 |

NHÌN LẠI HÁN HỌC THẾ KỶ XX
PHAN VĂN CÁC
Hán học là một thuật ngữ quen thuộc nhưng được sử dụng với nhiều cách hiểu khác nhau. ở Trung Quốc, từng có từ Hán học với nghĩa là học thuật thời Hán tức cái học văn tự, khảo cứ, huấn hỗ của Hán nho, nói trong sự đối lập với Tống học là cái học thiên về nghĩa lí của Tống nho. Hán nho nghiên cứu kinh điển thiên về khảo cứ. Các ngành học thiên về khảo cứ ở các đời sau bao gồm ngôn ngữ học, văn tự học, âm vận học, huấn hỗ học, mục lục học, văn bản học, hiệu khám học, biện ngụy học, kim thạch học, giáp cốt học, giản sách học v.v., còn các ngành thiên về nghĩa lí thì bao gồm Nho học, Tử học (nghiên cứu chư tử), Huyền học, Phật học...
Ngày nay, nhiều người dùng từ Hán học với nghĩa là học thuật Trung Quốc, và như vậy, ngoài cái học khảo cứ và cái học nghĩa lí ra, nó còn bao gồm 2 môn loại lớn là cái học kinh thế và cái học từ chương. Cái học kinh thế bao gồm thiên văn học, địa lí học, lịch toán học, bác vật học, sử học, binh học, chính học, tài dụng học, thực hóa học, tung hoành học, lễ tục học, giáo dục học, nông tang học, thủy lợi học, công nghệ học, y dược học v.v. Còn cái học từ chương (cũng gọi là cái học văn nghệ) thì bao gồm tản văn học, biền văn học, thi học, từ học, khúc học, phú học, tiểu thuyết học, hí kịch học, ngữ pháp học, tu từ học, âm nhạc học, thư họa học, vũ đạo học, điêu tố học (điêu khắc và nặn tượng) v.v. Đây là cách phân loại học thuật truyền thống của Trung Quốc. Nếu theo cách phân loại học thuật hiện đại tất cả các ngành trong cái học khảo cứ, cái học nghĩa lí và cái học từ chương đều có thể quy vào khoa học nhân văn; còn cái học kinh thế thì có những ngành có thể quy vào khoa học nhân văn, hoặc khoa học xã hội, như binh học (bao gồm chiến tranh học, quốc phòng học), chính học (bao gồm chính trị học, hành chính học), tài dụng học (tức tài chính học), thực hóa học (tức kinh tế học), tung hoành học (tức ngoại giao học), lễ tục học (tức xã hội học), giáo dục học v.v, có những ngành có thể quy vào khoa học tự nhiên như thiên văn học, địa lí học, lịch toán học, bác vật học v.v; lại có những ngành thuộc về phạm vi của khoa học ứng dụng như nông tang học, thủy lợi học, công nghệ học, y dược học v.v.
Các học giả phương Tây dùng thuật ngữ Hán học theo nghĩa rộng, không những bao gồm cái học khảo cứ, cái học nghĩa lí, mà thậm chí bao gồm cả cái học kinh thế và cái học từ chương. Cho nên Hán học chẳng những là một tên gọi khác của học thuật Trung Quốc mà còn là một tên gọi chung của học thuật Trung Quốc. Nhưng theo nghĩa hẹp, thì chủ yếu chỉ các ngành thuộc khoa học nhân văn, và một số ngành thuộc khoa học xã hội, tức là những ngành học nghiên cứu hiện tượng xã hội và văn hóa nghệ thuật, mà không bao gồm một ngành nào của khoa học tự nhiên và khoa học ứng dụng. Đó là xét theo thực tế hiện nay, còn như trong lịch sử thì cái gọi là Hán học (Sinology) của các học giả phương Tây là để chỉ môn học vấn được hình thành trên cơ sở không ngừng tích lũy các ấn tượng quan sát và các kết quả nghiên cứu của hàng loạt các nhà truyền giáo châu Âu từ thế kỷ XVI, XVII về sau, quan sát Trung Quốc bằng con mắt phương Tây. Thời bấy giờ, các giáo sĩ phương Tây nghiên cứu học thuật Trung Quốc chủ yếu là phiên dịch hoặc giảng giải sách cổ của Trung Quốc, có thể tính bắt đầu từ việc Matteo Ricci dịch Tứ thư, và suốt một thời gian dài coi Hán học như một thứ văn hóa cổ. Nhưng từ giữa thế kỷ XIX, Hán học phương Tây đã dần dần chuyển hướng sang lịch sử nhất là lịch sử cận đại Trung Quốc, và từ sau Đại chiến thứ 2, càng mở rộng sang các lĩnh vực khác, bao gồm tư tưởng học thuật, chế độ chính trị, kinh tế xã hội v.v. Học giả phương Tây gọi đó là Nghiên cứu Trung Quốc hay Trung Quốc học (Chinese Studies). Chinese Studies và Sinology đều có thể dịch là Trung Quốc học hay Hán học, song phạm vi của Chinese Studies rộng hơn Sinology rất nhiều, nó vừa bao gồm Hán học truyền thống lấy việc nghiên cứu cổ tịch Trung Hoa làm chính, lại vừa bao gồm cả “Hán học mới” nghiên cứu cả lịch sử lẫn những lĩnh vực khác, cả Trung Quốc cổ đại lẫn Trung Quốc cận đại, hiện đại cho đến đương đại.
Ở Việt Nam, cũng như ở Nhật Bản, Triều Tiên là những nước đã có hàng ngàn năm giao lưu và tiếp nhận ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, sớm có sự nghiên cứu và hiểu biết về Nho, Phật, Đạo; người ta không những không nhìn Trung Quốc bằng con mắt tò mò lạ lẫm như học giả phương Tây, mà Hán học ở những nước này còn thường bao gồm cả việc nghiên cứu sự tiếp biến văn hóa Hán ngay ở nước mình.
Bài viết này cố gắng phác họa những nét chung nhất của nền Hán học thế giới trên nghĩa rộng, trong một thế kỉ qua, thế kỷ XX đầy biến động vừa kết thúc, từ điểm nhìn đầu thế kỷ và thiên niên kỷ mới.
Đặc điểm nổi bật bao trùm Hán học phương Tây thế kỷ XX so với các thế kỷ trước là quan điểm đúng đắn hơn, thái độ ứng xử bình đẳng hơn. ảnh hưởng của “Âu châu văn hóa trung tâm luận” đã lui dần. Trước hết đó là do một trăm năm qua, thế giới đã có những biến đổi to lớn, bản thân Trung Quốc cả về cơ sở kinh tế lẫn chế độ chính trị, cả vật chất lẫn tinh thần đều đã trải qua những biến động phi thường.
Những năm 30, Giáo sư K.S. Latourette ở trường Đại học Yale (Mỹ) trong tác phẩm Người Trung Quốc, lịch sử và văn hóa(1) của mình, khi phê phán việc dưới thời Minh Gia Tĩnh người Bồ Đào Nha đến xâm nhiễu Ninh Ba, Phúc Kiến bị Trung Quốc đánh trả và xua đuổi, đã viết: “Số phận tai ách mà những người Bồ Đào Nha này vấp phải, chỉ có thể trách chính bản thân họ. Họ hung hăng tàn bạo và hiếu thắng, coi trời bằng vung, khinh thường pháp luật, coi tất cả dân chúng phương Đông như những thứ có thể cướp đoạt hợp pháp”. Gần như cùng thời gian ấy, Giáo sư C.P.Fitzgerald kể lại việc người Bồ Đào Nha thất bại lớn ở Tuyền Châu: “Việc người Bồ Đào Nha nếm mùi cay đắng ở Tuyền Châu rất đáng được chú ý, vì Tuyền Châu trước nay là một trung tâm buôn bán, thường xuyên có các phiên khách tới làm ăn. Tuyền Châu đã có mấy thế kỷ từng hoan nghênh người ả Rập và người Mã Lai, thế mà bây giờ họ dứt khoát tống cổ người Bồ Đào Nha, chỉ có thể nói là người Bồ tự chuốc họa vào thân. Những hành vi [ngang ngược] của họ là không có gì đáng nghi ngờ. Lí do khiến họ bị tống cổ đi được ghi lại ở đây không phải trong tài liệu của người Trung Quốc, mà là trong các trước tác của những người Châu Âu cùng thời với họ.”(2)
Với quan điểm và ý thức bình đẳng thực sự cầu thị, các nhà Hán học phương Tây thế kỷ XX đã đạt được nhiều thành tựu đáng kính trọng, vượt xa các thế hệ tiền bối của họ.
Mọi người đều biết, Hán học ra đời ở phương Tây, động lực quan trọng nhất chính là nhu cầu của xã hội. Sự qua lại giữa Trung Quốc với phương Tây đã bắt đầu từ hơn hai ngàn năm trước thông qua con đường tơ lụa, và trong kinh Co-ran đã từng có câu “tri thức xa xôi tận Trung Quốc cũng cần phải tìm kiếm”. Từ rất lâu phương Tây đã biết đến sự tồn tại của một nước Trung Hoa, nhưng Hán học chưa ra đời lúc đó, nguyên nhân chủ yếu là phương Tây bấy giờ chưa có một nhu cầu xã hội mạnh mẽ đến thế. Phải đến thế kỷ XVI, XVII, châu Âu thoát khỏi sự ràng buộc của thời Trung cổ, và cần khai thác thị trường thế giới, muốn vậy phải tìm hiểu phong tục tập quán, truyền thống văn hóa và trạng huống xã hội của những vùng đất được khai thác, Hán học mới bắt đầu hình thành để đáp ứng nhu cầu của tình hình đó.
Có thể nói việc Marco Polo đến Trung Quốc (1275) là cái mốc đầu tiên tiếp xúc giữa người châu Âu phương Tây với người Trung Quốc phương Đông, Matteo Ricci sau đó ba trăm năm là cái mốc thứ hai, và James Legge là nhân vật tiêu biểu của thời kỳ thứ ba. J.Legge đến Hương Cảng năm 1843, làm việc ở đó ngót 27 năm, hoàn thành công trình dịch thuật đồ sộ Kinh điển Trung Quốc (The Chinese Classics) 5 tập lớn gồm Tứ thư, Kinh Thư, Kinh Thi và Tả Truyện, rồi về sau xuất bản tiếp Kinh Dịch và Lễ ký.
Tiếp nối các thế hệ trước, Hán học phương Tây thế kỷ XX có các tên tuổi lớn, Latourette với tác phẩm đã dẫn, Fitzgerald với Trung Quốc văn hóa giản sử, David Hawkes với các bài giảng về tiếng Trung Quốc, Bernard Karlgen nhà âm vận học người Thụy Điển đứng đầu Hán học Châu Âu suốt bốn năm chục năm; Paul Demiéville nhà Hán học và Phật học người Pháp, Paul Pelliot, Edouard Clavannes, Henri Maspéro, người Pháp; Polivanov, Conrad, Dragounov, Yakhontov là những nhà Hán học Xô Viết, và nhất là Joseph Needham người Anh với tác phẩm đồ sộ Khoa học và văn minh ở Trung Hoa(3) v.v. Nét nổi bật trong các công trình nghiên cứu của họ là tác phong trị học nghiêm túc cẩn trọng với tư liệu phong phú và xác thực.
Bàn về Hán học, đương nhiên không thể không nói đến thành tựu của giới học thuật Trung Quốc. Hán học với ý nghĩa là khoa học nghiên cứu Trung Quốc, học giới Trung Quốc dường như không tiếp nhận khái niệm này: Từ sau “Ngũ tứ”, các tư trào phương Tây ào ạt tuôn vào Trung Quốc, học vấn ngoại lai này bấy giờ được gọi là “Tây học”, trong sự đối sánh với Tây học, người ta gọi học vấn vốn có của Trung Quốc là “Quốc học”, học giả Chương Thái Viêm được tôn xưng là “Quốc học đại sư”. Nhưng “Quốc học” nặng về văn tự, huấn hỗ, khảo cứ. Vì thế, mặc dù các học giả Trung Quốc không coi việc nghiên cứu của mình về văn học Trung Quốc, về sử học, triết học hay các học vấn khác của Trung Quốc là Hán học, nhưng trên thực tế, thành tựu Hán học thế kỷ XX trước hết và chủ yếu là thành tựu của giới học thuật Trung Quốc đông đảo và hùng hậu.
Kể từ cái mốc lớn của lịch sử Trung Quốc thế kỷ XX là sự ra đời của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1949, lịch sử nghiên cứu học thuật nửa sau thế kỷ XX có thể chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn 1949-1966, giai đoạn 1967-1976, giai đoạn 1977 về sau. Giai đoạn thứ nhất là thời gian giới học thuật Trung Quốc tiếp xúc và tiếp thu chủ nghĩa Marx đặt nền tảng cho sự phát triển học thuật về sau. Giai đoạn thứ hai là thời gian “mười năm động loạn”, sự nghiệp xây dựng văn hóa bị tàn phá nghiêm trọng, việc nghiên cứu học thuật hoàn toàn ra khỏi quỹ đạo khoa học, trở thành công cụ của đấu đá chính trị mà hậu quả là sự gián đoạn lớn trong nghiên cứu học thuật và kiến thiết văn hóa. Giai đoạn thứ ba đang tiếp tục diễn biến nhưng đã có những thành tựu to lớn nổi bật: nhờ xã hội ổn định, kinh tế phồn vinh, tự do học thuật dần dần được tôn trọng, tạo điều kiện cho học thuật phát triển mạnh mẽ. Giải phóng tư tưởng, mở cửa văn hóa là nguyên nhân trực tiếp của phồn vinh học thuật.
*
* *
Đặc điểm nổi bật bao trùm học thuật Trung Quốc nửa sau thế kỷ XX là sự tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Marx làm tư tưởng chỉ đạo nghiên cứu. Lớp học giả chuyên gia tiền bối qua một quá trình học tập, suy ngẫm và so sánh, tranh luận, cuối cùng đã lựa chọn chủ nghĩa Marx, tiêu biểu là nhà mỹ học Chu Quang Tiềm, các nhà triết học Hạ Lân, Thang Dụng Đồng, Trịnh Hân, nhà lôgic học Kim Nhạc Lâm, nhà sử học Trần Viên v.v. Một số trở thành đảng viên cộng sản, thành học giả Mácxít. Trước tác của Phạm Văn Lan, Quách Mạt Nhược đã chứng tỏ chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp tốt nhất và có tác dụng mẫu mực trong giới học thuật. Đương nhiên cũng có những người vẫn giữ quan điểm vốn có của mình như các nhà triết học Lương Thấu Minh, Hùng Thập Lực, nhà sử học Trần Dần Khác...
Trong khoa học xã hội Trung Quốc, giới sử học tiếp thu chủ nghĩa Marx sớm nhất. Ngay từ những thập kỷ 20, 30, Quách Mạt Nhược vận dụng quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa duy vật lịch sử đã nêu ra quan điểm mới trong vấn đề tính chất của xã hội Ân Chu, được nhiều đồng nghiệp tán thành. Thời chiến tranh chống Nhật, Phạm Văn Lan dẫn đầu một số học giả trẻ biên soạn Trung Quốc thông sử ngay tại khu căn cứ Diên An. Sau ngày nước Trung Hoa mới ra đời, các nhà sử học Hầu Ngoại Lư, Tiễn Bá Tán, Lã Chấn Vũ viết lịch sử cổ đại theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, thành tựu được giới học thuật đánh giá cao.
Các thập kỷ 50, 60, giới sử học đã thảo luận sôi nổi, xoay quanh các vấn đề: Phân chia thời kỳ lịch sử cổ đại Trung Quốc; sự hình thành quốc gia thống nhất đa dân tộc Trung Quốc; chế độ ruộng đất Trung Quốc qua các triều đại; chiến tranh nông dân trong xã hội phong kiến Trung Quốc; sự manh nha của chủ nghĩa tư bản Trung Quốc v.v. Đến các thập kỷ 70, 80, ngoài việc đào sâu các vấn đề cũ, một số vấn đề mới đã gây được hứng thú sâu sắc trong giới sử học: vấn đề khởi nguồn của văn minh Trung Quốc, vấn đề sự kéo dài của xã hội phong kiến Trung Quốc, vấn đề chủ nghĩa chuyên chế phong kiến Trung Quốc, vấn đề chế độ tông pháp cổ đại, vấn đề đánh giá giai cấp địa chủ trong xã hội phong kiến Trung Quốc, vấn đề giao thông và giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc cổ đại với thế giới bên ngoài v.v.
Việc nghiên cứu từng giai đoạn lịch sử cũng không ngừng được đi sâu. Qua nghiên cứu, một số vấn đề được nhìn nhận lại, có sự đánh giá mới. Ví như trong lĩnh vực nghiên cứu Nguyên sử, các thành quả nghiên cứu mới đã uốn nắn được quan niệm tồn tại lâu dài trước đây cho rằng thời Nguyên là một thời kỳ đen tối, nay khẳng định cống hiến lịch sử của triều Nguyên là đã kết thúc năm trăm năm phân tranh dân tộc, chỉ ra tính chất tiến bộ của chính sách văn hóa triều Nguyên như triều Nguyên không có văn tự ngục, thực hiện bình đẳng tôn giáo, chính sách văn hóa tương đối rộng mở, trên mức độ nhất định đã tạo điều kiện cho sự phồn vinh của nghệ thuật tạp kịch thời Nguyên. Đồng thời thái độ về văn hóa của nhà cầm quyền cũng đã thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc với phương Tây. Về tư tưởng triết học, đời Nguyên cũng không phải hoàn toàn đen tối, Lí học vẫn tiếp tục có phát triển.
Các thập kỷ 50, 60, nhiều bộ Trung Quốc thông sử có giá trị đã ra đời và có ảnh hưởng rộng lớn. Những năm gần đây, xã hội sử và văn hóa sử đã có những thành quả xuất sắc. Nghiên cứu lịch sử địa phương gần đây có bước phát triển mới, việc biên soạn địa phương chí với quy mô lớn đang được xúc tiến.
Một thống kê cho biết chỉ trong 10 năm 1981-1990, đã có 64000 bài viết nghiên cứu và 6200 đầu sách chuyên khảo lịch sử được công bố và xuất bản, gần gấp đôi 30 năm trước đó.
Nghiên cứu văn học cũng có thành tựu rõ rệt. Các bộ Trung Quốc văn học sử của trường đại học Bắc Kinh do Du Quốc Ân chủ biên và của Sở Nghiên cứu Văn học thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc biên soạn tập thể đã có ảnh hưởng sâu rộng. Nghiên cứu văn học dân gian được coi trọng, ba bộ văn học dân gian tập thành (truyện dân gian, ca dao dân gian, ngạn ngữ dân gian) sưu tập chỉnh lí trong phạm vi toàn quốc được đánh giá rất cao. Đã xuất bản nhiều tổng tập văn học truyện kí, văn học truyền miệng của các dân tộc thiểu số Mông, Tạng, Duy(*), Di cùng các chuyên khảo nghiên cứu tương ứng, lấp kín các mảng trắng trong nghiên cứu văn học các dân tộc ít người. Đã có hàng loạt tổng tập, biệt tập của các nhà văn tất cả các thời đại, cùng nhiều vựng biên tư liệu văn học đồ sộ.
Các thập kỷ 50, 60, giới văn học sử đã thảo luận các vấn đề: Kế thừa di sản văn học cổ điển, tính nhân dân trong văn học cổ điển, quy luật phát triển văn học thời cổ đại, quan hệ giữa văn học cổ đại với thời đại, chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn trong văn học cổ điển v.v. Những năm gần đây, nghiên cứu văn học đã có diện mạo mới. Phạm vi nghiên cứu mở rộng, nhiều lĩnh vực trước đây bị coi nhẹ như Hán phú, thơ văn Minh, Thanh, văn học cận đại đã được chú ý hơn. Một số vùng cấm trước đây đã được đột phá như “cung thể thi” trong thơ, “phái cách luật” trong từ, đều đã được nghiên cứu. Đánh giá tác gia, tác phẩm, đã chú ý đến quan điểm thẩm mỹ và cá tính nghệ thuật của nhà văn, kết cấu hình thức và phong cách nghệ thuật của tác phẩm.
Lịch sử triết học luôn luôn là trọng điểm nghiên cứu của ngành triết. Nghiên cứu từng giai đoạn, nghiên cứu lịch sử phạm trù đều rất sôi nổi. Nghiên cứu các ngành học giao thoa, như triết học cổ đại với khoa học tự nhiên, triết học cổ đại với y học, cũng gây được hứng thú cho nhiều học giả. Nghiên cứu lịch sử luân lí học, lịch sử mỹ học vừa quan hệ mật thiết với nghiên cứu lịch sử triết học lại vừa có tính độc lập tương đối, gần đây phát triển khá. Xoay quanh một số nhân vật trọng yếu trong lịch sử triết học như Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Chu Hi, Vương Phu Chi, Hoàng Tông Hi và một số lĩnh vực nghiên cứu quan trọng như Lí học Tống Minh, Chu, Dịch, Tân Nho học v.v. đã có nhiều cuộc hội thảo toàn quốc và quốc tế.
Các thập kỷ 50, 60, giới triết học tập trung nghiên cứu các vấn đề phương pháp luận: đối tượng và phạm vi nghiên cứu triết học Trung Quốc; quan hệ giữa duy tâm luận và duy vật luận trong lịch sử triết học Trung Quốc; đánh giá chủ nghĩa duy tâm; đặc điểm của triết học Trung Quốc; kế thừa di sản triết học Trung Quốc. Cuối thập kỷ 70 đến nay, lĩnh vực nghiên cứu được mở rộng, các vấn đề thảo luận chủ yếu có: nghiên cứu Chu Dịch (nguồn gốc của các quẻ, quan hệ giữa Chu Dịch với văn hóa Trung Quốc v.v.); đánh giá lại Khổng Tử (nhận thức mối quan hệ giữa Khổng Tử với văn hóa Trung Quốc, khẳng định ý nghĩa tích cực của Khổng Tử đối với văn hóa Trung Quốc, chỉ ra những khiếm khuyết của ông v.v.); nghiên cứu Đổng Trọng Thư (trái với thái độ hoàn toàn phủ định trước kia, khẳng định tính hợp lý của việc xuất hiện triết lí Đổng Trọng Thư); nghiên cứu lại Lí học Tống Minh và từ đó triển khai nghiên cứu toàn diện triết học Nho gia; nghiên cứu triết học cận hiện đại Trung Quốc (đặc biệt là Tân Nho học); nghiên cứu lịch sử các phạm trù triết học Trung Quốc, v.v. Về phương diện nghiên cứu lịch sử tôn giáo, Trung Quốc Phật giáo sử đã có thông sử nhiều tập, cũng đã có các công trình lịch sử từng giai đoạn, có nghiên cứu chuyên đề: lịch sử Đạo giáo cũng đã có nhiều chuyên khảo, đã ra đời Đạo tạng đề yếu do tập thể biên soạn.
Trung Quốc có địa vực rộng lớn, các tầng văn hóa phong phú, nên khảo cổ học rất phát triển. Hàng loạt phát hiện khảo cổ quan trọng đã thúc đẩy mạnh mẽ việc nghiên cứu lịch sử và văn hóa cổ đại Trung Quốc, hệ thống khảo cổ học Trung Quốc đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện dần.
Các di chỉ văn hóa đồ đá cũ và hóa thạch cổ nhân loại phát hiện được đã có đến mấy trăm điểm. Di chí đồ đá mới càng phổ biến khắp toàn quốc, có bảy tám ngàn điểm có báo cáo hệ thống. Việc nghiên cứu các di chỉ văn hóa này khiến cho giới học thuật có nhận thức sâu sắc hơn về đề khởi nguồn của văn minh Trung Quốc, ngày càng nhiều học giả chủ trương rằng văn minh Trung Quốc có nhiều khởi nguồn và quá trình phát triển khác nhau và “ảnh hưởng qua lại, giao quang hỗ ảnh” (chữ dùng của Hạ Nãi). Văn minh Trung Quốc vừa có tính thống nhất, vừa có tính đa dạng.
Nghiên cứu khảo cổ thời kỳ Hạ Thương Chu, thành quả quan trọng nhất là đã nối liền được khoảng trống lớn giữa văn hóa Ân Khư rực rỡ với văn hóa thời đại đồ đá mới. Vóc dáng của văn hóa Hạ dần dần sáng rõ. Tiếp tục đào bới Ân Khư, đã có nhiều phát hiện mới. Nghiên cứu khảo cổ nhiều di chỉ trọng yếu thời Thương ở miền Bắc và miền Nam đã chứng tỏ một cộng đồng văn hóa thời kì Ân Thương lấy văn hóa Trung nguyên làm nòng cốt đã hình thành trong một lĩnh vực khá rộng lớn. Nghiên cứu khảo cổ các di chỉ văn hóa Tây Chu, về cơ bản được phát triển sau khi nước Trung Hoa mới ra đời. Trong đó quan trọng nhất là cuộc phát quật ở hai vùng Chu Nguyên và Phong Cảo. Việc đào được nhiều di tích kiến trúc, đồ đồng thau và giáp cốt đời Chu đã cung cấp những tư liệu quý báu cho việc nghiên cứu trạng huống lịch sử và trình độ văn minh thời đầu nhà Chu. Việc phát quật đô thành và mộ táng các nước thời Đông Chu cũng có nhiều thu hoạch quan trọng.
Khảo cổ thời Tần Hán cũng đầy thành tựu, tiêu biểu là việc phát quật hang tượng binh mã Tần Thủy Hoàng và mộ Hán Mã Vương Đôi Trường Sa. Đặc biệt đối với lịch sử văn hóa Trung Quốc là việc đào thấy hàng loạt điển tịch văn hiến thời Tần Hán. Quan trọng có số thẻ tre thời Tần ở bãi Hổ ngủ (Thụy hổ địa) Vân Mộng tỉnh Hồ Bắc, trong đó có bộ Tần luật đặc biệt quý giá. Thẻ tre thời Hán ở núi Ngân Tước tỉnh Sơn Đông, trong đó có nhiều loại binh thư như Tôn Tử binh pháp, Tôn Tẫn binh pháp v.v. Sách lụa Mã Vương Đôi Trường Sa đã khảo cứu rõ có 28 loại, đến 12 vạn chữ, bao gồm Chu Dịch, Lão Tử (2 bản), Hoàng Đế tứ kinh là những điển tịch triết học, ngoài ra còn có mấy loại binh thư, toán học, sách thuốc, có thứ là truyền bản khác của cổ tịch, có thứ là sách thất truyền lâu nay chưa ai biết đến. Điển tịch cổ đại đào được ở mức độ tập trung như vậy, là điều hiếm thấy trên đời, vô cùng quý giá.
Về dân tộc học, năm 1956 đã làm được một việc lớn chưa từng thấy là tiến hành tổng điều tra dân tộc trên phạm vi toàn quốc, định được tiêu chuẩn khoa học để phân biệt các dân tộc. Căn cứ vào khảo sát trên các phương diện ngôn ngữ văn tự, nhân loại học, tài liệu ghi chép xã hội học, tôn giáo tín ngưỡng v.v., đã xác định Trung Quốc có 56 dân tộc, trong đó 55 dân tộc thiểu số. Để ghi lại kết cấu kinh tế xã hội của một số dân tộc còn ở hình thái nguyên thủy, đã tạm hoãn việc thi hành cải cách dân chủ ở những vùng còn giữ lại chế độ xã hội nguyên thủy, chờ điều tra xong mới thi hành. Để bảo tồn những hóa thạch sống của sinh hoạt xã hội các dân tộc thiểu số cổ đại, các phương tiện hiện đại như ghi âm, ghi hình, vẽ tranh đã được áp dụng để ghi chép hoàn chỉnh tập tục sinh hoạt, lễ nghi tang táng, tín ngưỡng tôn giáo của một số dân tộc thiểu số, làm chỗ dựa tin cậy cho việc nghiên cứu sau này.
Mấy dân tộc có chữ viết riêng như Mông, Tạng, Duy, Di, Na-xi, nhà nước cử các nhà khoa học trẻ đến với các lão chuyên gia để học tập ngữ văn dân tộc, kế thừa chỉnh lí các thư tịch viết bằng chữ dân tộc. Với văn tự cổ của các dân tộc thiểu số đã phế bỏ, như chữ Hồi Hột, chữ Tây Hạ, chữ Khiết Đan, chữ Nữ Chân, chữ Mãn, chữ Mông Cổ, chữ Tạng cổ, chữ Di cổ, chữ Đột Quyết, chữ Pa-xpa, chữ Tung-pa v.v, cũng đào tạo riêng những chuyên gia trẻ, không để thành tuyệt học.
Bí mật về cách táng quan tài treo (đầu mỏm đá) cũng đã được nghiên cứu khám phá.
Những nham họa (tranh trên vách núi đá) phát hiện được ở Ninh Hạ và Quảng Tây, nội dung hết sức phong phú, là tư liệu quý để nghiên cứu đời sống xã hội các dân tộc thiểu số cổ đại, đã được sao chép, mô tả bước đầu.
Đôn Hoàng học khởi đầu từ đầu thế kỷ XX đã trở thành ngành học nổi tiếng quốc tế. Sử dụng các bức chữ cuộn chép tay Đôn Hoàng để đính chính những sai sót trong điển tịch cổ đại rất có ích cho việc tìm hiểu đời sống xã hội, thực trạng kinh tế, và tôn giáo tín ngưỡng Trung Quốc thời xưa. Nghiên cứu Đôn Hoàng, Tu lu-phan của Trung Quốc, kết hợp tư liệu văn hiến với hiện vật khảo cổ, đã có được những kết luận gần với sự thật. Trong các lĩnh vực nghiên cứu của Đôn Hoàng học, việc nghiên cứu tư liệu Phật giáo đã đi đầu và có những thành tích nổi bật. Sách Đôn Hoàng xã hội kinh tế văn hiến chân tích thích lục in chụp phân loại có kèm thích văn đối chiếu, đã cung cấp cho học giả những tư liệu tiện lợi đáng tin cậy.
Sách cổ bằng chữ Hán theo thống kê sơ bộ có tám mươi ngàn loại, là món của cải tinh thần quý giá tích lũy lâu đời của dân tộc Trung Hoa. Sách cổ rất hiếm, có thứ là bản chép tay duy nhất, có thứ chưa ai hiệu khám chấm câu, rất khó đọc, có thứ khó hiểu cần được chú giải hoặc dịch ra tiếng hiện đại. Có hơn 2000 loại đã được đưa vào quy hoạch chỉnh lí xuất bản. Những cổ tịch quan trọng đã chỉnh lí xuất bản, có thể kể:
Về sử học, có Nhị thập tứ sử hơn 3000 quyển, hơn 40 triệu chữ, Nhị thập tứ sử nghiên cứu tư liệu tùng thư, Tư trị thông giám, Tục tư trị thông giám, Minh thông giám, Lịch đại hội yếu tùng thư, Thông điển, Thông chí, Văn hiến thông khảo, Lịch đại sử liệu bút kí tùng san, Trung ngoại giao thông sử tịch tùng san, Trung Quốc cổ đại địa lý tổng chí tùng san, Trung Quốc cận đại sử liệu tùng san (kèm Tục biên), Giáp cốt văn hợp tập, Ân Chu kim văn tập thành, Cư Diên Hán giản giáp ất biên, Ngân Tước sơn trúc giản, Mã Vương Đôi bạch thư, Thổ Lỗ Phiên xuất thổ văn thư v.v.
Về văn học, có Tiên Tần Hán Ngụy Tấn Nam bắc triều thi, Toàn Tống từ, Toàn Kim Nguyên từ, Toàn Liêu văn, Toàn Nguyên tản khúc, Nguyên khúc tuyển ngoại biên, Toàn Tống thi, Toàn Tống văn, Toàn Thanh thi... là những tổng tập tác phẩm văn học cổ đại. Nhiều biệt tập đã được điểm hiệu, chú thích như Trung Quốc cổ điển văn học cơ bản tùng thư, Trung Quốc cổ điển văn học tùng thư v.v.
Về triết học và tôn giáo học, có Tân biên Chư tử tập thành, Lí học tùng thư, Thuyền Sơn toàn thư, Hoàng Tông Hi toàn tập, Khoang Hữu Vi toàn tập, Phó Sơn toàn tập, Trung Quốc cổ đại triết học danh trước kim dịch tùng thư, Trung Hoa Đại tạng kinh gồm hơn 4200 loại điển tịch Phật giáo, 23000 quyển, chia thành 220 tập xuất bản.
Một thành tựu đáng kể nữa là việc biên soạn và xuất bản các bộ sách công cụ lớn. Trung Quốc đại bách khoa toàn thư là công trình trọng điểm tiêu biểu cho trình độ quốc gia. Trên một trăm loại từ điển chuyên ngành đã ra đời. Riêng từ điển ngữ văn có đến mấy chục loại. Từ nguyên, Từ hải được tu đính. Trung Quốc đại tự điển và Trung Quốc đại điển cũng đã xuất bản.
Thế kỷ XX đã khép lại. Bức tranh toàn cảnh Hán học của thế kỷ qua những nét phác họa trên đây rõ ràng còn sơ sài. Hán học Nhật Bản(4), Hàn Quốc(5) và Việt Nam có những nét đặc thù riêng cần được tổng kết để bổ sung vào bức tranh chung khi có điều kiện.
CHÚ THÍCH
* Duy tức Duy-Ngô-Nhĩ, hay Uây-ua.
1. Latourette, The Chinese, Their History and Culture, New york, Macmillan, 3rd edirevised, 1946, p.296 (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa).
2. Fitzgerald, China: A Short Cultural History (Trung Quốc văn hóa giản sử), London, The Cresset Press, 1935, reprinted 1942 (in lại năm 1942) p.474.
3. Joseph Needham, Science and Civilisation in China.
4. Người Nhật gọi Hán học là China học ( .
5. Người Triều Tiên và Hàn Quốc gọi Hán học là Trung Quốc học ( .
|