TB

VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM 30 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

TRỊNH KHẮC MẠNH

Di sản Hán Nôm gồm những thư tịch và tài liệu viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, là kho văn hóa thành văn to lớn và phong phú nhất của nước ta trước khi có các văn bản ghi bằng chữ La-tinh. Bảo tồn lâu dài và khai thác có hiệu quả kho di sản văn hóa này, là để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam trong thời đại ngày nay.

Đánh giá cao những giá trị to lớn của di sản Hán Nôm, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc sưu tầm, bảo quản và khai thác những giá trị tinh hoa của loại văn bản này. Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 65, ngày 23-11-1945, về "Bảo tồn di sản văn hóa, như: đình, chùa, cung điện, thành quách, bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở... có tính chất tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử"(1). Trong bài Mấy vấn đề văn nghệ Việt Nam hiện nay, đồng chí Trường Chinh viết: "Những tác phẩm cổ điển là tinh hoa của nền văn nghệ dân tộc qua nhiều thế kỷ, do đời sống và tiếng nói dân tộc ngày một phong phú mới dần tạo nên"(2) . Khi bàn về việc tiếp thu di sản văn hóa dân tộc, đồng chí Phạm Văn Đồng đề ra yêu cầu về đào tạo đội ngũ cán bộ là: "Chúng ta cần có những người giỏi và có trình độ cao, có như thế mới sáng tạo, mới sưu tầm một cách có ý thức và nghiên cứu để vận dụng một cách sáng tạo vốn cũ"(3).

Xuất phát từ yêu cầu và nhiệm vụ trên, năm 1970 Ban Hán Nôm thuộc ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam được thành lập. Ban đã quy tụ nhiều nhà hoạt động cách mạng lão thành có kiến thức Hán Nôm học uyên bác như Phạm Thiều, Thạch Can, Cao Xuân Huy, Hoa Bằng, Đào Phương Bình, Ca Văn Thỉnh v.v., cùng các cộng tác viên như Trần Duy Vôn, Lê Duy Chưởng, Nguyễn Hữu Chế, Nguyễn Văn Lãng v.v. Ban đã tổ chức nghiên cứu và phiên dịch các tài liệu Hán Nôm trong 9 năm (1970-1979).

Ngày 13-9-1979, Viện Nghiên cứu Hán Nôm được thành lập trên cơ sở Ban Hán Nôm, theo quyết định số 326/CP của Hội đồng Chính phủ và được tái khẳng định thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia trong Nghị định số 23/CP ngày 22/5/1993 của Chính phủ.

Viện đã được Đảng và Nhà nước giao các chức năng nhiệm vụ sau:

a/ Bảo tồn và giám định các nguyên bản chữ Hán chữ Nôm, sao các bản gốc thành nhiều bản để sử dụng hoặc cung cấp cho các thư viện và các cơ quan có nhu cầu;

b/ Tổ chức biên dịch (gồm cả chú giải) và chính thức công bố các tư liệu chữ Hán chữ Nôm, duyệt lại các bản dịch Hán Nôm đã được công bố;

c/ Nghiên cứu văn bản học, biên soạn những sách công cụ cần thiết cho công tác biên dịch và nghiên cứu tư liệu chữ Hán chữ Nôm;

d/ Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu chữ Hán, chữ Nôm.

Về công tác sưu tầm và bảo quản tư liệu chữ Hán, chữ Nôm gồm các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

a/ Bảo quản thật tốt các tư liệu chữ Hán, chữ Nôm hiện có ở các kho lưu trữ của Viện.

b/ Thu thập về kho lưu trữ của Viện tất cả các tư liệu chữ Hán chữ Nôm hiện có ở các thư viện, các kho lưu trữ khác và còn rải rác ở các địa phương.

Tính đến nay, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã trải qua 30 năm thành lập kể từ Ban Hán Nôm. Viện đã triển khai hoạt động trên các mặt công tác và đã thu được những thành tựu nhất định, đáng khích lệ.

NHỮNG THÀNH TỰU ĐÃ ĐẬT ĐƯỢC TRONG 30 NĂM QUA

1. Tổ chức Hội thảo khoa học để hoạch định phương hướng phát triển của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và ngành Hán Nôm học:

Điều Viện quan tâm trước hết là tiến hành tổ chức hội thảo khoa học chuyên ngành để vạch ra phương hướng hoạt động cụ thể. Đáng chú ý có Hội thảo về Thư tịch cổ và nhiệm vụ mớ i (1979), đã đặt ra những phương hướng, nhiệm vụ trước mắt và lâu dài cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng như ngành Hán Nôm học. Hội thảo về Dịch thuật (1981), với kỷ yếu Dịch từ Hán sang Việt một khoa học, một nghệ thuậ t (1982). Hội thảo về Văn bản học (1982), với kỷ yếu Một số vấn đề văn bản học Hán Nôm (1983). Hội thảo về Sưu tầm bảo quản thư tịch và tài liệu Hán Nôm (1983). Hội thảo về việc biên soạn cuốn Từ điển chữ Nôm (1985) đã là cơ sở cho việc biên soạn Từ điển chữ Nôm. Hội thảo về Nghiên cứu chữ Nôm (1986) và hội thảo Hán Nôm trong đổi mớ i (1991) đã gợi mở nhiều hướng phát triển mới cho hoạt động nghiên cứu Hán Nôm như gắn liền nghiên cứu chuyên môn Hán Nôm với thực tiễn xã hội hiện nay, áp dụng những phương tiện kỹ thuật tiến bộ vào việc quản lý và giải mã các tư liệu Hán Nôm, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ (đặc biệt là đào tạo Sau đại học), mở rộng quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế v.v. Từ năm 1996 đến nay, hàng năm Viện tổ chức Hội nghị Thông báo Hán Nôm học và in Kỷ yếu Hội nghị nhằm tạo điều kiện cho giới nghiên cứu Hán Nôm thông báo những kết quả nghiên cứu và sưu tầm, phát hiện mới nhất về Hán Nôm học.

2. Tập trung lực lượng nghiên cứu, biên soạn, phiên dịch và lần lượt công bố những tác gia, tác phẩm Hán Nôm có giá trị góp phần phục vụ cho sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc:

Kho sách Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng như tư liệu Hán Nôm còn nằm rải rác ở các nơi là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản văn hóa dân tộc. Đây là nguồn tư liệu thành văn phong phú nhất ghi lại quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước cũng như các hoạt động chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, văn hóa - xã hội của dân tộc Việt Nam trải hàng ngàn năm lịch sử thời kỳ phong kiến; có những đóng góp to lớn, rất có giá trị cho Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; là chỗ dựa về mặt lý luận và chứng cứ pháp lý lãnh thổ của nước Việt Nam. Bởi vậy, kho sách Hán Nôm và các tư liệu Hán Nôm khác còn lưu giữ ở các nơi từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu khai thác của các nhà khoa học trong và ngoài nước.

Những định hướng nghiên cứu khoa học trên, đã được Viện thể hiện trong các nhiệm vụ, đề tài cấp Bộ và hệ thống đề tài cấp Viện.

Viện đã lần lượt công bố những tác phẩm Hán Nôm có giá trị như: Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh (1977), Thư tịch cổ nhiệm vụ mớI (1978), Văn bia Hà NộI (1979), Thơ văn Phan Huy Ích (1979) gồm 3 tập, Thơ văn Nguyễn Trãi (1980), Tên làng xã Việt Nam (1981), Đại Việt sử ký tục biên (1982), Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn (1982), Thơ văn Ninh Tốn (1984), Thơ văn Lê Thánh Tông (1986), Lê quý dật sử (1987), Hoan Châu ký (1989), Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam (1991), Trùng san Lam Sơn thực lục (1992), Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san (1992), Thơ văn Nguyễn Cao (1992), Các nhà khoa bảng Việt Nam (1993), Di sản Hán Nôm - Thư mục đề yếu (1993) gồm 3 tập, Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (1993), Thơ đi sứ (1993), Hội Tao đàn (1993), Nghệ An ký (1993), Thư tịch Hán Nôm về nghề nông cổ truyền (1994), Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông (1994), Âm tiết và loại hình ngôn ngữ (1994), Lục Vân Tiên truyện (1994), Thơ văn Nguyễn Đề (1995), Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các đời (1995), Phượng Dực đăng khoa lục (1996), Văn bia thời Mạc (1996), Lịch triều tạp kỷ (1996), Bảng tra thần tích theo làng xã (1996), ứng Khê thi văn tập (1996), Di văn chùa Dâu (1996), Đại Việt sử ký tiền biên (1997), Lê Thánh Tông thơ văn và cuộc đời (1997), Ô Châu cận lục (1997), Phạm Đình Hổ tuyển tập thơ văn (1997), Các phương thức biểu âm trong cấu trúc chữ Nôm Việt (1998), Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (1998) gồm 4 tập, Đối chiếu chữ Hán thể Triện, Thảo, Khải (1998), Tổng tập văn khắc Việt Nam tập I (1998), Những vấn đề văn bản Quân trung từ mệnh của Nguyễn Trãi (1998), Tục lệ Lạng Sơn (1998), Hồ Xuân Hương Tiểu sử văn bản, Tiến trình huyền thoại dân gian hóa (1999), Nghiên cứu văn bản học Đăng khoa lục Việt Nam (1999), Từ thường dùng trong Hán văn cổ (1999), Tân biên Truyền kì mạn lục Nghiên cứu văn bản và vấn đề dịch Nôm (1999), Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản Giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (1999), Đặng gia phả kí (2000), Cổ duệ từ (2000), Ngự chế văn (2000), v.v. Đáng chú ý là một số đề tài hợp tác với nước ngoài như bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu (1993) gồm 3 tập và Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san (1992) gồm nhiều tập hợp tác với EFEO (Cộng hòa Pháp); Văn khắc Hán Nôm (1993), Truyền kỳ mạn lục (1994), Bia Văn Miếu Hà Nội (1997) được sự tài trợ của Tổ chức ACCT; Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (1998) được sự tài trợ của Toyota Foundation (Nhật Bản); Tổng tập văn khắc Việt Nam, tập I (1998) hợp tác 3 bên gồm Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam với EFEO (Cộng hòa Pháp) và Đại học Trung Chính (Đài Loan); đã thể hiện mối quan hệ hợp tác khoa học giữa Viện Nghiên cứu Hán Nôm và quốc tế. Ngoài ra, còn có thể kể tới hàng chục công trình khác trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới Hán Nôm đã được công bố, do sự nỗ lực và năng động của cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm, như Tây Dương Gia Tô bí lục (1984), Lượn CọI (1987), Truyện Thạch Sanh (1987), Dương Từ - Hà Mậu (1989), Phạm Thận Duật, cuộc đời và tác phẩm (1989), Quốc triều hương khoa lục (1993), Làng Đại Bái gò đồng (1987), Văn Lãng huyện biên giớI (1990), Đền bà Chúa kho (1992), Văn bia Lạng Sơn (1993), Văn bia Hà Tây (1993), Hương ước cổ Hà Tây (1993), Việt âm thi tập (1996), Những điển tích Phật giáo kì thú (1996), Từ điển Chu Dịch (1997), Nhật Bản linh dị ký (1999), Đường thơ một thuở (1999) v.v. và v.v.

3. Điều tra sưu tầm tư liệu Hán Nôm :

Công tác sưu tầm tư liệu Hán Nôm luôn luôn là điều trăn trở không riêng của Viện Nghiên cứu Hán Nôm mà của toàn xã hội. ý thức sâu sắc về trách nhiệm phải đảm đương trước tổ tiên, cha ông và con cháu muôn đời mai sau, Viện đã tổ chức nhiều chuyến đi về các địa phương để mua sách và làm bản rập bia, chuông, khánh, biển gỗ, v.v. Từ năm 1979 đến năm 1992, nhiều tư liệu Hán Nôm có giá trị đã được bổ sung vào kho tàng thư tịch. Đặc biệt vào năm 1992, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã về thăm Viện và nhắc nhở Viện phải làm tốt công tác sưu tầm, bảo quản di sản văn hóa dân tộc.

Được sự quan tâm của Chính phủ, năm 1992 - 1993 Viện đã tổ chức một đợt sưu tầm trên địa bàn các tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ (Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc giang, Hà Tây, Nam Định, Hà Nam và Ninh Bình), kết quả là: đã bổ sung được 1.200 cuốn sách Hán Nôm; in rập được hơn 6.700 mặt bia, 680 chuông khánh và 130 biển gỗ; sao chép phiên âm gần 12.000 đôi câu đối và 5.580 bức hoành phi; lập được 22 bản điều tra cấp huyện, 300 bản điều tra cấp xã và 860 bản điều tra cấp thôn.

Từ năm 1994, công tác sưu tầm và bảo quản tư liệu Hán Nôm được lập thành Dự án điều tra sưu tầm nhằm tiếp tục thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Trong 3 năm (1994-1996) thực hiện Dự án, kết quả cụ thể đã làm được là: lập bản điều tra tư liệu ở 5.256 thôn của 337 xã trong 26 huyện thuộc 6 tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ; in rập được 2.876 mặt bia, 502 chuông, 4 khánh và 42 biển gỗ; sao chép phiên âm được 4.015 đôi câu đối và 16.519 hoành phi; mua được 1.120 sách Hán Nôm (trong đó khoảng 200 cuốn sách Nôm Tày) và thu thập được 20.000 bản văn khắc in thời cổ.

Trong các năm 1997-1999, Dự án điều tra sưu tầm tiếp tục được triển khai. Đến nay, Viện hoàn thành cơ bản việc điều tra và sưu tầm tư liệu Hán Nôm ở các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Nam Định, Vĩnh Phúc, Ninh Bình; đang tiếp tục thực hiện ở các nơi như Hải Phòng, Thái Bình, Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương, Lạng Sơn, Thanh Hóa. Kết quả cụ thể là: lập phiếu điều tra tư liệu Hán Nôm ở hơn 450 xã với khoảng 7.000 thôn; sao chép được khoảng 10.300 đôi câu đối và 10.600 hoành phi; in rập được khoảng hơn 8.000 thác bản văn bia, biển gỗ và hơn 800 chuông.

4. Bảo quản tư liệu Hán Nôm:

Ngay sau khi thành lập, được sự đồng ý của Nhà nước, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã tiếp nhận kho sách Hán Nôm từ Viện Thông tin Khoa học xã hội sau nhiều lần trao chuyển: Học viện Viễn đông Bác cổ chuyển cho Thư viện Khoa học Trung ương, sau đó lại chuyển cho Thư viện KHXH; trong thời gian chiến tranh, sách được đưa đi cất giữ trong các hầm núi, rồi chuyển về Viện Thông tin KHXH và cuối cùng chuyển giao cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Đây là một vinh dự và cũng là một trách nhiệm nặng nề đối với cán bộ công chức Viện. Mọi người đều ý thức được rằng công tác bảo quản là hết sức quan trọng, vì kho sách Hán Nôm là kho trí tuệ của dân tộc Việt Nam trải qua bao thế hệ để lại.

Trong nhiều năm qua, về mặt bảo quản, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã làm được khá nhiều việc, xin nêu một số thí dụ:

- Khi Viện Nghiên cứu Hán Nôm được trang bị hệ thống điều hòa trung tâm để bảo quản tư liệu Hán Nôm, đã nảy sinh nhiều ý kiến khác nhau về phương pháp bảo quản này. Để rút kinh nghiệm, đầu năm 1994, Viện đã tổ chức Hội thảo về Môi trường, nhiệt độ và độ ẩm của hệ thống điều hòa trung tâm trong việc bảo quản các tài liệu Hán Nôm. Hội thảo thu hút được nhiều cơ quan chuyên môn tham dự và đã khẳng định phương pháp bảo quản các tài liệu Hán Nôm bằng hệ thống điều hòa trung tâm là góp phần kéo dài tuổi thọ của các tài liệu hiện có trong kho lưu trữ.

- Hàng năm kiểm kê, làm vệ sinh kho sách và kho thác bản văn bia.

- Chụp nhân 3 bản các sách Hán Nôm có giá trị.

- Lập phiếu quản lý văn bản Hán Nôm.

- Làm phiếu quản lý số thác bản văn khắc.

- Bồi vá, tu bổ các sách Hán Nôm hư hỏng.

- Tổ chức và cử cán bộ theo học nhiều lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác bảo quản do chuyên gia người Mỹ, người Nhật hướng dẫn. Hiện nay cán bộ của Phòng Bảo quản đã tiếp thu được khá nhiều kiến thức về nghiệp vụ bảo quản tài liệu cổ và đã nhanh chóng vận dụng vào công tác bảo quản, tu bổ, bồi vá các tài liệu Hán Nôm. Tuy nhiên đây vẫn là giai đoạn thử nghiệm bước đầu với các tài liệu Hán Nôm mới sưu tầm trong vài năm gần đây.

- Tổ chức Hội thảo về công tác bảo quản, tu bổ và bồi vá tư liệu Hán Nôm. Hội thảo được đánh giá là có tác dụng tốt trong việc mở rộng mối giao lưu học hỏi kinh nghiệm về nghiệp vụ bảo quản giữa các đơn vị.

- Xây dựng phương án ghi lưu kho tư liệu Hán Nôm trên các phương tiện mang tin điện tử hiện đại (CD, DVD...) như đĩa compact, đĩa số v.v. nhằm phát huy tính ưu việt về độ an toàn, hiệu quả, chính xác, dễ bảo quản, dễ truy cập và tiện nghiên cứu khai thác của phương tiện này.

- Quét và nhập chương trình quản lí của 126 tập sách Hán Nôm lưu trên 25 đĩa CD-ROM.

5. Thông tin tư liệu thư viện:

Từ một vốn liếng ban đầu còn rất nghèo nàn với vài chục đầu sách, nay Phòng thư viện đã có: 12.330 cuốn sách (Việt, Trung, Anh, Pháp, Nga), 772 bản đồ và hơn 4.000 cuốn tạp chí các loại. Công tác thông tin, tư liệu, đã làm được một số việc chủ yếu sau:

- Lập thư mục các sách và tài liệu Hán Nôm đã được dịch.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu cho kho sách tiếng Việt, sách Trung Quốc chuẩn bị phục vụ bạn đọc.

- Lập thư mục về những người đỗ đạt thời kỳ phong kiến.

- Hoàn chỉnh bản thảo Thư mục các bài viết có liên quan đến tác giả, tác phẩm Hán Nôm trên các tạp chí (Nam Phong, Tri Tân và các tạp chí, thông báo khoa học ở miền Bắc từ 1954 - 1998).

- Làm mục lục sách Hán Nôm hiện tàng trữ ở các thư viện khác tại Hà Nội.

- Hàng năm kiểm kê và vệ sinh kho sách.

6. Tập san Nghiên cứu Hán Nôm và Tạp chí Hán Nôm :

Tập san Nghiên cứu Hán Nôm, tiền thân của Tạp chí Hán Nôm, ra đời từ năm 1984, nhằm giới thiệu những kết quả mới nhất của Viện Nghiên cứu Hán Nôm cùng cộng tác viên của Viện trên các lĩnh vực sưu tầm, gìn giữ, nghiên cứu, khai thác thư tịch, tài liệu Hán Nôm do ông cha để lại.

Đến giữa năm 1986, sau khi in được 4 số với khoảng 90 bài viết của 65 tác giả, Nghiên cứu Hán Nôm được nâng lên thành loại ấn phẩm định kỳ, tức Tạp chí Hán Nôm, mỗi năm ra 2 số. Và từ năm 1993 trở đi, để phục vụ độc giả kịp thời hơn, Tạp chí đã tăng kỳ xuất bản lên gấp đôi, mỗi năm ra 4 số. Như vậy, tính đến cuối năm 1999, Tạp chí đã phát hành được 41 số, đăng tải 737 bài viết lớn nhỏ của 230 tác giả; với nhiều bài nghiên cứu có giá trị học thuật cao và công bố nhiều tư liệu Hán Nôm thuộc loại quý hiếm mới sưu tầm được.

7. Đào tạo cán bộ:

Ngay sau khi thành lập, Ban Hán Nôm và tiếp đó là Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã tập trung vào việc bồi dưỡng trình độ chuyên môn sâu và giải mã văn bản Hán Nôm cho cán bộ, như các lớp Lịch sử tư tưởng Trung Quốc, Nho giáo Việt Nam, Phật giáo Việt Nam, Tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam, Kinh nghiệm dịch từ Hán sang Việt, Nghiên cứu về chữ Nôm, Thư pháp, Nghiên cứu văn bản học, Ngữ văn học, và các khóa bồi dưỡng về Hán ngữ học, Hán Nôm Việt Nam, chữ thảo v.v.

Từ khi Viện được công nhận là cơ sở đào tạo Sau đại học (1994), đã có 13 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án PTS. khoa học Ngữ văn chuyên ngành Hán Nôm tại Viện.

Năm 1996 Viện tuyển cao học Hán Nôm khóa I với 17 học viên tham gia. Lớp học đã hoàn thành chương trình văn hóa cơ bản theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Kết quả thi và kiểm tra chất lượng các môn học đều đạt từ khá trở lên. Đã tổ chức bảo vệ luận án Thạc sĩ cho 15 học viên, kết quả đều đạt loại giỏi.

8. Hợp tác nghiên cứu ngày càng mở rộng:

Quá trình xây dựng và pháp triển Viện Nghiên cứu Hán Nôm gắn liền với việc củng cố và mở rộng mối quan hệ hợp tác với các ngành, địa phương, cơ quan, trường đại học trong nước và quốc tế. Viện đã hợp tác với một số Viện nghiên cứu và các Trường đại học trong và ngoài nước để đào tạo cán bộ có trình độ Đại học và Sau đại học. Trong nước như: với Viện Văn học, Viện Ngôn ngữ học, Viện Sử học v.v. thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia; với Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội v.v. thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ngoài nước như với Viện Đông Phương học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (trước đây), Trường Đại học Tổng hợp Tokyo và Osaka (Nhật Bản), Học viện Viễn Đông Bác cổ Pháp và Trường Cao học Khoa học xã hội (Cộng hòa Pháp), một số nước khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan v.v.

Việc mở rộng mối quan hệ với các ngành, các địa phương là nguyên tắc nhất quán từ trước tới nay của Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Viện đã tham gia hợp tác nghiên cứu khoa học và công bố nhiều tư liệu Hán Nôm có giá trị với các địa phương như Lạng Sơn, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Sơn La, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội, Thái Bình, Hà Tây, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Nghệ An, Bình Định v.v. Những công trình thắm đượm tình nghĩa giữa Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các đơn vị bạn đã lần lượt ra mắt bạn đọc.

9. Tham gia xây dựng bảng mã chữ Nôm và đưa chữ Nôm vào bảng mã chuẩn quốc tế IRG/ISO:

- Chuẩn bị tư liệu và tham dự 14 phiên họp IRG/ISO để hoàn thiện bảng mã chữ thuộc kho chữ biểu ý chung của khu vực.

- Tổng số chữ của Việt Nam trong kho chữ chung hiện nay là 9.299 chữ, trong đó số chữ Nôm không trùng hình với chữ các nước là 4.200 chữ.

10. Xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ nghiên cứu:

Từ năm 1985-1990, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, được sự giúp đỡ của các Bộ, các Ngành hữu quan, trụ sở làm việc và kho lưu trữ tài liệu Hán Nôm của Viện đã được xây dựng và đưa vào sử dụng. Phải nói rằng mười năm về trước mà có được một cơ ngơi tương đối khang trang, rộng rãi như Viện Nghiên cứu Hán Nôm quả là chuyện không dễ.

Từ năm 1995, được sự giúp đỡ của Trung tâm KHXH & NVQG, cơ sở vật chất của Viện ngày càng được tăng cường, nhiều máy móc thiết bị hiện đại đã được đưa vào sử dụng, như máy photocopy, máy vi tính, máy scaner, máy in, máy camera, máy điều hòa nhiệt độ; bàn ghế, tủ của các phòng làm việc; hệ thống báo cháy và chữa cháy tự động; hệ thống thiết bị bảo vệ điện tử v.v.

NHỮNG ĐIỂM CẦN RÚT KINH NGHIỆM TRONG THỜI GIAN QUA

1. Quá trình xây dựng và phát triển Viện Nghiên cứu Hán Nôm chưa có một quy hoạch và chiến lược tổng thể ngay từ đầu.

2. Công tác sưu tầm và bảo quản tư liệu Hán Nôm đã được quan tâm, nhưng chưa đáp ứng được đòi hỏi cấp bách, vì các tư liệu Hán Nôm hiện vẫn đang trong tình trạng lão hóa, nhất là số tư liệu Hán Nôm còn chưa sưu tầm được tại các địa phương đang mất mát một cách nghiêm trọng.

3. Việc nghiên cứu, khai thác di sản Hán Nôm chưa được đầu tư và triển khai một cách thích đáng, nhằm giới thiệu tinh hoa văn hóa dân tộc trong quá khứ để phục vụ cho sự nghiệp phát triển văn hóa hiện nay.

PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN VIỆN ĐẾN NĂM 2010

Bảo vệ lâu dài, chống nguy cơ hư hại kho tư liệu văn hóa thành văn quí báu bậc nhất ở Việt Nam, một bộ phận của văn hóa thế giới và tiến tới quản lý hữu hiệu kho tư liệu ấy; tiếp tục triển khai sưu tầm các tài liệu Hán Nôm hiện có nằm rải rác ở các địa phương trong cả nước đang có nguy cơ mất mát hư hại; tập trung nghiên cứu, khai thác và công bố những tài liệu Hán Nôm có giá trị nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng nền văn hóa nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tổ chức đào tạo chuyên gia nghiên cứu Hán Nôm, khắc phục tình trạng hẫng hụt đội ngũ cán bộ nghiên cứu hiện nay, đào tạo và hình thành thế hệ nghiên cứu Hán Nôm kế cận trong những thập kỷ tiếp theo. Đây là những vấn đề cần được xây dựng, thực hiện trong mối quan hệ hữu cơ với qui hoạch phát triển dài hạn của Viện Nghiên cứu Hán Nôm nói riêng và qui hoạch phát triển dài hạn của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia nói chung. Phương hướng phát triển Viện trước mắt và lâu dài phải nhằm thực hiện có hiệu quả chức năng và nhiệm vụ của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

1. Bảo quản tư liệu Hán Nôm: xây dựng các mẫu chuẩn để quản lý đến từng đơn vị tài liệu theo các qui định về lưu trữ và thư viện. Phân loại tư liệu để có chế độ quản lí và bảo quản thích hợp. Lựa chọn và xác định mức độ tu bổ, bồi vá và phục chế đối với các tài liệu, đưa ra biện pháp kỹ thuật tối ưu khi tu bổ, bồi vá và phục chế, cố gắng giữ nguyên dạng các tài liệu. Xây dựng chế độ bảo quản thật tốt các loại tài liệu theo phương pháp truyền thống, kết hợp với khoa học bảo tàng. Trang bị, nâng cấp các phương tiện bảo quản, chống sự hủy hoại từ môi trường không khí và môi trường sinh học. Nhân bản kho sách hiện có thành 2 kho, tiến tới phục vụ bạn đọc bằng bản photocopy, còn các văn bản gốc phải được quản lý theo chế độ bảo tàng và chỉ phục vụ bạn đọc khi thật cần thiết.

2. Lưu giữ, quản lí tư liệu Hán Nôm bằng các phương tiện mang tin điện tử và hiện đại hóa quy trình phục vụ, lưu trữ, nghiên cứu khai thác thông tin: hoàn chỉnh phương án ghi lưu kho tư liệu Hán Nôm trên các phương tiện mang tin điện tử hiện đại (CD, DVD...) như đĩa compact, đĩa số v.v. nhằm phát huy tính ưu việt về độ an toàn, hiệu quả, chính xác, dễ bảo quản, dễ truy cập của phương tiện này. Thiết kế và xây dựng hệ CSDL Hán Nôm và tiếng Việt, bao gồm các thông tin văn bản, bản đồ, hình ảnh v.v. dựa trên biện pháp kỹ thuật tin học hiện đại. Phục vụ công tác tra cứu dữ liệu Hán Nôm nhằm mục đích nghiên cứu khai thác di sản Hán Nôm và giao lưu văn hóa với bên ngoài. Phục vụ công tác thống kê, phân loại, góp phần quản lý và khai thác nguồn thông tin Hán Nôm một cách hiệu quả. Xây dựng hệ thống mạng phục vụ việc tìm tin theo một qui trình tự động hóa khi phục vụ độc giả, nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu khai thác tư liệu.

3. Tiếp tục điều tra sưu tầm và quản lý tư liệu Hán Nôm còn rải rác ở các địa phương: về chủng loại, di sản Hán Nôm không chỉ bao gồm những tác phẩm văn học, sử học, địa lý v.v. mà còn bao gồm cả các loại văn bản như gia phả, thần phả, văn khắc trên bia đá chuông đồng, biển gỗ, địa bạ, hương ước v.v. cho đến các thứ giấy tờ như văn khế, chúc thư, bằng sắc, lệnh chỉ, sách bói toán phương thuật, hoành phi câu đối v.v., tất cả, trong chừng mực khác nhau, đều gắn liền với bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc. Cho đến nay, ngoài phần lớn di sản Hán Nôm đã thu thập được hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, còn có khá nhiều tư liệu Hán Nôm rải rác ở các địa phương trong toàn quốc. Trong thời gian vừa qua Viện đã sưu tầm được nhiều tư liệu Hán Nôm mới, như hơn 30 văn bia thời Lý-Trần, hơn 80 văn bia khu vực phố Hiến (Hưng Yên) và nhiều tư liệu mới mà kho sách Hán Nôm trước đây chưa có. Do vậy, công việc điều tra, sưu tầm tư liệu Hán Nôm hiện còn đang nằm rải rác trong dân gian là rất cần thiết, với các định hướng: Điều tra tình trạng di sản Hán Nôm hiện còn ở các địa phương trong phạm vi toàn quốc và đưa ra những phương án thích hợp để quản lí và thu thập nguồn tư liệu này. Xác định địa bàn trọng điểm cần sớm tiến hành điều tra thu thập tư liệu Hán Nôm. Sao chép các tư liệu chữ Hán, chữ Nôm gắn với các di tích như hoành phi, câu đối, bài vị, sắc phong v.v. In rập trên giấy dó nguyên dạng văn khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ, khánh, bệ đá, cột mốc, ngai thờ v.v. Thu thập tư liệu Hán Nôm với các hình thức: mua, trao đổi, chụp ảnh, photocopy để đưa về kho lưu trữ của Viện. Lập bản điều tra và phiếu quản lý tư liệu Hán Nôm ở các địa phương.

4. Nghiên cứu khai thác các tư liệu Hán Nôm có giá trị: hướng nghiên cứu khoa học của Viện trong thời gian tới tập trung vào các vấn đề sau:

- Biên soạn những công trình lý luận của ngành Hán Nôm học.

- Biên soạn những bộ sách công cụ.

- Biên soạn những tùng thư theo chuyên đề.

- Dịch thuật các tác phẩm và giới thiệu các tác gia Hán Nôm ưu tú.

5. Tạp chí Hán Nôm: phấn đấu để có thể mỗi năm ra 6 kỳ, với độ dày vẫn giữ được 100 trang như hiện nay. Không ngừng nâng cao chất lượng bài viết và không tụt hậu về kỹ thuật in ấn, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của bạn đọc.

6. Tổ chức Hội thảo khoa học: tổ chức Hội nghị thông báo Hán Nôm học (hai năm một lần). Tổ chức hội thảo khoa học trong nước và quốc tế về Hán Nôm học.

7. Tiếp tục đưa chữ Nôm vào bảng mã chuẩn quốc tế IRG/ISO: đây là công việc cần thiết nhằm bảo vệ vị trí và xác định chủ quyền của chữ Nôm Việt Nam trong bảng mã chuẩn quốc tế.

8. Đào tạo đội ngũ cán bộ: Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện nay, đội ngũ cán bộ nghiên cứu đa số được đào tạo từ các khóa: Đại học Hán học (1965-1968), Lớp chuyên tu Hán Nôm (1974-1977), và một số sinh viên tốt nghiệp các khóa Hán Nôm của khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (trước đây). Độ tuổi trung bình của cán bộ khoảng 50 tuổi, nếu không có kế hoạch bồi dưỡng, bổ sung lực lượng trẻ thì một ngày không xa, sẽ tạo ra một sự hẫng hụt về đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Viện. Một khối lượng tư liệu Hán Nôm đồ sộ do cha ông để lại, nay số người đọc được và hiểu được vẫn còn quá ít. Chúng ta cần mở rộng hơn nữa việc dạy chữ Hán, chữ Nôm trong các trường Đại học thuộc khối khoa học Xã hội và Nhân văn, và đào tạo theo hướng chuyên sâu hơn nữa đội ngũ cán bộ nghiên cứu Hán Nôm hiện có.

Về tổ chức cán bộ: cho phép Viện thường xuyên có 10 chỉ tiêu hợp đồng để có thể nhận các Cử nhân Hán Nôm mới ra trường về Viện đào tạo và bồi dưỡng, nhằm tạo nguồn cho việc thi tuyển dụng hàng năm. Xin bổ sung chỉ tiêu biên chế khoảng 2-4 cán bộ mỗi năm (trong khoảng 10 năm), trên cơ sở lựa chọn những người giỏi chuyên môn đã thực hiện hợp đồng ở Viện.

Về bồi dưỡng kiến thức: giảng dạy một số chuyên đề nhằm nâng cao hơn nữa trình độ nghiệp vụ, gồm: Văn hóa Trung Quốc, Văn hóa ấn Độ, Văn hóa Nhật Bản, Văn hóa Triều Tiên, Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Văn hóa và phát triển, v.v. Làm tốt nhiệm vụ của cơ sở đào tạo sau đại học (đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ). Kết hợp với khoa Hán Nôm ở một số trường Đại học để biên soạn giáo trình và giảng dạy chữ Hán, chữ Nôm. Cử cán bộ ra nước ngoài học tập về kinh nghiệm bảo quản và nghiên cứu khai thác có hiệu quả thư tịch cổ. Tổ chức dạy chữ Hán và chữ Nôm cho người nước ngoài.

9. Quan hệ hợp tác : tiếp tục mở rộng mối quan hệ hợp tác với các địa phương trong nước và các nước trong khu vực, quốc tế.

10. Cơ sở vật chất: tăng thêm diện tích kho để bảo quản thật tốt di sản văn hóa thành văn của dân tộc, kèm theo là diện tích làm việc, phòng thực nghiệm, phòng nghiên cứu; tăng cường hơn nữa trang thiết bị khoa học kỹ thuật nhằm đáp ứng tốt việc sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu khai thác di sản Hán Nôm.

*
**

Nhìn lại quá trình hoạt động các mặt công tác của Viện, cán bộ công chức Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực sự phấn khởi tự hào về những thành tích đã làm được, nhưng cũng không khỏi băn khoăn day dứt về những thiếu sót, bất cập còn đang tồn tại. Ba mươi năm qua, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã phấn đấu theo hướng đoàn kết, ổn định và phát triển. Tin tưởng rằng những năm tới Viện tiếp tục đoàn kết, ổn định và phát triển hơn, hòa vào xu thế phát triển chung của đất nước trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

Xuân Canh Thìn
T.K.M

CHÚ THÍCH

(1) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.504.

(2) Về văn hóa văn nghệ (in lần thứ 4), Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976, tr.214.

3. Xây dựng nền văn hóa văn nghệ ngang tầm với dân tộc ta, thời đại ta, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.98.

TB

NHẬN THỨC LẠI NGÀNH HÁN NÔM
SAU 20 NĂM CÔNG TÁC

TRẦN NGHĨA

Tôi về Viện Nghiên cứu Hán Nôm đến nay, tính ra đã 20 năm, trong đó có 10 năm làm Phó Viện trưởng, Q. Viện trưởng và Viện trưởng (1980 - 1990) và gần 15 năm làm Tổng biên tập Tạp chí Hán Nôm (1986 - 2000). Tuy có một bề dày về thời gian và một quá trình lăn lộn với công tác Hán Nôm như vậy, nhưng giá có ai hỏi tôi di sản Hán Nôm gồm bao nhiêu sách, chuyên môn chính của Viện Hán Nôm là gì và ngành Hán Nôm định cung cấp cho đất nước những cán bộ kiểu nào thì thú thật, tôi không khỏi lúng túng, vì cảm thấy một câu trả lời thật sự thuyết phục cơ hồ vẫn còn đang ở phía trước. Mà chẳng riêng gì tôi, nhiều bạn trong nghề, những ai đã trót một lần nguyện gắn bó suốt đời với sự nghiệp Hán Nôm, chắc cũng có lúc bâng khuâng tự hỏi: rồi mình sẽ đi đâu, về đâu ? Hán Nôm học quả tình là một cái gì hơi khó nắm bắt nếu không muốn nói là còn "mông lung" lắm. Điều này dễ hiểu, bởi lẽ một cơ quan nghiên cứu như Viện Hán Nôm là "độc nhất vô nhị" nếu nhìn vào quá khứ dân tộc, hoặc nhìn ra các nước chung quanh. Không có tiền lệ để học hỏi, tham khảo, chúng ta không còn cách nào khác là phải tự thiết kế lấy hình mẫu cho mình, vừa hoạt động vừa rút kinh nghiệm nhằm điều chỉnh phương hướng, thậm chí rẽ sang lối khác nếu cần..., để thực hiện tốt hơn và hiệu quả hơn về nhiệm vụ, chức năng của Viện theo Quyết định số 311/CP ngày 8/9/1979 của Hội đồng Chính phủ.

Hai thập niên đã trôi qua kể từ ngày Viện Nghiên cứu Hán Nôm thành lập, chúng ta có một số bài học thực tiễn khả dĩ giúp làm rõ thêm lời giải đáp cho các câu hỏi trên kia. Và như vậy cũng tức là tự nhận diện lại mình, xét duyệt lại lý do tồn tại của mình, xác định lại đường đi nước bước trong điều kiện mới, không gì khác hơn là nhằm góp phần đưa Viện Nghiên cứu Hán Nôm và ngành Hán Nôm tiếp tục vươn lên phía trước.

*
**

Hãy bắt đầu từ câu hỏi di sản Hán Nôm gồm bao nhiêu sách ? Câu trả lời có thể bao gồm hai phần: một mang tính định lượng và một mang tính định tính.

Về mặt định lượng, đã có các công trình thư mục đáng chú ý sau đây:

TT Tác giả Công trình thư mục Niên đại Số lượng sách
1 Lê Quý Đôn Nghệ văn chí (LTTS, Q3) 1759 115 bộ
2 Phan Huy Chú Văn tịch chí (LTHCLC Q42-45) 1821 213 bộ
3 Phạm Doãn Địch ... Tụ Khuê thư viện tổng mục sách 1902 2.544 bộ
4 Nội các triều Nguyễn Nội các thư mục 1908 2.267 bộ
5 E. Gaspardone Bibliographie annamite (BEFEO, T34) 1934 342 bộ
6 Trần Duy Vôn Nam thư mục lục 1938 512 (có bộ trùng lặp)
7 Thư Viện KHXH (Hà Nội) Thư mục Hán Nôm 1969-1972 5.555 bộ
8 Trần Văn Giáp Tìm hiểu kho sách Hán Nôm 1970 và 1990 428 bộ
9 Trần Nghĩa - F. Gros (chủ biên) Di sản HNVN - TMĐY 1993 5.038 bộ

Số lượng sách Hán Nôm thống kê được qua các công trình thư mục như đã thấy, hiển nhiên là không nhất trí. Một là do có sự gia tăng tác phẩm theo thời gian: thời Phan Huy Chú sách nhiều hơn thời Lê Quý Đôn; thời Trần Duy Vôn sách nhiều hơn thời Phan Huy Chú... Hai là vì tiêu chuẩn lựa chọn của những người làm thư mục ở đây không giống nhau: Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, E.Gaspardone, Trần Duy Vôn, Trần Văn Giáp chỉ đưa vào bản thư mục của mình những tác phẩm đáng gọi là "sách" theo ý nghĩa chặt chẽ của từ này, trong khi ở các bản thư mục khác vấn đề lại được quan niệm một cách rộng rãi hơn - từ một bộ sách in chỉnh chện đến một tập giấy viết tay vội vã, phàm do người Việt Nam tạo lập, hay ít nhiều có gia công vào văn bản, đều được xem là di sản Hán Nôm cả. Nói cách khác, di sản Hán Nôm Việt Nam bao gồm toàn bộ thư tịch và tài liệu Hán Nôm do các thế hệ trước trao lại cho chúng ta.

Với tiêu chuẩn lựa chọn thứ nhất, xuất phát từ một cách nhìn chặt chẽ, di sản Hán Nôm Việt Nam gồm khoảng 500 bộ sách, trong đó có những tác phẩm đã mất. Với tiêu chuẩn lựa chọn thứ hai, xuất phát từ một cách nhìn rộng rãi hơn, chúng ta hiện có hơn 5.000 đầu sách và tài liệu khác nhau viết bằng chữ Hán, chữ Nôm.

Tất nhiên còn phải kể tới trên 22.000 thác bản văn bia, chuông, khánh... cùng khoảng 4.000 tập gồm châu bản, thần sắc, thần tích, tục lệ, địa bạ, xã chí, cổ tự chỉ... và chừng 2.400 văn bản Hán Nôm mới sưu tầm được trong những năm gần đây đang chờ sắp xếp, phân loại trước khi đưa ra phục vụ bạn đọc.

Về mặt định tính, di sản Hán Nôm đại diện cho nền văn hóa thành văn của Việt Nam trong quá khứ, bao gồm Hiến chương, Thơ văn, Truyện ký, Phương kỹ theo cách phân loại của Lê Quý Đôn; hay Hiến chương, Kinh sử, Thơ văn, Truyện ký theo cách phân loại của Phan Huy Chú; hoặc Kinh, Sử, Tử, Tập theo cách phân loại truyền thống của các nước phương Đông thuộc khối "đồng văn". Với cách nhìn ngày nay, cũng có thể nói di sản Hán Nôm chứa đựng những tác phẩm thuộc nhiều ngành khoa học hiện đại mà trước hết là khoa học xã hội và nhân văn(1). Hãy lấy trường hợp sách Hán Nôm tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm làm một thí dụ. Trong tổng số 5.038 đầu sách do Viện quản lý, theo kết quả phân loại sơ bộ của chúng tôi, có khoảng:

2.500 tác phẩm liên quan tới Văn học;

1.000 tác phẩm liên quan tới Sử học;

600 tác phẩm liên quan tới Tôn giáo;

450 tác phẩm liên quan tới Văn hóa, Giáo dục;

350 tác phẩm thuộc các lĩnh vực Chính trị, Xã hội;

300 tác phẩm thuộc các lĩnh vực Y dược, Vệ sinh;

300 tác phẩm thuộc lĩnh vực Địa lý;

250 tác phẩm thuộc lĩnh vực Pháp chế;

80 tác phẩm thuộc lĩnh vực Nghệ thuật;

70 tác phẩm thuộc lĩnh vực Kinh tế;

60 tác phẩm thuộc các lĩnh vực Ngôn ngữ, Văn tự;

50 tác phẩm thuộc lĩnh vực Toán lý;

40 tác phẩm thuộc các lĩnh vực Quân sự, Quốc phòng; và một số lượng ít hơn bàn về Kiến trúc, Nông nghiệp, Tiểu thủ công , hoặc mang tính tổng hợp (Trong các thống kê trên, một đầu sách có thể được tính ở nhiều chỗ, nếu tác phẩm ấy có liên quan tới nhiều ngành khác nhau)(2).

Hy vọng với một tương lai không xa, khi công tác sưu tầm thư tịch và tài liệu Hán Nôm ở trong nước cũng như ở nước ngoài hoàn tất và việc hiểu biết những thông tin mà chúng lưu giữ được toàn diện hơn, sâu sắc hơn, cặn kẽ hơn, chúng ta sẽ có câu trả lời đáng tin cậy cho câu hỏi di sản Hán Nôm gồm bao nhiêu sách. Nhưng chỉ với những gì đang có, cũng đủ để nhận thức được rằng đây là hiện thân của văn hiến mấy nghìn năm, một tài sản (property) chứ không chỉ là di sản (heritage) tinh thần vô giá cần được quản lý tốt và dày công nghiên cứu, khai thác như một nguồn lợi tiềm tàng của đất nước. Chớ vì một vài cuốn sách "ngụy tạo" hoặc "râu ông cằm bà" trong kho sách Hán Nôm mà nghi ngờ, rẻ rúng cả di sản của người xưa, nông nổi cho rằng đây chỉ là sản phẩm của một thời "học nhờ, viết mướn" như có người từng nghĩ.

*
**

Để tích cực nghiên cứu, khai thác kho sách Hán Nôm đồ sộ về số lượng và phong phú về chủng loại do tiền nhân lưu lại, từ năm 1970 Ban Hán Nôm thuộc UBKHXHVN ra đời với nhiệm vụ học thuật buổi đầu là phiên chuyển sang tiếng Việt hiện đại một số tác phẩm Hán Nôm có giá trị thuộc các lĩnh vực Văn học, Sử học, Triết học. Về mặt cơ chế, Ban Hán Nôm lập các tổ Văn, Sử - Địa và Triết. Chuyên môn chính của Ban Hán Nôm là dịch thuật.

Đến Năm 1978, tuy Ban Hán Nôm có một vài điều chỉnh về tổ chức (như thay Tổ Văn, Tổ Sử - Địa, Tổ Triết bằng Tổ Nôm, Tổ Văn - Sử - Triết, Tổ Từ điển) cũng như về phạm vi quan tâm đối với các loại sách Hán Nôm (từ chỗ chỉ chú trọng tới các sách Văn, Sử, Triết đến chỗ chia thư tịch, tài liệu Hán Nôm ra làm 9 loại, đều nằm trong tầm khai thác theo những mức độ khác nhau: Lịch sử, Địa chí, Văn học, Truyện tích, Kỹ thuật, Tôn giáo, Triết học, Giáo dục, Tạp biên)(3), nhưng về chuyên môn thì trước sau vẫn trung thành với đường hướng "dịch thuật". Hay nói như Trương Đình Nguyên: "Chúng tôi hình dung công việc chủ yếu (cũng là nội dung chủ yếu và mục đích chủ yếu) của người làm công tác Hán Nôm là truyền đạt lại thật chính xác, thật đầy đủ, thật rõ ràng bằng tiếng Việt hiện đại những nội dung được chứa đựng trong văn bản Hán Nôm, để cho những người làm công tác nghiên cứu ở các ngành có liên quan với các nội dung đó trên cơ sở các tư liệu Hán Nôm đã được "giải mã" đó tiến hành việc nghiên cứu phân tích, chắt lọc lấy những phần cần thiết cho công việc của ngành mình. Tất nhiên nói như vậy không có nghĩa là bó hẹp công việc của người cán bộ nghiên cứu Hán Nôm vào trong khuôn khổ "chữ nghĩa" mà nếu như vừa thông hiểu Hán Nôm lại vừa có khả năng đi sâu nghiên cứu các nội dung khoa học, học thuật trong văn bản, thì đó lại là điều tốt nhất, lý tưởng nhất. Song căn cứ vào tình hình đội ngũ cán bộ hiện nay, nếu đòi hỏi tất cả mọi người làm công tác này đều có được khả năng nói trên có lẽ là quá cao và không sát thực tế"(4).

Năm 1979, Ban Hán Nôm được nâng lên thành Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kết thúc giai đoạn công tác Hán Nôm chỉ dừng lại ở khâu "giải mã" văn bản để cung cấp "tư liệu" cho các nhà nghiên cứu, khai thác những gì mà mình đã "giải mã", cũng tức là thực sự bắt tay vào làm khoa học. "Tính chất khoa học và vị trí chính đáng" của ngành Hán Nôm từ đây được chính thức xác nhận, điều mà GS. Phạm Thiều, người lãnh đạo đầu tiên của Ban Hán Nôm đã chờ đợi trong nhiều năm(5).

Để thích ứng với tình hình mới, Viện Hán Nôm đã lập ra 4 Ban nghiên cứu: Ban lý luận, Ban Hán cổ, Ban Hán cận và Ban Nôm. Mỗi Ban như thế (trừ Ban lý luận) đều vừa làm công tác dịch thuật vừa làm công tác nghiên cứu. Riêng Ban lý luận được giao nhiệm vụ đi vào những vấn đề mang tính lý thuyết về chữ Hán, chữ Nôm, phiên âm, dịch nghĩa, văn bản học, Đông phương học... và bao trùm lên tất cả là cách kế thừa, khai thác di sản Hán Nôm để phục vụ cho việc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới.

Từ năm 1987, được kích thích bởi phong trào đổi mới chung của đất nước, Viện Hán Nôm cũng đã tiến hành một cuộc cải tổ lớn về nghiên cứu khoa học: xóa bỏ các Ban nghiên cứu cũ để thành lập 4 Phòng nghiên cứu mới - Phòng Văn tự, Phòng Văn tịch, Phòng Văn bản, Phòng Hán Nôm các dân tộc và khu vực - nhằm làm rõ thêm các lĩnh vực nghiên cứu mà Viện Hán Nôm có thể chiếm lĩnh trong mối tương quan với các ngành khoa học khác.

Nhưng rồi sau 20 năm phát triển, cho đến hôm nay, Viện Hán Nôm vẫn cần có một khuôn mặt tách bạch hơn về khoa học học thuật, không trộn lẫn được với các ngành nghiên cứu khác như Ngôn ngữ, Văn học, Sử, Khảo cổ, Triết chẳng hạn. Muốn thế, không thể không trở lại với điểm xuất phát - Kho sách Hán Nôm, cái mà Viện Hán Nôm do đó đã ra đời - để tìm giải pháp, giống như thần Anteos phải bám vào đất, mẫu thân của mình, để tìm thấy sức mạnh mới mỗi khi gặp thách thức vậy.

Kho sách Hán Nôm, như trên kia từng nói, bao gồm các thư tịch và tài liệu được soạn thảo bằng chữ Hán, chữ Nôm, những văn tự mà ngày nay số người đọc được, hiểu được không nhiều. Việc phiên chuyển loại văn bản này ra tiếng Việt hiện đại nhằm phục vụ cho đông đảo bạn đọc, luôn luôn là nhiêm vụ hàng đầu, "thiên chức" không thể lẩn tránh của những người làm công tác Hán Nôm. Dịch thuật Hán Nôm vì thế trở thành tiêu chí quan trọng để phân biệt Viện Hán Nôm với các Viện nghiên cứu khác.

Kho sách Hán Nôm là hiện thân văn hiến mấy nghìn năm của dân tộc(6), bao quát cả "Kinh, Sử, Tử, Tập" theo cách nhìn truyền thống, hay "khoa học xã hội và nhân văn" với con mắt ngày nay. Ra đời trong một thời kỳ mà các khái niệm phần nhiều còn lồng chập, đa nghĩa, học thuật chưa triệt để phân ngành, các văn bản Hán Nôm thường mang tính tổng hợp, "Văn - Sử - Triết bất phân". Đây là một đặc điểm, cũng là một "lợi thế" nếu có thể gọi được như vậy, mà người làm công tác Hán Nôm khả dĩ nắm lấy để đi vào những đề tài nghiên cứu tổng hợp - đa ngành, thích ứng với thực trạng nội dung văn bản. Nghiên cứu tổng hợp - đa ngành là tiêu chí thứ hai để phân biệt Viện Hán Nôm với các Viện chuyên ngành khác.

Kho sách Hán Nôm còn là sản phẩm của giao lưu văn hóa, người làm công tác Hán Nôm có thể dựa vào đây, kho "quốc thư" của mình, để tìm hiểu mối quan hệ qua lại giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa các nước đồng văn, đặc biệt là văn hóa Trung Quốc. Di sản Hán Nôm chỉ có thể được nghiên cứu sâu hơn, nếu nắm được văn hóa toàn vùng. Ngược lại, văn hóa toàn vùng sẽ được hiểu biết đầy đủ hơn, nếu có sự góp mặt của di sản Hán Nôm. Làm được những điều trên, nhà Hán Nôm học đồng thời cũng là nhà Đông phương học. Nghiên cứu Việt Nam trong mối quan hệ giao lưu với các nước đồng văn là tiêu chí thứ ba để phân biệt Viện Hán Nôm với các Viện anh em.

*
**

Về câu hỏi ngành Hán Nôm định cung cấp cho đất nước những cán bộ kiểu nào, câu trả lời tùy thuộc rất nhiều vào nhận thức của chúng ta đối với lĩnh vực chuyên môn mà mình đảm trách.

Trước ngày Viện Hán Nôm thành lập, đã có các khóa đào tạo như lớp Đại học Hán văn (1965 - 1968), lớp chuyên tu Hán văn sau Đại học, lớp chuyên tu Hán văn trên Đại học. Với phương châm "Đau Nam chữa Bắc" (lời của ông Hoài Thanh, Phó Viện trưởng Viện Văn học phát biểu trong buổi lễ khai giảng lớp Đại học Hán văn), chúng ta miệt mài học Hán học từ ngọn nguồn của nó, không vì mục đích nào khác là để quay về lý giải cho được kho sách Hán Nôm của chúng ta, nhằm "truyền đạt lại thật chính xác, thật đầy đủ, thật rõ ràng bằng tiếng Việt hiện đại những nội dung được chứa đựng trong văn bản Hán Nôm" (lời của ông Trương Đình Nguyên, nguyên Chủ nhiệm khoa Trung Văn, trường Đại học Sư phạm ngoại ngữ). Ngành Hán Nôm giai đoạn này chủ yếu cung cấp cho xã hội những nhà dịch thuật có trình độ Hán học và quốc học trong chừng mực nhất định.

Sau khi Viện Hán Nôm ra đời, khía cạnh nghiên cứu khoa học được đặc biệt nhấn mạnh, phần lớn cán bộ Hán Nôm, để làm được việc, đều phải kinh qua đào tạo lại hoặc ít hoặc nhiều. Số người học ở Đại học ngoại ngữ ra, nay phải bổ sung kiến thức về Văn, về Sử, về Triết... Số người tốt nghiệp từ Đại học Tổng hợp, nay phải bổ sung thêm về Hán, về Nôm... Lại phải phấn đấu để có học vị, học hàm, nhằm nâng cao trình độ khoa học của người làm công tác nghiên cứu hoặc giảng dạy.

Hai mươi năm qua, chúng ta gặt hái được trên lĩnh vực đào tạo kể cũng là nhiều, nhưng rõ ràng còn phải cố gắng nhiều hơn khi bước sang thế kỷ 21.

Dịch bây giờ, nhất là dịch về Hán Nôm, cũng phải mang hơi thở của lý thuyết dịch thuật mới: dịch là chuyển một tác phẩm từ tâm lý văn hóa dân tộc này sang tâm lý văn hóa dân tộc kia. Nó không còn bị coi là một việc làm thụ động, bất đắc dĩ, theo ý tưởng "dịch là phản", mà được quan niệm như một quá trình "tái tạo tích cực", dẫn tới những "khởi phát" hoặc "khám phá" bất ngờ. Những người làm công tác dịch thuật Hán Nôm do vậy không những đòi hỏi phải am hiểu quá khứ dân tộc mình, mà còn cần phải biết càng sâu càng tốt tâm lý văn hóa của người Trung Hoa, người Triều Tiên, người Nhật Bản, hay nói rộng ra, tâm lý văn hóa của các dân tộc trong khối nước đồng văn.

Để làm được những đề tài khoa học mang tính tổng hợp - đa ngành, người làm công tác Hán Nôm lại không thể không trang bị cho mình những kiến thức về khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là về Văn, về Sử, về Triết... Không hiểu các lĩnh vực này, anh dịch sao nổi các tác phẩm Hán Nôm, nói gì đến việc nghiên cứu những nội dung khoa học, học thuật mà văn bản hàm chứa ?

Và để có thể lý giải, tìm hiểu những vấn đề Hán Nôm từ góc nhìn Đông phương học, khả dĩ giao lưu với các nhà nghiên cứu trong hoặc ngoài vùng, người làm công tác Hán Nôm còn cần phải biết ngoại ngữ, trước hết là tiếng Trung và tiếng Anh, những phương tiện để đọc và giao tiếp không thể thiếu nếu anh muốn đi sâu, đi xa trong lĩnh vực chuyên môn mà anh đã lựa chọn và khát khao cống hiến.

Đích cuối cùng của công việc đào tạo, theo thiển ý, là phải cung cấp cho đất nước những chuyên gia.

Chú thích:

(1) Xem Trần Nghĩa: "Mấy suy nghĩ về vấn đề quốc học". Tạp chí Hán Nôm Số 1 - 1997.

(2) Xem Trần Nghĩa: "Dẫn luận", Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu; Nxb. KHXH; Hà Nội 1993, tr.24.

(3) Xem Nguyễn Đổng Chi: "Đặc điểm của thư tịch Hán Nôm và nhiệm vụ cấp thiết của chúng ta đối với kho di sản ấy", Thư tịch cổ và nhiệm vụ mới. Nxb. KHXH, Hà Nội 1979, tr.28.

(4) Xem Trương Đình Nguyên: "Vấn đề đào tạo một đội ngũ cần thiết cho việc khai thác di sản Hán Nôm", Thư tịch cổ và nhiệm vụ mới, Sđd. tr.100.

(5) Thư tịch cổ và nhiệm vụ mới, Sđd. tr.73.

(6) Xem Trần Nghĩa: "Di sản Hán Nôm và vấn đề nghiên cứu truyền thống", Tạp chí Hán Nôm, Số 1 - 1996.

TB

TÍCH HỢP TRONG GIÁO DỤC
THUỞ XƯA

TẠ ĐĂNG TUYÊN

Từ những năm giữa của thập kỷ 80 người ta hay nói đến tích hợp: tích hợp trong giáo dục dân số, tích hợp trong giáo dục môi trường, tích hợp trong giáo dục vệ sinh, phòng bệnh, vân vân và vân vân. Có nơi, có lúc tích hợp đã trở thành như một thứ mốt thời thượng. Song đọc lại Tam tự kinh - cuốn sách học vỡ lòng chữ Nho khá phổ biến thời xưa - mới hay cổ nhân đã thực hiện việc tích hợp trong giáo dục tự bao giở bao giờ. Chẳng những thế, các thế hệ đi trước còn tích hợp hết sức “triệt để” bằng cách đưa vào sách vỡ lòng cho con trẻ tất cả những gì là cơ bản nhất của tri thức phổ thông thời đó mà không cần biết chúng có hiểu nổi không. Gọi là “kinh” nhưng thực ra đó chỉ là cuốn sách học vỡ lòng chữ Hán cho trẻ em thuở xưa ở Trung Quốc (và trước đây cũng rất phổ biến ở Việt Nam). Nó phổ biến đến mức mà hầu như ai cũng biết một số câu trong đó: nhân chi sơ, tính bản thiện, và không biết tự bao giờ nó đã được “đính chính” thành nhân tri sơ, sờ vú mẹ. Điều ngạc nhiên hơn nữa là nếu ngẫm nghĩ kỹ mới thấy “đính chính” này tuy có vẻ khí dân dã song lại rất chính xác. Tam tự kinh nguyên do Vương ứng Lân (đời vua Ninh Tông 1195-1224, nhà Tống) soạn và sau đó tiếp tục được bổ sung ở các triều đại kế tiếp. Sách được viết theo thể văn vần, gồm 373 câu, mỗi câu ba chữ. Mục đích chính của việc biên soạn sách là dạy vỡ lòng cho con trẻ. Các tác giả thời xưa đã thực hiện “tích hợp” khá nhiều vấn đề gồm lịch sử, triết học, đạo đức, luân lý... Tôi xin được kể một số điểm chính.

1. Có thể nói lịch sử Trung Quốc là bộ môn được “tích hợp” nhiều nhất, chiếm khoảng gần một phần ba nội dung của sách (từ câu 172: “Tự Hy, Nông = Từ vua Phục Hy, Thần Nông” đến các câu 269, 270, 271: “Thanh Thái Tổ, Tinh tứ phương, Khác đại định = Vua Thái tổ nhà Thanh, dẹp bốn phương, định được tất cả”). Với mục đích để trẻ em “Tri chung thủy = Biết trước, sau” nên sách đã tóm tắt lịch sử Trung Quốc từ Tam Hoàng thời cổ đại đến nhà Thanh gần đây. Một điều rất đáng chú ý là sách dạy trẻ nhỏ phải học có suy nghĩ: "Khẩu nhi độc, Tâm nhi suy, Triêu ư ty, Tịch ư ty = Miệng thì đọc, lòng thì suy, sớm và chiều cứ thế, đọc và suy". Nói thế vì cổ học vốn mang nặng tính khoa cử, giáo điều, không khuyến khích tính độc lập suy nghĩ.

2. Như ta đã biết, các tập đoàn phong kiến ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam trước đây đã tìm thấy ở Đạo Nho như một thứ vũ khí tư tưởng lợi hại nhằm duy trì ngai vàng của họ, vì vậy Đạo Nho đã chiếm được vị trí độc tôn. Điều đó giải thích tại sao những khái niệm cơ bản của Đạo Nho như Tam cương, Ngũ thường lại được “tích hợp” vào sách vỡ lòng con trẻ. Đó là : “Tam cương giả, Quân thần nghĩa, Phụ tử thân, Phu phụ thuận = Ba mối quan hệ: nghĩa vua tôi, đạo cha con, tình chồng vợ” và “Viết nhân nghĩa, Lễ trí tín, Thử ngũ thường, Bất dong vặn = Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đó là năm đạo thường không nên làm rối loạn”. Ngoài ra sách còn nhồi nhét vào đầu trẻ nhỏ cả những tác phẩm kinh điển của Đạo Nho như Tứ thư, Ngũ kinh, những thứ sách vượt quá khả năng nhận thức bình thường của con trẻ (ấy là không nói, kể cả đối với người lớn cũng chẳng dễ hiểu chút nào): “Thi Thư Dịch, Lễ Xuân thu, Hiệu lục kinh, Đương giảng cầu = Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân thu là sáu kinh nên giảng tìm lấy nghĩa lý”. Bên cạnh đó, sách không quên giới thiệu những nhân vật tiêu biểu của Đạo Nho như Khổng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử...

3. Không chỉ có vậy, người xưa còn “tích hợp” tất cả những tri thức thuở ấy về vũ trụ, triết học, tâm lý học... “Tam tài giả, Thiên địa nhân. Tam quang giả, Nhật nguyệt tinh... Viết xuân hạ, Viết thu đông. Thử tứ thì, Vận bất cùng. Viết nam bắc, Viết tây đông. Thử tứ phương... Viết thủy hỏa, Mộc kim thổ. Thử ngũ hành... Viết hỷ nộ, Viết ai cụ, ái ố dục. Thất tình cụ = Ba đấng tài: Trời, Đất, Người. Ba chất sáng: mặt trời, mặt trăng, tinh tú... Rằng mùa xuân, mùa hạ, Rằng mùa thu, mùa đông. Đó là bốn mùa, xoay vần khôn cùng. Rằng Nam, Bắc, Tây, Đông. Đó là bốn phương... Rằng nước, lửa, cây cối, kim loại, đất. Đó là ngũ hành... Rằng mừng, giận, rằng thương, sợ, yêu, ghét, ham muốn. Đó là bảy thứ tình cảm”. Là sách dạy vỡ lòng chữ Nho, song tác giả không quên “tích hợp” dạy “toán”: “Tri mỗ số, Thức mỗ danh. Nhất nhi thập, Thập nhi bá, Bá nhi thiên, Thiên nhi vạn = Học cho biết số, biết tên. Từ một đến mười, từ mười đến trăm, từ trăm đến nghìn, từ nghìn đến vạn”.

4. Có thể nội dung sách còn có những hạn chế này khác, song điều mà có lẽ nhiều người cũng như tôi, rất tâm đắc là tính khuyến học “ấu bất học, Lão hà vi ? = Bé chẳng học, Lớn làm gì?” với một logic rất đơn giản “ấu nhi học, Tráng nhi hành = Bé thì học (để) lớn thì hành” hoặc “Ngọc bất trác, bất thành khí, Nhân bất học, Bất tri lý = Ngọc không giũa không thành đồ quý, người không học không biết nghĩa lý”. Chính vì thế sách đã nêu nhiều gương hiếu học của những người thuộc các lứa tuổi khác nhau, các giới khác nhau trong xã hội thuộc các thời đại khác nhau trong lịch sử Trung Quốc, kèm theo những lời khuyên: “Nhĩ tiểu sinh, Nghi tảo tư = Cháu còn trẻ, nên sớm biết nghĩ” hoặc “Nhĩ ấu học, Đương hiệu chi = Cháu còn nhỏ đang đi học nên theo gương...”

Đọc cuốn sách xưa thấy có những điểm tương đồng đang được đặt ra trong giáo dục ngày nay nên đánh bạo thưa thốt đôi điều mong được trao đổi ý kiến nhằm gạn đục khơi trong. Nếu có điều gì sai sót cũng là do sự hiểu biết chưa thấu đáo của người viết vậy. Kính mong được sự chỉ giáo của chư vị độc giả gần xa, nhất là những vị am hiểu Hán học và giáo dục.

T.Đ.T

TB

VÀI NÉT VỀ HÌNH THỨC VĂN BẢN HƯƠNG ƯỚC LÀNG VIỆT CỔ TRUYỀN

VŨ DUY MỀN

Như chúng ta biết, hương ước còn lại đến ngày nay có tới hàng nghìn bản, bao gồm trong đó cả bản chính và bản sao. Để đảm bảo độ tin cậy của mảng tư liệu này, khi khai thác, sử dụng trong các công trình nghiên cứu về làng xã Việt Nam cổ truyền và lịch sử dân tộc, thiết nghĩ không thể bỏ qua khâu cơ bản là giám định văn bản từ hình thức văn bản đến nội dung của chúng.

Bài viết này chủ yếu bàn về một số yếu tố thuộc hình thức văn bản hương ước mà chúng ta cần biết khi tiến hành việc giám định văn bản.

1. Nguyên liệu tạo văn bản:

Khoán ước, hương ước là nguồn sử liệu đám đông. Chúng có nhiều dáng vẻ khác nhau được tạo nên bởi một số nguyên liệu khác nhau.

Nếu căn cứ theo những dẫn liệu mà chúng tôi khảo cứu thì hình thức sơ khởi của khoán ước là khế ước, một thứ bằng chứng giữa người mua và người bán, hoặc giữa người cho vay (chủ nợ) và người vay (con nợ). Khế ước thường được viết trên giấy bản hay giấy dó theo quy định của Nhà nước phong kiến đương thời. Sau này, khi khoán ước không còn đồng nghĩa với khế ước, chúng mang ý nghĩa độc lập quy ước về một số mặt hoạt động của làng tức hương ước cũng được viết trên giấy bản hoặc giấy dó...

Thí dụ bản sao hương ước làng Tri Lễ (1420) trước kia hoặc bản khoán ước làng Ngọc Than, Quốc Oai, Hà Tây (1949) ở thế kỷ gần đây, đều được viết tay trên giấy bản hoặc giấy học sinh.

Ngoài những nguyên liệu thường dùng như giấy bản, giấy dó, ta còn thấy có một số hương ước được khắc trên sắt, trên đồng, trên gỗ và nhất là trên đá.

Trường hợp khắc trên sắt như “đan thư thiết khoán” hoặc “thiết khoán như tại”. Khuông tín hầu Nguyễn Văn Lang, công thần nhà Lý về sau được nhà Lê ban cho “thiết khoán như tại”(1).

Trường hợp khoán ước, hương ước khắc trên đồng, như bản chức thư bằng đồng tìm thấy ở vùng đồng bào Mường Thanh Sơn(2). Bản chức thư được làm bằng ba lá đồng mỏng, đóng lại với nhau bằng hai vòng khuyên tròn cũng bằng đồng. Kích thước của lá đồng có bề dài 0,16m; rộng 0,10m; dày 0,001m. Ba lá đồng được khắc chữ ở tất cả sáu mặt, như vậy có 6 trang, mỗi trang có 8 hàng chữ, riêng trang cuối chỉ có ba hàng chữ. ở mỗi trang còn chia ra hai phần trên và dưới cách nhau một khoảng 0,01m. Bản chúc thư này là của thổ lang Đinh Thế Thọ và vợ là Nguyễn Thị Hậu. Tuy không ghi rõ năm tháng làm chúc thư, song căn cứ vào những địa danh như Gia Hưng phủ, Thanh Xuyên huyện, đối chiếu với sự thay đổi địa lý hành chính, chúng tôi dự đoán rằng bản chúc thư này được lập vào thời hậu Lê.

Nội dung bản chúc thư gồm 3 phần:

- Phần một nói về quá trình xác lập dòng thổ lang Đinh Thế Thọ.

- Phần hai nói về ruộng đất và việc phân chia ruộng đất, ruộng hương hỏa.

- Phần thứ ba nói về những lệ (hương ước) của nhà lang và của bản làng (12 lệ về làm nhà cửa, làm ruộng, ma chay, cưới xin, cầu cúng ở đình, hát xướng, săn bắn, phục dịch, lệ đối với vùng lân cận khi có ruộng đất xen cạnh nhau)(3).

Khoán ước Đông Lao, xã Đông La, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây cũng được khắc trên 18 lá đồng khổ 0,18m x 0,36m. Tất cả các lá đồng được đóng lại thành một cuốn sách, ở cuối sách ghi niên đại Chính Hòa năm thứ 8 (1687). Nội dung của cuốn sách đồng “Đông Lao thau khoán” này nói về lệ hậu thần của cả làng. Chúng tôi cho rằng không còn nghi ngờ gì nữa, đồng đã được chọn làm chất liệu để tạo nên hình thức bề ngoài của một số văn bản khoán ước, hương ước. Do đó trong thực tế, có thể còn tồn tại các bản khoán ước bằng đồng khác mà chúng ta chưa tìm thấy.

Trường hợp khắc trên gỗ, như khoán ước của làng Phú Kinh, nay thuộc xã Hai Hòa, huyện Triệu Hải, tỉnh Quảng Trị. Khoán ước được khắc trên tấm gỗ lớn dài 2,4m, rộng 0,35m, dày 0,06m, lập vào năm Cảnh Hưng, Giáp Ngọ (1774), trong đó quy định việc phân chia ruộng đất công của làng, khuyến học, khuyến nghề(4).

Trường hợp khoán ước, hương ước khắc trên đá, có:

- “Bia huệ điền” dựng ở thôn Bình Vọng, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín (Hà Tây) ghi các điều ước ngăn ngừa trộm cắp, bảo vệ thôn xóm và bảo vệ ruộng đất công của làng...

- “Bài ký bia ước lệ” thôn Môn Trì, xã Tang Lỗi, quy ước về đám tang, lễ cầu phúc và lễ tế 4 mùa, lệ Văn hội (lệ của hội Tư văn), lệ của giáp Tây...

- “Văn hội bi ký” dựng ở Văn Trì thôn An Cảnh Thượng, huyện Đông An, Hưng Yên, trong đó ghi tên các tiên hiền được thờ ở Văn chỉ và những người cúng tiền làm Văn chỉ; các điều lệ của Văn hội về sở hữu ruộng đất, thể lệ nhập tịch, tế lễ hàng năm, lệ chia biếu phần...

2. Chữ viết:

Từ thời kỳ trung đại đến đầu thời kỳ hiện đại (1949), hương ước chủ yếu được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Riêng thời cận đại và hiện đại hương ước nhiều làng còn được viết bằng chữ Pháp và chữ Quốc ngữ, hoặc Hán-Pháp-Quốc ngữ, hoặc Hán-Quốc ngữ, hoặc Pháp-Quốc ngữ...

Chúng tôi cho rằng việc nhận biết tự dạng hương ước, khách quan đưa lại lượng thông tin khoa học tương đối chính xác. Chẳng hạn khi đọc một bản hương ước nào đó được viết bằng song ngữ Pháp - Quốc ngữ, hoặc Quốc ngữ, chúng ta có thể đoán ngay rằng niên đại của nó sớm nhất được viết vào thời kỳ cận đại, muộn hơn là sau này. Không còn nghi ngờ gì nữa, việc xác định tự dạng trên hương ước chính là góp phần xác định một yếu tố rất cơ bản trong hệ thống các yếu tố cấu thành nên hình thức văn bản hương ước.

3. Con dấu:

Về việc nghiên cứu loại hình và nội dung tỉ mỉ các con dấu trên các văn bản hương ước, chúng tôi chưa có điều kiện đi sâu, do sự hiểu biết và tư liệu còn quá ít. Trong thực tế, các bản hương ước còn lại trống vắng rất nhiều con dấu từ cơ sở xã đến các cấp chính quyền cao hơn như tổng, huyện, phủ. Nguyên nhân vì hương ước loại chính bản hầu hết đã mất mát, chỉ còn lại các bản sao thuộc nhiều thế hệ khác nhau. Nhưng dù sao sự hiện diện của con dấu (triện) trên một bản hương ước nào đấy cho phép chúng ta khai thác thông tin ở nhiều khía cạnh khác nhau khá lý thú. Các con dấu hay triện áp trên các bản hương ước thể hiện quyền lực hay sự can thiệp của Nhà nước đối với làng xã. Trong trường hợp đó, Nhà nước đã đạt được mục đích kiểm duyệt hương ước, khống chế làng xã, hạn chế bớt quyền tự trị của các làng xã.

4. Cấu trúc văn bản:

Hương ước làng Tri Lễ, xã Phúc Sơn, huyện Anh Sơn, Nghệ An lập năm 1420 với cơ cấu nội dung rất đơn giản: những người tham gia lập hương ước (tập thể xã quan); lý do lập hương ước; nội dung các điều quy ước (quy ước về tế lễ, hát xướng, cách nói năng, ăn mặc của dân làng đều phải theo phép (luật) nước...). ngày tháng lập hương ước; chữ ký, điểm chỉ của các xã quan (tác giả của bản hương ước). Trong khoán đồng làng Đông Lao quy định lệ thờ hậu thần - một mặt của hương ước làng. Thần thành hoàng làng là viên hoạn quan Nguyễn Công Triều được Chúa Trịnh Căn (1682-1709) đặc mệnh tiến phong Thiếu bảo kiêm Quận công Thượng trụ quốc, vì có công đánh nhà Mạc. Sau Nguyễn Công Triều về trí sĩ ở làng đã đóng góp 120 sào ruộng tốt và 200 quan cổ tiền cho làng, vì thế được dân làng bầu làm hậu thần. Khoán đồng ghi việc đó và thể hiện ở cơ cấu nội dung sau đây: những người tham gia lập khoán ước (các quan viên hương sắc trên dưới lớn bé ở làng Đông Lao...); lý do lập khoán ước (để ghi công và nhớ ơn đời đời thần Thành hoàng làng). Nội dung các điều quy ước: “Nay đem các lễ, kỵ nhật, tứ trọng, trừ tịch, chính đán, đoan dương, trung nguyên, thường tân, kỳ phúc và phẩm vật cúng lễ khai bày trong khoán đồng để làm điển lệ muôn đời không đổi”. Vị trí các thửa ruộng hương hỏa của 8 giáp làng Đông Lao được dùng vào việc tế lễ tứ quý trong một năm. Ngày tháng lập khoán đồng.

Hương ước làng Mộ Trạch (xã Tân Hồng, huyện Cẩm Bình, Hải Dương) nay chính bản đã thất lạc. Do thế chúng ta chưa thể biết chính xác cơ cấu nội dung của nó. Theo điều tra thực địa của chúng tôi, bản gốc “Mộ Trạch xã cựu khoán” gửi tại nhà cụ Vũ Duy Đê, Tri phủ Yên Thế (Bắc Giang) vào thời kỳ khởi nghĩa của người anh hùng nông dân Hoàng Hoa Thám. Sau đó, cụ Vũ Duy Đê chuyển làm Tri phủ Quỳnh Côi, Thái Bình, cư ngụ và mất tại đó, chưa kịp chuyển lại “Mộ Trạch xã cựu khoán” (5) cho dân làng Mộ Trạch. Nhưng thực may mắn, “Mộ Trạch xã cựu khoán” được bản xã điển văn Vũ Xuân Phổ trùng sao vào tháng 2 năm Tân Mùi, niên hiệu Bảo Đại thứ 6 (1931). Hiện nay còn hai bản sao bản cựu khoán này: Bản A khổ 0,16 x 0,25m, bìa phết cậy, giấy bản chữ Hán (viết tay), 79 tờ, được cất giữ tại chùa làng Mộ Trạch. Bản B mang ký hiệu VHv.1215, hiện lưu trữ tại Thư viện Viện Hán Nôm. Ngoài hai bản A, B, còn có hai bản sao khác mang tên “Danh hương khoán lệ”: Bản A1 là bản dịch Quốc ngữ của “Danh hương khoán lệ”, 44 trang giấy học sinh, do kỳ lão làng Mộ Trạch là Vũ Hoằng Nghị phụng dịch vào Tết Đoan dương năm Quý Tỵ (1953). Bản B1 gồm 169 trang, mang ký hiệu A.742 Thư viện Viện Hán Nôm. So sánh hai bản A1 và B1, chúng tôi thấy nội dung chữ Hán và lời dịch tương đối phù hợp. Nội dung của “Danh hương khoán lệ” ghi chép các điều lệ của xã Mộ Trạch huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, Hải Dương về các việc ma chay, cưới xin, yến lão, cấm đánh bạc, kiện cáo, trộm cắp; thứ bậc đình trung, việc tuần phòng, bổ sưu, sửa đường sá v.v. Các điều lệ đó được bổ sung thường xuyên vào các đời Vĩnh Trị (1676-1680); Chính Hòa (1680-1705); Vĩnh Thịnh (1705-1719); Bảo Thái (1720-1729); Cảnh Hưng (1740-1786); Cảnh Thịnh (1793-1801).

Xét về mặt cấu trúc, bản hương ước này được trình bày như sau:

- Phần mở đầu nói về ý nghĩa của việc lập khoán ước. Thành phần tham dự lập khoán ước.

- Các quy ước liên quan đến đời sống của dân làng.

- Nhắc nhở việc thực thi khoán ước.

- Ngày, tháng, năm, đời vua.

- Những người tham gia lập khoán ước: triều quan (chức tước, họ và tên 11 người); quan viên (chức tước, họ và tên 18 người); văn thuộc (thành viên hội Tư văn gồm họ tên 11 người); xã thôn trưởng (họ và tên, ký 6 người).

Những lần bổ sung hương ước Mộ Trạch sau này, trình tự trên cơ bản vẫn được tôn trọng.

“Ngọc Than đồng ấp khoán” có nội dung rất phong phú; đấy là cuốn hương ước của làng Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, Hà Tây. Gồm:

- Mở đầu: Chức sắc già trẻ xã Ngọc Than, tổng Thạch Thán, huyện An Sơn, phủ Quốc Oai tham gia lập khoán ước; lý do và ý nghĩa của việc lập khoán.

- Các điều khoản.

- Ngày, tháng, năm, triều vua.

- Những người lập khoán ký tên, điểm chỉ.

- Lời phê của quan phủ.

Qua mấy ví dụ trên, ta thấy cơ cấu nội dung của hương ước đều có những nét chung cơ bản, được thể hiện gần như thành khuôn mẫu của một loại sổ sách riêng của làng xã. Hương ước với phần mở đầu nêu thành phần tham dự, lý do lập hay bổ sung thêm hương ước. Phần nội dung tùy theo yêu cầu và trình độ phát triển của từng làng xã vào từng thời điểm khác nhau mà đề ra các điều quy ước (ít hay nhiều, liên quan đến một số mặt hoặc hầu hết mọi hoạt động của làng. Phần cuối hương ước thường được ghi ngày, tháng, năm, triều vua. Những người tham gia lập hay bổ sung hương ước, ký tên hoặc điểm chỉ. Từ thế kỷ 19 về sau, ở cuối các bản hương ước thường có ghi lời phê chuẩn của quan trên (phủ hay huyện) sở tại.

5. Niên đại hương ước:

Yếu tố này khẳng định giá trị lịch sử, giá trị khoa học của văn bản hương ước. Trước khi khai thác và sử dụng hương ước của một làng xã cụ thể, thiết nghĩ trước hết cần phải xác định niên đại của chúng. Sau khi tiếp xúc với một số bản hương ước thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ, chúng tôi lập 2 bảng kê về niên đại dưới đây:

Bảng 1: niên biểu các bản khoán ước, hương ước thuộc khu vực đồng bằng bắc bộ

STT Tên gọi văn bản Niên đại
1 Tri Lễ hương ước 1420
2 Mộ Trạch xã cựu khoán 1665
3 Phú Cốc xã khoán ước bạ ký 1687
4 Đông Lao thâu khoán 1687
5 Hoành Phúc xã, Lộc Dư thôn hương lệ 1687
6 Hương ước và tục lệ 1709
7 Đông Lư xã khoán ước 1735
8 Dương Liễu, Quế Dương, Mậu Hòa xã tục lệ 1739
9 Hạ Bằng khoán ước 1740
10 Đông Ngạc xã giáp lệ bạ 1740
11 Đông Ngạc thôn hương ước điều lệ 1741
12 La Nội, ỷ La hương lệ 1752
13 Hương ước và ngọc phả 1770
14 Viên thê cộng trú quy ước 1775
15 Hoa Cầu xã hương lệ 1775
16 Đại Phùng tổng khoán ước 1781
17 La Khê xã văn hội giáp ước lệ 1786
18 Bằng Liệt xã điều ước 1786
19 Hà Vĩ xã hương ước 1803
20 Vĩnh Lại khoán lệ 1806
21 Quang Liệt xã Văn hội điều lệ 1825
22 Bộ La xã thượng thôn, đông giáp lệ từ 1825
23 Ngọc Mạch thôn hương lệ 1827
24 Nhiễm Thượng hương lệ 1828
25 Kim Hoàng thôn lệ 1831
26 Kiều Từ tam phiên khoán 1832
27 Thủ Trung hương ước 1835
28 Thụy Khê xã hương ước 1839
29 Lan Khê hương lệ 1841
30 Phú Khố xã hương ước 1844
31 Thọ Xương huyện Văn chỉ bạ 1844
32 Phú Mỹ thôn khoán ước 1849
33 Kiêu Kỵ xã điều ước 1853
34 Dân Phong điều lệ 1853
35 Thượng Cát xã hương lệ 1854
36 Bá Khê hương ước 1854
37 Nguyễn Đức tộc lập giao từ 1855
38 Vĩnh Ninh lư sử 1856
39 An Mỹ giáp khoán 1857
40 Tuần lệ 1857
41 Lập khoán hương lệ 1861
42 Trung Cầu xã hương ước 1862
43 Trung Phường hương ước 1863
44 Hữu Quang hạng lệ 1864
45 Nhân ái Văn hội khoán 1865
46 Thạch Thán xã, Phú Mỹ thôn khoán ước 1866
47 Đỗ Lai tộc lệ 1867
48 Thất Phiên khoán lệ 1868
49 Thượng Khê thôn khoán 1869
50 Xuân Sơn thôn hương lệ 1869

Bảng 2: niên biểu khoán bi thuộc khu vực đồng bằng bắc bộ

STT Tên gọi văn bản bia Niên đại
1 Sự thần bi ký 1771
2 Bản xã bi ký 1772
3 Nguyên Xá tổng Văn chỉ bi 1777
4 Văn Mai đình môn 1778
5 Phụng Pháp xã Văn chỉ bi 1781
6 Hậu thần phối hưởng 1782
7 Lục giáp lập mại lệ bi 1783
8 Tiên hiền bi ký 1783
9 Đông Mật xã bi ký 1784
10 Mại Hoành đình lệ bi 1785
11 Đại Phương xã đình bi 1790
12 Hà Lộ bi 1793
13 Tư văn hội lệ bi ký 1797
14 Hậu thần bi ký 1797
15 Hậu Phật sự lệ bi ký 1799
16 Hội lệ bi 1799
17 Lập thủ trù lệ 1800
18 Mại Đình môn bi ký 1809
19 Xướng ca bi ký 1814
20 Đại Đồng thôn đình tục lệ bi ký 1815
21 Giáo phường giao văn bi ký 1816
22 Y hội bi ký 1819
23 Từ chỉ bi 1820
24 Thạch bi ký 1821
25 Văn hội bi ký 1821
26 Lễ nhạc hậu bi ký 1822
27 Mại cổng đình bi 1824
28 Từ văn bi ký 1828
29 Hậu bi 1829
30 Ca công bi ký 1832
31 Ca công giao từ 1832
32 Bất Nhị xã đình bi 1832
33 Từ chỉ yến lão bi ký 1840
34 Thạch văn lưu ký 1847
35 Mễ Trường tổng văn hội từ chỉ bi 1848
36 Văn hội điều lệ bi ký 1851
37 Từ Liêm huyện trùng tu từ vũ bi ký 1851
38 Miêu Nha xã đình bi 1853
39 Miếu đình phụng sự giao từ 1855
40 Văn chỉ bi ký 1855
41 Hương học bi ký 1855
42 Văn hội điều lệ 1856
43 Đoài giáp thôn bi ký 1859
44 Hương lệ bi ký 1860
45 Đình lập khoán lệ 1860
46 Hương binh bi ký 1861
47 Hương thục bi ký 1865
48 Bản xã văn chỉ bi ký 1867
49 Học điền bi chí 1867
50 Bộ điền điều ước bi chí 1871

Qua hai bảng kê trên, ta thấy được niên đại khách quan của các hương ước. Khi mà một văn bản hương ước có được niên đại tin cậy, ta có thể sử dụng để khai thác lượng thông tin hàm chứa trong đó một cách tương đối yên tâm.

Trở lên, chúng tôi đã trình bày về các yếu tố tạo thành hình thức văn bản, một khâu rất đáng quan tâm khi giám định hương ước.

Chất liệu là những yếu tố quan trọng, tự dạng, con dấu, cơ cấu nội dung, niên đại, song cũng cần lưu ý thêm rằng chính phần nội dung phong phú, hấp dẫn của hương ước mới là một yếu tố quan trọng nhất làm nên giá trị văn bản. Chính yếu tố nội dung này đã góp phần bổ sung thêm những thông tin về hình thức văn bản, đồng thời tự nó sẽ khẳng định giá trị lịch sử, giá trị khoa học của văn bản hương ước. Tóm lại, việc giám định văn bản hương ước trước khi đi sâu nghiên cứu nguồn gốc và bản chất hương ước cùng nhiều vấn đề khác thuộc làng xã Việt Nam cổ truyền là điều tối cần thiết đối với giới nghiên cứu chúng ta.

V.D.M

CHÚ THÍCH:

(1). Đại Nam nhất thống chí Nxb. KHXH, Hà Nội 1971. ở tập III, tr.293 chép: “Thiết khoán: khoán ước khắc vào sắt, đời xưa dùng ban cho bầy tôi có công, để sau này nếu bản thân hoặc con cháu họ có phạm tội, thì họ được quyền đem khoán ước bằng sắt ấy ra để được ân xá. "Thiết khoán như tại", ý nói dòng dõi Nguyễn Văn Lang vẫn được hưởng quyền lợi ghi trong thiết khoán như trước”.

(2),(3). Xem Lê Tượng: Một bản chúc thư bằng đồng tìm thấy ở vùng đồng bào Mường Thanh Sơn. Tạp chí Dân Tộc học số 3. 1974 và Trịnh Khắc Mạnh: Về bản chúc thư của viên quan lang Đinh Thế Thọ ở vùng Mường Thanh Sơn, Vĩnh Phúc thế kỷ X V. Tạp chí Hán Nôm, Số 2.1991.

(4). Xem Bùi Thị Tân: Về một hình thức phân chia ruộng đất công ở làng Phú Kinh (Triệu Hải, Bình Trị Thiên). Nghiên cứu lịch sử số 1& 2 -1987.

(5). Bùi Xuân Đính: Hương ước và quản lý làng xã, Nxb. KHXH, Hà Nội 1998.

TB

LÊ THÁNH TÔNG VÀ TẬP THƠ
CỔ TÂM BÁCH VỊNH

MAI XUÂN HẢI

Lê Thánh Tông (1442-1497), một trong những ông vua tài năng lỗi lạc trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Ông ở ngôi trong một thời gian dài, suốt 38 năm (10 năm đầu lấy niên hiệu Quang Thuận 1460-1469; 28 năm sau lấy niên hiệu Hồng Đức 1470-1497). Với tài năng kinh bang tế thế của mình, lại biết áp dụng những yếu tố tích cực “trị quốc an dân” của Nho giáo, phù hợp với hoàn cảnh đất nước sau 10 năm chiến tranh giải phóng, ông và triều đình của ông đã đưa đất nước đạt đến mức được lịch sử coi là “thịnh trị” vào bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, với rất nhiều chính tích về các mặt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Đại Việt vào thời đó. Các chính tích này, nhiều sách vở đã nói tới(1), nhiều ý kiến đã thống nhất, ở đây chúng tôi không nhắc lại nữa.

Ông còn là một cây bút xuất sắc vào nửa sau thế kỷ 15 của nước Đại Việt, mà số lượng thơ văn của ông đã trở thành quen thuộc với chúng ta, trong đó phải kể đến các tác phẩm như: Anh hoa hiếu trị, Châu cơ thắng thưởng, Chinh Tây kỷ hành, Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ súy, Quỳnh uyển cửu ca, Xuân vân thi tập, Cổ tâm bách vịnh, Lam Sơn Lương Thủy phú, Thiên Nam dư hạ tập, Thập giới cô hồn Quốc ngữ văn (Nôm), Hồng Đức Quốc âm thi tập (Nôm), cùng với hàng chục bài thơ đề vịnh phong cảnh thiên nhiên khắc trên vách núi, rải rác khắp từ Quảng Ninh tới Thanh Hóa.

Những tác phẩm thơ văn nêu trên, một phần đã được giới thiệu trong các bộ Hợp tuyển thơ văn, Tổng tập văn học, nhưng có lẽ được giới thiệu với một số lượng tương đối lớn hơn cả thì phải kể đến ba cuốn: Thơ văn Lê Thánh Tông mà phần thơ chữ Hán giới thiệu 104 bài, Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông giới thiệu với số lượng gấp đôi là 207 bài và Lê Thánh Tông, thơ văn và cuộc đờI cũng đã giới thiệu 140 bài. Qua đó chúng ta có thể nắm bắt được những nét chính về cuộc đời và thơ văn của ông.

Trong số các tác phẩm thơ văn mà ông để lại cho tới ngày nay thì Cổ tâm bách vịnh có những đặc trưng riêng biệt và một vị trí riêng biệt. Đây là một tập thơ họa về lịch sử Trung Quốc đầu tiên và duy nhất trong lịch sử văn học Việt Nam. Nó không phải là một tập thơ sáng tác bắt nguồn từ những cảm hứng trực tiếp về thiên nhiên, lịch sử, con người Việt Nam như các tập thơ khác, mà là bắt nguồn từ cảm hứng khi đọc sách vịnh về lịch sử, con người của đất nước Trung Quốc rồi họa thơ mà thành. Về tác phẩm này, Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú đều nói rằng: “Cổ tâm bách vịnh, 10 quyển. Vua Thánh Tông ngự chế. Họa thơ vịnh sử của nhà Nho đời Minh là Tiền Tử Nghĩa. Các từ thần là Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận phụng bình. Thơ đều làm theo thể ngũ ngôn tuyệt cú”(2).

Qua miêu tả trên đây của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú, chúng ta nhận thấy tập thơ Cổ tâm bách vịnh có những đặc điểm sau:

1. Đây là tập thơ họa thơ vịnh lịch sử Trung Quốc của Tiền Tử Nghĩa đời Minh.

2. Số lượng bài trong tập thơ này là 10 quyển gồm đúng 100 bài (bách vịnh).

3. Về thể loại, đều làm theo thể ngũ ngôn tuyệt cú, nghĩa là mỗi bài chỉ gồm 4 câu, mỗi câu 5 chữ, vị chi là 20 chữ.

4. Tập thơ có lời bình của một số văn thần như Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận.

5. Hai ông cũng xác nhận quyền tác giả, chủ sở hữu là thuộc Lê Thánh Tông (Vua Lê Thánh Tông ngự chế).

Những miêu tả tỉ mỉ của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú trên đây là rất quý báu và cần thiết, nó như một thước đo giúp ta xác định được tập thơ nào đó của Lê Thánh Tông có đúng là tập Cổ tâm bách vịnh như Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú đã miêu tả hay không? Trước hết ta so sánh 3 tập: Cổ tâm bách vịnh, Cổ kim bách vịnh Cổ kim cung từ thi tập. Về việc này, Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Năm Hồng Đức thứ 26 (1495), mùa đông thứ 11, vua lại làm tập Cổ kim bách vịnh. Hàn lâm viện Thị độc chưởng viện sự Nguyễn Xung Xác, Tham chưởng Lưu Hưng Hiếu họa vần, Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung, Học sĩ Đào Cử phê bình”(3). Vậy tập này có phải là Cổ tâm bách vịnh hay không? ở đây, Toàn thư không nhắc gì tới tập Cổ tâm bách vịnh. Theo chúng tôi, có lẽ hai tập thơ này chỉ là một. Bởi lẽ, cái tên “Cổ tâm bách vịnh” (một trăm bài thơ vịnh tấm lòng người xưa) và cái tên “Cổ kim bách vịnh” (một trăm bài thơ vịnh xưa nay) có nghĩa gần giống nhau. Hơn nữa, theo như miêu tả của Toàn thư thì tập này cũng có lời bình của Thân Nhân Trung và Đào Cử. Có thể do Lê Thánh Tông còn có tập thơ nữa là Cổ kim cung từ thi tập mà ở ngay trang sau Toàn thư(4) đã dẫn, nên người khắc ván sách dễ nhầm “tâm” thành “kim” chăng ? Thế còn Toàn thư cũng có nhắc tới tập thơ Cổ kim cung từ thi tập , cũng có tên gần giống với Cổ tâm bách vịnh Cổ kim bách vịnh thì sao? Theo chúng tôi, đây có lẽ là một tập thơ khác, về sách này này Toàn thư chép: “Năm Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức 27 (1496), tháng 2 nhuận, vua làm Cổ kim cung từ thi tập và tự làm tựa, sai Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung và Hiệu thư Ngô Luân phê bình”(5). Tập thơ này, Toàn thư chép là có lời tựa của Lê Thánh Tông và lời phê bình của Hiệu thư Ngô Luân. Điều này khác hẳn với sự miêu tả về Cổ tâm bách vịnh của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú. Có người phỏng đoán rằng: Có khả năng đây là một tập sáng tác về từ khúc, thiên về âm nhạc, vì Lê Thánh Tông cũng giỏi nhạc và rất thích nhạc”(6). Hơn nữa chúng ta cũng không thấy Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú đả động gì tới tập thơ này. Có lẽ đến thời hai ông, tập thơ này đã mất rồi vậy. Các nhà nghiên cứu thời nay, như GS Bùi Duy Tân, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, trong tác phẩm của mình(7) cũng nêu Cổ tâm bách vịnh Cổ kim cung từ thi tập như là những tác phẩm riêng biệt.

Bây giờ chúng ta xét đến vấn đề có đúng Cổ tâm bách vịnh là tập thơ họa lại thơ của nhà Nho đời Minh Tiền Tử Nghĩa hay không ? Trước hết, ta phải tìm xem có một ông Tiền Tử Nghĩa đời Minh như Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú nói hay không ? Cái tên “Tiền Tử Nghĩa” tra trong các bộ từ điển lớn như Từ nguyên, Từ hảI thì không thấy. Phải tìm đến từ điển chuyên ngành như Trung Quốc nhân danh đại từ điển, thì thấy ở trang 1611, cột ba, ghi về ông này như sau: “Tiền Tử Nghĩa  ), Minh Tử Chính đệ. Dữ Tử Chính giai dĩ thi danh. Hữu Chủng cúc am tập”. Nghĩa là: “Tiền Tử Nghĩa là em của Tử Chính đời Minh, cùng với Tử Chính đều nổi tiếng về thơ. Tác phẩm có Chủng cúc am tập”. Đến đây chúng ta hoàn toàn tin lời Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú là có thực một nhà thơ đời Minh tên là Tiền Tử Nghĩa. Nhưng tập thơ của Tiền Tử Nghĩa mà Lê Thánh Tông họa thơ tên là gì ? Có phải cũng có tên là Cổ tâm bách vịnh hay không và nội dung từng bài thơ họa của của Lê Thánh Tông có nội dung gì khác so với nguyên tác ? Điều này phải chờ đến khi trong tay chúng ta có tập thơ của Tiền Tử Nghĩa mới giải quyết được. Đây cũng là một công việc thú vị và bổ ích cho việc tìm hiểu tập thơ Cổ tâm bách vịnh của Lê Thánh Tông nói riêng, việc giao lưu văn hóa Việt - Trung và việc tìm hiểu văn học so sánh nói chung. Đáng tiếc là hiện nay chúng tôi chưa tìm được nguyên tác của của Tiền Tử Nghĩa.

Về tập thơ họa Cổ tâm bách vịnh này của Lê Thánh Tông, chúng tôi tạm thời phỏng đoán như sau: chắc do một sứ thần nào đó đi sứ Trung Quốc mang về nước một tập thơ vịnh sử của Tiền Tử Nghĩa, có dâng lên cho vua xem. Với bản tính ham thích đọc sách, ông đã đọc lại, do sẵn lòng yêu thích lịch sử, hơn nữa cảm thấy cuốn sách hay và bổ ích cho việc di dưỡng tính tình, mở rộng kiến văn, ông đã họa lại cả tập thơ, rồi sai các bề tôi phụng bình. Và tập thơ có lẽ đã được ra đời như vậy.

Về nguyên bản tập thơ này, hiện nay Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu trữ được các dị bản sau đây:

1. Cổ tâm bách vịnh (tức bản Lê Thánh Tông Thuần hoàng đế cận thể thi, VHv.1010).

2. Cổ tâm bách vịnh (tức bản Tiền Lê Thánh Tông Thuần hoàng đế thi tập, A.702).

3. Toàn Việt thi lục (hai bản, A.3200 và A.132. Riêng bản A.1262 do viết quá thảo khó đọc, vả lại đã được chân hóa thành hai bản này, cho nên chúng tôi tạm thời chưa tìm hiểu tới).

4. Hoàng Việt thi tuyển (A.608).

Ở hai dị bản 1 và 2, sau dòng đề tên sách như nêu trên là 1 dòng riêng đề Cổ tâm bách vịnh, rồi đến phần thơ, mở đầu là bài “Đỉnh Hồ”, kết thúc là bài “Xích Bích”, ở đây chúng tôi gọi hai bản này là “Cổ tâm bách vịnh” (CTBV, bản VHv.1010 và bản A.702).

Bây giờ chúng ta xét tới tình hình 4 dị bản này. Bản Hoàng Việt thi tuyển vì tuyển quá ít, chỉ có 2 bài, nên chúng tôi không đề cập đến.

1. Cổ tâm bách vịnh, bản VHv.1010 (tức bản Lê Thánh Tông Thuần hoàng đế cận thể thi) khổ 27 x 16cm, gồm 103 trang, trang 8 dòng, dòng từ 2 đến 22 chữ Hán viết tay, đẹp, nắn nót, đều đặn, trên giấy đóng khung 2 đường viền và gáy mỗi trang đề là “Động Trung Chiêm Bái Đường”. Mới nhìn cứ ngỡ là bản khắc in, 11 trang đầu rách mất chừng 1/3 tới 1/4 trang, mất khoảng 14 bài (từ bài 1 “Đỉnh Hồ” đến bài 14 “Trữ La Sơn”). Trang 1, dòng thứ nhất, do rách phần phần trên, chỉ còn sót lại 4 chữ “... đế cận thể thi”, nhưng nhờ có dòng chữ Việt đề là “Lê Thánh Tông Thuần hoàng đế cận thể thi”, mà ta biết được những chữ Hán đã mất và tên của cuốn sách. Dòng chữ Hán thứ hai đề là “Cổ tâm bách vịnh” (rách mất chữ “cổ” và một nửa chữ “tâm”). Các dòng tiếp theo là phần nguyên chú của bài 1 “Đỉnh Hồ”. Cách sắp xếp trình bày của bản này như sau: Trước hết là tên bài thơ (viết ngang hàng với các dòng của phần nguyên chú), sau đó để trống 3 chữ là tới phần nguyên chú. Phần nguyên chú được chia làm 2 phần, phần nguyên chú để trước, sau là phần lời bình. Hết phần nguyên chú là tới phần chép bài thơ. Phần này được chép cao hơn phần nguyên chú 1 chữ để dễ phân biệt. Tập thơ này được chép một mạch từ trang đầu tới trang 68, sau phần bài thơ “Xích Bích”, có một dòng riêng đề “Cổ vịnh chung” (hết tập Cổ tâm bách vịnh). Tiếp đó, từ trang 68 đến hết là trang 103, là phần chép 88 bài thơ khác của Lê Thánh Tông như: “Đông tuần trú Đồng Cảng” (chữ “Đồng” bộ chấm thủy, ở đây viết nhầm thành chữ “Chàng” (bộ tài gảy), “Tây tuần quá Đông Ngạc Châu”, “Đề phiến”... đến bài cuối cùng là bài “Phanh trà” trang 103 là hết quyển.

2. Cổ tâm bách vịnh, A702 (tức bản Tiền Lê Thánh Tông Thuần hoàng đế thi). Sách chép tay, khổ 30 x 19cm, 168 trang, trang 9 dòng, dòng từ 2 đến 18 chữ Hán, viết chân phương, không có tựa, bạt, mục lục. Cách sắp xếp, trình bày của bản này khác hẳn bản trên. Nghĩa là tên từng bài thơ viết riêng một dòng, ngang với phần nguyên chú. Tiếp đó là phần bài thơ, viết thành một dòng, cao hơn phần nguyên chú một chữ để dễ phân biệt. Rồi đến phần nguyên chú, chép thành phần riêng, đặt sau phần bài thơ. Trong phần nguyên chú thì phần lời bình để trước, phần nguyên chú để sau. ở bản này, tập Cổ tâm bách vịnh cũng được chép liền một mạch, từ trang đầu đến trang 68, sau bài “Xích Bích” cũng có dòng chữ đề “Bách vịnh chung” (hết tập Cổ tâm bách vịnh). ở bản này, tiếp sau tập Cổ tâm bách vịnh là phần chép thơ:

- Từ tr.68 đến tr.111 là phần chép 86 bài thơ khác cũng của Lê Thánh Tông.

- Từ tr.111 đến tr.128 là phần chép 27 bài thơ của Lê Hiến Tông (con trưởng của Lê Thánh Tông).

- Từ tr.128 đến tr.131 là phần chép 5 bài thơ của Đức Tông Kiến Vương (con thứ của của Lê Thánh Tông).

- Từ tr.131 đến tr.132 là phần chép 3 bài thơ của Tương Dực Đế.

- Từ tr.133 đến hết tr.137 là phần chép 3 bài thơ của Thái Tổ (Lê Lợi), 2 bài thơ của Thái Tông (là ông nội và bố đẻ của Lê Thánh Tông).

So sánh, đối chiếu các dị bản này, chúng tôi nhận thấy:

- Bản CTBV VHv.1010: thiếu 5 bài, là các bài 71 “Hà Phần”, 78 “Hoa Thanh Trì”, 82 “Ngư Dương” (3 bài này chỉ thấy chép phần nguyên chú), bài 84 “Thư Dương” chỉ thấy chép phần nguyên chú và 2 câu cuối của bài thơ. Thêm bài 51 “Tập Gia Trì” mà tất cả các dị bản hiện còn đều thiếu, ở bản A.702 còn đề rõ 2 chữ “khiếm thi” (thiếu phần thơ).

- Bản CTBV A.702: Bản này thiếu 4 bài. Đó là các bài 71 “Hà Phần”, 82 “Ngư Dương”, 84 “Thư Dương”, bài 51 “Tập Gia Trì” là còn có 96 bài.

- Hai bản Toàn Việt thi lục (TVTL A.132 và A.3200). Đặc điểm của hai bản này là chép đủ từ bài 1 “Đỉnh Hồ” đến bài 100 “Xích Bích”. Riêng bài 51 “Tập Gia Trì” chỉ thấy chép tên bài thơ và phần nguyên chú mà không thấy chép phần thơ. Vị chi là 99 bài, cộng bài 51 “Tập Gia Trì” (chỉ thấy chép tên bài thơ và phần nguyên chú mà không thấy chép phần thơ) là đủ 100 bài (Đúng với con số “Bách vịnh”). Thứ hai là hai dị bản này không thấy chép phần nguyên chú và lời bình. Thứ ba là cả hai bản này không thấy chép bài 87 “Thái Thạch”, mà lại chép nhầm câu cuối bài này sang bài 86 “Ngưng Bích Trì”. Thứ tư là bản TVTL A.3200, thiếu thêm bài 94 “Lục Dã Đường”.

- So sánh đối chiếu từng câu chữ trong 4 dị bản trên, chúng tôi thấy chúng đều khác nhau ở một số câu chữ trong từng bài thơ và cả ở phần nguyên chú và lời bình. Chưa kể phần nguyên chú có khi thấy chép ở bản này mà không thấy chép ở bản kia.

- Về phần lời bình, chúng tôi chỉ thấy còn chép ở các bài 41, 42, 43, 45, 46, 47, 48, 49, 50, đa phần là lời bình của Đại học sĩ Thân Nhân Trung, 2 bài có đề thêm Đào Cử, và 1 bài mà lời bình có so sánh với nguyên tác của Tiền Tử Nghĩa (bài 48 “Phong Thành”).

Như đã nói ở trên, đây là một tập thơ họa về lịch sử và nhân vật Trung Quốc, một tập thơ họa sử, vịnh sử duy nhất trọn vẹn trong lịch sử văn học Việt Nam cho đến nay. Có thể nói đặc trưng bao quát của tập thơ này là “trong thơ có sử, trong sử có thơ” hay nói một cách khác, ở đây “thơ là sử, sử là thơ”. Lê Thánh Tông cũng giống như đa số người Việt Nam nói riêng, và khu vực chịu ảnh hưởng của văn hoá Hán nói chung, rất yêu thích lịch sử. Bởi lịch sử là ký ức của dân tộc, của nhân loại, trong đó chứa đựng nhiều tri thức, trí khôn, tình cảm, kinh nghiệm cuộc sống... Lịch sử là tấm gương, là ông thầy để đời sau soi vào gương tốt mà học tập, gương xấu mà né tránh.

Đọc Cổ tâm bách vịnh, chúng ta như thấy hiện ra cả một xã hội thời phong kiến, dường như có đủ cả các loại người trong xã hội đó như: vua sáng (các bài Đỉnh Hồ, Lịch Sơn...), vua tối (các bài Hà Thượng, Giang Đô...), trung thần (các bài Ngư Phủ Đình, Bột Hải, Hợp Phố...), gian thần (các bài Mi ổ, Tử Trạch, Yển Nguyệt Đường), hiếu tử (các bài Tào Nga Giang Bi...), người tài giỏi (các bài Hàm Cốc Quan, Tuyết Cung, Bát Trận, Hà Phần, Khúc Giang, Thái Thạch..), các phụ nữ nổi tiếng (các bài Trữ La Sơn, Hoa Thanh Trì...), các ẩn sĩ, cao sĩ (các bài La Vu, Ba Viên, Ngô Tùng Giang, Diễm Khê, Cú Khúc Sơn...), các bậc tiên, Phật (các bài Liêu Đông, Xương Bồ Giản, Hoài Nam, Thông Lĩnh, Hổ Khê...), các phong tục đẹp (các bài Lâm Cùng, Hòe Thị...), các bài học xử thế (các bài Trung Sơn, Cối Kê, Hồ Đầu Sơn...), các sự kiện lịch sử (các bài Mã Ngôi, Xích Bích, Đại Phi Sơn...), cùng 7 bài vịnh các cung điện nổi tiếng của Trung Quốc, mà những cung điện này đều gắn liền với những sự kiện nổi bật trong lịch sử Trung Quốc (các bài Vọng Di Cung, Vị Ương Cung, Tuyên Thất, Linh Quang Điện, Kiến Chương Cung, Vân Đài, Thiên Lộc Các).

Những nhân vật, những sự kiện lịch sử này dường như đã trở thành những điển tích, điển cố quen thuộc trong văn học sử Trung Quốc, sớm nhất là câu chuyện Hoàng Đế đúc đỉnh (bài 1) cách đây hơn 4000 năm, rồi tới các nhân vật, sự kiện lịch sử vào các thời Xuân thu, Chiến quốc, đến Tần, Hán, Tấn, Tùy, Đường cách đây chừng 1.200 năm.

Không thể kể hết ra đây được cả 100 bài, bởi mỗi bài là một câu chuyện riêng, mang một ý nghĩa giáo dục riêng, một vẻ đẹp thẩm mỹ riêng, có bài nghiêng về quan điểm Nho giáo, vua sáng tôi hiền, trung thần lương tướng, có bài nghiêng về quan điểm Lão - Trang, Phật học, ẩn dật nhàn tản, có người mang đầy chí lớn, hoài bão kinh bang tế thế, lại có những người bình thường, muốn sống một đời sống bình thường:

Chí lớn hồ thỉ tang bồng,
Đại bàng tung cánh chín tầng trời cao.
Hồ Lãng Bạc rớt ó diều,
Bất giờ sực nhớ tới lời Thiếu Du.

(Bài 35 - Hồ Đầu Sơn)

Mà lý tưởng của người em của Mã Viện là Mã Thiếu Du thì lại khác hẳn. Chí của ông chỉ là: “Làm trai ở đời chỉ nên lo sao đủ ăn đủ mặc, ngồi xe bé, cưỡi con ngựa hèn, mà người trong làng khen là người tốt là được rồi. Hà tất phải làm khổ mình như vậy”. ở một góc độ nào đó, thấy cũng có lý.

Có những người giàu nứt đố đổ vách như Vương Khải, Thạch Sùng. Họ đều là những quan chức triều đình, của cải do bòn rút, tham nhũng mà có được :

Gian thần buông thả lòng tham,
Thiên hạ tím ruột bầm gan căm hờn.
Trên rốn lửa cháy bùng bùng,
Chẳng soi thấu tới vàng ròng ổ Mi !

(Bài 40 - Mi ổ)

Nhưng cũng có những người như Bàng Đức Công thời Hán suốt đời không bao giờ tơ tưởng, mơ màng tới danh lợi, suốt đời không bao giờ bước chân tới thành thị, nhà thì ở nơi tha ma, mộ địa. Có người hỏi: “Tiên sinh không nhận quan tước thì lấy gì để lại cho con cháu ?”. Ông đáp: “Người đời để lại cho con cháu mối nguy, ta để lại cho con cháu mối an. Tuy cái để lại có khác nhau, nhưng không phải là không để lại”. Những người dám sống “an bần lạc đạo” không bon chen danh lợi, trong xã hội nào cũng thật đáng kính trọng:

Người đời mơ tưởng giàu sang,
Đắm say danh lợi, lòng tham mịt mờ.
Đại lão đây mưu tính xa,
Bình an một mối để cho sau này.

(Bài 41 - Lộc Môn)

Bài này đã được Thân Nhân Trung bình rằng: “Bài thơ này lời ý thuần toàn, ngời ngời như vàng ngọc. Không chỉ đã lĩnh hội được tấm lòng của Đức Công, mà còn nhận chân được từ gốc rễ căn bệnh hám giàu sang của người đời”.

Có thể kể ra đây được rất nhiều bài thơ có ý nghĩa, mà chỉ bằng một bài thơ ngũ ngôn rất tiết kiệm lời với vẻn vẹn 20 chữ, tác giả đã phác họa ra cả một bức tranh với vài nét chấm phá, khắc họa sinh động, nổi bật một hình tượng, một nhân vật, và chứa đựng cả những nhận xét, thái độ khen chê bao biếm, tình cảm yêu ghét của mình. Đọc những bài thơ ấy, ta thấy chúng để lại những dư âm làm rung động lòng người, mang tới cho ta những cảm giác khác lạ, làm cho người đọc cứ suy ngẫm, trăn trở mãi. Như các bài 43 “Tào Nga Giang Bi”, bài 96 “Lam quan”, bài 64 “Tham Tuyền”, hoặc bài 31 “Hoè Thị”, miêu tả về thuần phong mỹ tục ngôi chợ Tràng An thời Hán, hoặc bài 89 “Ngô Khê”, miêu tả về cách xử lý không phân biệt được đúng sai mà lại cứ cho là có công to, muốn dựng bia để lại cho muôn đời, rất thường gặp ở người cầm quyền:

Cửa tổ ràng rịt yên tâm
Mưu toan từ sớm, họa không lo gì !
Đã quên người nhắc cháy nhà,
Thưởng người chữa cháy tiệc to lại bày !

Ở tập thơ này, tác giả đã sử dụng toàn bằng thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt, mỗi bài 4 câu , mỗi câu 5 chữ. Một trong những thể thơ rất tiết kiệm lời, súc tích, cô đọng, mà chuyển tải được nhiều thông tin, nhiều điều mà mình muốn nói. Hầu như bài nào cũng đòi hỏi độc giả phải nắm vững lịch sử, phải đọc rộng biết nhiều, mới hiểu thấu, hiểu đúng, hiểu hết, mới cảm nhận hết cái hay, cái đẹp của mỗi bài thơ. Như bài 37 “Hợp Phố”:

Trai ngọc là giống vô tri,
Mà nhìn thấy đức quan kia sáng ngời.
Ngày xưa trai bỏ đi rồi,
Ngày nay trở lại, trọn đời ở đây.

Câu 1, 2 nói về nguyên nhân sâu xa của một hiện tượng là tại sao loài trai xưa bỏ đi, nay quay lại về Hợp Phố (câu 3,4). Và qua bài thơ, tác giả nhắn nhủ những người làm quan cai trị biết yêu thương dân sao cho có nhiều chính tính. Điều đó không chỉ khiến người dân cảm động yêu mến, mà đến loài vật vô tri kia cũng cảm động, mến yêu, như người xưa khen ngợi: “cận giả duyệt, viễn giả lai” (người ở gần thì vui mừng, người ở xa thì kéo đến). Đó là ý tứ đích thực mà tác giả muốn gửi gắm cho người đọc qua những dòng chữ cô đọng ấy. ở đây, ta thấy dường như Lê Thánh Tông đã sống, đã đồng cảm với từng sự kiện, từng nhân vật trong tập thơ, những vẫn tỉnh táo phân biệt được đúng sai qua những việc làm của họ.

Tập thơ này đến nay chúng tôi đã biên dịch xong, hy vọng độc giả sẽ được thưởng thức trong thời gian gần đây.

CHÚ THÍCH

(1). Xem các cuốn: Thơ văn Lê Thánh Tông, Nxb KHXH, Hà Nội, 1986; Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông, Nxb KHXH, Hà Nội, 1994; Lê Thánh Tông, con người và sự nghiệp, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997; Núi Bài Thơ, lịch sử và danh thắng, Quảng Ninh, 1992; Lê Thánh Tông, thơ văn và cuộc đời, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998; Hoàng đế Lê Thánh Tông - Nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà thơ lớn, Nxb KHXH, Hà Nội 1998.

(2). Lê Quý Đôn - Đại Việt thông sử, Nxb KHXH, Hà Nội, 1978, tr.106.

Phan Huy Chú - Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb KHXH, Hà Nội, 1992, tập 3, tr.110.

(3). Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, Hà Nội, 1972, t.3, tr.313. Trong bài chúng tôi gọi tắt là “Toàn thư”.

(4). Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr.314.

(5). Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr.314.

(6). Tổng tập văn học Việt Nam (tập 5), Nxb KHXH, Hà Nội, 1995, tr.147.

(7). Xem Từ điển Văn học, Nxb KHXH, 1983, tr.389 và Từ điển Văn học Việt Nam (từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX), Nxb Giáo dục, 1997, tr.254.

TB

NÉT “DÂN GIAN” TRONG MỘT SỐ
VĂN BIA THĂNG LONG - HÀ NỘI

ĐỖ THỊ HẢO

Nói đến văn bia, thường người ta nghĩ ngay đến tính bác học của nó, trừ một số văn bia ở các xóm ngõ hay của những cá nhân, gia đình thường thường bậc trung, còn hầu hết văn bia đều do những đại gia có tên tuổi được người trong nước kính phục soạn văn. Bởi vậy nội dung chứa đựng trong bia thường rất uyên bác. ở đây chúng tôi chỉ muốn tìm hiểu đôi nét dân gian trong cái chất bác học của văn bia Thăng Long - Hà Nội.

Có lẽ nhiều người trong chúng ta đều biết đến truyền thuyết có thể xếp vào loại cổ nhất của Hà Nội, đó là sự tích tinh cáo trắng chín đuôi ở Hồ Tây. Tấm bia dựng tại chùa Thiên Niên(1), thôn Trích Sài (Dịch Vọng - Từ Liêm) chép như sau:

“Khu vực Hồ Tây, trước kia là khu rừng rậm mọc toàn gỗ lim. Trong rừng có hòn núi nhỏ, có con cáo 9 đuôi đã thành tinh ẩn náu trong hang núi đó, thường thường hiện hình làm hại người và vật, đã lâu ngày không trừ được.

Vua Tiền Lý Nam Đế lấy làm lo, sai hai công chúa đi học pháp thuật để trừ hại cho dân. Hai công chúa tu luyện ba năm, kết quả chưa thành, con cáo yêu quái càng quấy nhiễu dữ. Hai công chúa xin sang phương Bắc học đạo. Thuyền đi đến sông Nguyệt Đức, buổi chiều gặp một vị đại tiên. Vị này nói: “Ta nghe hai công chúa có chí trừ yêu quái mà con hồ tinh lọt lưới ẩn nấp chưa trừ được. Vậy ta đến giúp để cứu dân”.

Hai công chúa mừng lắm, đón đại tiên về, vào tâu với vua. Vua cho mời vị tiên, hỏi tường tận về pháp thuật. Tiên ông bảo hãy chuẩn bị lập đàn ở nơi cao ráo, sạch sẽ, dựng 8 cửa, 8 tháp như hình Bát trận đồ, và dạy hai công chúa tất cả những bí quyết phù chú.

Trong khoảng trăm ngày, việc học tập đã thành thạo, bèn chọn ngày tốt xem địa thế và lập đàn trừ yêu, dùng cờ và lọng ngũ sắc mỗi thứ 100 cái rồi rước vị Huyền Chân Đại Đế ở phương Bắc chủ trì đàn trấn yêu. Lại dựng miếu thờ vĩnh viễn, để con cáo yêu quái sau khi bị bắt không thể lại hiện hình tác quái nữa.

Vua theo lời lập 3 đàn, đàn giữa thờ thiên, địa, thần kỳ do vị đại tiên chủ trì, đàn tả thờ dương thần, đàn hữu thờ âm thần do hai công chúa phụng lễ.

Đến ngày lễ đàn, tiên ông một tay cầm bùa, một tay cầm kiếm, chỉ vào trước núi đá. Bỗng thấy con cáo từ trong hang núi nhảy vọt ra, đá núi đổ xuống, sóng nước sôi lên, bắn tung ra bốn phía, rừng lim sụt xuống, tất cả biến thành hồ nước, đất sụt đến tận bên cạnh đàn. Trong đàn lửa bốc lên, cờ, lọng bị cháy hết. Phía trên đám lửa kết thành một làn mây đen bay lên lưng chừng trời, tiên ông bắt trói con cáo yêu quái bay lên không trung. Sau cùng không thấy nữa, chỉ còn hai công chúa bắt “quyết” ngồi ở đàn, lửa chẳng hề bén đến thân thể.

Quan quân báo tin về với vua Lý, vua theo như lời tiên ông nói trước, sai dựng đền ở nơi lập đàn để hai công chúa sớm chiều thờ phụng. Đền ở giáp bên hồ. Sát bờ bên kia hồ cũng lập miếu để thờ Huyền Chân Đại Đế. Và chỗ dựng tám tháp nơi đàn cũ xây ngôi chùa để hai công chúa trụ trì. Sau một thời gian, hai công chúa cũng hóa theo Tiên Phật.

Triều Lý, hai mùa xuân thu, chùa và miếu đều có lệ quốc tế: giao cho dân trông coi, thờ phụng”.

Tấm bia không những phản ánh sự quan tâm của Lý Nam Đế đối với dân chúng vùng Hồ Tây, nằm cạnh Kinh đô Vạn Xuân, mà còn nhắc đến những địa danh của Hà Nội cổ xưa.

Văn bia ghi lại những huyền thoại hoặc thần tích trên đất Hà Nội kiểu như trên có khá nhiều. Bia đền Bạch Mã do Phạm Quý Thích viết, kể lại truyền thuyết thần ngựa trắng hiển linh để lại dấu chân làm nền tảng cho việc xây thành Thăng Long. Về sau thần được Lý Thái Tổ phong làm Thành hoàng của Kinh đô mới - kinh đô Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay. Hiện ở đình Tân Khai (số 44 phố Hàng Vải) vẫn còn một đôi câu đối nói về thần Bạch Mã, vị Thành hoàng của quốc đô xưa:

Đan giá tự thiên lai, thành quách dĩ tiền khai Lý đế,

Nhất thanh tòng đại chấn, sơn hà y cựu tiếu Cao vương.

Dịch nghĩa:

Từ trời giáng xuống, thành quách ngàn xưa mở nghiệp nhà Lý,

Sấm vang mặt đất, núi sông như cũ cười giễu Cao Biền.

Câu đối này đã nhắc lại truyền thuyết Bạch Mã hóa thành ngựa trắng, nổi sấm sét đánh bật khối đồng phù thủy Cao Biền đã chôn làm bùa yểm, rồi để lại dấu chân giúp Lý Công Uẩn dựa vào đó xây thành.

Bia đền Cao Sơn đại vương (phường Kim Liên, huyện Hoàn Long) nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội ghi chép công tích đánh giặc cứu dân của thần. Thần rất linh thiêng đã âm phù cho nghĩa quân Lê Lợi đánh đâu được đấy. Nhớ công ơn thần, Lê Thái Tổ đã phong cho là Cao Sơn đại vương, xếp loại Thượng đẳng tối linh thần.

Đình thôn Thanh Hà nay là nhà số 10 Ngõ Gạch, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội có tấm bia Thanh Hà ngọc phả bi ký khắc lại toàn bộ thần tích về Đại Vương Trần Lựu:

“Đại vương sống dưới thời Trần. Khi giặc phương Bắc kéo sang xâm lược nước ta, thiên hạ náo loạn, dân chúng rơi vào cảnh lầm than cơ cực. Nhà vua ra lệnh cho bá quan văn võ, ai đánh được giặc sẽ trọng thưởng. Mọi người nhìn nhau không ai dám lên tiếng, chỉ có một mình Đại Vương xin đi. Vua liền phong cho là ứng Chỉ hầu gia, phong tước Quận Công.

Đại Vương lãnh ba vạn quân tinh nhuệ tiến thẳng tới trấn Vũ Ninh, bài binh bố trận, hiệu lệnh uy nghiêm, bọn giặc mới nghe thanh thế đã kinh hãi rụng rời. Đại Vương mưu kế như thần, đánh Đông dẹp Bắc, giặc địch không nổi chạy tan tác.

Ngày khải hoàn về đến thôn Thanh Hà, tổng Đồng Xuân, thành Thăng Long, ông mở tiệc khao quân, mời phụ lão các làng xung quanh đến dự, ai nấy rất vui vẻ... Lúc đó bỗng mây kéo mù mịt, sấm vang chớp giật, Đại Vương liền hóa. Dân thôn lập đền thờ phụng, linh ứng vô cùng. Hàng năm hương khói ngày một rạng rỡ...” (Soạn ngày 6 tháng 3 niên hiệu Thuận Thiên 3 (1430); Lễ bộ Thượng thư Nguyễn Hiền kính sao lại).

Phải nói rằng ở những văn bia trên, yếu tố huyền thoại và sự thật lịch sử đan xen nhau, và chính từ trong những yếu tố huyền thoại ấy đã thể hiện ước vọng và lẽ sống của người Việt Nam đôn hậu, tình nghĩa, không quên những người có công với dân với nước. Mọi người đều tin rằng ở cõi vĩnh hằng, thần thánh rất linh thiêng sẽ âm phù, để dân chúng có được cuộc sống yên bình. Họ cũng luôn cố gắng sống cho thật tốt và tâm niệm rằng “Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân” - (Trời không phụ ơn người có lòng tốt). Phải chăng đây là một triết lý sống của dân gian ?

Ngoài loại văn bia ghi chép truyền thuyết dân gian, còn một loại văn bia khác cũng rất đáng cho chúng ta chú ý, đó là những văn bia nói về các phường hội thủ công và các nghề nghiệp khác. Tấm bia đình Hoa Lộc (ở phố Hàng Đào) là của những người thợ nhuộm làng Đan Loan (Hải Dương) lên hành nghề tại Kinh đô Thăng Long. Họ xây đình rước Thành hoàng làng mình lên thờ, đồng thời lập quy ước riêng của phường nghề khắc vào bia để mọi người cùng tuân theo. Cũng như đình Hài Tượng (ngõ Thợ Giày) là do người làng Trúc Lâm, Phong Lâm và Văn Lâm dựng lên để thờ tổ sư nghề thuộc da và đóng giày da. Đình Xuân Phiến phố Hàng Quạt là do dân làng Đào Xá Huệ xây dựng thờ tổ sư nghề làm quạt...

Đặc biệt tại chùa Phổ Giác(2) có tấm bia Dương võ miếu nói về nghề dạy voi. Miếu được chúa Trịnh Sâm cho xây dựng từ năm 1757, đến năm 1770 thì hoàn thành, trên khu đất công của phường Phục Cổ, gần chùa Phổ Giác, giáp với bờ sông. Miếu(3) thờ ba vị tổ sư nghề dạy voi ra trận. Nội dung tấm bia đã mô tả kỹ lưỡng cách huấn luyện voi, những tướng tá, quan chức trong ngạch tượng binh, đã có công đóng góp vào sự nghiệp dùng voi vào việc binh, để dẹp yên giặc giã, giữ vững nước nhà. Đây có thể coi là một chứng tích về truyền thống cưỡi voi xung trận từ thời Bà Trưng, Bà Triệu đến Quang Trung (Nguyễn Huệ) của nước Đại Việt. Qua đây, chúng ta cũng biết thêm rằng vào cuối thế kỷ 18 nước Việt Nam đã có một ngành tượng binh khá hoàn chỉnh với “Thái y tượng viện” dành riêng chăm sóc cho voi.

Bên cạnh những nội dung trên, văn bia Hà Nội còn ghi chép khá cặn kẽ những sinh hoạt đời thường của dân chúng, những hội hè đình đám, tục lệ, khoán ước... Xin dẫn một vài ví dụ:

Bài Từ chỉ yến lão bi ký đã chép:

“Ba giáp Mật Thái, Bắc Thượng và Bắc Hạ, thuộc phường Hà Khẩu, tổng Đông Thọ, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội nguyên có ngôi đền thờ thần Bạch Mã rất thiêng. Từ trước đến nay, ngày vào đám tháng 2 hàng năm đều có lễ đặt bàn thờ tiên triết ở phía bên phải đền. Nay nhân dịp sửa lại đền bèn dựng riêng Văn chỉ ở phía bên trái đền.

Định ước hàng năm, hai kỳ trọng xuân và trọng thu, làm lễ xôi gà cáo trước với thần, rồi sẽ làm lễ rượu thịt kính tế.

Tiền chi phí lấy ở công quỹ ba giáp. Lễ vật thì do giáp đăng cai luân phiên mua sắm, khiến cho công việc có chuyên trách, để có thể thỏa hương hồn mà tỏ rõ lòng trung tín. Vì vậy, khắc vào bia đá để lưu truyền về sau.

Người trong ba giáp tuổi 50 trở lên, được dự vào bàn lão, theo lệ nạp tiền 3 quan, lợn, xôi, trầu, rượu đủ dùng. Kính tế ở đền thần xong, khoản đãi ba giáp. Số tiền sẽ lưu để chi dùng về việc công của hương lão.

Trước khi lên bàn lão, ngày mồng 8 tháng 2, đem 4 cơi trầu báo trước với bàn lão và 3 giáp, sau đó chọn ngày tốt làm lễ.

Hàng năm, đến kỳ vào đám hương lão đều đóng 6 tiền, giao cho bàn lão giáp đăng cai sắm sửa đồ lễ, đúng theo lệ cũ. Ngày ấy các chức sắc đều đi rước tới miếu làm lễ đúng theo nghi thức.

Lễ yến lão do giáp đăng cai sắm sửa một cỗ to. Lệ định dùng: Bát chiết yêu 12 chiếc, đĩa 5 tấc 8 chiếc. Cỗ biếu mỗi người một cỗ, gồm có bánh giầy, nem gói, bánh lá mỗi thứ hai chiếc, bánh khảo, trứng vịt, mỗi thứ một, chuối tiêu xanh và chín mỗi thứ một nải. Lúc vào bàn yến, một người của giáp hầu rượu. Ngày ấy 3 giáp cấp 4 quan tiền để sắm cỗ yến lão.

Ai đến tuổi 60,70 trở lên được làm lễ mừng thọ, thì làm đúng theo lệ lên bàn lão. Bàn giáp cho miễn đóng góp tiền tế thần.

Vào dịp lễ lớn, ai bận việc phải đem 30 miếng trầu xin kiếu.

Ai có cả con sinh kính biếu 3 giáp thì cái thủ sẽ chia ra biếu bàn lão để tỏ ý tôn kính.

Đặt ra lệ bàn lão là để quý trọng tuổi cao. Ai có cử chỉ không đúng, chiếm trái phép chỗ ngồi, thì sẽ chiếu theo lệ cũ mà phạt tiền 3 tiền.

Ngày 20 tháng 8 năm Minh Mệnh thứ 21 (1840)

Toàn giáp Mật Thái cùng ký.

Toàn giáp Bắc Thượng cùng ký.

Toàn giáp Bắc Hạ cùng ký”.

Trong những dịp lễ hội cúng thần hoặc cầu phúc ở các phường xóm, làng mạc thường có biểu diễn múa hát do giáo phường đảm nhận. Giáo phường là tổ chức văn nghệ dân gian có hệ thống từ xã đến huyện, có nơi lên đến cấp tỉnh nhưng không lệ thuộc chính quyền địa phương. Mỗi phường gồm có chừng 20 người đặt dưới sự điều hành của Trùm tỉnh. Họ có quyền quản lý các “cửa đình”, và mỗi khi biểu diễn đều do các địa phương đài thọ. Nội dung biểu diễn phần nhiều là lối hát ả đào mặc dù phần đầu bao giờ cũng là những bài ca chúc tụng dâng lên thần thánh mong được âm phù cho làng xóm dân khang vật thịnh. Nghệ thuật hát “cửa đình” không chỉ đơn thuần trong điệu hát lời ca mà nó còn bao gồm cả những động tác múa dịu dàng, sinh động nữa. Một tấm bia đã mô tả cái đẹp nghệ thuật hát “cửa đình” như sau:

Anh đào Phàn Diệm khẩu
Dương liễu Tiểu Man yêu

Tạm dịch:

Làn môi đỏ tươi như Phàn Diệm
Eo lưng như nhành liễu sánh với Tiểu Man(4)

Ở đây chúng tôi không giới thiệu sâu về nghệ thuật hát “cửa đình” mà chỉ muốn nói đến tính tổ chức chặt chẽ của một phường hội, đó là giáo phường. Một số tấm bia Hà Nội đã phần nào cung cấp cho ta những thông tin về vấn đề này. Bia Mại đình trù lượng - huyện Từ Liêm khắc lại bản khế ước mua bán quyền hát “cửa đình”: “Quan viên chức sắc và dân xã Thượng Mỗ vì thiếu tiền quan dịch nên đã nhất trí bán quyền thu lợi hát “cửa đình” cho xã La Dương với giá 75 quan tiền cổ. Từ đây về sau các Ty giáo phường không được thu tiền trò hát “cửa đình” của xã La Dương nữa. Khế ước đã được Trùm giáo phường phủ và chức sắc ký” (Bia tạo niên hiệuVĩnh Trị 3 (1670) đời Lê).

Bia Xướng trù bi ký tạo niên hiệu Chính Hòa 25 (1704) cũng ghi lại một bản khế ước: “Nguyên do từ xưa thôn Trung Đích xã Thượng Trì huyện Từ Liêm đã có lệ hát “cửa đình” để cầu khẩn thần linh, chúc Thánh thọ, vui thái bình. Nay dân xã muốn làm chủ ca xướng đã mua quyền thu lợi hát cửa đình của giáo phường thôn Đại Đế xã Thượng Mỗ cùng huyện với giá 120 quan tiền sử, trích ra 15 quan tiền để lập khế ước. Từ nay về sau giáo phường sẽ không được thu tiền trò của bản xã nữa.

Một việc nữa được ghi lại trong rất nhiều bia ở Hà Nội, đó là tục gửi hậu. Chùa Châu Long có 45 tấm bia thì 42 tấm nói về việc gửi hậu, các chùa Châu Lâm (Bà Đanh), Ngọc Hồ (Bà Ngô), Bát Mẫu... đều có hiện tượng như vậy. Xưa kia trong các làng xã Việt Nam những người có công, có của đóng góp cho dân để xây dựng đình chùa miếu mạo hoặc những công trình công cộng như cầu, chợ... được dân bầu làm “hậu”, có thể là hậu Thần, hậu Phật, hậu ngõ, hậu xóm... Khi sống họ được dân tôn kính, khi chết họ được dân thờ phụng. Thử dẫn một ví dụ: Bia Hậu Thần hậu Phật bi ký ở chùa xã Đại Từ, huyện Thanh Trì, Hà Nội dựng niên hiệu Chính Hòa 21 (1700) đời Lê do Lai Sơn bá Lê Hy soạn có ghi: “Xã Đại Từ có đền, miếu thờ thần, lại có chùa Đại Từ được coi là một cổ tích danh lam trong huyện. Việc thờ phụng Thần, Phật quanh năm và tu bổ tổn phí rất nhiều, phần lớn phải trông vào sự công đức của thập phương tín thí. Bà Thị nội cung tần Trần Thị Tể, nguyên quán tại bản xã, từ nhỏ có đức hạnh lại nhan sắc nên được kén vào hầu chúa Trịnh. Bà đã cúng cho dân xã Đại Từ 300 quan tiền để mua 4 mẫu 5 sào làm ruộng tế tự, hàng năm thu hoa lợi chi dùng vào việc cúng tế Thần, Phật. Cảm ơn đức bà, dân xã đồng lòng tôn bà làm hậu Phật, được hưởng tế lễ đời đời”.

Tấm bia Tự sự bi ký ở đình xã Gia Quất, huyện Gia Lâm, niên hiệu Cảnh Trị 9 (1671) đời Lê, ghi việc ông họ Trần tên thụy là Chân Phúc đời Minh sống ở Bắc quốc đã bỏ tiền riêng cấp cho quê vợ mua ruộng trồng cấy lấy hoa màu để chi dùng vào việc chung. Nhân xã có quan điền đã bán năm Đinh Mùi, nay nhận 38 dật bạc của ông để chuộc lại 12 mẫu 5 sào ruộng. Dân xã vui mừng bầu ông bà làm hậu Thần, lập quy ước thờ phụng về sau. Các xã quan, xã sử, xã tế cùng quan viên hương lão đều ký.

Lâu dần về sau có trường hợp những người không có con nối dõi tông đường, họ muốn lúc về thế giới bên kia được nương nhờ Thánh thần, nương nhờ cửa Phật, vì thế ta không lấy làm lạ khi có nhiều địa phương quy định số tiền, ruộng rất cụ thể đóng góp cho xã, thôn để được bầu hậu.

Dưới chế độ phong kiến, “quan dịch nặng nề” là tiếng kêu phổ biến trong văn bia nói chung và văn bia Hà Nội nói riêng. Nhiều nơi để thanh toán quan dịch và trang trải nợ nần, các xã thôn phải dùng biện pháp bán hậu tức là bán chức hậu Thần, hậu Phật. Không cần phải là người có công với nước, có đức với dân, miễn là có tiền có ruộng đem dâng cho làng là được. Như vậy, hậu Thần, hậu Phật... đã mất dần ý nghĩa chân chính của nó. Đây là tình trạnh suy đồi được phản ánh nhiều nhất trong văn bia đời Nguyễn.

Qua đôi nét trên đây, chúng ta đã hiểu được phần nào đời sống của người Hà Nội cổ xưa và những tục lệ, quy ước, lễ hội một thời đã qua; từ đó phát huy những nét hay, nét đẹp của quá khứ để xây dựng một Hà Nội hiện đại nhưng đậm đà bản sắc dân tộc, một Thủ đô ngang tầm thời đại, bước sang ngưỡng cửa thế kỷ 21.

CHÚ THÍCH

(1) Chùa Thiên Niên (ngàn năm) thuộc thôn Trích Sài cũ, nằm trên con đường từ chợ Bưởi đi Nhật Tân, trông ra Hồ Tây. Theo truyền thuyết, chùa được xây dựng vào thời Lý Nam Đế (544-548).

(2) Phố Ngô Sĩ Liên, quận Đống Đa, Hà Nội.

(3) Sau khi miếu bị phá hủy, bia được đưa vào chùa Phổ Giác ở vị trí như hiện nay.

(4) Phàn Diệm, Tiểu Man là tên những người phụ nữ đẹp của Trung Quốc.

TB

"TÌNH SỬ LOẠI LƯỢC" LUƯ TRUYỀN VÀ ẢNH HƯỞNG Ở VIỆT NAM

NGUYỄN NAM

Trong thiên khảo luận công bố năm 1987, Nhan Bảo 顏 保 cung cấp một danh sách sơ bộ gồm 316 đề mục các bộ tiểu thuyết Trung Quốc đã được dịch ra tiếng Việt(1). Bàn về danh mục này, Nhan viết: “Đến Thế chiến thứ hai, đã có một nhu cầu thường xuyên bức thiết về tiểu thuyết tình cảm, cả về loại tài tử - giai nhân vốn đã quen thuộc với độc giả qua các bản diễn Nôm, lẫn loại tiểu thuyết bình dân viết theo phong cách mới, mệnh danh là trường phái uyên ương - hồ điệp 鴛 鴦 蝴 蝶 派, xuất hiện ở Thượng Hải vào đầu thế kỷ 20, mà đại biểu lừng danh nhất là Từ Chẩm á 徐 枕 亞. Chí ít đã có 3 tác phẩm của ông được dịch sang tiếng Việt”(2).

Hẳn nhiên, danh mục của Nhan chưa phải là toàn bích, và vẫn còn nhiều bộ tiểu thuyết dịch bị bỏ sót. Nay xin giới thiệu thêm một vài bản dịch chưa được Nhan nhắc đến, thuộc loại tài tử - giai nhân uyên ương - hồ điệp. Thế nhưng đấy không phải là mục đích chính của bài viết này. Lùi xa hơn về quá khứ, bài viết tập trung tìm hiểu quá trình du nhập và ảnh hưởng của Tình sử, một bộ tập thành đoản thiên tiểu thuyết Trung Hoa vốn chưa được Nhan Bảo quan tâm đúng mức trong bài sưu khảo của ông. Sau khi lược thuật vắn tắt việc lưu hành bộ Tình sử loại lược 情 史 類 略 ở Việt Nam vào thế kỷ 19 và mối liên hệ của bộ sách này với các tác phẩm của Từ Chẩm á, bài viết bổ sung một số dịch bản Việt ngữ Tình sử vào danh sách của Nhan, nhằm chỉ ra mức độ phổ biến của bộ đoản thiên tiểu thuyết này ở ta(3).

Do Tình sử thâu tập 8 truyện trong Tiễn đăng tân thoạ i 剪 燈 新 話 của Cù Hựu 瞿 祐 (1347-1433), ở một mức độ nào đó, phần nào có thể xem việc lưu hành bộ sách này cũng là việc Tiễn đăng tân thoại tiếp tục được phổ biến ở đầu thế kỷ XX qua bản dịch Quốc ngữ. Đây là bộ đoản thiên tiểu thuyết sáng tác theo thể truyền kỳ có ảnh hưởng lớn ở Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam. Các học giả trong và ngoài nước đã bàn nhiều đến quan hệ giữa Tiễn đăng tân thoại Truyền kỳ mạn lục(4). Bài viết này là một sơ khảo cho thấy ở đầu thế kỷ XX, Tiễn đăng tân thoại vẫn chưa hoàn toàn tuyệt tích ở Việt Nam. Phần phụ lục khảo thích và giới thiệu hai bản Quốc ngữ các truyện Vị Đường kỳ ngộ ký 渭 塘 奇 遇 記 và Thúy Thúy truyện 翠 翠 傳 do Ngô Tất Tố và Phan Mạnh Danh dịch.

"Tình Sử" Truyền nhập và lưu hành

Tình sử loại lược 情 史 類 略 (thường gọi tắt là Tình sử) do Phùng Mộng Long 馮 夢 龍 (1574 - 1646) tập thành. Phùng tuyển lục hơn 870 thiên tiểu thuyết bút ký các đời, liên quan đến tình yêu, phân thành 24 loại ái tình, khởi sự với Tình trinh 情 貞 và kết thúc với Tình tích 情 跡. Sách dành riêng quyển 23 cho các truyện liên quan đến đồng tính luyến ái (40 truyện), gọi đó là Tình ngoại 情 外(5).

Thật khó để có được một kết luận đích xác về thời điểm truyền nhập Tình sử vào nước ta. Tuy vậy, vẫn còn có thể đoán chắc rằng đến nửa đầu thế kỷ XIX, dưới triều Minh Mạng (1820-1840), Tình sử đã trở nên rất phổ biến ở Việt Nam. Lễ bộ Thị lang Nguyễn Tú đã dùng Tình sử như một nguồn văn liệu để nối kết các câu Kiều với Hán thi Trung Quốc(6). Tình sử Thi lâm 詩 林 là hai bộ sách được Phan Mạnh Danh (1866-1942) sử dụng nhiều nhất trong quá trình tập Kiều với luật thi Trung Hoa(7).

Tình sử được dịch ra Quốc ngữ tương đối sớm. Để “dịch thơ cổ, từ Hán - Sở, qua Đường, Ngũ đại, Tống, Nguyên, Minh, Thanh,” Phan Mạnh Danh cũng lại dùng Tình sử. Bộ Cổ thi trích dịch là kết quả của một quá trình biên dịch kéo dài (1915-1940), dựa vào Tình sử giới thiệu thi ca cổ điển Trung Hoa theo chiều lịch đại, đặt thi phẩm trong bối cảnh đậm chất tiểu thuyết của nó, khá gần với Bản sự thi 本 事 詩 của Mạnh Khải 孟 綮 đời Đường(8). Trong bộ này, Phan Mạnh Danh lược thuật truyện Vương sinh (tức Vị Đường kỳ ngộ ký trong Tiễn đăng tân thoại), và dịch bốn bài thơ trên các bức tứ bình ghi trong truyện(9).

"Tình sử" và tiểu thuyết của Từ Chẩm Á ở Việt Nam

Các biến đổi quan trọng về mặt chính trị, xã hội ở cuối đời Thanh, sự phát triển của báo chí, việc du nhập của tiểu thuyết lãng mạn phương Tây (đặc biệt là việc dịch La dame aux camélias - Trà hoa nữ ra Trung văn, đã dẫn đến sự ra đời của Uyên ương hồ điệp phái 鴛 鴦 蝴 蝶 派 (trong khoảng 1910 và 1920) với Từ Chẩm á 徐 枕 亞 (1876-?) - một tác giả tiêu biểu của trường phái tiểu thuyết này. Một số tác phẩm của Từ như Ngọc Lê hồn 玉 梨 魂, Tuyết hồng lệ sử 雪 紅 淚 史, Đa tình hận 多 情 恨 được dịch sang tiếng Việt qua các dịch giả như Đoàn Tư Thuật(10), Trúc Khê Ngô Văn Triện(11), và Phan Mạnh Danh.

Vào những năm đầu thế kỷ 20, Tình sử thường được xếp cùng loại với Liêu trai chí dị, như Phan Kế Bính đã nhận định trong Việt Hán văn khảo (1918): “Tình sử, Liêu trai thì là lối đoản thiên tiểu thuyết, văn chương rất giản kinh, song hiềm vì chép lắm chuyện quái đản bất kinh(12)”. Bên cạnh những chuyện thần quái, tình yêu, đặc biệt là tự do luyến ái, cũng là một chủ đề chính của hai bộ tiểu thuyết trên. Đào Sỹ Nhã nhắc nguyên nhân Phan Mạnh Danh dịch Đa tình hận như sau: “ở bên Tàu lúc bấy giờ, lại vừa xuất bản một quyển tiểu thuyết của Từ Chẩm á, nhan đề là Đa tình hận, nói về cái họa tự do trong nữ giới nước Tàu. Tự nghĩ: “Sách ấy có thể đánh thức những si nam, oán nữ đương trong giấc mộng say mê,” tiên sinh đem dịch Nôm vào hồi 1919”(13).

Dịch giả Phan Mạnh Danh tìm thấy một quan hệ khăng khít giữa Tình sử Đa tình hận. Ông đọc Đa tình hận, gọi tên các mối quan hệ trong tác phẩm này theo những cách phân loại trong Tình sử:

“Trong sách này tả những trai gái tình si, dụng tình lắm mối, và gồm đủ cả tình ái, tình diễm, tình si, tình ảo, tình hiệp, tình kỳ, tình ai, tình khổ, mọi loại tình, thành ra một bộ tình sử nhỏ, thực là có thể đánh thức những người si nam oán nữ đang trong giấc mộng say mê”(14).

Thế nên không lạ gì khi thấy: “Dịch quyển Đa tình hận, tiên sinh lại nhớ đến bộ Tình sử của Tàu, chép lắm truyện ly kỳ, lại có nhiều thơ từ đủ lối của danh nhân, tài tử đời xưa, có thể làm khuôn mẫu cho người học thơ”(15).

Rõ ràng là việc tiếp tục dịch Tình sử của Phan Mạnh Danh nảy sinh từ những duyên do nhất định: bên cạnh niềm yêu thơ của ông, bối cảnh chính trị - xã hội và văn học lúc bấy giờ đã khiến ông quay lại với Phùng. ở tập Tình sử dịch vào năm 1920, có truyện Lưu Thúy Thúy (vốn là Thúy Thúy truyện trong Tiễn đăng tân thoại) trong số 11 truyện được chọn.

"Tiễn đăng tân thoại" trong "Tình sử"

Tình sử chọn ra 8 truyện từ Tiễn đăng tân thoại và phần lớn dựa vào tên các nhân vật trong truyện mà đặt tựa đề mới:

Tiễn đăng tân thoại ® Tình sử
1. Kim phượng thoa ký (1) ® Ngô hưng nương (9)
金 鳳 釵 記 吳 興 娘
2. Liên phương lâu ký (1) ® Tiết thị nhị phương (3)
聯 芳 樓 記 薛 氏 二 娘
3. Đằng mục túy du Tụ cảnh viên ký (2) ® Vệ phương hoa (20)
騰 穆 醉 游 聚 景 園 記 衛 芳 華
4. Mẫu đơn đăng ký (2) ® Phù Lệ Khanh (20)
牡 丹 燈 記 符 麗 卿
5. Vị đường kỳ ngộ ký (2) ® Vương sinh (9)
渭 塘 奇 遇 記 王 生
6. Ái Khanh truyện (3) ® La Ái Ái (8)
愛 卿 傳 羅 愛 愛
7. Thúy Thúy truyện (3) ® Lưu Thúy Thúy (14)
翠 翠 傳 劉 翠 翠
8. Lục y nhân truyện (4) ® Lục y nhân (10)
綠 衣 人 傳 綠 衣 人

Do vậy, khảo sát các bản dịch Tình sử có thể giúp tìm lại được các dịch bản Quốc ngữ rất sớm của Tiễn đăng tân thoại ở ta.

Các bản dịch Việt ngữ "Tình sử"

Một khảo sát sơ bộ cho thấy, ngoài bản Tình sử của Phan Mạnh Danh, còn có các dịch bản khác của Phan Kế Bính, Lê Thạch Lân, Nguyễn Quang Oánh, Ngô Văn Triện, Ngô Tất Tố, và Phan Thế Roanh.

- Phan Kế Bính dịch Tình sử, đăng tải trên Đông Dương tạp chí.(16) Lục tỉnh tân văn cũng khởi sự đăng bản dịch Việt ngữ Tân tình sử của Lê Thạch Lân trong năm 1915(17).

- Bản của Nguyễn Quang Oánh phân thành hai quyển, do nhà Vĩnh Hưng Long ở Hà Nội xuất bản lần lượt trong hai năm 1928 và 1931(18).

- Liên tiếp trong hai tháng 8 và 9 năm 1940, Trúc Khê Ngô Văn Triện công bố bản dịch Tình sử phân làm hai quyển, đăng trên Phổ thông bán nguyệt san (số 65 và 66). Việc dịch Tình sử đã gợi hứng cho ông soạn tiếp bộ Tình sử Việt Nam (Phổ thông bán nguyệt san , số 80, 1/4/1941). Trong bài tựa cho bản dịch Tình sử viết vào tháng 9 năm 1939, Trúc Khê tự nhận mình là Tình sử quán tổng tài, và cũng chính nhờ lời tựa Tình sử Việt Nam mà người đọc biết được động cơ dịch thuật và biên soạn của ông: Tình là cái nguyên tố sống còn của xã hội, là cái then chốt hoạt động của nhiều công việc trong xã hội, bởi vậy người Tàu họ đã đem nó mà chép nên thành sử... Như vậy thì biên chép những câu chuyện tình bởi cả những cành lá của nó, có khi cũng chính là biên chép những trạng thái sinh hoạt, biến thiên, tiến hóa của một xã hội, có thể bổ ích cho một vài phương diện của sử học; ấy là chưa kể nếu người khéo chép, còn có thể dùng tình làm những tấm gương giáp giới, giúp ích cho thế đạo nhân tâm... Nhân đọc bộ Tình sử của Tàu, một hôm tôi bỗng nảy ra một ý nghĩ: Giá trong làng trước thuật nước mình cũng có người sẽ viết ra một bộ sách hay hay như thế. Rồi trong khi mong ước mà chưa thấy có, tôi bất giác không tự lượng mình học ít, tài mọn, cầm bút thử viết bộ Tình sử Việt Nam(19).

Truyện “Phù Lệ Khanh” chính là “Mẫu đơn đăng ký” của Cù Hựu(20).

- Năm 1940 [?], Ngô Tất Tố xuất bản tập Thơ và tình, gồm các truyện dịch từ Tình sử, trong đó có truyện Vương sinh/ Vị đường kỳ ngộ ký dưới tiêu đề Nhân duyên trong mộng có gốc từ Tiễn đăng tân thoại(21).

- Năm 1941, Phan Thế Roanh đề đạt việc biên soạn một bộ điển cố văn học với thân phụ Phan Mạnh Danh, và Tình sử lại được dùng như một trong những nguồn văn liệu chủ yếu. Bộ Điển cố xuất bản năm 1953 có nêu 9 truyện được dịch từ Tình sử(22).

Xét trong trào lưu văn học thời ấy, việc dịch Tình sử không chỉ là một hồi cố lãng mạn về quá khứ, mà còn là nguồn cảm hứng nhân văn, nhắc nhớ những bài học lịch sử, đạo đức, hướng thiện. Cảm hứng này đưa đến việc biên soạn Tình sử Việt Nam: lịch sử dân tộc được ôn cố để mà tri tân.

Tình sử thường báo cho người đọc biết xuất xứ của các chuyện trong hợp tập này. Có lẽ chính dựa vào đấy mà Ngô Tất Tố đã chú thêm về nguyên gốc của Nhân duyên trong mộng: “trích ở Tiễn đăng tân thoại.”(23)

Thay phần kết luận

Với sự phổ cập chữ Quốc ngữ, độc giả Việt Nam ở đầu thế kỷ 20 có dịp thưởng thức văn chương Trung Hoa qua bản dịch Việt ngữ, cùng lúc với sự tiếp nhận một trào lưu văn học khác, đến từ phương Tây. Nhiều tác phẩm văn học Trung Quốc tưởng như đã thất truyền hoàn toàn ở Việt Nam, nay lại “tái hồi” với người đọc trong những diện mạo mới. Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu là một ví dụ. Tình sử và tiểu thuyết của Từ Chẩm á được dịch, ngỡ như cùng hòa điệu với giòng chảy lãng mạn từ Tây phương lan đến. Để hiểu thêm việc lưu hành tiểu thuyết Trung Hoa trong thời kỳ này, tưởng cũng nên đọc lại một vài ghi nhận của Thúc Ngọc Trần Văn Giáp về tình hình dịch thuật buổi ấy: “Từ ngày có chữ Quốc ngữ, thật là một vật báu cho ta (...) Các cụ Nho ở Nam Kỳ còn sót lại hồi ấy, tự cho mình là không thích hợp với phong trào Thái tây, mà kể ra cũng trái mùa thật. Hoặc vì sinh kế, hoặc vì buồn không có việc, đem các tiểu thuyết Tàu dịch ra Quốc ngữ; các nhà xuất bản lợi dụng đem in ra để trục lợi. Rồi từ đó ở Nam Kỳ lan ra đến Bắc (...) Hồi đó Quốc ngữ gọi là phổ thông nên các thanh niên mê thích tiểu thuyết Tàu lắm, các thanh niên hồi đó mê thích truyện Tàu không khác gì các thanh niên hiện thời mê thích Cinéma (...) Đến hồi bãi bỏ khoa cử ở Bắc Kỳ thì trào lưu truyện Nam Kỳ cũng theo đó mà kém dần đi. Các văn sĩ Hán học ở Bắc lúc bấy giờ vô sự cũng lại xoay ra dịch truyện Tàu, phần thì bán cho các nhà xuất bản trục lợi, phần thì bán cho các nhà nhật trình in vào phụ trương(24).

Cùng với bài tựa Tình sử Việt Nam của Trúc Khê đã dẫn ở trên, ghi chép vắn tắt này giúp người đọc hiểu thêm các động lực trong việc dịch và giới thiệu tiểu thuyết Trung Hoa ở Việt Nam vào thời ấy.

Phụ lục
NHÂN DUYÊN TRONG MỘNG(25)

Cù Hựu

Trong đời Chí Thuận nhà Nguyên(26) ở Kim Lăng có chàng thiếu niên tên là Vương Sinh, vốn là dòng dõi trâm anh, người rất đẹp, mặt trắng như ngọc, đôi mắt lóng lánh như làn nước thu, anh em bè bạn vẫn gọi là chàng Kỳ Tuấn họ Vương.

Năm chàng đã hai mươi tuổi, vẫn chưa lấy vợ. Bởi nhà có ruộng ở vùng Tòng Giang, cho nên năm ấy chàng phải đến đó thu thuế. Lúc về, thuyền qua khúc sông Vị Đường, thấy trên sông có ngôi hàng rượu mới mở, ngọn cờ chiêu bài phấp phới bay trên mái nhà, trong hàng, nào câu lơn sơn son, nào hành lang khuất khúc, qui mô rất lịch sự, trước hàng, mấy cây hoa hòe, liễu cổ thụ, cành nhánh rườm ra, lá vàng lác đác rụng đầy mặt đất, ngoài đó, lại có chừng hơn mười cây phù dung, hoặc màu hồng, hoặc màu thắm, bóng hoa chiếu xuống mặt nước đỏ ối; rồi ở dưới nước một đàn bạch nga, thi nhau bơi hụp lả lơi. Cao hứng chàng bèn đậu thuyền vào hàng uống rượu. Bàn rượu, có cua to mai, có gỏi cá mè nhỏ vẩy, lại có các thứ quả lạ, như là: quýt xanh, chanh vàng, ngó sen Liên trì, hạt dẻ Tòng pha v.v. Bằng chén sứ hoa, chàng rót rượu trân châu, ngất ngưởng vừa uống, vừa ngắm phong cảnh.

Chủ quán cũng là nhà giàu, có người con gái mới mười tám tuổi, rất thạo âm nhạc và có biết chữ, thái độ khác hẳn người thường. Thấy chàng uống rượu, nàng cứ luôn luôn đứng ở trong màn nhòm ra, khi lộ nửa mặt, khi thì lộ cả toàn thân, đi rồi lại lại hình như không thể dứt tình.

Chàng cũng luôn luôn liếc mắt nhìn nàng, nhưng không dám nói một câu nào cả.

Tan cuộc rượu, chàng ngậm ngùi xuống thuyền, bây giờ người chàng tự nhiên thơ thẩn, như mới đánh mất cái gì.

Đêm ấy, chàng nằm chiêm bao thấy mình lại tới hàng đó, qua mấy lần gác, vào thẳng sau nhà mới đến chỗ ở của người con gái. Chỗ ấy chỉ là một tòa nhà nhỏ, trước nhà có giàn nho chín, dưới giàn nho có cái bể nhỏ xây bằng đá hoa, trong bể nuôi toàn cá vàng. Hai bên đầu bể có hai cây cối, bóng mát um tùm. Ngoài tường có đắp ba ngọn núi giả, mỗi ngọn có trồng một cây trắc bách, màu lá xanh biếc. Trong nhà, ở trước cửa sổ treo một chiếc lồng sơn son, một con vẹt xanh đậu trên cầu lồng, thấy người vui vẻ chào hỏi. Dưới nhà có bày đôi hạc bằng đồng, nén hương cắm ở mỏ hạc khói đương bốc lên nghi ngút. Giữa nhà có chiếc án thư, trên án bày đôi lọ đồng rất cổ, mỗi lọ cắm vài cái lông công. Giữa án để chiếc nghiên mực và chiếc ống bút, lại có cái giá gác một cây sáo bích ngọc. Trong vách có treo một bộ tứ bình nền vàng hoa đỏ, và có đề thơ, nét chữ rất tốt. Nhìn kỹ là những bài tả cảnh tứ thời, chàng có nhớ được mấy bài sau đây(27):

Gió đưa, hoa rụng, cây rơi tuyết,
Cành liễu véo von chim bách thiệt.
Con bướm tường đông bay sang tây,
Cây đào năm xưa nụ đương kết.
Đu tiên tan cuộc đất tơi bời,
Bát ngát cồn rêu hương phấn rơi.
Con nụ(28) dường như hiểu lòng chủ,
Nghiêng bình, múc nước pha chè tươi(29).
Xanh ngắt đuôi loan, tàu chuối tở,
Thắm tươi mỏ phượng, hoa huyên nở.
Đầu nhà con én bay sập sè,
Dưới nước lá sen đua hớn hở.

Ngày dài đằng đẵng, tiết trời oi,Xếp chỉ cài kim nản đứng ngồi.Thơ thẩn rời chân cạnh cây lựu,Trẩy mơ, đùa ném cái oanh chơi(30).... Chàng đương vơ vẩn đứng ở trước cửa, thì người con gái chạy ra đón chàng vào trong nhà. Nàng tiếp chàng một cách niềm nở, vui vẻ. Chừng quá nửa đêm, thì nàng bảo chàng vào màn cùng ngủ với mình.Gà gáy một tiếng, chàng giật mình thức dậy, té ra mình vẫn nằm trong khoang thuyền. Sau khi về quê, đêm nào chàng cũng chiêm bao như thế. Có đêm, thấy nàng lấy chiếc sáo ngọc trên giá thổi luôn mấy khúc “lạc mai”(31), tiếng sáo réo rắt dường như lên tận mây xanh. Có đêm thấy nàng ngồi dưới bóng đèn, đương thêu một chiếc hài hoa, chàng cầm kéo sẽ cắt ngọn đèn rơi vào chiếc hài, vết dầu loang ra đen sì. Có đêm thấy nàng tháo chiếc nhẫn nàng đeo tay tặng chàng, chàng cũng cởi chiếc túi gấm tặng nàng, khi thức quả nhiên ở tay thấy có chiếc nhẫn, sờ đến chiếc túi thì biến đâu mất(32). Chàng càng lấy làm sự lạ, bèn bắt chước Nguyên Chẩn nhà Đường làm thơ hội chân đúng ba chục để ghi việc đó(33). Bài ấy, hồi ấy có nhiều người truyền tụng(34).Năm sau, khi ra Tùng Giang thu thuế, nhân tiện, chàng lại ghé vào quán đó. Ông chủ thấy chàng, tỏ vẻ mừng rỡ vô cùng và mời luôn vào trong quán. Chàng không hiểu là duyên cớ gì, nên còn rụt rè giữ ý. Ngồi đoạn ông ta nói thật với chàng:- Nhà lão chỉ có một đứa con gái, đã nhiều người hỏi nhưng chưa lấy ai. Năm ngoái, khi ông qua đây, tình cờ nó thấy mặt hình như bụng nó cũng có cảm động. Thế rồi, lúc ông về khỏi, tự nhiên nó bị cái bệnh rất lạ. Suốt ngày, suốt đêm, nó chỉ nằm ngủ li bì và nói lảm nhảm một mình. Có lúc như đứa ngây dại, có lúc như người say rượu. Lão đã tốn nhiều thuốc thang, rút lại đều là vô hiệu. Đêm qua, thình lình thấy nó nói rằng “Ngày mai lang quân sẽ đến, người nhà phải ra đón tiếp.” Lúc đầu, cả nhà đều cho là nó nói quấy, không ai để ý! Không ngờ bây giờ ông tới đây thật, hoặc giả cũng là lòng trời xui ra, mà như thế chăng ? Chàng còn chưa kịp nói sao, ông chủ lại hỏi chàng đã có vợ hay chưa. Chàng đáp chưa có. Ông ta mừng lắm, liền nắm tay chàng giắt vào chỗ ở của người con gái. Thì ra nhà cửa, cây cảnh, hết thảy đúng như chàng đã thấy trong khi chiêm bao. Nghe thấy tiếng chàng, người con gái tự nhiên tỉnh táo, vội trang điểm chỉnh tề ra thềm đón chàng. Trong khi nói chuyện, nàng có kể cho chàng biết từ ngày gặp chàng đến giờ, đêm nào cũng mơ thấy chàng đến nhà. Và việc trong mộng của nàng cũng y như việc trong mộng của chàng. Cho đến cái túi của chàng tặng cho, nàng cũng còn giữ trong mình(35). Tiễn đăng tân thoại ở ta. Các bản dịch Việt ngữ Tình sử Một khảo sát sơ bộ cho thấy, ngoài bản Tình sử của

Rồi đó, cha nàng kén ngày cho nàng kết duyên với chàng (36).

Ngô Tất Tố dịch
Nguyễn Nam hiệu đính và chú thích

LƯU THÚY THÚY(37)

Cù hựu

Thúy Thúy là con gái một nhà thường dân họ Lưu đất Hoài An(38). Lúc bé đã dĩnh ngộ, hay đọc Thi Thư; cha mẹ chiều lòng cho vào trường học. Trong trường có một người con trai, họ Kim tên Định, cũng bằng tuổi nàng, lại thông minh, tuấn tú. Các học trò thường nói bỡn rằng:

- Cùng tuổi lấy nhau là phải.

Hai người nghe thấy cũng có ý thuận, mãi sau mới gắn bó cùng nhau. Kim Định có tặng nàng một bài thơ rằng:

Tứ tuyệt

Mấy khúc câu lan diễu Bảo đài(39),
Chúa xuân đòi chốn ngục hoa cười;
Vườn đông đào mận, vườn tây liễu,
Sao chẳng đem trồng cả một nơi.

Nguyên vận

Thập nhị lan can thất bảo đài
Xuân phong tùy xứ diễm dương khai;
Đông viên đào lý, tây viên liễu,
Hà bất di lai nhất xứ tài?

Thúy Thúy cũng họa lại một bài:

Tứ tuyệt

Bình sinh chứa giận đắp nên đài(40),
Phong nhị làm chi chẳng mỉm cười;(41)
Nhắn nhủ chúa Đông đừng chểnh mảng,
Rời hoa theo bóng để gần nơi(42).

Nguyên vận

Bình sinh mối hận Chúc Anh Đài
Hoài bảo vi hà bất tảo khai
Ngã nguyện Đông quân cần dụng ý
Tảo di hoa ảnh hướng Dương đài.

Khi Thúy Thúy đã lớn, mới thôi học ở trường. Một hôm cha mẹ nàng nói đến việc gả chồng cho nàng, thì nàng khóc lóc; cố tình gạn hỏi, thì trước nàng còn không nói, sau mới thưa rằng:

- Con đã trót gắn bó với chàng Kim Định ở Tây lâu, nếu không được thành đôi lứa, thì chỉ có chết mà thôi, thề chẳng đem mình vào nơi nào khác.

Cha mẹ phải bằng lòng gả nàng cho Kim Định.(43) Phàm những lễ sính vấn với đồ tư trang, đều là nhà gái sắm cả.

Đến khi làm lễ, hai người cùng nhau gặp mặt, mừng rỡ biết bao! Đêm ấy nàng làm một bài từ để tặng.

Khúc Lâm Giang Tây

Song huỳnh trước đã cùng nghiên bút,
Nay người mới vẫn người quen.
Đuốc hoa xuân sáng khắp buồng sen,
Phấn đọng mồ hôi đỏ, hương nồng mảnh áo đen;
Mây mưa giấc mộng chưa từng biết,
Mày xanh e thẹn đòi phen
Tình nặng ân sâu chẳng ngại phiền,
Trăm năm từ đây trước, hình bóng nguyện cùng liền.

Nguyên vận

Tích nhật vân song đồng bút nghiễn
Cố nhân kim tác tân nhân
Động phòng hoa chúc thập phần xuân
Hãn triêm hồ điệp phấn, hương nhạ tịch y trần.
Đái vũ vưu vân hồn vị quán
Chẩm biên mi đại tu tần
Khinh lân thống tích mặc tư tần
Nguyện lang tòng thử thủy, nhật cận nhật tương thân.

Kim Định bèn họa lại:

Khúc Lâm Giang Tây

Thư trai còn nhớ cùng nghiên bút,
Chẳng là lạ vẫn là quen.
Võ Lăng xuân hỏi cậy thuyền sen,
Gác tía gần mây bạc, bụi hồng cách ngấn đen.
Ân non nghĩa bể lời minh thệ,
Miệng đào cười cợt mấy phen.
Nói chi việc ấy nữa thêm phiền,
Ý mến càng thêm mến, tình liền vẫn lại liền.

Nguyên điệu

Ký đắc thư trai đồng bút nghiễn
Thân nhân bất thị tha nhân
Biên châu lai phỏng Vũ Lăng xuân
Tiên cư lân tử phủ, thân thế cách hồng trần
Hải thệ sơn minh tâm dĩ hứa
Kỷ phiên thiển tiếu thâm tần
Hà nhân do tự ngữ tần tần
ý trung vô biệt ý, thân ngoại hữu thùy thân.

Hai người từ đấy phỉ nguyền đôi lứa, ân ái trăm chiều, chẳng khác gì phỉ thúy trên đám mây hồng, uyên ương giữa dòng nước biếc.

Chưa được một năm, thì có Trương Sỹ Thành(44) dấy loạn. Cao Bưu(45) hãm phá hết mọi quận Hoài đông, nhân dân tan tác, kẻ bắc người nam(46). Thúy Thúy cùng bộ hạ Trương Sỹ Thành bị Lý Tướng quân bắt được.

Mãi đến cuối năm Chí Linh (Dương lịch 1341)(47) Sỹ Thành mới về với nhà Nguyên, tự xin triều cống. Lúc ấy không lo trở ngại, đường sá mới thông(48). Kim Định cáo từ cha mẹ đôi bên để đi tìm vợ(49). Nằm mưa ăn gió, trong lưng không có một đồng, dẫu rằng đường sá xa xôi, nhưng không hề quản ngại, trải bao sương nắng mới đến được Hồ Châu(50).

Khi ấy, Lý Tướng quân đang giàu sang, uy quyền lẫm liệt. Kim Định đến cửa, thơ thẩn bên ngoài, muốn vào nhưng chưa có dịp vào, muốn nói cũng không cùng ai nói(51). Người canh cửa thấy chàng quanh đi quẩn lại, có ý ngờ mới hỏi. Chàng nói:

- Tôi là người Hoài An, gặp cơn loạn lạc, nghe nói có người em gái ở Quý phủ đây, chẳng từ ngàn dặm xa xôi, muốn cùng gặp mặt, ngoài ra dám có điều gì.

Người canh cửa lại hỏi:

- Ngươi tên họ là gì, em ngươi trạng mạo thế nào, độ bao nhiêu tuổi, nói cho ta nghe thử để rõ thực hư.

Kim Định đáp:

- Tên họ Lưu tên Định(52), em tôi là Thúy Thúy, biết chữ hay thơ, lúc ra đi mới mười bảy tuổi, tính đến năm nay vừa hai mươi bốn.

Người canh cửa nói rằng:

- Trong phủ này thực có người họ Lưu, quê ở Hoài An, độ ngoài hai mươi tuổi,(53) biết chữ, hay thơ, tính lại minh mẫn. Tướng quân rất đỗi yêu thương; lời ngươi nói không sai, vậy cứ đứng đây đợi, để ta bẩm hộ.(54)

Chàng đợi một lúc, người canh cửa ra gọi. Khi vào thấy Lý Tướng quân ngồi ở công đường, bèn lạy mà kể lể hết đầu đuôi. Tướng quân(55) sai người bảo cùng Thúy Thúy rằng có người anh nàng từ Hoài An đến, nàng phải ra chào. Thúy Thúy vâng mệnh, lấy lễ anh em yết kiến, chẳng dám thổ lộ một nhời,(56) chỉ ngấm ngầm thương xót.

Tướng quân nói với Kim Định rằng:

- Người từ xa tới đây, ắt là nhọc mệt, hãy vào nhà trong nghỉ ngơi, thong thả sau ta sẽ liệu cho.

Rồi tặng chàng một cặp áo mới, và sai người dọn màn trong quán nhỏ ở cửa phía tây cho chàng ở.

Hôm sau lại bảo chàng:

- Em ngươi đã hay chữ, còn ngươi liệu có thông sách vở không ?

Kim Định thưa rằng:

- Bẩm chúng tôi là học trò(57).

Tướng quân mừng lắm, ủy cho việc biên chép.(58) Chàng vốn tính ôn hòa và có lễ phép, thờ trên tiếp dưới ai cũng bằng lòng, thảo giấy viết tờ, thực là đủ ý. Tướng quân lại càng hậu đãi, tự cho là may mới được người như vậy.

Song chàng sở dĩ lặn suối qua rừng, cũng chỉ cốt đến tìm vợ(59) chốn phòng khuê nghiêm cấm(60) muốn thông tình cũng không làm thế nào được, thành lần lữa đã gần hai tháng.

Lúc đó về tháng chín, hơi thu lạnh lẽo, áo rét gần may, sương trắng sớm bay, gió vàng tối giục. Kim Định ở trong nhà vắng một mình, suốt đêm không ngủ, bèn làm một bài thơ.

Luật thi

Cành hoa rời đến chốn câu lan,
Cách mặt xuân rồi khó hỏi han.(61)
Đã ở chốn vui quên chốn khổ,
Khó cùng khi hợp dễ khi tan;
ải xa bao lại quay đầu ngựa,
Đình vắng đêm nay lẻ bóng loan.
Sương tỏa mây che sầu biết mấy,
Tròn gương nỡ phụ để trăng tàn.

Nguyên vận

Hảo hoa di nhập ngọc lan can,
Xuân sắc vô do đắc tái khan.
Lạc xứ khởi tri sầu xứ khổ,
Biệt thời dung dị kiến thời nan;
Hà niên tái thượng trùng quy mã,
Thử dạ đình trung độc vũ loan.
Vụ các vân yên thâm kỷ hử,
Khả liên cô phụ nguyệt đoàn đoàn.

Sau chàng viết bài thơ vào mảnh giấy, rạch tràng áo ra, bỏ thơ vào trong, rồi đem khâu lại, cho tiền người hầu gái và dặn rằng:

- Đưa hộ vào em ta, nhờ để vá may, phòng khi rét đến(62).

Hầu gái vâng lời, đưa áo vào cho Thúy Thúy. Thúy Thúy biết ý, vạch tà áo ra, tìm thấy bài thơ. Xem xong, nàng chỉ khóc thầm, lòng càng cảm động. Bèn làm một bài thơ, bỏ vào tà áo khâu lại, rồi sai hầu gái đem trả chàng.

Luật thi

Binh lửa từ khi cách núi sông,
Sầu đong, giận đắp, mấy mươi trùng.
Ruột tuy đứt hết, tình khôn đứt,
Sống chẳng cùng theo, thác lại cùng;
Gương vỡ có hình còn để đấy(63),
Rồng bay thấy bóng vẫn là không(64).
Lục Châu, Bích Ngọc xưa là thế(65),
Ai biết lòng ta cũng một lòng.

Nguyên vận

Nhất tự hương quan động chiến phong,
Cựu sầu tân hận kỷ trùng trùng.
Trường tuy dĩ đoạn tình nan đoạn,
Sinh bất tương tùng tử diệc tùng;
Trường sử Đức Ngôn tàng phá kính,
Chung giao Tử Kiến phú du long.
Lục Châu, Bích Ngọc tâm trung sự,
Kim nhật thùy tri giã đáo nùng.

Chàng xem thơ biết ý(66), không còn hy vọng, lại thêm uất ức, cảm bệnh càng sâu. Thúy Thúy xin với Tướng quân cho đến bên giường thăm hỏi. Lúc ấy bệnh chàng quá nặng rồi, không thể dậy được nữa, Thúy Thúy lấy tay vực chàng, chàng ngoảnh mặt lại, dòng châu đầy khóe mắt, kêu to lên một tiếng, thiêm thiếp giấc mòng, chết ở trên tay Thúy Thúy.

Tướng quân thương quá, đem táng ở trên núi Đạo Tràng. Thúy Thúy đưa ma về, đến đêm thoắt đà bị bệnh, không chịu uống thuốc, trằn trọc hơn một tháng trời.

Một hôm, nàng nói với Tướng quân rằng:

- Thiếp từ khi theo tướng quân đến nay đã được tám năm, xa cửa xa nhà, ở đây thân thuộc tuyệt không một ai cả, chỉ có một anh thời đã chết rồi. Thiếp xem mình thiếp, bệnh ắt chẳng qua; như có mình nào, xin đem hài cốt táng ở bên cạnh anh, thì dưới suối vàng thiếp có kẻ tựa nương, không đến nỗi làm cô hồn nơi đất khách.

Nói xong thì mất.

Tướng quân thương quá, chẳng nỡ trái ý, bèn đem linh cữu nàng thấn táng ở bên mộ Kim Định.(67)

Phan Mạnh Danh dịch
Nguyễn Nam hiệu đính và chú thích

CHÚ THÍCH

(1) Xem Yan Bao, “The Influence of Chinese Fiction on Vietnamese Literature” (ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc trong văn học Việt Nam), trong Literary Migrations - Traditional Chinese Fiction in Asia (17-20 Centuries (Thiên di văn học - Tiểu thuyết truyền thống Trung Quốc ở Châu á (thế kỷ 17 đến 20), Claudine Salmon chủ biên, International Culture Publishing Corporation, Beijing, tr.286-316. Cũng xem lược bản Trung văn của sách này dưới nhan đề Trung Quốc truyền thống tiểu thuyết tại Á Châu 中 國 傳 統 小 說 在 亞 洲 Bắc Kinh Đại học tỉ giảo văn học nghiên cứu tùng thư 北 京 大 學 比 較 文 學 研 究 叢 書, Quốc tế văn hóa xuất bản công ty 國 際 文 化 出 版 公 司, Bắc Kinh, 1989, tr.208 - 236.

(2) Literary Migrations - Traditional Chinese Fiction in Asia (17-20 Centuries), sđd., tr. 282-283.

(3) Trong danh sách của Nhan chỉ có một bản dịch Tình sử của Nguyễn Quang Oánh xuất bản tại Hà Nội vào năm 1931. Xem số 172. Literary Migrations - Traditional Chinese Fiction in Asia (17- 20 Centuries), sđd., tr.299.

(4) Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một bài viết khác.

(5) Xem Phùng Mộng Long biên soạn, Tình sử, 4 tập, trong Cổ bản tiểu thuyết tập thành 古 本 小 說 集 成, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, Thượng Hải, 1990.

(6) Xem Nguyễn Tiến Đoàn, “Phát hiện một bản Kiều mang màu sắc truyền kỳ,” Tạp chí Hán Nôm, 3/1997, tr.70-77.

(7) Xem Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, Nhà in Phạm Văn Sơn, Sàigòn, 1962.

(8) Phan Mạnh Danh, Cổ thi trích dịch - Hán - Sở, Đường, Ngũ Đại, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, in lần thứ nhất, Thanh Hoa thư xã, Hà Nội, 1953.

(9) Phan Mạnh Danh, Cổ thi trích dịch, sđd., tr.65-70. Xem thêm Phụ lục 1, truyện Nhân duyên trong mộng ở sau phần khảo cứu.

(10) Đoàn Tư Thuật (1886-1928) hiệu là Mai Nhạc, người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai (Hà Tây), con quan Bố chánh Đoàn Ngưng. Tác phẩm dịch thuật gồm có Tỳ bà ký, Tuyết hồng lệ sử. Theo Trúc Khê và Tiên Đàm, Chu Mạnh Trinh, Cộng Lực, Hà Nội, năm [?], tr.53 - 56.

(11) Từ Chẩm á đã một thời ảnh hưởng khá sâu đậm đến phong cách của Trúc Khê. Ông tâm sự: “Những tiểu thuyết ngoài loại lịch sử, trong thời kỳ này [khoảng cuối những năm 20 - đầu 30, N.N.], tôi có viết được vài cuốn: Mặt nước cánh hoa, Thu phương hận sử và ít truyện ngắn. Những truyện tôi viết về thời kỳ này còn theo lối văn cổ, xây dựng đã cổ và lối hành văn cũng cổ, hay chen vào những đoạn biền ngẫu và hay có những chữ thêm đệm rất thừa. Nhất là quyển Mặt nước cánh hoa tôi viết rất công phu, phần nhiều bằng lối văn tứ lục, lối văn của nhà văn Tàu Từ Chẩm á trong những cuốn Ngọc Lê hồn và lối văn của nhà văn sĩ này.” Xem Lê Thanh, Cuộc phỏng vấn các nhà văn, Đời mới, Hà Nội, năm [?], tr.80-81.

(12) Phan Kế Bính, Việt Hán văn khảo, Mặc Lâm, Saigon, 1970, tr.162.

(13) Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, Phạm Văn Sơn, Saigon, 1962, tr.13.

(14) Phan Mạnh Danh, “Đề tựa bản dịch truyện Đa tình hận,” in lại trong Thi văn tập, Nguyễn Trung Khác xuất bản, Nam Định, 1942, tr.113.

(15) Xem Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, Sđd., tr.13.

(16) Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, quyển 1, Nxb. Thăng Long, Saigon, 1959: “Ông [Phan Kế Bính] là người chuyên giữ mục “Hán văn” trong Đông Dương tạp chí, mục dịch những tư tưởng các nhà văn hào và các nhà triết học Tàu ở các sách Chiến quốc, Cổ văn, Liệt Tử, Mặc Tử, Hàn Phi Tử, và những truyện rút ở Tình sử, Kim cổ kỳ quan, Tiền Hán thư, v.v.” tr.71.

(17) Xem Lục tỉnh tân văn từ số 29 tháng 4 năm 1915.

(18) Theo Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, quyển 2, Nxb. Thăng Long, Saigon, 1960: “Tình sử là một bộ sách do ông [Nguyễn Quang Oánh] biên dịch, văn rất lưu loát, chỉ tiếc một điều là có nhiều bài thơ trong truyện ông không dịch ra văn vần như Trúc Khê đã dịch tập “Tình sử” trong Phổ thông bán nguyệt san (số 65-16 Aout 1940, và số 90-1er Septembre 1941).” tr.315.

(19) Trúc Khê, Tình sử Việt Nam, trong Phổ thông bán nguyệt san, số 80, 1/4/1941, tr.5,6 và 7.

(20) Tình sử, trong Phổ thông bán nguyệt san, số 65, 16/8/1940, tr.87-93.

(21) Ngô Tất Tố (biên dịch), Thơ và tình (Tình sử), Nhà xuất bản Mai Lĩnh, 1940 [?], tr.91-97. Xem Phụ lục 1, truyện Nhân duyên trong mộng ở cuối bài này.

(22) Phan Thế Roanh, Điển Cố - Truyện và thơ thường dùng làm văn liệu, Nam Sơn, Hà Nội, 1953.

(23) Có lẽ do lỗi của nhà in, sách in là “trích ở Tiễn đăng tân loại”. Ngô Tất Tố (biên dịch), Thơ và tình (Tình sử), sđd., tr.97.

(24) Thúc Ngọc Trần Văn Giáp, “Lược khảo tiểu thuyết Tàu, ”Thanh Nghị, số 11 (4/1942), tr.14.

(25) Dịch từ truyện Vị Đường kỳ ngộ ký 渭 塘 奇 遇 記 ở Tiễn đăng tân thoại. Trong Cô bản Nguyên Minh tạp kịch 孤 本 元 明 雜 劇 có vở Vương Văn Tú Vị Đường kỳ ngộ 王 文 秀 渭 塘 奇 遇 cùng chung nội dung với truyện này.

(26) Chí Thuận 至 順 là niên hiệu của Đồ Thiếp Mục Nhĩ 圖 帖 睦 爾 (Văn Tông, 1330-1332) đời Nguyên.

(27) Nguyên tác viết: “Bên vách treo bốn bức kim hoa, trên có đề thơ, thể thơ phỏng lối Tứ thời từ 四 時 詞 của Đông Pha 東 坡 [tức Tô Thức 蘇 軾, tác gia đời Tống], chữ viết cùng tranh vẽ học theo Triệu Tùng Tuyết 趙 松 雪 [tức Triệu Mạnh Phủ 趙 孟 頫, thi - họa gia đời Nguyên], không rõ ai là tác giả.” Tiễn đăng tân thoại, sđd, tr.55.

(28) Con nụ: dịch chữ thị nữ 侍 女.

(29) Nguyên tác gồm 4 bài thơ tả cảnh bốn mùa. Dịch giả chỉ chọn dịch 2 bài đầu tả cảnh xuân và hạ. Nguyên văn bài thứ nhất như sau:

Xuân phong xuy hoa lạc hồng tuyết
Dương liễu âm nùng đề bách thiệt
Đông gia hồ điệp tây gia phi
Tiền tuế anh đào kim tuế kết
Thu thiên xúc bãi tấn tham sa
Phấn hãn ngưng hương tấm lục sa
Thị nữ diệc tri tâm nội sự
Ngân bình cấp thủy chử tân trà

Phan Mạnh Danh dịch:
Gió thổi tràng hoa rơi lả tả,
Bụi dương tiếng khiếu kêu ra rả.
Bướm từ nhà khác lại qua tường,
Đào nở năm xưa nay kết quả.
Chân mới dừng đu mái tóc xòa,
Mồ hôi hương phấn thấm khăn là.
Con hầu đoán biết trong lòng khát,
Trà mới đem bình nấu nước pha.
(Cổ thi trích dịch, sđd., tr.67)

(30) Bài thứ hai tả mùa hè, nguyên văn như sau:

Ba tiêu diệp triển thanh loan vỹ
Huyên thảo hoa hàm kim phượng chủy
Nhất song nhũ yến xuất điêu lương
Sổ điểm tân hà phù lục thủy
Khốn nhân thiên khí nhật trường thời
Châm tuyến dong niêm ngọ lậu trì
Khởi hướng thạch lựu âm bạn lập
Đối tương mai tử đả oanh nhi.

Phan Mạnh Danh dịch:
Tỏa dáng đuôi loan, tầu chuối nhỏ,
Cúp hình mỏ phượng, hoa huyên đỏ;
Đầu xà ríu rít én vài con,
Mặt nước lênh đênh sen mấy ngó.
Ngày dài bức bối những buồn tênh,
Thêu mỏi càng mong giọt lậu nhanh.
Bóng lựu thẩn thơ ra hóng mát,
Mơ non đùa hái ném chim oanh.
(Cổ thi trích dịch, sđd., tr.68)

(31) Nguyên tác là Lạc mai phong 落 梅 風, tên khúc điệu dành cho tiêu sáo. Từ sau Bào Chiếu 鮑 照 đời Nam triều, Lạc mai phong còn được dùng cho ca từ.

(32) Nguyên tác viết: “Có đêm nàng tặng chàng chiếc nhẫn vàng có đính đá quý xanh biếc; chàng cởi tặng nàng vật trang trí bằng thủy tinh tạc hình đôi cá đính vào tua quạt. Khi tỉnh lại, nhẫn vẫn trên tay; nhìn lại quạt, thì vật nọ đã chẳng còn.” Tiễn đăng tân thoại, sđd., tr.56.

(33) Nguyên Chẩn 元 稹 viết tiểu thuyết truyền kỳ Oanh Oanh truyện (cũng gọi là Hội chân ký 會 真 記), thuật chuyện tình giữa chàng Trương và Oanh Oanh.

(34) Thơ gồm 60 câu, mỗi câu 5 chữ, gieo vận gián cách, thành 30 câu vần nhau. Dịch giả lược bỏ bài này.

(35) Nguyên tác viết: “Nàng bảo: Năm trước, từ sau lúc chàng đi, em nhung nhớ thiết tha, hằng đêm mơ thấy cùng chàng hội ngộ, chẳng biết vì lẽ gì ? Sinh nói: Ta cũng mộng y như thế. Nàng tuần tự kể lại chuyện khúc tiêu, chiếc hài, chuyện nào cũng đều trùng khớp. Nàng đưa cho chàng xem đôi cá thủy tinh kết vào tua quạt, chàng lại trình ra chiếc nhẫn vàng cẩn đá biếc, rồi hỏi nàng căn cơ.” Tiễn đăng tân thoại , sđd., tr.57.

(36) Nguyên tác viết: “Gia đình bèn tác hợp cho chàng và nàng thành phu phụ. Chồng vợ hợp hòa, sát cánh cùng về với nhau, chung sống đến già: thật đáng gọi là kỳ ngộ.”

Tình sử nêu rõ xuất xứ của truyện: “Trong Tiễn đăng tân thoại, chuyện có tựa là Vị Đường kỳ ngộ truyện [?], đồng thời cũng có lời bàn thêm rằng: “Vô duyên chân cũng hóa thành mộng. Hữu duyên mộng cũng có thể biến thành chân”(sđd., tr.635).

(37) Truyện từng được Lăng Mông Sơ 凌 蒙 初 cải biên thành thoại bản, đưa vào Nhị khắc phách án kinh kỳ 二 刻 拍 案 驚 奇 dưới nhan đề Lý Tướng quân thố nhận cữu, Lưu Thị nữ quỷ tòng phu 李 將 軍 錯 認 舅, 劉 氏 女 詭 從 夫. Các vở truyền kỳ Lĩnh đầu thư 領 頭 書 của Viên Thanh 袁 聲 đời Thanh chép trong Khúc lục 曲 錄, hý khúc Kim Thúy hàn y ký 金 翠 寒 衣 記 của Diệp Hiến Tổ葉 憲 祖 đều lấy đề tài từ truyện này.

(38) Nay thuộc huyện Hoài An, tỉnh Giang Tô.

(39) Nguyên văn Hán văn là Thập nhị lan can thất bảo đài 十 二 闌 干 七 寶 台. Tục người Miêu 苗 ở Nam Chiếu 南 詔 dùng ba cây lớn chặn ngang ở mỗi mặt nhà, làm thành hàng rào, tổng cộng 12 cây ngăn cho bốn mặt, gọi là thập nhị lan can. Thất bảo đài là lầu đài trang trí với bảy loại châu ngọc quý. Thập nhị lan can thất bảo đài trong trường hợp này là để chỉ nhà quyền quý, kín cổng cao tường. Câu trên có thể dịch lại thành, “Một chục lan can, thất bảo đài.”

(40) Nguyên văn Hán văn là Bình sinh mỗi hận Chúc Anh Đài 平 生 每 恨 祝 英 台 (Bình sinh giận mỗi Chúc Anh Đài). Chúc Anh Đài là một nhân vật trong truyền thuyết dân gian. Tương truyền rằng dưới thời Tư Mã Đam 司 馬 聃 đời Đông Tấn, có chàng Lương Xử Nhân 梁 處 仁 tự là Sơn Bá 山 伯, đến Tiền Đường cầu học. Trên thuyền chàng gặp một thư sinh là Chúc Trinh 祝 貞 ở Thượng Ngu, tự là Tín Trai 信 齋. Cả hai cùng học với nhau ba năm, sau đó Chúc rời trường về nhà trước. Lương tìm đến thăm hỏi mới biết rằng Chúc thực ra là gái giả trai, tên thật là Anh Đài. Lương bèn cầu hôn, nhưng tiếc thay, gia đình đã đính hôn Chúc cho một chàng họ Mã ở Mậu Thành. Sau Lương cũng đến nhận chức ở vùng nọ, rồi mất ở đấy. Chúc theo chồng về ngang qua mộ Lương. Nàng xuống tế lễ, khóc thương thảm thiết. Mộ Lương bỗng dưng mở rộng ra cho Chúc bước vào: cả hai chung nhau một nấm mồ. Tục truyền về sau hai người hóa thành đôi bướm, lúc nào cũng bay lượn cùng nhau. Có lẽ do dịch giả nhầm chữ Chúc thành trúc 築 (xây đắp) nên đã dịch như trên.

(41) Nguyên văn Hán văn Hoài bảo vi hà bất tảo khai 懷 抱 為 何 不 早 開. Căn cứ theo ý của câu trên, cũng có thể dịch là “Thầm kín làm chi chẳng sớm khai.”

(42) Nguyên văn Hán văn là Tảo di hoa thụ hướng dương tài 早 移 花 樹 向 陽 栽. Do vậy có thể dịch là “Sớm vun hoa cỏ mặt trời soi.”

(43) Nguyên tác trong Tình sử còn viết, “chọn ngày lành để thành hôn.” Tiễn đăng tân thoại thuật rõ như sau: “Thế nhưng do nhà họ Lưu giàu, mà họ Kim nghèo, con trai dẫu thông minh, tuấn tú, xét ra lại không môn đăng hộ đối. Do vậy khi mối mai đến hỏi, nhà họ Kim quả đã lấy lý do bần hàn mà từ khước, tự thấy xấu hổ mà không dám nhận. Người mối mới bảo: “Cô con gái nhà họ Lưu ắt muốn sánh duyên với chàng Kim nhà này, nên cha mẹ cô cũng đã hứa thuận. Nếu như nhà ta lấy cớ nghèo khó mà từ chối, quả là phụ lòng thành của nhà họ Lưu. Ngoài ra còn để lỡ mất duyên lành. Nay nên nói như thế này: “Con trai chúng tôi nhà nghèo, nhưng có thô thiển học qua Thi Lễ. Quý gia thấy cháu, muốn lấy về, chúng tôi nào dám không theo. Chỉ hiềm vì cháu sinh ở nơi nhà tranh, vách đất, bần hàn quen thói đã lâu. Nếu nay phải chịu đúng nghi thức sính vấn và lễ tục hôn thú, chung cục, chúng tôi e rằng không theo nổi. Nhà họ do yêu con, tất cũng chẳng so đo về khoản này.” Nhà chàng Kim thuận theo lời. Người mối về kể lại, quả nhiên cha mẹ nàng nói: “Hôn nhân mà chỉ chăm bàn về tiền tài, ấy là lối của kẻ man di. Chúng tôi chỉ kén rể mà thôi, không nề chuyện gì khác. Nếu họ không có đủ, mà nhà chúng tôi lại có dư, khi con gái chúng tôi về nhà họ, hẳn sẽ không thể nào kham được. Chẳng bằng cho chàng ấy về đây ở rể là xong.” Người mối quay lại báo với nhà họ Kim, cả nhà đều rất mừng, bèn chọn ngày lành để thành hôn.” Tiễn đăng tân thoại, sđd., tr.75.

(44) Dịch giả ghi là “Chương Sỹ Thanh.” Nay sửa lại cho đúng.

(45) Cao Bưu 高 郵 là một địa danh cổ (không phải là tên người), nay thuộc tỉnh Giang Tô. Xem Tăng Tử Lỗ và nhiều người khác, Bạch thoại Tình sử 白 話 情 史, Giang Tây Nhân dân xuất bản xã, 1987, tr.236.

(46) Cả hai câu trên nên đọc lại thành một: “Chưa đầy một năm thì có anh em Trương Sỹ Thành dấy binh ở Cao Bưu, thâu hãm hết các quận ven sông Hoài.” Tiễn đăng tân thoại, sđd., tr.76; Tình sử chép là “thâu hãm hết các quận ở phía đông sông Hoài” (sđd., tr.1231).

Trương Sỹ Thành (mất năm 1366): Nhiều cuộc nổi dậy đã diễn ra trước sự suy sụp của nhà Nguyên. Trương Sỹ Thành là một trong số những người lãnh đạo các cuộc nổi dậy ấy. Trương tận sát tất cả phú gia, không kể họ là người Trung Quốc hay Mông Cổ, nhưng có lúc lại liên minh với nhà Nguyên để đàn áp các cuộc nổi dậy khác. Xem Dun J.Li, The Ageless Chinese - A History, Charles Scribner’s Sons, New York, 1971, tr.270.

(47) Nguyên văn Hán văn là Chí Chính (1341-1367).

(48) Tiễn đăng tân thoại: “Đến cuối niên hiệu Chí Chính, Sỹ Thành mở rộng lãnh địa ra cả hai bờ bắc và nam sông Dương Tử, chiếm cứ cả phía tây Chiết Giang.” (sđd., tr.76).

(49) Tiễn đăng tân thoại còn có đoạn: “thề rằng không tìm được nàng thì không về.” (sđd., tr.76).

(50) Đời Nguyên thiết lập lộ Hồ Châu, nay thuộc tỉnh Chiết Giang. Xem Bạch thoại Tình sử, sđd., tr.236. Tiễn đăng tân thoại thuật lại chi tiết hành trình tìm vợ của Kim Định như sau, “Khi chàng đến Bình Giang 平 江 thì mới hay Lý Tướng quân hiện giữ chức Thủ ngự của Thiệu Hưng. Đến được Thiệu Hưng, chàng mới biết là Lý đã điều binh lên đóng ở An Phong. Chàng đến An Phong thì hay là Lý đã đưa quân về lại Hồ Châu.” Trong cuộc truy tìm, có lúc Kim Định phải ngửa tay xin bố thí để sống. (sđd., tr.76).

(51) Nguyên văn là “muốn nói mà không dám mở lời”. Xem Tiễn đăng tân thoại, sđd., tr.76; Tình sử, sđd., tr,1232.

(52) Nguyên văn: “Tôi họ Lưu, tên Kim Định.” Xem Tiễn đăng tân thoại, tr.76 sđd., Tình sử, tr.1232.

(53) Thay vì chép “độ ngoài hai mươi tuổi” như Tình sử, Tiễn đăng tân thoại viết: “tuổi vừa đúng như lời người nói.” Xem Tiễn đăng tân thoại, sđd., tr.76; Tình sử, sđd., tr.1232.

(54) Tiễn đăng tân thoại, còn có đoạn: “Xong bèn chạy vào trong bẩm báo” (sđd., tr.76).

(55) Cả Tiễn đăng tân thoại Tình sử đều có đoạn, “Tướng quân là kẻ võ biền, tin ngay lời chàng, không chút hồ nghi.” Xem Tiễn đăng tân thoại, sđd., tr.76; Tình sử, sđd., tr.1232.

(56) Tiễn đăng tân thoại viết: “chỉ trừ thăm hỏi mẹ cha, ngoài ra chẳng dám thổ lộ một nhời” (sđd., tr.76).

(57) Tiễn đăng tân thoại viết rõ rằng: “Khi ở quê nhà, tôi theo nghiệp Nho gia, lấy sách vở làm gốc. Phàm Kinh, Sử Tử, Tập đều đã đọc qua hết thảy. Vốn xưa học tập đã quen, có đâu lại phải hồ nghi” (sđd., tr.76).

(58) Tiễn đăng tân thoại viết tường tận hơn: “Tướng quân mừng lắm, bảo rằng: “Ta từ nhỏ thất học, do loạn lạc, nhờ thời mà nổi lên. Kẻ xu tòng theo ta thì nhiều, khách khứa đầy nhà, mà thiếu người quản lý. Thư tín ngập bàn, mà người hồi đáp cũng không. Nay ngươi đã ở chỗ ta, có thể sung vào làm thư ký.” (sđd., tr.76-77).

(59) Cả Tiễn đăng tân thoại Tình sử đều có thêm đoạn sau, “từ sau khi gặp mặt nhau một lần ở sảnh đường, chẳng hề được gặp lại”. Xem Tiễn đăng tân thoại, sđd., tr.77; Tình sử, sđd., tr.1233.

(60) Cả Tiễn đăng tân thoại Tình sử đều có thêm đoạn sau, “trong ngoài cách tuyệt.” Xem Tiễn đăng tân thoại, sđd., tr.77; Tình sử, sđd., tr.1233

(61) Nguyên văn Hán văn: Xuân sắc vô duyên đắc tái khan 春 色 無 緣 得 再 看

(62) Tiễn đăng tân thoại viết: “Trời đã trở lạnh, mà áo ta lại mong manh. Ngươi cầm áo này vào cho em ta, nhờ em giặt, rồi khâu vá lại giúp ta, để ta ngự hàn.” (sđd., tr.77).

(63) Từ Đức Ngôn 徐 德 言 thời Nam triều kết hôn với Lạc Xương công chúa 樂 昌 公 主, một trang nữ nhi tài sắc quán tuyệt. Do thời bấy giờ chính sự tao loạn, phòng khi đôi lứa phải biệt li, Từ bẻ đôi tấm gương, giao cho Lạc Xương một nửa, còn mình giữ lấy nửa còn lại. Từ giao ước nếu như có lạc mất nhau, thì ngày rằm tháng giêng mỗi người sẽ mang nửa gương của mình ra chốn thị tứ mà bán, xem đó như vật tin để nhận lại nhau. Quả nhiên, sau Lạc Xương bị nhập vào phủ Dương Tố và được Dương sủng ái. Theo lời giao ước sau mà Từ tìm được nàng. Thông qua người lão bộc của Lạc Xương, Từ gửi nàng một bài thơ. Lạc Xương đọc thơ mà khóc thống thiết, bỏ cả ăn uống. Dương Tố biết được nguồn căn, cảm khái mà trả Lạc Xương về cho Từ Đức Ngôn.

(64) Tử Kiến 子 建 là biểu tự của Tào Thực 曹 植 (192-232), con trai của Tào Tháo 曹 操. Trong bài Lạc thần phú 洛 神 賦, Tào Thực miêu tả Nữ thần sông Lạc như sau: “Kỳ hình dã, phiên nhược kinh hồng, uyển nhược du long 其 形 也, 翩 若 驚 鴻, 婉 若 游 龍” (Hình dáng của nàng, bay bổng tựa cánh hồng kinh động, mĩ miều như dáng vẻ du long).

(65) Lục Châu綠 珠 là thiếp yêu của Thạch Sùng 石 崇 đời Tấn. Do Thạch từ chối tặng nàng cho Tôn Tú 孫 秀, Tôn lập mưu hại Thạch Sùng. Lục Châu gieo mình từ trên lầu cao xuống tự tuyệt. Bích Ngọc 碧 玉 là tiểu danh của nô tì Yểu Nương 窈 娘 thuộc nhà Kiều Tri 喬 知. Bích Ngọc xinh đẹp, múa giỏi, hát hay. Vũ Thừa Tự 武 承 嗣 soán đoạt nàng từ tay Kiều. Kiều Tri bèn làm bài Lục Châu oán 綠 珠 怨 phúng thích nàng. Bích Ngọc đọc thơ, gieo mình xuống giếng tự tử. Vũ đọc được thơ, lập mưu vu hãm, giết Kiều Tri.

(66) Cả Tiễn đăng tân thoại Tình sử đều có thêm đoạn “biết nàng hứa sẽ quyên sinh cho trọn tình.” Xem Tiễn đăng tân thoại, sđd, tr.77; Tình sử, sđd, tr.1235.

(67) Phùng Mộng Long lược bỏ phần cuối chuyện. Ở Tiễn đăng tân thoại, chuyện kể thêm rằng sau vào đầu niên hiệu Hồng Vũ có người lão bộc nhà Thúy Thúy đi buôn qua Hồ Châu, ngang Đạo Tràng thì gặp vợ chồng Kim Định - Thúy Thúy sống trong dinh thự nguy nga. Cả hai lưu ông lại, thăm hỏi tin nhà, đồng thời viết một thư dài nhờ ông chuyển về kính thăm mẹ cha. Được tin vợ chồng nàng, cha mẹ Thúy Thúy hết sức mừng vui. Cha nàng hối hả cùng người lão bộc lên đường đến Đạo Tràng tìm con. Đến nơi họ mới biết ra sự thực: vợ chồng nàng mất đã lâu. Nhìn quanh chẳng thấy dinh thự, mà chỉ có đôi nấm mồ cô quạnh. Xem lại thư chỉ thấy một mảnh giấy trắng. Đêm ấy cha nàng ngủ lại bên mộ, mơ thấy vợ chồng nàng đến chào, khóc than vì không chu toàn được đạo hiếu.

Ngay sau đoạn kết chép trong Tình sử, Phùng Mộng Long viết lời bình sau: “Chuyện vốn chép trong Tiễn đăng tân thoại của Cù Tông Cát (...) Đoạn kết tựa như khuôn sáo của tiểu thuyết gia, do vậy đã bị lược bỏ.” Xem Tình sử, sđd., tr.1236.

TB

TÊN RIÊNG VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC LÂN CẬN DO
ALEXANDRE DE RHODES SƯU TẬP LẠI TRONG
"TỪ ĐIỂN VIỆT - BỒ - LA"

LÊ ANH HIỀN

Từ điển Việt - Bồ - La xuất bản vào giữa thế kỷ 17 khi mà công tác từ điển học chưa phát triển được như bây giờ, chưa có các từ điển tên riêng, cho nên tác giả đã đưa tên riêng vào sách của mình. Các tên riêng đó phần lớn thuộc nước “Annam” (tên nước ta lúc đó), từ Đàng Ngoài cho đến Đàng Trong, từ Kinh đô “Đông Kinh” với tên đất, tên người khá cụ thể, cho đến xứ “Cô-sinh” tức miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ, cũng với một số tên đất, tên người khá tiêu biểu. Ngoài ra, từ điển còn ghi tên riêng của một số nước lân cận, nhất là Trung Hoa là nước có vị trí đặc biệt ở Đông á.

Tìm hiểu về tên riêng này không những thấy được ngôn ngữ biểu hiện qua tên riêng thế kỷ 17, mà còn thấy khá cụ thể các mặt địa dư, lịch sử... đương thời rất lý thú, do một Mục sư phương Tây phản ánh về tình hình đất nước Việt Nam và các nước lân cận, trong một thời điểm khá xa xôi của chúng ta.

Như nhan đề bài viết này chỉ rõ, nó gồm 2 phần chính:

1. Tên riêng Việt Nam, có tên riêng Đàng Ngoài, nhất là Kinh đô Đông Kinh (Hà Nội bây giờ) và một số tên riêng Đàng Trong.

2. Tên riêng một số nước lân cận Việt Nam.

( 1 )

a. Từ điển ghi: vương quốc Annam bao gồm vương quốc Đông Kinh và Cô-sinh (viết tắt từ “Cochin-chine”, tức Nam Bộ hay miền Nam Việt Nam, tức Đàng Trong).

Đàng Ngoài: 4 tỉnh chung quanh Kinh đô Đông Kinh.

Đàng Trong: các tỉnh còn lại từ nước Đông Kinh cho tới vương quốc Ciampa. Vả lại, chính vương quốc Ciampa và vương quốc Campuchia cũng được gọi như vậy.

(Ngoài ra còn có Đàng trên - từ điển ghi Đàng Tlên - những tỉnh ở rừng núi: tđ. không ghi là những tỉnh nào).

b. Từ điển cũng ghi: Vương quốc Đông Kinh hay Tràng An hay Kinh Kỳ hay Kẻ Chợ, ở đó có Hoa Hạ hay Trung Đô là triều đình Đông Kinh. Nhà Lê (tđ. ghi Dà Lê): một dòng họ vua gọi là Lê. Nhưng, Vua Đông Kinh: bây giờ chỉ còn có tước hiệu vì Chúa đã quyết định mọi việc theo ý riêng của mình. Có nhóm từ Ra Kẻ: đi từ các tỉnh Đàng Trong đến Kinh đô Đông Kinh. Và nhóm Vua ra giao: một nghi lễ mà vua Đông Kinh đầu năm xuất hành rất long trọng, ra giữa đồng để cúng Trời, rồi sau đó ra tay cày ruộng (sau này được gọi là Tế Nam giao). ở Đông Kinh có vua Đức Long: tên vị vua mà người Đông Kinh gọi là vua Vua. Vì vua này có tên trước tiên là Vĩnh Tộ. Nhưng vào năm 1629, vì hạn hán và mất mùa, vua này đổi tên và lấy tên là Đức Long để cho nước được thịnh vượng hơn. Có Chúa Khánh: tên một tiểu vương trước kia đã chiếm 4 tỉnh của xứ Đông Kinh, bây giờ ở trên núi Đông Kinh... Còn có Thanh Đô Vương: tên riêng của xứ chúa Đông Kinh cai trị thời các Cha chúng ta đến xứ này buổi đầu. ở Kinh đô Đông Kinh, có Cầu giển: một thứ cầu hay xóm ở Kinh đô. Có Ông Mác: tên một trong những khu xóm, một làng xã thuộc Kinh đô Đông Kinh. Lại có Quảng Bổ: một khu phố ở Kinh đô Đông Kinh.

Vương quốc Đông Kinh có 4 tỉnh, nhưng từ điển chỉ ghi 2 tỉnh: Thanh Hóa (tđ. ghi Thanh Hoa hay Thinh Huê): một tỉnh trong Vương quốc Đông Kinh. Và Nghệ An: Một tỉnh xứ Đông Kinh mà tiếng Bồ gọi là Guião. Có làng Rum: một làng xã đứng đầu trong tỉnh Nghệ An.

c. Đàng Trong, tức Cô-sinh có Thuận Hóa Kinh đô xứ Cô-sinh. Cửa Hàn: một cảng ở xứ Cô-sinh mà người Bồ Đào Nha gọi là Tourane. Có Cù lao Chàm: cửa ngõ xứ Cô - sinh và Cù lao Ré: cù lao mà người Bồ Đào Nha gọi là Polocatam. Có Nước Mặn: tên một thành trong tỉnh Quy Nhơn, hay Polocambi, của xứ Cô-sinh. Hoài Phô: một làng trong xứ Cô-sinh mà người Nhật Bản ở gọi là Faifo. Có Ràn Ràn: tên một tỉnh của xứ Cô-sinh giáp với nước Ciampa (tức Chiêm Thành). Về tên người có Ông Đoan (tđ. ghi Oũ Đõan): chúa thứ nhất của xứ Cô-sinh khi ông còn sống, nhưng khi ông đã chết thì người ta gọi ông là Chúa Ông (tđ. ghi Chúa Oũ) và tên riêng chung chung: Kẻ Quảng: những người Cô-sinh (xưa, nhiều tỉnh miền Nam Việt Nam có tên bắt đầu bằng yếu tố Quảng).

( 2 )

a. Từ điển nói nhiều về Trung Hoa mà Bắc Kinh: Thủ đô nước Trung Hoa. Nhà Hán: dòng họ nhà vua cổ thời Trung Hoa, có Hán Minh Đế tên của vị vua thuộc dòng họ đó mà người ta nói là đồng thời với vị chúa Jésus (có người gọi là Hán Ai Đế), Nhà Tần: dòng họ vua ở Trung Hoa đốt sách Khổng Tử. Nhà Chu: một dòng họ vua Trung Hoa (khác). Bàn Cổ: nhân vật huyền thoại và giả tưởng mà người ta nói đã sinh ra Trời và Đất. Ông Khổng (Khổng Tử): sống trước Thiên Chúa 100 năm, gọi là ông Thánh (Thánh nhân). Lão Tử: người sáng lập ra phù phép ở Trung Hoa. Phạm Nhàn: một thầy thuốc Trung Hoa mà người ta tôn kính, theo mê tín. Thần Nông: tên vị vua Trung Hoa sáng chế ra cái cày và dạy nghề nông. Và, Phổ Kiến: người Trung Hoa gốc tỉnh Phúc Kiến mà người Bồ Đào Nha gọi là Chinchcos. từ điển có ghi tên hai tỉnh Quảng Tây Quảng Đông. Song từ điển cũng ghi nước Ngô: vương quốc của người Trung Hoa, kiểu nói khinh bỉ, như thằng Ngô. Từ điển có ghi trái nhãn: một trái cây Trung Hoa mà người Bồ Đào Nha gọi là Longans.

b. Các nước khác:

Vương quốc Ciampa: còn gọi là nước Mlôi hay Tri Tri hay Mlô, tức Chiêm Thành.

Nước Lào: vương quốc Lào.

Cao Miên: vương quốc Campuchia.

Cao Ly: vương quốc Cao Ly có nhin sâm (nhân sâm), thứ y dược mà người Trung Hoa đánh giá nó bằng sức nặng của vàng.

Nhịt Bổn (Nhật Bản); Lư Cầu: miền của người Nhật, coi như là gốc của mặt trời. Có mẫn: thứ lúa gạo của Nhật Bản mà người ta gọi là Fuxi.

Ấn Độ: thì từ điển ghi nhiều loại cây trái gốc từ Ấn Độ: chuối: trái cây Ấn Độ; me: một thứ trái chua Ấn Độ; cây mít: một thứ cây Ấn Độ; mướp một loại bí Ấn Độ; cau: trái cây Ấn Độ, tiếng Bồ gọi là aréa; Roi: trái cây Ấn Độ, tiếng Bồ gọi là iambo; cây sung: cây vả Ấn Độ; trái khế: trái cây Ấn Độ, tiếng Bồ gọi là Carambola; mây: dây leo Ấn Độ; lá trầu: lá cây Ấn Độ; Đinh hương : thứ cây Ấn Độ; gạo nếp: thứ gạo bên Ấn Độ gọi là pulo, mà người Đông Kinh quen dâng cúng thần tượng; Và cháo lòng: nước nấu Ấn Độ làm bằng gạo loãng mà người Bồ Đào Nha gọi là can. (Phải chăng các cây trái trên đây, một số có nguồn gốc Ấn Độ thật, nhưng một số khác lại là cây trái mọc ở rừng núi nhiệt đới hay ôn đới nói chung ?).

củ mài hay củ lân là đậu Ai Cập (?)

Những kiến thức về địa lý, lịch sử Việt Nam và các nước lân cận, cùng những cây trái gốc từ nước ngoài trên đây được một ông thầy dòng phương Tây có sống ở Việt Nam ghi, nói chung là khách quan, theo những nhận thức của quần chúng Việt Nam đương thời, có chỗ còn theo cảm nhận chủ quan của người làm từ điển, khi khoa học Từ điển học chưa thật phát triển. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng: những người nghiên cứu địa lý, lịch sử thế kỷ thứ XVII, cùng những người làm sinh vật học có thể tham khảo nó khi cần, rất có ích !

TB

PHƯƠNG THỨC KHAI NGỘ BẰNG “BỔNG HÁT” CỦA THIỀN PHÁI
TRÚC LÂM VIỆT NAM

THÍCH THANH ĐẠT

Năm 1299 Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông rời bỏ hoàng cung lên núi Yên Tử tu, lập ra dòng thiền Trúc Lâm. Đây là dòng thiền duy nhất do người Việt Nam sáng lập. Dòng thiền này ra đời là niềm tự hào của dân tộc ta nói chung, giới Phật giáo nói riêng.

Như chúng ta đã biết, đạo Phật truyền vào nước ta rất sớm, từ những năm đầu Công nguyên. Hiện nay, chúng ta chỉ có tài liệu duy nhất ghi lại hệ thống truyền thừa của các dòng thiền là cuốn Thiền uyển tập anh. Tài liệu cho biết, dòng thiền thứ nhất truyền vào nước ta cuối thế kỷ VI (580) do một vị Thiền sư người Nam Thiên Trúc (ấn Độ) là Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci 毘 尼 多 流 支 ); đến đầu thế kỷ IX (820) lại có dòng thiền thứ hai là Vô Ngôn Thông (無言通) người Trung Quốc; và cuối cùng là dòng phái Thảo Đường 草 堂), cũng người Trung Quốc, truyền vào nước ta đầu thế kỷ XI (1069).

Thiền phái Trúc Lâm ra đời đã tác động đến nhiều mặt trong xã hội Việt Nam, nhất là về văn hóa, tư tưởng, từ đó đã có không ít các nhà nghiên cứu xã hội, nghiên cứu Phật học đề cập đến vấn đề này. Chúng tôi đơn cử một vài công trình đã được công bố như: Lịch sử Phật giáo Việt Nam(1), Việt Nam Phật giáo sử luận(2), Lược khảo tư tưởng thiền Trúc Lâm Việt Nam(3)... và sách nước ngoài cũng đã nói đến như bức Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ 竹 林 大 士 出 山 圖 do họa sư đời Nguyên là Trần Giám Như 陳 鑑 如) sáng tác vào năm 1363 in trong bộ Thạch cừ bảo cấp bí điện châu lâm tục biên 石 渠 寶 笈 祕 殿 珠 林 續 編 mà tác giả Nguyễn Nam đã giới thiệu trong Tạp chí Hán Nôm(4).

Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến một chi tiết nhỏ, nhưng không kém phần quan trọng, có liên quan đến tư tưởng Phật giáo thời Trần, đặc biệt là dòng thiền Trúc Lâm đã được nhiều tác giả nói tới, cụ thể là phương thức khai ngộ bằng “Bổng hát” (gậy và tiếng hét).

Trước tiên, chúng ta hãy trở lại một chút với vấn đề truyền thừa của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Trong Thiền tông bản hạnh của Thiền sư Chân Nguyên (1647 - 1726) có đoạn chép: “Điều Ngự cổ Phật tái lai, tông giáo trong ngoài phó chúc tuân y; thực dòng Lâm tế tông chi, pháp phái vĩnh thùy Yên Tử thiền lâm”(5).

Đến thế kỷ XVIII, Thiền sư Như Sơn, tác giả Ngự chế thiền điển thống yếu kế đăng lục quyển chi nhất cho biết, người khai sáng phái Lâm Tế ở nước ta là Hòa thượng Chuyết Công (1590-1644) người Phúc Kiến, Trung Quốc, ông là đệ tử của Hòa thượng Đà Đà, thuộc thế hệ 72 kể từ đệ nhất tổ là Ma Ha Ca Diếp và thuộc thế hệ 38 tính từ Nam Nhạc Hoài Nhượng khai tông Lâm Tế. Các thế hệ tiếp nối Hòa thượng Chuyết Công là Minh Hành (người Trung Quốc), Minh Lương (người Việt), tiếp sau là Thiền sư Chân Nguyên...(6).

Vào thế kỷ XIX, Hòa thượng Phúc Điền viết trong Đại Nam thiền uyển kế đăng lược lục tự Trần chư tổ Lâm Tế Tào Động quyển hạ: “Tổ sư Hiện Quang, người đầu tiên khai sơn dòng Lâm Tế, tại chùa Vân Tiêu Hoa Yên, Yên Tử, Đông Triều, Hải Dương”(7), sau đó là hàng loạt thế hệ tiếp nối tổ Hiện Quang như Viên Chứng, Đại Đăng, Tiêu Dao, Huệ Tuệ, Điều Ngự (Trúc Lâm) Pháp Loa, Huyền Quang...

Như vậy, trong những ý kiến của các vị Thiền sư nói trên, ta thấy đã có sự không thống nhất, cụ thể là Hòa thượng Chân Nguyên tuy có đề cập tới phái Lâm Tế nhưng không nói gì đến việc truyền thừa, còn Thiền sư Như Sơn thì lại cho biết khá rõ về phái Lâm Tế bắt đầu từ Hòa thượng Chuyết Công, không dính líu gì đến dòng thiền Trúc Lâm. Nhưng đến Hòa thượng Phúc Điền lại liệt kê ra danh sách dòng thiền Yên Tử, trong đó Trúc Lâm (Điều Ngự - Trần Nhân Tông) thuộc thế hệ thứ 6 mà Hiện Quang là người đứng đầu dòng phái này, đồng thời cũng là người khai sáng ra dòng thiền Lâm Tế Việt Nam tại Yên Tử và chính Hòa thượng Phúc Điền cũng nhận mình thuộc dòng Lâm Tế mà trong tác phẩm Trùng khắc Đại Nam Thiền uyển truyền đăng tập lục quyển thượng, ký hiệu Viện Nghiên cứu Hán Nôm: A.2767 và Đại Nam Thiền uyển kế đăng lược lục tự Trần chư tổ Lâm Tế Tào Động quyển hạ, ký hiệu Viện Nghiên cứu Hán Nôm: VHv.9, đã ghi rõ điều này.

Về thế hệ truyền thừa của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, chúng tôi đã phát biểu một số ý kiến khác với các nhận định trên, đăng ở Tạp chí Hán Nôm số 2 (39)-1999.

Sở dĩ có những ý kiến khác nhau về vấn đề truyền thừa, là do các nhà nghiên cứu Phật giáo Việt Nam đã có những kiến giải không giống nhau về phương thức dùng cây gậy và tiếng hét (bổng hát) để khai ngộ của một số thiền phái. Chẳng hạn, theo tác giả Lịch sử Phật giáo Việt Nam thì “Trong khi trình bày các vấn đề thiền, Nhân Tông cũng dùng đến tiếng hét và cây gậy, hẳn là chịu ảnh hưởng phép “bổng hát” của phái Lâm Tế”(8). Còn tác giả Việt Nam Phật giáo sử luận lại cho rằng: “Trúc Lâm có dùng gậy đánh (Tuệ Trung không bao giờ dùng đến gậy - TTĐ) và tiếng hét(9)... Cùng với Thiên Phong, truyền thống Lâm Tế được du nhập lần đầu và có ảnh hưởng lớn. Những tư tưởng “Vô tâm” và "Mê ngộ không hai", cùng những nguyên tắc Tứ liệu giản, Tam cú, Tam huyền, Tam yếu, Tứ chiếu dụng và Tứ tân chủ được học tập và áp dụng. Phương pháp dùng tiếng hét và gậy đánh cũng thỉnh thoảng được áp dụng”(10). Nhận xét của tác giả Lược khảo tư tưởng thiền Trúc Lâm cũng tương tự như tác giả Việt Nam Phật giáo sử luận: “Ngoài ra Phật giáo thời Trần còn chịu ảnh hưởng những tư tưởng của thiền Lâm Tế. Sư Thiên Phong phái Lâm Tế đã sang Việt Nam thời Thái Tông để truyền bá những tư tưởng của mình. Về sau học trò của ông là Đại Đăng và Nan Tư(11) có ảnh hưởng nhiều thiền Lâm Tế. Một số tư tưởng của Tam Tổ, đặc biệt là Pháp Loa về “Vô tâm”, “Mê ngộ không hai”, những nguyên tắc về Tứ biện giải, Tam cú, Tam huyền, Tam yếu, Tứ chiếu dụng, Tứ tân chủ, những phương pháp kích thích sự đốn ngộ bằng quát, hét, đánh bằng gậy của các Thiền sư thời này rõ ràng là có chịu ảnh hưởng của thiền Lâm Tế(12).

Như vậy, các tác giả vừa nêu đều có chung nhận xét, cho rằng Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam chịu ảnh hưởng vừa nêu của thiền Lâm Tế Trung Quốc.

Theo khảo cứu của Trần Văn Giáp trong Phật giáo Việt Nam, trích trong Phật tổ thống ký 佛 祖 統 記) rằng: “Sau tổ thứ sáu Huệ Năng, tức Tào Khê thì học phái của ngài chia làm hai, phái thứ nhất là Thanh Nguyên, kế tiếp là Thạch Đầu, từ vị này mà sinh ra Tào Động, Vân Môn và Pháp Nhãn; phái thứ hai của Nam Nhạc, truyền đến Mã Tổ, vị này truyền cho Lâm Tế và Quy Ngưỡng. Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn, Lâm Tế và Quy Ngưỡng là 5 tông phái thực hành theo Thiền tông”(13).

Và, như thế chúng ta phải trở lại với dòng Lâm Tế, sách Thiền sư Trung Hoa cho biết: “Thiền sư Nghĩa Huyền (? - 868), họ Hình, người Nam Hoa, Tào Châu (Hà Nam) ban đầu tham học thiền với ngài Hoàng Bá (? - 850). Một hôm, sư đến hỏi thế nào là đại ý Phật pháp, chưa dứt lời, Hoàng Bá liền đánh. Lần sau sư lại đến hỏi, Hoàng Bá lại đánh. Sư hỏi 3 lần đều bị Hoàng Bá đánh. Không có kết quả, sư đến học ngài Cao An Đại Ngu, nhờ sự chỉ bảo về truyền pháp của Hoàng Bá mà sư đại ngộ, sư lại quay về thụ ấn ngài Hoàng Bá. Sau sư về trụ trì chùa Lâm Tế, Trấn Châu, Hà Bắc, đặt ra các cơ pháp Tam huyền, Tam yếu, Tứ liệu giản trở thành tông phong riêng. Dạy học trò thường quát hét để hiểu đại cơ”(14).

Phải chăng các nhà nghiên cứu Phật giáo Việt Nam đã căn cứ vào buổi đại tham ghi lại tại chùa Sùng Nghiêm núi Chí Linh năm 1304 để phán xét vấn đề này? Chúng ta hãy quay lại xem cuộc đối thoại giữa Trúc Lâm và các đệ tử của ông. Sách Tam tổ thực lục chép:

“Có vị tăng hỏi: Thế nào là truyền riêng ngoài giáo điển ?

Trúc Lâm đáp: Con ễnh ương nhảy không khỏi cái đấu.

Tăng hỏi: Sau khi nhảy khỏi thì sao?

Trúc Lâm đáp: Theo chân giống ếch vùi thân nơi cát bùn.

Tăng hỏi: Thì cũng như nhảy không khỏi.

Điều Ngự lớn tiếng quát: Gã mù kia thấy được cái gì đấy ?

Tăng nói: Tôn Đức gạt người ta làm gì ?

Điều Ngự: Hừ, hừ.

Vị tăng suy đoán luận bàn.

Điều Ngự liền đánh.

Vị tăng định mở miệng hỏi.

Điều Ngự bèn hét.

Vị tăng cũng hét.

Điều Ngự nói: Lão tăng cũng bị ông hét một tiếng, thế là hai tiếng hét, vậy rốt cuộc thế nào ? Nói mau ! Nói mau !

Vị tăng đắn đo toan nói. Điều Ngự lại hét một tiếng, nói: Con chồn hoang kia rồi rất hoạt bát, bây giờ ở đâu?

Vị tăng đảnh lễ rút lui.

Hay có vị tăng hỏi: Bản lai diện mục là gì ?

Giây lâu Điều Ngự hỏi lại: Hiểu không ?

Tăng đáp: Thưa không hiểu ?

Điều Ngự liền đánh”(15).

Sách Thiền sư Trung Hoa còn cho biết thêm, cùng thời Lâm Tế, còn có Đức Sơn Tuyên Giám (780 - 865) cũng lập ra thiền phái riêng. Sư họ Chu người Kiếm Nam, Giản Châu, xuất gia năm 20 tuổi, thông kinh, giỏi luật. Khi nghe phương Nam Thiền tông thịnh hành, sư bất bình nói: “Kẻ xuất gia muôn kiếp học oai nghi của Phật, vạn kiếp học tế hạnh của Phật, chẳng còn được thành Phật. Những kẻ ma ở phương Nam dám nói: Trực chỉ nhân tâm kiến tính thành Phật. Ta phải ruồng tận hang ổ của chúng, diệt hết những giống ấy để đền ơn Phật”. Sau sư lại đắc pháp với Thiền sư Sùng Tín (Sùng Tín không dùng gậy, tiếng hét để khai thị cho sư), rồi về trụ trì ở Đức Sơn xiển dương tông chỉ. Một hôm, sư thượng đường bảo: Hỏi tức có lỗi, chẳng hỏi lại trái. Có một vị tăng bước ra lễ bái, sư liền đánh. Tăng thưa: Con mới lễ bái vì sao Hòa thượng đánh ? Sư bảo: “Đợi ngươi mở miệng làm gì kịp”(16). Sau đó lại có tông Vân Môn thịnh hành. Cũng sách này cho biết: “Ngài Động Sơn (Tông Huệ ?-990), lúc mới đến học ngài Vân Môn, ngài Vân Môn hỏi: Vừa rồi ở đâu ? Sư thưa: Tra độ. Ngài Vân Môn hỏi: Mùa hạ rồi ở chỗ nào ? Sư thưa: ở chùa Báo Từ Hồ Nam. Vân Môn hỏi: Rời nơi ấy lúc nào ? Sư thưa: ngày 25 tháng 8. Vân Môn bảo: Tha cho ngươi ba gậy”. Một hôm sư hỏi vị tăng mới đến: “Đâu chẳng phải mới đến ư ?” Tăng thưa: “Phải”. Sư bảo: “Đêm đến tìm chỗ nghỉ, sáng nay việc thế nào ?” Tăng thưa: “Sáng nay gió thổi mạnh, đi trên núi xanh”. Sư bảo: “Chưa phải, lại nói đi” Tăng thưa: “Trân trọng”. Sư liền đánh(17). Về sau Thiền tông càng phát triển, nhiều vị Thiền sư đã lập riêng cho mình một dòng phái, phương thức khai thị cho đệ tử như loại hình kể trên không phải là ít.

Như chúng ta đã biết, Vô Ngôn Thông (?-826) là học trò Thiền sư Hoài Hải Bá Trượng (724-814) Trung Quốc. Bá Trượng không dùng “bổng hát” (gậy và tiếng hét) để khai thị cho Vô Ngôn Thông, tuy rằng khi học Mã Tổ Đạo Nhất, bá Trượng đã từng bị hành vi tương tự như thế. Sách Thiền sư Trung Hoa cho biết: “Mã Tổ liền nắm lỗ mũi sư kéo mạnh, đau quá sư la thất thanh (...) Mã Tổ nghiêm chỉnh nạt một tiếng, đến ba ngày sư còn điếc tai”(18).

Dòng thiền này vào nước ta, trải qua bốn thế hệ không thấy dùng phương thức này, nhưng đến Thiền sư Đa Bảo thuộc thế hệ thứ 5 lại thấy hiện tượng này. Một hôm Đa Bảo hỏi sư (tức Khuông Việt 933-1011):

“Thế nào là thủy chung của đạo học ?”

Sư đáp: “Thủy chung không vật thảy hư không.

Hiểu được Chân như thể ắt đồng”

Đa Bảo hỏi: “Lấy gì bảo chứng?”

Sư đáp: “Không có chỗ cho ngươi hạ thủ”.

Đa Bảo thưa: “Hòa thượng nói rõ rồi”.

Sư đáp: “Ngươi hiểu thế nào?”

Đa Bảo bèn hét lên một tiếng.

Sau này Thiền sư Đa Bảo còn dùng tiếng hét để khai ngộ cho đệ tử(19). Đến thế hệ thứ 9 Thiền sư Đạo Huệ (? - 1073) khi khai ngộ cho đệ tử là Tịnh Không (1090-1170) cũng lớn tiếng quát. Sư (Tịnh Không) bèn cải danh đi tham thỉnh Thiền sư Đạo Huệ ở núi Tiên Du. Đạo Huệ nói: “Tông chỉ ở đây chẳng phải là không có, nhưng Xà Lê làm sao mà bảo nhậm được ? Sư còn suy nghĩ, Đạo Huệ quát lớn: ngay trước mắt ngươi đã trượt qua rồi”(20). Đến thế hệ 12 Thiền sư Thường Chiếu cũng hay dùng tiếng quát để dạy bảo đệ tử.

Như trên đã trình bày, Thiền sư Bá Trượng không dùng phương pháp “Bổng hát” với Vô Ngôn Thông. Khi sang Việt Nam Vô Ngôn Thông không dùng phương pháp này, mãi đến các thế hệ về sau thì thấy xuất hiện. Vậy họ có ảnh hưởng lúc nào, ở đâu ? Lâm Tế, Tào Động, Đức Sơn, Vân Môn, Pháp Nhãn, Quy Ngưỡng hay Tì Ni Đa Lưu Chi ?

Như chúng ta đều biết, dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi vào trước dòng thiền Vô Ngôn Thông hơn 2 thế kỷ. Tì Ni Đa Lưu Chi người ấn Độ, đắc pháp với tổ Tăng Xán (? - 602) Trung Quốc. Sau đó sang Việt Nam, sư truyền pháp cho đệ tử là Pháp Hiền (? - 626) có dùng tiếng quát. Chúng ta hãy xem đoạn đối thoại sau: “Tì Ni Đa Lưu Chi hỏi: Ngươi họ gì ?. Sư hỏi lại: Hòa thượng họ gì ? Tì Ni Đa Lưu Chi nói: Ngươi không có họ ư ? Sư đáp: Họ không phải không có, nhưng Hòa thượng cần gì phải biết ? Tì Ni Đa Lưu Chi quát bảo: Biết để làm gì ? Sư bỗng nhiên tỉnh ngộ bèn sụp lạy”(21). Đến thế hệ thứ 4 Thiền sư Thanh Biện (?-686) khi tham học Thiền sư Huệ Nghiêm ở chùa Sùng Nghiệp cũng bị ăn đòn: “Huệ Nghiêm nói: Trong kinh nói: Nếu nói Như Lai có thuyết pháp điều gì thì tức là phỉ báng Phật. Câu ấy người ta không giải được (...). Sư nghĩ ngợi, còn định hỏi thêm, Huệ Nghiêm bèn cầm phất trần đánh vào miệng. Sư đột nhiên tỉnh ngộ, bèn sụp lạy”(22). Thiền sư Bản Tịch (? - 1140) thuộc thế hệ 13, truyền pháp cho đệ tử là Khánh Hỷ (1067 -1142), cũng có hành vi như vậy: “Bản Tịch nói: Chống thuyền rời bến một trăm thước, rồi buông sào đi bộ, thì ngươi nói sao? Sư (Khánh Hỷ) giơ cả hai tay lên đáp: Chẳng hiểu, chẳng hiểu ! Bản Tịch nói: Tha cho ngươi một đòn”(23). Thiền sư Chân Không (1046-1100) thế hệ 16 cũng có hành vi như vậy(24).

Qua đó, chúng ta thấy việc dùng "Bổng hát" không riêng gì phái Lâm Tế. Trước khi phái này ra đời, Hoàng Bá thầy của Nghĩa Huyền phái Lâm Tế đã dùng pháp môn này rồi, sau này nhiều tông phái khác ở Trung Quốc cũng thế. Tại Việt Nam phương pháp này đã có rất sớm, như đã trình bày ở trên.

Ở đây cũng cần thấy rằng, phương thức "Bổng hát", không phải độc nhất mang tính truyền thống của riêng dòng thiền nào. Ngay cùng trong một dòng thiền, có khi thầy dùng nhưng đệ tử sau lại không dùng, chẳng hạn dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi, gồm 19 thế hệ mà chỉ có 4 thế hệ áp dụng; còn ở dòng Vô Ngôn Thông, gồm 15 thế hệ mà cũng chỉ có 3 thế hệ áp dụng.

Việc dùng "Bổng hát" là tùy theo thiền cơ giữa thầy và trò, không thể áp dụng rộng rãi đối với tất cả thiền sinh, đệ tử. Phương pháp này cũng không thể bắt chước để áp dụng được.

Đến khi dòng thiền Trúc Lâm ra đời, Điều Ngự (Trần Nhân Tông) đã dùng "Bổng hát" khai thị cho đệ tử, cũng từ đó sư phải chịu tiếng “ảnh hưởng”, nếu không muốn nói là học đòi, bắt chước thiền Trung Quốc mà đời sau đã gán cho sư.

Như chúng ta đã biết, Nhân Tông khi còn nhỏ chưa xuất gia có học đạo với cư sĩ Tuệ Trung, nhưng Tuệ Trung không hề dùng phương pháp này. Còn cho rằng thiền Trúc Lâm là ảnh hưởng của thiền Lâm Tế thì ảnh hưởng khi nào, với ai, trực tiếp hay gián tiếp ?

Tuy sách Trúc Lâm Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục(25) Việt quốc Yên Tử sơn Trúc Lâm chư tổ thánh đăng ngữ lục(26) có cho biết vào đầu thời Thái Tông có cư sĩ Thiên Phong thuộc phái Lâm Tế từ Chương Tuyền Trung Quốc sang truyền đạo cho Quốc sư Đại Đăng và Hòa thượng Nan Tư... nhưng không thấy đề cập đến phương thức này và lúc đó đã có Nhân Tông chưa, ông có biết việc này hay không... ?

Nếu dựa vào những tư tưởng như Vô tâm và Mê ngộ không hai, cùng những nguyên tắc Tứ liệu giản, Tam cú, Tam huyền, Tam yếu, Tứ chiếu dụng... để gán ghép thì không có cơ sở, vì rằng những tư tưởng trên là nòng cốt, căn bản của Thiền, cho nên dòng Thiền nào mà chẳng đề cập đến, không riêng gì dòng Lâm Tế.

Như trên đã trình bày, Thiền sư Nghĩa Huyền sáng lập tông Lâm Tế Trung Quốc, sư mất năm 868. Thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi sáng lập ra dòng thiền đầu tiên tại Việt Nam, sư mất năm 594. Hai vị đại danh sư lập ra hai dòng thiền ở hai nước Việt - Trung. Dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi dùng phương thức "Bổng hát" trước dòng Lâm Tế gần ba thế kỷ. Như vậy, có thể nói dòng thiền Lâm Tế Trung Quốc đã chịu ảnh hưởng phương thức khai ngộ cho đệ tử bằng "Bổng hát" của dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi Việt Nam. Điều đó rất có cơ sở. Nhưng phần nhiều chúng ta không dám khẳng định mình, nhất là đứng bên cạnh một nền văn hóa khổng lồ như Trung Quốc. Và có lẽ tư tưởng tự ti, phục tùng nước lớn đã ảnh hưởng không ít đến một số các nhà nghiên cứu Phật giáo Việt Nam trước đây.

Như chúng ta đã biết, Thiền sư Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidarma) người ấn Độ sang Trung Quốc là người đầu tiên khai sáng ra dòng thiền ở nước này, qua 6 thế hệ: Bồ Đề Đạt Ma, Tuệ Khả, Tăng Xán, Đạo Tín, Hoằng Nhẫn, Tuệ Năng. Ngoài thế hệ thứ 6 là tổ Tuệ Năng ra, còn 5 thế hệ trước không thấy vị nào dùng phương pháp này, chỉ có Thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi, đệ tử tổ Tăng Xán khi sang Việt Nam mới có phương pháp này. Nếu nói ảnh hưởng tư tưởng thiền thông qua "Bổng hát" thì chúng ta có quyền khẳng định rằng Tì Ni Đa Lưu Chi là người đầu tiên đã sử dụng phương thức này, rồi sau đó các dòng thiền Việt - Trung đều chịu ảnh hưởng từ đấy.

Ngoài ra, chúng ta còn phải kể đến bức tranh Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ 竹 林 大 士 出 山 圖) do họa sĩ đời Nguyên là Trần Giám Như 陳 鑑 如) sáng tác năm 1363 mà tác giả Nguyễn Nam đã đề cập trên Tạp chí Hán Nôm. Bài dẫn của tác giả Trần Quang Chỉ về bức tranh có đoạn viết: “Thiền môn của Đại sĩ gốc từ hậu duệ của Đại sư Thần Hội thời Đường. Thuở trước, thiền học ở nước này phổ biến còn chưa rộng, đến thời Đại sĩ tông môn mới hưng khởi. Thế nên tăng đồ cả nước đều suy tôn ngài là sơ tổ”(27).

Thiền sư Thần Hội (668-760) là đệ tử lục tổ Tuệ Năng (638-713). Ta không rõ tác giả đã căn cứ vào hệ thống truyền thừa nào mà khẳng định như vậy.

Như chúng ta đã biết, Thiền học ở nước ta trước thời kỳ này đã có 3 dòng thiền: Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường. Đầu thời Trần còn ba dòng thiền khác nữa cũng có mặt lúc bấy giờ: “Một là phái thiền do Thiền sư Vương Chí Nhàn đứng đầu, danh sách này cho ta biết dòng thiền này tiếp nối được ba thế hệ: Thiền sư Vương Chí Nhàn, Hòa thượng Nhậm Tạng, Cư sĩ Nhậm Túc. Hai là dòng thiền do Hòa thượng Nhật Thiển truyền xuống cho Vương Chân Đạo. Ba là dòng thiền thuộc phái Lâm Tế, do cư sĩ Thiên Phong từ Chương Tuyền (Trung Quốc) sang, truyền pháp cho Quốc sư Đại Đăng và Hòa thượng Nan Tư...(28) Thánh đăng lục còn ghi, hai tăng sĩ nhà Tống là Đức Thành và Thiên Phong sang nước ta vào thời Trần Thái Tông, vua cho ở chùa Tư Phúc gần chốn cung đình để tiện tham vấn. Tại đây, Thiên Phong đã mở trường giảng đạo, tăng chúng theo học rất đông, hàng ngày trai tăng(29) hơn 500 vị, sư đã độ cho hơn 30 người làm đệ tử(30).

Như vậy, có thể nói Phật giáo ở nước ta lúc này phát triển rất mạnh, đã có mặt tới 6 dòng thiền, trong đó còn chưa kể đến những vị không biết thuộc dòng phái nào như Đức Thành, Tiêu Dao. Thế mà nói rằng: “Thuở trước, thiền học ở nước này phổ biến còn chưa rộng, đến thời Đại sĩ, tông môn mới hưng khởi. Thế nên tăng đồ cả nước đều suy tôn ngài là sơ tổ(31), lời nói trên là không có cơ sở.

Ngoài ra còn những chi tiết khác như: “Trước khi đản sinh, phụ vương ngài mộng thấy Thượng đế ban cho thanh bảo kiếm”; “Tuổi ngoài 40, ngài bỗng có chí xuất gia, bèn truyền quốc đồ cho con, vào động Vũ Lâm tu trì, mang áo tăng già, dựng am trên đỉnh núi Yên Tử, ở liền 6 năm không hạ sơn. Ngài mặc áo cỏ, ăn quả cây, cần lao khổ cực, tích lũy đạo hạnh, tu tập đủ phép độ trì”. “Một hôm, khi đang ở am Ngọa Vân trên núi Yên Tử, ngài tập hợp mọi người lại và bảo: “Con ta và Phật tử trong nước nay đã nên người, còn ta sao cứ mãi ở trần thế ?” Ngài bèn tắm gội, thay y phục, vào tĩnh thất ngồi ngay ngắn, hồi lâu rồi hóa. Khi ấy, ngài thọ 59 tuổi”(32).

Những chi tiết trên, nếu chúng ta đối chiếu với quốc sử hay thiền lục thì thấy nhiều chỗ không ăn khớp. Ví dụ theo quốc sử thì Trần Nhân Tông mộ Phật từ nhỏ, có chí xuất gia, đã vượt đô thành trốn đi, nhưng không thành... Vậy mà lại nói: “Tuổi ngoài 40, ngài bỗng có chí xuất gia...”. Hay sau khi xuất gia Trúc Lâm lo xây dựng giáo hội, hoằng pháp độ sinh, ví dụ năm 1304 sư vân du khắp mọi vùng thôn quê, khuyên dân chúng phá bỏ dâm từ, thực hành pháp Thập thiện, cùng năm ấy Trúc Lâm đã gặp Pháp Loa tại Nam Sách (Hải Dương) và thâu nhận làm đệ tử, sư còn sang tận Chiêm Thành hóa đạo. Vậy mà lại nói: “dựng am trên đỉnh núi Yên Tử, ở liền 6 năm không hạ sơn”(33).

Tóm lại, những thông tin do Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ cung cấp chỉ có giá trị tham khảo khi nghiên cứu về dòng thiền Trúc Lâm Việt Nam.

CHÚ THÍCH

1. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb. KHXN, H. 1998.

2. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nxb. Văn học, H. 1994.

3. Nguyễn Hùng Hậu, Lược khảo tư tưởng thiền Trúc Lâm Việt Nam, Nxb. KHXH 1997.

4. Tạp chí Hán Nôm số 2 (39)-1999.

5. Thiền tông bản hạnh tờ 20b, in năm 1932.

6. 御 制 禪 典 統 要 繼 燈 錄 卷 之 一, tờ 40, 41, 42ab.

7. 大 南 禪 宛 繼 燈 略 錄 自 陳 諸 祖 臨 濟 曹 峒 卷 下 Ký hiệu Viện Nghiên cứu Hán Nôm: VHv.9 , tr.11a.

8. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Sđd, tr.252.

9. Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Sđd, tr.382.

10. Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Sđd, tr.486.

11. Sách ghi "Nam Tư", có lẽ do đánh máy nhầm “Nan” thành “Nam”.

12. Lược khảo tư tưởng thiền Trúc Lâm Việt Nam, Sđd, tr.37.

13. Trần Văn Giáp, Phật giáo Việt Nam, tr.96. Tuệ Sĩ dịch. Ban tu thư Viện đại học Vạn Hạnh 1968.

14. Thanh Từ, Thiền sư Trung Hoa II/71. Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh 1990. Từ điển Phật học Hán - Việt, tr.651, Nxb. KHXH 1998.

15. Tam tổ thực lục, tr.21, 22, 27. Thích Phước Sơn dịch và chú, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam 1995.

16. Thanh Từ, Thiền sư Trung Hoa II, Sđd, tr.131.

17. Thanh Từ, Thiền sư Trung Hoa II, Sđd, tr.301.

18. Thanh Từ, Thiền sư Trung Hoa I, Sđd, tr.148,151.

19. Thiền uyển tập anh, tr.45,50. Nxb. Văn học, Hà Nội 1990.

20. Thiền uyển tập anh, Sđd, tr.117.

21. Thiền uyển tập anh, Sđd tr.169, 170.

22. Thiền uyển tập anh, Sđd, tr.173.

23. Thiền uyển tập anh, Sđd, tr.217.

24. Thiền uyển tập anh, Sđd, tr.229.

25. 竹 林 慧 忠 上 士 語 錄 in năm 1683. Ký hiệu Viện Nghiên cứu Hán Nôm A.1932.

26. 越 國 安 子 山 竹 林 諸 祖 聖 燈 語 錄 in năm 1730. Ký hiệu Viện Nghiên cứu Hán Nôm A.2569.

27. Tạp chí Hán Nôm, tlđd tr.36.

28. 竹 林 慧 忠 上 士 語 錄 sđd, tr.6A.

29. Trai tăng: bữa ăn cơm của các nhà sư vào đúng giờ Ngọ (giữa trưa).

30. 越 國 安 子 山 竹 林 諸 祖 聖 燈 語 錄 sđd, tr.4A.

31, 32, 33. Xem Nguyễn Nam, Diện mạo Trần Nhân Tông qua Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ. Tạp chí Hán Nôm số 2-1999 tr.36.

TB

VỀ NGUỒN GỐC VÀ TÁC GIẢ CỦA CUỐN ẤU HỌC NGŨ NGÔN THI

TRẦN NGỌC THUẬN

Ấu học ngũ ngôn thi là một trong những cuốn sách học của học trò nhỏ ở Việt Nam ngày xưa. Cùng với Tam tự kinh, Bách gia tính, Thiên tự văn, bất kỳ ai đã theo nghiệp học “chi, hồ, giả, dã” hầu như đều thuộc nằm lòng những câu thơ nằm trong những cuốn sách này. Nhưng, theo thói quen, các ông đồ ngày xưa không ai quan tâm giảng giải về nguồn gốc của nó. Vì vậy mà sau này, ngay cả đến các học giả cũng không hiểu rõ. Dương Quảng Hàm từng viết: “Cuốn Ấu học ngũ ngôn thi không nằm trong danh mục sách của người Trung Hoa”. Trên Tạp chí Hán Nôm số 1/1997, trong bài Sách học chữ Hán cho học sinh nhỏ tuổi ngày xưa, ông Thế Anh cũng nhắc lại nhận xét này. Còn ông Tảo Trang, trong bài Phương thảo, thanh thảoẤu học ngũ ngôn thi đăng trên Tạp chí Hán Nôm 4/1996 thì nêu giả định: “có thể, theo thiển ý, quyển sách này do một tác giả Việt Nam viết”. Nhưng, giả định này không vững, vì toàn bộ nội dung và lời thơ của Ấu học ngũ ngôn thi không có chỗ nào đề cập đến tên người, tên đất và sự kiện ở Việt Nam, ngoại trừ... một số thơ ca ngợi gió nồm.

Thế là, cho tới tận bây giờ, vấn đề về nguồn gốc và tác giả của cuốn sách này vẫn còn là một nghi án.

Rất may mắn, gần đây, tôi kiếm được hai cuốn sách Trung Quốc là cuốn:

1. Tam tự kinh - Bách gia tính - Thiên tự văn - Thần đồng thi do Thượng Hải thư điếm xuất bản năm 1991.

2. Thiên gia thi - Thần đồng thi - Tục Thần đồng thi do Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã xuất bản năm 1993.

Giở xem phần Thần đồng thi của hai cuốn sách trên thì thấy, tuy giữa chúng có sự xuất nhập về một số khổ thơ, nhưng về tổng thể nội dung thì đều trùng hợp với cuốn sách mà ở Việt Nam mang tên Ấu học ngũ ngôn thi.

Bản của Thượng Hải thư điếm (tạm gọi bản A) gồm 136 câu; bản của Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã (tạm gọi là bản B) gồm 176 câu. Cả hai bản đều bắt đầu bằng khổ thơ:

Thiên tử trọng anh hào
Văn chương giáo nhĩ tào
Vạn ban giai hạ phẩm
Duy hữu độc thư cao.

Bản A kết thúc bằng khổ thơ:

Đông khứ canh trù tận
Xuân tùy đẩu bính hồi
Hàn huyên nhất dạ cách
Khách mấn lưỡng niên thôi.

Bản B còn kéo dài thêm và kết thúc bằng khổ thơ:

Xuân du phương thảo địa
Hạ thưởng lục hà trì
Thu ẩm hoàng hoa tửu
Đông ngâm bạch tuyết thi.

So sánh với Ấu học ngũ ngôn thi mà tác giả bài viết này được học từ hồi còn nhỏ và hiện còn lưu một phần trong trí nhớ thì bản B có phần trùng nhiều hơn, tuy vẫn có sự xuất nhập trên một số câu, chữ. Thí dụ, ngay câu đầu tiên, Ấu học ngũ ngôn thi chép: “Thiên tử trọng hiền hào”, trong khi ở hai bản Thần đồng thi đều chép là “... anh hào”.

Nhìn chung, dễ thấy ngay là Thần đồng thi (theo tên Trung Quốc) hay Ấu học ngũ ngôn thi (theo tên Việt Nam) là cuốn sách dạy học trò thời phong kiến, khuyến khích việc chuyên cần học tập để đỗ đạt, thành danh, hưởng ơn vua, lộc nước v.v. Vì bối cảnh ra đời như vậy nên những hạn chế về tư tưởng là không tránh khỏi. Tuy nhiên, chế độ khoa cử được khởi đầu từ thời Tùy mà cuốn sách này đề cao, lại là một tiến bộ rõ rệt so với chế độ cử người thân từ thời Hán về trước. Nó tạo điều kiện cho tầng lớp bình dân, nếu có học vấn, tài năng, thì đều có thể hiển đạt, ra phò vua giúp nước.

Những câu:

Triêu vi điền xá lang
Mộ đăng thiên tử đường
Tướng tướng ban vô chủng
Nam nhi đương tự cường.

rõ ràng là những lời hay ý đẹp, có sức sống lâu dài.

Về nguồn gốc Thần đồng thi, lời nói đầu cuốn sách của Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã, dẫn ghi chép của Chu Quốc Trinh thời Minh, viết: “Uông Chu, tự Đức Ôn người huyện Ngân, chín tuổi đã giỏi làm thơ, quan trên nghe tiếng triệu lên, ông mặc áo ngắn vào dinh quan. Quan hỏi: “Sao áo của thần đồng ngắn thế ?” Ông ứng khẩu trả lời:

Thần đồng sam tử đoản
Tụ đại nhạ xuân phong
Vị khứ triều thiên tử
Tiên lai yết tướng công.

Dịch:

Thần đồng áo cánh ngắn
Tay rộng hứng gió xuân
Chưa vào chầu thiên tử
Trước yết kiến thượng quan.

Người đời thu thập thơ của ông thành tập sách dạy nhi đồng, đặt tên là Uông Thần đồng thi. Đó là tên ban đầu của sách Thần đồng thi. Tương truyền, một số trang đầu của cuốn sách là do Uông Chu sáng tác lúc còn nhỏ. Những phần sau là do người đời Minh góp nhặt những câu thơ khác ghép thành. Uông Chu là người thời Bắc Tống, đỗ Tiến sĩ năm Nguyên Phù thứ ba đời Tống Triết Tông, làm quan tới chức Quan Văn điện Đại học sĩ. Sách Thần đồng thi được lưu hành rất rộng vào thời Minh - Thanh, có tác dụng khuyến học và bồi dưỡng kiến thức văn chương cho trẻ nhỏ.

Thời Thanh, người ta biên soạn tiếp cuốn Tục Thần đồng thi để bổ sung phần giáo dục luân lý, đạo đức cho trẻ nhỏ. Cuốn này chỉ chú trọng thuyết lý mà ít có giá trị văn chương. Do đó mức độ phổ cập nói chung kém Thần đồng thi.

Qua tư liệu trên, có thể suy đoán là sách Thần đồng thi được truyền từ Trung Quốc sang Việt Nam. Còn chính xác được truyền từ khi nào, được ai đổi tên thành Ấu học ngũ ngôn thi và được thêm bớt những gì, thì cần có sự nghiên cứu thêm nữa.

Về kết cấu tác phẩm, ông Tảo Trang căn cứ vào văn bản Ấu học ngũ ngôn thi, có đưa ra nhận xét: “Có thể nói cuốn sách đã tập hợp những bài thơ ngắn bốn câu năm chữ sắp xếp khá tùy tiện, không theo một trật tự rõ ràng” (bài đã dẫn).

Xét về chi tiết thì có phần như vậy. Nhưng nếu nhìn tổng thể, thì tác phẩm vẫn tuân theo một phác đồ logic là: khuyến khích lập chí tự cường, chuyên cần học tập, thi đỗ làm quan, làm vinh hiển song thân, hưởng thụ cảnh đẹp của non sông đất nước. Khi tuổi già, về trí sĩ, sống cuộc đời nhàn tản, cao khiết qua bốn mùa xuân hạ thu đông.

Dưới đây, xin trích bản B để thuyết minh những ý kiến trên.

· Đoạn mở đầu: Khuyến học

Thiên tử trọng anh hào,
Văn chương giáo nhĩ tào.
Vạn ban giai hạ phẩm,
Duy hữu độc thư cao.

Tạm dịch:

Thiên tử trọng kẻ anh hào,
Văn chương, nghĩa lý trao vào lũ bay.
Muôn nghề đều thấp kém thay,
Chỉ riêng đọc sách, việc này cao sang.

*

Thiếu tiển tu cần học,
Văn chương khả lập thân.
Mãn triều chu tử quí,
Tận thị độc thư nhân.

Tạm dịch:

Lúc nhỏ học tập chuyên cần,
Văn chương có thể lập thân sau này.
Đầy triều rực rỡ cân đai,
Đều người đọc sách những ngày còn xanh.

*

Học hướng cần trung đắc,
Huỳnh song vạn quyển thư.
Tam đông kim túc dụng,
Thùy tiếu phúc không hư ?

Tạm dịch:

Học hành chăm chỉ thì nên,
Muôn ngàn quyển sách trước đèn làu thông.
Công phu tích lũy ba đông,
Ai cười trong bụng rỗng không có gì ?

*

Tự tiểu đa tài học,
Bình sinh chí khí cao.
Biệt nhân hoài bảo kiếm,
Ngã hữu bút như đao.

Tạm dịch:

Tự nhỏ học tập thành tài,
Bình sinh chí khí không ai sánh bằng.
Mặc người kiếm báu ngang lưng,
Ta nay ngọn bút sánh cùng gươm đao.

*

Triêu vi điền xá lang,
Mộ đăng thiên tử đường.
Tướng tướng bản vô chủng,
Nam nhi đương tự cường.

Tạm dịch:

Nay còn cày cuốc ngoài đồng,
Ngày mai tất sẽ vào trong triều đường.
Khanh tướng đâu cứ giống dòng,
Làm trai cần biết tự cường thì nên.

· Thi đỗ:

Hỷ trúng thanh tiền tuyển,
Tài cao áp tuấn anh.
Huỳnh song tân thoát tích,
Nhạn tháp đạm thư danh.

Tạm dịch:

Văn hay được chọn dâng lên,
Tài cao xuất sắc vượt trên anh hào.
Song huỳnh khó nhọc xiết bao,
Tên ghi tháp nhạn mừng nào mừng hơn.

*

Niên thiếu sơ đăng đệ,
Hoàng đô đắc ý hồi.
Vũ môn tam cấp lãng,
Bình địa nhất thanh lôi.

Tạm dịch:

Tuổi xanh sớm chiếm bảng rồng,
Vũ môn ba lớp sóng lừng vượt qua.
Đất bằng sấm chớp chói lòa,
Vinh quy cho thỏa lòng ta những ngày.

*

Nhất cử đăng khoa nhật,
Song thân vị lão thời.
Cẩm y qui cố lý,
Đoan đích thị nam nhi.

Tạm dịch:

Ngày ta cập đệ đăng khoa,
Song thân còn đó một chờ mười mong.
Xênh xang áo gấm về làng,
Hiển vinh cha mẹ, rỡ ràng thân trai.

· Vào triều làm quan:

Cung điện điều nghiêu tủng,
Nhai cù cạnh vật hoa.
Phong vân kim tế hội,
Thiên cổ đế vương gia.

Tạm dịch:

Triều đình cung điện nguy nga,
Phố phường phẩm vật phồn hoa chen bày.
Phong vân gặp hội hôm nay,
Ngàn năm truyền mãi đất này đế vương.

*

Nhật nguyệt quang thiên đức,
Sơn hà tráng đế cư.
Thái bình vô dĩ báo,
Nguyện thượng vạn niên thư.

Tạm dịch:

Đức trời nhật nguyệt sáng soi,
Núi sông tô điểm rạng ngời đế kinh.
Báo ơn thịnh trị thái bình,
Vạn niên thư, chút lòng thành dâng lên.

*

Cửu hạn phùng cam vũ,
Tha hương ngộ cố tri.
Động phòng hoa chúc dạ,
Kim bảng quải danh thì.

Tạm dịch:

Nắng lâu gặp trận mưa rào,
Tha hương gặp bạn vui đâu sánh cùng.
Đuốc, soi buổi động phòng,
Thân trai gặp lúc bảng vàng treo tên.

· Đoạn tiếp sau, tả phong cảnh đất kinh kỳ qua 12 tiết trong năm, có dẫn dụng thơ Lý Bạch, Đỗ Mục đời Đường và Lý Phúc Nguyên đời Tống, nhằm dạy nhi đồng về kỹ thuật làm thơ.

Chúng tôi xin phép lược không dẫn.

· Đoạn cuối, tả sau khi công thành danh toại, về trí sĩ, hưởng thú thanh nhàn, cao nhã qua bốn màu xuân, hạ, thu, đông.

Thi tửu cầm kỳ khách,
Phong hoa tuyết nguyệt thiên.
Hữu danh nhàn phú quí,
Vô sự tản thần tiên.

Tạm dịch:

Khách là thi tửu cầm kỳ,
Phong hoa tuyết nguyệt thiếu gì thú vui.
Thanh nhàn, phú quí tót vời,
Thần tiên tự tại sống nơi cõi trần.

*

Đạo viện nghinh tiên khách,
Thư đường ẩn tướng Nho.
Đình tài thê phượng trúc,
Trì dưỡng hoá long ngư.

Tạm dịch:

Tướng Nho ẩn chốn thư đường,
Khách tiên thường đến, văn chương luận bàn.
Phượng vin cành trúc ngoài hiên,
Dưới ao cá lội đợi phen hóa rồng.

*

Xuân du phương thảo địa,
Hạ thưởng lục hà trì.
Thu ẩm hoàng hoa tửu,
Đông ngâm bạch tuyết thi.

Tạm dịch:

Mùa xuân dạo thảm cỏ thơm,
Hè sang ngoạn cảnh xanh rờn ao sen.
Đêm thu rượu cúc giải phiền,
Đông ngâm bạch tuyết một thiên luật Đường.

TB

MỘT BÀI THƠ CHỮ HÁN CỦA BÁC HỒ MỚI SƯU TẦM ĐƯỢC

TRẦN ĐẮC THỌ

LTS: Sưu tầm thêm được tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là điều hết sức quý báu.

Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Trần Đắc Thọ. Tác giả cho biết bài thơ chữ Hán này do cụ Lê Tư Lành ở Vụ Bảo tồn bảo tàng chép của đồng chí Xuân Thủy và tặng tác giả. Hôm tặng, cụ Lành có nói cũng sẽ gửi biếu cả Bảo tàng Hồ Chí Minh, không rõ việc đó có được thực hiện không.

Do sao đi chép lại, bài thơ "Điếu Huỳnh Bộ trưởng" có thể có nhầm lẫn ở một vài chữ Hán do hiện tượng đồng âm, chúng tôi đã mạnh dạn hiệu chính và công bố, mong được bạn đọc chỉ giáo.

Hồi cụ Huỳnh Thúc Kháng, nguyên quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, trên đường đi công tác năm 1947 ở Quảng Ngãi, thọ bệnh qua đời, Bác Hồ vô cùng thương tiếc khi hay tin dữ. Bác đã làm hai bài thơ điếu, một bài bằng chữ Hán và một bài bằng quốc âm. Bài bằng chữ Hán được Bác làm trước. Song, trong lễ truy điệu chính thức làm ở Việt Bắc trong Chính Phủ, Bác chỉ đọc thơ điếu bằng tiếng Việt, nên bản viết bằng chữ Hán không được mấy người biết đến. Rồi lâu lâu, người ta quên đi, không ai nhắc tới. Các tập thơ Hồ Chí Minh ngoài Ngục trung nhật ký do Nhà xuất bản Văn học phát hành. Không có bài này ở phần thơ chữ Hán... Tập thơ Hồ Chí Minh nói chung chỉ in bài thơ điếu bằng tiếng Việt trong mục thơ tiếng Việt của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tôi xin chép sau đây nguyên văn bài thơ viết bằng chữ Hán. Cả hai bài, tác giả không ghi đầu đề.

弔 黃 部 長 詩
嗚 呼
雲 風(1) 雲 氣 暗
沱 海 潮 聲 悲
四 月 淚 雲 訴
黃 部 長 安 歸?
內 務 部 今 日
才 德 者 其 誰?
同 胞 卅 餘 兆
痛 哭 淚 淋(2) 漓
一 九 四 七 年 四 月 二 十 一 日

Phiên âm:

Điếu Huỳnh Bộ trưởng thi
Ô hô !
Vân phong vân khí ám
Đà hải triều thanh bi !
Tứ nguyệt lệ vân tố
Huỳnh Bộ trưởng an qui ?
Nội vụ Bộ kim nhật
Tài đức giả kỳ thùy ?
Đồng bào tạp dư triệu
Thống khốc lệ lâm ly !
Nhất cửu tứ thất niên tứ nguyệt nhị thập nhất nhật

Dịch nghĩa:

Than ôi !
Trời gió mây mù mịt
Tiếng thủy triều biển Đà Nẵng bi ai !
Tháng tư mây lệ báo tin buồn
Huỳnh Bộ trưởng sao đã ra đi ?
Ngày nay Bộ Nội vụ
Người tài đức là ai ?
Hơn ba mươi triệu đồng bào (*)
Đau xót lệ não nùng !
Ngày 21-4-1947

Sau đây là bài thơ điếu bằng tiếng Việt đã được mang đọc trong lễ truy điệu:

Than ôi !
Biển Đà Nẵng triều thảm
Đèo Hải Vân mây sầu !
Tháng tư tin buồn đến
Huỳnh Bộ trưởng đi đâu ?
Trông vào Bộ Nội vụ
Tài đức tiếc thương nhau !
Đồng bào ba chục triệu
Đau đớn lệ rơi châu!
Ngày 21- 4- 1947

Nội dung hai bài thơ điếu có những điểm khác nhau. Bác Hồ đã làm hai bài thơ điếu riêng biệt. Bài viết bằng quốc âm không phải dịch từ bài chữ Hán ra.

Cả hai bài đều có những lâm ly đau xót của hai người bạn già vĩnh biệt nhau. Tôi xin ghi mấy nét về thân thế cụ Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng.

Cụ sinh năm 1876 và mất ngày 21-4-1947. Cụ là một nhà yêu nước, một chí sĩ nổi tiếng một thời. Cụ có nhũ danh là Huỳnh Hanh, tự Đới Sinh, hiệu Minh Viên. Quê làng Thanh Bình, tổng Tiên Giang thượng, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Cụ nhà nghèo, học giỏi, đỗ Giải nguyên năm Canh Tý (1900), đỗ Hoàng giáp năm Giáp Thìn (1904). Không chịu ra làm quan, cụ ở nhà viết báo với nhiều bút danh như Ưu Thời Khách, Sử Bình Tử, Tha Sơn Thanh, Ngư Sơn, Hải âu... Kết giao rộng rãi với nhiều chí sĩ đương thời như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Trần Quý Cáp... cụ là một trong những người đứng đầu phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ, từng bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo trong 13 năm (1908-1921). Sau khi ra tù năm 1925, giặc Pháp, với ý đồ lợi dụng cụ, đã đưa cụ ra làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Suốt ba năm liền, cụ đề xuất nhiều kiến nghị cải cách, song không được chấp nhận, nên đã từ chức Viện trưởng và chuyển sang làm báo Tiếng Dân. Cụ chủ trì tờ báo đến năm 1943 thì báo bị đóng cửa. Thời Nhật thuộc, cụ đã từ chối Bảo Đại, không nhận đứng ra thành lập Nội các chính quyền thân Nhật.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ đã vui vẻ ra tham chính, nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp, cụ là Quyền Chủ tịch nước VNDCCH. Cụ còn là một trong những người sáng lập Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) mà về sau cụ là Hội trưởng.

Giặc Pháp phản phúc. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cụ là Đặc phái viên của Chính phủ ở Liên khu 5. Tuổi già, sức yếu, cụ đã thất lộc ở Quảng Ngãi.

CHÚ THÍCH

* Số dân Việt Nam lúc đó, theo thống kê của thực dân Pháp.

(1) Tác giả bài báo viết chữ  phong là gió, chúng tôi cho là nhầm từ chữ đồng âm  phong là núi, Vân phong là Đèo Hải Vân, đối với Đà hảI là Biển Đà Nẵng ở câu 2 - BTV.

(2) Tác giả bài báo viết chữ  lâm là đến, chữa lại chữ  trong  lâm li là dầm dề, đầm đìa - BTV

TB

TẬP SÁCH VIỄN HẢI QUY HỒNG CỦA NGUYỄN THƯỢNG HIỀN MỚI ĐƯỢC PHÁT HIỆN

CHƯƠNG THÂU

Sở dĩ gọi là tập sách, bởi vì từ trước đến nay, theo truyền ngôn, chúng ta mới biết Viễn hải quy hồng chỉ như là một bài thơ mà thôi. Bản văn bài thơ này, lần đầu tiên được đăng trên Tạp chí Văn học số tháng 11-1963 là một bản sưu tầm ghi theo trí nhớ của một vị nhân sĩ lão thành, từng tham gia Phong trào Đông du (1904 - 1909), nhưng vẫn thiếu nhiều câu và sai một số chữ. Từ đó, trong các tập Hợp tuyển thơ văn yêu nước, Tuyển tập, Tổng tập văn học... đều có in lại, nhưng không có gì thêm bớt cả.

Vừa qua, nhân dịp qua Pháp nghiên cứu một số vấn đề về lịch sử Việt Nam và sưu tầm thêm tư liệu về Phan Bội Châu, chúng tôi may mắn đã tìm thấy tập sách Viễn hải quy hồng do nhà sách Quan Căn Thạch, Tôkyô - Nhật Bản xuất bản năm 1908.

Tập sách còn nguyên vẹn, có in rõ tên sách trên bìa đỏ, được lưu giữ trong cặp Hồ sơ của Phủ Toàn quyền Đông Dương, chứa trong hộp carton ký hiệu S.P.C.E/351 của Trung tâm lưu trữ Hải ngoại (C.A.O.M.) Aix - en - Provence. Sách dày 40 trang khổ 12 x 18cm. ở bìa 4 có ghi rõ mấy dòng chữ viết tay: Sách của Nguyễn Thượng Hiền (Bắc Kỳ) viết và xuất bản; xếp vào Hồ sơ chung “Các nhà cách mạng Việt Nam và Phan Bội Châu”. Còn có thêm 2 dòng Phụ chú: Tài liệu này do Lãnh sự quán Pháp ở Hồng Kông giao nộp ngày 20-3-1913.

Tập sách Viễn hải quy hồng in bằng 3 thứ chữ: Hán, Nôm và Quốc Ngữ; gồm 3 bài:

- Bài thứ nhất: Xuất dương di đồng bào thư (nguyên văn chữ Hán 5 trang, diễn âm chữ Nôm 5 trang, chữ Quốc ngữ 9 trang viết tay với đầu đề Bài thơ đưa đồng bào, cũng chính là bài thơ: Viễn hải quy hồng (Chim hồng từ biển xa về - đã được công bố không đầy đủ trước đây).

- Bài thứ hai: Đông học thư thân ca (Toàn văn bằng chữ Nôm, dài 10 trang).

- Bài thứ ba: Bạt của Phan Bội Châu (chữ Hán, dài 8 trang).

ở bài thứ nhất, nguyên văn tựa đề - Xuất dương di đồng bào thư lẽ ra phải chuyển nghĩa theo tiếng Việt hiện đại là Thư gửi đồng bào trên đường xuất dương, thì tác giả lại diễn âm (chữ Nôm và chữ Quốc ngữ) là: Bài thơ đưa đồng bào để ghi nhớ và thấu tỏ cho nỗi lòng “vì nước, vì dân” của chính tác giả: Kể từ năm ất Dậu (1885), chứng kiến cảnh “Kinh đô thất thủ”, đất nước bị giặc Pháp giày xéo, tác giả vô cùng phẫn uất, muốn ra tay hành động, quyết sống mái với quân thù. Nhưng vì chưa tập hợp được những người đồng tâm đồng chí và vì còn phải lo trọn đạo thần hôn đối với cha già còn tại thế, nên đành nán chờ. Tác giả đã từng uất nghẹn kêu khóc một mình, khóc đến mức:

... dạt dào chan chứa,
Khóc thảm thương vì sự dân mình.
Vì ai khốn khổ lênh đênh,
Dù kêu ai có thương tình cho đâu!

Từ tiếng khóc uất hận đó, tác giả đã tìm được thêm những người bạn đồng hành, đồng tâm, đồng chí, nhằm kể với nhau, rằng:

... Nông nỗi kia càng nói càng đau.
Ai ơi ! ý khí tương cầu,
Nghe ra có nghĩ cho nhau chăng là...

Và đến nay, việc nhà đã thu xếp xong, đã có thể cùng nghĩa dân nghĩa sỹ mọi nơi để cùng lo toan đại sự cứu nước. Thế thì ta phải cùng nhau gắng sức. Tác giả kết luận:

Việc ta lo tính đã hay,
Cơ trời hẳn cũng đã xây khó gì.
Mây mù ấy, quét đi chẳng để,
Bóng tam quang rạng vẻ lưng trời.
Mai sau hẳn được như lời,
Non sông rửa thẹn, muôn đời tiếng thơm.

Ở bài thứ hai, toàn Nôm, nhan đề Đông học thư thân ca tức là Bài ca của học sinh Đông du, dài tới 168 câu, viết theo thể song thất lục bát. Bài này vốn là Nguyễn Thượng Hiền soạn ra để đọc trong buổi tiệc của Hội Đông á Đồng Văn và Lưu học sinh Việt Nam, tổ chức để “chào đón Nguyễn Thượng Hiền” tại Trường Đồng Văn Thư viện ở Tôkyô ngày tháng 9-1908.

Trong Lời Bạt viết cho tập sách Viễn hải quy hồng khi xuất bản, Phan Bội Châu đã tóm tắt nội dung bài ca này, dịch như sau:

“Đại ý bài ca nói đến thảm cảnh mất nước, nêu lên nguyên nhân phấn chí xuất dương của đồng bào. Đoạn giữa nói đến việc học cần phải siêng năng, đức dục cần phải xem trọng, tình đoàn kết cần phải kiên định, đặc biệt nhấn mạnh đến việc cần phảI chuộng công đức gạt bỏ mọi tư kiến, lấy nghĩa ái quốc ái quần làm đầu. Và cuối cùng khuyên mọi người hãy lấy trung hiếu làm tôn chỉ duy nhất, hẹn ước với nhau ngày phục quốc sẽ đến. Ý nghĩa tinh tế của bài diễn từ thật là đầy đủ. Đó là mưu kế cho lưu học sinh nước ta, là mưu kế cho người nước ta, là mưu kế cho non sông Tổ quốc ta ngàn vạn năm sau. Tất cả là ở đây! Tất cả là ở đây!”

Nhờ có được mưu kế đó, mà đất nước ta sẽ là:

Bốn nghìn dặm sông vàng núi ngọc,
Cõi trường xuân mưa móc thuận hòa.
Cuộc đời sẽ hết phong ba
Dân an nước thịnh ai là không vui.
Cơ hội ấy nhờ trời có chức,
Xin đồng bào gắng sức làm ra.
Để cho trăm họ âu ca,
Xướng câu vạn tuế nước ta khải hoàn...

Việc phát hiện được tập sách Viễn hải quy hồng, trong đó chứa đựng những áng thơ văn nặng tình non nước nghĩa đồng bào của một nhà khoa bảng lớn, từng tham gia tích cực công cuộc vận động cứu nước của Duy tân hội và Việt Nam Quang phục hội, chúng ta xúc động vì tấm lòng tác giả. Đọc kỹ Viễn hải quy hồng, ta càng thấy rõ hơn ở đây một nhà uyên bác, giỏi thơ văn chữ Hán nhưng cũng rất điêu luyện trong thể thơ ca Quốc âm. Nguyễn Thượng Hiền đã có những tác phẩm thơ văn chữ Hán nổi tiếng như Nam Chi tập, Danh nhân thi đề, Hát Đông thư dị, Tang hải lệ đàm... nhưng cũng lại có những tác phẩm thơ ca Quốc âm như Hợp quần doanh sinh thuyết, Phú cải lương rất có giá trị. Nay, chúng ta lại có thêm tập Viễn hải quy hồng (tác phẩm song ngữ Hán và Nôm) của ông nữa. Nó sẽ góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn thơ yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX, cũng là làm phong phú thêm “Kho tàng di sản Hán Nôm của Việt Nam” nữa. Hơn thế, nó cũng sẽ giúp cho giới học thuật thêm một văn liệu chính gốc để góp phần nghiên cứu đánh giá đúng đắn “Con người và thơ văn” của nhà yêu nước khả kính Nguyễn Thượng Hiền (1868-1925).

TB

THÊM MỘT SỐ TƯ LIỆU VỀ
HOÀNG THÁI HẬU PHẠM THỊ NGỌC HẬU

ĐINH CÔNG VĨ

Đoan Thuần Hoàng Thái hậu Phạm Thị Ngọc Hậu tuy là mẹ vua, có bài vị nằm trong Thái miếu nhà Hậu Lê(1) nhưng trong sử sách (nhất là sử biên niên, cương mục) hình ảnh bà rất mờ nhạt. “Ngọc phả” nhà Lê không thể không viết về bà, nhưng cũng chỉ là vài nét sơ lược. Cho nên, người đời ít biết tới Phạm Thị Ngọc Hậu. Khoảng tháng 11 năm 1993, dân xã Nam Giang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa khi đào gạch, đã phát hiện một ngôi mộ trong quan ngoài quách luyện bằng vỏ sò đập với mật ong. Có người đoán đó là mộ bà Đoan Thuần. Bảo tàng Thanh Hóa tổ chức một đoàn cán bộ đến tận nơi để xác minh, đã đi đến kết luận: chắc chắn đây là cánh đồng lăng, khu lăng mộ của dòng họ Phạm - Lê (họ kép của bà Phạm Thị Ngọc Hậu, tức họ ngoại của Huyền Tông Mục Hoàng đế Lê Duy Vũ, con bà). Trên cơ sở này, người ta đặt giả thiết: có thể đây là mộ của bà Đoan Thuần, nhưng còn cần có thêm tư liệu để chứng minh. Từ đó kéo dài gần 6 năm, tình hình vẫn không nhúc nhích. Gần đây, chúng tôi tìm thấy tấm bia ở lăng Hoàng Thái hậu nhà Lê thuộc xã Thanh Nga, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Bia tạo năm Chính Hòa 7 (1686), 4 mặt chữ, khổ 1,35 x 0,86m, trán bia chạm 28 vòng mặt nguyệt, diềm bia chạm mây hoa dây. Bia đã cung cấp thêm đôi nét về tiểu sử Thái hậu Đoan Thuần, gắn bó với thôn Nhân Lý, xã Thanh Nga, quê mẹ của Thái hậu, nơi từng được bà ban cấp 37 thửa ruộng tự điền (» 36 mẫu 9 sào 10 thước) nên dân ghi ơn dựng bia công đức. Tiếp đó, chúng tôi lại về làng Kim Bảng, nơi sinh thành, gắn bó gần hết với cuộc đời xuân trẻ của Thái hậu, có dịp đọc bài văn trong Bàn khắc gỗ đặt trên bàn thờ tổ dòng họ Phạm-Lê ở đây. Bài văn cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin hơn về dòng họ Phạm của bà Hoàng Thái hậu và nhiều vấn đề liên quan khác. Chẳng hạn bài văn cho biết: sau khi Lê Duy Vũ lên ngôi, vì bà là mẹ đẻ nên được phong Hoàng Thái hậu rồi về Kim Bảng cho xây điện Càn Long để thờ vọng tiên đế, đồng thời cho xây chùa Cẩm Long để thờ Phật. Vì ông ngoại (vua) là Phạm Đình Công thiếu người thờ tự nên bà Thái hậu bàn với phu nhân của quan Tể tướng (tức bà Ngọc Hiền, chị ruột mình) cho người con thứ của phu nhân về nguyên quán thôn Kim Bảng, thay đổi họ để chăm lo việc hương hỏa, thờ phụng về sau đối với ông ngoại và Hoàng Thái hậu... Nhưng ở thôn Kim Bảng, có thể nói không gì đầy đủ, có giá trị hơn là tấm bia 4 mặt còn lại ở điện Càn Long. Đọc tấm bia này, chúng ta thấy có nhiều điểm như tên họ, nguyên quán, xuất xứ dòng dõi, ngày sinh của bà Thái hậu đều nhất trí về cơ bản với tấm bia ở xã Thanh Nga. Chẳng hạn cả 2 bài văn bia đều cho biết bà Đoan Thuần họ Phạm, húy Ngọc Oánh, nguyên quán ở xã Quả Nhuệ, huyện Lôi Dương, tỉnh Thanh Hóa, sinh giờ Mão ngày 22 tháng 4 năm Đức Long 7 (1635) v.v. Đáng chú ý là các tấm bia đó đều ghi “Ngọc Oánh” là tên huý của Thái hậu, nhưng dân Thọ Xuân, Thanh Hóa vẫn quen gọi bà là “Ngọc Hậu”, sách Lê kỷ tục biên cũng gọi như vậy. Làng Quả Nhuệ (hay Quả Nhuệ Thượng) huyện Lôi Dương tức là làng Kim Bảng (bản đồ Thanh Hóa chỉ ghi là làng “Kim”), xã Nam Giang, huyện Thọ Xuân ngày nay. Dù có đôi nét khác so với hiện tại nhưng vẫn có sự ăn khớp giữa tấm bia 4 mặt ở Càn Long điện với tấm bia ở xã Thanh Nga. Điều này làm ta dễ tin hơn tấm bia điện Càn Long. Đặc biệt quan trọng là tấm bia ở Càn Long điện cho biết đầy đủ hơn về dòng họ bà Đoan Thuần và rộng ra, còn cho ta biết cả về chính sách của Vương triều Lê - Trịnh đối với họ ngoại của vua nhà Lê, những nghi thức cúng tế, ẩm thực, giá trị tiền tệ, thể hiện phần nào nền kinh tế thuở đó. Đấy là các tư liệu mà nhiều nhà khoa học của nhiều chuyên ngành thường rất quan tâm. Do vậy, chúng tôi xin dịch nghĩa tấm bia này để bạn đọc cùng tham khảo.

Cần nói thêm rằng, tấm bia ở điện Càn Long được dựng trên một nền cao 1,65m, rộng 0,71m gồm ba bậc. Các cụ già Kim Bảng cho biết: Ông Phạm Trừng (một trong những hậu duệ của người con trai thứ ông Tể tướng và bà Ngọc Hiền) được phong tước Quả Xuân hầu, chính là người được triều đình khen thưởng về việc trùng tu điện Càn Long đã trông coi việc làm tấm bia ấy. Về sau, bia đã bị ủi xuống hố, rồi lại được đưa lên. Do đó, bia có 4 mặt chữ, vốn được khắc sâu, rõ, mà đến nay hoa văn đã mờ nhạt, có những chỗ bị rạn sứt sâu, không ít chữ đã bị mất. Đó là điều độc giả cần chú ý khi tiếp cận nguyên bản chữ Hán bài văn bia.

Dịch nghĩa:

BIA GHI VIỆC THỜ CÚNG

Bà Hoàng Thái hậu họ Phạm, húy Ngọc Oánh, là người làng Quả Nhuệ Thượng, huyện Lôi Dương. Cha Thái hậu là Phạm tướng công Đình Kiên, mẹ họ Chu, tên húy là Loan, người xã Thanh Nga, huyện Văn Giang. Ông bà sinh ra người con gái thứ hai là Thái hậu. Thái hậu sinh giờ Mão ngày 22 tháng 4 năm ất Hợi, niên hiệu Đức Long thứ 7 (1635). Năm 19 tuổi duyên trời tác hợp, bà vâng mệnh vào hầu, chầu vua Thần Tông Uyên Hoàng đế, dẫu phú quý vẫn chuyên cần, dù giàu sang vẫn tiết kiệm. Bà lại là người đức độ, nói năng dịu dàng, tính tình hiền hậu đúng như bậc Hậu phi trong thơ Kê minh, dung nhan đẹp đẽ như người con gái trong thơ Chu Quan(2), gia phong nếp nhà, bà được thừa hưởng đầy đủ.

Vào năm Giáp Ngọ, bà sinh ra Huyền Tông Mục Hoàng đế, con người có tư chất của rồng phượng. Thực hợp với điều: “đã là thánh mẫu ắt phải sinh thánh tử”. Kịp đến khi Thần Tông Uyên Hoàng đế sắp đi xa, có lưu lại những lời di mệnh, bà đều ghi lòng. Khi Thần Tông thăng hà, lòng bà thương xót; khi thành lễ bà làm nhiều điều tốt còn vượt cả qui định, tỏ rõ tấm lòng thuần hậu. Khi Huyền Tông Mục Hoàng đế kế ngôi lớn, việc trị nước đều theo di mệnh của vua cha nghiêm túc. Thực đó cũng là nhờ công lao của Hoằng Tổ Dương Vương dưỡng dục tác thành, lại có thánh mẫu giúp cho, khiến Huyền Tông thành vị vua hiền, làm quốc gia yên bình, lễ nhạc đầy đủ. Năm ất Tỵ, sách vàng của triều đình dâng tôn hiệu bà là Hoàng Thái hậu, được ngự ở cung Từ huấn, làm mẫu nghi thiên hạ. Triều đình đã tôn phong cho các bậc tiên tổ của bà gồm:

Hiển khảo gia phong làm Thái bảo Vị quận công; Hiển tỷ gia phong làm Thái bảo Vị quận công Quận phu nhân; Hiển tổ khảo tên húy là Đình Tiến gia phong Thiếu bảo Hà quận công; Hiển tổ tỷ Lê thị tên húy là ý, gia phong làm Thiếu bảo Hà quận công Quận phu nhân; Hiển tằng tổ khảo tên húy là Đình Biểu, gia phong làm Đô đốc Đồng Tri Hải Triều hầu; Hiển tằng tổ tỷ Lê thị tên húy là Tín, gia phong Đô đốc Đồng Tri Hải Triều hầu Chính phu nhân. Tiếng thơm của sự tu nhân tích đức của Hoàng Thái hậu đã được đền đáp thỏa đáng.

Huyền Tông Mục Hoàng đế ngự giá, mở yến tiệc ở doanh lăng Quả Nhuệ, định hiệu là Cảo Thịnh, nhân đó lập miếu điện, đặt tên là Càn Long, lại cho phép bản xã được cử người làm tạo lệ và ban cấp cho xã Thanh Nga, quê ngoại của Huyền Tông được phụng thờ mãi mãi, để các ngày sinh, ngày giỗ và 4 mùa 8 tiết hương hỏa tôn nghiêm mãi, tỏ rõ sự tôn kính.

Ôi ! Lăng điện đã an vị, tháng ngày được cúng lễ, đó là nhờ sự linh thiêng của trời. Với các bậc tiên liệt của ngoại tổ đều được qui về để phối hưởng. Thế là nhờ Hoàng Thái hậu ta sáng suốt lo xa từ trước vậy.

CÔNG ĐỨC ĐỂ LÂU DÀI

... Việc tế tự hàng năm, vào giờ sinh giờ mất cùng với các tiết phụng tế (...) thờ tự ở miếu đình, lưu truyền đến vạn năm sau, nghi lễ mãi mãi được ghi vào tự điển. Hơn nữa, lại được lòng dân, bèn dựng bia khắc công ghi ơn, lưu để muôn đời trên bia đá sừng sững. Một là làm vinh hiển sự nghiệp vẻ vang của tổ tiên, hai là làm rạng rỡ công đức của các vị, khiến từ nay về sau công ấy đức ấy sáng như mặt trời không bao giờ tắt. Vậy xin tâu trình đầy đủ. Kính đội ơn bảo hộ của Hoàng thượng đã tận lòng hiếu kính để noi theo nếp cũ, ưu ái ra chỉ dụ, sai từ thần phụng mệnh soạn văn, khắc vào đá truyền lâu dài.

Hoàng triều Chính Hòa năm thứ 7 (1687), tháng cuối mùa đông ngày lành.

Nguyễn Danh Thực người làng Đại Bái, huyện Gia Định đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ Cập đệ Đệ tam danh khoa Kỷ Hợi làm Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu Bồi tụng Ngự sử đài Đô Ngự sử Nhập thị kinh diên Hải Sơn tử phụng mệnh nhuận sắc.

Nguyễn Công Vọng người làng Vịnh Cầu, huyện Đông Ngạn đỗ Tiến sĩ Hội nguyên khoa Quý Sửu và đỗ Đông các khoa Bính Thìn, làm Quang tiến Thận lộc Đại phu Bồi tụng Lễ bộ Tả thị lang Nhập thị kinh diên Vĩnh Ngạn nam phụng mệnh nhuận sắc.

Quách Giai đỗ Tiến sĩ Cập đệ Đệ tam danh khoa Quý Hợi, làm Hàn lâm viện Thị chế.

Nguyễn Phú Minh đỗ Tiến sĩ xuất thân, làm Hàn lâm viện hiệu lý.

Nguyễn Đình Xuẫn đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân, làm Hàn lâm viện Hiệu thảo cùng phụng soạn văn bia.

Phó Cai hợp, đồng Tri phủ Văn Học nam người Đông Ngạn, Phù Chẩn, tên là Nguyễn Hạo vâng mệnh viết chữ. Ngày tuần trong năm lần lượt cúng lễ. Một là ruộng cúng lễ theo lệnh vốn là ruộng ở bản phận của tiên đế tại các làng ở Bố Vệ, Động Bàng, gồm 80 mẫu, vâng sắc chỉ cung kính làm, sau thay đổi cấp cho quan sở tại ở huyện Tĩnh Gia, ruộng đồn điền tại xã Thủ Hộ, huyện Quảng Xương, ruộng công cấp dùng để thờ cúng, cho dân xã Thủ Nghĩa ngoại quán huyện Văn Giang làm cả năm dùng vào cuối vụ thuế. Một nữa là ruộng dùng cho tế tự, ruộng dùng vào ân huệ cho thôn Kim Bảng 5 mẫu, xã Quả Nhuệ Thượng 10 mẫu phân cho cày cấy để dùng vào việc thờ cúng ở các xứ (ghi rõ ở Tế điền bia). Ngày mùng 1 tháng Giêng Tết Nguyên đán cho 3 quan tiền, thôn Kim Bảng lễ vàng bạc 5 mâm, tiền 5 mạch. Mùng 2 Tết cúng tiền 3 quan, mùng 3 Tết cúng tiền 3 quan. Ngày mùng 7 lễ khai hạ (hạ cây nêu) cúng tiền 3 quan. Ngày 1 tháng 2 lễ giỗ ngoại tổ: Hiển tổ khảo được gia phong Thái bảo Vị quận công; Ngoại tổ chính là Phạm tướng công tên chữ là Phúc Minh tên thụy là Lương Tính phủ quân được cúng tiền 7 quan, gạo sống gạo chín 5 bổ sa, 1 suy (đồ đun chín thức ăn). Còn riêng xã ấy cho tiền 4 quan, gạo 30 bát, làm theo nghi lễ bổ sa (nghi lễ lớn đối với quan to) dùng xôi, rượu, vàng bạc. Tế mùa xuân dùng tiền 4 quan. Ngày 3 tháng 3 tiết Thanh minh được tiền 3 quan, ngày mùng 7 làm lễ giỗ. Ngoại tổ hiển cao tổ tỷ được gia phong Đô đốc đồng tri Hải Triều hầu Chính phu nhân. Tên bà là Lê Quý thị, tên thụy là Từ Thiện được 3 quan tiền cho bản xã, 1 quan 4 mạch tiền, gạo 10 bát, các loại xôi, rượu, vàng bạc dùng cho ngày giỗ 19. Ngoại tổ hiển cao tổ khảo được gia phong Đô đốc Đồng Tri Hải Triều hầu là Phạm Quý Công, tên thụy là Lương Tam phủ quân, được tiền 3 quan cho bản xã (mất chữ) 1 quan 4 mạch tiền, gạo 10 bát, các loại xôi, rượu, vàng bạc dùng cho ngày giỗ 8 tháng 4. Ngoại tổ hiển tằng tổ tỷ gia phong Thiếu bảo Hà quận công quận phu nhân, tên là Lê Quý Thị, tên thụy là Từ Khánh, được 4 quan tiền cho bản xã, cấp thêm 1 quan 8 mạch tiền, 15 bát gạo, các đồ xôi, rượu, vàng bạc. Tết 5 tháng 5 được cấp tiền 3 quan. Ngày 6 tháng 6 tế mùa hạ được tiền 4 quan, ngày rằm tháng 7 vào tiết Trung nguyên được tiền 4 quan (mất chữ)... 8 quan tiền dùng cho ngày giỗ 29. Ngoại tổ hiển tổ tỷ gia phong Thái bảo Vị quận công quận phu nhân là Chu thị, tên thụy là Từ Độ, được tiền 7 quan, làm gạo sống 2 mâm, gạo chín 5 mâm theo nghi lễ phô sa lao (nghi lễ lớn với quan to) suy, được 4 quan tiền cho bản xã, gạo 230 bát, theo nghi lễ phô sa lao dùng rượu, vàng bạc. Ngày 8 tháng 8 tế mùa thu được tiền 4 quan. Ngày 15 Tết Trung thu được tiền 2 quan. Ngày 9 tháng 9 tiết Trùng cửu được tiền 3 quan. Ngày 10 tháng 10 cúng Thường tân được tiền 3 quan. Ngày 14 lễ Tiến tiên được tiền 3 quan, ngày 15 giỗ lễ giờ Thìn. Nghi thức thức thông thường để tế tự đã tận lòng hiếu kính để noi theo nếp cũ, ưu ái ra chỉ dụ, sai từ thần phụng mệnh soạn văn, khắc vào đá truyền lâu dài. Hoàng triều Chính Hòa năm thứ 7 (1687), tháng cuối mùa đông ngày lành. Nguyễn Danh Thực người làng Đại Bái, huyện Gia Định đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ Cập đệ Đệ tam danh khoa Kỷ Hợi làm Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu Bồi tụng Ngự sử đài Đô Ngự sử Nhập thị kinh diên Hải Sơn tử phụng mệnh nhuận sắc. Nguyễn Công Vọng người làng Vịnh Cầu, huyện Đông Ngạn đỗ Tiến sĩ Hội nguyên khoa Quý Sửu và đỗ Đông các khoa Bính Thìn, làm Quang tiến Thận lộc Đại phu Bồi tụng Lễ bộ Tả thị lang Nhập thị kinh diên Vĩnh Ngạn nam phụng mệnh nhuận sắc. Quách Giai đỗ Tiến sĩ Cập đệ Đệ tam danh khoa Quý Hợi, làm Hàn lâm viện Thị chế. Nguyễn Phú Minh đỗ Tiến sĩ xuất thân, làm Hàn lâm viện hiệu lý. Nguyễn Đình Xuẫn đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân, làm Hàn lâm viện Hiệu thảo cùng phụng soạn văn bia. Phó Cai hợp, đồng Tri phủ Văn Học nam người Đông Ngạn, Phù Chẩn, tên là Nguyễn Hạo vâng mệnh viết chữ. Ngày tuần trong năm lần lượt cúng lễ. Một là ruộng cúng lễ theo lệnh vốn là ruộng ở bản phận của tiên đế tại các làng ở Bố Vệ, Động Bàng, gồm 80 mẫu, vâng sắc chỉ cung kính làm, sau thay đổi cấp cho quan sở tại ở huyện Tĩnh Gia, ruộng đồn điền tại xã Thủ Hộ, huyện Quảng Xương, ruộng công cấp dùng để thờ cúng, cho dân xã Thủ Nghĩa

TB

MỘT VĂN BẢN XIN ĐẶT CHỨC
PHÓ TỔNG ĐỜI TỰ ĐỨC TÌM THẤY Ở
TIỀN HẢI (THÁI BÌNH)

PHẠM THỊ NẾT

Trong quá trình đi điền dã sưu tầm tài liệu Hán - Nôm ở Tiền Hải - một huyện mới được thành lập năm 1828 dưới đời vua Minh Mệnh, triều Nguyễn, chúng tôi tìm thấy một văn bản xin đặt chức Phó tổng đời Tự Đức. Văn bản được lưu ở từ đường nguyên mộ Phạm Văn Thanh (người đứng ra mộ dân lập ấp Dưỡng Chân, tổng Tân Cơ, huyện Tiền Hải năm 1828), nay là làng Dưỡng Trực, xã Nam Thắng. Đây là một văn bản chữ Hán, viết tay bằng mực đen, gồm 2 tờ rời, được đóng thành một quyển vở, khổ 20 x 32cm.

Mặt phía ngoài, trang bên phải có 8 dòng chữ, dòng có số chữ nhiều nhất là 25 chữ, dòng có số chữ ít nhất là 1 chữ. Nội dung tường trình về việc tổng Tân Cơ, huyện Tiền Hải, phủ Kiến Xương khuyết chân Phó tổng, nay trong tổng đã chọn được một người tên là Phạm ứng, Lý trưởng ấp Dưỡng Chân, vậy trình quan huyện xem xét, sắp đặt cho. Trang bên trái “đồng tổng cùng ký”, có 7 dòng, dòng có số chữ nhiều nhất là 11 chữ, dòng có số chữ ít nhất là 4 chữ. Trang này có dấu ấn triện của vị quyền Cai tổng tổng Tân Cơ, hình vuông, mỗi cạnh dài 3cm và một dấu ấn triện của Thuộc nha thông lại, hình chữ nhật, bề ngang 2cm, bề dài 2,5cm. Một dấu kiềm đóng ở dòng thứ 3 ghi ngày trình văn bản này (ngày 24).

Mặt phía trong, trang bên phải có dấu ấn của quan huyện, hình vuông, mỗi cạnh dài 6cm; dấu mộc triện cùng chữ ký của Lý trưởng xóm Thủ Chính, Lý trưởng ấp Đông Quách. Trang bên trái có dấu mộc triện và chữ ký của Lý trưởng ấp Năng Tĩnh, Lý trưởng giáp Tức Tranh; chữ ký của Phó lý ấp Năng Tĩnh, Dịch mục ấp Dưỡng Chân, Lý trưởng giáp Trung Lập. Mộc triện của các Lý trưởng hình chữ nhật, chiều rộng 1,5cm, chiều dài 3,2cm.

Giữa hai trang có dấu giáp lai và chữ “lai” (來) viết kèm. Dấu triện của các Lý trưởng được áp mực đen, còn các dấu triện khác đều được áp mực đỏ.

Tổng Tân Cơ khi thành lập có tất cả 8 đơn vị (gồm: 1 xóm, 5 ấp, 2 giáp). ở đây thiếu chữ ký của đại diện ấp Hướng Tân (ấp nằm giữa Hữu Vy và ấp Đông Quách).

Theo đề nghị của Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ và được triều đình nhà Nguyễn chấp nhận, xóm được lập ra với số đinh 50 người, số ruộng đất là 600 mẫu; ấp 30 đinh và 400 mẫu; trại 15 đinh trở lên, 200 mẫu; giáp 10 đinh trở lên và 120 mẫu ruộng đất.

Huyện Tiền Hải khi thành lập (năm 1828) có 7 tổng, gồm 14 xóm, 27 ấp, 20 trại, 10 giáp. Số đinh hơn 2350 người, số ruộng hơn 18.970 mẫu(1). Tân Cơ là một tổng lớn nằm ở phía Nam của huyện, phía Bắc giáp sông Lân, phía Đông giáp biển, phía Tây và Nam giáp vùng đất cũ thuộc tổng Hà Cát, huyện Giao Thủy, phủ Xuân Trường và tổng Đa Cốc, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương.

Chúng tôi cho rằng đây là một tài liệu quý, qua đó chúng ta biết được các bước chọn đặt người đứng đầu chính quyền cấp tổng và xã, và những tiêu chuẩn mà người được chọn cần phải có. Mặt khác, nó cũng phản ánh một sự thật là những quy định trong cải cách hành chính từ thời Minh Mệnh (1820-1840), về cơ bản vẫn được duy trì một cách nghiêm túc trong thời Thiệu Trị, Tự Đức.

Căn cứ vào chữ ký của các Lý trưởng, Phó lý, Dịch mục là những người đại diện cho các đơn vị xóm, trại, giáp trong tổng Tân Cơ cùng với dấu triện kèm theo, chúng ta có thể khẳng định xóm, ấp, trại, giáp được lập ra ở Tiền Hải thế kỷ 19 là những đơn vị hành chính cơ sở. Nó góp phần giải tỏa mối nghi ngờ lâu nay của một số nhà nghiên cứu về vị trí của các đơn vị trại, giáp ở Tiền Hải trong hệ thống tổ chức hành chính thời Nguyễn thế kỷ 19.

Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu toàn bộ văn bản:

Phiên âm:

Kiến Xương phủ, Tiền Hải huyện, Tân Cơ tổng, đồng tổng đẳng khấu trình vi khất trí bảo sự. Duyên thừa trát sức tự dân tổng Phó tổng huyền khuyết nhu nhân thừa biện sở ứng biệt bảo tha danh ứng vu đẳng nhân. Tư dân tổng trạch đắc tổng nội Dưỡng Chân ấp Lý trưởng Phạm ứng hệ thị vật lực mẫn cán thức tự để nhân. Dân tổng thuận bảo vi Phó tổng, hiệp dữ Cai tổng ứng hành chư công vụ cụ hữu ký kết kinh dẫn hướng nha trình thực cảm khất.

Bản huyện đường quan thẩm chiếu phó hứa phê bằng tỉ cai thừa lãnh phục sự. Kỳ cai tính danh niên canh thừa vu hậu.

Kim khấu trình.

Toàn tổng cộng ký.
Tả từ Tức Tranh giáp, Lý trưởng Nguyễn Văn Thịnh ký.

Bản nguyệt nhị thập tứ nhật. Trình.

Hiệp cử quyền Cai tổng Đỗ Văn Duy ký.

Thuộc nha thông lại Nguyễn Huy Đường thừa cứu: Tân Cơ tổng, Dưỡng Chân ấp, Lý trưởng Phạm ứng tại nha vô hữu can liên hà án. Thị thừa cứu.

Nhất, trí bảo Phó tổng nhất danh, danh ứng - Phạm ứng, niên canh Ất Sửu.

Tự Đức thập ngũ niên, thập nguyệt, nhị thập ngũ nhật.

Thủ Chính lý, Lý trưởng Đào Vinh Ký.
Đông Quách ấp, Lý trưởng Vũ Trừng ký.
Năng Tĩnh ấp, Lý trưởng Đào Như Đồng ký.
Tức Tranh giáp, Lý trưởng Nguyễn Văn Thịnh ký.
Hữu Vy ấp, Phó lý Trương Viễn ký.
Dưỡng Chân ấp, Dịch mục Trần Văn  ký.
Trung Lập giáp, Lý trưởng Bùi Tiến Bổng ký.

Thích y bảo phục sự. Sĩ bẩm.

Dịch nghĩa:

Toàn thể dân chúng ở tổng Tân Cơ, huyện Tiền Hải, phủ Kiến Xương cúi trình về việc xin bầu đặt [chức dịch]. Nguyên là nhận được tờ trát sức do dân tổng chúng tôi hiện đang khuyết chức Phó tổng, cần có người thừa hành công việc, phải chọn bầu ra một người khác gánh vác công việc. Nay dân tổng chúng tôi đã chọn được người ở trong tổng là Phạm ứng, Lý trưởng ấp Dưỡng Chân, là người có của cải, năng lực mẫn cán, biết chữ hơn người. Dân tổng chúng tôi thuận tình bầu làm Phó tổng, hiệp cùng với Cai tổng thi hành việc công, có đầy đủ chữ ký gửi trình bày tình thực trước nha môn.

Dám xin quan huyện đường nhà soi xét, phê duyệt và cấp bằng cho viên nói trên vâng nhận làm việc. Họ tên và năm sinh của viên trên xin kê rõ dưới đây.

Nay cúi đầu trình.

Cả tổng cùng ký.
Lý trưởng Nguyễn Văn Thịnh giáp Tức Tranh, người viết văn bản, ký.

Ngày 24 tháng 10. Trình

Quyền cai tổng Đỗ Văn Duy ký.

Thông lại thuộc nha là Nguyễn Huy Đường thừa lệnh cứu xét: Phạm ứng, Lý trưởng ấp Dưỡng Chân, tổng Tân Cơ tại nha chưa từng can phạm tội lỗi. Nay cứu xét.

Xin bầu chức Phó tổng cho một người tên người tên là Ứng - Phạm Ứng, sinh năm Ất Sửu [1805].

Ngày 25 tháng 10 năm Tự Đức 15 (1826).

Lý trưởng xóm Thủ Chính, Đào Vinh ký.
Lý trưởng ấp Đông Quách, Vũ Trừng ký.
Lý trưởng ấp Năng Tĩnh, Đào Như Đồng ký.
Lý trưởng giáp Tức Tranh, Nguyễn Văn Thịnh ký.
Phó lý ấp Hữu Vy, Trương Viễn ký.
Dịch mục ấp Dưỡng Chân, Trần Văn  ký.
Lý trưởng giáp Trung Lập, Bùi Tiến Bổng ký.

Chuẩn y đơn bầu cử làm việc. Đợi bẩm(2).

P.T.N

CHÚ THÍCH:

(1) Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục chính biên, tập 9, tr.123.

(2) Lời phê của Tri huyện Tiền Hải.

TB

HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ VỀ BẢO QUẢN BẰNG MICROFILM VÀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á TỔ CHỨC TẠI
CHIANG MAI, THÁI LAN

Vừa qua, trong 4 ngày từ 21 đến 24 tháng 2 năm 2000, Hội thảo quốc tế về “Bảo quản bằng Microfilm và vấn đề bảo tồn ở khu vực Đông Nam Á: xem xét nhu cầu hiện tại và đánh giá các dự án đã tiến hành” (The International Meeting on Microform Preservation and Conservation Practices in Southeast Asia: Assessing Current Needs and Evaluating Past Projects) đã được tổ chức trọng thể tại khách sạn Orchid Hotel, Chiang Mai, Thái Lan do Thư viện Đại học Chiang Mai tổ chức với sự hợp tác của Dự án Microfilm khu vực Đông Nam á thuộc Trung tâm các Thư viện Nghiên cứu Chicago, Hoa Kỳ, Thư viện SPAFA, Bangkok, Trung tâm Châu á của Quỹ Nhật Bản ( pan Foundation) và Quỹ Ford.

Tới tham dự cuộc hội thảo này có 68 chuyên gia về lĩnh vực Thư viện và Bảo quản, các học giả và các nhà quản lý đến từ 16 quốc gia khác nhau như Mỹ, úc, New Zealand, Canada, Hà Lan, Nhật Bản, Ấn Độ và 9 nước nằm trong khu vực Đông Nam á (riêng Brunei không có đại biểu). Các tham luận chủ yếu tập trung thảo luận về ba vấn đề lớn:

- Vấn đề kỹ thuật,

- Vấn đề quản lý,

- Vấn đề xây dựng chính sách quốc gia và khu vực về bảo quản.

Đoàn Việt Nam có bảy đại biểu tham dự hội thảo này: Ông Phạm Thế Khang - Vụ trưởng Vụ Thư viện, Bộ Văn hóa - Thông tin; Tiến sĩ Dương Văn Khảm - Cục trưởng Cục lưu trữ Quốc gia; ông Ngô Thiếu Hiệu - Giám đốc Trung tâm lưu trữ I ; Thạc sĩ Kiều Văn Hốt - Phó giám đốc Thư viện Quốc gia; Thạc sĩ Nguyễn Thị Bắc - Phó giám đốc Thư viện khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh; Tiến sĩ Nguyễn Quang Đại - Đại học Quốc gia Hà Nội và Thạc sĩ Chu Tuyết Lan - Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Đoàn Việt Nam có ba tham luận được trình bày tại hội thảo, đề cập tới các chủ đề: Đáp ứng một cách có hiệu quả các tiêu chuẩn quốc tế bằng nguồn kinh phí trong nước; Kỹ thuật truy cập mạng thư mục trong nước và quốc tế; Sử dụng có hiệu quả mối quan hệ hợp tác quốc tế trong việc đào tạo và xây dựng các dự án bảo quản. Vấn đề đặt ra tại hội thảo này là đã đến lúc cần phải xây dựng chính sách và chiến lược quốc gia và khu vực về bảo quản ở Việt Nam, để công tác bảo quản thực hiện có hiệu quả hơn, đáp ứng được những chuẩn mực của quốc tế, mục đích kéo dài tuổi thọ của di sản văn hóa khu vực và thế giới.

Sau bốn ngày làm việc sôi nổi và nghiêm túc, hội thảo đã ra Tuyên bố gồm 5 điều khoản và 9 nhiệm vụ cụ thể, sẽ được thực hiện theo các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Điều quan trọng là các chuyên gia và các nhà khoa học tại hội thảo này đã đi đến một kết luận có tính chỉ đạo trong công tác bảo quản, đó là: Cho tới nay Microfilm vẫn được xem là phương tiện chính yếu trong công tác bảo quản nội dung nguồn tài liệu kể cả của thư viện và các cơ quan lưu trữ, với điều kiện là quá trình sản xuất và chế độ kho tàng phải thực hiện đúng theo các tiêu chuẩn quốc tế. Công nghệ mới quét lưu CD có thể là hữu ích cho việc tra cứu và ghi hình, nhưng không thể được xem là phương tiện thay thế cho việc bảo quản bằng Microfilm.

Sau khi đưa ra tuyên bố với nội dung nói trên, hội thảo đã bầu ra một Ban điều hành gồm đại diện của các nước trong khu vực và một Ban chỉ đạo quốc tế gồm các nhà khoa học và các chuyên gia có khả năng điều hành các mảng công việc mà hội thảo đã đề cập tới.

Thạc sĩ Chu Tuyết Lan, Viện Nghiên cứu Hán Nôm vinh dự được bầu là một trong mười thành viên của Ban chỉ đạo quốc tế các vấn đề bảo quản ở khu vực Đông Nam Á.

Hội thảo này thực sự là một diễn đàn bổ ích và cần thiết cho các học giả, các nhà quản lý và các chuyên gia trong khu vực và quốc tế tới để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, đề từ đó đưa ra những phương hướng mới cho những nỗ lực quốc tế trong việc gìn giữ và bảo tồn di sản văn hóa và lịch sử ở khu vực Đông Nam Á.

C.T.L

TB

LỄ KỶ NIỆM 350 NĂM NGÀY SINH DANH NHÂN ĐẶNG ĐÌNH TƯỚNG

Ngày 19 tháng 12 năm 1999, tại nhà bái đường di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Trung tâm hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám và dòng họ Nguyễn vùng Lương Xá - Chương Mỹ- Hà Tây đã tổ chức kỷ niệm 350 năm ngày sinh danh nhân Đặng Đình Tướng (1649 - 1735).

Đặng Đình Tướng người xã Lương Xá huyện Chương Đức, nay thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Năm 22 tuổi ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Trị 8 (1670) đời Lê Huyền Tông. Năm Chính Hòa (1683) được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh. Làm quan đến chức Lại bộ Tả thị lang, đổi làm Trừ tả đô đốc. Làm quan trải các chức Tá lý công thần, Tiền hòa quân dinh, Thái phó, Tham dự triều chính, được ban Quốc lão, về trí sĩ (1719), tước Quận công. Sau lại được vời ra làm Quản trung khuông quân doanh, Đại tư mã, Chưởng phủ sự. Năm 80 tuổi ông lại về trí sĩ, thăng Đại tư đồ, tước ứng quận công. Ông mất năm Ất Mão, niên hiệu Long Đức (1735), thọ 87 tuổi, được phong Phúc thần.

Ông là bậc kỳ cựu trong triều chúa Trịnh, được chúa thân yêu tin cẩn, giữ lễ khác hẳn với các quan. Dòng họ hiển vinh, cháu con phát đạt. Khi Đặng Đình Tướng về trí sĩ, chúa Trịnh đã tặng 2 bài thơ. Ông đã dâng cuốn Thuật cổ qui huấn lục gồm 8 thiên với những điều khuyên răn thiết thực, được chúa Trịnh ban cho thế tử để học tập. Ngoài ra ông còn đề lại tác phẩm Trúc Ông phụng sứ tập.

Các đại biểu và con em dòng họ Nguyễn đã làm lễ dâng hương tưởng nhớ danh nhân Đặng Đình Tướng và đọc những bài tham luận tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của ông.

Các bài tham luận gồm:

1. Cảo thơm lần giở: ứng quận công tài kiêm văn võ - Tiến sĩ Nguyễn Tá Nhí (Viện Nhiên cứu Hán Nôm).

2. Quan chức ngoại giao Đặng Đình Tướng - Tiến sĩ Trương Sĩ Hùng (Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia).

3. Đại tư đồ Quốc lão ứng quận công Đặng Đình Tướng - Đặng Thiêm (dòng họ Nguyễn).

Nguyễn Thị Lan

TB

DANH MỤC SÁCH HÁN NÔM IN TẠI ĐỀN NGỌC SƠN – HÀ NỘI

VƯƠNG THỊ HƯỜNG

Người đời thường hay nói tới một đền Ngọc Sơn thơ mộng với khói hương nghi ngút, một đền Ngọc Sơn với cảnh sắc thiên nhiên hòa quện cùng nhau, tạo ra một cảnh thần tiên nơi trần gian... Nhưng chắc ít ai nghĩ rằng đền Ngọc Sơn đồng thời cũng là một địa chỉ in ấn nổi tiếng vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Cùng với một số nơi khác trong thành Thăng Long - Hà Nội như chùa Châu Long, chùa Báo Quốc, chùa Kim Liên... đền Ngọc Sơn đã có đóng góp rất lớn cho việc truyền bá văn hóa tư tưởng truyền thống qua hoạt động in ấn sách cổ. Trong bài Tìm hiểu nghề in của ta qua kho sách Hán Nôm đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 1 - 1986, các tác giả Mai Hồng - Nguyễn Hữu Mùi có nhắc tới đền Ngọc Sơn cùng số lượng sách đã xuất bản tại đền là 80 cuốn gồm sách về kinh Phật và Đạo giáo. Nhưng qua quá trình tìm hiểu chúng tôi phát hiện số sách được xuất bản ở đây còn lớn hơn rất nhiều. Với bài viết này chúng tôi xin tiếp tục bổ sung danh mục những cuốn sách in tại đền Ngọc Sơn để bạn đọc cùng tham khảo. Và tất nhiên chúng tôi không cho rằng tự mình đã tìm hiểu được hết tất cả các cuốn sách đã in tại đền Ngọc Sơn. Để có một danh mục tác phẩm Hán Nôm in tại đền Ngọc Sơn như dưới đây, chúng tôi đã dựa vào hai cuốn sách chủ yếu là Các đẳng kinh bản Ngọc Sơn thiện thư lược sao mục lục 各 等 經 本 玉 山 善 書 略 抄 目 錄 và Cao vương kinh chú giải 高 王 經 註 解. Cuốn Các đẳng kinh bản Ngọc Sơn thiện thư lược sao mục lục hiện đang được tàng trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu A.1116, chép tay; bìa màu hồng, còn nguyên vẹn, chữ chân đá thảo. Khổ sách 28 x 16cm. Sách có 31 tờ, nhưng từ tờ 15 đến tờ 23 không có chữ. Cuốn này ghi tên các sách được in tại một số chùa ở Hà Nội, Hà Nam, Hải Phòng... trong đó nhắc tới cơ sở in đền Ngọc Sơn của Hà Nội với tên các cuốn sách đã in và các bản khắc gỗ được lưu giữ tại nhà in. Sách này đã được các ông Mai Hồng - Nguyễn Hữu Mùi nhắc đến trong bài viết của mình nhưng có lẽ do tính chất của bài viết nên hai ông chỉ mới nhắc tới tên sách mà chưa dẫn ra các mục lục sách đã in hay ván khắc của cơ sở in Ngọc Sơn. Còn cuốn Cao vương kinh chú giải là một cuốn sách in, hiện cũng đang được tàng trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu AC.438. Sách ghi rõ năm in là “Hoàng Nam Khải Định Kỷ Mùi trùng thuyên” như vậy là sách được tái bản (?) vào năm 1919. Sách khổ 27 x 16cm, gồm 54 tờ: phần chính là 50 tờ chú giải kinh Cao vương; phần sau được tính như phần phụ lục gômd 4 tờ ghi tên các sách đã xuất bản tại đền Ngọc Sơn. Sách còn nguyên vẹn in chân, chữ to, trang đầu in rồng mây rất đẹp. Ngoài ra trong quá trình làm lược thuật sách mới sưu tầm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm chúng tôi còn thấy một cuốn sách khác có tên là Tam giáo tâm pháp. Cuốn này cũng có in mục lục sách in tại đền Ngọc Sơn với nội dung hoàn toàn trùng khớp với bản mục lục in trong cuốn Cao vương kinh chú giải và đồng thời cũng nhắc đến tên Cao vương kinh chú giải như là xuất xứ của bản mục lục in trong Tam giáo tâm pháp. Trong cuốn Cao vương kinh chú giải, ngoài việc nêu tên sách, còn ghi số trang của các cuốn sách ấy. Cuốn Các đẳng kinh bản Ngọc Sơn thiện thư lược sao mục lục, ở phần tên sách chỉ nhắc tới tên sách (mà ít khi ghi số trang); phần những bản khắc gỗ thì nêu cả số ván khắc, độ lớn của ván khắc, số mặt ván khắc và số trang tương ứng. Có những tên sách ở hai cuốn vừa nêu đều trùng nhau (có trường hợp trùng cả số trang, cúng có trường hợp trùng tên nhưng không trùng số trang - điều này theo chúng tôi có lẽ do sách đó được tái bản). Ở cuốn Các đẳng kinh bản Ngọc Sơn thiện thư lược sao mục lục các tên sách không được xếp theo một trật tự nào nhưng ở Cao vương kinh chú giải thì các tên sách được xếp theo trật tự môn loại (Đạo giáo, Y học, Phật giáo...). Bảng mục lục sách của chúng tôi dưới đây không xếp theo trật tự vốn có của sách đã in mà sẽ xếp lại theo trật tự A, B, C... đồng thời ghi số trang (cả số trang khác nhau qua các lần in và số ván, số bộ,... của từng sách để bạn đọc tiện tham khảo). Các kí hiệu dùng trong Bảng danh mục sách của chúng tôi gồm: A: chỉ tên sách được nêu trong bảng mục lục cuốn Cao vương kinh chú giải. B: chỉ phần tên sách được nêu trong cuốn Các đẳng kinh bản Ngọc Sơn thiện thư lược sao mục lục. B’: chỉ phần bản khắc gỗ, trang in tương ứng... của sách được ghi trong cuốn Các đẳng kinh bản Ngọc sơn thiện thư lược sao mục lục. b: số bộ. m: số mặt. tr: số trang. v: số ván.

DANH MỤC SÁCH HÁN NÔM IN TẠI ĐỀN NGỌC SƠN

1. Ám thất đăng 暗 室 燈: A.

2. Ám thất đăng diễn ca 暗 室 燈 演 歌: B.

3. Ám thất đăng giải âm 暗 室 燈 解 音: 1b.38v.1v 1 mặt, 75tr., B’.

4. Âm chất câu tụng 陰 騭 勾 頌: 20tr., B.

5. Âm chất chú chứng 陰 騭 註 證: 63tr., A.

6. Âm chất giải âm 陰 騭 解 音: 1b, 31v, 62tr., B’.

7. Âm chất văn 陰 騭 文: 192tr., A. 19tr., B. 60tr., B’.

8. Âm chất văn chú 陰 騭 文 註: 1b, 108tr., và một bộ khác 112tr., B’.

9. Âm chất văn chú chứng 陰 騭 文 註 證: 1b, 32v, 1v1m, 63tr., B’.

10. Âm chất văn chú thư 陰 騭 文 註 書: 1b, 99v, 8v1m, 190tr., B’.

11. Âm chất văn đại bản 陰 騭 文 大 板: 2v, A.

12. Âm chất văn giải 陰 騭 文 解: 61tr., A.

13. Âm chất thi tiên 陰 騭 詩 箋: 39tr., A.

14. Âm chất văn thi tiên 陰 騭 文 詩 箋: 1b, 20v, 1v1m, 39tr., B’.

15. Âm phù kinh 陰 符 經: 5tr., A.

16. Bản nguyện kinh 本 願 經: 11tr., A.

17. Bản truyện 本 傳: 105tr., A.

18. Bảo huấn tượng chú 寶 訓 像 註: 327tr., A.

19. Bảo phú trục bần văn 保 富 逐 貧 文: 8tr., A.

20. Bảo sinh vĩnh mệnh kinh 保 生 永 命 經: 44tr., A.

21. Bát trận dược phương 八 陣 藥 方: 1b, 53v, 100tr., B’.

22. Cảm ứng công quá lệ chú 感 應 功 過 例 註: 21tr., A.

23. Cảm ứng đồ thuyết 感 應 圖 說: 392tr., A.

24. Cảm ứng hợp hồi cuồng văn 感 應 合 迴 狂 文: 16tr., A.

25. Cảm ứng Quan Âm kinh 感 應 觀 音 經: 20tr., A.

26. Cảm ứng thiên giải âm 感 應 篇 解 音: 1b, 8v, 16tr., B’.

27. Cao Vương kinh 高 王 經: 20tr., A; 1b, 13v, 26tr., B.

28. Cao Vương kinh chú giải 高 王 經 註 解: 50 tr., A.

29. Cát tường hoa 吉 祥 花: 136 tr., A; 1b, 72v, 1m5v, 139tr., B.

30. Cầu phúc tập 求 福 集: 272tr., A.

31. Chất thần lục thượng hạ 質 神 錄 上 下: 85tr., A.

32. Chu Tử tiểu học lược biên 朱 子 小 學 略 編: B.

33. Chứng đạo thành chân 證 道 成 真: 20tr., A.

34. Công quá cách hiệu biên 功 過 格 校 編: 156tr., A.

35. Cổ lục huấn văn 古 錄 訓 文: B.

36. Cung hành tâm sám 躬 行 心 懺: 33tr., A.

37. Cứu kiếp kinh 救 劫 經: 11tr., A.

38. Cứu kiếp chân kinh 救 劫 真 經: 16tr., A.

39. Cứu kiếp độ nhân sám 救 劫 度 人 懺: 16tr. A.

40. Cứu phúc tập 救 福 集: B; 1b, 148v, 20v, 1v1m, 276tr.

41. Diên sinh chứng thánh 延 生 證 聖: 35tr., A.

42. Diện tự kinh 延 嗣 經: 14tr., A.

43. Dục hải bảo huấn 慾 海 寶 訓: 28tr., A.

44. Dược sám 藥 懺 (Nam khoa, Phụ nhân khoa, Nhi khoa, Nhãn khoa), 101tr., A.

45. Đại động chư chú 大 洞 諸 咒: 15tr., A.

46. Đại động thị độc 大 洞 示 讀: 34tr., A.

47. Đại động thượng trung hạ 大 洞 上 中 下: 90tr., A.

48. Đại Nam Quốc ngữ 大 南 國 語: 76tr., A.

49. Đại sinh yếu chỉ 大 生 要 旨: 100tr., A.

50. Đan quế tịch 丹 桂 籍: 242tr., A; 1b, 182v, 5v1m, 369tr., B’.

51. Đào viên giáng bút kinh 桃 園 降 筆 經: 8tr., A.

52. Đào viên minh thánh kinh 桃 園 明 聖 經: 39tr., A; 1b, 20v, 1v1m, 39tr., B’.

53. Đẩu quang cứu kiếp cứu khổ địch phân tứ chú 斗 光 救 劫 救 苦 滌 分 四 咒: 18tr., A.

54. Đẩu quang thần chú 斗 光 神 咒: B.

55. Đạt sinh biên 達 生 編: 39tr., A; 1b, 20v, 1v1m, 41tr., B’.

56. Độc thư cách ngôn 讀 書 格 言: 138tr., A.

57. Giác thế kinh 覺 世 經: (đại bản), B’.

58. Giác thế chân ngôn 覺 世 真 言: 70tr., A.

59. Giác thế tập yếu 覺 世 輯 要: 102tr., A; 1b, 55v, 110tr., B’.

60. Giải kiếp chân kinh 解 劫 真 經: B.

61. Giới dâm 戒 淫: 1v lớn, B’.

62. Giới dâm văn 戒 淫 文: (đại bản), B’.

63. Hành tham quan gia huấn 行 參 官 家 訓: 9tr., A.

64. Hiếu đễ loại biên 孝 悌 類 編: 135tr., A; 1b, 70v, 1v1m, 139tr., B’.

65. Hiếu cáo tâm kinh diễn âm 孝 誥 心 經 演 音:B, 1b, 30v, 26tr., B’.

66. Hiếu cáo nhiêu thế tâm kinh diễn âm 孝 誥 饒 世 心 經 演 音: 1b, 14v, 1v1m, 20tr., B’.

67. Hiếu kinh chính văn 孝 經 正 文: 28tr., A.

68. Hiếu kinh thượng hạ 孝 經 上 下: 140tr., A.

69. Hiếu kinh thích thuyết 孝 經 釋 說: 82tr., A.

70. Hiếu sinh cứu kiếp 孝 經 救 劫: 65tr., A; B.

71. Hiểu thế văn 曉 世 文: (đóng chung với Hiếu cáo tâm kinh), 25tr., A.

72. Hóa thư thượng hạ 化 書 上 下: 119tr., A.

73. Họa phúc phú 禍 福 賦: 1vlớn, B’.

74. Hoàng đình kinh 皇 庭 經: 14tr., A.

75. Hoàng đình kinh chú 皇 庭 經 註: 94tr., A.

76. Hội chân biên 會 真 編: 53tr., A.

77. Huấn thế văn 訓 世 文: 48tr., A.

78. Huyền thiên bảo lục 玄 天 寶 錄: B.

79. Huyền thiên Thượng Đế bảo lục 玄 天 上 帝 寶 錄: 11tr., A; 7v, 14tr., B’

80. Hựu nhất bộ tiêu song thập tắc thượng hạ 又 一 部 蕉 窗 十 則 上 下: 62tr., A.

81. Kim cương kinh chú giải 金 剛 經 註 解: 58tr., A.

82. Kim cương kinh luận 金 剛 經 論: 40tr., A.

83. Kim đơn chủng tử 金 丹 種 子: 22tr., A; B.

84. Kim quang bí chú 金 光 祕 註: 15tr., A.

85. Kinh tịch cách ngôn 經 籍 格 言: 10tr., A; B.

86. Kính táo (đóng chung với Tạp gia huấn 8tr.,) 敬 灶: 20v, 40tr., B.

87. Kính tín lục 敬 信 錄: 174tr., A; 1b, 90v, 13v1m, 167tr., B.

88. Kinh tịch cách ngôn 經 籍 格 言: 10tr., A; B.

89. Kính tích tự chỉ 敬 惜 字 紙: 7tr., A.

90. Kính tổ tông văn 敬 祖 宗 文: 9tr., A.

91. Kính tự (1 ván lớn) 敬 字: B’.

92. Kính tự văn (đại bản) 敬 字 文 大 本: B’.

93. Kính văn (đại bản) 敬 文 大 本: B’.

94. Khai đế huấn cổ lục 開 帝 訓 古 錄: 67tr., B’.

95. Khai tâm chú thích 開 心 咒 釋: 10tr., A.

96. Khải đồng thuyết ước 啟 童 說 約: 45tr., A.

97. Khôn ninh kinh thượng hạ 坤 寧 經 上 下: 44tr., A.

98. Khổng thị tam xuất biện 孔 氏 三 出 辨: 12tr., A; B.

99. Khuê môn công quá cách 閨 門 功 過 格: 81tr., A.

100. Khuyến hiếu 勸 孝: 1vlớn, B’.

101. Khuyến hiếu giới dâm 勸 孝 戒 淫: 31tr., A.

102. Khuyến hiếu văn 勸 孝 文: 1 ván lớn, B’.

103. Khuyến hiếu thập bát điều 勸 孝 十 八 條: 22tr., A.

104. Khuyết lí 闕 里: B.

105. Khuyết lí toàn bộ 闕 里 全 部: 612tr., A.

106. Khuyến trừng thiết yếu 勸 懲 切 要: 68tr., A; 35v, 70tr., B’.

107. Lã Tổ công quá cách 呂 祖 功 過 格: B.

108. Lã Tổ hiếu cáo tâm kinh 呂 祖 孝 誥 心 經: 25tr., A.

109. Lã Tổ khuyến cáo giới dâm 呂 祖 勸 誥 戒 淫: 31tr., A.

110. Lã Tổ dược sám 呂 祖 藥 懺: 1b, 51v, 102tr., B’.

111. Lã Tổ phân loại công quá 呂 祖 分 類 功 過: 1b, 32v, 64tr., B’.

112. Lã Tổ tỉnh tâm kinh 呂 祖 醒 心 經: B.

113. Lã Tổ toàn thư (50 quyển) 呂 祖 全 書: 13v, 3v1m, 23tr., B’.

114. Loạn chánh táo thần kinh văn 亂 正 燥 神 經 文: 42tr., A.

115. Lộc tự bí quyết 祿 嗣 祕 訣: 22tr., A.

116. Ma nhai kỉ công văn 磨 崖 紀 功 文: chữ thảo, 20 bản, A.

117. Minh thánh kinh (bản khắc lại) 明 聖 經: 66tr., A; B.

118. Minh thánh kinh chú giải 明 聖 經 註 解: 78tr., A.

119. Minh thánh kinh chú thích 明 聖 經 註 釋: (khắc năm Tân Tị và Kỉ Sửu), 1b, 46v, 8v1m, 84tr., B’.

120. Minh thánh kinh đại bản 明 聖 經 大 本: 1 bản. B’.

121. Nam bắc đẩu kinh 南 北 斗 經: 22tr., A; B; 1b, 11v, 22tr.

122. Ngọc cục tâm sám 玉 局 心 懺: 31tr., A.

123. Ngọc hoàng bản hạnh kinh sám 玉 皇 本 行 經 懺: 140tr., A.

124. Ngọc hoàng bảo sám cốt tủy 玉 皇 寶 懺 骨 髓: 61tr., A; B; 61tr., B’.

125. Ngọc hoàng cứu kiếp 玉 皇 救 劫: 1b, 25v, 30tr., B’.

126. Ngọc hoàng cứu kiếp kinh 玉 皇 救 劫 經: 29tr., A; B.

127. Ngọc hoàng tâm ấn diệu kinh 玉 皇 心 印 妙 經: 67tr., A.

128. Ngọc lịch chí bảo 玉 曆 至 寶: 109tr., A.

129. Ngọc xu bảo kinh 玉 樞 寶 經: 27tr., A; B.

130. Ngộ táo thần kí 遇 燥 神 記: 3tr., A.

131. Ngộ táo thần truyện 遇 燥 神 傳: B.

132. Ngũ điện Diêm La thiên tử 五 殿 閻 羅 天 子: 54tr., A.

133. Ngũ luận kỉ 五 論 紀: 12tr., A; B.

134. Nguyên thủy thiên vương 元 始 天 王: 1b, 11v, 2v1m, 20tr., B’.

135. Nguyên thủy tân kinh thượng phẩm 元 始 新 經 上 品: 20tr., A.

136. Ngữ lục hội túy 語 錄 會 粹: 75tr., A.

137. Nha yên đoạn ẩn kì phương 鴉 煙 斷 癮 奇 方: 1tr., A.

138. Nhất vô độ nhân sám 一 無 度 人 懺: 22tr., A.

139. Nhật nguyệt đồ 日 月 圖: 1vlớn, B’.

140. Nhị đế linh sám 二 帝 靈 懺: 2b, 70v, 140tr., B’.

141. Nhị đế cứu kiếp chân kinh 二 帝 救 劫 真 經: 43tr., (2 bộ), A; B.

142. Nhị đế huấn sĩ tử văn (phụ Tự điển gần 5tr.) 二 帝 訓 士 子 文: 1b, 14v, 28tr., B’.

143. Nho đạo đồng nguyên 儒 道 同 源: 17tr., A.

144. Phản tính đồ 返 性 圖: 68tr., A; 588tr., B; 305v, 20v1m, 610tr.

145. Phản tính đồ giải âm 返 性 圖 解 音: 1b, 16v, 2v1m, 30tr., B’.

146. Phật thuyết giải kiếp pháp 佛 說 解 劫 法: 18tr., A.

147. Phật thuyết thọ sinh kinh 佛 說 壽 生 經: 6tr., A.

148. Phật thuyết tiêu tai diên thọ 佛 說 消 災 延 壽: 10tr., A.

149. Phổ độ tế lương phương 普 度 濟 良 方: 120tr., A.

150. Phổ môn kinh 普 門 經: 1b, 9v, 18tr., B’.

151. Phổ môn cứu khổ kinh 普 門 救 苦 經: 25tr., A.

152. Phổ tế lương phương 普 濟 良 方: 120tr., A.

153. Phu hựu Đế Quân chân kinh 孚 佑 帝 君 真 經: 1b, 16v, 32tr., B’.

154. Phụ lục nghệ văn 附 錄 藝 文: 56tr., A.

155. Phúc báo chỉ nam 福 報 旨 南: 38tr., A.

156. Phúc Điền ngôn hành lục 福 田 言 行 錄: 48tr., A.

157. Phụng thánh 奉 聖 (đóng chung với Giải kiếp pháp tịnh cứu sản cứu nhãn phù chú): 1b, 5v, 18tr., B’.

158. Phụng thánh giải kiếp pháp 奉 聖 解 劫 法: B.

159. Phượng Sơn từ chí lược 鳳 山 祠 誌 略: 52tr., A.

160. Quan Âm giải kiếp chân kinh 觀 音 解 劫 真 經: 6tr., A.

161. Quan Âm tân kinh chân giải 觀 音 新 經 真 解: 50tr., A.

162. Quan Âm tế độ bản nguyện 觀 音 濟 渡 本 願: 1b, 65v, 2v1m, 128tr.

163. Quan Âm tế độ kinh 觀 音 濟 渡 經: 127tr., A.

164. Quan Đế bảo huấn 關 帝 寶 訓: 1b, 4 quyển, 176v, 30v1m, 322tr., B’.

165. Quan Đế bảo huấn tú tượng 關 帝 寶 訓 繡 像: B.

166. Quan Đế bảo văn (1 bản lớn) 關 帝 寶 文: B’.

167. Quan Đế cảnh thế văn 關 帝 警 世 文: 12tr., A; B.

168. Quan Đế cứu kiếp bảo huấn 關 帝 救 劫 寶 訓: 28tr., A.

169. Quan Đế huấn cổ lục 關 帝 訓 古 錄: 67tr., B’.

170. Quan Đế khuyến hiếu (18 điều) 關 帝 勸 孝: 32tr., A.

171. Quan Thánh linh tàng 關 聖 靈 藏: 100b, B.

172. Quan Thánh thùy huấn bảo văn 關 聖 垂 訓 寶 文: 1b, 36v, 1v1m, 71tr., B’.

173. Quảng hóa chân kinh 廣 化 真 經: 48tr.m A.

174. Quảng tuệ siêu kiếp 廣 慧 超 劫: 50tr., A.

175. Quế cung tích tự văn 桂 宮 惜 字 文: 46tr., A; 1b, 27v, 53tr., B’.

176. Quần chân thoại 群 真 話: 15tr., A.

177. Quần ngôn hội túy 群 言 會 粹: 23tr., A.

178. Sắc viễn phú (đại bản) 色 遠 賦: B’.

179. Tam cung kinh 三 宮 經: 19tr., A; 1b, 10v, 1v1m, 19tr., B’.

180. Táo quân ca 灶 君 歌: 3tr., A.

181. Táo thần linh sám 灶 神 靈 懺: 1b, 20v, 4v1m, 36tr., B’.

182. Táo thần lục tĩnh ý kí 灶 神 錄 淨 意 記: 18tr., A.

183. Táo Vương kinh 灶 王 經: 30tr., A; 1b, 19v, 34tr., B’.

184. Táo Vương linh sám 灶 王 靈 懺: 37tr., A.

185. Tang thương lục 桑 滄 錄: 114tr., A.

186. Tân phương bát trận 新 方 八 陣: 100tr., A.

187. Thái dương Thái âm kinh 太 陽 太 陰 經: 5tr., A.

188. Thái dương cảm ứng thiên 太 陽 感 應 篇: 20tr., A.

189. Thái thượng cảm ứng đồ thuyết 太 上 感 應 圖 說: B.

190. Thái thượng cảm ứng giải âm 太 上 感 應 解 陰 (trang 1 là Văn Xương âm chất): 1b, 4v, 8tr., B’.

191. Thái thượng cảm ứng tập chú 太 上 感 應 集 註: 115tr., A.

192. Thái thượng thanh tĩnh kinh 太 上 清 靜 經: 56tr., A.

193. Thanh tĩnh pháp trình 清 靜 法 程: 20tr., A.

194. Thanh tĩnh pháp yếu 清 靜 法 要: 11tr., A.

195. Thánh cáo 聖 誥: 6tr., A.

196. Thánh dụ thập điều 聖 諭 十 條: 27tr., A.

197. Thánh dụ thập điều diễn nghĩa ca 聖 諭 十 條 演 義 歌: B.

198. Thánh đế giác thế (đại bản) 聖 帝 覺 世: B’.

199. Thánh huấn thượng trung hạ 聖 訓 上 中 下: 100tr., A.

200. Thánh Mẫu tỉnh mê phú 聖 母 醒 迷 賦: 7tr., A.

201. Thánh quyến 聖 眷: 6tr., A.

202. Thần hóa kim sách 神 化 金 冊: 42tr., A.

203. Thập giới thập hành 十 戒 十 行: 25tr., A.

204. Thập hạnh thùy huấn 十 行 垂 訓: B.

205. Thế truyền bảo huấn 世 傳 寶 訓: 102tr., A.

206. Thiên Hậu thánh mẫu kinh 天 后 聖 母 經: 26tr., A.

207. Tiêu kiếp bảo sám 消 劫 寶 懺: B.

208. Tiểu học lược biên 小 學 略 編: 150tr., A.

209. Tỉnh tâm kinh 醒 心 經: 48tr., A.

210. Tỉnh y lục thư 醒 醫 六 書: 112tr., A.

211. Toại sinh phúc ấu 遂 生 福 幼: 50tr., A; 1b, 28v, 3v1m, 53tr.

212. Trị gia cách ngôn 治 家 格 言: B.

213. Trị gia cách ngôn bài luật 治 家 格 言 排 律: 44tr., A.

214. Trị ôn lục thượng hạ 治 瘟 錄 上 下: 36tr., A.

215. Trung hiếu cáo 忠 孝 誥: 78tr., A.

216. Trung kinh 忠 經: 11tr., A.

217. Trùng san minh thánh kinh (in lại năm Đinh Mùi) 重 刊 明 聖 經: 1b, 23v, 46tr., B’.

218. Truyền gia chí bảo 傳 家 至 寶: 117tr., A; B.

219. Tu chân tiên sám 修 真 仙 懺: 32tr., A.

220. Tứ thập bát hiếu thi thư 四 十 八 孝 詩 書: 55tr., A; B; 5bản lớn, B’.

221. Tử Dương lục thượng trung hạ 紫 陽 錄 上 中 下: 81tr., A.

222. Uyên giám loại hàm lược biên 淵 鑑 類 函 略 編: 534tr., A.

223. ứng nghiệm kinh 應 驗 經: 5tr., A.

224. Vãng sinh tiền ân lệ 往 生 錢 恩 例: 15tr., A.

225. Văn Đế cứu kiếp chân kinh 文 帝 救 劫 真 經: 13tr., A.

226. Văn Đế giải kiếp chân kinh chính văn 文 帝 解 劫 真 經 正 文: 1b, 9v, 18tr., B’.

227. Văn Đế giải ách sám 文 帝 解 厄 懺: B.

228. Văn Đế linh sám 文 帝 靈 懺: 6004 quẻ, A.

229. Văn Đế thực lục 文 帝 實 錄: 51tr., A.

230. Văn Đế toàn thư 文 帝 全 書: B; 1b, B’.

231. Văn Võ cứu kiếp diễn ca 文 武 救 劫 演 歌: 1b, 23v, 1v1m, 43tr.

232. Văn Võ nhị đế cứu kiếp chân kinh (diễn nghĩa ca) 文 武 二 帝 救 劫 真 經: 1b, 25v (phụ lục có phần Đại động lục), 22tr., B’.

233. Văn Xương Đế Quân giải ách thất sám 文 昌 帝 君 解 厄 室 懺: 1b, 16v, 32tr., B’.

234. Văn Xương giải ách bảo sám 文 昌 解 厄 寶 懺: 32tr., A.

235. Văn Xương tâm sám 文 昌 心 懺: 33tr., A.

236. Vệ sinh bảo giám 衛 生 寶 鑑: 33tr., A.

237. Vi tín lục thượng hạ 微 信 錄 上 下: 72tr., A.

238. Viễn sắc phú (1 ván lớn) 遠 色 賦: B’.

239. Vô cực bảo sám 無 極 寶 懺: 57tr., A.

240. Vương mẫu cứu kiếp chân kinh 王 母 救 劫 真 經: 17tr., A.

241. Vương Mẫu tiêu kiếp bảo sám 王 母 消 劫 寶 懺: 16tr., A; 1b, 8v, 60 tr., B’.

242. Vương Thiên Quân phá đảm kinh 王 天 君 破 膽 經: 14tr., A.

TB

RỪNG BIA TÂY AN (TRUNG QUỐC)

HOÀNG HOA

Rừng bia - âm Hán Việt là “ Bi lâm”, dùng để chỉ nơi bia đá được dựng nhiều như rừng. Tại Trung Quốc có rất nhiều rừng bia như vậy: rừng bia Tây An ở Thiểm Tây; rừng bia Khổng miếu ở Khúc Phụ, Sơn Đông; rừng bia Địa Chấn ở Tây Xương, Tứ Xuyên; và rừng bia Nam Môn ở Cao Hùng, Đài Loan. Đây là bốn rừng bia tiêu biểu nhất, được gọi là “Trung Quốc tứ đại bi lâm”. Trong đó, nơi có qui mô lớn nhất, lưu giữ được nhiều bia nhất phải kể là Tây An.

Rừng bia Tây An nằm ở góc Tây Nam thành Tây An tỉnh Thiểm Tây ngày nay. Nơi đây nguyên là miếu Khổng Tử của Quốc tử giám Kinh thành Trường An đời Đường. Đến đời Tống, niên hiệu Nguyên Hựu thứ 5 (1090), vì thấy đây là nơi lưu giữ bộ Khai thành thạch kinh và một số bia đá đời Đường, nên người ta có ý định đưa bia đá từ các nước khác về tập trung tại đây. Kể từ đó rừng bia Tây An bắt đầu hình thành. Từ đời Tống trở về sau, các triều đại Nguyên, Minh, Thanh đều đưa thêm bia đá về đây, đồng thời nhiều lần tiến hành xây dựng tu sửa, khiến rừng bia Tây An có được qui mô như hiện thấy, gồm hơn 1.170 tấm bia đá các loại, được phân bổ trong 6 nhà bia, 6 hành lang và 1 “bi đình”.

Tại rừng bia Tây An, nơi phải kể đến trước tiên là “bi đình”. “Bi đình” là 1 ngôi đình hình tứ giác, có kiến trúc đẹp ở mặt trước, trên cao có treo 1 tấm hoành phi đề hai chữ “Bi lâm”. Chính giữa ngôi đình dựng tấm bia Thạch đài Hiếu kinh bi hình cột vuông, một kiểu bia hiếm thấy ở Trung Quốc. Hiếu kinh là một bộ trước tác kinh điển nhằm đề cao tư tưởng Nho gia, được tất cả các vương triều phong kiến Trung Quốc coi trọng. Vào đời Đường, niên hiệu Thiên Bảo thứ 4 (745) Đường Huyền Tông Lý Long Cơ đã nghiên cứu, chú thích và viết lời tựa cho bộ kinh điển này. Sau đó, lời tựa do chính nhà vua tự thân viết chữ đã được khắc lên bia cùng với kinh văn Hiếu kinh. Chữ Thạch đài Hiếu kinh bi trên trán bia là do Hoàng thái tử Lý Hanh (ĐườngTúc Tông) viết. Toàn bộ thân bia gồm 4 tấm bia đá lớn ghép lại thành một cột bia vuông 4 mặt, cao 5,10m; đặt trên một bệ đá 3 tầng.

Trong nhà bia thứ nhất có 114 tấm bia được xếp hàng ngay ngắn, gồm 228 mặt bia với tổng số 650.252 chữ. Đây là bộ tùng thư nặng nhất thế giới, đồng thời nó cũng được coi là kho sách bằng chất liệu đá cổ kính nhất thế giới - đó chính là bộ Khai thành thạch kinh. Bộ Khai thành thạch kinh này được ra đời bởi sự kiện Đường Văn Tông Lý Ngang, vào năm 832 đã lệnh cho Quốc tử giám Tế tửu Trịnh Đàm cùng các đồng sự khám định 12 bộ kinh sách là Chu Dịch, Thượng Thư, Mao Thi, Chu Lễ, Nghi lễ, Lễ ký, Xuân thu Tả thị truyện, Xuân thu Công Dương truyện, Xuân thu Cốc Lương truyện, Hiếu kinh, Luận ngữ và Nhĩ nhã, rồi cho khắc lên đá để làm khuôn mẫu cho mọi người sao truyền học tập. Công trình vĩ đại này kéo dài suốt 5 năm, đến niên hiệu Khai Thành thứ 2 (837) đời nhà Đường mới hoàn tất và từ đó, nó đã được bảo tồn hoàn hảo đến tận ngày nay.

ở nhà bia tiếp theo có trưng bày tấm bia Đại Tần Cảnh giáo lưu hành Trung Quốc bi nổi tiếng. Tấm bia này được phát hiện vào niên đại Thiên Khải thứ 3 (1623) đời Minh ở huyện Chu Trí, tỉnh Thiểm Tây. Đây là tấm bia ghi lại tình hình truyền bá đạo Cơ Đốc vào Trung Quốc ở đời Đường. “Đại Tần”, chỉ đế quốc Đông La Mã; “Cảnh giáo” là một giáo phái của đạo Cơ Đốc, theo cách gọi của người Trung Quốc. Vào niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường, Cảnh giáo được du nhập vào Trung Quốc, sau đó không bao lâu, theo lệnh của Đường Thái Tông, một ngôi chùa Đại Tần đã được dựng lên tại Kinh đô Trường An. Đến niên hiệu Đức Tông (781), một vị Giáo sĩ tên là Cảnh Tịnh đã soạn văn bia chùa Đại Tần, sau đó Lã Thúc Nam viết chữ để khắc bia. Nội dung bia tường thuật tỉ mỉ vị trí địa lý của nước Đông La Mã, điều kiện tự nhiên và sản vật phong phú của quốc gia này cùng ý nghĩa của giáo lý Cảnh giáo, các phép tắc và quá trình truyền bá Cảnh giáo vào Trung Quốc. Đồng thời lại còn ghi lại sự coi trọng và ưu đãi đối với Cảnh giáo của các đời vua Thái Tông, Cao Tông, Huyền Tông và Túc Tông nhà Đường. Hai mặt bên của bia nhắc tên 70 vị Giáo sĩ Cảnh giáo bằng văn tự Sôlia (?). Đây là tư liệu rất quí giúp cho việc nghiên cứu lịch sử giao lưu văn hóa và tôn giáo trong ngoài nước của Trung Quốc thời xưa. Đến đời Đường Vũ Tông, niên hiệu Hội Xương thứ 5 (845) có cuộc phá hủy với qui mô lớn các đền miếu chùa Phật trong cả nước, chùa Đại Tần cũng không thoát khỏi tai họa này, bia Đại Tần cũng mất tích luôn từ đó. 700 năm sau tấm bia này mới được tìm thấy. Sau đó thác bản bia được lưu truyền đến Châu Âu. Khi văn bia được dịch ra tiếng La tinh, lập tức nó đã làm xôn xao dư luận trong giới nghiên cứu lịch sử, văn hóa và tôn giáo ở Châu Âu. Đời nhà Thanh, niên hiệu Quang Tự thứ 33 (1907), một người Đan Mạch vâng lệnh đến Tây An, định dùng 3.000 lạng bạc để mua lại tấm bia này nhưng đã không được nhà Thanh đồng ý. Ông ta đành thuê người phục chế rồi cho chở về Châu Âu. Về sau các nước Mỹ, Nhật cũng đã cho người đến xin phục chế tấm bia này để đưa về nước.

Trong nhà bia này còn có tấm bia Minh đức thu kí nói về cuộc khởi nghĩa nông dân thời Minh. Trên bia ghi rõ lãnh tụ của nghĩa quân là Lý Tự Thành và việc xây dựng nước Đại Thuận với chính quyền nông dân của ông. Đồng thời tấm bia còn phản ánh tình hình cuộc sống bi đát của Kinh đô Trường An đương thời với những dòng như: “Tiểu mạch mỗi đấu 2 lạng 4 tiền; gạo mỗi đấu 2 lạng 6 tiền” và “Người ăn thịt người, chó cũng ăn thịt người”. Đây là những tư liệu chuẩn xác phản ánh nguyên nhân làm bùng nổ những cuộc khởi nghĩa nông dân thời đó ở Trung Quốc.

Nhà bia thứ ba có thể xem như một bảo tàng về nghệ thuật thư pháp. Nơi đây, ta bắt gặp tác phẩm của hầu hết các nhà thư pháp nổi tiếng Trung Quốc. Về lối Triện thư có bia Phong Sơn bi của Lý Tư đời Tần. Chữ trên bia là thể chữ qui phạm, được sử dụng sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc - gọi là chữ Tiểu triện. Lối chữ này có kết cấu cân xứng, nét chữ ngay ngắn. Về lối Lệ thư có bia Tào Toàn đời Hán, chữ trên bia viết thoáng, đẹp, công phu. Bia Tư Mã Phương đời Tấn được viết bằng kiểu chữ đầy đặn, cứng cáp, là thể chữ dùng trong giai đoạn quá độ từ Lệ thư chuyển sang Hành thư. Về lối Khải thư có bia Đường Đại Đạt Pháp sư huyền bí tháp bi do Liễu Công Quyền đời Đường viết. Liễu Công Quyền là học trò Nhan Chân Khanh, song ông đã không rập khuôn theo lối viết của Nhan mà sáng tạo ra lối chữ góc cạnh trang nghiêm, thường được gọi là lối chữ Nhan cân Liễu cốt. Còn tấm bia Hoàng Phủ đản bi do Âu Dương Tuần đời Đường viết cũng theo lối Khải thư, nhưng lại có phong cách khác hẳn. Thể chữ trên bia này khỏe khoắn, phóng khoáng, hết sức thanh tân. Về Thảo thư có bia Phán thiên gia tự văn của Trương Húc, có lối viết tung hoành nhưng lại rất tinh tế, nghiêm ngặt, sảng khoái tràn trề, đẹp tựa phượng múa rồng bay. Bia Đại Đường Tam Tạng Thánh giáo tự bi được viết theo lối Hành thư, là tấm bia được tôn xưng là “Thiên cổ kì trân”. Bia này do nhà sư Hoài Nhân người Đời Đường, trụ trì chùa Hoằng Phúc tại Kinh đô Trường An chọn lựa các kiểu chữ của Vương Hy Chi ghép lại mà thành. Vương Hy Chi là người Đông Tấn, nghệ thuật thư pháp của ông đạt đến mức trác tuyệt, được người đời tôn xưng là “Thư thánh”. Lối chữ Hành thư của ông là phối hợp giữa Thảo thư với Khải thư. Để có được tấm bia này, Hoài Nhân đã phải cùng rất nhiều đệ tử đem vàng đổi lấy chữ của Vương Hy Chi, “nhất kim hoán nhất tự”, ròng ra suốt 20 năm gian khổ sưu tầm mới xong. Về sau người ta gọi tấm bia đó là “Thiên kim bi” (Bia nghìn vàng).

Tại những nhà bia khác và khu vực hành lang còn có rất nhiều bia của các đời Tống, Nguyên, Thanh, khắc ghi lại sự tích và công đức trong việc dựng chùa, sửa miếu, khai phá ruộng đất, đắp kè, xây thành... cùng các tác phẩm thơ văn của các đời. Chẳng hạn như bia Du Thiên Quan Sơn thi với chữ viết của Triệu Mạnh Phủ thời Nguyên. Bia Mạt Lăng Trương Xá tống Cối Kê Chương Sinh thi với chữ của Đổng Kỳ Xương đời Minh. Hay những tấm bia đời Thanh như Tứ Ngô Hanh thư của Hoàng đế Khang Hy và Du Hoa Sơn thi của Lâm Tắc Từ v.v.

SÁCH THAM KHẢO

1. Trung Quốc cổ đại văn hóa sử, Bắc Kinh Đại học xuất bản xã, Bắc Kinh 1996.

2. Trung Quốc lịch đại danh đề, Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh 1998.

3. Thiểm Tây phong vật thú sự, Thiểm Tây lữ du xuất bản xã, Thiểm Tây 1991.

4. Từ nguyên: Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh 1997.