TB

TẠP CHÍ HÁN NÔM 15 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (1986 - 2001)

TRẦN NGHĨA

Di sản Hán Nôm, bao gồm toàn bộ thư tịch, tài liệu được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm do người Việt Nam soạn thảo chủ yếu từ năm 1945 trở về trước, là một nguồn tư liệu thành văn, một tài sản văn hóa phi vật thể vô cùng quý giá của dân tộc Việt Nam.

Nguồn tư liệu này phần lớn đã được đưa vào các thư viện, các kho lưu trữ Nhà nước, nhưng cũng còn một bộ phận đáng kể hiện nằm trên thực địa, hoặc tản mát trong dân, hoặc lưu lạc ở nước ngoài. Làm sao để có thể cung cấp đầy đủ, kịp thời những thông tin quan trọng về kho sách Hán Nôm mà trước hết là những thư tịch, tài liệu Hán Nôm mới tìm thấy hay tái phát hiện ở trong cũng như ngoài nước ?

Nguồn tư liệu này là trí tuệ của dân tộc, là tâm huyết của cha ông, là kho tri thức và kinh nghiệm nhiều mặt của biết bao thế hệ được tích góp qua hàng nghìn năm lao động cần cù, đấu tranh không mệt mỏi, nhằm xây dựng cơ ngơi, tạo điều kiện tốt để tồn tại và phát triển trong tự do, độc lập. Làm sao để có thể phổ biến một cách nhanh nhất những cái hay, cái đẹp, cái chân lý hàm chứa trong di sản Hán Nôm, làm cho chúng sống dậy, hướng tới ngày nay, tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta trên con đường đi tới ?

Chính là nhằm giải quyết các vấn đề bức xúc đặt ra trên đây mà sau nhiều năm phấn đấu, Tạp chí Hán Nôm - tiếng nói chung của ngành Hán Nôm học - đã vinh hạnh ra mắt độc giả vào năm 1986.

I. Các bước phát triển của Tạp chí Hán Nôm

Trước đó, Tạp chí Hán Nôm đã trải qua ngót hai năm tập dượt, với 4 số Tập san mang tên Nghiên cứu Hán Nôm, đăng tải được cả thảy 90 bài viết của 65 tác giả, xoay quanh hai nội dung chính:

- Sưu tầm, giới thiệu, công bố tư liệu mới.

- Nghiên cứu, trao đổi ý kiến trên một số vấn đề thuộc lĩnh vực Hán Nôm.

Đến giữa năm 1986, Tập san Nghiên cứu Hán Nôm được nâng lên thành loại ấn phẩm định kỳ, tức Tạp chí Hán Nôm, với một số quy định như sau:

- Nhiệm vụ cụ thể của tờ Tạp chí là công bố các công trình nghiên cứu Hán Nôm, các văn bản Hán Nôm mới phát hiện; hướng dẫn, trao đổi kinh nghiệm về công tác sưu tầm, giám định, bảo tàng, chỉnh lý, dịch thuật các thư tịch, tài liệu Hán Nôm; thông tin các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm Hán Nôm trong và ngoài nước.

- Đối tượng phục vụ của Tạp chí là giới nghiên cứu, giảng dạy, học tập Hán Nôm ở các Viện, các Trường và những người yêu thích chuyên môn Hán Nôm.

- Phạm vi phát hành là trong và ngoài nước ...

Qua 15 năm hoạt động, Tạp chí Hán Nôm đã không ngừng phấn đấu để hoàn thiện và vươn lên, nhằm phục vụ ngày một tốt hơn cho bạn đọc. Có thể nêu một số dẫn chứng:

- Từ năm 1986 đến năm 1992, Tạp chí Hán Nôm xuất bản mỗi năm 2 kỳ.

Từ năm 1993, Tạp chí xuất bản mỗi năm 4 kỳ, tăng lên hai lần so với trước.

- Từ năm 1995 trở về trước, độ dày của Tạp chí xê dịch từ 80 đến 112 trang, lên xuống thất thường. Nhưng từ 1996 trở lại đây, Tạp chí đã đảm bảo một độ dày ổn định là 100 trang.

- Từ năm 1986 đến năm 1990, khung bài chưa định hình, chừng như có gì in nấy. Nhưng bắt đầu từ 1991, khung bài đã được xác lập, gồm 5 mục thường xuyên: Nghiên cứu, Đọc sách và trao đổi ý kiến, Sưu tầm, Tin tức, Tư liệu tham khảo. Từ 1996 về sau, thỉnh thoảng có thêm mục Thường thức Hán Nôm.

- Bên cạnh mục lục tiếng Việt, Tạp chí có thêm mục lục tiếng Anh từ năm 1988, và mục lục tiếng Hán từ năm 1994.

- Tạp chí Hán Nôm số 2 - 1991 có Tổng mục lục bài viết và tác giả từ số 1 đến số 11; số 4 - 1996 có Tổng mục lục bài viết và tác giả từ số 1 đến số 29; năm 2000 xuất bản cuốn Tạp chí Hán Nôm 100 bài tuyển chọn, Tổng mục lục bài viết và tác giả trên Tập san Nghiên cứu Hán Nôm và Tạp chí Hán Nôm (1984 - 1999).

- Bìa Tạp chí cũng luôn luôn được cải tiến. Từ 1994, trên trang bìa 1, bắt đầu giới thiệu các bài chốt của số Tạp chí, và trên trang bìa 4 bắt đầu giới thiệu sách Hán Nôm mới xuất bản cùng nhiều tranh ảnh liên quan tới ngành Hán Nôm.

- Ngoài các ấn phẩm bình thường, Tạp chí Hán Nôm đã in được 3 số đặc san, có thể xem như kỷ yếu của 3 cuộc hội thảo khoa học do Tạp chí Hán Nôm đứng ra tổ chức hoặc phối hợp tổ chức: Văn học so sánh (Tạp chí Hán Nôm số 3 - 1998); Di sản Hán Nôm Việt Nam trong khối nước đồng văn (Tạp chí Hán Nôm số 3 - 1999); Nguyễn Tư Giản (Tạp chí Hán Nôm số 3 - 2000).

- Về phương diện in ấn, nhiều ý kiến cho rằng Tạp chí Hán Nôm in ngày một đẹp, ít sai sót, có in kèm chữ Hán ở những chỗ cần thiết, thật “xứng danh một Tạp chí khoa học chuyên ngành”...

II. Những đóng góp của Tạp chí Hán Nôm về mặt học thuật

Qua 15 năm hoạt động, Tạp chí Hán Nôm đã xuất bản được tất cả 49 số, với trên 4700 trang in, trong đó có 925 bài viết lớn nhỏ của 962 tác giả (một tác giả có thể được tính nhiều lần, tương ứng với số bài mà họ viết với tư cách tác giả hoặc đồng tác giả. Các bài viết phân bố cụ thể như sau:

- Nghiên cứu: 396 bài.

- Đọc sách và trao đổi ý kiến: 166 bài.

- Sưu tầm: 191 bài.

- Tin tức: 89 bài.

- Thường thức Hán Nôm: 18 bài.

- Tư liệu tham khảo: 65 bài.

1. Bài Nghiên cứu, chiếm số lượng lớn nhất. Có thể nói hầu hết đều là những tìm tòi, phát hiện mới trên lĩnh vực Hán Nôm học.

- Về ngôn ngữ, văn tự, có những bài được dư luận quan tâm như: Nghiên cứu diễn biến chữ Nôm theo phương pháp hình thể (Trần Xuân Ngọc Lan, số 1-1998); Sơ bộ tìm hiểu vai trò của bộ khẩu Hán trong cấu tạo chữ Nôm (Lã Minh Hằng, số 2-1994); Thử đưa ra quan niệm và cách giải thích về chữ Nôm cổ (Nguyễn Ngọc San, số 3-1993); Sự hiện diện của loại chữ Nôm dùng hai mã chữ riêng biệt để ghi một từ Việt (Hoàng Thị Ngọ, số 2-1999); Cách ghi từ đồng âm trong văn bản Nôm (Nguyễn Thị Lâm, số 3-1999); Đóng góp của cứ liệu chữ Nôm trong việc xác định sự biến đổi của tổ hợp phụ âm KL, PL/BL, TL và ML (Hoàng Dũng, số 4-1995); Hiện tượng đồng hình giữa chữ Nôm Việt và chữ vuông Choang (Nguyễn Quang Hồng, số 2-1997); Chữ Hán của người Việt (Vũ Tuân Sán, số 1-1996); Hán văn Việt Nam nhìn từ góc độ song ngữ (Phạm Văn Khoái, số 3-1997); Hai văn bản chữ Phạn góp phần đọc những văn bản chữ Phạn ở Việt Nam (Nguyễn Thị Ngân, số 1-1991); vân vân ...

- Về thư tịch học, văn bản học, có những bài được dư luận quan tâm như: “Ngục trung nhật ký” nghiên cứu văn bản học (Phan Văn Các, số 1-1990); Về văn bản bộ sách “Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục” (Nguyễn Hữu Mùi, số 1-1992); Về các văn bản “Thiên Nam ngữ lục” hiện còn (Nguyễn Thị Lâm, số 4-1997); Tìm hiểu các văn bản bộ sách “Ngô gia văn phái” (Trần Thị Băng Thanh, số 1-1988); Xung quanh một số tài liệu liên quan tới Lý Tử Tấn và văn bản (Ngọc Nhuận, số 1-1987); Văn bản và tác phẩm “Mẫn Hiên thuyết loại” (Hoàng Văn Lâu, số 2-1987 và số 1-1989); Thử so sánh “Truyền kỳ mạn lục” với “Tiễn đăng tân thoại” (Trần Nghĩa, số 1-1987); Khảo cứu bản dịch Nôm “Truyền kỳ mạn lục” (Paul Schneider, số 1-1995); vân vân...

- Về quốc học, Đông phương học, có những bài rất đáng để suy ngẫm như: Mấy suy nghĩ về vấn đề Quốc học (Trần Nghĩa, số 1-1997); Vài nét về nền Hán học cũ ở Việt Nam dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp (Quốc Anh, số 1-1987); Tìm hiểu phương pháp trình bày, phân loại sách vở trong “Nghệ văn chí” của Lê Quý Đôn (Đinh Công Vĩ, số 1-1992); Đặc điểm thể loại văn bia Việt Nam (Trịnh Khắc Mạnh, số 4-1993); Bia về Thái giám triều Lê tại Kinh Bắc (Thùy Vinh, số 1-1996); Đô thị cổ Phố Hiến: Thư tịch và bi ký Hán Nôm (Ngô Đức Thọ, số 2-1993); Ấn triện ở Phủ tôn nhân triều Nguyễn (Nguyễn Công Việt, số 1-1995); Bước đầu tìm hiểu nghề giấy cổ truyền (Hoàng Hồng Cẩm, số 1-1992); Sách châm cứu trong kho thư tịch y dược cổ truyền Việt Nam (Lâm Giang, số 2-1997); Mấy suy nghĩ về tên gọi làng xã của người Việt (Nguyễn Tá Nhí, số 3-1999); Đơn vị hành chính “tổng” xuất hiện từ khi nào ? (Đinh Khắc Thuân, số 4-1996); Trường Viễn đông bác cổ Pháp hay ngành Đông phương học sôi động ở Pháp (Christiane Pasquel Rageau, số 2-1989); Quan hệ và tiếp nhận văn học Trung Quốc ở Việt Nam đầu thế kỷ XX (Nguyễn Văn Hiệu, số 4-2000); Bài văn khuyên chăm học của vua Lê Thánh Tông (Mai Xuân Hải, số 2-1992); Sách dạy - học chữ Hán một di sản tư tưởng lớn đối với sự nghiệp vĩ đại nâng cao dân trí hiện nay (Bùi Đình Mỹ, số 2-1996); Những yếu tố Hoa trong phương ngữ Nam Bộ (Cao Tự Thanh, số 2-2000); Từ gốc Hán Nhật trong tiếng Việt (Trần Đình Sử, số 2-1999); Đối chiếu các âm tiết Hán - Việt, Hán - Hàn với các âm tiết Hán (Hoàng Trọng Phiến, số 1-1996); Lược đồ quan hệ tiểu thuyết Hán Nôm Việt Nam và tiểu thuyết cổ các nước trong khu vực (Trần Nghĩa, số 2-1998); “Tam giáo đồng nguyên” - hiện tượng tư tưởng chung của các nước Đông Á (Nguyễn Tài Thư, số 3-1999); Đồ hình lịch can chi vĩnh cửu (Lê Thành Lân, số 1-1989); vân vân...

2. Bài Sưu tầm đứng vào hàng thứ hai về mặt số lượng, sau bài nghiên cứu.

Trước hết là những văn bản Hán Nôm thuộc loại quý hiếm mới tìm thấy trong nước. Có thể kể các bài sưu tầm như 18 tấm bia Nôm ở chùa Phật giáo (Nguyễn Thị Trang, số 1-1987); Văn bia chữ Nôm Việt (Trịnh Khắc Mạnh - Trương Đức Quả, số 2-1984); Về tấm bia đồng tại đình làng Quan Nhân, huyện Từ Liêm, Hà NộI (Phạm Văn Thắm, số 1-1987); Về hai bộ “Đăng khoa lục” cổ nhất hiện còn (Nguyễn Thúy Nga; số 1-1997); Một số tài liệu mới phát hiện về Phan Châu Trinh (Đoàn Khoách, số 3-1993); Tư liệu Hán Nôm về ca trù, trữ lượng và giá trị (Nguyễn Xuân Diện, số 1-1999); vân vân...

Tiếp đến là những văn bản Hán Nôm quan trọng vừa phát hiện ở nước ngoài: Hai tờ chiếu của vua Cảnh Thịnh gửi những người trong Sứ bộ Anh (Trần Nghĩa, số 2-1996); Tập sách “Viễn hải quy hồng” của Nguyễn Thượng Hiền (Chương Thâu, số 1-2000); Sách Hán Nôm lưu giữ ở Leiden (Hà Lan) (Trương Văn Bình, số 2-1992); Sách Hán Nôm tại Thư viện Vương quốc Anh (Trần Nghĩa, số 3 -1995); Một số sách liên quan tới chữ Hán chữ Nôm và chữ Quốc ngữ hiện tìm thấy tại Văn khố Hội truyền giáo nước ngoài, Paris (Trần Nghĩa, số 1-1998); Sách Hán Nôm Việt Nam tại bốn tàng thư lớn của Nhật Bản (Trần Nghĩa - Nguyễn Thị Oanh, số 1-1999); vân vân...

Ngoài ra, có một số bài viết do kết hợp tốt công tác sưu tầm với công tác khảo cứu văn bản, đã chỉ ra được những nhầm lẫn kéo dài về tác giả, tác phẩm và từ đó trả lại cho César cái của César. Chẳng hạn các bài: Đi tìm nguồn gốc và năm xuất hiện của văn bản “Binh thư yếu lược” (Ngô Đức Thọ, số 1-1986); Khảo sát thêm về “ức Trai di tập” (Nguyễn Văn Nguyên, số 1-1988); Ai viết hai phần “Cổ tích” và “Nhân phẩm” trong “Mẫn Hiên thuyết loại” ? (Hoàng Văn Lâu, số 2-1989); Về nguồn gốc và tác giả của cuốn “ấu học ngũ ngôn thi” (Trần Ngọc Thuận, số 1-2000); Lệ thưởng đào của làng Đông Ngạc và các bài văn thưởng đà O (Trần Thị Kim Anh, số 2-1999); vân vân...

3. Bài Đọc sách - trao đổi ý kiến, có thể nêu một số bài tiêu biểu như: Về từ “ngài” trong câu thơ “Truyện Kiều” (Nguyễn Thiện Chí, số 2-1990); Góp ý kiến cho văn bản phiên âm của học giả Phan Đăng trong quyển “Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca” (Trần Xuân Ngọc Lan, số 4-1999); Một cuốn sách dịch quá cẩu thả (Trần Ngọc Thuận, số 4-1994); “Chinh phụ ngâm” trong “Truyền kỳ mạn lục” ? (Nguyễn Nam, số 3-2000); Những điều ta chưa biết về “Ngục trung nhật ký” cũng như về quá trình dịch thơ “Ngục trung nhật ký” của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Trần Đắc Thọ, số 1-2001); vân vân...

4. Bài Thường thức Hán Nôm cung cấp cho bạn đọc những kiến thức cần thiết về Hán Nôm học, chẳng hạn: Sách, các kiểu đóng sách và tên gọi các bộ phận của một cuốn sách cổ (Thọ Nhân, số 2-1996); Chữ Hán - dạng thể và cách cấu tạo (Thọ Nhân, số 1-1996); Thư pháp và mỹ học thư pháp (Thọ Nhân, số 3-1997); “Từ” Trung Hoa và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (Thế Anh, số 1-2001); “Phong thủy” hay cách nhìn của người Phương đông thời cổ về môi trường (Thọ Nhân, số 2-2001); vân vân...

5. Bài Tư liệu tham khảo chọn giới thiệu những công trình nghiên cứu hoặc dịch thuật của người trong nước cũng như người nước ngoài liên quan tới lĩnh vực Hán Nôm, cốt giúp chúng ta mở rộng không gian suy nghĩ. Thí dụ các bài: Hiện tượng stroop trong tiếng Việt (morikawa yasuo, số 2-1990); Vấn đề Hán họ (Coroline Gyss-Vermande, số 1-2001); Bàn về các bản in sách Truyền kỳ mạn lụ C (Kuniyé Kawamoto, số 2-2000); Hình bóng của Emile Gaspardone (Muramatsu Kazu, số 2-2001); Văn học so sánh và bản sắc văn hóa dân tộc (Lưu Văn Bổng, số 3-1999); vân vân...

III. Tác dụng xã hội của Tạp chí Hán Nôm

Mặc dù mang tính chuyên sâu, Tạp chí Hán Nôm cũng không phải quá khó bán như nhiều người vẫn tưởng. Trái lại, thực tế cho thấy lượng tiêu thụ về Tạp chí của xã hội mỗi lúc một gia tăng. Chỉ tính riêng số Tạp chí Hán Nôm do Công ty phát hành báo chí Trung ương phân phối, nếu vào những năm 1998, 1999 là 200 cuốn mỗi kỳ, thì đến những năm 2000, 2001 là 250 cuốn mỗi kỳ. Chưa kể có trường hợp in xong là tiêu thụ hết ngay, Tòa soạn không còn Tạp chí để mà bán, như Tạp chí Hán Nôm số 2-2000, trong đó có bài và ảnh giới thiệu về triển lãm thư pháp Xuân 2000 tại Văn miếu - Quốc tử giám; hay Tạp chí Hán Nôm số 3-2000, số đặc san về Nguyễn Tư Giản.

Nhiều bài viết trên Tạp chí Hán Nôm được trích dẫn trong các công trình nghiên cứu ở trong nước cũng như ở nước ngoài, điều này cũng nói lên phần nào vị thế của tờ Tạp chí trong làng học thuật.

Đặc biệt những năm gần đây, Tòa soạn Tạp chí Hán Nôm nhận được không ít thư từ của bạn đọc hoặc cộng tác viên ở các nơi gửi đến động viên, khích lệ Tạp chí. Chẳng hạn một bức thư đề ngày “Tiết Đông chí năm Kỷ Mão, Khổng lịch 2550” từ Thái Bình gửi tới, sau khi giãi bày tâm sự đối với Tòa soạn, đã ghi tặng Tạp chí Hán Nôm một bài thơ Nôm làm theo thể Đường luật, phiên âm như sau:

Sưu tầm văn học tấm lòng thành,
Tư liệu mong sao được ấn hành.
Tích cũ chuyện hay từng góp nhặt,
Tình nhà nghĩa nước nhớ đinh ninh.
Văn chương tiền bối còn lưu trữ,
Tâm huyết người xưa thấy rõ rành.
Bản sắc giữ gìn chung vốn quý,
Quê hương truyền thống mãi quang vinh.

Một bức thư khác, đề ngày 6 tháng 12 năm 1999, từ Bắc Ninh gửi cho Tạp chí Hán Nôm, có tặng đôi câu đối viết bằng chữ Nôm, phiên âm như sau:

Đất nước bốn ngàn năm, nhờ có Hán Nôm mới viết được nên trang Quốc sử;

Cháu con muôn vạn thuở, chớ thiên Âu học mà quên mất hết chữ Cha ông.

Một bức thư nữa từ Tp. Hồ Chí Minh gửi ra, đề ngày 13-01-2000, trong có đoạn: “Nhớ lại từ năm 1984, khi tôi bắt đầu cộng tác với Tập san Nghiên cứu Hán Nôm, tiền thân của Tạp chí Hán Nôm, đến nay đã 15 năm. Tôi rất tiếc năm nào cũng không ra được vì giáp Tết, đi lại cũng khó khăn. Tôi xin thành thực chia vui cùng Tòa soạn đã điều khiển Tạp chí Hán Nôm ngày một phong phú và đặc sắc hơn. Ngày nay phải nói: Được cộng tác với Tạp chí Hán Nôm là một vinh dự”.

Tạp chí Hán Nôm sở dĩ đạt được những thành tựu như trên là nhờ có sự đóng góp tích cực của các cộng tác viên, sự nỗ lực của toàn thể anh chị em trong Ban biên tập và Tòa soạn; đặc biệt là sự chỉ đạo sít sao, sự giúp đỡ chí tình của Trung tâm KHXH & NVQG và Bộ Văn hóa Thông tin, cùng sự hỗ trợ nhiều mặt của Viện Nghiên cứu Hán Nôm đối với Tạp chí./.

TB

TẠP CHÍ HÁN NÔM TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA XÃ HỘI HIỆN NAY

TRỊNH KHẮC MẠNH

Tạp chí Hán Nôm mà trước đó là Tập san Nghiên cứu Hán Nôm, đến nay đã tròn 15 năm tuổi (1986 - 2001). Tuổi của trăng rằm, của ước mơ và hoài bão; tuổi của sức sống vươn tới sự hoàn chỉnh trong quá trình phát triển.

Trong 15 năm qua Tạp chí Hán Nôm đã ra mắt bạn đọc được 49 số với khối lượng 925 bài các loại của 338 tác giả. Từ một Tập san ra không có kỳ hạn, đến Tạp chí ra 2 số/năm và nay là 4 số/năm; số lượng ấn phẩm tuy còn khiêm tốn, nhưng mang đậm dấu ấn của một chặng đường xây dựng và phát triển. Tòa soạn Tạp chí Hán Nôm thực sự cảm ơn những cố gắng của đội ngũ cán bộ chuyên trách Tạp chí, cán bộ kiêm nhiệm biên tập Tạp chí, sự ủng hộ hưởng ứng của các nhà nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm, các cộng tác viên và sự ủng hộ giúp đỡ của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, của Bộ Văn hóa Thông tin trong 15 năm qua đối với Tạp chí.

Tạp chí Hán Nôm, ngày càng chững chạc trong làng báo chí Việt Nam và quốc tế, phần nào đáp ứng nhu cầu về thông tin của khoa học Ngữ văn Hán Nôm thuộc các lĩnh vực: nghiên cứu lý luận, giới thiệu tư liệu mới, trao đổi ý kiến - đọc sách, giới thiệu tư liệu tham khảo và thường thức Hán Nôm, v.v.

Như mọi người đều biết, trải hàng ngàn năm lịch sử, người Việt Nam đã sử dụng chữ Hán và chữ Nôm để sáng tác trước thuật; để ghi chép các công văn, tài liệu, sách vở; để khắc trên các bia đá, chuông đồng, biển gỗ, v.v. và các loại tư liệu khác, v.v. Những thư tịch, tài liệu viết bằng chữ Hán và chữ Nôm đó, ngày nay chúng ta thường gọi là di sản Hán Nôm.

Di sản Hán Nôm Việt Nam ra đời trong những thời kỳ, khi mà học thuật ở Việt Nam còn chưa triệt để phân ngành, các tác phẩm Hán Nôm thường mang tính tổng hợp, đa ngành: “văn, sử, triết bất phân”. Mặt khác các tác phẩm Hán Nôm còn là sản phẩm của giao lưu văn hóa với các nước sử dụng chữ biểu ý ở Đông á, đặc biệt là với Trung Quốc; trong khi đó, xét về mặt địa lý, thì Việt Nam lại nằm ở khu vực Đông Nam á. Đây là nét đặc thù của giao lưu văn hóa Việt Nam.

Khoa thi Hội cuối cùng của Nhà nước phong kiến Việt Nam diễn ra vào năm 1919 đã chấm dứt một nghìn năm lịch sử khoa cử Việt Nam gắn với Hán học. Từ đây, chữ Hán và chữ Nôm mất vai trò sử dụng chính thống trong đời sống văn hóa xã hội Việt Nam; nhưng việc tự học, việc ghi chép bằng chữ Hán và chữ Nôm trong nhân dân vẫn kéo dài cho đến giữa thế kỷ XX, thậm chí cho tới ngày nay, trong một số trường hợp cá biệt. Như vậy, kể từ đầu thế kỷ XX, người Việt Nam chuyển sang sử dụng chữ cái La tinh, nay thường gọi là chữ Quốc ngữ. Một vấn đề được đặt ra là, người Việt Nam thế kỷ XX có sự cách biệt về văn tự với ông cha mình các thế kỷ trước. Đại đa số người dân Việt Nam hôm nay không đọc được chữ Hán và chữ Nôm, mà thường chỉ chiêm ngưỡng vẻ đẹp qua thư pháp, chứ không hiểu được nội dung các thư tịch, tài liệu Hán Nôm ở các thư viện; không hiểu được các văn bản khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ, rồi các hoành phi, câu đối khắc ở các di tích lịch sử văn hóa tại các địa phương. Đã không đọc được văn bản thì không nắm được những giá trị nội dung văn hóa thành văn truyền thống của ông cha ta đã chứa đựng trong văn bản.

Để góp phần giải quyết vấn đề quan trọng nêu trên, chuyên ngành Hán Nôm học ở Việt Nam đã ra đời. Trong nhiều thập kỷ qua, chuyên ngành Hán Nôm học Việt Nam đã làm được nhiều việc trong công tác sưu tầm, bảo quản, phiên dịch, nghiên cứu khai thác di sản Hán Nôm và đào tạo đội ngũ cán bộ Hán Nôm. Cùng với sự ra đời của chuyên ngành Hán Nôm học, Tạp chí Hán Nôm, diễn đàn duy nhất của chuyên ngành cũng đã có mặt và góp phần vào làm nên diện mạo của chuyên ngành Hán Nôm học hôm nay.

Nội dung của bài viết này là đặt Tạp chí trong xu hướng phát triển của thời đại và của đất nước, bắt nhịp được hơi thở của đời sống văn hóa xã hội và sự phát triển của khoa học và nhân văn, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu tri thức Hán Nôm, làm chỗ dựa tin cậy của đông đảo người Việt Nam hôm nay và mai sau khi tìm về văn hóa thành văn truyền thống của dân tộc.

Phục vụ đời sống xã hội là nhu cầu tất yếu của các ngành khoa học, sản phẩm khoa học cuối cùng là để phục vụ đời sống xã hội, dù là khoa học xã hội và nhân văn hay là khoa học tự nhiên, dù là nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu ứng dụng. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng nêu rõ: “Khoa học xã hội và nhân văn đặt trọng tâm vào tổng kết thực tiễn, đi sâu nghiên cứu những vấn đề lớn của đất nước, khu vực và toàn cầu, giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cung cấp luận cứ cho việc hoạch định đường lối, chiến lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, phát huy nhân tố con người và văn hóa Việt Nam”(1).

Nhiệm vụ của khoa học xã hội và nhân văn đã được Nghị quyết IX của Đảng nêu rõ. Là một chuyên ngành khoa học nằm trong khoa học xã hội và nhân văn, chuyên ngành Hán Nôm học Việt Nam mà diễn đàn là Tạp chí Hán Nôm trong thời gian tới cần xác định rõ hơn phương hướng phát triển trên 3 vấn đề chủ yếu sau đây: tính khoa học, tính cập nhật và tính xã hội.

1. Với tư cách một tạp chí khoa học chuyên ngành, Tạp chí Hán Nôm có nhiệm vụ giới thiệu tinh hoa văn hóa dân tộc, những tri thức khoa học của ông cha trải hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tạp chí tiếp tục đăng tải những bài viết có tính chất lý luận nhằm xây dựng một hệ phương pháp luận cho ngành Hán Nôm học Việt Nam trong các lĩnh vực khoa học, như: văn bản học, văn tự học, văn tịch học, huấn hỗ học, gia phả học, bi ký học, v.v.; và những bài viết khoa học liên ngành, như: tư tưởng chính trị xã hội, kinh tế, văn học, sử học, địa lý, ngoại giao, pháp luật, giáo dục và đào tạo, y học, xã hội học, tâm lý học, và một số vấn đề khác.

2. Tạp chí hướng vào việc nghiên cứu giới thiệu tác gia, tác phẩm Hán Nôm nhiều hơn nữa. Những số Tạp chí kỷ niệm năm chẵn đối với các tác gia Hán Nôm và giới thiệu các tác phẩm của tác gia đó, cần được quan tâm thích đáng, nhằm cung cấp cho bạn đọc Hán Nôm những thông tin thời sự, cập nhật của chuyên ngành Hán Nôm. Việc làm này, không chỉ đối với các tác gia Hán Nôm nổi tiếng đã quen biết, mà kể cả các tác gia khác. Bởi lẽ các tác gia Hán Nôm “Mãi mãi là những ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam làm vẻ vang cho giống nòi”(2), và cũng bởi lẽ “Những tác phẩm cổ điển là tinh hoa của nền văn nghệ dân tộc qua nhiều thế kỷ, do đời sống và tiếng nói dân tộc ngày một phong phú mới dần dần tạo nên... Làm giàu cho tư tưởng tình cảm và tiếng nói Việt Nam”(3). Những số Tạp chí chuyên san sẽ tiếp tục ra mắt bạn đọc nhiều hơn nữa, để bàn luận, trao đổi và giới thiệu các vấn đề chung, như: văn hóa vùng và giao lưu văn hóa Việt Nam, nông nghiệp cổ truyền Việt Nam, pháp luật Việt Nam thời kỳ phong kiến, tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, thơ chữ Hán Việt Nam, thơ Nôm hàn luật, tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, y học cổ truyền Việt Nam, v.v. Những chuyên san này có thể kết hợp với các hội nghị, hội thảo khoa học của chuyên ngành Hán Nôm học, hoặc Tạp chí Hán Nôm chủ động nêu lên chủ đề cho từng số để thu hút, động viên các cộng tác viên tham gia.

3. Kết hợp với các địa phương để có những số Tạp chí với mục đích nghiên cứu và giới thiệu di sản Hán Nôm hiện có ở các địa phương, như ở các văn miếu, văn chỉ, đình, đền, chùa, lăng tẩm, nhà thờ họ, hang động nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân tìm hiểu tri thức Hán Nôm tại địa phương. Chúng ta hoàn toàn có đủ tư liệu và lực lượng cộng tác viên để ra những số tạp chí hợp tác giữa Tạp chí Hán Nôm với các địa phương về di sản Hán Nôm ở từng địa phương. Có làm được như vậy, thì Tạp chí Hán Nôm mới gắn với đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng làng xã Việt Nam và làm cho nhân dân ở các địa phương ý thức được giá trị, vẻ đẹp văn hóa truyền thống mà cha ông để lại. Với những số Tạp chí như vậy, chữ Hán và chữ Nôm ở các địa phương khi đó không phải chỉ là để chiêm ngưỡng mà còn thực sự góp phần khơi dậy niềm tự hào về văn hóa truyền thống trong thời đại hiện nay. Tôi nghĩ rằng trong tương lai, những số Tạp chí nghiên cứu và giới thiệu di sản Hán Nôm hiện có ở các địa phương sẽ lần lượt ra mắt bạn đọc, làm sao Tạp chí Hán Nôm có mặt ở các nhà văn hóa trong phạm vi cả nước. Điều này thật không giản đơn, vì nếu tính mỗi tỉnh thành hợp tác với Tạp chí Hán Nôm để in một số tạp chí thôi, thì với số kỳ của Tạp chí như hiện nay cũng phải qua 15 năm. ấy là chưa kể đến những số Tạp chí nghiên cứu và giới thiệu di sản Hán Nôm hiện có ở các di tích và danh thắng nổi tiếng trong cả nước.

Với những vấn đề mà chúng tôi vừa trình bày ở trên, trong thời gian tới, Tạp chí Hán Nôm sẽ có kế hoạch trước mắt và lâu dài để thực hiện tốt phương hướng nhiệm vụ của mình, nhằm làm cho Tạp chí ngày càng trưởng thành và phát triển. Nhưng đi vào thực tế công việc thì quả thật sẽ có nhiều khó khăn và đầy thách thức. Chúng tôi cho rằng, Tạp chí Hán Nôm sẽ không đơn độc mà còn có cả sự ủng hộ tích cực của các nhà nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm, các cộng tác viên, các địa phương trong cả nước, và sự giúp đỡ nhiệt tình của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, của Bộ Văn hóa Thông tin. Cùng chung với các tạp chí khác thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, Tạp chí Hán Nôm phấn đấu vì nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, như Nghị quyết Đại hội IX của Đảng nêu rõ: “Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bảo tồn và tôn tạo các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể làm nền tảng cho sự giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng, giữa các vùng cả nước và giao lưu văn hóa bên ngoài. Tiếp tục đưa các hoạt động văn hóa thông tin về cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc; phát động phong trào toàn dân tham gia thực hiện nếp sống văn minh, gia đình, bản, làng văn hóa; tiến tới hoàn chỉnh hệ thống thiết chế văn hóa bằng nguồn lực Nhà nước và mở rộng xã hội hóa, làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người. Phấn đấu 80% làng xóm, khu phố đạt chuẩn gia đình văn hóa; 50% làng xóm, khu phố đạt chuẩn văn hóa quốc gia; 78% xã phường có nhà văn hóa, bình quân mỗi người dân có 4 bản sách/năm”(4).

Những nhiệm vụ mới theo nội dung Nghị quyết Đại hội IX của Đảng về khoa học và công nghệ, về phát triển văn hóa đang thôi thúc Tạp chí Hán Nôm vươn tới sự hoàn chỉnh trong quá trình phát triển.

CHÚ THÍCH

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội-2001, tr.205.

(2) Trường Chinh: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1975, tr.171.

(3) Về văn hóa văn nghệ, Nxb. Văn hóa, Hà Nội - 1976, tr.214

(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội-2001, tr.296-297.

TB

TẠP CHÍ HÁN NÔM TRONG
NHÀ TRƯỜNG

ĐẶNG ĐỨC SIÊU

Nhận thức được vai trò quan trọng của Ngữ văn Hán Nôm trong hành trang tri thức của người giáo viên tiếng Việt và Văn học các cấp, trường Đại học Sư phạm Hà Nội ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước đã quyết tâm đầu tư công sức đề xây dựng một môn học mới trong hệ thống các môn học của nhà trường, đó là môn Ngữ văn Hán Nôm. Công việc được tiến hành một cách thận trọng nhưng khẩn trương. Qua một thời gian dạy thí điểm ở trường Đại học sư phạm Hà Nội. môn Ngữ văn Hán Nôm được triển khai bố trí trong tất cả các trường Đại học Sư phạm trong cả nước. Một bộ giáo trình chuẩn, được Hội đồng thẩm định sách của Bộ Giáo dục Đào tạo giới thiệu làm sách dùng chung cho các trường Đại học Sư phạm. Phần mở đầu của bộ giáo trình đã nói rõ: “Những hiểu biết về Ngữ văn Hán Nôm là một bộ phận tạo thành tổng thể tiềm lực văn hóa của người giáo viên tiếng Việt và văn học các cấp. Bộ môn “Ngữ văn Hán Nôm” sẽ cung cấp một cái vốn nhất định về Ngữ văn Hán Nôm cổ, nhờ đó người giáo viên tiếng Việt và văn học sẽ giải thích những vấn đề có liên quan đến từ nguyên từ nghĩa của bộ phận từ Việt gốc Hán một cách sâu sắc hơn, sẽ giảng những bài thơ, bài văn được ghi lại bằng chữ Hán, chữ Nôm một cách tinh tế, hấp dẫn và có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn.

Ngoài nhà trường, người giáo viên còn là nhà hoạt động văn hóa. Họ có nhiệm vụ tích cực góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, trong đó có vấn đề kế thừa và phát huy những tinh hoa trong truyền thống lâu đời của nền văn hóa dân tộc. Những hiểu biết về Ngữ văn Hán Nôm sẽ tạo ra cho người giáo viên những khả năng thực hiện tốt nhiệm vụ nói trên.

Qua vài chục khóa đào tạo với hàng ngàn giáo viên ngữ văn ra trường tỏa về các địa phương, qua thực tiễn giảng dạy ở các trường phổ thông trong cả nước, tác dụng của bộ môn Ngữ văn Hán Nôm trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập đã được khẳng định, không riêng chỉ trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Việt và Văn học mà còn lan tỏa sang nhiều môn học khác như chính trị, giáo dục công dân, lịch sử, địa lý... và các hoạt động ngoại khóa, văn hóa xã hội ngoài nhà trường. trước yêu cầu cấp thiết cần đào tạo những chuyên gia về Ngữ văn Hán Nôm, bộ môn Hán Nôm trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng đã được trên trao cho trách nhiệm đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ của chuyên ngành. Và công việc mới mẻ này cũng đã thu lượm được những kết quả bước đầu đáng khích lệ.

Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, đã có một thời kỳ, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, chuyên ngành Hán Nôm học - một bộ phận quan trọng của Việt Nam học không được quan tâm một cách đúng mức. Vì vậy, tuy là một nước có được một kho tàng di sản văn hóa thành văn ghi bằng chữ Hán và chữ Nôm đồ sộ, phong phú về nội dung, có giá trị cao về hình thức nghệ thuật, nhưng số người am hiểu Hán Nôm ngày càng thưa thớt, sách vở tư liệu liên quan đến việc tạo dựng cơ sở lịch sử và lý thuyết cho chuyên ngành Hán Nôm theo hướng Ngữ văn học cổ điển (philologie classique) hầu như rất hiếm hoi. Thực tế này đã gây ra nhiều khó khăn cho việc giảng dạy và học tập môn Hán Nôm trong nhà trường, đặc biệt là đối với sinh viên các khối lớp cuối của bậc đại học và các học viên cao học. Chủ trương của trên là cố gắng phát huy tối đa năng lực học, tự đào tạo của sinh viên, học viên, nhưng tài liệu tham khảo đọc thêm để nâng cao khả năng tự học, tự đào tạo trong lĩnh vực Hán Nôm; ngoài số từ điển sách tham khảo bước đầu quá ít ỏi, còn biết bao nhiêu lĩnh vực tri thức cần thiết khác nữa như: Văn tự học, Văn bản học, Công bố học, Văn hiến học... người học hầu như rất khó tìm được nguồn cung cấp những chỉ dẫn, gợi ý bổ ích, ngoài lời thầy giảng trên lớp và mấy cuốn sách tham khảo có hạn. Tất nhiên, một số sinh viên học viên có trình độ ngoại ngữ nhất định có thể tự giải quyết khó khăn ấy ở mức độ phạm vi nào đó. Tuy nhiên, số sinh viên học viên có khả năng này quả là quá hiếm hoi, vì đọc hiển những tài liệu tham khảo thuộc chuyên ngành đâu có phải là việc dễ dàng. Vả lại, sách vở tài liệu tham khảo về Ngữ văn học cổ điển của nước ngoài cũng chỉ bù đắp được phần nào những thiếu hụt về thông tin kiến thức chung của chuyên ngành. Còn rất nhiều vấn đề liên quan đến việc khai thác toàn diện di sản văn hóa thành văn Hán Nôm, từ vấn đề chung nhất có tính chất bao trùm như định hướng học thuật cho đến những vấn đề liên quan đến các lĩnh vực quan trọng của chuyên ngành như: sưu tầm, nghiên cứu văn bản học, chỉnh lý, chú giải, công bố văn bản cổ Hán Nôm..., rất ít khi tìm được những thông tin, chỉ dẫn cụ thể thiết thực ở sách nước ngoài.

Chính vì vậy, ngay từ khi Tạp chí Hán Nôm ra số đầu tiên, chúng tôi đã vui mừng nhận thấy đây là một ấn phẩm mà những người dạy và học chuyên ngành Hán Nôm trong các trường đại học mong đợi từ lâu.

Qua thời gian, Tạp chí Hán Nôm quả thực đã chứng tỏ là nguồn bổ sung kiến thức quan trọng giúp cho ngành Hán Nôm trong nhà trường có thể nâng cao chất lượng dạy và học. Đối với người dạy, Tạp chí là diễn đàn rộng mở , là nơi có thể tham gia trao đổi ý kiến nhằm đi sâu một số vấn đề khoa học liên quan đến việc định hướng học thuật, xác lập cơ sở lịch sử và lý thuyết, phương pháp nghiên cứu... cho chuyên ngành. Các sinh viên đại học, học viên cao học chuyên ngành Hán Nôm có thể tìm thấy ở Tạp chí nhiều thông tin chỉ dẫn, gợi ý thiết thực, giúp họ làm quen một cách rộng rãi với những đường hướng, phương pháp, thao tác nghiên cứu... Hán Nôm, từ khâu minh giải chữ nghĩa văn bản (thuộc đủ mọi loại thể: văn xuôi, văn vần, văn biền ngẫu, văn bia...) cho đến các khâu giám định văn bản (văn bản gốc, văn bản giả...) xác lập văn bản quy phạm, xây dựng phổ hệ truyền bản; xác định niên đại tuyệt đối, niên đại tương đối của văn bản; giải quyết các vấn đề liên quan đến tác giả, cơ cấu của văn bản, chú thích dẫn giải văn bản... Điều đáng quý nhất ở đây là, những vấn đề kể trên đều được các tác giả có bài trong Tạp chí triển khai nghiên cứu, xử lý trên một cơ sở dữ liệu hết sức phong phú, đa dạng (bao gồm nhiều văn bản Hán Nôm quý hiếm mới phát hiện, kết quả của những đợt sưu tầm tư liệu được Viện Nghiên cứu Hán Nôm tổ chức một cách khoa học và đều đặn hàng năm) và đều đưa ra được những nhận định kết quả thỏa đáng, có tính chất gợi mở sâu rộng, có sức thuyết phục cao. Có thể khẳng định rằng không riêng gì các sinh viên học viên nhiều chuyên ngành khác thuộc liên ngành khoa học xã hội và nhân văn đều có thể tìm thấy được nhiều điều bổ ích lý thú qua hàng trăm bài viết trong Tạp chí liên quan gắn bó với các vấn đề quan trọng thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học văn học, văn hóa học, lịch sử học...

Nói tóm lại, bên cạnh mấy bộ giáo trình và tài liệu tham khảo (còn rất hiếm hoi), Tạp chí Hán Nôm từ khi ra đời đến nay đã là chỗ dựa học thuật để các sinh viên học viên chuyên ngành Hán Nôm (và một số chuyên ngành khác nữa) trong các trường đại học có thể triển khai việc khai thác thông tin, mở rộng kiến văn, bổ sung kinh nghiệm nghiên cứu nhằm hoàn thành tốt việc học tập trong nhà trường và chuẩn bị hành trang tri thức để mai sau khi ra trường có thể đảm đương được trách nhiệm nặng nề làm thầy, làm người cán bộ văn hóa mà xã hội giao phó, đặc biệt là trong lĩnh vực kế thừa và phát huy di sản Hán Nôm nhằm góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

TB

SUY NGHĨ VỀ GỢI Ý CHO CÔNG TÁC
ĐÀO TẠO HÁN NÔM TỪ TẠP CHÍ HÁN NÔM

PHẠM VĂN KHOÁI

Đối với thầy trò Hán Nôm, Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn chúng tôi, Tạp chí Hán Nôm vừa như người bạn đường vừa như người hướng dẫn. Là người bạn đường một khi qua Tạp chí, chúng tôi tìm được những tri thức hay những thông tin mới và đôi khi chúng tôi cũng nhờ Tạp chí mà thể hiện mình, giới thiệu công việc của mình đã, đang, sẽ làm cho xã hội, mặc dù những công việc, công trình nghiên cứu ấy còn rất nhỏ, kết quả đạt được còn rất khiêm tốn. Là người hướng đạo một khi, qua Tạp chí chúng tôi thấy rõ được các khuynh hướng nghiên cứu, thấy được yêu cầu xã hội, từ đó nhận thức mình rõ hơn, kịp thời điều chỉnh chương trình, cập nhật kiến thức để đào tạo tốt những người làm công tác Hán Nôm biết “sưu tầm, bảo quản và khai thác di sản Hán Nôm” như các nghị quyết, chính sách của Đảng và Chính phủ đã chỉ rõ cho ngành Hán Nôm nói chung.

Tạp chí của ngành Hán Nôm cả nước, từ khi còn là Tập san Nghiên cứu Hán Nôm (1984) đến Tạp chí Hán Nôm, Tạp chí Hán Nôm (1986) luôn xếp bài theo trật tự: Nghiên cứu * Đọc sách - Trao đổi ý kiến * Sưu tầm * Tin tức * Tư liệu tham khảo. Riêng mục Sưu tầm thể hiện nhiệm vụ sưu tầm của công tác Hán Nôm. Các mục khác vốn là các mục thường có ở một tạp chí khoa học chuyên ngành. Mỗi mục đọc, chúng tôi đều thu được nhiều thông tin hữu ích tùy theo từng số, từng bài. Riêng mục nghiên cứu, với lượng bài nhiều hơn, chúng tôi thu được nhiều thông tin hơn và quan trọng hơn. Như chủ đề bài viết của chúng tôi đã nêu, mục này có nhiều gợi ý cho công tác đào tạo Hán Nôm ở các cấp học (đại học, sau đại học) mặc dù chúng không phải lúc nào cũng là những bài viết về phương pháp đào tạo. ở đây có những bài thuộc phạm trù nghiên cứu cơ bản, có những bài nghiên cứu thực nghiệm, có những bài thuộc phạm trù nghiên cứu triển khai, nghiên cứu ứng dụng. Mỗi loại bài đều có tầm quan trọng của mình, có tác dụng gợi ý cho công tác đào tạo của chúng tôi.

Xưa nay, không ít người nghĩ học Hán Nôm chỉ là học đọc, viết chữ Hán, học Tứ thư, Ngũ kinh... Nếu quả là chỉ học lấy một ít chữ Hán, đọc thuộc Tứ thư, Ngũ kinh thi cũng chỉ sống lại trong nền văn hóa quá khứ chứ không thể làm công tác nghiên cứu Hán Nôm với nhiệm vụ là “khai thác” giá trị của văn bản Hán Nôm - di sản quý báu phản ánh cuộc sống của cha ông. Đó là những nghiên cứu về văn bản học, văn học, ngôn ngữ, sử học, kinh tế, luật học... Cũng như các ngành khoa học khác, cùng với thời gian và yêu cầu của đời sống xã hội, các trọng tâm nghiên cứu Hán Nôm luôn luôn phải thay đổi. Có lẽ lúc đầu vừa thành lập nên chủ yếu là các bài nghiên cứu từ góc độ ngữ văn học, càng về sau càng có thêm nhiều bài từ góc độ sử học và các khoa học xã hội khác... Nhìn những bài nghiên cứu đó, chúng tôi thấy phải đổi mới công tác đào tạo của mình nhiều hơn nữa mới mong cho sản phẩm của mình thích ứng với tình hình, thực hiện được nhiệm vụ khai thác vốn cổ mà Nhà nước giao cho.

Muốn khai thác được vốn cổ phải có cách khai thác, hay nói cách khác, phải dùng đúng dao, phải lách đúng chỗ. Các văn bản Hán Nôm ra đời trong quá khứ, chuyên chở những vấn đề của thời trung đại, tự nhiên nó mang các đặc trưng tiêu biểu cho văn hóa trung đại. Văn hóa trung đại là văn hóa mà ở đó chưa có sự phân ngành rõ rệt như thời hiện đại. Một sự kiện, một vấn đề vừa có thể ở lĩnh vực này vừa thuộc lĩnh vực khác. Đó là thực tế mà hay được người ta diễn đạt bằng câu “Hán Nôm là văn - sử - triết bất phân”. Vậy, người hiện đại phải xâm nhập đối tượng này ra sao ? Trước hết phải đọc thông văn bản đã. Đọc thông văn bản là nói đến phạm trù ngữ văn của vấn đề và để đạt được nó cũng không phải dễ chút nào. Nhìn Hán Nôm từ góc độ ngữ văn sẽ giúp cho người học có cái nhìn toàn diện vì ngữ văn học nghiên cứu sự hình thành văn bản, sự tồn tại cũng như giá trị của văn bản. Bởi thế, đào tạo Hán Nôm trước hết và phải bắt đầu từ góc độ ngữ văn. Song, khai thác các văn bản Hán Nôm nếu chỉ sử dụng cách nhìn ngữ văn học thì chưa đủ.

Cũng cần lưu ý rằng, khai thác văn bản Hán Nôm từ góc độ ngữ văn học là một công việc đòi hỏi tính khoa học sâu sắc, nghiêm túc. Khoa học nào mà chả có nguyên tắc của nó. Không hiểu các nguyên tắc, khái niệm, hệ vấn đề, cách trình bày... của nó thì sao có thể xem đó là cách xử lý vấn đề ở mặt bằng khoa học hiện nay được. Sau khi đã giải quyết được ở những mức độ nhất định ở mặt bằng ngữ văn, bước tiếp theo của công việc đào tạo Hán Nôm sẽ là chỉ ra các hướng chuyên môn chuyên ngành - mà văn bản Hán Nôm hàm chứa. Nghiên cứu văn bản Hán Nôm về tổ chức hành chính, dứt khoát chúng ta phải nói về chúng bằng ngôn ngữ của chuyên môn tổ chức hành chính hiện đại. Nói về các văn bản Hán Nôm từ các góc độ sử học, luật pháp, kinh tế, xã hội, giáo dục... cũng vậy. Nhìn vào các bài báo làm cho chúng tôi nhận ra công việc đào tạo thật nặng nề, lắm việc quá. Sơ đồ kiến thức của đào tạo người làm công tác nghiên cứu Hán Nôm cũng phải được phân tầng: đâu là kiến thức ngữ văn Hán Nôm bắt buộc cho tất cả mọi người, đâu là kiến thức ngữ văn Hán Nôm mang tính chuyên ngành dành riêng cho nghiên cứu Hán Nôm chuyên sâu. Khi đã nhận ra, khi giải quyết một vấn đề nào đó nếu dừng lại ở kiến thức ngữ văn Hán Nôm thì chưa đủ mà cần phải học thêm kiến thức chuyên môn khác thì người học cần biết nên học thêm ở đâu? học thêm bằng cách nào?... Có rạch ròi các loại kiến thức ấy ta mới thấy được kiến thức cần học là nhiều. Có thế, người làm công tác Hán Nôm trong từng trường hợp của đề tài nghiên cứu cụ thể mới hy vọng lập được giả thuyết nghiên cứu, xây dựng được hệ vấn đề, biết cấu trúc vấn đề, để rồi tiến hành nghiên cứu thực nghiệm, làm cho văn bản Hán Nôm biết nói và cuối cùng, các kết luận mà họ rút ra trên cơ sở có số đo cụ thể, có tương quan, hệ thống mới có giá trị khoa học và giá trị sử dụng.

Phải nói rằng, nhiều công việc cần phải làm trong đào tạo Hán Nôm được chúng tôi nhận thức qua những gợi ý chỉ dẫn của các bài nghiên cứu trên Tạp chí Hán Nôm. Nhiều công việc, sẽ phải làm sao đây? Tất nhiên phải làm từng bước, phải phân khối kiến thức cho từng môn học, từng chuyên đề, từng năm học, từng cấp học, phân tích đến tính tiên quyết của các môn học. Các môn học nằm trong hệ thống, không thể đảo lộn một cách tùy tiện. Học chữ Hán, chữ Nôm để sưu tầm, bảo quản, khai thác vốn văn hóa Hán Nôm phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chứ không phải phục hồi nho học, không phải làm sống lại lối học từ chương...

Trên cơ sở nhận thức như thế, ngay ở phạm vi kiến thức Ngữ văn Hán Nôm cũng cần được định lượng. Đối tượng đi học là sinh viên đã qua giáo dục phổ thông, có ngoại ngữ, ngày nay lại rất dồi dào về tài liệu, sách tra cứu, tin học... Học sinh đến lớp phải chuẩn bị bài ở nhà, những gì tự học học được thì phải để cho phần tự học, người thầy chủ yếu làm nhiệm vụ dẫn dắt vấn đề, hệ thống hóa, kiểm tra, chữa sai... Do thế, cần phải có lối dạy đáp ứng với mọi yêu cầu của tình hình. Xuất phát từ chân trời ngữ văn nhưng cũng cần xác định rõ đâu là kiến thức thuộc phạm vi học chữ sơ đẳng, đâu là nâng cao, đâu là lối viết cho từng nhóm văn bản xét về mặt thời gian, trường phái, phong cách. Có như thế mới hy vọng sản phẩm đào tạo ra đảm đương được nhiệm vụ khai thác di sản văn hóa Hán Nôm, nói rõ cho người hiện đại hiểu những giá trị còn lưu giữ trong các văn bản Hán Nôm.

Từ đó, chúng tôi thiết nghĩ, Tạp chí nên tăng cường thêm các mục về phương pháp luận nghiên cứu Hán Nôm, giới thiệu các thao tác, các phương pháp của nghiên cứu Hán Nôm, các hướng nghiên cứu trong Đông phương học, Hán học, Hán ngữ học nói chung, Hán Nôm nói riêng, để từ đó có thể trang bị một bộ đồ nghề nghiên cứu, gợi ý các hướng nghiên cứu cho những người định lập thân bằng công việc Hán Nôm.

Trên đây là một vài điều chúng tôi càng ngày càng nhận thức rõ về công việc đào tạo Hán Nôm. Sự nhận thức ấy ngày càng dấy lên trong chúng tôi bởi thực tế công việc, bởi yêu cầu của công tác đào tạo và cũng là bởi những gợi ý toát ra từ công việc của người nghiên cứu Hán Nôm thể hiện qua bài viết đăng trên Tạp chí Hán Nôm. Điều đó, tự nó, đã nói lên mức độ ảnh hưởng và vai trò của Tạp chí Hán Nôm đối với công tác đào tạo Hán Nôm của chúng tôi - Xin chúc Tạp chí Hán Nôm ngày càng lớn mạnh hơn nữa, có nhiều bài tốt hơn nữa, và trong đó, chắc chắn chúng tôi sẽ tìm được nhiều gợi ý hơn nữa cho công tác đào tạo nói chung và cho bản thân từng người chúng tôi. Xin chân thành cảm ơn Hội đồng biên tập đã tạo điều kiện cho chúng tôi phát biểu trên Tạp chí.

TB

ẤN TƯỢNG BUỔI BAN ĐẦU

HOÀNG VĂN LÂU

Tạp chí Hán Nôm ra số đầu tiên vào năm 1986. Trước đó, từ năm 1984, có một ấn phẩm không định kỳ, là Nghiên cứu Hán Nôm. Xuân thu nhị kỳ, Nghiên cứu Hán Nôm đều đặn ra mỗi năm hai số. Những người làm Tạp chí Hán Nôm coi Nghiên cứu Hán Nôm là tiền thân, quan trọng hơn là bước tập dượt cho một tờ Tạp chí chính thức, Tạp chí Hán Nôm. Và khi nhớ về đoạn đường “mười lăm năm biết bao tình” của tờ Tạp chí, người ta cũng thường hay nhớ lại thuở ban đầu ấy, cái thuở gây dựng, cái thuở vươn lên... để có ngày nay. ấn tượng thì ngổn ngang, ở đây xin nêu vài “sự kiện” ban đầu.

Hội thảo đầu tiên

Đó là mùa xuân năm 1986, trước ngưỡng cửa của Đại hội VI, Đại hội mở ra thời kỳ đổi mới của đất nước. Lúc này, Nghiên cứu Hán Nôm đã ra được 3 số. Trong khi đó, hồ sơ xin ra Tạp chí Hán Nôm gửi đi từ cuối năm 1983 vẫn chưa có hồi âm. Cũng xin nhắc lại một chi tiết: Ngay khi vừa thành lập Viện Nghiên cứu Hán Nôm, lãnh đạo Viện đã có đơn xin ra Tạp chí, và trong biên chế của Viện đã có một người được bố trí để làm công việc Tạp chí. Chúng tôi hiểu là cơ quan có trách nhiệm chưa nắm được đầy đủ thông tin về Viện Nghiên cứu Hán Nôm và ngành Hán Nôm, nên còn cần cân nhắc chăng. Vì thế, tốt nhất là có cuộc “đối thoại” trực tiếp giữa Viện Nghiên cứu Hán Nôm và giới nghiên cứu khoa học xã hội với Vụ Báo chí (Ban tư tưởng văn hóa Trung ương). Cuộc hội thảo có nhiều Giáo sư hàng đầu thuộc các ngành Sử học, Văn học, Ngôn ngữ, Hán Nôm... như Giáo sư Bùi Văn Nguyên, Giáo sư Phan Huy Lê, Giáo sư Hà Văn Tấn, Phó giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, Phó giáo sư Đặng Đức Siêu, Phó giáo sư Trương Đình Nguyên... và các nhà nghiên cứu thuộc nhiều ngành khoa học xã hội.

Các Giáo sư cùng các nhà nghiên cứu với bề dầy trí tuệ và nhiệt tình, trách nhiệm đối với di sản Hán Nôm của ông cha, phân tích sâu sắc ý nghĩa chính trị, ý nghĩa học thuật và ý nghĩa văn hóa của tờ Tạp chí chuyên ngành Hán Nôm, ủng hộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm ra tờ Tạp chí Hán Nôm. Có Giáo sư còn tỏ ra ngạc nhiên đặt câu hỏi: Tại sao đến tận bây giờ (năm 1986) mà vẫn chưa có một tờ Tạp chí cho ngành Hán Nôm ?

Cố Giáo sư Viện sỹ Phạm Huy Thông khi ấy là Phó chủ nhiệm ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, chủ trì Hội thảo. Là một trong những người đề xướng việc thành lập Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nhiều năm theo dõi bước tiến của Viện, cố Giáo sư, Viện sỹ rất thông cảm với yêu cầu ra tờ Tạp chí chuyên ngành, đã thay mặt lãnh đạo ủy ban, thay mặt giới nghiên cứu chuyên ngành Hán Nôm và ngành khoa học xã hội, chính thức đề nghị Vụ Báo chí sớm có quyết định cho tờ Tạp chí Hán Nôm chào đời.

Đại diện Vụ Báo chí lắng nghe ý kiến với tinh thần thực sự cầu thị, bày tỏ sự đồng tình với những ý kiến nghị đã nêu.

Sau cuộc hội thảo này 3 tháng, thì có quyết định thành lập tờ Tạp chí Hán Nôm.

Số chuyên đề đầu tiên

Số Nghiên cứu Hán Nôm 1984 là số chuyên đề về “Sưu tầm, bảo vệ thư tịch và tư liệu Hán Nôm”. Phần chuyên đề chiếm tới 87 trong tổng số 156 trang in khổ 20 x 14,5cm. Nét đáng chú ý của phần chuyên đề là có một số bài có tính chất tổng kết kinh nghiệm sưu tầm và bảo quản. Vài nét về công việc sưu tầm thư tịch Hán Nôm trong lịch sử (Hoàng Lê), Quá trình hình thành kho sách Hán Nôm hiện nay (Dương Thái Minh), Tổ chức bảo quản, sưu tầm thư tịch và tư liệu Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Mai Ngọc Hồng). Lại có những thông tin rất quý về sưu tầm bảo quản di sản Hán Nôm ở các tỉnh Thái Bình, Hải Hưng, Hà Sơn Bình (nay là Hà Tây và Hòa Bình), Thanh Hóa, Bắc Thái (nay là Bắc Cạn và Thái Nguyên), Vĩnh Phú (nay là Vĩnh Phúc và Phú Thọ)... Những tâm đắc rất đáng trân trọng của các học giả: Cố Giáo sư Viện sĩ Phạm Huy Thông, Cố Giáo sư Nguyễn Đổng Chi, Cố Giáo sư Văn Tân, Cố danh y Lê Trần Đức, nhà Dân tộc học đã quá cố Lục Văn Pảo, nhà Hán học đã quá cố Lê Hiệu, các Giáo sư Vũ Khiêu, Bùi Văn Nguyên, Trương Đình Nguyên, Du Chi... nhà Hán học Vũ Tuấn Sán, nhà văn Trần Lê Văn... Những bài về chuyên đề này chia thành 5 chủ điểm: 1. Vị thế kho sách Hán Nôm và ý nghĩa của công tác sưu tầm, tập trung bảo quản các tư liệu Hán Nôm. 2. Việc sưu tầm lưu trữ thư tịch cổ trong lịch sử và tổ chức công tác bảo quản, sưu tầm tư liệu Hán Nôm hiện nay. 3. Tình hình nguồn tư liệu Hán Nôm và công tác sưu tầm ở một số tỉnh miền Bắc. 4. Phương hướng và kinh nghiệm sưu tầm tư liệu Hán Nôm. 5. Chỉ báo các nguồn tư liệu Hán Nôm cần sưu tầm gấp cùng những kiến nghị về các mặt chế độ, chính sách, tổ chức, kế hoạch đối với công tác sưu tầm tư liệu Hán Nôm. Phần nghiên cứu của số này có các bài: Suy nghĩ bước đầu xung quanh vấn đề truyền đạt và tiếp nhận di sản Hán Nôm trong nhà trường (Đặng Đức Siêu), Khảo sát quá trình diễn biến của chữ Nôm thông qua mô hình ngữ âm của chữ (Nguyễn Tài Cẩn - N.V. Stankevitch), Ai viết Gia huấn ca (Hoàng Văn Lâu), Về bản chúc thư của viên quan lang Đinh Thế Thọ ở vùng Mường Thanh Sơn, Vĩnh Phú (Trịnh Khắc Mạnh).

Phần giới thiệu, công bố tư liệu mới có bài Một bộ từ điển Việt - La tinh viết tay vào cuối thế kỷ XVIII vừa sưu tầm được (Trần Nghĩa), Sự tích Không Lộ, Minh Không qua quyển sách chữ Hán mới sưu tầm (Phạm Đức Duật), Những tấm bia và đôi điều về họ Nguyễn, họ Dương trên đất Nhị Khê (Ngọc Nhuận - Phạm Bằng).

Phần trao đổi kinh nghiệm, tin tức có bài Vài nét về công tác sưu tầm, bảo quản tài liệu cổ quý tại Liên Xô (Trần Khang), Phòng kỹ thuật Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Trương Lệ Nga), Hội nghị sưu tầm, bảo vệ thư tịch và tư liệu Hán Nôm (P.V).

Đúng là số Nghiên cứu Hán Nôm đầu tiên, cũng là số chuyên đề đầu tiên và đã định hình ngay được các khung bài viết, mà cho đến nay, về cơ bản vẫn không thay đổi.

Bức thư độc giả đầu tiên

Trên Nghiên cứu Hán Nôm (số 1-1985) đăng bài Nhân chú thích ở một bài thơ cổ đính chính một chú thích sai của bài thơ Khế Chương Đức trong Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm (Nxb. KHXH, Hà Nội, 1978, Tập I, tr.505). Khế Chương Đức ca ngợi vị Ngụy Công trong lịch sử Trung Quốc mà sự nghiệp làm Tể tướng của ông ta để lại tiếng thơm muôn thuở (Ngụy Công tướng nghiệp vĩnh lưu hương), được Ngô Thì Nhậm coi là một mẫu mực lý tưởng mà mình nguyện noi theo (Quý ngã hậu hiền tần ngưỡng chỉ). Muốn hiểu rõ lý tưởng và hoài bão chính trị, tình cảm tư tưởng của Ngô Thì Nhậm thì cần biết vị Ngụy Công này là ai. Lời chú thích của người dịch ở cuối bài thực làm người đọc ớn lạnh cả xương sống: “Ngụy Công là Tào Tháo. Nhà Hán phong Tào Tháo ở đất Ngụy quận, tước Ngụy Công”. Từ chỗ cho Ngụy Công là Tào Tháo, chú thích đi tới chỗ giải thích ngôi nhà Ngụy Công ở - Trú Cẩm đường là... đài Đồng Tước !

Chú thích như vậy thực rất nguy cho Ngô Thì Nhậm: Thứ nhất ở nhiều bài văn, bài thơ, Ngô Thì Nhậm đều cực lực phê phán, thậm chí thóa mạ Tào Tháo là “tên gian hùng xảo trá như loài cáo” (Quá Hứa Đô), ... “để lại vết nhơ không bao giờ xóa hết trong sử xanh...” Chả lẽ đối với Tào Tháo, Ngô Thì Nhậm tiền hậu bất nhất đến mức thoắt cái ngợi ca là “lưu thơm muôn thuở”, thoắt cái lại thóa mạ là “để thối ngàn thu”. Thứ hai, Ngô Thì Nhậm làm bài Khế Chương Đức trong dịp đi sứ sang nhà Thanh (năm 1794) báo tin vua Quang Trung mất và Nguyễn Quang Toản mới 15 tuổi lên ngôi. Cứ như chú thích thì Ngô Thì Nhậm ôm ấp hoài bão được như Tào Tháo, có nghĩa là cướp ngôi nhà Hán cho con mình ! Trong hoàn cảnh đi sứ khi ấy, dẫu Ngô Thì Nhậm có muốn như thế thực, thì ngay cả nghĩ đến ý đồ đó cũng phải thận trọng chứ chưa nói là viết ra giấy !

Nhân chú thích ở một bài thơ cổ tìm ra họ tên của vị Ngụy công đó là Hàn Kỳ, một nhân vật lịch sử nổi tiếng thời Tống, đúng là hình mẫu lý tưởng chính trị mà Ngô Thì Nhậm muốn noi theo. Tác giả bài viết cảm thấy vui mừng, nhẹ nhõm sau khi đã chiêu oan cho Ngô Thì Nhậm, một ngôi sao sáng trên bầu trời nhân văn Việt Nam, nhưng trong lịch sử đã từng chịu nhiều tiếng thị phi của sử nhà Lê, sử nhà Nguyễn.

Một chú thích sai ở một bộ sách dầy hai tập cũng là chuyện bình thường. Thế nhưng, Nghiên cứu Hán Nôm (số 1-1985) phát hành chưa được một tháng, đã nhận được một bức thư dài, chữ viết chân phương nhưng không đều, chứng tỏ, thư không phải viết cùng một lúc. Bức thư là của nhà Cách mạng lão thành, nguyên Xứ ủy viên xứ ủy Bắc Kỳ, nhà Hán học đầy tâm huyết Thạch Can. Bức thư mở đầu bằng câu: “Trước hết, tôi rất hoan nghênh bài Nhân chú thích ở một bài thơ cổ đăng trong tập Nghiên cứu Hán Nôm (số 1-1985). Những lập luận và minh chứng trong bài viết tôi cho là rất xác đáng...”. Tiếp đó, tác giả bức thư “nói rõ thêm quá trình để xảy ra sai sót và sau này... đã sửa sai ở một chỗ khác...”. Rồi khảng khái nhận trách nhiệm về mình: “Do đó, cái sai lầm ấy trách nhiệm chủ biên - tác giả bức thư phải gánh chịu lấy”. Bức thư viết tiếp: “Ngoài ra, trong Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm cũng còn khá nhiều sai sót khác, ngay cả phần tôi tuyển dịch, nay đọc lại cũng phát hiện nhiều chỗ sai, thậm chí sai nghiêm trọng...”. Nhân thế, bức thư đề nghị Tập san Nghiên cứu Hán Nôm... “nên mở rộng mục trao đổi ý kiến để làm cái việc lượm lặt những “hạt đậu nhọn” trong dịch thuật...”.

Sự trung thực trong khoa học, ý thức trách nhiệm đối với công việc, tấm lòng nhân hậu đối với lớp hậu sinh, sự miệt mài, trăn trở đi tìm chân lý... của một nhà Hán học lão thành mãi mãi là nguồn động viên cho những người làm công tác Hán Nôm nói chung và làm Tạp chí Hán Nôm nói riêng.

TB

NHÌN LẠI HÁN HỌC THẾ KỶ XX

PHAN VĂN CÁC

Hán học là một thuật ngữ quen thuộc nhưng được sử dụng với nhiều cách hiểu khác nhau. ở Trung Quốc, từng có từ Hán học với nghĩa là học thuật thời Hán tức cái học văn tự, khảo cứ, huấn hỗ của Hán nho, nói trong sự đối lập với Tống học là cái học thiên về nghĩa lí của Tống nho. Hán nho nghiên cứu kinh điển thiên về khảo cứ. Các ngành học thiên về khảo cứ ở các đời sau bao gồm ngôn ngữ học, văn tự học, âm vận học, huấn hỗ học, mục lục học, văn bản học, hiệu khám học, biện ngụy học, kim thạch học, giáp cốt học, giản sách học v.v., còn các ngành thiên về nghĩa lí thì bao gồm Nho học, Tử học (nghiên cứu chư tử), Huyền học, Phật học...

Ngày nay, nhiều người dùng từ Hán học với nghĩa là học thuật Trung Quốc, và như vậy, ngoài cái học khảo cứ và cái học nghĩa lí ra, nó còn bao gồm 2 môn loại lớn là cái học kinh thế và cái học từ chương. Cái học kinh thế bao gồm thiên văn học, địa lí học, lịch toán học, bác vật học, sử học, binh học, chính học, tài dụng học, thực hóa học, tung hoành học, lễ tục học, giáo dục học, nông tang học, thủy lợi học, công nghệ học, y dược học v.v. Còn cái học từ chương (cũng gọi là cái học văn nghệ) thì bao gồm tản văn học, biền văn học, thi học, từ học, khúc học, phú học, tiểu thuyết học, hí kịch học, ngữ pháp học, tu từ học, âm nhạc học, thư họa học, vũ đạo học, điêu tố học (điêu khắc và nặn tượng) v.v. Đây là cách phân loại học thuật truyền thống của Trung Quốc. Nếu theo cách phân loại học thuật hiện đại tất cả các ngành trong cái học khảo cứ, cái học nghĩa lí và cái học từ chương đều có thể quy vào khoa học nhân văn; còn cái học kinh thế thì có những ngành có thể quy vào khoa học nhân văn, hoặc khoa học xã hội, như binh học (bao gồm chiến tranh học, quốc phòng học), chính học (bao gồm chính trị học, hành chính học), tài dụng học (tức tài chính học), thực hóa học (tức kinh tế học), tung hoành học (tức ngoại giao học), lễ tục học (tức xã hội học), giáo dục học v.v, có những ngành có thể quy vào khoa học tự nhiên như thiên văn học, địa lí học, lịch toán học, bác vật học v.v; lại có những ngành thuộc về phạm vi của khoa học ứng dụng như nông tang học, thủy lợi học, công nghệ học, y dược học v.v.

Các học giả phương Tây dùng thuật ngữ Hán học theo nghĩa rộng, không những bao gồm cái học khảo cứ, cái học nghĩa lí, mà thậm chí bao gồm cả cái học kinh thế và cái học từ chương. Cho nên Hán học chẳng những là một tên gọi khác của học thuật Trung Quốc mà còn là một tên gọi chung của học thuật Trung Quốc. Nhưng theo nghĩa hẹp, thì chủ yếu chỉ các ngành thuộc khoa học nhân văn, và một số ngành thuộc khoa học xã hội, tức là những ngành học nghiên cứu hiện tượng xã hội và văn hóa nghệ thuật, mà không bao gồm một ngành nào của khoa học tự nhiên và khoa học ứng dụng. Đó là xét theo thực tế hiện nay, còn như trong lịch sử thì cái gọi là Hán học (Sinology) của các học giả phương Tây là để chỉ môn học vấn được hình thành trên cơ sở không ngừng tích lũy các ấn tượng quan sát và các kết quả nghiên cứu của hàng loạt các nhà truyền giáo châu Âu từ thế kỷ XVI, XVII về sau, quan sát Trung Quốc bằng con mắt phương Tây. Thời bấy giờ, các giáo sĩ phương Tây nghiên cứu học thuật Trung Quốc chủ yếu là phiên dịch hoặc giảng giải sách cổ của Trung Quốc, có thể tính bắt đầu từ việc Matteo Ricci dịch Tứ thư, và suốt một thời gian dài coi Hán học như một thứ văn hóa cổ. Nhưng từ giữa thế kỷ XIX, Hán học phương Tây đã dần dần chuyển hướng sang lịch sử nhất là lịch sử cận đại Trung Quốc, và từ sau Đại chiến thứ 2, càng mở rộng sang các lĩnh vực khác, bao gồm tư tưởng học thuật, chế độ chính trị, kinh tế xã hội v.v. Học giả phương Tây gọi đó là Nghiên cứu Trung Quốc hay Trung Quốc học (Chinese Studies). Chinese Studies và Sinology đều có thể dịch là Trung Quốc học hay Hán học, song phạm vi của Chinese Studies rộng hơn Sinology rất nhiều, nó vừa bao gồm Hán học truyền thống lấy việc nghiên cứu cổ tịch Trung Hoa làm chính, lại vừa bao gồm cả “Hán học mới” nghiên cứu cả lịch sử lẫn những lĩnh vực khác, cả Trung Quốc cổ đại lẫn Trung Quốc cận đại, hiện đại cho đến đương đại.

Ở Việt Nam, cũng như ở Nhật Bản, Triều Tiên là những nước đã có hàng ngàn năm giao lưu và tiếp nhận ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, sớm có sự nghiên cứu và hiểu biết về Nho, Phật, Đạo; người ta không những không nhìn Trung Quốc bằng con mắt tò mò lạ lẫm như học giả phương Tây, mà Hán học ở những nước này còn thường bao gồm cả việc nghiên cứu sự tiếp biến văn hóa Hán ngay ở nước mình.

Bài viết này cố gắng phác họa những nét chung nhất của nền Hán học thế giới trên nghĩa rộng, trong một thế kỉ qua, thế kỷ XX đầy biến động vừa kết thúc, từ điểm nhìn đầu thế kỷ và thiên niên kỷ mới.

Đặc điểm nổi bật bao trùm Hán học phương Tây thế kỷ XX so với các thế kỷ trước là quan điểm đúng đắn hơn, thái độ ứng xử bình đẳng hơn. ảnh hưởng của “Âu châu văn hóa trung tâm luận” đã lui dần. Trước hết đó là do một trăm năm qua, thế giới đã có những biến đổi to lớn, bản thân Trung Quốc cả về cơ sở kinh tế lẫn chế độ chính trị, cả vật chất lẫn tinh thần đều đã trải qua những biến động phi thường.

Những năm 30, Giáo sư K.S. Latourette ở trường Đại học Yale (Mỹ) trong tác phẩm Người Trung Quốc, lịch sử và văn hóa(1) của mình, khi phê phán việc dưới thời Minh Gia Tĩnh người Bồ Đào Nha đến xâm nhiễu Ninh Ba, Phúc Kiến bị Trung Quốc đánh trả và xua đuổi, đã viết: “Số phận tai ách mà những người Bồ Đào Nha này vấp phải, chỉ có thể trách chính bản thân họ. Họ hung hăng tàn bạo và hiếu thắng, coi trời bằng vung, khinh thường pháp luật, coi tất cả dân chúng phương Đông như những thứ có thể cướp đoạt hợp pháp”. Gần như cùng thời gian ấy, Giáo sư C.P.Fitzgerald kể lại việc người Bồ Đào Nha thất bại lớn ở Tuyền Châu: “Việc người Bồ Đào Nha nếm mùi cay đắng ở Tuyền Châu rất đáng được chú ý, vì Tuyền Châu trước nay là một trung tâm buôn bán, thường xuyên có các phiên khách tới làm ăn. Tuyền Châu đã có mấy thế kỷ từng hoan nghênh người ả Rập và người Mã Lai, thế mà bây giờ họ dứt khoát tống cổ người Bồ Đào Nha, chỉ có thể nói là người Bồ tự chuốc họa vào thân. Những hành vi [ngang ngược] của họ là không có gì đáng nghi ngờ. Lí do khiến họ bị tống cổ đi được ghi lại ở đây không phải trong tài liệu của người Trung Quốc, mà là trong các trước tác của những người Châu Âu cùng thời với họ.”(2)

Với quan điểm và ý thức bình đẳng thực sự cầu thị, các nhà Hán học phương Tây thế kỷ XX đã đạt được nhiều thành tựu đáng kính trọng, vượt xa các thế hệ tiền bối của họ.

Mọi người đều biết, Hán học ra đời ở phương Tây, động lực quan trọng nhất chính là nhu cầu của xã hội. Sự qua lại giữa Trung Quốc với phương Tây đã bắt đầu từ hơn hai ngàn năm trước thông qua con đường tơ lụa, và trong kinh Co-ran đã từng có câu “tri thức xa xôi tận Trung Quốc cũng cần phải tìm kiếm”. Từ rất lâu phương Tây đã biết đến sự tồn tại của một nước Trung Hoa, nhưng Hán học chưa ra đời lúc đó, nguyên nhân chủ yếu là phương Tây bấy giờ chưa có một nhu cầu xã hội mạnh mẽ đến thế. Phải đến thế kỷ XVI, XVII, châu Âu thoát khỏi sự ràng buộc của thời Trung cổ, và cần khai thác thị trường thế giới, muốn vậy phải tìm hiểu phong tục tập quán, truyền thống văn hóa và trạng huống xã hội của những vùng đất được khai thác, Hán học mới bắt đầu hình thành để đáp ứng nhu cầu của tình hình đó.

Có thể nói việc Marco Polo đến Trung Quốc (1275) là cái mốc đầu tiên tiếp xúc giữa người châu Âu phương Tây với người Trung Quốc phương Đông, Matteo Ricci sau đó ba trăm năm là cái mốc thứ hai, và James Legge là nhân vật tiêu biểu của thời kỳ thứ ba. J.Legge đến Hương Cảng năm 1843, làm việc ở đó ngót 27 năm, hoàn thành công trình dịch thuật đồ sộ Kinh điển Trung Quốc (The Chinese Classics) 5 tập lớn gồm Tứ thư, Kinh Thư, Kinh Thi và Tả Truyện, rồi về sau xuất bản tiếp Kinh Dịch Lễ ký.

Tiếp nối các thế hệ trước, Hán học phương Tây thế kỷ XX có các tên tuổi lớn, Latourette với tác phẩm đã dẫn, Fitzgerald với Trung Quốc văn hóa giản sử, David Hawkes với các bài giảng về tiếng Trung Quốc, Bernard Karlgen nhà âm vận học người Thụy Điển đứng đầu Hán học Châu Âu suốt bốn năm chục năm; Paul Demiéville nhà Hán học và Phật học người Pháp, Paul Pelliot, Edouard Clavannes, Henri Maspéro, người Pháp; Polivanov, Conrad, Dragounov, Yakhontov là những nhà Hán học Xô Viết, và nhất là Joseph Needham người Anh với tác phẩm đồ sộ Khoa học và văn minh ở Trung Hoa(3) v.v. Nét nổi bật trong các công trình nghiên cứu của họ là tác phong trị học nghiêm túc cẩn trọng với tư liệu phong phú và xác thực.

Bàn về Hán học, đương nhiên không thể không nói đến thành tựu của giới học thuật Trung Quốc. Hán học với ý nghĩa là khoa học nghiên cứu Trung Quốc, học giới Trung Quốc dường như không tiếp nhận khái niệm này: Từ sau “Ngũ tứ”, các tư trào phương Tây ào ạt tuôn vào Trung Quốc, học vấn ngoại lai này bấy giờ được gọi là “Tây học”, trong sự đối sánh với Tây học, người ta gọi học vấn vốn có của Trung Quốc là “Quốc học”, học giả Chương Thái Viêm được tôn xưng là “Quốc học đại sư”. Nhưng “Quốc học” nặng về văn tự, huấn hỗ, khảo cứ. Vì thế, mặc dù các học giả Trung Quốc không coi việc nghiên cứu của mình về văn học Trung Quốc, về sử học, triết học hay các học vấn khác của Trung Quốc là Hán học, nhưng trên thực tế, thành tựu Hán học thế kỷ XX trước hết và chủ yếu là thành tựu của giới học thuật Trung Quốc đông đảo và hùng hậu.

Kể từ cái mốc lớn của lịch sử Trung Quốc thế kỷ XX là sự ra đời của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1949, lịch sử nghiên cứu học thuật nửa sau thế kỷ XX có thể chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn 1949-1966, giai đoạn 1967-1976, giai đoạn 1977 về sau. Giai đoạn thứ nhất là thời gian giới học thuật Trung Quốc tiếp xúc và tiếp thu chủ nghĩa Marx đặt nền tảng cho sự phát triển học thuật về sau. Giai đoạn thứ hai là thời gian “mười năm động loạn”, sự nghiệp xây dựng văn hóa bị tàn phá nghiêm trọng, việc nghiên cứu học thuật hoàn toàn ra khỏi quỹ đạo khoa học, trở thành công cụ của đấu đá chính trị mà hậu quả là sự gián đoạn lớn trong nghiên cứu học thuật và kiến thiết văn hóa. Giai đoạn thứ ba đang tiếp tục diễn biến nhưng đã có những thành tựu to lớn nổi bật: nhờ xã hội ổn định, kinh tế phồn vinh, tự do học thuật dần dần được tôn trọng, tạo điều kiện cho học thuật phát triển mạnh mẽ. Giải phóng tư tưởng, mở cửa văn hóa là nguyên nhân trực tiếp của phồn vinh học thuật.

*
**

Đặc điểm nổi bật bao trùm học thuật Trung Quốc nửa sau thế kỷ XX là sự tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Marx làm tư tưởng chỉ đạo nghiên cứu. Lớp học giả chuyên gia tiền bối qua một quá trình học tập, suy ngẫm và so sánh, tranh luận, cuối cùng đã lựa chọn chủ nghĩa Marx, tiêu biểu là nhà mỹ học Chu Quang Tiềm, các nhà triết học Hạ Lân, Thang Dụng Đồng, Trịnh Hân, nhà lôgic học Kim Nhạc Lâm, nhà sử học Trần Viên v.v. Một số trở thành đảng viên cộng sản, thành học giả Mácxít. Trước tác của Phạm Văn Lan, Quách Mạt Nhược đã chứng tỏ chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp tốt nhất và có tác dụng mẫu mực trong giới học thuật. Đương nhiên cũng có những người vẫn giữ quan điểm vốn có của mình như các nhà triết học Lương Thấu Minh, Hùng Thập Lực, nhà sử học Trần Dần Khác...

Trong khoa học xã hội Trung Quốc, giới sử học tiếp thu chủ nghĩa Marx sớm nhất. Ngay từ những thập kỷ 20, 30, Quách Mạt Nhược vận dụng quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa duy vật lịch sử đã nêu ra quan điểm mới trong vấn đề tính chất của xã hội Ân Chu, được nhiều đồng nghiệp tán thành. Thời chiến tranh chống Nhật, Phạm Văn Lan dẫn đầu một số học giả trẻ biên soạn Trung Quốc thông sử ngay tại khu căn cứ Diên An. Sau ngày nước Trung Hoa mới ra đời, các nhà sử học Hầu Ngoại Lư, Tiễn Bá Tán, Lã Chấn Vũ viết lịch sử cổ đại theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, thành tựu được giới học thuật đánh giá cao.

Các thập kỷ 50, 60, giới sử học đã thảo luận sôi nổi, xoay quanh các vấn đề: Phân chia thời kỳ lịch sử cổ đại Trung Quốc; sự hình thành quốc gia thống nhất đa dân tộc Trung Quốc; chế độ ruộng đất Trung Quốc qua các triều đại; chiến tranh nông dân trong xã hội phong kiến Trung Quốc; sự manh nha của chủ nghĩa tư bản Trung Quốc v.v. Đến các thập kỷ 70, 80, ngoài việc đào sâu các vấn đề cũ, một số vấn đề mới đã gây được hứng thú sâu sắc trong giới sử học: vấn đề khởi nguồn của văn minh Trung Quốc, vấn đề sự kéo dài của xã hội phong kiến Trung Quốc, vấn đề chủ nghĩa chuyên chế phong kiến Trung Quốc, vấn đề chế độ tông pháp cổ đại, vấn đề đánh giá giai cấp địa chủ trong xã hội phong kiến Trung Quốc, vấn đề giao thông và giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc cổ đại với thế giới bên ngoài v.v.

Việc nghiên cứu từng giai đoạn lịch sử cũng không ngừng được đi sâu. Qua nghiên cứu, một số vấn đề được nhìn nhận lại, có sự đánh giá mới. Ví như trong lĩnh vực nghiên cứu Nguyên sử, các thành quả nghiên cứu mới đã uốn nắn được quan niệm tồn tại lâu dài trước đây cho rằng thời Nguyên là một thời kỳ đen tối, nay khẳng định cống hiến lịch sử của triều Nguyên là đã kết thúc năm trăm năm phân tranh dân tộc, chỉ ra tính chất tiến bộ của chính sách văn hóa triều Nguyên như triều Nguyên không có văn tự ngục, thực hiện bình đẳng tôn giáo, chính sách văn hóa tương đối rộng mở, trên mức độ nhất định đã tạo điều kiện cho sự phồn vinh của nghệ thuật tạp kịch thời Nguyên. Đồng thời thái độ về văn hóa của nhà cầm quyền cũng đã thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc với phương Tây. Về tư tưởng triết học, đời Nguyên cũng không phải hoàn toàn đen tối, Lí học vẫn tiếp tục có phát triển.

Các thập kỷ 50, 60, nhiều bộ Trung Quốc thông sử có giá trị đã ra đời và có ảnh hưởng rộng lớn. Những năm gần đây, xã hội sử và văn hóa sử đã có những thành quả xuất sắc. Nghiên cứu lịch sử địa phương gần đây có bước phát triển mới, việc biên soạn địa phương chí với quy mô lớn đang được xúc tiến.

Một thống kê cho biết chỉ trong 10 năm 1981-1990, đã có 64000 bài viết nghiên cứu và 6200 đầu sách chuyên khảo lịch sử được công bố và xuất bản, gần gấp đôi 30 năm trước đó.

Nghiên cứu văn học cũng có thành tựu rõ rệt. Các bộ Trung Quốc văn học sử của trường đại học Bắc Kinh do Du Quốc Ân chủ biên và của Sở Nghiên cứu Văn học thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc biên soạn tập thể đã có ảnh hưởng sâu rộng. Nghiên cứu văn học dân gian được coi trọng, ba bộ văn học dân gian tập thành (truyện dân gian, ca dao dân gian, ngạn ngữ dân gian) sưu tập chỉnh lí trong phạm vi toàn quốc được đánh giá rất cao. Đã xuất bản nhiều tổng tập văn học truyện kí, văn học truyền miệng của các dân tộc thiểu số Mông, Tạng, Duy(*), Di cùng các chuyên khảo nghiên cứu tương ứng, lấp kín các mảng trắng trong nghiên cứu văn học các dân tộc ít người. Đã có hàng loạt tổng tập, biệt tập của các nhà văn tất cả các thời đại, cùng nhiều vựng biên tư liệu văn học đồ sộ.

Các thập kỷ 50, 60, giới văn học sử đã thảo luận các vấn đề: Kế thừa di sản văn học cổ điển, tính nhân dân trong văn học cổ điển, quy luật phát triển văn học thời cổ đại, quan hệ giữa văn học cổ đại với thời đại, chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn trong văn học cổ điển v.v. Những năm gần đây, nghiên cứu văn học đã có diện mạo mới. Phạm vi nghiên cứu mở rộng, nhiều lĩnh vực trước đây bị coi nhẹ như Hán phú, thơ văn Minh, Thanh, văn học cận đại đã được chú ý hơn. Một số vùng cấm trước đây đã được đột phá như “cung thể thi” trong thơ, “phái cách luật” trong từ, đều đã được nghiên cứu. Đánh giá tác gia, tác phẩm, đã chú ý đến quan điểm thẩm mỹ và cá tính nghệ thuật của nhà văn, kết cấu hình thức và phong cách nghệ thuật của tác phẩm.

Lịch sử triết học luôn luôn là trọng điểm nghiên cứu của ngành triết. Nghiên cứu từng giai đoạn, nghiên cứu lịch sử phạm trù đều rất sôi nổi. Nghiên cứu các ngành học giao thoa, như triết học cổ đại với khoa học tự nhiên, triết học cổ đại với y học, cũng gây được hứng thú cho nhiều học giả. Nghiên cứu lịch sử luân lí học, lịch sử mỹ học vừa quan hệ mật thiết với nghiên cứu lịch sử triết học lại vừa có tính độc lập tương đối, gần đây phát triển khá. Xoay quanh một số nhân vật trọng yếu trong lịch sử triết học như Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Chu Hi, Vương Phu Chi, Hoàng Tông Hi và một số lĩnh vực nghiên cứu quan trọng như Lí học Tống Minh, Chu, Dịch, Tân Nho học v.v. đã có nhiều cuộc hội thảo toàn quốc và quốc tế.

Các thập kỷ 50, 60, giới triết học tập trung nghiên cứu các vấn đề phương pháp luận: đối tượng và phạm vi nghiên cứu triết học Trung Quốc; quan hệ giữa duy tâm luận và duy vật luận trong lịch sử triết học Trung Quốc; đánh giá chủ nghĩa duy tâm; đặc điểm của triết học Trung Quốc; kế thừa di sản triết học Trung Quốc. Cuối thập kỷ 70 đến nay, lĩnh vực nghiên cứu được mở rộng, các vấn đề thảo luận chủ yếu có: nghiên cứu Chu Dịch (nguồn gốc của các quẻ, quan hệ giữa Chu Dịch với văn hóa Trung Quốc v.v.); đánh giá lại Khổng Tử (nhận thức mối quan hệ giữa Khổng Tử với văn hóa Trung Quốc, khẳng định ý nghĩa tích cực của Khổng Tử đối với văn hóa Trung Quốc, chỉ ra những khiếm khuyết của ông v.v.); nghiên cứu Đổng Trọng Thư (trái với thái độ hoàn toàn phủ định trước kia, khẳng định tính hợp lý của việc xuất hiện triết lí Đổng Trọng Thư); nghiên cứu lại Lí học Tống Minh và từ đó triển khai nghiên cứu toàn diện triết học Nho gia; nghiên cứu triết học cận hiện đại Trung Quốc (đặc biệt là Tân Nho học); nghiên cứu lịch sử các phạm trù triết học Trung Quốc, v.v. Về phương diện nghiên cứu lịch sử tôn giáo, Trung Quốc Phật giáo sử đã có thông sử nhiều tập, cũng đã có các công trình lịch sử từng giai đoạn, có nghiên cứu chuyên đề: lịch sử Đạo giáo cũng đã có nhiều chuyên khảo, đã ra đời Đạo tạng đề yếu do tập thể biên soạn.

Trung Quốc có địa vực rộng lớn, các tầng văn hóa phong phú, nên khảo cổ học rất phát triển. Hàng loạt phát hiện khảo cổ quan trọng đã thúc đẩy mạnh mẽ việc nghiên cứu lịch sử và văn hóa cổ đại Trung Quốc, hệ thống khảo cổ học Trung Quốc đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện dần.

Các di chỉ văn hóa đồ đá cũ và hóa thạch cổ nhân loại phát hiện được đã có đến mấy trăm điểm. Di chí đồ đá mới càng phổ biến khắp toàn quốc, có bảy tám ngàn điểm có báo cáo hệ thống. Việc nghiên cứu các di chỉ văn hóa này khiến cho giới học thuật có nhận thức sâu sắc hơn về đề khởi nguồn của văn minh Trung Quốc, ngày càng nhiều học giả chủ trương rằng văn minh Trung Quốc có nhiều khởi nguồn và quá trình phát triển khác nhau và “ảnh hưởng qua lại, giao quang hỗ ảnh” (chữ dùng của Hạ Nãi). Văn minh Trung Quốc vừa có tính thống nhất, vừa có tính đa dạng.

Nghiên cứu khảo cổ thời kỳ Hạ Thương Chu, thành quả quan trọng nhất là đã nối liền được khoảng trống lớn giữa văn hóa Ân Khư rực rỡ với văn hóa thời đại đồ đá mới. Vóc dáng của văn hóa Hạ dần dần sáng rõ. Tiếp tục đào bới Ân Khư, đã có nhiều phát hiện mới. Nghiên cứu khảo cổ nhiều di chỉ trọng yếu thời Thương ở miền Bắc và miền Nam đã chứng tỏ một cộng đồng văn hóa thời kì Ân Thương lấy văn hóa Trung nguyên làm nòng cốt đã hình thành trong một lĩnh vực khá rộng lớn. Nghiên cứu khảo cổ các di chỉ văn hóa Tây Chu, về cơ bản được phát triển sau khi nước Trung Hoa mới ra đời. Trong đó quan trọng nhất là cuộc phát quật ở hai vùng Chu Nguyên và Phong Cảo. Việc đào được nhiều di tích kiến trúc, đồ đồng thau và giáp cốt đời Chu đã cung cấp những tư liệu quý báu cho việc nghiên cứu trạng huống lịch sử và trình độ văn minh thời đầu nhà Chu. Việc phát quật đô thành và mộ táng các nước thời Đông Chu cũng có nhiều thu hoạch quan trọng.

Khảo cổ thời Tần Hán cũng đầy thành tựu, tiêu biểu là việc phát quật hang tượng binh mã Tần Thủy Hoàng và mộ Hán Mã Vương Đôi Trường Sa. Đặc biệt đối với lịch sử văn hóa Trung Quốc là việc đào thấy hàng loạt điển tịch văn hiến thời Tần Hán. Quan trọng có số thẻ tre thời Tần ở bãi Hổ ngủ (Thụy hổ địa) Vân Mộng tỉnh Hồ Bắc, trong đó có bộ Tần luật đặc biệt quý giá. Thẻ tre thời Hán ở núi Ngân Tước tỉnh Sơn Đông, trong đó có nhiều loại binh thư như Tôn Tử binh pháp, Tôn Tẫn binh pháp v.v. Sách lụa Mã Vương Đôi Trường Sa đã khảo cứu rõ có 28 loại, đến 12 vạn chữ, bao gồm Chu Dịch, Lão Tử (2 bản), Hoàng Đế tứ kinh là những điển tịch triết học, ngoài ra còn có mấy loại binh thư, toán học, sách thuốc, có thứ là truyền bản khác của cổ tịch, có thứ là sách thất truyền lâu nay chưa ai biết đến. Điển tịch cổ đại đào được ở mức độ tập trung như vậy, là điều hiếm thấy trên đời, vô cùng quý giá.

Về dân tộc học, năm 1956 đã làm được một việc lớn chưa từng thấy là tiến hành tổng điều tra dân tộc trên phạm vi toàn quốc, định được tiêu chuẩn khoa học để phân biệt các dân tộc. Căn cứ vào khảo sát trên các phương diện ngôn ngữ văn tự, nhân loại học, tài liệu ghi chép xã hội học, tôn giáo tín ngưỡng v.v., đã xác định Trung Quốc có 56 dân tộc, trong đó 55 dân tộc thiểu số. Để ghi lại kết cấu kinh tế xã hội của một số dân tộc còn ở hình thái nguyên thủy, đã tạm hoãn việc thi hành cải cách dân chủ ở những vùng còn giữ lại chế độ xã hội nguyên thủy, chờ điều tra xong mới thi hành. Để bảo tồn những hóa thạch sống của sinh hoạt xã hội các dân tộc thiểu số cổ đại, các phương tiện hiện đại như ghi âm, ghi hình, vẽ tranh đã được áp dụng để ghi chép hoàn chỉnh tập tục sinh hoạt, lễ nghi tang táng, tín ngưỡng tôn giáo của một số dân tộc thiểu số, làm chỗ dựa tin cậy cho việc nghiên cứu sau này.

Mấy dân tộc có chữ viết riêng như Mông, Tạng, Duy, Di, Na-xi, nhà nước cử các nhà khoa học trẻ đến với các lão chuyên gia để học tập ngữ văn dân tộc, kế thừa chỉnh lí các thư tịch viết bằng chữ dân tộc. Với văn tự cổ của các dân tộc thiểu số đã phế bỏ, như chữ Hồi Hột, chữ Tây Hạ, chữ Khiết Đan, chữ Nữ Chân, chữ Mãn, chữ Mông Cổ, chữ Tạng cổ, chữ Di cổ, chữ Đột Quyết, chữ Pa-xpa, chữ Tung-pa v.v, cũng đào tạo riêng những chuyên gia trẻ, không để thành tuyệt học.

Bí mật về cách táng quan tài treo (đầu mỏm đá) cũng đã được nghiên cứu khám phá.

Những nham họa (tranh trên vách núi đá) phát hiện được ở Ninh Hạ và Quảng Tây, nội dung hết sức phong phú, là tư liệu quý để nghiên cứu đời sống xã hội các dân tộc thiểu số cổ đại, đã được sao chép, mô tả bước đầu.

Đôn Hoàng học khởi đầu từ đầu thế kỷ XX đã trở thành ngành học nổi tiếng quốc tế. Sử dụng các bức chữ cuộn chép tay Đôn Hoàng để đính chính những sai sót trong điển tịch cổ đại rất có ích cho việc tìm hiểu đời sống xã hội, thực trạng kinh tế, và tôn giáo tín ngưỡng Trung Quốc thời xưa. Nghiên cứu Đôn Hoàng, Tu lu-phan của Trung Quốc, kết hợp tư liệu văn hiến với hiện vật khảo cổ, đã có được những kết luận gần với sự thật. Trong các lĩnh vực nghiên cứu của Đôn Hoàng học, việc nghiên cứu tư liệu Phật giáo đã đi đầu và có những thành tích nổi bật. Sách Đôn Hoàng xã hội kinh tế văn hiến chân tích thích lục in chụp phân loại có kèm thích văn đối chiếu, đã cung cấp cho học giả những tư liệu tiện lợi đáng tin cậy.

Sách cổ bằng chữ Hán theo thống kê sơ bộ có tám mươi ngàn loại, là món của cải tinh thần quý giá tích lũy lâu đời của dân tộc Trung Hoa. Sách cổ rất hiếm, có thứ là bản chép tay duy nhất, có thứ chưa ai hiệu khám chấm câu, rất khó đọc, có thứ khó hiểu cần được chú giải hoặc dịch ra tiếng hiện đại. Có hơn 2000 loại đã được đưa vào quy hoạch chỉnh lí xuất bản. Những cổ tịch quan trọng đã chỉnh lí xuất bản, có thể kể:

Về sử học, có Nhị thập tứ sử hơn 3000 quyển, hơn 40 triệu chữ, Nhị thập tứ sử nghiên cứu tư liệu tùng thư, Tư trị thông giám, Tục tư trị thông giám, Minh thông giám, Lịch đại hội yếu tùng thư, Thông điển, Thông chí, Văn hiến thông khảo, Lịch đại sử liệu bút kí tùng san, Trung ngoại giao thông sử tịch tùng san, Trung Quốc cổ đại địa lý tổng chí tùng san, Trung Quốc cận đại sử liệu tùng san (kèm Tục biên), Giáp cốt văn hợp tập, Ân Chu kim văn tập thành, Cư Diên Hán giản giáp ất biên, Ngân Tước sơn trúc giản, Mã Vương Đôi bạch thư, Thổ Lỗ Phiên xuất thổ văn thư v.v.

Về văn học, có Tiên Tần Hán Ngụy Tấn Nam bắc triều thi, Toàn Tống từ, Toàn Kim Nguyên từ, Toàn Liêu văn, Toàn Nguyên tản khúc, Nguyên khúc tuyển ngoại biên, Toàn Tống thi, Toàn Tống văn, Toàn Thanh thi... là những tổng tập tác phẩm văn học cổ đại. Nhiều biệt tập đã được điểm hiệu, chú thích như Trung Quốc cổ điển văn học cơ bản tùng thư, Trung Quốc cổ điển văn học tùng thư v.v.

Về triết học và tôn giáo học, có Tân biên Chư tử tập thành, Lí học tùng thư, Thuyền Sơn toàn thư, Hoàng Tông Hi toàn tập, Khoang Hữu Vi toàn tập, Phó Sơn toàn tập, Trung Quốc cổ đại triết học danh trước kim dịch tùng thư, Trung Hoa Đại tạng kinh gồm hơn 4200 loại điển tịch Phật giáo, 23000 quyển, chia thành 220 tập xuất bản.

Một thành tựu đáng kể nữa là việc biên soạn và xuất bản các bộ sách công cụ lớn. Trung Quốc đại bách khoa toàn thư là công trình trọng điểm tiêu biểu cho trình độ quốc gia. Trên một trăm loại từ điển chuyên ngành đã ra đời. Riêng từ điển ngữ văn có đến mấy chục loại. Từ nguyên, Từ hải được tu đính. Trung Quốc đại tự điển Trung Quốc đại điển cũng đã xuất bản.

Thế kỷ XX đã khép lại. Bức tranh toàn cảnh Hán học của thế kỷ qua những nét phác họa trên đây rõ ràng còn sơ sài. Hán học Nhật Bản(4), Hàn Quốc(5) và Việt Nam có những nét đặc thù riêng cần được tổng kết để bổ sung vào bức tranh chung khi có điều kiện.

CHÚ THÍCH

* Duy tức Duy-Ngô-Nhĩ, hay Uây-ua.

1. Latourette, The Chinese, Their History and Culture, New york, Macmillan, 3rd edirevised, 1946, p.296 (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa).

2. Fitzgerald, China: A Short Cultural History (Trung Quốc văn hóa giản sử), London, The Cresset Press, 1935, reprinted 1942 (in lại năm 1942) p.474.

3. Joseph Needham, Science and Civilisation in China.

4. Người Nhật gọi Hán học là China học ( .

5. Người Triều Tiên và Hàn Quốc gọi Hán học là Trung Quốc học ( .

TB

PHÁC THẢO DIỆN MẠO VĂN XUÔI HÁN VÀ NÔM TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC DÂN TỘC

PHONG LÊ

Trong lịch sử văn học Việt Nam, văn xuôi Hán và Nôm thời Trung đại ít phát triển và không có ưu thế bằng thơ.

Đó là một thực tế. Và một khảo sát sơ lược về nó, đó là ý định của người viết bài này.

*
**

Đời sống dân tộc với bao là chuyện kể trong nhân dân theo phương thức truyền miệng được lưu truyền từ rất lâu đời. Nhưng mãi đến thế kỷ XIV đời Trần, các nhà Nho mới có thể dùng chữ Hán để ghi lại một phần nhỏ trong số lượng phong phú đó mà tác phẩm thuộc loại sớm nhất là Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, thế kỷ XIV, ghi chuyện các vị thần được nhân dân tôn thờ. Rồi Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp thế kỷ XV, ghi những chuyện lạ của dân gian, trong đó có chuyện về nhân vật Hà Ô Lôi nổi tiếng. Còn phải kể trước đó là Thiền uyển tập anh, thế kỷ XIII, và Tam Tổ thực lục, thế kỷ XIV, ghi chuyện những người nơi vườn Thiền, trong đó có chuyện sư Huyền Quang và nàng Điểm Bích. Rồi là các biên niên sử như Việt sử lược, Đại Việt sử ký... Và tập ký sự có nội dung hồi ức Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng...

Đây chỉ là một lược kể rất không đầy đủ.

Cuối thế kỷ XV có Thánh Tông di thảo gồm 19 truyện truyền kỳ thực và ảo, có truyện thật hấp dẫn như Tinh chuột, Duyên lạ xứ hoa... Thế kỷ XVI có tiếp Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ gồm 20 truyện thuộc loại ngắn, dựa theo thể truyền kỳ của Trung Quốc để ghi lại những chuyện lạ của người trần xứ ta, trong đó nổi bật hình ảnh trung tâm là người phụ nữ như những Đào thị, Nhị Khanh, người con gái Nam Xương... và những giai nhân hiệp khách trong cuộc sống giang hồ.

Thế kỷ XVIII phát triển mạnh mẽ loại tiểu thuyết chương hồi với vị trí hàng đầu của Hoàng Lê nhất thống chí gồm 17 hồi chính biên và 10 hồi tục biên. Đây là bức tranh sôi động và hoành tráng của dân tộc vào 30 năm cuối thế kỷ XVIII, kể từ đời Hiển Tôn cuối Lê đến đầu đời Gia Long.

Đối với người đọc hôm nay, Hoàng Lê nhất thống chí mang cả giá trị lịch sử và giá trị nghệ thuật; và như vậy đó là áng văn hiếm hoi, đánh dấu sự trưởng thành của văn xuôi dân tộc.

Cùng với bộ tiểu thuyết nổi tiếng này, văn xuôi Hán thế kỷ XVIII còn có Thượng Kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Tang thương ngẫu lục của Nguyễn Án và Phạm Đình Hổ, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề, Lan Trì kiến văn lục của Vũ Trinh...

Văn xuôi Hán vẫn còn phát triển liên tục với số lượng không nhỏ trên nhiều loại văn trong các thế kỷ sau - mà tôi không có ý định liệt kê cho đầy đủ ở đây.

Ngoài các tác phẩm có thể xem là văn xuôi nghệ thuật như được nói ở trên cũng cần chú ý số lượng và chất lượng của các loại văn xuôi chức năng, nếu ta biết mọi thế hệ nhà Nho, trong lịch sử trung đại, đều không ai không viết văn xuôi trên lịch trình khoa cử và trong hành trạng của một kẻ sỹ nhập thế hoặc xuất thế. Hãy dừng lại ở một người có tư cách kết thúc nền văn chương trung đại là Nguyễn Khuyến.

Nguyễn Khuyến ngoài thơ Hán, thơ Nôm cũng còn viết văn xuôi Hán, như bất cứ nhà Nho đại khoa nào khác.

Đó là bài Văn sách thi Đình khoa Tân Mùi 1871; là Gia phả chi thứ họ Nguyễn; là bài văn tế, thay mặt dân Thanh Hóa khóc Nguyễn Tri Phương, vân vân...

Đó còn là bài ký Cây gậy long trúc, tác giả viết về “số phận” của một cây gậy bỗng dưng gắn với tuổi già bất hạnh của mình:

“... Ta lâu nay ốm bỏ, tuổi tác già nua, tối tăm lận đận, không có gậy khó mà đứng vững được. Có gậy rồi, nơi chân non lợi nước ta cùng người chung thủy mãi chăng? Than ôi! Không có Sơn ông thì không có ai biết đến ngươi. May cho ngươi được Sơn ông biết đến mà trở thành cây gậy của ta, để được tiếng với đời. Cũng không may cho ngươi được Sơn ông biết đến mà trở thành cây gậy của ta, để đến nỗi phải long đong khốn khổ mà không tự hối. ấy là điều đáng buồn vậy. Còn như kiến thức của kẻ qua đường thì có đáng kể gì !

Bèn bảo con là Hoan viết mấy lời, làm bài ký về cây gậy của ta”(1).

Trong 10 thế kỷ văn học Trung đại Việt Nam, rõ ràng thơ theo luật Đường, là thể loại dường như bất cứ ai đã được gọi là nhà Nho, đã đến được với cửa Khổng sân Trình đều có thể làm, và bắt buộc phải làm, do thế mà đóng vai trò chủ đạo trong sinh hoạt văn chương học thuật. Còn nếu mở rộng ra các thể thơ dân tộc như lục bát trong ca dao hoặc các truyện thơ Nôm, và song thất lục bát trong các khúc ngâm thì tác giả của nó là cả một lực lượng “khuyết danh” hoặc vô danh thật đông đảo, thời nào cũng có, chẳng lúc nào vắng thiếu. Hiểu như vậy để thấy văn xuôi, so với thơ, quả có ít hơn. Nhưng dẫu thế cũng không phải là quá hiếm theo sự lược kể như trên; và nếu mở rộng phạm vi bao chứa của văn xuôi sang tất cả các loại văn chức năng như đã kể, thì đối tượng phân tích của chúng ta sẽ không sao xuể.

Những áng văn xuôi chữ Hán cuối cùng xuất hiện trong phong trào Duy tân và Đông kinh nghĩa thục vào thập niên đầu thế kỷ XX mà gương mặt tiêu biểu và sáng giá nhất là Phan Bội Châu trong cuốn tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử (viết trong khoảng 1921-1925). Và ngót 30 năm sau là tập thơ chữ Hán cuối cùng: Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh - người khai mạc kỷ nguyên Dân chủ Cộng hòa.

Hiện tượng các tác gia hiện đại Việt Nam viết bằng chữ Hán cũng tự nhiên như nhiều nhà thơ lớn của Pháp cuối thế kỷ XIX viết theo lối chữ La tinh. Có điều chữ Hán và chữ La tinh vẫn là hai chuyện khác nhau. Từ chữ La tinh mà có chữ Pháp, chữ ý, chữ Tây Ban Nha. Còn chữ Hán thì mối liên quan với tiếng Việt Nam nhìn chung là lỏng lẻo. Thế mà mối duyên cập kênh giữa chữ và tiếng ấy lại có thể kéo dài hàng ngàn năm !

Nếu đã có văn xuôi chữ Hán thì tất nhiên cũng có văn xuôi Nôm, sau sự ra đời của chữ Nôm từ thế kỷ XIII. Văn xuôi Nôm - cố nhiên vẫn phải dựa theo các lệ luật để giữ cho được sự đăng đối của nghĩa và âm, cũng như luật tứ lục trong văn xuôi Hán - văn xuôi Nôm cũng có một lịch sử đáng nhớ với rất nhiều tên tác phẩm trước và sau thế kỷ 15 như của Nguyễn Hàng, Nguyễn Bá Lân, Nguyễn Cư Trinh... nhưng đáng tiếc là không lưu lại được văn bản.

Tất nhiên ở đây chưa thể có văn “nôm na” dẫu là trong văn Nôm, bởi để tham dự được vào thế giới văn chương, nếu chưa phải là thơ, thì cũng phải là văn - với các quy định về văn thể, để cho được gần với thơ trong sự đối ứng về câu chữ và vần điệu.

Từ đầu thế kỷ XVII đã có văn Quốc ngữ trong các hoạt động của Thiên chúa giáo như Phép giảng 8 ngày. Thế nhưng ở khu vực này cũng đồng thời có cả văn Nôm. Đó là sách Thiên chúa thánh giáo khải mông ra đời trong khoảng từ 1623 - 1645, và sách Truyện Tiêu - du - la (Theodora) thuộc trong số 500 truyện Nôm ra đời trong khoảng thời gian 1632 - 1638 do một linh mục Dòng Tên là Girolamo Majorica (1591 - 1656) soạn tại Kẻ Rum - Nghệ An(2).

Những văn bản này cho đến nay do nằm ở các thư viện nước ngoài, nên vẫn còn ít người được đọc.

Nói đến văn Nôm trong khu vực kinh bổn Thiên chúa giáo thì cũng cần nhắc đến các áng văn Nôm là bản dịch một số kinh sách nhà Phật, cùng với bản dịch ra Nôm các tác phẩm Hán như Truyền kỳ mạn lục, Công dư tiệp ký, và bản chép truyện Trương Chi trong Sử Nam chí dị, vân vân...

Văn xuôi Nôm tiếp tục tồn tại trong khiêm nhường cho đến thời Tây Sơn của Quang Trung, là vị vua chủ trương lập Sùng Chính viện và mời La Sơn phu tử làm Viện trưởng để tổ chức việc san định, phiên dịch các kinh sách của Nho gia, từ Hán sang Nôm.

Thời Tây Sơn Quang Trung có thể xem là thời thịnh của văn Nôm sau một thế kỷ rực rỡ các truyện Nôm khuyết danh. Dưới đây là một trích đoạn thư của Nguyễn Viên năm 1882 mời Nguyễn Thiếp ra Kinh dạy cách tu tiên cho một vị Thượng thư lúc ấy là Nguyễn Hoãn: “Kỳ như cánh võng, hành lý, lộ phí, đường sá xa xôi; dù hết bao nhiêu, xin hãy ứng tạm. Nữa, quan lớn tôi sẽ nhưng hoàn như nguyên. Vả tu dưỡng chi gia, thì cũng phải lấy nữ đỉnh làm yếu dược. Mà trong bản xứ ta thì đất sơn cước cũng khó tìm được giống mỹ hảo. Ra ngoài này dù có muốn lấy giống ấy để thái luyện tu chân cho thành đạo, thì quan lớn tôi sẽ tìm ngoài này cho; ắt cũng thanh kiểu hơn trong điền dã (...). Thế nào cũng xin tạm khuất phó kinh diện yết, cho bằng lòng quan lớn tôi; để tôi là trong cựu thức cũng được tiếp cận tiếp chi nhan, mật linh thanh hối. Diệc nhất đoạn kỳ phụng dã”(3).

Cả đoạn văn quả là khó hiểu, bởi số lượng chữ Hán nhiều hơn Nôm. Có câu rặt chữ Hán, như câu cuối, phải dịch nghĩa... Nôm mới hiểu được. “Diệc nhất đoạn kỳ phùng dã”: “Cũng là một cuộc gặp gỡ hiếm hoi vậy”.

Chiếu Quang Trung gửi cho Nguyễn Thiếp, năm 1788 về việc tìm đất định đô ở xứ Nghệ, có đoạn: “Vậy chiếu ban hạ Phu tử tảo nghi dữ Trấn thủ Thận cộng sự, kinh chi dinh chi, tướng địa tác đô tại Phù Thạch. Hành cung sảo hậu cận sơn. Kỳ chính địa, phỏng tại dân cư ư gian, hay là đâu cát địa khả đô, duy Phu tử đạo nhãn giám định”.

Bài văn này khi được sưu tập và giới thiệu, Hoàng Xuân Hãn đã phải “viết lại ... bằng tiếng thường cho rõ nghĩa hơn”, nói đúng ra là “dịch lại”.

Sau văn Nôm thời Quang Trung phải kể đến văn Nôm thời Nguyễn ánh và Gia Long, là người còn tích cực hơn Quang Trung trong việc dùng văn Nôm vào các hoạt động quân vụ và hành chính.

Đây là một bức thư của Nguyễn ánh năm 1791:

“Hành Lại bộ Trí lược hầu thừa lệnh sai thầy Tấn nghi tựu Long Xuyên đạo, lãnh tiền nguyệt dĩ cụ chiến ghe nhất chích, tính hiệp súng nhị khẩu, cập trạo giả tứ danh, tốc tu Châu Bôn xứ nghinh Li-ốt Cai trường sự cập bản trường đẳng, đệ hồi Sài Gòn yết kiến hành tại. Vu tu vận tốc, vật khả kê tri. Nay sai”.

Những thư này đều phải dịch ra Nôm tất cả thì mới được gọi là văn Nôm thật sự.

Nguyễn ánh một đời bôn ba trận mạc, ít được học hành bài bản. Các quần thần đều là võ biền không mấy ai xuất thân khoa bảng. Hoạt động quân sự của Nguyễn ánh trong thời kỳ chống đánh Tây Sơn đều ở những vùng biên cảnh. dân chúng nói chung đều thất học. Do thế mà Nguyễn ánh phải dùng đến chữ Nôm - là tiếng thường dùng để cho ai ai cũng hiểu được.

Chẳng hạn trong điều quân luật, năm 1799:

“Tự tư dĩ hậu, tướng sĩ lâm trận, hữu tâm chiến tử, như quan chức chi thời cho con tập phong chức ấy. Bằng con có tài năng thời triều đình lục dụng. Bằng không có tài năng thời giữ hương hỏa mà phụng tự. Như lính thời cũng cho con một đứa nhiêu thân mãn đại mà phụng tự. Không con thời em, không em thời cháu, dĩ biểu kỳ tiết tử ư quân quốc chi sự”.

Hoặc chỉ dụ cho tướng sĩ trong dịp duyệt binh ở Gia Định, năm 1800:

“Tám chín phủ giang san đồ sộ, đặng chỗ này lo chỗ khác, thù tổ tông dân dám nguôi lòng.

Mười ba thu tướng sĩ nhọc nhằn, đánh trận nọ qua trận kia, đạo thần tử trước đà gắng sức”.

Thời này trình độ tiếng ta - văn Nôm cũng đã rất cao (bằng chứng là bản dịch Chinh phụ ngâm, truyện Hoa tiên, và sau đó là Truyện Kiều), nhưng đó là chuyện ở Đàng Ngoài. Còn ở đây là Đàng Trong, lại ở mãi tận các vùng đất mới phía Nam, vốn chữ của những cộng sự của Nguyễn ánh càng bị hạn chế, nên chưa thể thoát được tình trạng lổn nhổn Hán Nôm...

Văn xuôi Nôm thời Gia Long xem ra khá thịnh. Ngay cả thư từ giao dịch với Phú-lang-sa cũng đượoc viết bằng Nôm rồi mới dịch ra Pháp ngữ qua những người thông dịch đầu triều như Chaigneau, Vannier, De Forỗant.

Cái ý thức về sự ăn khớp với nhau giữa tiếng nói và chữ viết vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX có lẽ đã góp phần thúc đẩy nhanh con đường đi tới chữ Quốc ngữ là thứ chữ đã vào nước ta từ đầu thế kỷ XVII, nhưng cho đến lúc này, sau hơn 200 năm, vẫn còn bị bó chặt trong sinh hoạt của một bộ phận nhỏ giáo dân và trong các giáo đường.

Một ý thức thống nhất về tiếng và chữ đã được nhen nhóm, và con đường đầy gian truân là con đường đi tìm chữ, bởi còn phải vượt qua biết bao là chướng ngại. Cho đến cả Nguyễn Trường Tộ (1830 - 1871) thời Tự Đức, thuộc số ít người có đầu óc canh tân sớm nhất, người năm 1863 đã viết Tế cấp bát điều đề xuất với triều đình Tự Đức bao phương án đổi mới đất nước, người đã có mấy lần sang Pháp, tiếp xúc trực tiếp với văn minh phương Tây, người thông thạo Pháp ngữ, và tất nhiên là quen thuộc chữ Quốc ngữ... một người như thế vẫn còn rất rụt rè khi đề xuất việc cải tiến chữ. Cái chữ mà theo ông nói nó là “chữ Hán Quốc âm”; đã là người Việt Nam thì đọc lên ai cũng hiểu. Còn Hán theo lối Hán Việt thì vẫn chỉ là thứ chữ quen thuộc của một số ít người trong giới khoa bảng.

Theo sáng kiến của Nguyễn Trường Tộ, “chữ Hán Quốc âm” được cấu tạo theo lối chữ “cứ lấy chữ Hán chuyển đọc ra Quốc âm, không cần học nghĩa. Chẳng hạn “thực phạn” (tức là “sư phan” trong văn bạch thoại Trung Quốc) thì đọc là “ăn cơm”...

Nghĩ cũng vui vui, nếu như tất cả chữ Hán đều được đọc theo lối ấy !

Nhưng lại cũng phải thấy là so với cách cấu tạo chữ Nôm thì nó cũng chẳng dễ dàng hơn bao nhiêu đối với công chúng rộng rãi ít học !

Nguyễn Trường Tộ nói rõ chủ trương đó như sau:

“Nay lấy chữ Hán đọc ra Quốc âm thì khi đọc lên ai nghe cũng hiểu, có phải vừa dễ dàng vừa bớt được bao nhiêu phiền phức không? Tôi tính Quốc âm ta ước chừng hơn một vạn tiếng, trong đó chỉ có lối ba ngàn tiếng không thể viết như chữ Hán. Trường hợp đó ta dùng những chữ Hán tương tự rồi thêm hiệp vần vào một bên mà thôi. Còn sáu, bảy ngàn tiếng đã viết được như chữ Hán thì cứ viết, chỉ đọc như Quốc âm thôi. Đó gọi là “chữ Hán Quốc âm”...”(4).

Nguyễn Trường Tộ là người Công giáo. “Ông thừa biết rằng chữ Quốc ngữ, theo mẫu tự La tinh, được phổ biến trong giới Công giáo từ thế kỷ XVII - XVIII là một tự mẫu đơn giản và dễ học hơn “chữ Hán Quốc âm” nhiều. Nhưng ông đã không đề nghị lấy chữ Quốc ngữ làm chữ viết cho cả nước. Có lẽ ông đã giải thích điều đó khi ông nói: “Chả lẽ nước ta không có ai giỏi có thể lập ra một thứ chữ để viết tiếng ta hay sao ? Vì ta dùng chữ Nho đã lâu nên không cần thay đổi tất cả, sợ làm cho người ta lạ tai lạ mắt”(5).

Một đầu óc như Nguyễn Trường Tộ mà vẫn còn rụt rè như thế mới biết cái sức cản phá tất cả những gì đến từ Tây dương gồm từ mắt xanh, mũi lõ, qua thuốc súng, đạn chì, pháo thuyền, đến xà phòng, quốc ngữ... là mãnh liệt đến thế nào !

Năm 1863 khi Nguyễn Trường Tộ viết Tế cấp bát điều thì người cùng thời với ông là Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898) đã ở tuổi 26. Hai năm sau, năm 1865, ở Nam Bộ, tờ báo Quốc ngữ đầu tiên là Gia Định báo ra đời. Nhiều bài vở của Trương và các đồng chí như Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản, Trương Minh Ký sẽ được in ở đây. Năm 1866 gần như đồng thời với Tế cấp bát điều Trương viết tác phẩm văn xuôi Quốc ngữ đầu tiên là Chuyện đời xưa lựa nhón lấy những chuyện hay và có ích. Chuyện này, 22 năm sau, năm 1888, được in lại dưới cái tên gọi là Truyện đời xưa (*).

Vậy là điều mà nhà cách tân Nguyễn Trường Tộ e ngại thì Trương Vĩnh Ký đã thực hiện một cách mạnh dạn và phải nói là rất thành công. Từ cái thứ tiếng và chữ để ghi kinh bổn Thiên chúa giáo như trong Phép giảng tám ngày, thế kỷ XVII mà cách ghi âm thấy rất lủng củng, đến tập chuyện này của Trương Vĩnh Ký phải nói là khác xa một trời một vực. Soạn lại “truyện xưa” thế mà câu văn của Trương không còn để lại dấu vết “cổ” nào, bởi cái nguyên tắc ông tự đề ra cho mình là “nghĩ sao viết vậy”.

Trong bài Ý sách đặt vào đầu Chuyện đời xưa... tác giả viết:

“Kêu rằng: chuyện đời xưa vì nó là những chuyện kể lớn trước ta bày ra để mà khen sự tốt, chê sự xấu cho người ta sửa cách ăn nết ở cho tử tế... Góp nhóp, trộn trạo chuyện kia, chuyện nọ, in ra để cho con nít tập đọc chữ Quốc ngữ, cũng là có ý cho người ngoại quốc muốn học tiếng An Nam coi mà tập hiểu cho quen”. Các truyện được kể trong tập, theo tác giả đều là “chính cách nói tiếng An Nam ròng”.

Thử đọc đoạn mở đầu truyện Bụng làm dạ chịu:

“Có một anh bất tài, chẳng biết làm gì mà ăn, mới đi học làm thầy bói. Bói nhiều quẻ cũng khá ứng nên thiên hạ tin, đua nhau đem tiền đến xin bói. Làm vậy ăn tiền cũng khá, lại càng ra dạn dữ, lại càng đánh phách khua miệng dân.

Bữa kia, trong đền vua có mất con rùa vàng, kiếm thôi đã cùng đã khắp mà không ra.

Người ta mới tâu có anh thầy bói kia có danh, xin cho rước vào tới mà dạy gieo quẻ bói thử, họa may có được chăng. Vậy vua giáng chỉ dụ sắm võng giá, quân gia, dù lọng, cho đi rước cho được anh ta về”.

ở đây, trừ vài chữ như “bất tài” và “thiên hạ”... còn tất cả đều là chữ Nôm. Ngay cả mấy chữ Hán Việt hiếm hoi ấy cũng đã được Việt hóa. Cấu tạo truyện tuy vẫn còn âm hưởng dân gian (bởi là “truyện đời xưa”) nhưng quả đã có dấu ấn hiện đại trong cách kể.

Một truyện khác, thuộc loại ngắn nhất: truyện Thằng cha nhảy cà tứng.

“Thằng chã kia sợ vợ. Bữa nọ con mẻ đi chợ, ở nhà anh ta lấy khoai đem lùi bốn năm củ; con mẻ đâu lon ton về, thằng chã ngó thấy bóng, lật đật lấy khoai bỏ vô trong quần túm lại, chạy ra. Mà mắc nó nóng quá, nên đứng nhảy lên nhảy xuống hoài. Con mẻ thấy tức cười hỏi: Làm gì mà điên vậy ? Đứng nhảy cà tứng đó ? Nó mới nói: Tao mừng mầy đi chợ về”.

Quả là đậm phong vị Nam Bộ, trong tất cả các thành tố của ngữ âm và từ vựng.

Văn xuôi Nôm sau một thời gian ngắn ngủi khoảng vài ba chục năm phồn thịnh dưới thời Tây Sơn - Quang Trung và Nguyễn ánh - Gia Long bỗng ngừng bặt khi Minh Mệnh (1791 - 1841) lên ngôi - người chủ trương nhất nhất, tuyệt đối trở lại các khuôn mẫu Trung Hoa trên mọi lĩnh vực của thể chế, điển chế, của từ chương, khoa cử, văn tự...

Trở lại tình hình văn Nôm thế kỷ XIX - tôi cảm thấy không yên lòng khi nói đến văn xuôi nghệ thuật - mà để sót mấy áng biền văn, gồm văn tế và phú của một số tác gia. Đã đành đây không phải là văn xuôi chính hiệu mà là văn tế, là phú với các lệ luật về câu chữ, âm vận... mà người viết phải triệt để tuân thủ, để được gần với thơ, để được gọi là thơ - phú, rộng ra là văn - thơ - phú lục (như được nói đến trong thơ ca dân gian: “Văn - thơ - phú lục chẳng hay. Trở về làng cũ học cày cho xong”). Trước hết đó là Phạm Thái (1777 - 1813), người ở tuổi 23 có văn tế khóc người yêu là Trương Quỳnh Như, trước khi soạn chính lịch sử mối bi tình của mình trong Sơ kính tân trang (1804), Văn tế Trương Quỳnh Như (1800) là một tiếng lòng thật não nuột. áng văn thực sự nổi tiếng vì những lời dốc từ gan ruột của một trang nam nhi rất si tình xứng đáng là người báo hiệu cho những nguồn sầu và bể thảm trong văn thơ những năm 20 của thế kỷ sau:

“Nương tử ơi ! Chướng căn ấy bởi vì đâu ? Oan thác ấy bởi vì đâu ? Cho đến nỗi xuân tàn hoa nụ, thu lẫn trăng rằm.

Lại có điều đau đớn thế ! Nhà huyên ví có năm có bảy mà riêng một mình nàng đeo phận bạc thì lửa nguội với nước vơi còn có lẻ.

Thương hại thay ! Hoa có một cành, tuyết có một quãng, nguyệt có một vầng, mây có một đóa. Thân là thân hiếm hoi là chừng ấy, nỡ nào lấy đôi mươi năm làm một kiếp mà ngơm ngớm chốn non Bồng nước Nhược, đỉnh gì không đoái đến cõi phù sinh”.

Khoảng 120 năm sau, những lời du dương và ai oán kiểu này vẫn giữ nguyên trạng hình thù của nó trong nhiều tác phẩm lãng mạn của nền văn xuôi hiện đại. Mới hay cái sức ám ảnh của hơi văn biền ngẫu gắn với những thống thiết từ gan ruột con người là dai dẳng biết mấy trong lịch sử !

Nhân nói đến khóc người yêu tưởng cũng nên nhắc đến bài Văn tế khóc chị thật cảm động của Nguyễn Hữu Chỉnh (? - 1787) trước đó:

“Thương thay chị, mới hai mươi chín tuổi, cũng là kiếp hóa sinh. Gửi mình vào tài tử mười ba năm, đã dốc một lời nguyền, song cay đắng có nhau, vinh hiển bao giờ chưa được thấy. Rơi máu ở nhân gian năm bẩy bận, chỉn còn hai chút gái, và sữa măng dường ấy, dù trưởng thành ngày khác cũng rằng không”.

Tiếp đó là Lý Văn Phức (1785 - 1849) trong áng biền văn tự thuật với hai câu kết:

Buồn tênh khi dâng bảng hồi sai

Bút thảo gọi ghi tên tự thuật.

Và áng văn ghi nỗi kinh hoàng của tác giả bị bão biển ở ngoài khơi khi đi sứ, năm 1834:

“Đau đớn thay, người dại sóng say vời, bữa cơm nhịn suốt thâu ngày, cầm chén cháo gắng dần cho lấy sống.

Chua xót nhẽ, kẻ dầu sương dãi nắng, liều nước đếm chia từng giọt, gặp cơn mưa đều mừng vội ngỡ là tiên.

Kêu sầu khóc thảm, nói chẳng ra lời

Ngậm đắng nuốt cay, tính dần từng khắc”

Không kể hai bài phú cực kỳ nổi tiếng của hai bậc danh Nho là Hàn nho phong vị phú của Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) và Tài tử đa cùng phú của Cao Bá Quát (1808 - 1855).

Trong sinh hoạt văn hóa dân tộc còn có loại lời hát nói - hát ả đào, chen lẫn Hán và Nôm như Lời vợ phường chèo (Ưu phụ từ) Lời gái góa của Nguyễn Khuyến.

Như vậy thế kỷ XIX là thế kỷ toàn thịnh và đưa lên đỉnh cao nền thơ Nôm dân tộc, với Nguyễn Du, với Hồ Xuân Hương và bà Huyện Thanh Quan, với Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát, với Nguyễn Khuyến và Tú Xương; cũng đồng thời là thế kỷ văn xuôi Nôm khởi động những bước đi vững vàng đầu tiên trong bối cảnh văn xuôi Quốc ngữ đã xuất hiện.

Điều dễ hiểu: khi văn xuôi Quốc ngữ đã được sử dụng một cách có ý thức và có hiệu quả trong đời sống văn hóa tinh thần của xã hội, kể từ sự xuất hiện các tác gia Nam Bộ như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản, Trương Minh Ký..., kể từ tờ báo Quốc ngữ đầu tiên là Gia Định báo ở Nam Bộ, thì nó sẽ có một chuyển động vô cùng nhanh gấp, để trở thành một công cụ hữu hiệu trọng sinh hoạt báo chí, văn hóa, văn chương, học thuật, cả trên hai mặt: sản xuất và tiếp nhận, người viết và người đọc. Cũng có nghĩa là văn xuôi Nôm (nói đúng ra là cả Hán và Nôm), với tất cả những khó khăn và bất tiện của nó sẽ nhanh chóng mất ưu thế và bị thay thế dần trong sự thắng thế toàn diện và triệt để của văn xuôi Quốc ngữ./.

P.L

CHÚ THÍCH

(1) Nguyễn Khuyến - Tác phẩm; Nxb. KHXH., H.,1984. Bản dịch của Nguyễn Văn Huyền; tr.645.

(2) Theo Lại Văn Hùng: Truyện ngắn nhìn trong nguồn mạch, Tạp chí Văn học, số 2-2001.

(3) Các trích đoạn văn trong bài này, rút theo Lại Văn Hùng (tài liệu đã dẫn); Phan Trần Chúc: Văn chương quốc âm về thế kỷ XIX; Nxb. Đời mới; 1945; Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt nam từ cuối XIX đến 1945; Nxb. Văn học; 2001.

(4), (5) Trương Bá Cần: Nguyễn Trường Tộ, Tập I - Con người; Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm; 1991; tr.88 - 89.

* Theo nhà sử học Nguyễn Đình Đầu thì ngày 7 tháng 2 năm 1859, chưa đầy nửa tháng trước khi quân Pháp và Y pha nho đánh thành Gia Định, Trương Vĩnh Ký lúc ấy mới 22 tuổi đã viết 1 bức thư bằng tiếng La tinh,với những giải thích bằng chữ Quốc ngữ, nói về tình hình học tập ở Sài Sòn và Nam Bộ cho các bạn học ở Pi nang biết.

TB

TÔI KHÔNG TRANH LUẬN LẠI VỚI
TIÊN SINH NGUYỄN TIẾN ĐOÀN

TẠ NGỌC

LTS:

Chỉ kể từ năm 1982 đến nay, hai chữ “thu thanh” trong câu đối ở đền Kiếp Bạc đã được bàn tới trên báo chí như Văn nghệ quân đội, Tạp chí Hán Nôm, Tạp chí Lịch sử quân sự tuần báo Văn nghệ...

Xét thấy, về mặt văn bản, theo một số bài viết, thì đây chỉ là câu đối tương truyền là của Vũ Phạm Hàm (1864 - 1906). Vì vậy, trong khi chưa xác định được nguồn xuất xứ văn bản, Tòa soạn chủ trương tôn trọng câu đối từ lâu đã có tại di tích đền Kiếp Bạc và xin dừng cuộc thảo luận tại đây.

Sau khi đọc xong bài Thử bàn về bốn chữ “kiếm khí, thu thanh” nhân đọc bài của tác giả Tạ Ngọc , của tiên sinh Nguyễn Tiến Đoàn đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 2 (47) - 2001, tôi thấy không thể tranh luận lại với tiên sinh được, nhưng vẫn phải có vài lời nói rõ vì sao tôi không thể tranh luận với tiên sinh .

1. Trong nghiên cứu Hán Nôm, khi muốn luận bình về giá trị của một cuốn sách, về ý nghĩa của từng câu thơ, câu văn xưa thì việc đầu tiên, rất căn bản, phải làm tốt là khâu văn bản học. Nghĩa là khi chúng ta muốn đem ra bình luận một câu nào, chữ nào thì trước hết các câu, chữ đó phải có đủ độ tin cậy về mặt khoa học. Chúng cần được giám định kỹ, bảo đảm tính chính xác về văn bản học.

Đọc bài viết của tiên sinh Nguyễn Tiến Đoàn, tôi thấy nội dung cốt lõi trong bài là tiên sinh muốn phủ định từ “thu” nghĩa là mùa thu trong câu “Lục Đầu vô thủy bất thu thanh”, và thay thế bằng từ “thu” có bộ “khẩu” (  mà tiên sinh tra ra nghĩa là “tiếng trẻ con”. Tiên sinh viết: “Trước Cách mạng Tháng 8-1945, tôi đã đọc câu này trong tập Danh công trướng đối, bản chữ Hán chép tay của một gia đình Cử nhân cùng khoa với Vũ Phạm Hàm có viết bộ khẩu (. Cố trưởng phòng Bảo tồn, Bảo tàng Thái Bình Đỗ Phúc Hứa, một nhà Hán học đáng kính viết vào sổ tay cho tôi đôi câu đối này cũng có bộ khẩu, và cụ đọc là “tin thanh”.

Thưa tiên sinh Nguyễn Tiến Đoàn, chữ “thu” có bộ khẩu mà tiên sinh nhớ đã đọc từ trước năm 1945 và sau này được cụ Đỗ Phúc Hứa chép vào sổ tay cho tiên sinh, chỉ có thể để tiên sinh sử dụng vào việc riêng thôi, còn đối với độc giả, nhất là đối với các nhà văn bản học thì nó hoàn toàn không có giá trị khoa học, không có sức thuyết phục vì nó chỉ là chữ chép ở sổ tay cá nhân. “Khẩu thuyết vô bằng”. Nếu chỉ nói thôi mà không đưa ra được bằng chứng cụ thể thì không ai tin. Và, dù rằng tiên sinh có tìm được văn bản in (hoặc chép tay), đúng là một văn bản cũ, ghi lại đôi câu đối của Vũ Phạm Hàm, trong đó chữ “thu” có bộ khẩu, thì chúng ta cũng chỉ xem đấy là một dị bản, chứ không được tùy tiện xóa bỏ chữ “thu” là mùa thu rồi thay thế bằng chữ “thu” có bộ khẩu theo trí nhớ chủ quan của mình.

2. Để phủ nhận từ “thu” là mùa thu, tiên sinh Nguyễn Tiến Đoàn viết: “Do lâu ngày mưa gió làm xói mòn chữ khẩu, hay do mấy ông thợ nề sửa lại làm mất chữ “khẩu” chăng ? hoặc vị nào bạt chữ “khẩu” cho là vô nghĩa chăng ?

Đọc đoạn văn này, tôi có cảm tưởng là tiên sinh chưa từng đến Kiếp Bạc, chưa bao giờ tận mắt đọc đôi câu đối của Thám hoa Vũ Phạm Hàm đề ở đó:

Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí
Lục Đầu vô thủy bất thu thanh

Tôi hy vọng tiên sinh sớm có dịp đi thăm Kiếp Bạc và xác minh lại xem chữ “thu” trong câu đối của Vũ Phạm Hàm có dấu viết chữ “khẩu” bị “bạt” đi không ?

Trong khi chưa trực tiếp giám định văn bản học một cách cẩn thận những câu chữ muốn bàn luận trên diễn đàn học thuật thì chúng ta không nên nói theo lối suy diễn và võ đoán chủ quan.

3. Tiên sinh Nguyễn Tiến Đoàn có một phương pháp tiếp vận vấn đề mà tôi cũng không thể tranh luận lại được.

Chữ “thu” mà tôi với khá nhiều người đã bàn luận là chữ “thu” chỉ mùa trong năm, nét chữ rất rõ ràng, rất đẹp, nằm trong câu “Lục Đầu vô thủy bất thu thanh” đề ở đền thờ Kiếp Bạc bao thập kỷ qua; còn tiên sinh lại mang chữ “thu” có bộ khẩu ghi trong sổ tay của tiên sinh ra để bình tán và bác bẻ.

Cũng theo phương pháp tư duy ấy, tiên sinh đề xuất chữ “thu” có bộ khẩu, nghĩa là “tiếng trẻ con” nhưng khi dịch câu “Lục Đầu vô thủy bất thu thanh”, thì cụ lại bỏ hai chữ “thu thanh” (“tiếng trẻ con”) và thay vào đó bằng nghĩa của từ “thu thu” mà cụ tra ở Từ hải, Từ nguyên thấy giải thích là “tiếng quỉ kêu” rồi khẳng định:

Lục Đầu vô thủy bất thu thanh, “phải dịch là: Sông Lục Đầu không dòng nước nào không có tiếng kêu la của quỉ...”

Thưa tiên sinh, cứ theo như cách giảng trên thì “thu” (tiếng trẻ con) “thu thu” (tiếng quỉ kêu la) là hai từ mang nghĩa khác nhau. “Thu” là “thu”. “Thu” không là “thu thu”. Nếu dịch như thế, câu đối trên phải chữa thành: “Lục Đầu vô thủy bất thu thu”. Còn không, xin tiên sinh cứ phải dịch đúng nghĩa chữ “thu” có bộ khẩu như đã đề xuất: “Sông Lục Đầu không dòng nước nào không có tiếng trẻ con”.

Điểm cuối cùng tôi muốn lưu ý tiên sinh Nguyễn Tiến Đoàn rằng, trận thủy chiến Trần Hưng Đạo tiêu diệt quân Nguyên Mông năm 1288 diễn ra trên sông Bạch Đằng, chứ không phải ở sông Lục Đầu như cụ viết: “Sông Lục Đầu không dòng nước nào không có tiếng kêu la của quỉ. Rõ ràng “quỉ” đây là những tên giặc xâm lược hung hãn Nguyên Mông bị thảm bại, hoảng sợ mà khóc mà rên”.

TB

ĐỌC “DANH NHÂN VĂN HỌC KINH BẮC”(*)

NGUYỄN DUY HỢP

Kinh Bắc là đơn vị hành chính đời Lê, bao gồm hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và các huyện Hữu Lũng (nay thuộc Lạng Sơn), Kim Anh, Đa Phúc, Gia Lâm (nay thuộc Hà Nội) và Văn Giang (nay thuộc Hưng Yên).

“Kinh Bắc có mạch núi cao vót, nhiều sông quanh vòng, là mạn trên của nước ta. Phong cảnh thì phủ Bắc Hà, phủ Lạng Giang đẹp hơn. Văn học thì phủ Từ Sơn, phủ Thuận An nhiều hơn. Mạch đất tốt tụ vào đấy nên càng nhiều chỗ có dấu tích đẹp; tinh hoa họp vào đấy nên sinh ra nhiều danh thần. Vì là khí hồn trọng ở phương Bắc phát ra nên khác với mọi nơi (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí. Bản dịch Nxb. KHXH. H.1992)

Theo thống kê của các nhà nghiên cứu thì trong vòng 845 năm khoa cử chữ Hán ở Việt Nam (1075 - 1919), số người đỗ đại khoa ở Kinh Bắc chiếm hơn 1/4 tổng số Tiến sĩ cả nước. Tất nhiên không phải toàn bộ những ông Trạng, ông Nghè ấy đều là nhà văn nhà thơ. Nhưng có điều chắc chắn là những danh nhân văn học Kinh Bắc ít nhiều đều được đào luyện từ cửa Khổng sân Trình. Bởi vậy ta không lấy làm lạ khi thấy ở Kinh Bắc hàng ngũ văn nhân, thi sĩ đông đảo và có nhiều cây đại thụ trên văn đàn hơn nơi khác.

Từ trước đến nay, tác phẩm của các danh nhân văn học Kinh Bắc đã được giới thiệu trong các công trình sưu tầm, tuyển chọn tầm cỡ quốc gia như Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích và gần đây là các bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Tổng tập văn học Việt Nam của nhiều tác giả.

Những công trình ấy và nhiều công trình chuyên sâu về một thời kỳ (Thơ văn Lý - Trần) hoặc về một tác gia (Sái Thuận, nhà thơ lớn đất cổ Kinh Bắc)... đã cung cấp cho chúng ta một hình ảnh đầy đủ về nền văn học phong phú, nhiều mầu sắc của nước nhà, trải dài trên 10 thế kỷ. Độc giả có thể tìm trong kho tàng văn chương quý báu đó những gì cần thiết để nâng cao hiểu biết, bồi dưỡng tinh thần tự tôn dân tộc và nhất là làm cho tâm hồn ngày một trong sáng, giàu có và đẹp đẽ hơn lên.

Song đối với những ai muốn đi sâu tìm hiểu về văn học Kinh Bắc hoặc có nhu cầu giảng dạy văn học địa phương thì việc tìm đọc một khối lượng sách đồ sộ không phải là công việc dễ thực hiện, nhất là một số văn bản còn chưa được dịch ra chữ quốc ngữ.

Biên soạn và xuất bản Danh nhân văn học Kinh Bắc (DNVHKB), Duy Phi là người đầu tiên tập hợp tác gia, tác phẩm xứ Bắc vào một cuốn sách, đáp ứng lòng mong mỏi và yêu cầu học tập, nghiên cứu của đông đảo bạn đọc địa phương.

Trước đây loại công trình như thế này đều do tập thể tác giả, dưới sự chỉ đạo tiến hành của cơ quan Nhà nước. Cá nhân Duy Phi dù đã có sáu đầu sách tuyển chọn, biên dịch, lại “để ra nhiều năm sưu tầm, nghiên cứu” song kiến thức của một người là có hạn, chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót.

Với phương châm cổ vũ, động viên và chân thành góp ý, người viết bài này muốn trao đổi với tác giả về mặt học thuật, nhằm làm cho cuốn sách hoàn thiện hơn, phục vụ tốt hơn.

Trong Lời đầu sách Duy Phi viết: “Danh nhân văn học Kinh Bắc được kế thừa tinh hoa của các công trình, các tập sách xưa nay về xứ Bắc, nhằm bảo tồn diện mạo văn học của một vùng quê ngàn năm văn hiến... Tuy vậy công trình này mới dừng lại chủ yếu ở mảng thơ từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XX.”

Chúng ta hãy xem Duy Phi đã thực hiện tiêu chí ấy ra sao.

Trước hết về danh nhân hay các tác gia văn học. Tuy cuốn sách không chia giai đoạn mà xếp các tác gia theo niên đại, song lần theo thứ tự thời gian, chúng ta thấy đã giới thiệu được các gương mặt sau:

Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV (tương đương triều đại Lý - Trần) là 24 vị, bắt đầu là Thiền sư Vạn Hạnh (? - 1018), kết thúc là Đoàn Xuân Lôi (đỗ Thái học sinh năm 1384).

Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVI (tương đương các triều Hồ, Lê, Mạc) là 23 vị, bắt đầu là Vũ Mộng Nguyên (đỗ Thái học sinh năm 1400), kết thúc là Hoàng Sĩ Khải (đỗ TS. năm 1544).

Từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX (tương đương triều Lê - Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn) là 14 vị, bắt đầu với Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748), kết thúc là Nguyễn Khắc Nhu (1882 - 1930).

Đầu thế kỷ XX (nhưng thực ra kéo dài đến cuối thế kỷ XX) là 7 vị, bắt đầu với Ngô Tất Tố (1892 - 1954), kết thúc là Hoàng Cầm (sinh năm 1922).

Tổng cộng đã giới thiệu 68 tác gia, trong đó có những tác gia lớn như Vạn Hạnh, Huyền Quang, Sái Thuận, Giáp Hải, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái, Cao Bá Quát v.v.

Mặc dù Duy Phi đã lập bản Phụ lục ghi danh sách của 50 tác gia chưa có điều kiện giới thiệu trong DNVHKB, nhưng qua phần thống kê trên, ta thấy DNVHKB thiếu vắng phần lớn các tác gia thế kỷ XVII, XVIII là thời kỳ văn học trung đại, có nhiều thành tựu rực rỡ. Ngoài Nguyễn Đăng Đạo, Nguyễn Công Hãng, Phạm Khiêm ích, Nguyễn Huy Lượng... có thể kể thêm nhiều vị nữa. Đó là Vũ Miên (1718 - 1782) người Xuân Lan (Lương Tài) giỏi thơ phú, các bài thơ phú thi Tiến sĩ của ông đều được xếp thứ nhất. Thơ chữ Hán của Vũ Miên được tuyển khá nhiều trong Việt thi tục biên (do Nguyễn Thu biên soạn) và rải rác trong một số tập sách khác. Đó là cha con Hoàng Nguyễn Thự (1749 - 1801), Hoàng Tế Mỹ (1795 - ?) người Đông Bình (Gia Bình), đồng tác giả tập Đông Bình Hoàng gia thi văn. Đó còn là Lê Duy Đản (đỗ TS. năm 1775), quê Hương La (Yên Phong) đội nón mê, mặc áo rách đi sứ với Trần Danh án, có Bài ca lên núi Sóc nổi tiếng...

Những tác gia ở đầu thế kỷ XX tuy tài liệu khá nhiều nhưng Duy Phi chỉ giới thiệu có 7 vị. Phải chăng vì nhan đề cuốn sách đã khiến anh thận trọng ? Những ai được gọi là danh nhân đây ? Nếu đã giới thiệu đến Anh Thơ và Hoàng Cầm là những tác giả đương đại thì sao không giới thiệu Nam Xương (1905 - 1958), tác giả vở kịch Ông Tây An Nam nổi tiếng ? Nên chăng thay cụm từ Danh nhân văn học Kinh Bắc bằng Tác gia văn học Kinh Bắc để sự lựa chọn được dễ dàng và thỏa đáng hơn ?

Về phần tuyển chọn tác phẩm, DNVHKB có ưu điểm là đưa ra một số thơ văn mới phát hiện (như trường hợp Nguyễn Đình Tuân) và dịch lại một số bài thơ chữ Hán. Đây là thái độ làm việc nghiêm túc và coi trọng bạn đọc, tránh được tình trạng “xào xáo” lại công trình của người đi trước.

Tuy nhiên chính trong phần tuyển chọn tác phẩm này đã cho thấy sự thiếu nhất quán của soạn giả.

Trong Lời đầu sách, Duy Phi nói rằng: “công trình này mới dừng lại chủ yếu ở mảng thơ”, nhưng thực tế lại tuyển không dưới ba bài phú, một bài chiếu. Nếu Duy Phi cho rằng phú cũng có thể được coi như thơ thì anh sẽ giải thích như thế nào về câu nói của vua Lý Thánh Tông với các quan, của Lê Văn Thịnh với sứ Tống ? Hiển nhiên đây chẳng phải là thơ cũng không là phú !

Khi tuyển những bài thơ dịch của Ngô Tất Tố, soạn giả có in kèm nguyên tác để người đọc tiện đối chiếu. Trường hợp 12 bài thơ của Lê Thánh Tông được nhiều văn thần họa lại cũng thế. Song với bản dịch Chinh phụ ngâm thì nguyên tác của Đặng Trần Côn lại không được giới thiệu. Phải chăng đây là sự thiếu nhất quán? Bài thơ Văn tế cá sấu còn tồn nghi mà trích tuyển, liệu có thể nhân lên tình trạng “dĩ ngoa truyền ngoa” hay không? Với tác giả lớn như Phạm Thái, bỏ qua bài Văn tế Trương Quỳnh Như nổi tiếng, chỉ trích một đoạn Sơ kính tân trang là chưa tương xứng, rất đáng tiếc.

ở thế kỷ XV, Hoàng Đức Lương khi làm Trích diễm thi tập đã từng bộc bạch: “Tôi không tự lượng sức mình... quên rằng sách cũ không còn bao nhiêu, trách nhiệm nặng nề mà tài hèn sức mọn, tìm quanh hỏi khắp, nhưng số thơ thu lượm được cũng chỉ là một hai phần trong số ngàn vạn bài... Chọn lấy bài hay, chia xếp các bài theo từng loại được sáu quyển, đặt tên là Trích diễm”.

Duy Phi làm DNVHKB được thừa hưởng nhiều công trình giá trị của người đi trước song không phải là đã hết khó khăn. Cái được và cái chưa được trong tập sách đã phản ánh rõ điều ấy. Mong rằng đến lần tái bản, Duy Phi sẽ dụng công hơn để DNVHKB xứng đáng là sách công cụ cần thiết cho những ai quan tâm đến văn học xứ Kinh Bắc ngàn năm văn hiến.

CHÚ THÍCH

(*) Duy Phi biên soạn, Nxb. Văn hóa Dân tộc, H. 2001.

TB

VĂN BIA GHI TÊN NGƯỜI ĐỖ KHOA TRƯỜNG CỦA PHỦ HOÀI ĐỨC

NGUYỄN HỮU MÙI

Phủ Hoài Đức được thành lập vào năm Gia Long thứ 4 (1805), gồm 3 huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận và Từ Liêm(1), tức phần đất thuộc 7 quận nội thành(2) và huyện Từ Liêm của thành phố Hà Nội hiện nay. Đây là vùng đất của Kinh thành Thăng Long xưa từng nổi tiếng bởi truyền thống hiếu học và có nhiều người đỗ đạt bằng con đường khoa cử. Như nhiều miền quê khác trong cả nước, người dân vùng cố đô cũng dựng bia ghi tên người đỗ khoa trường của địa phương mình, nhằm biểu dương nhân tài, khuyến khích việc học.

Trước đây đã có người dịch một trong hai tấm bia có tại khu di tích này làm tài liệu tham khảo(3), chưa có ai công bố các kết quả nghiên cứu tiếp theo. Bài viết sau đây, chúng tôi xin đề cập đến vấn đề còn để ngỏ đó ở góc độ văn bản và giá trị tư liệu.

1. Về văn bản

Văn bia ghi tên người đỗ khoa trường của phủ Hoài Đức, như đã nói ở trên, gồm 2 tấm, do Học viện Viễn Đông Bác Cổ của Pháp in dập dưới dạng thác bản vào những năm đầu của thế kỷ 20, hiện đang được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Căn cứ vào dòng chữ ghi bên lề phải của bia cho biết, đây là những bia vốn dựng tại văn chỉ của huyện Từ Liêm, đặt tại thôn Phú Mỹ, xã Mỹ Đình cùng huyện.

Bia thứ nhất khắc chữ cả hai mặt, tạo năm Tự Đức 25 (1872), khổ 0,68x 1,00m. Mặt trước, ký hiệu No788, trang trí bằng một khung hoa văn hình chữ nhật, trong có dây leo uốn mềm mại móc nối vào nhau. Tiêu đề của mặt này ghi dòng chữ đậm Bản phủ tiền tiến sĩ đề danh bi 本 府 進 士 題 名 碑 (Bia ghi tên người đỗ Tiến sĩ triều trước trong bản phủ). Tiếp đến là bài ký, do Tiến sĩ Nguyễn Văn Ái(4) viết, nói rõ mục đích lập bia: “Phủ Hoài Đức kiêm hạt huyện Từ Liêm của tỉnh Sơn Tây, là nơi danh tiếng từ xưa, lĩnh cả huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận, xưa là phủ Phụng Thiên, là nơi kinh đô thanh danh văn vật đều thuộc phủ Hoài Đức. Vì vậy, người đỗ ghi trong Đăng khoa lục của phủ rất nhiều. Từ khi lập phủ hồi đầu quốc triều trở về trước chưa thấy việc lập bia ghi lại. ái tôi bèn bàn với học quan trong quận tạo bia mới, làm thành bia đình, dựng sau nhà học. Mặt trước ghi tên người đăng khoa triều trước, phân thành giáp đệ, qui theo huyện xã, cốt sao cho giản ước để tiện xem xét”.

Sau đó là phần ghi họ tên người đỗ, bắt đầu từ Vũ Tuấn Chiêu, người phường Nhật Chiêu, huyện Vĩnh Thuận, đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa ất Mùi, niên hiệu Hồng Đức (1475), đến Nguyễn Quốc Ngạn, người phường Bái Ân, cùng huyện, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân (Tiến sĩ) khoa ất Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng (1775), gồm 138 người.

Mặt sau, ký hiệu No789, ghi tiêu đề Bản phủ tiền triều chư danh khoa bi 本 府 前 朝 諸 名 科 碑 (Bia ghi tên các vị danh khoa triều trước trong bản phủ). Mặt này ghi lý do khắc bia: “Khi chưa mở khoa thi Tiến sĩ, đã có khoa thi Thái học sinh và Minh kinh, tức cũng như khoa Tiến sĩ. Khi đã đặt khoa Tiến sĩ, lại mở thêm khoa thi Đông các và Chế khoa, ân điển so với khoa Tiến sĩ được trọng vọng hơn. Thứ đến là các khoa thi Hoành từ, Sĩ vọng, Tuyển cử. Khoa mục chí cho đây là đặc cách ngoài đại khoa. Các khoa thi này thỉnh thoảng mới được mở, nên người đỗ ghi trong Đăng khoa lục cũng ít, mà có ghi thì không dựng bia, hoặc tịnh không ghi chép gì. Vì thế họ được lưu truyền cũng ít. Dẫu ít nhưng thấy truyền lại trong phủ Hoài Đức vừa đủ vừa nhiều”.

Sau phần bài ký, bia lần lượt ghi tên các khoa thi, bắt đầu từ khoa thi Thái học sinh đến khoa Tuyển cử, gồm 7 khoa, với 28 người đỗ.

Bia thứ hai, cũng khắc chữ cả hai mặt, tạo năm Canh Dần Thành Thái (1890), khổ 0,88x1,30m. Mặt trước, ký hiệu No792, trang trí hoa văn giống như mặt 1 của bia thứ nhất, khắc tiêu đề Quốc triều bản phủ lịch khoa bi ký 國 朝 本 府 歷 科 碑 記 (Bia ghi tên người đỗ trải các khoa có trong bản phủ của quốc triều). Tác giả của bia này cũng là Nguyễn Văn ái. Ông cho biết: “Từ quốc triều khai khoa đến nay trải 60, 70 năm chưa lâu nhưng Hoài Châu là đất văn vật thanh danh nên không thể khuyết điển. Tôi bèn xét theo gia phả, huyện phả hoặc những chỗ còn sót trong sách Đăng khoa lục [...]. Chỗ nào khuyết thì hỏi huyện, huyện không rõ thì hỏi phủ, phủ không rõ thì hỏi trấn, rồi lại tham khảo gia phả, huyện phả biên soạn cho đầy đủ”.

Phần ghi họ tên người đỗ bắt đầu từ Trần Bá Kiên, người xã Vân Canh, huyện Từ Liêm, đỗ Cử nhân khoa Đinh Sửu (1807), đến Trần Khắc Quang, người xã Tây Mỗ, cùng huyện, đỗ Cử nhân khoa Mậu Thìn (1865), gồm 154 người.

Mặt sau, ký hiệu No793, khắc tiếp từ Vương Duy Trinh, người xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, đỗ Cử nhân khoa Canh Ngọ (1870), đến Nguyễn Trác, người xã Yên Lãng, cùng huyện, đỗ Cử nhân khoa Mậu Tý (1888), gồm 45 người. Còn từ Đặng Trần Vĩ, người xã Trung Tựu huyện Từ Liêm, đỗ Cử nhân khoa Tân Mão (1891), đến Nguyễn Mạnh Dần, người xã Phú Diễn, cùng huyện, đỗ Cử nhân khoa Kỷ Dậu (1909), gồm 37 người, là do tục khắc thành nhiều đợt về sau. Mỗi đợt khắc thành một kiểu chữ khác nhau. Gộp cả mặt này là 82 người.

Tổng cộng số người đỗ ghi trên 4 mặt bia là 402 vị, trừ 35 vị được khắc tên hai lần (khắc lần đầu khi họ đỗ Tiến sĩ, khắc lần thứ hai khi họ đỗ khoa Đông các; hoặc khắc lần đầu khi họ đỗ Cử nhân, khắc lần thứ hai khi họ đỗ Tiến sĩ), thực có 367 vị. Trong đó có 173 vị đỗ đại khoa, 294 vị đỗ trung khoa, tính từ khoa thi đầu tiên (1075), đến năm 1909(5).

2. Giá trị tư liệu

Trong quá trình tìm hiểu cụm văn bia ghi tên người đỗ khoa trường của phủ Hoài Đức, sau khi lập phiếu cho từng vị đại khoa(6), đối chiếu với bộ Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục 鼎 契 大 越 歷 朝 登 科 籙 (LTĐKL), mang ký hiệu VHv.2140/1-3 lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi thấy hai tấm bia đó có những đóng góp sau đây.

+ Bổ sung địa danh tên xã cho 4 nhà khoa bảng mà LTĐKL còn để trống

TT Khoa thi LTĐKL Bia đề danh phủ Hoài Đức
1 Hồng Đức 6 (1475) Nguyễn Sùng Nghê: người huyện Vĩnh Xương (VHv.2140/1, 21a) Người phường Kim Cổ (N0788)
2 Hồng Đức 12 (1481) Nguyễn Thái: người huyện Vĩnh Xương (VHv. 2140/1, 28a) Người thôn Tự Tháp (N0788)
3 Hồng Đức 18 (1487) Nguyễn ích Ngân: người huyện Vĩnh Xương (VHv. 2140/1, 36a) Người thôn Tự Tháp (N0788)
4 Đoan Khánh 1 (1505) Bùi Nguyên: người huyện Vĩnh Xương (VHv.2140/2, 1a) Người phường Đông Tác (N0788)

+ Cung cấp thông tin về 12 nhà khoa bảng ngoài đăng khoa lục. 12 vị này đều khắc ở bia bản phủ tiền triều chư danh khoa bi. N0789. Trong đó 3 vị: Tô Hiến Thành, Đỗ Kính Tu, Nguyễn Quang Minh đã được TS. Nguyễn Thúy Nga công bố trong cuốn nghiên cứu văn bản học đăng khoa lục Việt Nam (7).

TT Họ tên Quê quán Khoa đỗ
1 Tô Hiến Thành
蘇 憲 誠
Người xã Hạ Mỗ, huyện Từ Liêm Thái học sinh đời Lý
2 Đỗ Kính Tu
杜 敬 修
Người xã Vân Canh, huyện Từ Liêm +
3 Nguyễn Quang Minh
阮 光 明
Người xã Hạ Yên Quyết, huyện Từ Liêm Thái học sinh năm Thánh Nguyên đời Hồ
4 Lê Đức Nghiệp
黎 德 業
Người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm Hoành từ
5 Nguyễn Phi Thứ
阮 丕 次
Người xã Hương Canh, huyện Từ Liêm +
6 Phạm Công Liêu
范 公 寮
Người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm Sĩ vọng
7 Phạm Thế Mỹ
范 世 美
Người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm +
8 Dương Tự Lệ
楊 自 勵
Người xã Cáo Đỉnh, huyện Từ Liêm +
9 Dương Tự Cường
楊 自 彊
Người xã Cáo Đỉnh, huyện Từ Liêm +
10 Nguyễn Viết Nhân
阮 曰 仁
Người xã Vân Canh, huyện Từ Liêm +
11 Lê Địch Văn
黎 迪 文
Người xã Vân Canh, huyện Từ Liêm +
12 Lê Địch Giáo
黎 迪 教
Người xã Vân Canh, huyện Từ Liêm +

+ Cung cấp thông tin về sự thay đổi địa danh của 42 nhà khoa bảng (tức qui đổi từ địa danh cũ sang địa danh mới, tính vào thời điểm lập bia)

TT Khoa thi LTĐKL Bia đề danh phủ Hoài Đức
1 Quang Thuận 7 (1466) Nguyễn Quang Lộc: người phường Đông Các huyện Vĩnh Xương (VHv.2140/1, 14a) Thôn Dũng Thọ
(N0 788)
2 Quang Thuận 10 (1469) Đỗ Kim Oánh: người phường Công Bộ, huyện Quảng Đức (VHv.2140/1, 17a) Phường Nhược Công
+
3 Hồng Đức 18 (1487) Trình Chí Sâm: người phường Khúc Phố, huyện Vĩnh Xương (VHv.2140/1, 36b) Phường Phúc Tô
+
4 Hồng Đức 21 (1490) Nguyễn Minh Điền: người xã Tây Đam, huyện Từ Liêm (VHv.2140/1, 39a) Xã Tây Tựu
+
5 Hồng Đức 24 (1493) Phạm Mật: người phường Thịnh Quang, huyện Quảng Đức (VHv.2140/1, 43a) Phường Thịnh Hào
+
6 Hồng Thuận 6 (1514) Nguyễn Hanh Gia: người phường Đông Các, huyện Thọ Xương (VHv.2140/2, 14b) Thôn Dũng Thọ
+
7 Hồng Thuận 6 (1514) Nguyễn Vũ: người xã Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm (VHv.2140/2, 12b) Xã Đại Mỗ
+
8 Hồng Thuận 6 (1514) Nguyễn Bỉnh Đức: người phường Thịnh Quang, huyện Quảng Đức (VHv.2140/2, 14a) Phường Thịnh Hào
+
9 Cảnh Thống 2 (1523) Nguyễn Súc: người phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương (VHv.2140/2, 18 b) Thôn Tự Tháp
+
10 Minh Đức 3 (1529) Lê Tảo: người xã Phúc Khê, huyện Từ Liêm (VHv.2140/2, 23a) Xã Phú Diễn
11 Cảnh Lịch 6 (1533) Nguyễn Thế Ninh: người xã Cổ Vũ, huyện Thọ Xương (VHv.2140/2, 40a) Phường Kim Cổ
+
12 Đại Chính 9 (1538) Dương Duy Nhất: người xã Vĩnh Thái, huyện Vĩnh Xương (VHv.2140/2, 30a) Phường Vĩnh Hanh
+
13 Đại Chính 9 (1538) Nguyễn Quang Bị: người xã Minh Cảo, huyện Từ Liêm (VHv.2140/2, 30a) Xã Minh Tảo
+
14 Quảng Hòa 4 (1544) Đàm Khuyến: người phường Vĩnh Thái, huyện Thọ Xương (VHv.2140/2, 34a) Phường Vĩnh Hanh
+
15 Quang Bảo 5 (1559) Nguyễn Chí Đốc: người xã Khúc Phố, huyện Vĩnh Xương (VHv.2140/2, 44b) Phường Phúc Tô
+
16 Thuần Phúc 4 (1565) Nguyễn Đức Nhuận: người xã Khúc Phố, huyện Vĩnh Xương (VHv.2140/2, 47b) Thôn Phúc Tô
+
17 Diên Thành 3 (1580) Lê Kim Quế: người phường Thái Cực, huyện Thọ Xương (VHv.2140/2, 56a) Phường Đại Lợi
+
18 Diên Thành 3 (1580) Bùi Thế Vinh: người phường Yên Hoa, huyện Quảng Đức (VHv.2140/2, 56a) Phường Yên Phụ
+
19 Đoan Thái 1 (1586) Đàm Công: người xã Vĩnh Thái, huyện Thọ Xương (VHv.2140/2, 59a) Phường Vĩnh Hanh
+
20 Đoan Thái 1 (1586) Phí Lân: người phường Diên Đại, huyện Thọ Xương (VHv.2140/2, 59a) Phường Quan Trạm
+
21 Đoan Thái 1 (1586) Nguyễn Nhã: người xã Cổ Vũ, huyện Thọ Xương (VHv.2140/2, 59a) Phường Kim Cổ
+
22 Hồng Ninh 2 (1592) Nguyễn Dụng: người phường Cổ Vũ, huyện Thọ Xương (VHv.2140/2, 63a) Phường Kim Cổ
+
23 Hồng Ninh 2 (1592) Lê Kim Bảng: người phường Thái Cực, huyện Thọ Xương (VHv.2140/2, 63a) Phường Đại Lợi
+
24 Hoằng Định 6 (1604) Trần Vĩ: người phường Kim Hoa, huyện Thọ Xương (VHv.2140/3, 4a) Phường Kim Liên
+
25 Phúc Thái 4 (1646) Nguyễn Đắc Vinh: người phường Công Bộ, huyện Thọ Xương (VHv.2140/3, 16a) Phường Nhược Công
+
26 Vĩnh Thọ 2 (1659) Bùi Văn Trinh: người xã Vân Canh, huyện Từ Liêm (VHv.2140/3, 20b) Xã Hương Canh
+
27 Cảnh Trị 5 (1667) Nguyễn Hữu Đăng: người phường Đông Các, huyện Thọ Xương (VHv.2140/3, 24a) Thôn Dũng Thọ
+
28 Vĩnh Trị 1 (1676) Nguyễn Đăng Long: người phường Công Bộ, huyện Quảng Đức (VHv.2140/3, 28b) Phường Nhược Công
+
29 Vĩnh Trị 5 (1680) Nguyễn Quang Thọ: người xã Quảng Bá, huyện Quảng Đức (VHv.2140/3, 30b) Phường Quảng Đức
+
30 Chính Hòa 6 (1685) Vũ Thạnh: người phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương (VHv.2140/3, 33a) Thôn Tự Tháp
+
31 Chính Hòa 18 (1697) Nguyễn Công Cơ: người xã Minh Cảo, huyện Từ Liêm (VHv.2140/3, 37a) Thôn Minh Tảo
+
32 Vĩnh Thịnh 8 (1712) Vũ Huyên: người phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương (VHv.2140/3, 43b) Thôn Tự Tháp
+
33 Vĩnh Thịnh 8 (1712) Vũ Huy: người phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương (VHv.2140/3, 48a) Thôn Tự Tháp
+
34 Vĩnh Thịnh 11 (1715) Nguyễn Kiều: người xã Phú Xá, huyện Từ Liêm (VHv.2140/3, 45a) Xã Phú Gia
+
35 Long Đức 2 (1733) Nguyễn Hồ Hiệp: người phường Thịnh Quang, huyện Quảng Đức (VHv.2140/3, 53b) Phường Thịnh Hào
+
36 Long Đức 2 (1733) Vũ Đình Dung: người phường Thịnh Quang, huyện Quảng Đức (VHv.2140/3, 54a) Phường Thịnh Hào
+
37 Vĩnh Hựu 5 (1739) Trương Đình Tuyên: người phường Công Bộ, huyện Quảng Đức (VHv.2140/3, 56a) Phường Nhược Công
+
38 Vĩnh Hựu 5 (1739) Vũ Trần Tự: người phường Thái Cực, huyện Thọ Xương (VHv.2140/3, 56a) Phường Đại Lợi
+
39 Cảnh Hưng 24 (1763) Phạm Dương Ưng: người phường Phục Cổ, huyện Thọ Xương (VHv.2140/3, 62a) Phường Kim Cổ
+
40 Cảnh Hưng 36 (1775) Nguyễn Huy Vượng: người xã Minh Cảo, huyện Từ Liêm (VHv.2140/3, 65a) Xã Minh Tảo
+
41 Cảnh Hưng 40 (1779) Nguyễn Kiêm: người xã Tây Đam, huyện Từ Liêm (VHv.2140/3, 67b) Xã Tây Tựu
+
42 Cảnh Hưng 40 (1779) Phạm Quý Thích: trú quán phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương (VHv.2140/3, 67a) Thôn Tự Tháp
+

3. Một số nhận xét

Cũng như văn bia đề danh Tiến sĩ có tại các địa phương khác, văn bia ghi tên người đỗ khoa trường của phủ Hoài Đức được tạo dựng muộn, vào những năm cuối thế kỷ XIX, là lúc chế độ giáo dục khoa cử đang thịnh hành. Tác giả chủ yếu dựa vào sách Đăng khoa lục để biên soạn, sau đó bổ sung thêm bằng các nguồn tài liệu khác như gia phả, huyện phả... là những thư tịch vốn sẵn có đương thời. Phương pháp biên soạn vẫn theo lịch đại nhưng có điểm mới, thể hiện ở việc chia người đỗ làm 3 giáp: Đệ nhất giáp, Đệ nhị giáp và Đệ tam giáp. Dưới mỗi hạng giáp, xếp huyện nào có nhiều người đỗ đưa lên đầu, huyện nào có người đỗ ít hơn xếp tiếp theo.

Cảm nhận của chúng tôi khi tìm hiểu cụm văn bia này thấy rất ít sai sót, chỉ có 2 chỗ cần phải đính chính: đó là trường hợp của Ngô Tháo(8) và Phí Lân(9). Như vậy, trong hệ thống văn bia đề danh Tiến sĩ có ở nước ta, bao gồm từ cấp trung ương xuống đến cấp xã thôn, tại mỗi cấp độ khác nhau, đều bao hàm những tư liệu có giá trị về nhiều mặt. Khai thác những văn bia này trước mắt sẽ góp phần vào việc nghiên cứu về chế độ giáo dục khoa cử ngày một đầy đủ hơn.

CHÚ THÍCH

(1) Đại Nam nhất thống chí. Bản dịch của Phạm Trọng Điềm, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa Huế, 1992, tr.162-163.

(2) 7 quận nội thành gồm: Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Tây Hồ, Cầu Giấy, Thanh Xuân.

(3) Đó là bia Bản phủ tiền tiến sĩ đề danh bi ký do Phạm Huy Du dịch, Phạm Mạnh Sính duyệt, Nguyễn Thúc Linh hiệu đính (đánh máy trên giấy Pơ-luya, đóng bìa xanh học sinh), ký hiệu D819, D820, lưu trữ tại phòng Thông tin Tư liệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(4) Nguyễn Văn Ái: Người xã Thụ ích, huyện Yên Lạc, tỉnh Sơn Tây (nay là thôn Thụ ích, xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân Ân khoa năm Kỷ Tỵ, niên hiệu Tự Đức 22 (1869) đời vua Nguyễn Dực Tông. Sau khi đỗ, ông lĩnh trải nhiều chức quan. Khi soạn văn bia cho phủ Hoài Đức, ông giữ chức Tri phủ ở đây.

(5) Gần đây, chúng tôi đi điều tra hiện vật văn chỉ huyện Từ Liêm, ở thôn Phú Mỹ, xã Mỹ Đình, cùng huyện, khi xem lại bia này, thấy nó lại được tục khắc, ghi tiếp tên người đỗ đạt của phủ Hoài Đức từ sau năm 1909 trở về sau. Đó là điều khác với thác bản. Vấn đề này chúng tôi sẽ trình bày vào một dịp khác.

(6) Chúng tôi lập phiếu cho cả các vị đỗ trung khoa (294 người) nhưng phần đóng góp tư liệu mới trên bia về họ không nhiều, do vậy chúng tôi chưa đề cập đến trong bài viết này.

(7) Sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản, H.1999, tr.99;101.

(8) Ngô Tháo: người xã Xã Đàn, huyện Thọ Xương (nay thuộc phường Nam Đồng, quận Đống Đa, Hà Nội). Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Mùi (1571) niên hiệu Sùng Khang triều Mạc (VHv.2140/2, 50b). Bia khắc nhầm là năm Mậu Thìn (N0 788).

(9) Phí Lân: Người phường Diên Đại huyện Quảng Đức (nay thuộc phố Hàng Ngang, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội). Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất (1586) niêu hiệu Đoan Thái triều Mạc (VHv.2140/2, 59a). Bia khắc nhầm là Quang Hưng triều Lê (No 788).