ ngoại lai hơi nhiều như “săm” “lốp” “phanh”… Tuy rằng các từ này rất thông dụng ở miền Bắc nhưng dù sao thì chúng cũng là những từ ngoại lai. Hơn nữa, những từ này không phổ cập ở miền Nam; Cho đến nay, không ít người miền Nam còn ngỡ ngàng với các chữ “phanh”, “ghi đông”, “sên”, “gác đờ bu”, “săm”, “lô”… mà người ta chỉ quen với các tiếng như “thắng”, “tay lái”, “xích”, “dè chắn bùn”, “ruột xe”, “vỏ xe”.

Vì vậy, để cuốn sách có tính phổ cập hơn, ngoài các từ ngoại lai nói trên nên thêm các từ đã được Việt hóa để độc giả để tra cứu.

- Trang 895 cột 2 dòng 29

In là "好 一 派 北 國 風 光 : Thật ra vẻ phong cảnh miền Bắc. Câu dịch “Thật ra vẻ phong cảnh miền Bắc”, không thoát ý và không rõ ràng. Có thể sửa lại là “Phong cảnh miền Bắc thật là đẹp”. Hoặc dịch sao cho rõ hơn.

- Trang 1003 cột 2 dòng 18:

In là “Có bánh xe khởi động chạy bằng hơi khí đốt”. Dịch như thế không rõ ràng, có thể sửa lại là “Tuốc bin khí (đốt)”.

- Trang 1122 cột 2 dòng 33:

In là “Van nước” nên sửa lại là “Cống, cửa cống”.

- Trang 1174 cột 1 dòng 33:

In là “Xe cẩu trong nhà xưởng” phải sửa lại là “Cần trục cầu, cầu trục”.

- Trang 1605 cột 2 dòng 18:

In là “Bút chì tự động” nên sửa lại là “Bút chì bấm” vân vân...

4, Dịch nghĩa sai:

Một số từ chuyên môn dịch sai đã đành, ngay một từ thông thường cũng dịch không đúng.

- Trang 1 cột 1 dòng 5:

In là “ ~ 寶 : Chú Bảo” - dịch như vậy là sai hoàn toàn. Từ 阿 寶 là từ trìu mến mà người lớn dùng để gọi trẻ con hoặc dùng để gọi người thân yêu của mình khi biểu lộ tình cảm quí mến. ở đây có nghĩa là “Cục cưng, cục vàng, của quý, cưng thân yêu, cưng...”.

- Trang 17 cột 1 dòng 37:

In là “ống giác”. Nghĩa là “ống giác” chỉ là một trường hợp của phương ngôn, còn nghĩa chính chủ yếu là “ống thổi lò” - chi tiết bằng đất nung hoặc bằng kim loại được nối liền với lò để thổi lửa to lên. Nên phân biệt 拔 火 兒 (ống thổi lò) với 拔 子 (ống giác).

- Trang 277 cột 2 dòng 13:

In là “Điện thế” - dịch như vậy là sai, phải sửa lại là “Sức điện động”.

- Trang 277 cột 2 dòng 31 và dòng 32 đều dịch sai:

Phải sửa “Điện tích” thành “Điện mừng” và phải sửa ‘Điện mừng” thành “Điện tích”.

- Trang 23 cột 2 dòng 28, 29, 30 đều dịch sai.

In là “Bạch lộ” phải sửa lại “Con cò trắng”. In là “Con cò trắng” phải sửa lại là “Bạch lộ”.

- Trang 47 cột 1 trang 34:

In là “Moa - ơ” phải sửa lại là “Trục bánh xe”.

- Trang 468 cột 1 dòng 17,18,19,20 đều dịch sai:

In là “Hải tảo” phải sửa lại là “Vận chuyển bằng đường biển”. In là “Vận tải trên biển, hải vận”, phải sửa lại là “Hải táng”. In là “Hải táng” phải sửa lại là “Hải tảo”.

- Trang 903 cột 1 dòng 8:

In là “Xi măng xốp”, dịch như vậy là không đúng, phải sửa lại là “Chất tạo bọt, phụ gia tạo bọt”.

- Trang 949 cột 1 trang 41:

In là “Máy hơi đốt” phải sửa lại là “Tuốc bin khí’.

- Trang 1122 cột 2 dòng 35:

In là “Xi măng, Cn 混 凝 土 phải sửa lại là “Xi măng, Cn 水 泥 , cũng có lúc dùng để chỉ 混 凝 土 (Bê tông).

- Trang 1592 cột 1 dòng 27:

In là “giả câm giả điếc”, dịch như vậy là sai. Bởi vì cũng từ này ở dòng 16 cột 2 trang 1624 thì tác giả lại dịch là “Làm ra vẻ ta đây”. Như vậy lời dịch ở trang 1624 đúng hơn, nên sửa dòng 27 cột 1 trang 1592 lại là “Làm ra vẻ ta đây, làm bộ làm tịch”.

- Trang 851 cột 1 dòng 32:

In là “Kiếm lời” dịch như vậy không đúng. Từ 牟 利 ở đây có nghĩa là “vụ lợi, cầu lợi, thủ lợi, hám lợi, vân vân...

Vì bài viết có hạn, thời gian nghiên cứu tham khảo cuốn Từ điển Trung Việt còn quá ngắn ngủi, cho nên chúng tôi chưa có dịp thống kê hết những khiếm khuyết thuộc các loại trên.

5, Nội dung chưa được cập nhật hóa:

Cuốn từ điển ra mắt độc giả vào đầu tháng 7 năm 1992 nhưng lại thiếu rất nhiều từ nghĩa thông dụng hiện đại.

Ví dụ:

SIDA, AIDS: 艾 滋 病 愛 滋 症

KARAOKE: 卡 拉

ĐầU VIDEO: 卡式 錄 放 影 机

BĂNG VIDEO: 卡式 錄 形 帶

Đĩa Compact: 錄 影 碟

FAX: 傳 真

Vân vân...

Điều cuối cùng chúng tôi muốn nói trong bài này là tại sao các tác giả không liệt kê tên các tư liệu và các sách tham khảo đã được sử dụng để biên soạn cuốn từ điển này.

Nếu ai đó đem cuốn 現 代 漢 語 詞 典 (Hiện đại Hán ngữ từ điển) của Viện Khoa học xã hội Trung Quốc in năm 1978, 1980, 1983, 1991… đối chiếu với cuốn Từ điển, Trung Việt này thì ta thấy giống nhau hoàn toàn về cách sắp xếp, về số lượng từ ngữ cho mỗi chữ, về các bảng tra, về các phụ lục... Đáng tiếc là nhóm tácgiả đã không hề thống kê trong danh mục tham khảo (mà đúng ra là cần phải có bảng danh mục tài liệu tham khảo). Liệu như vậy có nên chăng?

TB

VÀI Ý VỀ VIỆC CHÚ GIẢI VÀ DỊCH
CHỮ HÁN TRONG SÁCH VĂN LỚP 10

NGUYỄN NGỌC SAN

Nhân chuẩn bị hướng dẫn sinh viên khoa Văn - Đại học Sư phạm đi thực tập giảng dạy ở trường phổ thông Trung học, tôi có dịp đọc kỹ sách Văn 10 (Nhà xuất bản Giáo dục - 1991).

Phải công nhận sách soạn theo chương trình cải tiến nên cũng có điểm tiến bộ hơn so với các năm trước. Môn Văn được đặt đúng vị trí, không đơn giản chỉ là một bộ phận của Khoa học xã hội, thiên về mặt giáo dục chính trị. Các trích đoạn tác phẩm giàu chất văn chương hơn, gây cho học sinh nhiều cảm hứng thẩm mỹ, cảm hứng nhân văn thực sự có ý nghĩa giáo dục tâm hồn lớp trẻ. Sách được biên soạn trong thời gian ngắn nhưng rõ ràng có nhiều ưu điểm về mọi phương diện. Tuy nhiên không nên ảo tưởng là sách soạn xong một lần là tất cả đều tận thiện tận mỹ. Vì sách in cho hàng triệu người dùng nên trách nhiệm của giới văn chương chữ nghĩa là phải cố gắng phát hiện kịp thời những gì chưa thỏa đáng để tập thể soạn giả suy nghĩ, điều chỉnh trước khi tái bản.

Bài này góp ý riêng về mặt chú giải và dịch chữ Hán. Vì sách Văn 10 nặng về văn học cổ, văn thơ cổ được tinh tuyển trong sách là tinh hoa của dân tộc cần được lưu truyền cho các thế hệ đời sau. Nhưng giữa văn thơ cổ với học sinh ngày nay có một sự cách bức về thời gian, khiến học sinh khó hiểu nên cũng khó thấy cái hay, cái đẹp của nó. Học sinh có thể không tái hiện và cảm thụ được vẻ đẹp thâm thúy của một áng văn chương xưa. Đây là món ăn ngon nhưng nhiều xương, cần phải gỡ hết trước khi đưa cho người thưởng thức. Công việc tối thiểu này xưa nay ta thường giải quyết bằng cách dùng một hệ thống chú giải hay dịch các từ khó, ý khó từ Hán sang Việt. Nhưng khi làm công việc ấy ít ai nghĩ rằng đây là sự lao động khoa học vất vả và cũng là lao động nghệ thuật tinh tế. Gặp chỗ nào học sinh không hiểu thì dừng lại ghi đôi lời giải thích. Đôi khi lời giải thích lại mập mờ, khó hiểu hơn nguyên văn hoặc gây cho học sinh những liên tưởng lệch lạc.

A. Về chú giải: Theo ý chúng tôi việc chú giải phải thỏa mãn những yêu cầu sau:

a- Chính xác, lột được ý tưởng chính của nguyên văn.

b - Dễ hiểu và chỉ cho học sinh một cách hiểu đúng đắn nhất, đồng thời lại không phá vỡ không khí cổ của nguyên tác.

c - Thể hiện được đúng ý đồ sáng tác và bút pháp của nhà thơ, nhà văn xưa.

Làm được chừng ấy yêu cầu thì quả thực chú giải không dễ dàng chút nào. Do yêu cầu [c] ta thấy cần phải phân các từ ngữ khó ra làm các loại khác nhau:

1. Từ ngữ cổ, khó, do học sinh chưa được tiếp xúc. Ví dụ lạt trong “một mình lạt thuở ba đông” (tr.103), hoặc tố nữ trong “tranh biếng ngắm trong đồ tố nữ” (tr.175). Từ ngữ khó còn các địa danh cổ, vật dụng cổ, khái niệm khó.

2. Các từ ngữ được tạo lập theo một biện pháp tu từ cổ có dụng ý của tác giả như thậm xưng, xưng đại, ngoa dụ v.v... Ví dụ can qua (trỏ chiến tranh), tơ trúc (trỏ âm nhạc) tơ đồng (trỏ cây đàn) v.v... thuộc phép xưng đại, dùng hai bộ phận tiêu biểu để diễn đạt một toàn thể lớn hơn hàm chứa hai bộ phận xuất hiện trong từ. Dùng dây đàn bện bằng tơ và bầu đàn làm bằng gỗ ngô đồng để trỏ cái đàn, dùng tơ và trúc là hai phương thức tạo ra tiếng nhạc trong bát âm (ti, trúc, mộc, thạch, kim, thổ, biều, cách) để trỏ chung về âm nhạc. Hoặc là phép thậm xưng như “gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao” làm cho ý câu văn thêm mạnh mẽ, kiểu như tả người anh hùng thì tức giận trừng mắt, mí mắt rách đến mang tai (Phàn Khoái) hoặc người đẹp da mịn đến độ gió thổi mạnh có thể làm rách được (Thơ thời Ngụy Tấn).

3. Các ngữ điển cố như Tiến về đông, dành phía trái, quân thiên, trúc Nam Sơn, Cầu Lam v.v... cần phải có cách chú giải riêng, nêu bật được giá trị phong cách biểu trưng của chúng.

Từ những yêu cầu đã nêu trên và từ đặc điểm riêng của các loại từ ngữ được chú giải, ta hãy xem lại những chú giải trong sách Văn lớp 10 và kê ra những chỗ nào xử lý chưa được thỏa đáng để các soạn giả suy nghĩ và tu chính lại.

- Chú 28, tr.100 “Trúc Nam Sơn: Trúc là tre, ngày xưa khi chưa có giấy người ta ghi chữ “trên thanh tre”(1)

Theo tôi: chú giải không nói gì đến chữ Nam Sơn, học sinh không hiểu. Chữ này nguyên là điển cố, lại đối với Đông Hải ở dưới cũng cùng một điển cố. Nam Sơn là tên dãy núi cao và dài vắt ngang tỉnh Cam Túc (Trung Quốc) được nhắc trong Kinh Thi: “Tiết bỉ Nam Sơn” (Núi Nam Sơn cao vòi vọi kia). Trong bài hịch kể tội Tùy Dượng Đế, Lý Mật viết: “chặt hết trúc Nam Sơn chẻ thành thẻ cũng chẳng đủ để ghi tội ác Tùy Dượng Đế”. Bài hịch của Ngỗi Hưu trong sách Thông giám cũng có câu: “Chặt hết trúc Nam Sơn ghi tội, vét hết nước Đông Hải không đủ rửa ác”. Vậy Nam Sơn ở đây biểu trưng núi cao, dài và có lượng trúc rất lớn. Xưa dùng thanh trúc để ghi chữ gọi là trúc thanh, ghi sử gọi là sử xanh, có chú giải rõ điển cố mới nêu hết tội ác chồng chất của quân giặc.

- Chú 30, tr.100 - “Hoang dã: nơi đồng quê hoang vu”.

Theo tôi: Có lẽ không phải là đồng quê, mà đồng quê cũng khó có thể nói là hoang vu được, vì quê thì thường gợi lên cảm giác ấm cúng. Chữ hoang vốn có nghĩa là vùng rừng núi không có người ở. Trung Quốc xưa có tứ hoang (theo Sơn hải kinh) trỏ các nơi mọi rợ, chưa được khai hóa. Dã cũng là vùng đất không trồng trọt. Theo sách Mạnh Tử thì ngoài vùng đô thành gọi là giao (nơi có đồng ruộng), ngoài giao mới là dã. Kinh Thi cũng có câu: “tại quynh chi dã” (ở vùng hoang vu chốn biên ải). Lê Lợi tự xưng xuất thân nơi hoang dã là có ý khiêm xưng, nhún nhường, vả Lam Sơn khi ấy cũng là một vùng rừng núi thật.

- Chú 44, tr.101 - “manh là người đi cày, lệ là người đi ở. Nghĩa quân Lam Sơn gồm những người manh lệ”.

Theo tôi: chú như vậy học sinh có thể có những liên tưởng lệch lạc: nghĩa quân gồm toàn dân lưu manh và bọn con ở. Thực ra, manh là chữ trong sách Mạnh Tử, trỏ những người nông dân bị cướp mất đất trong những cuộc chiến tranh liên miên thời Chiến quốc; lệ trỏ những người dân cày không có đất (tư liệu sản xuất), phải làm nông nô cho các lãnh chúa. Manh lệ là từ trỏ chung lớp nông dân nghèo khổ cùng quẫn (theo phép xưng đại).

- Chú 2, tr.108 - “Tháp: cái lầu cao và nhọn thường được xây ở khu vực chùa”.

Theo tôi: chú như vậy học sinh có thể hiểu tháp là cái nhà nhiều tầng (lầu) xây bên cạnh chùa. Thực ra tháp (tiếng Phạn là Stupa) là vật kiến trúc có ý nghĩa tôn giáo gốc ở ấn Độ, có hình dáng nhọn và cao, gồm nhiều tầng (thường là 5 hay 7 tầng), cao nhất là 13 tầng, sang Trung Quốc và Việt Nam có cải biến giản dị và ít tầng hơn, xây ngay trong sân chùa. Lại có loại tháp nhỏ đựng xá - lị (Tiếng Phạn: anasavia, trỏ tro đốt từ hài cốt các nhà sư đã viên tịch).

- Chú 2, tr.110 - “Lạt: lạt lẽo, thản nhiên. ý cả câu: một mình từng là lạt lẽo thản nhiên với mùa đông (trơ ra không thay đổi)”.

Chú không khéo, có vẻ suy đoán, đặc biệt là từ “trơ” dùng không đắt - Theo tôi: Lạt là từ cổ có dạng ngữ âm xưa là mlạt, sau đổi thành mạt, cả hai hình thức này còn thấy ghi trong Từ điển Việt - Bồ - La của A-lêch-đăng đơ Rốt (1651). Để ghi mlạt, chữ Nôm đã bỏ tiền tố, mà chỉ ghi Lạt; nên người phiên ra Quốc ngữ ghi Mlạt hay Mạt là từ cổ, có nghĩa là coi thường, coi khinh. Nghĩa này mạnh hơn nhiều, tỏ rõ chí khí người quân tử.

- Chú 5, tr.116 - “Bất nghĩa: cũng như phi nghĩa, là không có nghĩa”.

Chú vừa khó hiểu vừa không chính xác. Theo tôi: bất nghĩa không như phi nghĩa, nó biểu thị một thái độ sống. Trong ca dao dân gian còn có từ “bất ngãi” (bất ngãi, bất nghì) tức không có thuỷ chung và trái luân thường đạo lý. Còn “là không có nghĩa” thì dễ hiểu lầm vì từ này rõ ràng là có nghĩa.

- Chú 6, tr.128 - “Mũ trụ: một kiểu mũ có thành dựng đứng theo hình trụ”.

Đây là một sự sai lầm đáng tiếc do người chú bị đánh lừa bởi từ đồng âm. Có hai chữ trụ khác nhau nhưng viết theo Quốc ngữ như nhau: 1. Chữ trụ (do trên nhục dưới) là chữ trụ trong giáp trụ, loại mũ của người tráng sĩ, dày và cứng, làm bằng sắt đúc hay sắt đàn, dùng bảo vệ đầu và mặt để gươm giáo không đâm thủng được khi giao chiến, hình thù có thể khác nhau theo thời đại hay địa phương, ở châu Âu cũng có. 2. Chữ trụ (bộ mộc và chủ) trỏ vật dài thân tròn, hình trụ. Chữ trong bài là trụ 1.

- Chú 24, tr.129 - “Dạ xoa: quỉ ác ở cõi âm”. Chú không sai nhưng chưa hết ý. Dạ Xoa còn có âm là Dạ Thoa, loại quỷ mang hai đặc tính là xấu xí và tàn bạo, thuộc thiên long bát bộ, có hai loại: Địa Dạ Xoa (không biết bay) và Thiên Dạ Xoa (biết bay). Người ta dùng Dạ Xoa như vật tượng trưng cho sự xấu xí hoặc tàn bạo.

- Chú 35, tr.129 - “Đức hiếu sinh: đạo đức biết quý sự sống, lòng ham sống”.

Chú như vậy học sinh có thể hiểu đức hiếu sinh là biểu hiện của tính vị kỉ tham sống sợ chết. Thực ra đức hiếu sinh là biểu hiện của lòng vị tha, biết quý sự sống của người khác, kiêng sát hại.

- Chú 41, tr.130 - “Hà lạm: nghiêm khắc làm điều quá đáng”.

Chú như thế không đúng. Làm điều quá đáng thường là thái độ phóng túng chứ không phải thái độ nghiêm khắc. Hà lạm có nghĩa là: trừng phạt một cách thái quá, không đúng mức, đúng lúc, không đáng tội cũng trừng phạt.

- Chú 5, tr 134 - “Tiêu: cây chuối tiêu”.

Theo tôi, không sai lắm nhưng cũng không thật đúng. Tiêu vốn chỉ có nghĩa là cây chuối, loại cây có nguồn gốc Nam Á, ưa chỗ ẩm, có âm là [chee] còn tồn tại trong nhiều ngôn ngữ vùng Trường Sơn miền Trung Việt Nam, người Hán mượn âm này đọc chệch đi, ta lại đọc theo âm Hán Việt là Tiêu, hiện nay Trung Quốc đọc là [chiao], còn cây chuối tiêu người Hán gọi là hương tiêu.

- Chú 8, tr.156 - “Mảnh hương nguyền: những mảnh gỗ thơm đã đốt dở dang trong đêm Kim Kiều thề nguyền tình tự (phong tục cổ xưa)”.

Có lẽ soạn giả bị ám ảnh bởi chữ mảnh. Mảnh ngoài nghĩa trỏ vật mỏng mà nhỏ, còn có nét nghĩa khác, trỏ một trạng thái tình cảm, tâm lí mỏng manh, như: mảnh tình, mảnh tâm sự. Dưới đoạn này lại có câu: “Đốt lò hương ấy so tơ phím này”; soạn giả cũng lại bị lừa vì chữ hương này mà cho rằng hai hình ảnh phím đàn và cái lò hương hay cái mảnh hương luôn đi đôi với nhau trong ký ức của Kiều. Vậy thì “mảnh hương nguyền” (nếu là mảnh hương nguyền thật) cũng chỉ là kỷ niệm trong hoài tưởng, nó thiêng liêng đến mấy trong quá khứ thì đến giờ phút này đã rất mỏng manh. Huống hồ trong các bản Kiều bằng chữ Nôm thì hai chữ hương trong hai câu lại viết khác nhau. Hương trong “Đốt lò hương ấy so tơ phím này” được viết là hòa trên viết dưới tức là mùi thơm hay vật đốt ra mùi thơm (que hương), còn hương trong “phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa” lại được viết là Khương + tử đáng lẽ đọc là gương (vật bằng kim loại mài nhẵn, hay bằng thủy tinh có tráng bạc hoặc thủy ngân dùng để soi mặt), vì người phiên ra Quốc ngữ bị ảnh hưởng bởi tiếng Hà Nội nên đọc là hương không ngờ lại tạo ra nguyên nhân gây sự lẫn lộn sau này. Vả chắc cũng chẳng ai giữ lại mảnh hương, mảnh trầm đốt dở dang rồi cất đi làm kỷ vật. Còn chuyện trai gái yêu nhau đi đến thề nguyền thì ở đâu và thời nào cũng có, nhưng không thành phong tục ở Á Đông xưa. Theo phong tục Trung Quốc (cũ) với gia cảnh như Kiều và Kim Trọng thì muốn yêu và thành vợ chồng phải trải qua các lễ: nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp trưng, thỉnh kỳ, thân nghinh... ít nhất cũng phải qua các lễ vấn danh (ăn hỏi) thỉnh kỳ (xin ngày cưới), thân nghinh (đón dâu), việc thề nguyền như trên chỉ là vụng trộm chứ không thành phong tục.

- Chú 11, tr.157 - “Trúc mai: tình nghĩa bền chặt như cây trúc cây mai thường được trồng gần nhau”.

Chú không chính xác vì hai lí do: 1. Trong các bản Kiều Nôm, chữ mai không viết là bộ mộc + mỗi, tức mai là cây mơ, mà viết là bộ mộc + bán văn, cũng đọc là mai, nhưng không có nghĩa là một loại cây nào cả mà, theo cổ văn, trỏ cái tăm dùng ngậm khi hành quân đêm (hàm mai) để cấm không được nói chuyện; 2. Người chú không để ý đến thể đối giữa “nát thân bồ liễu” với “đền nghì trúc mai”. Bồ liễu là loại cây mảnh dẻ yếu ớt tượng trưng cho phụ nữ (phái yếu), “liễu yếu đào tơ” ở đây ví Thuý Kiều được dùng với trúc mai (cây trúc và loại họ cây trúc - (chữ mai trong chữ Nôm chỉ cốt lấy âm) tượng trưng cho người quân tử, ở đây ví với Kim Trọng. Ta cần nhớ đến tính ước lệ trong thơ cổ điển.

- Chú 5, tr.173 - “Quân thiên: tiếng âm nhạc trên trời”.

Không rõ. Có thể hiểu là tiếng nhạc thật ai tấu trên cao thì sao? Vả lại, làm mất giá trị của điển cố, kỳ thật là để trỏ tiếng nhạc hay của thần tiên. Theo sách Sử ký, Triệu Giản Tư bị bệnh, mơ thấy mình lên trời nghe tấu điệu Quảng nhạc, tiếng hay xúc động tâm can, đó là khúc Quân thiên. Sau, từ này trở thành điển cố trỏ tiếng nhạc hay của thần tiên. Sách Hoa điểu tranh năng có câu:

Quân thiên nhạc tấu vui mừng,
Tiệc la ỷ mở tưng bừng xôn xao.

Cũng là mượn ý ấy.

- Chú 6, tr.173 - “Nhã nhạc: tiếng nhạc do người đặt ra”.

Chú không rõ. Vì ngoài tiếng sóng gầm, gió thổi, mưa bay v.v... thì tiếng nhạc nào chẳng do người đặt ra, kể cả tiếng sáo diều. Thực ra, nhã là khúc ca có vần điệu và có tấu nhạc (như Đại nhã, Tiểu nhã trong Kinh thi), nhạc là âm thanh cao thấp trầm bổng đặt liền nhau theo luật và lã (của âm thanh), có tác dụng di dưỡng tính tình và hòa đồng mọi người. Vậy có thể hiểu nhã nhạc là tiếng âm nhạc không lời hoặc có kèm lời ca để vui với nhau.

- Chú 4, tr.176 - “Tố nữ: bức tranh vẽ hình tố nữ, hình người con gái trắng đẹp”.

Thứ nhất, tố nữ không phải là bức tranh; sau nữa; tố ở đây không có nghĩa là trắng như soạn giả tưởng. Tố là loại tơ hay vải mới dệt chưa nhuộm còn để mầu mộc, do đó mà có nghĩa là nguyên sơ, trinh bạch. Tố nữ là người con gái chưa chồng, tức trinh nữ.

- Chú 11, tr.178 - “Hàn ôn: lạnh ấm. Chuyện hàn ôn: chuyện tâm sự”.

Chú không sai, nhưng dễ gây hiểu lệch, mà hiểu lệch thì dễ dùng sai. Từ này hay gặp trong văn chương, do đó nên giải thích rõ hơn. Xưa con cái đối với cha mẹ, vợ chồng hay bạn bè đối với nhau, khi đi ngủ lo cho nhau được ấm, ngủ dậy hỏi nhau ban đêm ấm lạnh thế nào, vì vậy hàn ôn là chuyện quan tâm đến sức khỏe của nhau lúc sớm chiều, cũng có thể là chuyện vui buồn khi khuya sớm, vì vậy bà huyện Thanh Quan mới có câu:

Kẻ chốn Chương (hoặc Trang) đài người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn.

B. Sách văn 10 còn có một số chữ Hán dịch chưa thỏa đáng hoặc không đầy đủ, có thể gây hiểu lầm. Nhân đây ta cũng cần nêu ra để các soạn giả suy nghĩ và chỉnh lại cho chính xác, dễ hiểu.

- Mạn thuật (tr.104) dịch là “Kể ra một cách tản mạn”.

Mạn thuật là tiêu đề rất hay dùng cho các bài thơ ngắn chữ Hán, nhất là thơ chữ Hán Việt Nam. ở đây chữ mạn có lẽ không có nghĩa là tản mạn, mà là phóng khoáng, không gò bó, không câu thúc. Ngoài mạn thuật còn có mạn hứng v.v... Thuật là bày tỏ nỗi lòng, tâm sự, cũng có thể là sự kiện v.v...

- Thiên cổ kỳ bút (tr.62) dịch là: “bút lạ của muôn đời”.

Trước nhất chữ bút làm cho học sinh hiểu sai là cái bút hay cây viết, vả dịch như vậy khó hiểu quá. Theo tôi, bút ngoài nghĩa là cây viết, còn có nghĩa là ghi chép (Thuật liễu nhi thư chi viết bút - thuật ra mà ghi lại gọi là bút - Từ nguyên), từ đó mà ta có các từ bút ký, tùy bút... Nhưng nghĩa này cũng chưa thực hợp với câu trên. ở Trung Quốc, từ thời Lục triều, những bài văn xuôi (ngoài thơ, phú) bắt đầu được gọi là bút, tất nhiên đó là loại văn xuôi cổ, có ngắt nhịp và có đối. Sách Nam sử có câu: “Tạ Linh Vận thiện vi thi, Nhiệm Ngạn Thăng công ư bút, Thẩm Ước kiêm nhi hữu chi”. (Tạ Linh Vận giỏi làm thơ, Nhiệm Ngạn Thăng khéo viết văn xuôi, Thẩm Ước tài cả hai loại). Vì vậy bút ở đây nên dịch là áng văn và thiên cổ kỳ bút nên dịch là “áng văn đẹp của muôn đời”.

- Lũng Tây hành (tr.132) dịch là: “Bài hát Lũng Tây”.

Dịch như vậy mới quá, mà cũng không đúng vì đây không phải là bài hát mà là thơ. Hành là bài thơ làm theo lối cổ thể (thường là thể từ khúc), thường dài và nặng về tự sự có pha những câu đậm đà màu sắc trữ tình, có khi có cốt truyện. Vì vậy nên dịch là “bài hành về đất Lũng Tây” rồi giải thích thêm.

- Sơ kính tân trang (tr.139) dịch là: “trang sách mới về câu chuyện gương và lược”.

Ở đây soạn giả lẫn lộn giữa hai chữ trang. 1. Trang (cung + trường ) trỏ một mặt có chữ in hay chữ viết hoặc dùng để viết của tờ giấy. 2. Trang (mễ + trang) trỏ đồ trang điểm của phụ nữ để làm đẹp gương mặt hoặc gài vào tóc hay quần áo. Ngoài ra phải thấy gương lược (sơ kính) khác với gương và lược. Gương lược là từ ghép theo kiểu xưng đại, nhằm trỏ chung đồ dùng trong khuê phòng của phụ nữ, từ đó cũng có thể tượng trưng cho người phụ nữ. Sơ Kính tân trang (gương lược đồ trang sức mới) chính là câu chuyện về mối tình giữa cô gái phòng khuê (Quỳnh Như) với Phạm Sinh.

- Thiên Nam ngữ lục (tr.63) dịch là: ghi lại bằng lời sự tích nước Nam”.

Dịch khó hiểu và không hết nghĩa, ghi lại tất nhiên phải bằng lời. Nhưng thực ra ngữ lục không phải chỉ là ghi lại, nó chưa phải là thể loại văn học nhưng là một cách hành văn xuất phát rất sớm từ nhà chùa, sau này đến đời Tống học trò ghi chép các lời thầy giảng cũng gọi là ngữ lục. Sách Luận ngữ của Khổng Tử cũng được xếp vào loại ngữ lục. Văn ngữ lục giản dị, ngắn gọn và thiên về khẩu ngữ.

Trên đây chỉ là một số ý kiến nêu lên để những ai đọc sách Văn 10 và các soạn giả suy nghĩ, tu chính trước khi tái bản. Mục đích bài này còn muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chú giải và dịch chữ Hán trong sách giáo khoa, một việc làm mà giới Hán Nôm cũng cần quan tâm và có trách nhiệm liên đới.

CHÚ THÍCH

(1) Theo sách Văn 10, dưới là nhận xét của người viết. Từ đây trở đi đều đi theo cách trình bày này.

TB

GÓP PHẦN TÌM HIỂU THÊM VỀ NỘI DUNG BÀI "ĐỘC TIỂU THANH KÝ" CỦA NGUYỄN DU

NGUYỄN DANH ĐẠT

Trong sách Văn lớp 10 (in lần thứ 2), do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1991 ở Hà Nội, trang 164, tôi đọc thấy có bài “Độc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du. Đây là một bài học rất bổ ích và cần thiết. Bởi lẽ lâu nay ta mới cho các em học sinh ở bậc phổ thông hiểu Nguyễn Du qua thơ Nôm, đặc biệt là Truyện Kiều của ông, còn phần thơ Hán, phần bộc lộ tâm sự sâu kín và trực tiếp nhất của nhà thơ thì các em chưa hề được biết.

Tôi thực sự mừng về việc làm đó của nhà soạn sách, song lại cũng thật ngỡ ngàng và lo lắng ngay sau khi đọc xong phần dịch nghĩa và dịch thơ về bài đó của tập sách. Vì sao lại như vậy? ở đây tôi xin phép được lần lượt phát biểu mấy ý kiến như sau:

1. Phần dịch nghĩa: Ta nên biết đây là lời tâm sự của Nguyễn Du sau khi ông đã đọc xong câu chuyện kể về cuộc đời của nàng Tiểu Thanh ở Trung Quốc. Nàng là một cô gái rất trẻ, vừa có nhan sắc, vừa biết làm thơ phú, nhưng cuộc sống lại không được như ý muốn, có chồng nhưng lại phải chịu lẽ mọn. Bị vợ cả đánh ghen xua đuổi, nàng phải làm nhà ra ở riêng trên núi Cô Sơn, cạnh Tây Hồ, buồn tủi rồi sinh bệnh mất lúc 18 tuổi đầu. Tập thơ để lại của nàng cũng bị vợ cả ghen ghét đem đốt, may sao có người cứu và giữ lại được chút ít. Đó là một câu chuyện thương tâm được các nhà văn Trung Quốc về sau này kể lại trong một cuốn sách gọi là Tiểu Thanh ký (Truyện kể về nàng Tiểu Thanh). Tuy là một câu chuyện tình cảm động, song lâu ngày ít ai chú ý. Nhân đi sứ sang Trung Quốc, tình cờ Nguyễn Du đã được biết tới. Với tấm lòng cảm thông cùng cảnh ngộ, là kẻ tài hoa nhưng bạc phận, ông đến nơi 300 năm trước đó Tiểu Thanh đã sống để viếng hương hồn người đã khuất.

Có hiểu như thế, kết hợp với nội dung chữ nghĩa ở bài ta mới thấy cách dịch nghĩa và dịch thơ của sách Văn 10 là chưa ổn. Xin lần lượt xét xem:

- Hai câu đề:

Tây Hồ hoa uyển tận thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.

Đây là hai câu có cấu trúc riêng biệt. Câu trên có chủ ngữ và vị ngữ rõ ràng. Phần dịch nghĩa, theo ý tôi là tạm được: “Vườn hoa bên Tây Hồ đã thành bãi hoang rồi”. Nếu có thêm thì chỉ nên thêm ý của “tận” (nghĩa là “hết thảy” “đều”) của nguyên tác vào trong lời dịch nghĩa. Vả lại “vườn hoa” đây không phải là “vườn hoa bên Tây Hồ” mà là vườn hoa của vùng Tây Hồ. Vì vậy để cho dễ hiểu, ta có thể giải thích hay dịch nghĩa lại cả câu đó như sau: Vườn hoa Tây Hồ (xưa), (nay) đã thành gò hoang rồi. Riêng câu hai, chủ ngữ ẩn, vị ngữ chính ở đây là “điếu”. “Độc” là phó từ làm trạng ngữ bổ nghĩa cho động từ “điếu” còn “song tiền nhất chỉ thư” có nghĩa là: “một tập sách trước cửa sổ” là một ngữ danh từ đứng làm tân ngữ trực tiếp cho động từ “điếu”. Vì vậy câu đó không thể giải thích như ý trong sách Văn 10 là “chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ” mà nên hiểu: “Riêng ta viếng khóc tập sách trước cửa sổ”.

- Hai câu thực:

Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.

Đây là hai câu thơ nói lên cảm nghĩ thực. Đây là tấm lòng an ủi với người quá cố của thi nhân. Rằng: “Chi phấn hữu thần” son phấn vốn có hồn nên dù có mất đi rồi vẫn được người thương. Trong mỗi câu thực có hai phần câu rất rõ ràng, ý của phân câu trước làm nền cho ý của phân câu sau. Từ “liên” và “lụy” ở trong nguyên tác là hai động từ chỉ sự thương xót và vương vấn chứ phải đâu như ý trong hai câu dịch nghĩa của sách Văn 10: “Son phấn có thần chắc phải xót vì những việc sau khi chết” và “văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dở”.

- Hai câu luận:

Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kỳ oan ngã tự cư.

Đây là nỗi niềm chia sẻ của thi nhân đối với người đã khuất. Hai câu thơ này về cú pháp không có gì khó cả; song vấn đề lại là ở chữ nghĩa. Có lẽ người soạn sách chưa nghiên cứu kỹ hai từ “phong vận” và “cư” của nguyên tác.

Như mọi người đã biết, Nguyễn Du là một nhà thơ có biệt tài. Việc khắc hoạ vẻ đẹp và hình bóng của người con gái ở mỗi tình huống, dưới ngòi bút thiên tài của ông, được bộc lộ hết sức độc đáo, rõ nét. Để tả người con gái đang vì tuổi xanh mơn mởn, ông viết “khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang” (Kiều – câu 20); còn tả hình dáng người con gái đẹp đã mất, ông lại viết “có chiều phong vận, có chiều thanh tân” (Kiều – câu 188). Người đẹp ở đây thướt tha tựa như làn gió thoảng. Cứ ý đó suy ra, tôi thấy Nguyễn Du dùng từ “phong vận” ở đây chính là khắc hoạ hình bóng người con gái đã khuất. Bởi vậy cụm từ “phong vận kỳ oan” phải hiểu đó là nỗi oan kỳ lạ của người con gái đã khuất, chứ không phải là “kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã” như trong phần dịch nghĩa của tập sách.

Còn từ “cư” tuy là Hán Việt song dân gian cũng đã có lúc dùng nó như một động từ có nghĩa là “mang”, “chịu”. Ví dụ: Cư tang: mang tang, chịu tang.

Vậy cả hai câu này nên hiểu là: Mối hận từ ngàn xưa tới nay khó mà hỏi trời được. Nỗi oan kỳ lạ của người đã khuất, tự lòng ta xin mang.

- Hai câu kết: Phần dịch nghĩa và dịch thơ nói chung đã rõ, không có vấn đề gì.

2. Phần dịch thơ:

Dịch thơ chữ Hán nói chung đã là khó, dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Du lại càng khó hơn. Bởi lẽ mỗi chữ, mỗi câu theo thể thức như trong bản nguyên tác này đều hàm chứa nội dung rất súc tích nhưng cũng hết sức sinh động. Nhờ kết hợp của vận luật hài hoà, với cấu trúc cân đối khiến cho “Độc Tiểu Thanh ký” vừa hàm chứa nội dung trữ tình sâu sắc lại vừa mang tính chất nghiêm trang. Đó là nét độc đáo của bài thơ.

Để đảm bảo được nguyên lý của thi nhân, người dịch đã cố bám sát nội dung từng từ và thể hiện nó theo phong cách thơ luật. Về nguyên tác, đây là cách xử lý đúng. Song như phần dịch nghĩa trên đã trình bày, do người dịch chưa nắm bắt được thần ý của một số từ ngữ của nguyên tác cho nên đã có đôi chỗ lầm lạc hơi đáng tiếc. Ví như: “nhất chỉ thư” mà dịch là “mảnh giấy tàn”, “liên tử hậu” dịch là “chôn vẫn hận” hoặc “phong vận kỳ oan” mà dịch là “cái án phong lưu” thì thật là khó hiểu.

Tóm lại, nội dung bài thơ là thể hiện tâm sự sâu kín của nhà thơ. Trước tập sách kể về nỗi oan hờn của người đã khuất, Nguyễn Du thật sự đau khổ, xót xa. Ông an ủi và chia xẻ nỗi niềm cay đắng với số kiếp hồn oan. Ngẫm người lại nghĩ đến mình, trước cảnh đời đen bạc, nhà thơ than thở: “Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, người đời ai khóc Tố Như chăng?”. Một câu hỏi cho đến tận ngày nay chưa ai dám chắc là đã trả lời được trọn vẹn. Bởi thế cho nên phân tích, giải thích cho rõ ý nội dung nguyên tác như trên là cần thiết.

Hà Nội, ngày 19/ 8/ 1992.

TB

MỘT TẤM BIA NÓI VỀ BÀ
NGÔ THỊ NGỌC DAO

HOÀNG LÊ

Chúng ta vừa kỷ niệm 550 năm sinh Lê Thánh Tông. Để có một nhân tài trong lịch sử, một danh nhân văn hoá lớn của thời đại mà ngày nay chúng ta còn nhắc nhở, thật không dễ gì nếu không có một người mẹ đã góp phần quan trọng trong việc nuôi dạy con. Dưới đây, chúng tôi xin cung cấp một tư liệu mới về bà Ngô Thị Ngọc Dao, mẹ của Lê Thánh Tông, nhằm giúp chúng ta hiểu thêm về những gì đã góp phần tạo nên một nhân vật có tầm cỡ lịch sử như Lê Thánh Tông.

Tư liệu này được khắc trên bia đá, với tiêu đề: Khôn nguyên chí đức chi bi, đặt ở Phú Lâm, Quảng Yên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Bia cỡ lớn 185cm x 270cm, trán bia chạm rồng và mây. Toàn văn chữ Hán, khắc chân phương, tiêu đề khắc chữ triện, gồm 69 dòng, khoảng trên 6.000 chữ. Bia được tạo dựng vào năm Cảnh Thống thứ nhất (1498), hiện có bản rập để tại thư viện Viện Hán Nôm, mang ký hiệu 1919.

Tác giả bài văn bia là Nguyễn Bảo và Nguyễn Xung Xác. Nguyễn Bảo: hiệu Châu Khê, người huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình, đậu Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 3 (1472). Ông là người học vấn rộng, giữ chức Lễ bộ Thượng thư đời Lê Hiến Tông (1487 – 1504). Ông có tác phẩm Châu Khê tập. Nguyễn Xung Xác: người xã Kim Đôi, huyện Vũ Ninh (nay là xã Kim Châu, huyện Quế Võ) Hà Bắc. Ông sống cùng thời với Thân Nhân Trung, Đào Cử, Đàm Văn Lễ, Ngô Luân, Lương Thế Vinh ... Năm Hồng Đức thứ 14 (1483), ông giữ chức Hàn lâm thị độc chưởng viện sự, kiêm Tú lâm cục tư huấn, thành viên Hội Tao Đàn.Năm Hồng Đức thứ 22 (1491), kiêm Lễ bộ Tả thị lang. Ông từng cùng Lưu Hưng Hiếu phụng hoạ vần tập Cổ kim bách vịnh thi của vua Lê Thánh Tông và soạn nhiều văn bia khác.

Do bài bia hơi dài (hơn 6.000 chữ), nên chúng tôi đành bỏ phần phiên âm mà chỉ cung cấp phần dịch và chú thích.

*

BÀI MINH Ở BIA NƠI SƠN LĂNG CỦA BÀ HOÀNG THÁI HẬU QUANG THỤC TRINH HUỆ KHIÊM TIẾT HOÀ XUNG NHÂN THÁNH (1) NƯỚC ĐẠI VIỆT.

Xét từ thuở hồng hoang, trời đất đã phân biệt, quí tiện được tỏ bày, những ông vua vâng mệnh trời cầm ấn; những vị chúa nối dõi đời mà giữ gìn văn hoá, đều là những bậc đức đã tốt, công lại dày, được lòng trời chiếu cố, nhân dân phục tòng. Tuy nhiên, để bồi đắp cho nền tảng thêm cao, gốc cội thêm vững, vẫn nhờ được họ ngoại giúp công vào.

Người phụ nữ Đồ Sơn sinh ra nhà Hạ (2); người phụ nữ Hữu Sằn tạo ra nhà Thương (3); Khương Hậu, Thái Nhâm gây dựng nên nhà Chu (4), những khuôn mẫu sáng ngời, thực có đã từ lâu vậy. Kìa như Mã Hậu (5) Đặng Hậu (6) đời Hán; Trường Tôn Hoàng Hậu (7) đời Đường; Cao Hậu (8) , Tào Hậu (9) đời Tống đều là những người dìu dắt vua trẻ, vượt bao khó khăn lúc đương thời, công đức thật lớn lao.

Kính nghĩ: Thánh triều ta đội ơn trời giúp, Trinh Từ Hoàng Thái Hậu sinh đặng Thánh Tổ Cao Hoàng Đế; Cung Từ Hoàng Thái Hậu sinh đặng Thần Tông Văn Hoàng Đế; Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu nuôi dưỡng Nhân Tông Tuyên Hoàng Đế khuôn đẹp lời hay, nêu cao trong khoảng trời đất.

Nay bà Quang Thục Trịnh Huệ, Khiêm Tiết, Hoà Xung, Nhân Thánh, Hoàng Thái Hậu nhận được mưu lớn của các thế hệ xa xưa, nối được đức tốt từ nhiều triều đại để lại, sinh đức Thánh Tông Thuần Hoàng Đế, đưa nước nhà lên cảnh thịnh trị. Lớn lao thay! Khí là mẹ thì âm dương thiêng; mặt trăng là mẹ thì huyền tượng sáng; quẻ Khôn là mẹ thì muôn vật nhờ đó sinh ra; Hoàng Thái Hậu là mẹ thì việc cai trị thành công. Thật đúng như câu: “Vòi vọi thay ! Lồng lộng thay ! nhân dân không biết dùng tiếng gì mà xưng hô cho xứng đáng” (10)

Bọn thần kính cẩn xét trong “Thế gia phả điệp”: Hoàng Thái Hậu huý là Ngọc Dao, họ Ngô, quê ở Yên Định, phủ Thiệu Thiên, tỉnh Thanh Hoá.

. Cụ tổ 5 đời, huý Lỗ, là một dòng họ lớn từ đời Trần. Cụ bà huý Quỳnh Khôi, họ Đinh, là Á Quận Chúa, kiêm Bảo Từ Cung Đại Hoàng Bà.

. Cụ tổ 4 đời, huý Tây, được bản triều tặng phong Kiến Tường Hầu. Cụ bà huý Ngọc Luân, họ Đinh, được tặng phong Kiến Tường Quận Phu Nhân.

. Ông nội, huý Kinh, được truy phong Hưng Quận Công. Bà nội, huý Mại, họ Đinh, được tặng phong Hưng Đức Quốc Phu Nhân.

. Bố huý Từ, chức Tuyên phủ sứ, Thái Khánh Công gia tặng Y Quốc Công. Mẹ huý Ngọc Kế, họ Đinh, tặng phong Y Quốc Thái Phu Nhân.

Hoàng Thái Hậu là con gái thứ ba.

. Bà ngoại của Hoàng Thái Hậu, huý Ngọc Huy, họ Trần, là dòng dõi quan Tá thánh Thái sư đời Trần, Chiêu Văn Đại Vương Trần Nhật Duật.

Hoàng Thái Hậu mồ côi mẹ từ thuở nhỏ, được bà mẹ đem về nhà nuôi. Có lần, một bậc dị nhân đi qua, bảo rằng: “Cô bé này về sau sẽ là mẹ thiên hạ”. Nói xong, bỗng biến mất. Đó là điềm tốt.

Chị ruột Hoàng Thái Hậu là bà Ngọc Viên (11) được vào chầu Thái Tổ Cao Hoàng Đế, làm chức Liệt Vinh, cửa nhà lây thơm từ đấy.

Năm thứ ba niên hiệu Thiệu Bình (1436), Thái Hậu 16 tuổi, với tư cách là con nhà lương gia, được tuyển vào cung. Lời nói của Người trở thành lời giáo huấn trong cung, nết na của Người đều hợp với phép tắc lễ độ, thờ bậc trên đúng lễ, đối kẻ dưới có ân, được Thái Tông Văn Hoàng Đế rất mến yêu.

Đầu lòng sinh Thao Quốc trưởng Công Chúa, lại là con gái thứ năm của Văn Hoàng Đế (Lê Thái Tông) rồi sinh Thánh Tông Hoàng Đế tức là con trai thứ tư của Văn Hoàng Đế.

Năm đầu, niên hiệu Đại Bảo (1440), khi được sách phong và đưa vào cung, ấy là chỗ ở của bà Chiêu Nghi họ Lê; bà nghĩ rằng: nay bỗng chốc mình chiếm lấy thì lòng không nỡ; nên hai ba lần từ chối. Vua và các quan đều khen ngợi điều đó.

Thánh Tông Hoàng Đế mới sinh được vài tháng thì Thái Tông Văn Hoàng Đế qua đời. Nhân Tông Hoàng Đế nối ngôi. Thánh Tông Hoàng Đế được phong làm Phiên vương ra ở ngoài dân gian. Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu (vợ Lê Thái Tông) ngự triều, vì Thái Hậu là mẹ của thân vương nên được đặc cách thăng chức, sung viện coi việc phụng thờ ở Thái miếu.

Năm thứ sáu, niên hiệu Diên Ninh (1459) là năm Kỷ Mão, mùa đông tháng 10. Lạng Sơn Vương là Nghi Dân (12) gây biến. Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu và Nhân Tông Hoàng Đế đều bị hại, luân thường sụp đổ, không nỡ kể hết.

Năm sau, Canh Thìn, mùa hạ, tháng sáu các quan đại thần là Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Niệm, Lê Thọ Vực cùng con em các bậc huân thần dẹp được loạn và rước Thánh Tông Hoàng Đế từ nơi ở riêng về nối ngôi lớn, dâng ngọc sách tôn Người làm Hoàng Thái Hậu, rước vào ở điện Thừa Hoa. Ôi! Nơi ở nhà vàng vốn không phải là lòng vua Nghiêu thì mặc lụa thêu rồng đâu phải là ý muốn của mẹ vua Nghiêu!.

Hoàng Thái Hậu đã chính thức ở ngôi đông triều (13) yên hưởng phúc trời rồi, thần minh phò tuổi thọ, chính khí giúp niềm vui, dạy thiên hạ tập thói kiệm cần, khuyên quan gia (nhà vua) giữ lòng khoan hậu. Thánh Tông Hoàng Đế là bậc hùng tài đại lược, thần vũ anh minh, nhưng mỗi lần được Hoàng Thái Hậu dạy bảo điều gì thì ngày đêm kính cẩn tuân theo. Vì thế mà lễ nhạc văn chương rạng rỡ đáng kể, phong cách của kẻ sĩ, lề thói của nhân dân, đều tất cả thay đổi hẳn, trở nên thuần hậu; đều là nhờ sức của Hoàng Thái Hậu vậy.

Năm Bính Thìn (1496) tháng 3, Hoàng Thái Hậu đi lễ lăng về mắc bệnh lị đột ngột và trầm trọng. Ngày 26 tháng nhuận, giờ Hợi mất ở chính tẩm điện Thừa Hoa, tức là năm thứ 27 niên hiệu Hồng Đức. Hưởng thọ 76 tuổi, ở ngôi Hoàng Thái Hậu 37 năm.

Lúc Hoàng Thái Hậu mới bị mệt, Thánh thượng Hoàng Đế (bấy giờ còn là Hoàng Thái tử) (14) ngày đêm chầu hầu, săn sóc không rời, thuốc thang cơm nước, đều tự mình nếm trước. Trong thì khấn vái tổ tiên, ngoài thì đáp ứng sự trông ngóng của quần chúng, thành khẩn cầu nguyện, không còn thiếu đâu. Khi bà sắp tắt nghỉ, Ngài tự xưng tên mình mà gọi, Hoàng Thái Hậu còn ngoái lại nhìn, mở miệng muốn nói, nhưng lời không rõ nữa. Từ việc khâm liệm đến việc phạn hàm, việc gì Ngài cũng xem xét tới nơi, lại tự làm bài văn ai điếu để tỏ lòng thương tiếc. Quàn tại điện 10 tháng; sắp rước về lăng, thì Thánh Tông Hoàng Đế băng hà. Do đó, lễ ma táng chưa cử hành được.

Ngày 6 tháng 2 năm Đinh Tị (1497), năm thứ 28 Hồng Đức, Lê Hiến Tông Hoàng Đế lên ngôi, bèn sai quan coi lễ nghi tiến hành mọi việc, trọng thần dâng sách truy tôn. Đó là theo lễ: Báo ơn suy rộng đến ông bà, đùm bọc khắp cả người thân cận. Lòng thương mến, lễ tống chung, đức đại hiếu của Thánh nhân thât là tột mức.

Đặc biệt cử quan Chưởng Khê Hầu Lê Vĩnh làm Sơn lăng sứ, quan Hữu Đô đốc Lê Quảng Độ làm phó; quan Cẩm Đường bá Trần Thanh Mật làm Tổng hộ sứ, quan Đô Ngự sử Quách Hữu Nghiêm làm phó; định ngày Canh Dần 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ là năm đầu hiệu Cảnh Thống (1498) dời về an táng tại xứ đầm Rắn núi Lam Sơn, cùng táng ở Hữu Lăng (Lăng Lê Thái Tông).

Ban sắc cho bọn thần là Bảo và Xung Xác soạn văn bia Sơn Lăng để nêu rõ ý nghĩa. Bọn thần trộm nghĩ: phép hay đức sáng của Hoàng Thái Hậu soi tỏ trời đất, sắp xếp muôn việc. Bọn thần kém cỏi, quê mùa, đâu có đủ sức để ca ngợi đôi vầng nhật nguyệt và tô điểm trời đất! Nhưng đã vâng chiếu chỉ truyền rõ, đâu dám không kính cẩn chắp tay cúi đầu mà góp thêm vài lời.

Hoàng Thái Hậu sinh ra sẵn có chất ngọc thuần hoà, tính trời cẩn thận, đôn hậu, một niềm cần kiệm, không chuộng xa hoa; thêu thùa việc nữ công, tay không lúc nào rời; mắm muối nơi bếp núc, lại càng rất quan tâm. Ngày thường ở trong nhà vẫn nghiêm trang như đang tiếp khách, khi tiếp xúc với ai cũng tỏ vẻ hoà nhã dịu dàng. Kính trọng tông miếu, phụng thờ quỉ thần, của ngon vật lạ bốn phương dâng lên, bao giờ cũng đem tiến cúng trước, sau mới đưa đến vua dùng. Không làm việc trái lẽ phải, không ở nơi không chính đáng, nghiêm mà không ác, giản dị mà trang nhã lịch sự, cử chỉ thường có lễ độ, ít khi ra khỏi phòng vi. Trong cung đình, kẻ sang người hèn đều gọi người là Phật sống. Khi được vua cung cấp vàng lụa thì đem ban phát cho mọi người xung quanh và giúp đỡ kẻ nghèo khó, hòm tủ thường trống rỗng, không có của cải dành riêng. Duy có lời hay nết tốt của Người thì mọi người đều tai nghe mắt thấy, ơn dày nghĩa nặng của Người thì thấm nhuần da thịt mọi người. Vì vậy cho nên lúc Người chầu trời thì trăm họ như mất cha mẹ. Những người chầu hầu trong cung đình lại càng mến tiếc, bỏ trang sức, mặc đồ tang, ăn cơm rau, cài trâm gỗ, không còn phân biệt trong cung đình hay ngoài dân dã nữa. Có công lao lớn nhất đối với xã tắc là đã nuôi dưỡng, dạy bảo nhà vua từ bé đến lớn, lo xa tính rộng, xử trí mọi việc thích đáng, khiến cho cội gốc nước nhà vững vàng, dòng dõi tông miếu nối tiếp dài lâu.

Đặc biệt khác với người thường là tuổi cao mà tóc không bạc, răng không rụng, mắt không mờ, nhan sắc không kém sút, vẫn tươi đẹp như người trạc tuổi 40. Tuy danh vị sang mà làm việc thiện không biết mỏi, tuổi tác cao mà tinh thần càng sáng suốt. Tính vốn ham học, lại biết làm thơ, mỗi lúc nhàn rỗi lại đem kinh truyện ra dạy bảo đàn cháu nhỏ. Ngọc thể bất an, phải nằm giường bệnh hơn một tháng mà không hề có tiếng kêu rên xuýt xoa. Khi mất rồi, năm ngày mới liệm, đúng giữa mùa nóng mà tuyệt nhiên không có mùi hôi hám. Há chẳng phải là vị Tiên thoát xác về Thần đó ư? Hoàng Thái Hậu bình sinh mộ đạo Phật, càng già càng chăm, cho nên lúc chết được báo đáp như vậy.

Than ôi! Trời sắp dấy lên một cuộc thịnh vượng phi thường, nhất định phải mở ra một vận hội phi thường; sắp gieo xuống một nhiệm vụ phi thường nhất định phải sinh ra một con người phi thường. Còn bổng lộc, địa vị, danh tiếng, tuổi thọ đều là sự báo đáp tự nhiên của kẻ có đức lớn.

Xem như nhà này: nhiều đời nhân đức, phúc dày tích luỹ, mới sinh được Hoàng Thái Hậu. Cơ trời tác hợp, đức hoá bốn phương, mới sánh duyên với Lê Thái Tông. Thánh Tông Hoàng Đế sở dĩ có được tư chất bậc thượng thánh, làm nên sự nghiệp Trung hưng là nhờ sự giáo huấn từ thiện của Hoàng Thái Hậu.

Như vậy, đối với Thái Tông thì có công chăm lo giúp đỡ, đối với Thánh Tông thì có công sinh dưỡng cù lao, đối với Thánh Thượng (Hiến Tông) thì tận tình mến thương. Đức sánh với Trời Đất, công rạng rỡ tam thánh (Thái Tông, Thánh Tông, Hiến Tông), xứng đáng là hàng đầu các vị Hoàng Hậu nước Đại Việt. Tốt thay! Đẹp thay!

Huống gì còn có: đàn cháu quây quần dưới gối, chia bùi xẻ ngọt thêm thiết tha; họ hàng xum vầy trước mắt, trong ấm ngoài êm càng đằm thắm. Thật xứng đáng với ba chục năm ngôi báu; Ngoài bảy mươi tuổi trời, chín châu (15) cung dưỡng, năm phúc (16) vẹn toàn, hàng chắt, hàng chút cũng đã đông đúc. Dầu đức tính hoà nhã như thơ Quan thư (17) , siêng năng cần kiệm như thơ Cát đàm (18) , đông con nhiều cháu như thơ Chung tư (19) , dòng họ nhân hậu như thơ Lân chỉ (20) , phúc lộc lâu dài như thơ Cù mộc (21) đem so với Người, nào có hơn gì?

Xây lăng phải có bia, nêu rõ đức tính phải có bài minh, cốt để ghi đúng sự thật, cần gì chải chuốt lời văn.

Bọn thần nhỏ bé trộm xem lời Ai điếu của Thánh thượng, dựa theo ý nghĩa thơ Tư tề (22) ở thiên Đại nhã, ghi vào tấm đá để truyền lại dài lâu:

Đế vương vâng mệnh trời,
Ngự ngôi cao quẻ Càn,
Nối đức sáng quẻ Ly,
Nội trị càng tốt đẹp,
Công nghiệp vượt một thì,
Là nhờ cả họ ngoại,
Đắc lực giúp bất kỳ.
Đẹp thay! Vua nước Việt,
Từ miền tây gây dựng,
Được thần truyền, thánh nối,
Trời giúp và người theo,
Phúc quả từ ba vị,
Hoà nhu đời thấm đượm.
Cao thay! Hoàng Thái Hậu,
Đức sáng giọi đời sau,
Như áng trăng soi khắp,
Tựa khí lành bên hiên,
Hun đúc vẻ vang nhà,
Báo đáp thực rõ ràng,
Ơn nhuần như ngọc tốt.
Đôn hậu vốn tính trời,
Giải lụa hồng trúng tuyển (23) ,
Quản bút son tiếp rạng (24).
Khi vào nơi Hữu miếu (25),
Đức chẳng kém Nguyên phi.
Sinh ra Bình Nguyên Vương, (26)
Nghiệp sánh bậc thánh xưa,
Chính thức lên ngôi vị,
Dù chẳng mơ nhà vàng,
Vì lòng người nhất trí,
Mệnh trời đâu dám sai.
Vinh quang Hoàng Thái Hậu,
Mẫu nghi thiên hạ ấy,
Lòng nhân trùm mọi vật,
Trị nước góp phần xây,
Ngang bà Nhâm, bà Tự, (27)
Sánh bà Sằn, bà Vi. (28)
Tính thường quen cần kiệm,
Đức lại sẵn khiêm nhường,
Tiền tài hay bố thí,
Việc thiện sá nhọc nhằn,
Lễ độ luôn tuân thủ.
Khuê phòng ít khi ra,
Con cháu vui đầy nhà,
Họ hàng hết lời ca,
Triều chính không can dự,
Chức tước chẳng vị thân.
Thường răn bảo tôi đòi,
Không dùng hàng lụa quý,
Công lao hơn Nữ Oa, (29)
Ngậm kẹo (30) tình bao la.
Lời hay cùng nết tốt,
Ai người là chẳng biết.
Hiếu thảo với tổ tiên,
Thành kính với Thánh thần.
Thức ngon dâng cúng trước,
Thường nhật vẫn nghiêm trang.
Kính cẩn nhưng không nhàm,
Tin thần, không cầu khấn.
Được thần minh phù hộ,
Nên phúc lộc dài lâu,
Thảnh thơi ngôi Hoàng Hậu.
Thọ như sao Nam cực,
Từ hiếu với ba cung,
Vui hoà khắp tám cõi.
Tuổi hạc ngày thêm cao,
Mặt hoa càng tươi tắn.
Dầu đức cả ngôi cao,
Vẫn điềm đạm hài hoà.
Ghét thói đời ô trọc,
Giác ngộ đạo Hư vô.
Cánh hạc nhẹ lên trời,
Ngựa tiêu phi khuất bóng.
Gió lay màn trắng lạnh,
Mưa thấm trướng hồng phai.
Buồng lan nức hơi hương,
Điện quế ngời vẽ sáng.
Lăng miếu chữa xây xong,
Tang tóc đâu dồn đến.
Bốn bề im nhã nhạc,
Muôn loài đượm bi ai.
Lồng lộng Thánh nối dòng,
Noi theo đạo trời trước,
Giữ lễ thường tổ tông.
Xem Thái bốc bói rùa,
Nêu đức tốt tên thụy.
Dâng kim sách suy tôn,
Giờ tốt đà chọn được.
Định ngày rước về lăng,
Lễ tế ở thềm vàng,
Phẩy bụi trên quan ngọc.
Xe tang đà chực sẵn,
Lọng rồng đã rủ che.
Vua mang vải xô trắng,
Nữ quan chầu xe tang.
Man mác trời mây bạc,
Đồ tang trắng hơi sương.
Chốn tuyền đài khép kín,
Động phủ xuân đã dời.
Bóng son thôi chẳng thấy,
Luống trông nếp dáng Người.
Trời Tây, non đứng sững,
Bể Đông, nước cuộn dòng.
Xà đàm, nơi cát địa,
Đôi hạc chắp cánh bay (31)
Cầu thần núi phù trì,
Mong thần sông phù trợ.
Nấm mồ sâu thăm thẳm,
Tấm bia lớn chênh vênh.
Thịnh đức rộng mênh mông,
Thành công cao vòi vọi.
Trên có trời cao soi,
Dưới có đất dầy xét.
Dù sách chép, bút ghi.
Như ngao đong nước biển,
Như ống nhòm lốt beo
Bút lực kẻ tiểu thần,
Sao đủ lời tán tụng.
Khắc đá dựng bên núi,
Sơ qua được thế thôi.
Kiếp người là vô tận,
Nơi đây chính khuôn mẫu!

Thần: NGUYỄN BẢO. Lễ bộ Hữu thị lang Đạt tín đại phu, kiêm Hàn Lâm viện thị độc, Chưởng Hàn Lâm viện sự.

Thần: NGUYỄN XUNG XÁC. Đại tín đại phu kiêm Hàn lâm viện thị độc, Tham chưởng Hàn Lâm viện sự.

Vâng lệnh soạn.

Dựng ngày Canh dần, 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ năm đầu hiệu Cảnh Thống (1498).

Thần: BÙI SĨ NHO. Cẩn sự lang, Trung thư giám chính tự viết.

Thần: NGUYỄN NHÂN HUỆ. Mậu lâm lang, kim quang môn đãi chiếu, vẽ triện.

Thần: HOÀNG (32) ... Tiến công lang, khí giới dinh tạo sở Ngọc thạch tượng, tượng phó, khắc.

CHÚ THÍCH

1. Bà chính là mẹ của Lê Thánh Tông.

2. Người phụ nữ Đồ Sơn: đây chỉ vợ vua Vũ, Trung Quốc.

3. Người phụ nữ Hữu Sằn: vợ vua Thang.

4. Khương Hậu: vợ Thái Vương nhà Chu; Thái Nhâm: vợ Vương Quí, mẹ của Văn Vương nhà Chu.

5. Mã Hậu: vợ Hán Minh Đế, con gái Mã Viện.

6. Đặng Hậu: nhiếp chính 2 đời vua Dưỡng Đế và An Đế đời Đông Hán, có nhiều chính sách tốt.

7. Trường Tôn Hoàng Hậu: vợ Đường Thái Tông, từng can chồng đừng giết Ngụy Trưng, một bề tôi ngay thẳng.

8. Cao Hậu: Tuyên Nhân Hoàng Thái Hậu, vợ Tống Thần Tông. Bà nhiếp chính, truất “tân pháp” Vương An Thạch, vời Tư Mã Quang làm tướng.

9. Tào Hậu: Vợ Tống Nhân Tông. Bà cũng từng nhiếp chính.

10. Câu sách Luận ngữ, nguyên văn là “Nguy nguy hồ! dâng dâng hồ! Dân vô đắc nhi xưng yên”, nội dung ca ngợi vua Nghiêu.

11. Theo Đại Việt thông sử của Lê Quí Đôn: bà tên là Xuân, được vào hầu Thái Tông.

12. Nghi dân: con trưởng của Lê Thái Tông, mẹ là Dương Thị Bí. Vì mẹ cậy thế kiêu căng, bị giáng làm Chiêu Nghi. Đã không sửa lỗi mà còn hằn học nên Nghi Dân không được làm vua, bèn cùng Phạm Đồn, Phạm Ban, Lê Đắc Ninh giết vua...

13. Đông Triều: Ngôi Hoàng Hậu.

14. Thánh thượng Hoàng Đế: Lê Hiến Tông.

15. Chín châu: ý nói cả nước.

16. Năm phúc: giàu, sang, sống lâu, khỏe mạnh, yên ổn.

17. Quan thư: thơ trong Kinh thi, ca ngợi người con gái hiền đức.

18. Cát đàm: thơ trong Kinh thi, ca ngợi người phụ nữ chăm nữ công, cắt giây sắn, xe tơ, dệt vải mà mặc.

19. Chung tư: lời người vợ lẽ ca ngợi bà Hậu phi không ghen tuông.

20. Lân chỉ: ca ngợi Hậu phi nhân hậu nên con cái cũng thế.

21. Cù mộc: ca ngợi Hậu phi như cây co làm chỗ dựa cho người khác.

22. Tư tề: thơ Kinh Thi, ca ngợi Văn Vương nhờ có mẹ hiền nên con giỏi.

23. Ý nói được vua kén chọn vào cung.

24. Quản bút son của Sử quan ở nội cung ghi chép.

25. Hữu miếu: chỉ Lê Thái Tông.

26. Tước phong đầu tiên của Lê Tư Thành.

27. Thái Nhâm mẹ Văn Vương nhà Chu, bà Tự là vợ Văn Vương.

28. Bà Sằn vợ Hán Vũ Đế người nước Hữu Sằn, bà Vi vợ vua Thuấn người nước Vi.

29. Nữ Oa: Nhân vật thần thoại Trung Quốc, từng luyện đá vá trời.

30. Điển trong Hậu Hán thư: Mã Thái Hậu ngậm kẹo đùa với cháu, không can thiệp đến chính trị.

31. Ý nói Hoàng Thái Hậu được án táng cùng một nơi liền với lăng Lê Thái Tông.

32. Chữ bị mờ, không đọc được.

TB

CAI VÀNG TÂN TRUYỆN

TRƯƠNG CHÍNH
ĐINH XUÂN LÂM

Cuộc khởi nghĩa năm 1862 do Nguyễn Văn Thịnh (tục danh Cai Vàng, vì ông làm Cai tổng Hoàng Văn - tức tổng Vàng - huyện Hiệp Hoà - tỉnh Bắc Giang cũ) cầm đầu, là một cuộc khởi nghĩa rộng lớn, đã huy động đông đảo nông dân nghèo ngoài Bắc tham gia. Phong trào đã được văn học dân gian thời đó phản ánh kịp thời và vô cùng sinh động qua Truyện Cai Vàng, Vè Cai Vàng, Vè vợ ba Cai Vàng trước đây đã được công bố.

Sau đây xin giới thiệu Cai Vàng tân truyện phiên âm theo bản Nôm hiện lưu trữ tại Thư viện Viện Sử học, kí hiệu HV.304. Truyện có 9 tờ, bản khắc gỗ, tiếc rằng mất tờ đầu. So với các truyện và bài vè về Cai Vàng và bà vợ ba đã được công bố thì Cai Vàng tân truyện cho biết thêm nhiều chi tiết xung quanh cuộc khởi nghĩa. Như về lý do cuộc khởi nghĩa bùng nổ, về diễn biến cuộc khởi nghĩa, cũng như về tai trí của bà vợ Cai Vàng v.v…

(…………………)
Tức thì thẳng đến lại nha (1)
Lúc vào yết lễ, lúc ra khai tờ.
Rằng: “Tôi chấp chính(2) đến giờ.
Bao nhiêu công việc liệu lo đêm ngày.
Một lòng công chính thảo ngay (3),
Mà ai vu kiện việc này cho tôi?
Cao minh xin tỏ đèn trời (4),
Tra người vu cáo, hỏi người oan khiên “ (5)
Phủ quan nghe nói đảo điên,
Quở rằng: “Lạm phép cấm quyền cướp dân.
Sao không sợ có quỷ thần,
Mà mày dám nói những phần khi vu (6)
Trước là tam bổ, lạm thu (7),
Sau là chẳng sợ phép vua ăn càn.
Đơn nguyên (8) khai đã tỏ tường,
Mà mày lại dám những đường ngược xuôi.
Phép công cú chiếu luật trời (9),
Hãy cho các chức hứa hồi sinh dần.
Phủ quan phán bảo ân cần,
Tức thì lui bước vào sân hậu đường.
Giận thay cho Cai tổng Vàng,
Nỗi dân vu cáo, nỗi quan lại càn.
Bấy giờ tức giận ngổn ngang,
Chiêu binh mãi mã mở đường uy phong.
Khen cho đương sức anh hùng,
Muôn binh ngàn tướng đùng đùng một phương.
Trong mình có ngọc kim cương,
Nửa năm vùng vẫy một phương ải Tần (10)
Uy phong lẫm liệt phương dân,
Phủ quan nghe tiếng mười phương kinh hoàng.
Chỉnh tề binh mã vội vàng,
Giáp công quyết hẳn một đường giao binh.
Hai bên đơng lúc chiến tranh,
Kẻ hay võ nghệ, người rành đao cung.
Cai vàng ra sức anh hùng
Phủ binh khi đã, đều cùng triệt lui.
Quân binh đóng chặt phương trời,
Phủ quan thua chạy vào nơi thành trì.
Chiến tranh mấy trận binh uy,
Được thua mấy độ doanh khuy mấy lần.
Phủ quan mấy độ vỗ dân (11),
Sai quân phi báo tờ thân triều đường (12).
Lạ thay cho Cai tổng Vàng !
Bấy giờ quyết hẳn một đường tiến binh.
Binh uy đạp đổ ba thành (13),
Quan quân mấy độ tan tành thịt xương.
Những toan tranh bá đồ vương (14),
Tín nghi còn vẫn hai đường nên chăng?
Bèn đòi ba ả tiểu phi (15),
Nên chăng khá nói một bề ta nghe!
Một là tiến phá thành trì,
Hai là quy thuận thời bề nào hơn?
Ba em khá noi tỏ tường,
Để cho anh được khỏi đường hồ nghi”.
Nàng Cả thưa nói tức thì:
“Thiếp xin trình nói chàng thì phải nghe.
Làm cho ngựa cưỡi tàn che (16)
Thiếu chi chức trọng thiếu gì quan sang.
Chẳng tham gấm vóc bạc vàng,
Can gì mà phải làm đường nghịch hung?
Làm người tiết liệu hiếu trung,
Ắt là trời chẳng phụ lòng ai đâu!
Nghìn năm để tiếng về sau,
Hoàng Sào, Vương mãng khen đâu bây giờ (17)?
Cừ trong bụng thiếp dạy thưa,
Dám xin quyết đoán rộng thương xét cùng”.
Chàng nghe nàng nói mấy lời,
Cười rằng: “Đã vậy, còn thời nàng Hai?
Phân minh đích xác một lời
Để ta suy lại xem bài (18) nào hơn?”
Nàng rằng: Muôn đội ơn trên,
Rộng cho thiếp được thưa lên một lời.
Hai tôi như thể một người,
Chị tôi thưa thế tôi thời xin nghe!
Chàng rằng: “Hai ả một bề,
Còn nàng Ba khá bày suy cho tường”
Thưa rằng: “Thuận nghịch đôi đường,
Cứ hai chị nói rõ ràng chẳng sai.
Nhưng mà đương sức anh tài,
Có trời cũng phải có người mới xong.
Làm trai chí ở tang bồng (19),
Hễ mà có chí, có công lo gì!
Sao cho phỉ chí nam nhi,
Công danh đắc táng (20) làm chi cuộc đời!
Dưới đời mấy mặt anh tài,
Một mình đứng giữa trần ai mới hùng!
Trước cho thiên hạ theo lòng,
Sao cho biết sức anh hùng tài cao.
Cát đằng (21) xót phận má đào,
Bên màn dưới trướng thương yêu dám nài.
Thiếp dù ngu dại bất tài,
Chàng đi thiếp cũng quyết bài xin theo”.
Chàng nghe nàng nói đến điều,
Cười rằng: “Tri kỷ (22) bấy nhiêu mấy người?
Ta nghe nàng nói mấy lời,
Thật là đáng bậc anh tài nữ trung (23)!”
Ban cho bảo kiếm nhất song,
Dưới màn trên ngựa quân trung theo đòi,.
Kíp truyền quân sĩ tức thời,
Khi đóng phủ Mộc, khi dời phủ Xuân (24)
Uy phong lẫm liệt tam quân,
Cõi Hồ (25) vấy đục, ải Tần quấy tan.
Tiếng đồn dậy cả Bắc Kinh (26),
Ai ai nghe thấy hồn kinh phách rời.
Có quan thống chế cõi ngoài,
Trần Công tên gọi đáng tài kinh luân.
Lãng binh ba vạn hùng quân,
Rắp tan yên loạn cứu dân tức thì,
Mã binh (27) giao chiến đến kỳ,
Binh nào tướng ấy hai bề giáp công.
Trần binh quân đã bại phong (28),
Hoàn kinh thân tấu cửu trùng ngự hay (29).
Thánh hoàng (30) nổi trận lôi đình,
“Cai Vàng máy dám tung hoành thế kia!
Lãnh binh thập vạn binh uy,
Cứu dân thủy hỏa (31) dẹp bề hôi tanh!”
Lãnh binh vâng lệnh khởi hành,
Ba ngày quân đến Bắc Kinh bây giờ.
Đóng đồn giữ ải vừa rồi,
Sai quân hạ chiến đến nơi Cai Vàng.
Cai Vàng bèn đề binh (32) sang,
Giáp công mấy trận, chiến hàng mấy phen.
Ba quân mạo pháo xung tên (33),
Bên khoe vũ dũng, bên khoe anh hùng.
Lãnh binh giả cách bại phong,
Kéo quân mai phục một vùng thua lui.
Cai Vàng theo đến tận nơi,
Vừa thời pháo nổ vừa thời gươm ra.
Sai vây đòi vợ thứ ba,
Giải vây nàng mới đi ra cứu chồng.
Vội vàng ra sức xung phong,
Bốn bề binh mã đều cũng rã tan.
Lãnh binh quân đã phản hoàn (34),
Đong thành dưỡng sĩ (35) luận bàn mưu cơ.
Cai Vàng tự độ bị vi (36),
Có tên bộ hạ tức thì đòi ra.
Rằng: “Từ mày đi theo ta,
Công đà chẳng có, tội đà lắm thay!
Bị vây mới lúc trước ngày,
Phân cơ mày đã bỏ thầy mày lui.
Phạt tiên (37) đánh năm mươi roi,
Từ nay mày khá kiếm nơi ăn làm.
Lạ thay cho dạ kẻ gian,
Bạn thần, phản chủ, nó làm nội công (38)
Bấy giờ tức giận hãi hùng,
Đầu hàng nó quyết một lòng tố mưu.
Rằng: “Tôi đầy tớ Cai Vàng,
Biết rằng chàng có kim cương trong mình.
Dẫu vào kiếm giáo đao binh,
Gươm đành chẳng đến, đạn đành chẳng thương (39)
Muốn cho phá ngọc kim cương,
Nghe tôi ông đúc đạn vàng một thoi”.
Lãnh binh nghe cứ như lời,
Sai người đúc đạn, sai người đẽo cung.
Đợi chờ đến lúc giao công,
Sai quân mai phục nỏ cung bắn liền.
Cai vàng thấy sự tự nhiên,
Bên vai đã thấy có tin đạn vàng (40).
Trong mình nghe đã bị thương,
Vội vàng phóng ngựa buông cương trở về.
Vợ chồng chưa kịp dã dề,
Anh hùng khí đã đi về cửu nguyên (41)
Than ôi thành bại tại thiên (42)
Những tuồng phản bạn khôn nên cơ đồ,
Bá vương những chắc hẹn hò,
Mấy năm bể Sở, sông Ngô tung hoành.
Xiết bao tướng dũng binh tinh,
Sa cơ một phút tan tành thịt xương.
Nỗi nàng Ba lại thêm thương,
Khóc than vật vã sự nàng đầu đuôi:
“Rằng sao phận bạc như vôi,
Chàng ôi xét hết nỗi tôi chăng chàng?
Cơ đồ chừa kịp mở mang,
Non Tần, sông Việt (44) chia đường hợp tan!
Sống thời nhục, chết thời oan,
Nói càng thêm thẹn, khóc càng thêm thương.
Đã hay rằng cuộc tang thương,
Trăm năm như thể mộng trường (45) khác chi!
Phút đâu hợp, phút đâu ly,
Chàng đi thiếp cũng xin đi với chàng!
Thù này nay vẫn còn mang,
Phen này quyết trả cho chàng mới thôi!”
Lệnh truyền quân sĩ tức thời,
Nghiêm trang binh mã ra nơi cửa thành.
Mã binh hiệu lệnh tập tành,
Kẻ dành dũng sĩ, kẻ dành tài cao.
Lãnh binh đại chấn binh uy,
Cậy cường cậy vũ ai bì được đâu?
Xuất binh ra trước trận đầu,
Những hầu bắt sống những hầu giết ngay.
Ai hay một phút rời tay,
Bị cầm quân nó điệu ngay vào thành.
Người trí dung, kẻ anh linh
Uy danh còn có uy danh nào tày?
Truyền đem hương án sẵn bày,
Tẩm dầu Phó lãnh (46) để dây đốt đèn.
Truyền làm văn tế đưa lên,
Ba tuần điện tế mấy phen báo thù.
Vậy có văn rằng:
Than ôi! trí dũng hơn người, anh hùng dương sức,
Mười mấy năm cõi trời ngang dọc, sông bể tung hoành,
Dư trăm trận lực chiến thân binh, xông thành phá lũy.
Kể sự nghiệp đã đáng tài anh sĩ, kẻ nam nhi đã phỉ chí tang bồng.
Ngôi bá vương mong nối nghiệp hưng long, cuộc thành bại chẳng quản cùng thương hải (47)
Thiếp với chàng đã trọn nguyền ân ái, dám nại gian nan.
Thương vì ai ngọc nát gương tan, hoa tàn nguyệt khuyết,
Tủi đến nỗi hợp tan ly biệt, kẻ Việt người Hồ,
Ba thước gươm mong gây dựng cơ đồ, ngôi phúc lộc những hẹn hò tạo hoá!
Phút đâu đã phai vàng đổ đá, hoa rã mây tan,
Thù đã trả, oan đã đền, trách thân thiếp vô duyên phận bạc!
Nay đã lấy đầu Phó lãnh, cẩn thiết hương bày.
Thượng hưởng.
Tế rồi giải giáp tan quân,
Mây tan hạc lánh, muôn dân thái hoà (48)
Thiên tử vạn niên.

CHÚ THÍCH

(1). Tờ đầu bị mất, tờ thứ hai bắt đầu từ đây.

(2). Cầm quyền

(3). Một lòng ngay thẳng, công bằng chính trực.

(4). Đèn trời soi xét, chỉ sự phá xét sáng suốt của nhà vua.

(5). Oan ức bị ép buộc

(6). Lừa dối, vu cáo

(7). Phân bổ và thu thuế quá mức

(8). Lá đơn kiện của bên nguyên

(9). Pháp luật của nhà vua

(10). Tần là tên của một nước Trung Quốc xưa. Ải là một vùng đất hiểm trở. Đây ý nói là nổi dậy chiếm đóng một vùng xa xôi hiểm trở, chống lại triều đình.

(11). Vỗ về dân chúng

(12). Triều đình

(13). Quân của Cai Vàng chiếm ba phủ thành là Lạng Giang, Yên Dũng, Thuận Thành.

(14). Tranh giành quyền lực.

(15). Ba người vợ nhỏ.

(16). Vinh hoa phú quý, đi có ngựa cưỡi và có lọng tàn che.

(17). Hoàng Sào, Vương Mãng là hai thủ lĩnh nông dân trong lịch sử Trung Quốc.

(18). Cách nào.

(19). Cây cung làm bằng gỗ dâu và mũi tên làm bằng cỏ bồng. Ý nói làm trai phải bay nhảy bốn phương.

(20). Được hay mất.

(21). Hai loại dây leo, ý nói người vợ luôn luôn phụ thuộc vào chồng.

(22). Người bạn chí thiết, hiểu hết lòng dạ nhau.

(23). Trong đám phụ nữ.

(24). Phủ Mộc tức huyện Yên Thế; Phủ Xuân tức huyện Xuân Trường.

(25). Người Trung Hoa trước kia chỉ chung các dân tộc phía Bắc là rợ Hồ.

(26). Tỉnh thành Bắc Ninh, trấn Kinh Bắc xưa gồm Bắc Giang và Bắc Ninh, đến năm 1822 đời Minh Mạng đổi thành thị trấn Bắc Ninh.

(27). Quân cưỡi ngựa.

(28). Bị đánh thua.

(29). Về Kinh trực tiếp tâu cho nhà vua biết.

(30). Nhà vua.

(31). Nước lửa, chỉ cảnh chiến tranh.

(32). Cử binh, đưa quân sang.

(33). Xông pha dưới làn đạn mũi tên.

(34). Quay trở lại.

(35). Nuôi dưỡng quân sĩ.

(36). Bị vây.

(37). Phạt tội đánh bằng gậy.

(38). Làm người tôi phản phúc, làm người tớ phản chủ, làm tay sai ngầm bên trong.

(39). Gây thương tích.

(40). Trúng đạn.

(41). Chín suối, ý nói chết trận.

(42). Tại trời, do trời quyết định.

(43). Bể Sở sông Ngô, Sở và Ngô là hai nước xưa của Trung Quốc. Ý nói vùng vẫy ngang dọc.

(44). Tần và Việt là hai nước của Trung Hoa xưa ở cách xa nhau.

(45). Giấc mộng dài.

(46). Nghĩa quân bắt sống tên Phó lãnh binh tên là Vũ Tảo về tẩm dầu đốt để tế Cai Vàng.

(47). Biển xanh, ý nói ruộng dâu biến thành biển xanh, chỉ sự biến đổi của tạo hóa.

(48). Rất yên ổn không còn loạn lạc.

TB

MỘT CUỐN SÁCH ĐỒNG ĐỀ NĂM HỒNG ĐỨC 3 (1772) Ở ĐỀN CẦU KHÔNG (NAM HÀ)

NGUYỄN HỮU MÙI

Cầu Không hiện nay là chiếc cầu bê tông bắc qua sông Long Xuyên dài khoảng 15m, rộng 6m, trên trục đường 62 nối giữa thôn Phú Khê và Văn An của xã Bắc Lý huyện Lý Nhân tỉnh Nam Hà. Trong dịp về sưu tầm tư liệu Hán Nôm vừa qua, chúng tôi đã được các cụ thôn Văn An cho biết vào thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497), chính địa điểm này đã bắc một chiếc cầu gỗ có qui mô rất lớn, gồm 21 gian, trên có mái lợp và giữa cầu có ngôi đền nhỏ. Trong ngôi đền này có 2 tấm đồng khắc chữ Hán. Các cụ còn cho biết thêm, đến năm 1951 thì chiếc cầu gỗ này đổ nát hoàn toàn. Những năm 1980 – 1981, những người làm chiếc cầu bê tông trên còn đào được những cọc gỗ cũ của cầu. Còn 2 bản lá đồng có khắc chữ Hán mà dưới đây chúng tôi sẽ đề cập đến là do các cụ cho xem và in được nguyên vẹn(1) .

Qua xem xét, chúng tôi thấy đây là một cuốn sách đồng được xâu ghép lại bởi 4 lỗ thủng tròn ở gáy của mỗi tấm. Sách cân nặng 6,5 kg, khổ rất lớn 45 x 18,5 cm, dày 0,5 cm. Mặt trước và mặt sau của mỗi đều khắc chữ Hán. Sách không đánh số trang, nhưng căn cứ vào nội dung, ta vẫn biết được số trang của nó. Trang 1 (ảnh 1) được trang trí theo hình kỷ hà, 4 góc là hoa văn hình sóng nước. Gần chính giữa có 4 chữ “Khâm ban đồng bài”, đều là đúc nổi. Trang 2 (ảnh 2) là phần bài văn “Cầu Không từ ký”. Trang 3 (ảnh 3) là phần tiếp theo của bài văn. Trang 4 (ảnh 4), trang trí giống như trang 1 nhưng phần chữ dòng niên đại Thời Hồng Đức tam niên tam nguyệt sơ lục nhật được khắc chìm.

Toàn bộ văn bản có 527 chữ Hán và 2 chữ Nôm Cửa Ngòi @@@ phân bố trên 23 dòng. Dòng nhiều có 37 chữ, dòng ít có 1 chữ, không thấy chữ kiêng huý. Chữ được khắc chìm, chân phương và chưa bị mờ mòn mất chữ. Hiện tại, 2 tấm đồng này có màu vàng nhạt (màu đồng thau). Những vết nứt nông, dạng chân chim đã lộ rõ ở mặt trước và mặt sau của mỗi bản.

Sau đây là phần văn bản.

I – Phiên âm:

Khâm ban đồng bài

Cầu Không từ ký.

Hoàng thượng ngự chế viết: Cái văn, trừ hung, dương vĩ liệt, Vũ Ninh sơn chi hiển tích y tồn; hộ quốc, tập hồng huân, Như Nguyệt thuỷ chi linh thanh uyển tại. Thần công hách hách, đoan tự khả kê. Trẫm ngưỡng thừa thiên hưu, nhập kế đại thống, duy thiết nội tu nhi bảo trị, khẳng cầu viễn lược dĩ cùng binh. Nãi xuẩn nhĩ Chiêm Thành bằng lăng ngoại cảnh, để hư đầu khích, tiềm ô hợp chi binh, hô lữ hội thù,cảm sính cẩu du chi thái. Tằng luỹ hữu biên thư chi cấp, ninh khả khoan tiến thảo chi sư?

Viên ư Canh Dần niên thập nhất nguyệt sơ lục nhật, Trẫm thân suất đại quân tiễu trừ Chiêm khấu. Chí bát nhật, Trẫm long chu tài đáo Nam Xang địa đầu Long Xuyên khẩu bạc túc. Thị dạ, mộng kiến nhất tướng, thủ chấp hoàng kỳ, lưỡng túc phân lập lưỡng giang ngạn. Thỉnh mệnh hỗ tòng tán trợ uy vũ. Kỳ Ô hải ba trừng nhi hậu dĩ. Tài nhân mộng giác, mặc hội giang trung hữu dực vận linh thần. Tức khiển Lại bộ Thượng thư Nguyễn Như Đổ tòng y giang ngạn, kinh hành nghiệm thực. Tu du, hồi tấu vị kinh quá Cầu Không địa diện, hữu thị, hữu giang, giang hữu nhất kiều, trung hữu linh từ, yết hoàng chỉ kỳ. Phụng sự nãi mệnh quan trí tế kỳ đảo. Tiện thủ giá hoàng kỳ yết tại ngự chu. Khoa hải, lâm giang nhược lý bình địa. Nhập Sa Kỳ, xuất Tân Áp. Huy thử kỳ nhi thiếp hải, điềm phong. Phá Thi Nại, công Đồ Bàn. Chỉ thử kỳ nhi tồi cô lạp hủ. Trà Toàn tựu phọc. Ngự giá ngôn hoàn phương. Nghiệm y linh thần, thực hữu phụ quốc công cao anh linh chi đệ nhất dã.

Tân Mão niên bát nguyệt nhật, mệnh chuyết thủ Hoan Châu thiết mộc kiều, tải hồi giá tác kiều. Thượng trùng tu miếu vũ. Kim bích oánh hoàng dĩ cung tuế thời hưởng tự. Kim chương tải hoán, bao phong Thượng đẳng tối linh thần. Xuân tế, chuẩn ban thức biểu, huân danh chiêu tự điển. Kỳ đặc ban tế tự, tạo lệ hương hoả. Các điều cụ liệt vu tả vĩnh thuỳ ức vạn niên chi bất hủ. Viên liệt sự tích thuyên vu đồng dĩ trường minh ư thế vân!

Kê:

- Nhất điều: Hệ đệ niên xuân tế, chuẩn ban quan tiền nhị thập quan phó phủ, nha lĩnh phát. Tạo lệ dân biện lễ. Kỳ tế nhật, phủ, huyện viên khâm phụng hành lễ.

- Nhất điều: Chuẩn ban Lỵ Nhân phủ Nam Xang huyện An Triền xã Kiều Không thôn; Tế Huyên xã Cửa Ngòi thôn; Văn Xá xã Quan Đoài thôn hợp vi Cầu Không đình, tam thôn đồng phụng tự. Chuẩn tạo lệ sái phu tam thập suất.

- Nhất điều: Chuẩn tứ y tam thôn đồng chiếu thu Cầu Không bản thị các toà thương liệt tứ, hương tiền dĩ cung phụng tự.

Thời Hồng Đức tam niên tam nguyệt sơ lục nhật.

II. Dịch nghĩa:

Khâm đúc đồng bài

Bài ký Đền Cầu Không

Hoàng thượng ngự chế rằng: Từng nghe, trừ ác, gây công nghiệp lớn, núi Vũ Ninh tích sáng còn kia; giúp nước, góp nhiều công lao, sông Như Nguyệt dấu thiêng vẫn đó. Công thần hiển hách, đầu mối rõ ràng. Trẫm kính hưởng ơn trời, vào nối đại thống (2) , chỉ mong bên trong sửa sang nội trị, có muốn đâu hiếu chiển xâm lăng. Thế mà bọn Chiêm Thành ngu xuẩn kia hung hăng ngoài cõi, chúng nhòm sơ hở, ngầm tụ quân ô hợp, chúng kêu đồng bọn, dám dở trò cắn trộm. Đã nhiều lần thư ở biên thuỳ cấp báo, sao có thể trì hoãn đội quân tiến đánh?

Vào ngày 6 tháng 11 năm Canh Dần (1470) trẫm thân xuất đại quân tiễu trừ Chiêm Thành. Đến ngày 8, thuyền rồng của trẫm mới dừng lại ở cửa Long Xuyên thuộc địa đầu huyện Nam Xang. Đêm ấy, trẫm mộng thấy một vị tướng, tay cầm cờ vàng, hai chân (thần), một chân đứng bên tả ngạn, một chân đứng bên hữu ngạn sông, xin được theo để hỗ trợ uy vũ. Cho tới khi biển Ô sóng lặng mới thôi. Nhân khi tỉnh mộng, mới biết sông này có vị Dực vận linh thần. Bèn sai Lại bộ Thượng thư Nguyễn Như Đổ (3) theo bờ sông này, xem xét sự thực. Trong chốc lát trở về, tâu rằng đã qua địa đầu Cầu Không, có chợ, có sông, trên sông có một chiếc cầu, giữa cầu có đền thiêng, treo thờ cờ giấy vàng. Bèn sai quan đến đó cầu đảo. Nhân đó lấy chiếc cờ vàng này treo ở thuyền rồng. Thuyền rẽ biển, vào sông như đi trên đất liền. Vào cửa Sa Kỳ (4) ra Tân Áp (5) . Phất cờ này thì biển yên, gió lặng. Phá đồn Thi Nại (6) , đánh thành Đồ Bàn (7) . Trà Toàn (8) bị bắt. Xa giá vua thắng lợi trở về. Quả là do ứng nghiệm của vị thần này, thực giúp công lao hạng nhất.

Một ngày tháng 8 năm Tân Mão (1471), ban phép được lấy gỗ lim ở Hoan Châu (9) làm cầu, đưa về dựng lên cầu. Trên cầu trùng tu đền. Vàng ngọc huy hoàng cho lâu dài được hưởng thờ tự. Tế Xuân hàng năm, chuẩn ban nghi thức, công lao tỏ rõ làm khuôn mẫu. Đặc ban việc tế thờ cho thần, tạo lệ thờ cúng. Các điều đầy đủ sẽ ghi ở phía dưới truyền lâu dài ức vạn năm không mất. Bèn bày sự tích khắc vào đồng để ghi nhớ mãi trên đời vậy!

Kê:

- Một điều: Tế xuân hàng năm, chuẩn ban quan tiền 20 quan giao phủ, nha lĩnh phát. Dân tạo lệ biện lễ. Ngày tế, quan phủ, huyện khâm phụng làm lễ.

- Một điều: Chuẩn cho thôn Quan Đoài xã Văn Xá; thôn Cửa Ngòi xã Tế Xuyên; thôn Kiều Không xã An Triền của huyện Nam Xang phủ Lỵ Nhân hợp vào đình Cầu Không, ba thôn cùng tế thờ. Cho 30 suất tạo lệ và sái phu.

- Một điều: Chuẩn cho 3 thôn trên cùng được thu tiền hương của thương khách bày hàng trên các toà chợ Cầu Không để dùng vào tế thờ.

Ngày 6 tháng 3 năm Hồng Đức 3 (1472)

Nguyễn Hữu Mùi dịch
Hoàng Văn Lâu hiệu đính.

Xét nội dung văn bản, thấy đây là một cuốn sách đồng có tính độc đáo. Có thể phân ra là 4 phần như sau:

- Phần thứ nhất được xem như là lời chiếu của vua. Phần này, vừa thể hiện sự nhún nhường, vừa vạch rõ mưu đồ hiếu chiến của quân Chiêm Thành, dẫn đến sự trừng phạt là tất yếu.

- Phần thứ hai ghi ngày, tháng và năm vua Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh giặc Chiêm Thành. Phần này như một bản thần tích thu gọn: Có vị Dực vận linh thần xin được theo vua để ngầm giúp đỡ. Từ đó đã vượt qua mọi sự khó khăn, đánh thắng quân giặc.

- Phần thứ ba ghi lại quá trình dựng Cầu Không, trùng tu ngôi đền trên cầu vào năm 1471 và khẳng định với công lao to lớn của thần thì sẽ được tế thờ mãi mãi.

- Phần thứ tư ghi lại các điều lệ. Phần này có 3 điều.

Tuy là bài ký ghi việc dựng Cầu Không và trùng tu ngôi đền trên cầu vào năm 1471 đời Lê Thánh Tông, nhưng ghi chép ở đây là có giá trị sử liệu, rất đáng quí, sách viết: “Vào ngày 6 tháng 11 năm Canh Dần (1470), trẫm thân xuất đại quân tiễu trừ Chiêm Thành. Đến ngày 8, thuyền rồng của trẫm mới dừng lại ở cửa Long Xuyên thuộc địa đầu huyện Nam Xang.” Từ nguồn tư liệu này, chúng ta được biết cụ thể hơn về ngày tháng và địa điểm dừng chân của vua Lê Thánh Tông trên đường đi đánh giặc Chiêm Thành. Đây còn là một bản thần tích chung cho 3 thôn của 3 xã khác nhau: thôn Quan Đoài xã Văn Xá, thôn Cửa Ngòi xã Tế Xuyên, thôn Kiều Không xã An Triền thờ vị Dực vận linh thần có công hạng nhất giúp vua Lê Thánh Tông đánh giặc Chiêm Thành thắng lợi.

Một vấn đề về văn bản học được đặt ra ở đây là niên đại khắc in của cuốn sách. Như chúng ta thấy, sách không ghi tên tác giả mà chỉ đề (Ngày 6 tháng 3 năm Hồng Đức 3 (1472). Vậy dòng niên đại này có ý nghĩa gì? Có phải cuốn sách được khắc vào năm Hồng Đức 3 (1472) hay đây là năm hoàn thành việc xây dựng Cầu Không và trùng tu ngôi đền trên cầu?

Chúng tôi thấy đây là bài ký về đền Cầu Không. Văn bản cũng ghi nhận là tháng 8 năm Tân Mão (1471) mới được ban phép lấy gỗ lim ở Hoan Châu làm cầu. Theo chúng tôi, rất có thể đến ngày 6 tháng 3 năm Hồng Đức 3 (1472) là ngày xây dựng chiếc Cầu Không và trùng tu ngôi đền đã được hoàn thành. Do vậy, chúng tôi khẳng định dòng niên đại trên đây là chỉ cho công việc xây dựng Cầu Không và trùng tu ngôi đền chứ không phải là niên đại cho năm khắc in cuốn sách.

Còn việc khắc in cuốn sách này thì không thể nói nó được khắc in vào ngày 6 tháng 3 năm Hồng Đức 3 (1472) được, bởi vì căn cứ vào nội dung ta thấy đây là những sự kiện của những năm 1470, 1471 thời Lê Thánh Tông đã được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư (10) tuy không được chi tiết như ở sách này. Dòng chữ: “Bèn bày sự tích khắc vào đồng để ghi nhớ mãi trên đời vậy” cũng là điều xác nhận. Mặt khác, với lối trang trí và hoa văn của sách thì càng khẳng định việc khắc in nó là rất muộn, có thể vào cuối thế kỷ 17, đầu 18 hoặc muộn nhất là vào cuối thời Lê.

Để bạn đọc có thêm tư liệu tham khảo về thể loại sách đồng vốn vẫn được xem là quí hiếm chúng tôi tạm thời có những kiến giải như trên. Khi có thêm tư liệu, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này một cách cụ thể hơn.

Cuốn sách hiện do ông Nguyễn Văn Thuỳ, tổ trưởng tổ phụ lão thôn Văn An xã Bắc Lý huyện Lý Nhân tỉnh Nam Hà giữ gìn và bảo quản (11)

CHÚ THÍCH

(1). Bản in của cuốn sách đồng này hiện đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sách chưa lên ký hiệu.

(2). Đại thống: chỉ ngôi vua.

(3). Nguyễn Như Đổ: Nguyên quán xã Đại Lan, huyện Thanh Đàm, trú quán xã Tử Dương, huyện Thượng Phúc. Ông đỗ Bảng nhãn khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo 3 (1442) đời Lê Thái Tông. Làm quan đến chức Lại bộ Thượng thư kiêm Tế tửu Quốc tử giám, hàm Thiếu bảo.

(4) (5) (6) (7) Đây là những tên địa danh của nước Chiêm Thành thời đó.

(8) Trà Toàn: Vua nước Chiêm Thành.

(9) Hoan Châu: Vùng đất thuộc 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay.

(10) Các trang 229, 223, 235 và 236 Tập III, Nxb KHXH, HN, 1972.

(11) Chúng tôi xin cám ơn các cụ thôn Văn An đã cung cấp cho chúng tôi các số liệu cần thiết xung quanh cuốn sách đồng. Chúng tôi cũng xin cám ơn ông Hoàng Văn Lâu đã góp ý kiến cho bài viết này.

TB

TẤM BIA CHÙA SÉT

ĐỖ THỈNH

Vừa qua, trong dịp đến thăm chùa Sét (tên chữ là Đại Bi tự) ở phường Tân Mai, quận Hai Bà Trưng, các cụ già trông coi chùa đã tặng chúng tôi cuốn sách Chùa Sét một hành trình của Nguyễn Mạnh Cường và Bùi Minh Trí (Nxb Công an Nhân dân – 1990). Xem qua cuốn sách và sau khi đi thăm toàn bộ ngôi chùa, chúng tôi đối chiếu với bài viết về chùa Sét của cụ Tảo Trang trong báo Người Hà Nội (số 125 ngày 4 – 11 – 1989) hiện treo ở tam bảo chùa, thấy thiếu một bài văn bia mà cuốn sách không giới thiệu. Đó là văn bia khắc năm Chính Hoà thứ 11 (1690) do Đỗ Công Toản đỗ Tiến sĩ năm 1683 viết văn bia (1) .

Chúng tôi liền vào nhà dân xung quanh chùa để hỏi chuyện thì được biết tấm bia hiện nằm trong sân một nhà dân phía sau chùa do bom Mỹ trong chiến tranh phá hoại mà bị hất ra đó.

Được biết chùa Sét vốn là nơi danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở phía Nam kinh thành Thăng Long xưa. Nay các di văn ở ngôi chùa đã được sưu tầm biên soạn thành sách để giới thiệu với bạn đọc mà lại thiếu đi một bài văn bia thì uổng phí, nên chúng tôi liền rập 3 mặt của tấm bia vuông 4 mặt (còn một mặt sát mặt đất không rập được để nghiên cứu).

Bia là một khối đá lớn cao 1,6m nặng khoảng 2 tấn, vuông 4 cạnh, mỗi cạnh rộng 0,6m. Cả bốn mặt bia đều có chữ. Lạc khoản có ghi người soạn văn bia là ông Đỗ Công Toản quê ở xã Thượng Yên Quyết, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, xứ Sơn Tây, đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quí Hợi (1683), đương chức Giám sát ngự sử đạo Sơn Nam.

Đỗ Công Toản xuất thân trong một gia đình có nhiều người đỗ đại khoa. Cha là Đỗ Văn Tổng đỗ Đồng Tiến sĩ khoa Canh Thìn năm Dương Hoà thứ 6 (1640) làm quan tới chức Thiêm đô ngự sử, sau vì có công dạy hai con đỗ Tiến sĩ nên được nhà vua tặng Hữu thị lang bộ Hình. Anh là Đỗ Văn Luân thi hương đỗ Giải nguyên, thi Hội năm Vĩnh Thọ thứ 2 (1659) đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân lúc mới 26 tuổi nên được vua Lê Thần Tông cho làm quan Hiệu thảo ở Viện Hàn lâm. Bản thân ông Đỗ Công Toản thi hương cũng đỗ Giải nguyên. Như vậy là một nhà ba cha con đều đỗ Tiến sĩ và đều làm quan triều Lê.

Nội dung văn bia (2) chia làm hai phần rõ rệt. Phần chính do Đỗ Công Toản soạn, ghi việc Vương phủ thị nội cung tần Lê Thị Ngọc Côn cúng 3 mẫu ruộng vào chùa để thờ cúng cha là Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân Đông quân đô đốc Thiêm sự Bái quận công Lê Trung Hoà và mẹ là Trịnh Thị Ngọc Dạng. Phần dưới đoạn văn do người đời sau khắc thêm vào ghi việc bà Lê Thị Ngọc Côn giúp dân bản xã Thịnh Liệt 200 quan tiền cổ để chi phí đắp đê điều nên dân làng ghi công và quy đinh thờ cúng bà mãi mãi sau khi bà mất.

Mở đầu, bài văn bia bàn về việc hiếu thuận đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ: “Thường nghe đạo của trời, lẽ phải của đất lưu truyền từ xưa đến nay không thể thay đổi được, đó là lẽ hiếu thuận... Kính nghĩ: đất nước hưng thịnh, thời vận thái bình, muôn việc được xếp đặt quy củ kế hay mưu giỏi cai quản một phương, đời ngóng trông, cần phải dựng nền nhân nghĩa, gây mầm đạo đức để đáp lại công ơn của tổ tiên...”

Tiếp đó văn bia giới thiệu: “Cung tần Lê Thị Ngọc Côn thuộc tông phái vịnh hoa ở Thịnh Liệt... dáng người yểu điệu dịu dàng. Từ bé đã là người con gái thuỳ mỵ nết na, nhiều người đã ngỏ ý muốn kết duyên... Bà giỏi âm nhạc từ nhỏ, lớn lên sành thơ ca, vào làm cung tần được vua yêu mến...”

Cuối bài văn bia khẳng định về hiếu thảo: “... Thời gian thì có xưa, có nay, nhưng hiếu thảo thì bắt nguồn từ bản tính con người. Không phải lấy xưa hay nay để làm tăng lên hay giảm xuống. Địa vị có giàu sang hay nghèo hèn, còn hiếu thuận xuất phát từ đáy lòng, không thể lấy giàu hay nghèo mà coi trọng hay thờ ơ. Hiếu thảo một khi được thực hiện thì muôn điều thiện cũng theo nó mà thể hiện ra. Còn việc ghi công ư? Có thể thấy lẽ trời là ở lòng người, muốn cũng không thể được...”

Tiếp đó là bài minh, mỗi dòng 4 chữ và kê ruộng ở các xứ đồng (3)

Phần thứ hai cũng đáng lưu ý:

Mở đầu liệt kê tên “các bậc xã thôn trưởng xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín...”

Nội dung: “Tháng 7 năm nay, lệnh truyền nước dâng lên cao, trong xã lại chưa có quan dịch, quả có khó khăn trong việc đắp đê điều, hơn nữa cả tám giáp lại chưa có tiền chi vào công việc đó. Nay toàn thể các bậc bề trên kẻ dưới trong xã đến xin Vương phủ nội thị Cung tần, Đức bà chuẩn cho bản xã 200 quan tiền cổ...” Đoạn cuối dân làng quy định việc cúng tế bà ở chùa khi bà mất, mỗi giáp phải sửa xôi gà, trầu cau thờ cúng, lập thành khế ước truyền lại lâu dài, ai làm trái sẽ bị trừng phạt...”

Bài văn bia này có giá trị nghiên cứu về phong tục tập quán (quan niệm của người xưa về hiếu thảo, đạo đức), về văn học, lịch sử và nghệ thuật thế kỷ 17. Vì lẽ đó, tấm bia nên sớm được đưa về sân chùa quy tụ với các tấm bia khác để tăng thêm giá trị cho di tích, đồng thời giúp cho việc nghiên cứu lịch sử và giáo dục truyền thống ở địa phương và Thủ đô ta.

CHÚ THÍCH

(1) Trong bài viết của mình, cụ Tảo Trang chưa giới thiệu nội dung bài văn bia.

(2) Chúng tôi căn cứ vào bản dịch của chị Phạm Thị Thoa (Viện Hán Nôm).

(3) Phần lớn 2 nội dung này nằm ở mặt thứ 3 sát mặt đất, không rập được.

TB

THÊM MỘT TƯ LIỆU VỀ ĐẶNG VĂN HÒA

PHAN ĐÌNH ỨNG

Tạp chí Hán Nôm số 2 – 1987 có đăng bài: Đặng Văn Hoà và tập Lễ Trai thi chân bản. Đây là một bài viết tốt, giới thiệu được không ít tài liệu quí về Đặng Văn Hoà cho những ai đang quan tâm.

Nhân đây chúng tôi xin cung cấp thêm một tư liệu nữa về Đặng Văn Hoà, mà qua đó chúng ta thấy được phần nào sự mến mộ rộng rãi của nhân dân vùng châu thổ sông Hồng đối với ông.

Sách Nhĩ Hoàng di ái lục do Đặng Huy Trứ biên tập, in tại nhà in họ Đặng năm Tự Đức Kỷ Tỵ (1869), có chép về Đặng Văn Hoà như sau:

“... Trải hơn 40 năm, làm quan trong triều và làm quan ở các địa phương khác nhau, đâu đâu ông (Đặng Văn Hoà – PĐƯ) đều để lại tấm gương và lòng yêu thương dân.

Vùng Nhĩ Hoàng là nơi tôi (Đặng Huy Trứ) được mắt thấy tai nghe nhiều sự việc. Nhớ lại khi tôi tóc còn để chỏm, được nghe sĩ phu và dân dã gọi ông là “Thánh Đồng Đen”, tôi chưa hiểu thế nào (1) . Đến năm Nhâm Dần (1842) đời Thiệu Trị, thầy học tôi trước đây là Ngạc Đình - Nguyễn tiên sinh (tên huý là Hữu Tạo) ngồi dạy học tại nhà tôi. Tiên sinh đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1844). Để được nghe chuyện (về Thánh Đồng Đen), tôi quỳ xuống xin người chỉ giáo. Tiên sinh nói rằng: “phường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận,Hà Nội, có thờ tượng đồng đen, trấn phương Bắc”. “Thiệu Trấn Vũ Huyền Thiên Thượng Đế” đúc từ triều nhà Lê, nặng những sáu ngàn sáu trăm cân. Là vị thần có công bảo vệ đất nước, giúp đỡ nhân dân, xưa nay nổi tiếng linh ứng.

Tướng công Lễ Trai dung mạo khôi ngô cao lớn, lo cho dân cũng chẳng khác gì vị thần ấy. Thần trong cõi âm che chở cho dân. Tướng công giúp dân trên dương thế. Dân tôn kính Người như bậc thần thánh, cho nên Người được mệnh danh là Thánh Đồng Đen. Câu chuyện là như vậy.

Năm 1851 tôi có dịp ra Bắc Hà, sau khi thi đỗ Giải nguyên được ngồi tiếp chuyện các sỹ phu Bắc Hà, được nghe nói đến thiện chính của Người, thấy ai ai cũng tấm tắc khen ngợi...” (2).

Cũng trong Nhĩ Hoàng di ái lục còn có bài tựa do Lê Đình Diên (1824 – 1878), tự là Cúc Hiên, người xã Nhân Mục, huyện Thanh Trì, Hà Nội, đỗ Hoàng Giáp năm 1849, làm Đốc học Hà Nội viết, xin tạm dịch như sau:

“Diên tôi, lúc trẻ ở Nam Định, từng được nghe uy danh của Tổng đốc họ Đặng. Khi người từ nội thành ra, đi trên đường phố, tôi kính cẩn chiêm ngưỡng, trộm thấy dáng hình ông hùng vĩ cao to. Chính tích của Người thì thật là lớn (...). Sách Nhĩ Hoàng di ái lục thuật lại những kỳ tích của Người. Sách chia làm 12 thiên, phép tắc điển hình không kém gì. Sách chép về lời nói và việc làm các bậc danh hiền đời xưa.

Thực là một bậc danh gia cự phách, làm rỡ ràng hiển hách cho một gia tộc và cũng có thể làm khuôn mẫu cho các bậc mũ áo chăng”.

Đặng Văn Hoà là một đại thần dưới 4 triều vua đầu nhà Nguyễn.Trước tác của ông hiện đang được nhiều người trong giới nghiên cứu Hán Nôm quan tâm. Chúng tôi rất mong sẽ còn tìm thêm được những tư liệu mới về “Thánh Đồng Đen”, một nhân vật lịch sử mà nhân dân địa phương đương thời đã mệnh danh tôn kính. Ngày nay nhiều người trong giới nghiên cứu Hán Nôm cũng đang lưu ý để tìm hiểu về ông (3).

CHÚ THÍCH

(1) Lời tôn tụng Đặng Văn Hoà là “Thánh Đồng Đen” có thể bắt đầu vào khoảng năm 1835 – 1839, khi ông làm Tổng đốc Hà Nội, để lại nhiều tiếng thơm trong dân dã.

(2) Xem Nhĩ Hoàng di ái lục, kí hiệu A.1382, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(3) Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn ông Phạm Tuấn Khánh là hậu duệ dòng họ Đặng Huy, đã cung cấp nhiều tư liệu bổ ích giúp chúng tôi viết bài này.

TB

TINH BIÊN KIM THẠCH ĐẠI TỪ ĐIỂN
MỘT CUỐN SÁCH TRA CỨU CẦN THIẾT

TRỊNH KHẮC MẠNH

Năm 1988, Nhà xuất bản Hoàng Sơn (Hoàng Sơn thư xã xuất bản phát hành) thuộc Tân Hoa thư điếm tỉnh An Huy (Trung Quốc) đã giới thiệu với bạn đọc cuốn Tinh biên kim thạch đại từ điển @@@@ (dưới đây xin viết tắt là (TBKTĐTĐ).

Đây là một công trình đồ sộ và công phu, do Trung Chu biên soạn và Vương Chính Bạch chịu trách nhiệm biên tập.

Công dụng chính của TBKTĐTĐ là để đối chiếu và tra cứu các biểu tự chữ Hán được khắc hoặc viết dưới dạng trang trí nghệ thuật trên các bia đá, vách đá, trên các đồ vật bằng kim loại, sành sứ, đồ gốm, tre gỗ v.v… theo các kiểu chữ khác nhau. Tác giả đã dày công sưu tập một số lượng khá lớn các biểu tự cho bộ Tự điển của mình. Mỗi biểu tự được giới thiệu nhiều kiểu chữ, dưới mỗi kiểu chữ có chú thích xuất xứ, niên đại v.v…

TBKTĐTĐ dày khoảng 1100 trang, giấy mỏng tốt, khổ 20cm x 14cm. Sách không có Lời giới thiệu Thể lệ biên soạn. Ngay trang mở đầu sách là Mục lục bảng kê các bộ thủ (2 trang – có chú thích trang tra cứu) gồm 214 bộ, tiếp đến là Bảng tra biểu tự xếp theo bộ (35 trang – cũng có chú thích trang khi tra cứu).

Có tất cả 3.950 biểu tự chữ Hán được giới thiệu trong TBKTĐTĐ, con số này quả là không nhỏ so với một số từ điển Hán - Việt hay tự điển Hán – Nga đang dùng hiện nay (1). Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một vài biểu tự trong chính văn của TBKTĐTĐ để bạn đọc có một ý niệm chung:

1. Chữ Sơn @@, tác giả sưu tập được 52 kiểu chữ được khắc hoặc viết trên các di vật văn hoá (xem bản chụp), xin tạm dịch một vài ghi chú kiểu mẫu của biểu tự:

Kiểu 1 (2) ghi chú: Qúi Sơn đôn, Song Trai, thác bản - dịch nghĩa: chữ Sơn trên đôn Qúi Sơn (Theo Song Trai, thác bản).

Kiểu 2 ghi chú: Phụ Đinh sơn hình cô, Cổ kim - dịch nghĩa: cốc hình chữ Sơn của Phụ Đinh (theo Cổ kim).

Kiểu 3 ghi chú: Cổ tệ văn, Kim Sách. Án, Phùng vi Cao Dương thị tệ, phi - dịch nghĩa: chữ Sơn trên đồng tiền cổ (theo Kinh Sách). Xét họ Phùng cho là tiền của Cao Dương, thực không phải.

Kiểu 4 ghi chú: Hán Trung sơn ấn, Kim Sách - dịch nghĩa: chữ Sơn trên ấn của Trung Sơn thời Hán (theo Kim Sách).

Kiểu 5 ghi chú: Hán Khai Mẫu miếu thạch khuyết - dịch nghĩa: chữ Sơn ở Cổng đá miếu Khai Mẫu thời Hán (theo Kim Sách).

Kiểu 6 ghi chú: Hán ngoã - dịch nghĩa: chữ Sơn khắc trên ngói thời Hán v.v.

2. Chữ Kim @@ , tác giả sưu tập được 67 kiểu (xem bản chụp) xin tạm dịch một vài ghi chú kiểu mẫu của biểu tự:

Kiểu 1 ghi chú: Vương Tôn chung, thác bản - dịch nghĩa: chữ Kim trên chuông Vương Tôn (theo thác bản);

Kiểu 2 ghi chú: Hán ngõa - dịch nghĩa: Chữ Kim khắc trên ngói thời Hán.

Kiểu 3 ghi chú: Hán Vạn Kim hồ, Hằng Hiên - dịch nghĩa: chữ Kim trên bình Vạn Kim thời Hán (theo Hằng Hiên).

Kiểu 4 ghi chú: Hán Kim Thành lệnh ấn, Kim Sách - dịch nghĩa: chữ Kim trên lệnh ấn Kim Thành thời Hán (theo Kim Sách).

Kiểu 5 ghi chú: Kim Thành Thái thú chương, phỏng Tuyên Sử - dịch nghĩa: chữ Kim trên ấn của Thái thú Kim Thành (phỏng theo Tuyên Sử).

Kiểu 6 ghi chú: Lục Triều kính, Kim Sách - dịch nghĩa: chữ Kim trên gương thời Lục triều (theo Kim Sách), v.v…

Có thể thấy TBKTĐTĐ rất cần cho những người nghiên cứu chữ cổ nói riêng và các nhà Hán ngữ học nói chung khi giải mã những hình chữ được khắc hoặc viết trên các di vật văn hoá thời xưa ở các nước sử dụng khối chữ vuông - chữ Hán.

CHÚ THÍCH

(1) Đào Duy Anh: Hán - Việt từ điển, Trường thi, Sài gòn, 1957, có 5.000 đơn tự.

Văn Tân: Trung - Việt từ điển, Sự thật, Hà Nội, 1992, có 7.000 đơn tự.

Hạ Trọng Nghị: Hán – Nga từ điển, Bắc Kinh, 1990, có 4.550 đơn tự.

(2) Số thứ tự là do chúng tôi tự đặt và thêm vào.

TB

THÀNH TỰU NGHIÊN CỨU VỀ CHỮ NÔM CỦA GS. TÒDÒ AKIYUSU

LÃ MINH HẰNG

Trong giao lưu văn hóa khu vực, Việt Nam và Nhật Bản là hai nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn minh Trung Hoa, điều này thể hiện khá rõ cả trên lĩnh vực ngôn ngữ văn tự học. Hiện tượng chữ Nôm Việt, chữ Kana Nhật… đã được nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Tại Nhật Bản, các GS. Kawamoto Kunie, Tomita Kenji, Kawaguchi Kenichi… đã giành nhiều công sức để nghiên cứu hiện tượng chữ Nôm Việt.

Trong số các công trình nghiên cứu chữ Nôm Việt, phải kể đến cuốn sách Kanji to sono bunka ken(1) của GS. Tōdō Akiyasu. Đây là cuốn sách nghiên cứu về chữ Hán. Trong chương nói về Việt Nam, ông đã đề cập đến chữ Nôm, một thứ chữ của dân tộc Việt được tạo ra trên cơ sở chữ vuông Hán. Dưới đây tôi chỉ xin giới thiệu phần nghiên cứu về chữ Nôm của ông, một vấn đề mà tôi hằng quan tâm.

Việc nghiên cứu về chữ Nôm của GS. Tōdō Akiyasu bao quát trên nhiều phương diện:

1) Chữ Nôm - nguồn gốc và các vấn đề chung:

a. Nghiên cứu thời kỳ xuất hiện của chữ Nôm, GS. Tōdō Akiyasu nhận định rằng: thời kỳ xuất hiện chữ Nôm là không thể xác định được, nhưng có lẽ nó được hình thành vào đời nhà Trần khi mà ở Việt Nam hoàn toàn thoát khỏi sự ràng buộc với Trung Quốc. Khi tìm hiểu thời kỳ xuất hiện của chữ Nôm, ông đã đồng ý với ý kiến của Maspéro cho rằng: chứng cứ xưa nhất của chữ Nôm hiện còn là tấm bia Hộ Thành Sơn - Ninh Bình (1343).

b. Điểm lại tình hình sáng tác bằng chữ Nôm thời trước, ông đã đưa ra các dẫn chứng: sách Gia huấn ca của Nguyễn Trãi là tác phẩm viết bằng chữ Nôm tương đối cổ. Mặt khác, dựa vào chữ Nôm có thể ghi lại các dạng văn thơ truyền miệng của Việt Nam nên đã xuất hiện các tác phẩm nổi tiếng như Kim Vân Kiều truyện của Nguyễn Du; Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm (bà Điểm dịch từ thơ chữ Hán). Tìm hiểu quá trình diễn biến của chữ Nôm, ông viết: “Dạng văn chữ Hán có xen lẫn chữ Nôm là cách ghi duy nhất của dân tộc mãi cho đến thế kỷ XIX, khi mà dạng ghi bằng chữ Quốc ngữ được phổ cập rộng rãi”.

c. Tìm hiểu tình hình nghiên cứu, sáng tác chữ Nôm ở Việt Nam hiện nay, ông cho rằng ngày nay số người có thể đọc được chữ Nôm rất ít. Ông nói: “Nay, tôi vẫn nhớ lời của cụ Lê Dư ở Hà Nội nói với tôi năm 1945, rằng: “Hiện nay, số người đọc được chữ Nôm là rất ít”.

2) Cấu tạo của chữ Nôm Việt:

Tìm hiểu cấu tạo của chữ Nôm Việt, ông đưa ra bốn kiểu cấu tạo:

a. Sử dụng âm chữ Hán để biểu thị tiếng Việt (trường hợp này các nhà nghiên cứu Việt Nam gọi là trường hợp chữ Nôm đọc theo âm).

Ví dụ: 沒

- âm Hán Việt: một, nghĩa hết.

- âm Nôm: một, với nghĩa (số đếm) một, hai.

Trong trường hợp này, chữ Nôm mượn con chữ Hán, âm đọc hoàn toàn giống âm Hán Việt, chỉ có nghĩa là khác.

Hoặc như chữ 半

- âm Hán Việt: bán, nghĩa: một nửa.

- âm Nôm: bán, nghĩa: bán (mua).

Cũng với suy luận như trên, ông đã liệt kê ra một số chữ Nôm thuộc loại này như:

英 anh (anh em);

空 không (không có)

底 để (đặt để);

代 đời (đời sống)(2)

b. Dạng văn tự hình thanh dùng chữ Hán làm âm phù, ngoài ra còn có bộ phận chỉ ý.

Ví dụ:

Năm

-âm phù: nam, đọc thành năm.

-ý phù: niên, nghĩa là năm (tháng).

Đến

-âm phù: điển, đọc thành đến.

-ý phù: chí, nghĩa là đến.

Nói

- âm phù: nội, đọc là nói.

- ý phù: bộ khẩu là cơ quan phát âm.

Tiếp đó, ông còn dẫn ra một loạt các chữ Nôm thuộc loại hình thanh như:

hai (số từ); ba (số từ);

bốn (số từ); năm (số từ);

mắt; mặt

ngồi.

Ông còn nói đến khi sử dụng 214 bộ thủ của chữ Hán, bộ phận âm phù thường ở trên hoặc ở bên trái (ngoài ra cũng có một số trường hợp ngoại lệ).

c. Dạng văn tự hội ý bằng cách kết hợp 2 chữ Hán với nhau:

Trời (gồm 2 chữ 天 và 上 tạo thành, 天 nghĩa là trời, 上 ở phía trên cũng chỉ trời). Tương tự, ông còn đưa ra thí dụ: giêng (trong từ tháng giêng)(3)

d. Bộ phận biểu âm không dựa vào âm chữ Hán mà dựa vào nghĩa Việt của chữ Hán đó.

Ví dụ:

- ý phù: quảng, nghĩa là rộng.

- âm phù: dựa vào nghĩa tức là “ruộng”, dùng đọc trại thành “rộng”.

3) Trên cơ sở đi sâu nghiên cứu bộ phận âm phù của chữ Nôm, ông đã đưa ra một số ví dụ giúp ông có thể phân biệt ngữ âm của các từ bị lẫn lộn trong tiếng Việt hiện đại. Hiện tượng đọc lẫn lộn giữa d và gi, giữa tr và ch thường thấy trong cách phát âm của người Việt, ông đã chứng minh được bằng sự tồn tại của nó vào thời Trần (Thế kỷ XIV).

Ví dụ:

a. Cùng được phát âm [z], ông đưa ra các dẫn chứng:

* Chữ d ngày nay được phát âm [z], trong chữ Nôm có da (bộ nhục + âm phù đa) dế (bộ trùng + âm phù đế)

Như vậy nguyên chữ này thế kỷ XIV được phát [d].

* Chữ gi Quốc ngữ, nay được phát âm thành [z] trong chữ Nôm giang (bộ thủ + giang) ta thấy rõ phát âm [g] [k] trước đây.

b. Trong chữ Quốc ngữ, tr và ch cùng được phát âm [t] nhưng ở chữ Nôm:

Tre (mộc + âm phù tri).

Che (vũ + âm phù chi).

Qua đó có thể nghĩ đến việc phân biệt [t] và [ts] trước đây.

Dựa vào kết quả nghiên cứu bộ phận âm phù của chữ Nôm, ông đã đi đến tìm hiểu bộ phận âm phù của những từ bị phát âm lẫn lộn trong tiếng Việt hiện đại, giúp cho những người nước ngoài (những người biết tiếng Trung Quốc) có thể viết chuẩn chính tả tiếng Việt, phát âm chuẩn tiếng Việt.

4) Ngoài ra khi nghiên cứu bộ phận âm phù của chữ Nôm, GS. Tōdō Akiyasu đã đề cập đến một số vấn đề âm cổ Hán Việt. Ông nói: “âm phù của chữ Nôm khác với âm Hán Việt phần lớn đặt ra vào thời Lý (Thế kỷ XI) có thể nghĩ rằng nó dựa vào âm chữ Hán nào đó. Đó là âm Hán Việt cổ hơn đã được Việt hóa dần dần từ thời Tam quốc - Lục triều.

- Có chữ thuộc ngữ vận io và ngữ vận iu, tiếng Hán Thượng cổ mang nguyên âm /a/ /ua/. Âm hai môi thời Đường biến thành fvw, nhưng trước đó là p b m. Bộ phận âm phù chữ Nôm phản ánh dạng cổ này, còn âm Hán Việt thì phản ánh chữ Hán thời Đường. Ông đưa ra các ví dụ:

Chữ Hán 鋸 斧 武 舞

Âm phù chữ Nôm: Kua (cua) bua mua mua

Âm Hán Việt: Ku (cư); fu(phu); vu vu

Chữ Hán 禦 初

Âm phù chữ Nôm: Ngua xua

Âm Hán Việt: Ngự sơ

- Có chữ thuộc chi vận, tiếng Hán Thượng cổ có dạng ia, iua, nó được thể hiện các âm 宜 ga, 奇 ga, 移 ya trong tiếng Nhật Cổ đại. Bộ phận âm phù của chữ Nôm cũng phản ánh dạng cổ này, ngược lại âm Hán Việt có dáng dấp gần gũi với âm chữ Hán Trung đại (cuối thời Đường) như:

Chữ Hán 誼 碑 皮

Âm phù chữ Nôm: ngia (nghia) bia bua

Âm Hán Việt: ngi (nghi) bi bi.

Thông qua các dẫn chứng nêu trên, ông đưa ra kết luận về đặc điểm âm phù của chữ Nôm: Trong bộ phận âm phù của chữ Nôm vẫn còn giữ lại âm hai môi của tiếng Hán cổ P.B.M (ví dụ trong chữ Nôm có từ Búa, Buông, Mùa là những chữ đọc theo âm cổ Hán Việt). Ông còn nói: Những người tạo chữ Nôm không dựa vào âm Hán Việt, hình như họ thích cách phát âm tiếng Hán được Việt hóa từ thời cổ.

Công trình nghiên cứu của GS. Tōdō Akiyasu đã cung cấp những tư liệu quý giá giúp ta có thể hiểu sâu thêm về nền văn hóa của các dân tộc trong khu vực. Ông đã giành nhiều công sức để nghiên cứu chữ Nôm đặc biệt đã đi sâu nghiên cứu bộ phận âm phù của chữ Nôm và đã đưa ra những kết luận rất đáng ghi nhận(4).

CHÚ THÍCH

(1) Kanjito soro bunka ken: do Tōdō Akiyasu biên soạn, Nxb. Koseikan, 1971.

(2) Riêng trường hợp chữ 代 đời, có lẽ nên xếp vào loại chữ Nôm đọc theo nghĩa (LMH).

(3) Riêng trường hợp chữ giêng, có lẽ không nên xếp chung với nhóm của chữ trời (LMH).

(4) Xin chân thành cảm ơn thầy Nghiêm Việt Hương (trường ĐHNN Hà Nội) và chị Nguyễn Thị Oanh (Viện Hán Nôm) đã cho tôi mượn những tài liệu tiếng Nhật cần thiết trong khi viết bài giới thiệu này.

TB

KÍNH GỬI TOÀ SOẠN TẠP CHÍ HÁN NÔM

VŨ TUẤN SÁN

Đại Từ 15 – 1- 1993

Kính gửi: Toà soạn Tạp chí Hán Nôm

Tôi rất tiếc và xin lỗi vì thời tiết xấu, đường đất xa xôi, người lại không được khỏe, nên không đến dự được buổi họp cộng tác viên đầu năm do Quí Tòa soạn tổ chức vào ngày mai, thứ bảy, 17 – 1- 1993. Theo đề nghị của GS Tổng biên tập Trần Nghĩa, xin có mấy ý kiến nhỏ đóng góp cùng Hội nghị:

1) Đầu tiên, xin hoan nghênh và chúc mừng việc chuyển Tạp chí từ 2 số/ năm lên 4 số/ năm, đáp ứng kịp thời sự đòi hỏi của tình thế: xã hội tiến lên, đặt ra yêu cầu cấp thiết đẩy mạnh hơn nữa việc sưu tầm, nghiên cứu, phát huy vốn cổ của dân tộc, đồng thời chính sách mở cửa thúc đẩy việc giao lưu văn hoá với nước ngoài cũng đòi hỏi sự có mặt xứng đáng của nền văn hóa nước nhà (một nước vốn tự hào là văn hiến) trên trường quốc tế.

2) Tạp chí gần đây có những ưu điểm nhất định: thường xuyên đảm bảo chất lượng khoa học của các bài viết; nội dung phong phú, đề cập hầu hết các vấn đề chủ yếu của ngành Hán Nôm; tăng cường in kèm chữ Hán.

3) Ưu điểm nói ra còn nhiều. Tôi chỉ xin có mấy ý kiến nhỏ và đề nghị sau:

a. Tiếp tục việc in kèm chữ Hán trong những trường hợp cần thiết. Cố gắng sao cho tương đương nếu không vượt hơn tập san Trường Viễn Đông Bác cổ (BEFEO), hay Tập san Hiệp hội Đông Dương (BSEI: Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises) của Pháp trước đây. Với đà cải tiến kỹ thuật hiện nay, mong rằng Tạp chí sớm đáp ứng được yêu cầu về mặt này. Một Tạp chí Hán Nôm mà không in kèm theo chữ Hán mất đi giá trị rất nhiều đối với nghiên cứu, và nhất là đối với độc giả nước ngoài. Nếu chưa làm được thì đề nghị kèm phiên âm, nên chua nghĩa, và phần dịch nghĩa càng sát từng chữ càng hay, thí dụ ở Tạp chí Hán Nôm số mới nhất (số 2 – 1992) trong bài viết về Nguyễn Hoàn, tr.41 dẫn bài thơ khuyên môn sinh câu cuối: “Hạ nhi tiễn cức thượng phi vân”, dịch nghĩa thành “Khi nhỏ chuyên cần lớn sẽ làm được việc lớn”. Đó là “dịch ý” không phải “dịch nghĩa”, không tạo điều kiện cho việc đoán biết chữ Hán qua phiên âm, vì mọi người đều biết cùng một âm, có nhiều chữ Hán khác nhau, không phải dễ dàng xác định, đó là chưa kể trường hợp có nhiều chữ Hán mà cách phiên âm chưa được thống nhất trong các Từ điển Hán Việt hiện hành.

b. Hết sức tránh những sai lầm trong ấn loát, những lỗi in về chữ Quốc ngữ hay chữ Hán (tăng cường bộ phận sửa bản thảo hay bản in). Có nhiều lỗi chính tả khó chấp nhận, như ở số Tạp chí nói trên, tr.10, 11 có tới 5 chữ “ngành”, in sai thành “nghành” (thêm chữ h sau ng). Có những lỗi nghiêm trọng hơn, bỏ sót hay in sai nhiều chữ hay cả đoạn câu, khiến người đọc không thể hiểu, hay hiểu sai bài viết (Thí dụ trong Tạp chí số dẫn trên, tr.56 dẫn bài phú Giang hồ ngụ hứng, phần nguyên văn có câu: “Chấp điếm đồ lai, an hữu Dương Vân chi ý tứ”, phần dịch nghĩa đã in thiếu hẳn câu dịch).

c. Về mặt nội dung, đề nghị tăng cường việc biên tập, phát hiện những chỗ chưa ổn hoặc chưa rõ. Nếu thấy cần sửa chữa, nhất thiết nên trao đổi tập thể để tránh chủ quan, hoặc tốt hơn cả là liên hệ với người viết bài. Thí dụ ở Tạp chí số dẫn trên, cũng bài Giang hồ ngụ hứng tr.56, cột 2 , có câu: “Ngộ tương từ khách, nhận tác kinh sư” được dịch (tr.57): “Lỡ làm khách văn chương, lầm làm thầy dạy sách”. Nếu biên tập kỹ sẽ phát hiện sao “nhận tác” lại là: “lầm làm”? Thực ra, cả câu có nghĩa: Lầm khiến khách từ chương lại nhận làm ông thầy dạy học tầm thường (kinh sư: thầy chỉ biết giảng, đối lập với “nhân sư”, thầy dạy chú trọng giáo hoá con người).

d. Nên chăng ngoài những chuyên mục đã có, thêm mục viết về một số vị đã quá cố, từng đóng góp vào sự nghiệp Hán Nôm: Một số người nổi tiếng như Nguyễn Văn Tố, Trần Lê Nhân, Trần Văn Giáp, Lê Thước, Cao Xuân Huy v.v… và cả một số vị khác như Cao Huy Giu (dịch Đại Việt sử ký toàn thư), Phạm Trọng Điềm (dịch Kiến văn tiểu lục), Trần Duy Vôn (cộng tác viên của Viện từ hồi còn là Ban Hán Nôm) v.v…

e. Tạp chí gần đây rất đáng hoan nghênh vì đã có nhiều bài do cộng tác viên ở nước ngoài viết. Việc mở rộng hơn nữa địa hạt này, tranh thủ sự cộng tác Việt kiều hay người nước ngoài sẽ tạo điều kiện để có những ý kiến đóng góp khách quan, thâu thái những kinh nghiệm phong phú của thế giới về ngành mình. Tỷ như ông Tạ Trọng Hiệp ở INRC (institut National des Recherches scientifiques - Viện Quốc gia Nghiên cứu Khoa học) của Pháp, đã nhiều lần về nước cộng tác với Viện Khoa học Xã hội, chủ yếu về ngành Hán Nôm, và nhiều người đều biết.

f. Phản ánh nhiều hơn nữa hoạt động nghiên cứu Hán Nôm trong và ngoài nước, giới thiệu sách báo, những luận văn Tiến sĩ, Phó Tiến sĩ trong ngành (Tạp chí có làm về mặt này, nhưng hình như chưa được thường xuyên và có kế hoạch).

Trên đây là một số ý kiến sơ bộ mong được góp phần nhỏ của mình, và tạ lỗi sự vắng mặt. Kính chúc Hội nghị thành công tốt đẹp.

TB

BỘ TỪ ĐIỂN VIỆT - LATINH CỦA PIGNEAUX DE BE'HAINE

LTS: Bộ sách nguyên mang tên Dictionnarium Anamitico – Latinum, bản thảo viết tay, do Pierre Pigneaux de Béhaine (1741 – 1799) soạn vào cuối thế kỷ XVIII.

Pigneaux de Béhaine (gọi tắt là Pigneaux) có tên Việt là Bá Đa Lộc hay Bi Nhu, người Pháp, đến Việt Nam vào năm 1765. Từ 1780 trở về trước, ông chủ yếu là một nhà truyền giáo. Ông có bị Chúa Đàng ngoài là Trịnh Sâm bắt giam khoảng một tháng, rồi được thả. Từ 1780 trở về sau, ông có liên hệ với Nguyễn Ánh trong việc chống lại chúa Trịnh, rồi sau đó là phong trào Tây Sơn. Ông mất tại Việt Nam vào năm 1799, hiện có mộ tại TP. Hồ Chí Minh.

Do lâu năm sống và hoạt động trên đất nước ta, Pigneaux khá quen thuộc với đồng đất, con người miền Nam và thông thạo tiếng Việt. Ông còn giỏi cả chữ Hán lẫn tiếng Trung Quốc. Ngoài bộ từ điển Việt – La tinh, ông còn soạn các sách như Chinois – Annamite – Latin (Từ điển đối chiếu giữa ba thứ tiếng Trung Quốc, Việt Nam và Latinh) và Thánh giáo yếu lý Quốc ngữ (bằng chữ Nôm, soạn năm 1774, in năm 1782 tại Quảng Đông).

Riêng bộ Từ điển Việt – Latinh có các đặc điểm như sau: sách được biên soạn xong vào năm 1773, tại miền Nam nước ta, dày 732 trang (64 + 4+ 664), cỡ 34,5 x 24cm, bản thảo viết tay, gồm phần tra cứu chiếm 67 trang và phần chính văn chiếm 662 trang (không kể vài ba trang phụ). Phần tra cứu gồm một bảng đối chiếu chữ Nôm và chữ Quốc ngữ và một bảng hướng dẫn cách tra một số chữ Nôm khó. Phần chính văn gồm 5.943 mục từ, nếu kể cả các từ kép hoặc cụm từ trong phần hạng nghĩa, số từ vựng dễ chừng lên tới bốn năm vạn (1).

Xét thấy đây là một bộ từ điển rất quý, có thể giúp ích chúng ta trong việc nghiên cứu về tiếng Việt cổ, chữ Quốc ngữ cổ, đặc biệt là chữ Nôm thế kỷ XVIII, Tạp chí Hán Nôm bắt đầu từ số này sẽ lần lượt đăng toàn văn bộ từ điển để bạn đọc cùng tham khảo. Phần chính văn sẽ được đăng trước, phần tra cứu sẽ đăng cuối cùng.

Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Văn khố của Hội Thừa sai ngoại quốc Paris (Séminaire des missions étrangères, Paris) nơi hiện đang tàng trữ bản thảo bộ từ điển, cùng Trung tâm nghiên cứu và sưu tầm về Đông Á hiện đại (Centre d’études et de recherches sur I’Asie orientale contemporaine) thuộc trường Đại học Nice nước Cộng hoà Pháp, và các ông Paul Schneider (tức Xuân Phúc), Pierre Richard Féray (Trường Đại học Nice), bà Christiane Rageau (Học viện Viễn đông bác cổ Pháp), các ông J.Vérinand, J.Guennou (cán bộ lưu trữ của Hội Thừa sai ngoại quốc Paris) đã tận tình giúp đỡ, để chúng tôi có được cái hân hạnh giới thiệu bộ từ điển cùng bạn đọc hôm nay.

Kỹ thuật in ấn hiện còn nhiều hạn chế, mong quý vị lượng thứ cho.

CHÚ THÍCH

(1) Tập san Nghiên cứu Hán Nôm Số 1 – 1985 có bài giới thiệu khá kỹ về bộ từ điển này, bạn đọc có thể tham khảo.