 |

Do vậy, khảo sát các bản dịch Tình sử có thể giúp tìm lại được các dịch bản Quốc ngữ rất sớm của Tiễn đăng tân thoại ở ta.
Các bản dịch Việt ngữ "Tình sử"
Một khảo sát sơ bộ cho thấy, ngoài bản Tình sử của Phan Mạnh Danh, còn có các dịch bản khác của Phan Kế Bính, Lê Thạch Lân, Nguyễn Quang Oánh, Ngô Văn Triện, Ngô Tất Tố, và Phan Thế Roanh.
- Phan Kế Bính dịch Tình sử, đăng tải trên Đông Dương tạp chí.(16) Lục tỉnh tân văn cũng khởi sự đăng bản dịch Việt ngữ Tân tình sử của Lê Thạch Lân trong năm 1915(17).
- Bản của Nguyễn Quang Oánh phân thành hai quyển, do nhà Vĩnh Hưng Long ở Hà Nội xuất bản lần lượt trong hai năm 1928 và 1931(18).
- Liên tiếp trong hai tháng 8 và 9 năm 1940, Trúc Khê Ngô Văn Triện công bố bản dịch Tình sử phân làm hai quyển, đăng trên Phổ thông bán nguyệt san (số 65 và 66). Việc dịch Tình sử đã gợi hứng cho ông soạn tiếp bộ Tình sử Việt Nam (Phổ thông bán nguyệt san , số 80, 1/4/1941). Trong bài tựa cho bản dịch Tình sử viết vào tháng 9 năm 1939, Trúc Khê tự nhận mình là Tình sử quán tổng tài, và cũng chính nhờ lời tựa Tình sử Việt Nam mà người đọc biết được động cơ dịch thuật và biên soạn của ông: Tình là cái nguyên tố sống còn của xã hội, là cái then chốt hoạt động của nhiều công việc trong xã hội, bởi vậy người Tàu họ đã đem nó mà chép nên thành sử... Như vậy thì biên chép những câu chuyện tình bởi cả những cành lá của nó, có khi cũng chính là biên chép những trạng thái sinh hoạt, biến thiên, tiến hóa của một xã hội, có thể bổ ích cho một vài phương diện của sử học; ấy là chưa kể nếu người khéo chép, còn có thể dùng tình làm những tấm gương giáp giới, giúp ích cho thế đạo nhân tâm... Nhân đọc bộ Tình sử của Tàu, một hôm tôi bỗng nảy ra một ý nghĩ: Giá trong làng trước thuật nước mình cũng có người sẽ viết ra một bộ sách hay hay như thế. Rồi trong khi mong ước mà chưa thấy có, tôi bất giác không tự lượng mình học ít, tài mọn, cầm bút thử viết bộ Tình sử Việt Nam(19).
Truyện “Phù Lệ Khanh” chính là “Mẫu đơn đăng ký” của Cù Hựu(20).
- Năm 1940 [?], Ngô Tất Tố xuất bản tập Thơ và tình, gồm các truyện dịch từ Tình sử, trong đó có truyện Vương sinh/ Vị đường kỳ ngộ ký dưới tiêu đề Nhân duyên trong mộng có gốc từ Tiễn đăng tân thoại(21).
- Năm 1941, Phan Thế Roanh đề đạt việc biên soạn một bộ điển cố văn học với thân phụ Phan Mạnh Danh, và Tình sử lại được dùng như một trong những nguồn văn liệu chủ yếu. Bộ Điển cố xuất bản năm 1953 có nêu 9 truyện được dịch từ Tình sử(22).
Xét trong trào lưu văn học thời ấy, việc dịch Tình sử không chỉ là một hồi cố lãng mạn về quá khứ, mà còn là nguồn cảm hứng nhân văn, nhắc nhớ những bài học lịch sử, đạo đức, hướng thiện. Cảm hứng này đưa đến việc biên soạn Tình sử Việt Nam: lịch sử dân tộc được ôn cố để mà tri tân.
Tình sử thường báo cho người đọc biết xuất xứ của các chuyện trong hợp tập này. Có lẽ chính dựa vào đấy mà Ngô Tất Tố đã chú thêm về nguyên gốc của Nhân duyên trong mộng: “trích ở Tiễn đăng tân thoại.”(23)
Thay phần kết luận
Với sự phổ cập chữ Quốc ngữ, độc giả Việt Nam ở đầu thế kỷ 20 có dịp thưởng thức văn chương Trung Hoa qua bản dịch Việt ngữ, cùng lúc với sự tiếp nhận một trào lưu văn học khác, đến từ phương Tây. Nhiều tác phẩm văn học Trung Quốc tưởng như đã thất truyền hoàn toàn ở Việt Nam, nay lại “tái hồi” với người đọc trong những diện mạo mới. Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu là một ví dụ. Tình sử và tiểu thuyết của Từ Chẩm á được dịch, ngỡ như cùng hòa điệu với giòng chảy lãng mạn từ Tây phương lan đến. Để hiểu thêm việc lưu hành tiểu thuyết Trung Hoa trong thời kỳ này, tưởng cũng nên đọc lại một vài ghi nhận của Thúc Ngọc Trần Văn Giáp về tình hình dịch thuật buổi ấy: “Từ ngày có chữ Quốc ngữ, thật là một vật báu cho ta (...) Các cụ Nho ở Nam Kỳ còn sót lại hồi ấy, tự cho mình là không thích hợp với phong trào Thái tây, mà kể ra cũng trái mùa thật. Hoặc vì sinh kế, hoặc vì buồn không có việc, đem các tiểu thuyết Tàu dịch ra Quốc ngữ; các nhà xuất bản lợi dụng đem in ra để trục lợi. Rồi từ đó ở Nam Kỳ lan ra đến Bắc (...) Hồi đó Quốc ngữ gọi là phổ thông nên các thanh niên mê thích tiểu thuyết Tàu lắm, các thanh niên hồi đó mê thích truyện Tàu không khác gì các thanh niên hiện thời mê thích Cinéma (...) Đến hồi bãi bỏ khoa cử ở Bắc Kỳ thì trào lưu truyện Nam Kỳ cũng theo đó mà kém dần đi. Các văn sĩ Hán học ở Bắc lúc bấy giờ vô sự cũng lại xoay ra dịch truyện Tàu, phần thì bán cho các nhà xuất bản trục lợi, phần thì bán cho các nhà nhật trình in vào phụ trương(24).
Cùng với bài tựa Tình sử Việt Nam của Trúc Khê đã dẫn ở trên, ghi chép vắn tắt này giúp người đọc hiểu thêm các động lực trong việc dịch và giới thiệu tiểu thuyết Trung Hoa ở Việt Nam vào thời ấy.
Phụ lục NHÂN DUYÊN TRONG MỘNG(25)
Cù Hựu
Trong đời Chí Thuận nhà Nguyên(26) ở Kim Lăng có chàng thiếu niên tên là Vương Sinh, vốn là dòng dõi trâm anh, người rất đẹp, mặt trắng như ngọc, đôi mắt lóng lánh như làn nước thu, anh em bè bạn vẫn gọi là chàng Kỳ Tuấn họ Vương.
Năm chàng đã hai mươi tuổi, vẫn chưa lấy vợ. Bởi nhà có ruộng ở vùng Tòng Giang, cho nên năm ấy chàng phải đến đó thu thuế. Lúc về, thuyền qua khúc sông Vị Đường, thấy trên sông có ngôi hàng rượu mới mở, ngọn cờ chiêu bài phấp phới bay trên mái nhà, trong hàng, nào câu lơn sơn son, nào hành lang khuất khúc, qui mô rất lịch sự, trước hàng, mấy cây hoa hòe, liễu cổ thụ, cành nhánh rườm ra, lá vàng lác đác rụng đầy mặt đất, ngoài đó, lại có chừng hơn mười cây phù dung, hoặc màu hồng, hoặc màu thắm, bóng hoa chiếu xuống mặt nước đỏ ối; rồi ở dưới nước một đàn bạch nga, thi nhau bơi hụp lả lơi. Cao hứng chàng bèn đậu thuyền vào hàng uống rượu. Bàn rượu, có cua to mai, có gỏi cá mè nhỏ vẩy, lại có các thứ quả lạ, như là: quýt xanh, chanh vàng, ngó sen Liên trì, hạt dẻ Tòng pha v.v. Bằng chén sứ hoa, chàng rót rượu trân châu, ngất ngưởng vừa uống, vừa ngắm phong cảnh.
Chủ quán cũng là nhà giàu, có người con gái mới mười tám tuổi, rất thạo âm nhạc và có biết chữ, thái độ khác hẳn người thường. Thấy chàng uống rượu, nàng cứ luôn luôn đứng ở trong màn nhòm ra, khi lộ nửa mặt, khi thì lộ cả toàn thân, đi rồi lại lại hình như không thể dứt tình.
Chàng cũng luôn luôn liếc mắt nhìn nàng, nhưng không dám nói một câu nào cả.
Tan cuộc rượu, chàng ngậm ngùi xuống thuyền, bây giờ người chàng tự nhiên thơ thẩn, như mới đánh mất cái gì.
Đêm ấy, chàng nằm chiêm bao thấy mình lại tới hàng đó, qua mấy lần gác, vào thẳng sau nhà mới đến chỗ ở của người con gái. Chỗ ấy chỉ là một tòa nhà nhỏ, trước nhà có giàn nho chín, dưới giàn nho có cái bể nhỏ xây bằng đá hoa, trong bể nuôi toàn cá vàng. Hai bên đầu bể có hai cây cối, bóng mát um tùm. Ngoài tường có đắp ba ngọn núi giả, mỗi ngọn có trồng một cây trắc bách, màu lá xanh biếc. Trong nhà, ở trước cửa sổ treo một chiếc lồng sơn son, một con vẹt xanh đậu trên cầu lồng, thấy người vui vẻ chào hỏi. Dưới nhà có bày đôi hạc bằng đồng, nén hương cắm ở mỏ hạc khói đương bốc lên nghi ngút. Giữa nhà có chiếc án thư, trên án bày đôi lọ đồng rất cổ, mỗi lọ cắm vài cái lông công. Giữa án để chiếc nghiên mực và chiếc ống bút, lại có cái giá gác một cây sáo bích ngọc. Trong vách có treo một bộ tứ bình nền vàng hoa đỏ, và có đề thơ, nét chữ rất tốt. Nhìn kỹ là những bài tả cảnh tứ thời, chàng có nhớ được mấy bài sau đây(27):
Gió đưa, hoa rụng, cây rơi tuyết,
Cành liễu véo von chim bách thiệt.
Con bướm tường đông bay sang tây,
Cây đào năm xưa nụ đương kết.
Đu tiên tan cuộc đất tơi bời,
Bát ngát cồn rêu hương phấn rơi.
Con nụ(28) dường như hiểu lòng chủ,
Nghiêng bình, múc nước pha chè tươi(29).
Xanh ngắt đuôi loan, tàu chuối tở,
Thắm tươi mỏ phượng, hoa huyên nở.
Đầu nhà con én bay sập sè,
Dưới nước lá sen đua hớn hở.
Ngày dài đằng đẵng, tiết trời oi,Xếp chỉ cài kim nản đứng ngồi.Thơ thẩn rời chân cạnh cây lựu,Trẩy mơ, đùa ném cái oanh chơi(30).... Chàng đương vơ vẩn đứng ở trước cửa, thì người con gái chạy ra đón chàng vào trong nhà. Nàng tiếp chàng một cách niềm nở, vui vẻ. Chừng quá nửa đêm, thì nàng bảo chàng vào màn cùng ngủ với mình.Gà gáy một tiếng, chàng giật mình thức dậy, té ra mình vẫn nằm trong khoang thuyền. Sau khi về quê, đêm nào chàng cũng chiêm bao như thế. Có đêm, thấy nàng lấy chiếc sáo ngọc trên giá thổi luôn mấy khúc “lạc mai”(31), tiếng sáo réo rắt dường như lên tận mây xanh. Có đêm thấy nàng ngồi dưới bóng đèn, đương thêu một chiếc hài hoa, chàng cầm kéo sẽ cắt ngọn đèn rơi vào chiếc hài, vết dầu loang ra đen sì. Có đêm thấy nàng tháo chiếc nhẫn nàng đeo tay tặng chàng, chàng cũng cởi chiếc túi gấm tặng nàng, khi thức quả nhiên ở tay thấy có chiếc nhẫn, sờ đến chiếc túi thì biến đâu mất(32). Chàng càng lấy làm sự lạ, bèn bắt chước Nguyên Chẩn nhà Đường làm thơ hội chân đúng ba chục để ghi việc đó(33). Bài ấy, hồi ấy có nhiều người truyền tụng(34).Năm sau, khi ra Tùng Giang thu thuế, nhân tiện, chàng lại ghé vào quán đó. Ông chủ thấy chàng, tỏ vẻ mừng rỡ vô cùng và mời luôn vào trong quán. Chàng không hiểu là duyên cớ gì, nên còn rụt rè giữ ý. Ngồi đoạn ông ta nói thật với chàng:- Nhà lão chỉ có một đứa con gái, đã nhiều người hỏi nhưng chưa lấy ai. Năm ngoái, khi ông qua đây, tình cờ nó thấy mặt hình như bụng nó cũng có cảm động. Thế rồi, lúc ông về khỏi, tự nhiên nó bị cái bệnh rất lạ. Suốt ngày, suốt đêm, nó chỉ nằm ngủ li bì và nói lảm nhảm một mình. Có lúc như đứa ngây dại, có lúc như người say rượu. Lão đã tốn nhiều thuốc thang, rút lại đều là vô hiệu. Đêm qua, thình lình thấy nó nói rằng “Ngày mai lang quân sẽ đến, người nhà phải ra đón tiếp.” Lúc đầu, cả nhà đều cho là nó nói quấy, không ai để ý! Không ngờ bây giờ ông tới đây thật, hoặc giả cũng là lòng trời xui ra, mà như thế chăng ? Chàng còn chưa kịp nói sao, ông chủ lại hỏi chàng đã có vợ hay chưa. Chàng đáp chưa có. Ông ta mừng lắm, liền nắm tay chàng giắt vào chỗ ở của người con gái. Thì ra nhà cửa, cây cảnh, hết thảy đúng như chàng đã thấy trong khi chiêm bao. Nghe thấy tiếng chàng, người con gái tự nhiên tỉnh táo, vội trang điểm chỉnh tề ra thềm đón chàng. Trong khi nói chuyện, nàng có kể cho chàng biết từ ngày gặp chàng đến giờ, đêm nào cũng mơ thấy chàng đến nhà. Và việc trong mộng của nàng cũng y như việc trong mộng của chàng. Cho đến cái túi của chàng tặng cho, nàng cũng còn giữ trong mình(35). Tiễn đăng tân thoại ở ta. Các bản dịch Việt ngữ Tình sử Một khảo sát sơ bộ cho thấy, ngoài bản Tình sử của
Rồi đó, cha nàng kén ngày cho nàng kết duyên với chàng (36).
Ngô Tất Tố dịch Nguyễn Nam hiệu đính và chú thích
LƯU THÚY THÚY(37)
Cù hựu
Thúy Thúy là con gái một nhà thường dân họ Lưu đất Hoài An(38). Lúc bé đã dĩnh ngộ, hay đọc Thi Thư; cha mẹ chiều lòng cho vào trường học. Trong trường có một người con trai, họ Kim tên Định, cũng bằng tuổi nàng, lại thông minh, tuấn tú. Các học trò thường nói bỡn rằng:
- Cùng tuổi lấy nhau là phải.
Hai người nghe thấy cũng có ý thuận, mãi sau mới gắn bó cùng nhau. Kim Định có tặng nàng một bài thơ rằng:
Tứ tuyệt
Mấy khúc câu lan diễu Bảo đài(39),
Chúa xuân đòi chốn ngục hoa cười;
Vườn đông đào mận, vườn tây liễu,
Sao chẳng đem trồng cả một nơi.
Nguyên vận
Thập nhị lan can thất bảo đài
Xuân phong tùy xứ diễm dương khai;
Đông viên đào lý, tây viên liễu,
Hà bất di lai nhất xứ tài?
Thúy Thúy cũng họa lại một bài:
Tứ tuyệt
Bình sinh chứa giận đắp nên đài(40),
Phong nhị làm chi chẳng mỉm cười;(41)
Nhắn nhủ chúa Đông đừng chểnh mảng,
Rời hoa theo bóng để gần nơi(42).
Nguyên vận
Bình sinh mối hận Chúc Anh Đài
Hoài bảo vi hà bất tảo khai
Ngã nguyện Đông quân cần dụng ý
Tảo di hoa ảnh hướng Dương đài.
Khi Thúy Thúy đã lớn, mới thôi học ở trường. Một hôm cha mẹ nàng nói đến việc gả chồng cho nàng, thì nàng khóc lóc; cố tình gạn hỏi, thì trước nàng còn không nói, sau mới thưa rằng:
- Con đã trót gắn bó với chàng Kim Định ở Tây lâu, nếu không được thành đôi lứa, thì chỉ có chết mà thôi, thề chẳng đem mình vào nơi nào khác.
Cha mẹ phải bằng lòng gả nàng cho Kim Định.(43) Phàm những lễ sính vấn với đồ tư trang, đều là nhà gái sắm cả.
Đến khi làm lễ, hai người cùng nhau gặp mặt, mừng rỡ biết bao! Đêm ấy nàng làm một bài từ để tặng.
Khúc Lâm Giang Tây
Song huỳnh trước đã cùng nghiên bút,
Nay người mới vẫn người quen.
Đuốc hoa xuân sáng khắp buồng sen,
Phấn đọng mồ hôi đỏ, hương nồng mảnh áo đen;
Mây mưa giấc mộng chưa từng biết,
Mày xanh e thẹn đòi phen
Tình nặng ân sâu chẳng ngại phiền,
Trăm năm từ đây trước, hình bóng nguyện cùng liền.
Nguyên vận
Tích nhật vân song đồng bút nghiễn
Cố nhân kim tác tân nhân
Động phòng hoa chúc thập phần xuân
Hãn triêm hồ điệp phấn, hương nhạ tịch y trần.
Đái vũ vưu vân hồn vị quán
Chẩm biên mi đại tu tần
Khinh lân thống tích mặc tư tần
Nguyện lang tòng thử thủy, nhật cận nhật tương thân.
Kim Định bèn họa lại:
Khúc Lâm Giang Tây
Thư trai còn nhớ cùng nghiên bút,
Chẳng là lạ vẫn là quen.
Võ Lăng xuân hỏi cậy thuyền sen,
Gác tía gần mây bạc, bụi hồng cách ngấn đen.
Ân non nghĩa bể lời minh thệ,
Miệng đào cười cợt mấy phen.
Nói chi việc ấy nữa thêm phiền,
Ý mến càng thêm mến, tình liền vẫn lại liền.
Nguyên điệu
Ký đắc thư trai đồng bút nghiễn
Thân nhân bất thị tha nhân
Biên châu lai phỏng Vũ Lăng xuân
Tiên cư lân tử phủ, thân thế cách hồng trần
Hải thệ sơn minh tâm dĩ hứa
Kỷ phiên thiển tiếu thâm tần
Hà nhân do tự ngữ tần tần
ý trung vô biệt ý, thân ngoại hữu thùy thân.
Hai người từ đấy phỉ nguyền đôi lứa, ân ái trăm chiều, chẳng khác gì phỉ thúy trên đám mây hồng, uyên ương giữa dòng nước biếc.
Chưa được một năm, thì có Trương Sỹ Thành(44) dấy loạn. Cao Bưu(45) hãm phá hết mọi quận Hoài đông, nhân dân tan tác, kẻ bắc người nam(46). Thúy Thúy cùng bộ hạ Trương Sỹ Thành bị Lý Tướng quân bắt được.
Mãi đến cuối năm Chí Linh (Dương lịch 1341)(47) Sỹ Thành mới về với nhà Nguyên, tự xin triều cống. Lúc ấy không lo trở ngại, đường sá mới thông(48). Kim Định cáo từ cha mẹ đôi bên để đi tìm vợ(49). Nằm mưa ăn gió, trong lưng không có một đồng, dẫu rằng đường sá xa xôi, nhưng không hề quản ngại, trải bao sương nắng mới đến được Hồ Châu(50).
Khi ấy, Lý Tướng quân đang giàu sang, uy quyền lẫm liệt. Kim Định đến cửa, thơ thẩn bên ngoài, muốn vào nhưng chưa có dịp vào, muốn nói cũng không cùng ai nói(51). Người canh cửa thấy chàng quanh đi quẩn lại, có ý ngờ mới hỏi. Chàng nói:
- Tôi là người Hoài An, gặp cơn loạn lạc, nghe nói có người em gái ở Quý phủ đây, chẳng từ ngàn dặm xa xôi, muốn cùng gặp mặt, ngoài ra dám có điều gì.
Người canh cửa lại hỏi:
- Ngươi tên họ là gì, em ngươi trạng mạo thế nào, độ bao nhiêu tuổi, nói cho ta nghe thử để rõ thực hư.
Kim Định đáp:
- Tên họ Lưu tên Định(52), em tôi là Thúy Thúy, biết chữ hay thơ, lúc ra đi mới mười bảy tuổi, tính đến năm nay vừa hai mươi bốn.
Người canh cửa nói rằng:
- Trong phủ này thực có người họ Lưu, quê ở Hoài An, độ ngoài hai mươi tuổi,(53) biết chữ, hay thơ, tính lại minh mẫn. Tướng quân rất đỗi yêu thương; lời ngươi nói không sai, vậy cứ đứng đây đợi, để ta bẩm hộ.(54)
Chàng đợi một lúc, người canh cửa ra gọi. Khi vào thấy Lý Tướng quân ngồi ở công đường, bèn lạy mà kể lể hết đầu đuôi. Tướng quân(55) sai người bảo cùng Thúy Thúy rằng có người anh nàng từ Hoài An đến, nàng phải ra chào. Thúy Thúy vâng mệnh, lấy lễ anh em yết kiến, chẳng dám thổ lộ một nhời,(56) chỉ ngấm ngầm thương xót.
Tướng quân nói với Kim Định rằng:
- Người từ xa tới đây, ắt là nhọc mệt, hãy vào nhà trong nghỉ ngơi, thong thả sau ta sẽ liệu cho.
Rồi tặng chàng một cặp áo mới, và sai người dọn màn trong quán nhỏ ở cửa phía tây cho chàng ở.
Hôm sau lại bảo chàng:
- Em ngươi đã hay chữ, còn ngươi liệu có thông sách vở không ?
Kim Định thưa rằng:
- Bẩm chúng tôi là học trò(57).
Tướng quân mừng lắm, ủy cho việc biên chép.(58) Chàng vốn tính ôn hòa và có lễ phép, thờ trên tiếp dưới ai cũng bằng lòng, thảo giấy viết tờ, thực là đủ ý. Tướng quân lại càng hậu đãi, tự cho là may mới được người như vậy.
Song chàng sở dĩ lặn suối qua rừng, cũng chỉ cốt đến tìm vợ(59) chốn phòng khuê nghiêm cấm(60) muốn thông tình cũng không làm thế nào được, thành lần lữa đã gần hai tháng.
Lúc đó về tháng chín, hơi thu lạnh lẽo, áo rét gần may, sương trắng sớm bay, gió vàng tối giục. Kim Định ở trong nhà vắng một mình, suốt đêm không ngủ, bèn làm một bài thơ.
Luật thi
Cành hoa rời đến chốn câu lan,
Cách mặt xuân rồi khó hỏi han.(61)
Đã ở chốn vui quên chốn khổ,
Khó cùng khi hợp dễ khi tan;
ải xa bao lại quay đầu ngựa,
Đình vắng đêm nay lẻ bóng loan.
Sương tỏa mây che sầu biết mấy,
Tròn gương nỡ phụ để trăng tàn.
Nguyên vận
Hảo hoa di nhập ngọc lan can,
Xuân sắc vô do đắc tái khan.
Lạc xứ khởi tri sầu xứ khổ,
Biệt thời dung dị kiến thời nan;
Hà niên tái thượng trùng quy mã,
Thử dạ đình trung độc vũ loan.
Vụ các vân yên thâm kỷ hử,
Khả liên cô phụ nguyệt đoàn đoàn.
Sau chàng viết bài thơ vào mảnh giấy, rạch tràng áo ra, bỏ thơ vào trong, rồi đem khâu lại, cho tiền người hầu gái và dặn rằng:
- Đưa hộ vào em ta, nhờ để vá may, phòng khi rét đến(62).
Hầu gái vâng lời, đưa áo vào cho Thúy Thúy. Thúy Thúy biết ý, vạch tà áo ra, tìm thấy bài thơ. Xem xong, nàng chỉ khóc thầm, lòng càng cảm động. Bèn làm một bài thơ, bỏ vào tà áo khâu lại, rồi sai hầu gái đem trả chàng.
Luật thi
Binh lửa từ khi cách núi sông,
Sầu đong, giận đắp, mấy mươi trùng.
Ruột tuy đứt hết, tình khôn đứt,
Sống chẳng cùng theo, thác lại cùng;
Gương vỡ có hình còn để đấy(63),
Rồng bay thấy bóng vẫn là không(64).
Lục Châu, Bích Ngọc xưa là thế(65),
Ai biết lòng ta cũng một lòng.
Nguyên vận
Nhất tự hương quan động chiến phong,
Cựu sầu tân hận kỷ trùng trùng.
Trường tuy dĩ đoạn tình nan đoạn,
Sinh bất tương tùng tử diệc tùng;
Trường sử Đức Ngôn tàng phá kính,
Chung giao Tử Kiến phú du long.
Lục Châu, Bích Ngọc tâm trung sự,
Kim nhật thùy tri giã đáo nùng.
Chàng xem thơ biết ý(66), không còn hy vọng, lại thêm uất ức, cảm bệnh càng sâu. Thúy Thúy xin với Tướng quân cho đến bên giường thăm hỏi. Lúc ấy bệnh chàng quá nặng rồi, không thể dậy được nữa, Thúy Thúy lấy tay vực chàng, chàng ngoảnh mặt lại, dòng châu đầy khóe mắt, kêu to lên một tiếng, thiêm thiếp giấc mòng, chết ở trên tay Thúy Thúy.
Tướng quân thương quá, đem táng ở trên núi Đạo Tràng. Thúy Thúy đưa ma về, đến đêm thoắt đà bị bệnh, không chịu uống thuốc, trằn trọc hơn một tháng trời.
Một hôm, nàng nói với Tướng quân rằng:
- Thiếp từ khi theo tướng quân đến nay đã được tám năm, xa cửa xa nhà, ở đây thân thuộc tuyệt không một ai cả, chỉ có một anh thời đã chết rồi. Thiếp xem mình thiếp, bệnh ắt chẳng qua; như có mình nào, xin đem hài cốt táng ở bên cạnh anh, thì dưới suối vàng thiếp có kẻ tựa nương, không đến nỗi làm cô hồn nơi đất khách.
Nói xong thì mất.
Tướng quân thương quá, chẳng nỡ trái ý, bèn đem linh cữu nàng thấn táng ở bên mộ Kim Định.(67)
Phan Mạnh Danh dịch Nguyễn Nam hiệu đính và chú thích
CHÚ THÍCH
(1) Xem Yan Bao, “The Influence of Chinese Fiction on Vietnamese Literature” (ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc trong văn học Việt Nam), trong Literary Migrations - Traditional Chinese Fiction in Asia (17-20 Centuries (Thiên di văn học - Tiểu thuyết truyền thống Trung Quốc ở Châu á (thế kỷ 17 đến 20), Claudine Salmon chủ biên, International Culture Publishing Corporation, Beijing, tr.286-316. Cũng xem lược bản Trung văn của sách này dưới nhan đề Trung Quốc truyền thống tiểu thuyết tại Á Châu 中 國 傳 統 小 說 在 亞 洲 Bắc Kinh Đại học tỉ giảo văn học nghiên cứu tùng thư 北 京 大 學 比 較 文 學 研 究 叢 書, Quốc tế văn hóa xuất bản công ty 國 際 文 化 出 版 公 司, Bắc Kinh, 1989, tr.208 - 236.
(2) Literary Migrations - Traditional Chinese Fiction in Asia (17-20 Centuries), sđd., tr. 282-283.
(3) Trong danh sách của Nhan chỉ có một bản dịch Tình sử của Nguyễn Quang Oánh xuất bản tại Hà Nội vào năm 1931. Xem số 172. Literary Migrations - Traditional Chinese Fiction in Asia (17- 20 Centuries), sđd., tr.299.
(4) Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một bài viết khác.
(5) Xem Phùng Mộng Long biên soạn, Tình sử, 4 tập, trong Cổ bản tiểu thuyết tập thành 古 本 小 說 集 成, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, Thượng Hải, 1990.
(6) Xem Nguyễn Tiến Đoàn, “Phát hiện một bản Kiều mang màu sắc truyền kỳ,” Tạp chí Hán Nôm, 3/1997, tr.70-77.
(7) Xem Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, Nhà in Phạm Văn Sơn, Sàigòn, 1962.
(8) Phan Mạnh Danh, Cổ thi trích dịch - Hán - Sở, Đường, Ngũ Đại, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, in lần thứ nhất, Thanh Hoa thư xã, Hà Nội, 1953.
(9) Phan Mạnh Danh, Cổ thi trích dịch, sđd., tr.65-70. Xem thêm Phụ lục 1, truyện Nhân duyên trong mộng ở sau phần khảo cứu.
(10) Đoàn Tư Thuật (1886-1928) hiệu là Mai Nhạc, người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai (Hà Tây), con quan Bố chánh Đoàn Ngưng. Tác phẩm dịch thuật gồm có Tỳ bà ký, Tuyết hồng lệ sử. Theo Trúc Khê và Tiên Đàm, Chu Mạnh Trinh, Cộng Lực, Hà Nội, năm [?], tr.53 - 56.
(11) Từ Chẩm á đã một thời ảnh hưởng khá sâu đậm đến phong cách của Trúc Khê. Ông tâm sự: “Những tiểu thuyết ngoài loại lịch sử, trong thời kỳ này [khoảng cuối những năm 20 - đầu 30, N.N.], tôi có viết được vài cuốn: Mặt nước cánh hoa, Thu phương hận sử và ít truyện ngắn. Những truyện tôi viết về thời kỳ này còn theo lối văn cổ, xây dựng đã cổ và lối hành văn cũng cổ, hay chen vào những đoạn biền ngẫu và hay có những chữ thêm đệm rất thừa. Nhất là quyển Mặt nước cánh hoa tôi viết rất công phu, phần nhiều bằng lối văn tứ lục, lối văn của nhà văn Tàu Từ Chẩm á trong những cuốn Ngọc Lê hồn và lối văn của nhà văn sĩ này.” Xem Lê Thanh, Cuộc phỏng vấn các nhà văn, Đời mới, Hà Nội, năm [?], tr.80-81.
(12) Phan Kế Bính, Việt Hán văn khảo, Mặc Lâm, Saigon, 1970, tr.162.
(13) Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, Phạm Văn Sơn, Saigon, 1962, tr.13.
(14) Phan Mạnh Danh, “Đề tựa bản dịch truyện Đa tình hận,” in lại trong Thi văn tập, Nguyễn Trung Khác xuất bản, Nam Định, 1942, tr.113.
(15) Xem Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, Sđd., tr.13.
(16) Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, quyển 1, Nxb. Thăng Long, Saigon, 1959: “Ông [Phan Kế Bính] là người chuyên giữ mục “Hán văn” trong Đông Dương tạp chí, mục dịch những tư tưởng các nhà văn hào và các nhà triết học Tàu ở các sách Chiến quốc, Cổ văn, Liệt Tử, Mặc Tử, Hàn Phi Tử, và những truyện rút ở Tình sử, Kim cổ kỳ quan, Tiền Hán thư, v.v.” tr.71.
(17) Xem Lục tỉnh tân văn từ số 29 tháng 4 năm 1915.
(18) Theo Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, quyển 2, Nxb. Thăng Long, Saigon, 1960: “Tình sử là một bộ sách do ông [Nguyễn Quang Oánh] biên dịch, văn rất lưu loát, chỉ tiếc một điều là có nhiều bài thơ trong truyện ông không dịch ra văn vần như Trúc Khê đã dịch tập “Tình sử” trong Phổ thông bán nguyệt san (số 65-16 Aout 1940, và số 90-1er Septembre 1941).” tr.315.
(19) Trúc Khê, Tình sử Việt Nam, trong Phổ thông bán nguyệt san, số 80, 1/4/1941, tr.5,6 và 7.
(20) Tình sử, trong Phổ thông bán nguyệt san, số 65, 16/8/1940, tr.87-93.
(21) Ngô Tất Tố (biên dịch), Thơ và tình (Tình sử), Nhà xuất bản Mai Lĩnh, 1940 [?], tr.91-97. Xem Phụ lục 1, truyện Nhân duyên trong mộng ở cuối bài này.
(22) Phan Thế Roanh, Điển Cố - Truyện và thơ thường dùng làm văn liệu, Nam Sơn, Hà Nội, 1953.
(23) Có lẽ do lỗi của nhà in, sách in là “trích ở Tiễn đăng tân loại”. Ngô Tất Tố (biên dịch), Thơ và tình (Tình sử), sđd., tr.97.
(24) Thúc Ngọc Trần Văn Giáp, “Lược khảo tiểu thuyết Tàu, ”Thanh Nghị, số 11 (4/1942), tr.14.
(25) Dịch từ truyện Vị Đường kỳ ngộ ký 渭 塘 奇 遇 記 ở Tiễn đăng tân thoại. Trong Cô bản Nguyên Minh tạp kịch 孤 本 元 明 雜 劇 có vở Vương Văn Tú Vị Đường kỳ ngộ 王 文 秀 渭 塘 奇 遇 cùng chung nội dung với truyện này.
(26) Chí Thuận 至 順 là niên hiệu của Đồ Thiếp Mục Nhĩ 圖 帖 睦 爾 (Văn Tông, 1330-1332) đời Nguyên.
(27) Nguyên tác viết: “Bên vách treo bốn bức kim hoa, trên có đề thơ, thể thơ phỏng lối Tứ thời từ 四 時 詞 của Đông Pha 東 坡 [tức Tô Thức 蘇 軾, tác gia đời Tống], chữ viết cùng tranh vẽ học theo Triệu Tùng Tuyết 趙 松 雪 [tức Triệu Mạnh Phủ 趙 孟 頫, thi - họa gia đời Nguyên], không rõ ai là tác giả.” Tiễn đăng tân thoại, sđd, tr.55.
(28) Con nụ: dịch chữ thị nữ 侍 女.
(29) Nguyên tác gồm 4 bài thơ tả cảnh bốn mùa. Dịch giả chỉ chọn dịch 2 bài đầu tả cảnh xuân và hạ. Nguyên văn bài thứ nhất như sau:
Xuân phong xuy hoa lạc hồng tuyết
Dương liễu âm nùng đề bách thiệt
Đông gia hồ điệp tây gia phi
Tiền tuế anh đào kim tuế kết
Thu thiên xúc bãi tấn tham sa
Phấn hãn ngưng hương tấm lục sa
Thị nữ diệc tri tâm nội sự
Ngân bình cấp thủy chử tân trà
Phan Mạnh Danh dịch:
Gió thổi tràng hoa rơi lả tả,
Bụi dương tiếng khiếu kêu ra rả.
Bướm từ nhà khác lại qua tường,
Đào nở năm xưa nay kết quả.
Chân mới dừng đu mái tóc xòa,
Mồ hôi hương phấn thấm khăn là.
Con hầu đoán biết trong lòng khát,
Trà mới đem bình nấu nước pha.
(Cổ thi trích dịch, sđd., tr.67)
(30) Bài thứ hai tả mùa hè, nguyên văn như sau:
Ba tiêu diệp triển thanh loan vỹ
Huyên thảo hoa hàm kim phượng chủy
Nhất song nhũ yến xuất điêu lương
Sổ điểm tân hà phù lục thủy
Khốn nhân thiên khí nhật trường thời
Châm tuyến dong niêm ngọ lậu trì
Khởi hướng thạch lựu âm bạn lập
Đối tương mai tử đả oanh nhi.
Phan Mạnh Danh dịch:
Tỏa dáng đuôi loan, tầu chuối nhỏ,
Cúp hình mỏ phượng, hoa huyên đỏ;
Đầu xà ríu rít én vài con,
Mặt nước lênh đênh sen mấy ngó.
Ngày dài bức bối những buồn tênh,
Thêu mỏi càng mong giọt lậu nhanh.
Bóng lựu thẩn thơ ra hóng mát,
Mơ non đùa hái ném chim oanh.
(Cổ thi trích dịch, sđd., tr.68)
(31) Nguyên tác là Lạc mai phong 落 梅 風, tên khúc điệu dành cho tiêu sáo. Từ sau Bào Chiếu 鮑 照 đời Nam triều, Lạc mai phong còn được dùng cho ca từ.
(32) Nguyên tác viết: “Có đêm nàng tặng chàng chiếc nhẫn vàng có đính đá quý xanh biếc; chàng cởi tặng nàng vật trang trí bằng thủy tinh tạc hình đôi cá đính vào tua quạt. Khi tỉnh lại, nhẫn vẫn trên tay; nhìn lại quạt, thì vật nọ đã chẳng còn.” Tiễn đăng tân thoại, sđd., tr.56.
(33) Nguyên Chẩn 元 稹 viết tiểu thuyết truyền kỳ Oanh Oanh truyện (cũng gọi là Hội chân ký 會 真 記), thuật chuyện tình giữa chàng Trương và Oanh Oanh.
(34) Thơ gồm 60 câu, mỗi câu 5 chữ, gieo vận gián cách, thành 30 câu vần nhau. Dịch giả lược bỏ bài này.
(35) Nguyên tác viết: “Nàng bảo: Năm trước, từ sau lúc chàng đi, em nhung nhớ thiết tha, hằng đêm mơ thấy cùng chàng hội ngộ, chẳng biết vì lẽ gì ? Sinh nói: Ta cũng mộng y như thế. Nàng tuần tự kể lại chuyện khúc tiêu, chiếc hài, chuyện nào cũng đều trùng khớp. Nàng đưa cho chàng xem đôi cá thủy tinh kết vào tua quạt, chàng lại trình ra chiếc nhẫn vàng cẩn đá biếc, rồi hỏi nàng căn cơ.” Tiễn đăng tân thoại , sđd., tr.57.
(36) Nguyên tác viết: “Gia đình bèn tác hợp cho chàng và nàng thành phu phụ. Chồng vợ hợp hòa, sát cánh cùng về với nhau, chung sống đến già: thật đáng gọi là kỳ ngộ.”
Tình sử nêu rõ xuất xứ của truyện: “Trong Tiễn đăng tân thoại, chuyện có tựa là Vị Đường kỳ ngộ truyện [?], đồng thời cũng có lời bàn thêm rằng: “Vô duyên chân cũng hóa thành mộng. Hữu duyên mộng cũng có thể biến thành chân”(sđd., tr.635).
(37) Truyện từng được Lăng Mông Sơ 凌 蒙 初 cải biên thành thoại bản, đưa vào Nhị khắc phách án kinh kỳ 二 刻 拍 案 驚 奇 dưới nhan đề Lý Tướng quân thố nhận cữu, Lưu Thị nữ quỷ tòng phu 李 將 軍 錯 認 舅, 劉 氏 女 詭 從 夫. Các vở truyền kỳ Lĩnh đầu thư 領 頭 書 của Viên Thanh 袁 聲 đời Thanh chép trong Khúc lục 曲 錄, hý khúc Kim Thúy hàn y ký 金 翠 寒 衣 記 của Diệp Hiến Tổ葉 憲 祖 đều lấy đề tài từ truyện này.
(38) Nay thuộc huyện Hoài An, tỉnh Giang Tô.
(39) Nguyên văn Hán văn là Thập nhị lan can thất bảo đài 十 二 闌 干 七 寶 台. Tục người Miêu 苗 ở Nam Chiếu 南 詔 dùng ba cây lớn chặn ngang ở mỗi mặt nhà, làm thành hàng rào, tổng cộng 12 cây ngăn cho bốn mặt, gọi là thập nhị lan can. Thất bảo đài là lầu đài trang trí với bảy loại châu ngọc quý. Thập nhị lan can và thất bảo đài trong trường hợp này là để chỉ nhà quyền quý, kín cổng cao tường. Câu trên có thể dịch lại thành, “Một chục lan can, thất bảo đài.”
(40) Nguyên văn Hán văn là Bình sinh mỗi hận Chúc Anh Đài 平 生 每 恨 祝 英 台 (Bình sinh giận mỗi Chúc Anh Đài). Chúc Anh Đài là một nhân vật trong truyền thuyết dân gian. Tương truyền rằng dưới thời Tư Mã Đam 司 馬 聃 đời Đông Tấn, có chàng Lương Xử Nhân 梁 處 仁 tự là Sơn Bá 山 伯, đến Tiền Đường cầu học. Trên thuyền chàng gặp một thư sinh là Chúc Trinh 祝 貞 ở Thượng Ngu, tự là Tín Trai 信 齋. Cả hai cùng học với nhau ba năm, sau đó Chúc rời trường về nhà trước. Lương tìm đến thăm hỏi mới biết rằng Chúc thực ra là gái giả trai, tên thật là Anh Đài. Lương bèn cầu hôn, nhưng tiếc thay, gia đình đã đính hôn Chúc cho một chàng họ Mã ở Mậu Thành. Sau Lương cũng đến nhận chức ở vùng nọ, rồi mất ở đấy. Chúc theo chồng về ngang qua mộ Lương. Nàng xuống tế lễ, khóc thương thảm thiết. Mộ Lương bỗng dưng mở rộng ra cho Chúc bước vào: cả hai chung nhau một nấm mồ. Tục truyền về sau hai người hóa thành đôi bướm, lúc nào cũng bay lượn cùng nhau. Có lẽ do dịch giả nhầm chữ Chúc thành trúc 築 (xây đắp) nên đã dịch như trên.
(41) Nguyên văn Hán văn Hoài bảo vi hà bất tảo khai 懷 抱 為 何 不 早 開. Căn cứ theo ý của câu trên, cũng có thể dịch là “Thầm kín làm chi chẳng sớm khai.”
(42) Nguyên văn Hán văn là Tảo di hoa thụ hướng dương tài 早 移 花 樹 向 陽 栽. Do vậy có thể dịch là “Sớm vun hoa cỏ mặt trời soi.”
(43) Nguyên tác trong Tình sử còn viết, “chọn ngày lành để thành hôn.” Tiễn đăng tân thoại thuật rõ như sau: “Thế nhưng do nhà họ Lưu giàu, mà họ Kim nghèo, con trai dẫu thông minh, tuấn tú, xét ra lại không môn đăng hộ đối. Do vậy khi mối mai đến hỏi, nhà họ Kim quả đã lấy lý do bần hàn mà từ khước, tự thấy xấu hổ mà không dám nhận. Người mối mới bảo: “Cô con gái nhà họ Lưu ắt muốn sánh duyên với chàng Kim nhà này, nên cha mẹ cô cũng đã hứa thuận. Nếu như nhà ta lấy cớ nghèo khó mà từ chối, quả là phụ lòng thành của nhà họ Lưu. Ngoài ra còn để lỡ mất duyên lành. Nay nên nói như thế này: “Con trai chúng tôi nhà nghèo, nhưng có thô thiển học qua Thi Lễ. Quý gia thấy cháu, muốn lấy về, chúng tôi nào dám không theo. Chỉ hiềm vì cháu sinh ở nơi nhà tranh, vách đất, bần hàn quen thói đã lâu. Nếu nay phải chịu đúng nghi thức sính vấn và lễ tục hôn thú, chung cục, chúng tôi e rằng không theo nổi. Nhà họ do yêu con, tất cũng chẳng so đo về khoản này.” Nhà chàng Kim thuận theo lời. Người mối về kể lại, quả nhiên cha mẹ nàng nói: “Hôn nhân mà chỉ chăm bàn về tiền tài, ấy là lối của kẻ man di. Chúng tôi chỉ kén rể mà thôi, không nề chuyện gì khác. Nếu họ không có đủ, mà nhà chúng tôi lại có dư, khi con gái chúng tôi về nhà họ, hẳn sẽ không thể nào kham được. Chẳng bằng cho chàng ấy về đây ở rể là xong.” Người mối quay lại báo với nhà họ Kim, cả nhà đều rất mừng, bèn chọn ngày lành để thành hôn.” Tiễn đăng tân thoại, sđd., tr.75.
(44) Dịch giả ghi là “Chương Sỹ Thanh.” Nay sửa lại cho đúng.
(45) Cao Bưu 高 郵 là một địa danh cổ (không phải là tên người), nay thuộc tỉnh Giang Tô. Xem Tăng Tử Lỗ và nhiều người khác, Bạch thoại Tình sử 白 話 情 史, Giang Tây Nhân dân xuất bản xã, 1987, tr.236.
(46) Cả hai câu trên nên đọc lại thành một: “Chưa đầy một năm thì có anh em Trương Sỹ Thành dấy binh ở Cao Bưu, thâu hãm hết các quận ven sông Hoài.” Tiễn đăng tân thoại, sđd., tr.76; Tình sử chép là “thâu hãm hết các quận ở phía đông sông Hoài” (sđd., tr.1231).
Trương Sỹ Thành (mất năm 1366): Nhiều cuộc nổi dậy đã diễn ra trước sự suy sụp của nhà Nguyên. Trương Sỹ Thành là một trong số những người lãnh đạo các cuộc nổi dậy ấy. Trương tận sát tất cả phú gia, không kể họ là người Trung Quốc hay Mông Cổ, nhưng có lúc lại liên minh với nhà Nguyên để đàn áp các cuộc nổi dậy khác. Xem Dun J.Li, The Ageless Chinese - A History, Charles Scribner’s Sons, New York, 1971, tr.270.
(47) Nguyên văn Hán văn là Chí Chính (1341-1367).
(48) Tiễn đăng tân thoại: “Đến cuối niên hiệu Chí Chính, Sỹ Thành mở rộng lãnh địa ra cả hai bờ bắc và nam sông Dương Tử, chiếm cứ cả phía tây Chiết Giang.” (sđd., tr.76).
(49) Tiễn đăng tân thoại còn có đoạn: “thề rằng không tìm được nàng thì không về.” (sđd., tr.76).
(50) Đời Nguyên thiết lập lộ Hồ Châu, nay thuộc tỉnh Chiết Giang. Xem Bạch thoại Tình sử, sđd., tr.236. Tiễn đăng tân thoại thuật lại chi tiết hành trình tìm vợ của Kim Định như sau, “Khi chàng đến Bình Giang 平 江 thì mới hay Lý Tướng quân hiện giữ chức Thủ ngự của Thiệu Hưng. Đến được Thiệu Hưng, chàng mới biết là Lý đã điều binh lên đóng ở An Phong. Chàng đến An Phong thì hay là Lý đã đưa quân về lại Hồ Châu.” Trong cuộc truy tìm, có lúc Kim Định phải ngửa tay xin bố thí để sống. (sđd., tr.76).
(51) Nguyên văn là “muốn nói mà không dám mở lời”. Xem Tiễn đăng tân thoại, sđd., tr.76; Tình sử, sđd., tr,1232.
(52) Nguyên văn: “Tôi họ Lưu, tên Kim Định.” Xem Tiễn đăng tân thoại, tr.76 sđd., Tình sử, tr.1232.
(53) Thay vì chép “độ ngoài hai mươi tuổi” như Tình sử, Tiễn đăng tân thoại viết: “tuổi vừa đúng như lời người nói.” Xem Tiễn đăng tân thoại, sđd., tr.76; Tình sử, sđd., tr.1232.
(54) Tiễn đăng tân thoại, còn có đoạn: “Xong bèn chạy vào trong bẩm báo” (sđd., tr.76).
(55) Cả Tiễn đăng tân thoại và Tình sử đều có đoạn, “Tướng quân là kẻ võ biền, tin ngay lời chàng, không chút hồ nghi.” Xem Tiễn đăng tân thoại, sđd., tr.76; Tình sử, sđd., tr.1232.
(56) Tiễn đăng tân thoại viết: “chỉ trừ thăm hỏi mẹ cha, ngoài ra chẳng dám thổ lộ một nhời” (sđd., tr.76).
(57) Tiễn đăng tân thoại viết rõ rằng: “Khi ở quê nhà, tôi theo nghiệp Nho gia, lấy sách vở làm gốc. Phàm Kinh, Sử Tử, Tập đều đã đọc qua hết thảy. Vốn xưa học tập đã quen, có đâu lại phải hồ nghi” (sđd., tr.76).
(58) Tiễn đăng tân thoại viết tường tận hơn: “Tướng quân mừng lắm, bảo rằng: “Ta từ nhỏ thất học, do loạn lạc, nhờ thời mà nổi lên. Kẻ xu tòng theo ta thì nhiều, khách khứa đầy nhà, mà thiếu người quản lý. Thư tín ngập bàn, mà người hồi đáp cũng không. Nay ngươi đã ở chỗ ta, có thể sung vào làm thư ký.” (sđd., tr.76-77).
(59) Cả Tiễn đăng tân thoại và Tình sử đều có thêm đoạn sau, “từ sau khi gặp mặt nhau một lần ở sảnh đường, chẳng hề được gặp lại”. Xem Tiễn đăng tân thoại, sđd., tr.77; Tình sử, sđd., tr.1233.
(60) Cả Tiễn đăng tân thoại và Tình sử đều có thêm đoạn sau, “trong ngoài cách tuyệt.” Xem Tiễn đăng tân thoại, sđd., tr.77; Tình sử, sđd., tr.1233
(61) Nguyên văn Hán văn: Xuân sắc vô duyên đắc tái khan 春 色 無 緣 得 再 看
(62) Tiễn đăng tân thoại viết: “Trời đã trở lạnh, mà áo ta lại mong manh. Ngươi cầm áo này vào cho em ta, nhờ em giặt, rồi khâu vá lại giúp ta, để ta ngự hàn.” (sđd., tr.77).
(63) Từ Đức Ngôn 徐 德 言 thời Nam triều kết hôn với Lạc Xương công chúa 樂 昌 公 主, một trang nữ nhi tài sắc quán tuyệt. Do thời bấy giờ chính sự tao loạn, phòng khi đôi lứa phải biệt li, Từ bẻ đôi tấm gương, giao cho Lạc Xương một nửa, còn mình giữ lấy nửa còn lại. Từ giao ước nếu như có lạc mất nhau, thì ngày rằm tháng giêng mỗi người sẽ mang nửa gương của mình ra chốn thị tứ mà bán, xem đó như vật tin để nhận lại nhau. Quả nhiên, sau Lạc Xương bị nhập vào phủ Dương Tố và được Dương sủng ái. Theo lời giao ước sau mà Từ tìm được nàng. Thông qua người lão bộc của Lạc Xương, Từ gửi nàng một bài thơ. Lạc Xương đọc thơ mà khóc thống thiết, bỏ cả ăn uống. Dương Tố biết được nguồn căn, cảm khái mà trả Lạc Xương về cho Từ Đức Ngôn.
(64) Tử Kiến 子 建 là biểu tự của Tào Thực 曹 植 (192-232), con trai của Tào Tháo 曹 操. Trong bài Lạc thần phú 洛 神 賦, Tào Thực miêu tả Nữ thần sông Lạc như sau: “Kỳ hình dã, phiên nhược kinh hồng, uyển nhược du long 其 形 也, 翩 若 驚 鴻, 婉 若 游 龍” (Hình dáng của nàng, bay bổng tựa cánh hồng kinh động, mĩ miều như dáng vẻ du long).
(65) Lục Châu綠 珠 là thiếp yêu của Thạch Sùng 石 崇 đời Tấn. Do Thạch từ chối tặng nàng cho Tôn Tú 孫 秀, Tôn lập mưu hại Thạch Sùng. Lục Châu gieo mình từ trên lầu cao xuống tự tuyệt. Bích Ngọc 碧 玉 là tiểu danh của nô tì Yểu Nương 窈 娘 thuộc nhà Kiều Tri 喬 知. Bích Ngọc xinh đẹp, múa giỏi, hát hay. Vũ Thừa Tự 武 承 嗣 soán đoạt nàng từ tay Kiều. Kiều Tri bèn làm bài Lục Châu oán 綠 珠 怨 phúng thích nàng. Bích Ngọc đọc thơ, gieo mình xuống giếng tự tử. Vũ đọc được thơ, lập mưu vu hãm, giết Kiều Tri.
(66) Cả Tiễn đăng tân thoại và Tình sử đều có thêm đoạn “biết nàng hứa sẽ quyên sinh cho trọn tình.” Xem Tiễn đăng tân thoại, sđd, tr.77; Tình sử, sđd, tr.1235.
(67) Phùng Mộng Long lược bỏ phần cuối chuyện. Ở Tiễn đăng tân thoại, chuyện kể thêm rằng sau vào đầu niên hiệu Hồng Vũ có người lão bộc nhà Thúy Thúy đi buôn qua Hồ Châu, ngang Đạo Tràng thì gặp vợ chồng Kim Định - Thúy Thúy sống trong dinh thự nguy nga. Cả hai lưu ông lại, thăm hỏi tin nhà, đồng thời viết một thư dài nhờ ông chuyển về kính thăm mẹ cha. Được tin vợ chồng nàng, cha mẹ Thúy Thúy hết sức mừng vui. Cha nàng hối hả cùng người lão bộc lên đường đến Đạo Tràng tìm con. Đến nơi họ mới biết ra sự thực: vợ chồng nàng mất đã lâu. Nhìn quanh chẳng thấy dinh thự, mà chỉ có đôi nấm mồ cô quạnh. Xem lại thư chỉ thấy một mảnh giấy trắng. Đêm ấy cha nàng ngủ lại bên mộ, mơ thấy vợ chồng nàng đến chào, khóc than vì không chu toàn được đạo hiếu.
Ngay sau đoạn kết chép trong Tình sử, Phùng Mộng Long viết lời bình sau: “Chuyện vốn chép trong Tiễn đăng tân thoại của Cù Tông Cát (...) Đoạn kết tựa như khuôn sáo của tiểu thuyết gia, do vậy đã bị lược bỏ.” Xem Tình sử, sđd., tr.1236.
|