 |

THỬ TÌM HIỂU HIỆN TƯỢNG NHẦM LẪN CHỮ VIẾT DO ĐỒNG ÂM TRONG LĨNH NAM CHÍCH QUÁI VÀ MỘT SỐ TÁC PHẨM HÁN VĂN KHÁC THỜI LÍ-TRẦN
NGUYỄN THỊ OANH
Bài viết này muốn đi vào tìm hiểu một hiện tượng liên quan đến ngôn ngữ văn tự Hán thời Lí - Trần, đó là hiện tượng chữ viết “nhầm lẫn do đồng âm”(1). Các vấn đề sẽ được bàn tới gồm: Chữ viết nhầm lẫn do đồng âm có phải là hiện tượng chỉ xảy ra ở một tác phẩm Hán văn cá biệt nào đó trong thời Lí - Trần? Nguyên nhân của hiện tượng này là gì? “Nhầm lẫn do đồng âm” có thể coi là hiện tượng “tá âm” (vay mượn từ đồng âm) được không?
I. HIỆN TƯỢNG CHỮ VIẾT NHẦM LẪN DO ĐỒNG ÂM CÓ THỂ NÓI LÀ HIỆN TƯỢNG XẢY RA TƯƠNG ĐỐI PHỔ BIẾN TRONG NHIỀU TÁC PHẨM HÁN VĂN THỜI LÍ-TRẦN
1. Lĩnh Nam chích quái (LNCQ) : trong số 14 dị bản của LNCQ, bản LNCQ mang kí hiệu A.2914 là bản có nhiều hiện tượng nhầm lẫn do đồng âm nhất. Theo thống kê của chúng tôi có khoảng gần 40 trường hợp. Có thể nêu ra vài ví dụ:
- Truyện Trầu cau: trong câu “Thời thượng cổ có vị quan lang” (Thượng cổ chi thời hữu nhất quan lang), chữ “lang” 郎 (quan lang) được viết bằng chữ “lang” 榔 trong “tân lang” (trầu cau). Các bản LNCQ khác đều viết chữ “lang” (quan lang).
- Truyện cổ Dưa hấu: trong câu “thường chạy chọt biếu xén nơi cửa nhà” (thường chủng bào nghi ư môn đình), chữ “chủng” 踵 (gót chân) được viết bằng chữ “chủng” 種 (hạt giống). Các bản LNCQ khác đều viết là “chủng” (gót chân).
- Truyện Lí Ông Trọng: trong câu “An Dương Vương bèn đem Ông Trọng thân chinh cống Tần Thủy Hoàng” (An Dương Vương dĩ Lí Ông Trọng thân cống Tần Thủy Hoàng), chữ “thân” 親 (thân chinh) được viết bằng chữ “thân” 身 (thân thể).
- Truyện cổ Rùa vàng: trong câu “ta muốn xin thần một cái móng để chống giữ” (ngô khất thoát hứa nhất trảo dĩ thử ngự chi), chữ “dĩ” 以 (lấy) được viết bằng chữ “dĩ” 已 (đã).
- Truyện Từ Đạo Hạnh: trong câu “ bèn tắm rửa thay quần áo” (nãi thao thân dị phục), chữ “phục” 服 (quần áo) được viết bằng chữ “phục” 復 (trở lại).
- Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải: trong câu “Thời Lí Nhân Tông thường cùng Đạo Huyền chân nhân vào ngồi hầu ở chùa Lương Thạch ở Liên Bồng Mông” (Lí Nhân Tông thời thường dữ Đạo Huyền chân nhân phụ nhập Liên Bồng Mông, Lương Thạch tự), chữ “phụ” 附 (thêm vào) được viết bằng chữ “phụ” 負 (thua).
- Truyện Hà Ô Lôi: trong câu “[Ô Lôi] lấy một phong trầu cau đút cho thằng nhỏ [giữ cổng] xin vào vườn hoa của công chúa” (tân lang nhất phong lộ vấn đồng tử khất nhập công chúa viên hoa trung), chữ “lộ” 賂 (hối lộ) được viết bằng chữ “lộ” 路 (đường).
Hiện tượng chữ viết nhầm lẫn trong bản LNCQ nêu trên khiến nhiều nhà nghiên cứu trước đây khi tiếp xúc với văn bản này đã tỏ ý “thất vọng”, cho rằng đây là bản “chữ viết cẩu thả (có lẽ là chép thuê)”(2). Quả thật, trong số 14 dị bản của LNCQ, đây là bản duy nhất có nhiều chữ viết sai “chính tả”. Nhầm chữ có phải do “chép cẩu thả” không? Chúng tôi thử mở rộng việc tìm hiểu hiện tượng này qua một số tác phẩm Hán văn tiêu biểu thời Lí - Trần(3) như: Văn bia Lí - Trần(4)(5)(6), Thiền uyển tập anh (TUTA)(7), Việt âm thi tập (VATT)(8), Đại Việt sử kí toàn thư (ĐVSKTT)(9) và Đại Việt sử kí (ĐVSK)(10) thì thấy ở từng tác phẩm, mức độ “nhiều, ít” có khác nhau nhưng đều xảy ra hiện tượng tương tự. Có thể đơn cử vài thí dụ:
2. Văn bia thời Lí
- Bia An Hoạch sơn Báo Ân tự bi kí, câu: “đến năm Nhâm Thìn” (Chí Nhâm Thìn chi tuế), chữ “chí” 至 (đến) được viết bằng “trí” 致 (rất).
- Bia Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh, câu: “tự thử dĩ lai” (từ đó đến nay), chữ “dĩ” 以 (lấy) được viết bằng chữ “dĩ” 已 (đã).
- Bia Càn Ni Sơn Nghiêm tự bi, câu: “tên ba thiền viện truyền là Hương Nghiêm, Trinh Nghiêm và Minh Nghiêm” (Minh truyền Hương Nghiêm, Trinh Nghiêm, Minh Nghiêm, tam thiền viện), chữ “danh” 名 (tên) được viết bằng chữ “minh” 銘 (ghi vào, khắc vào); Hay câu: “Người hiền không quên tông tích tổ tiên” (Nhân hiền bất vong tiên tổ chi tung”, chữ “nhân” 人 (người) được viết bằng “nhân” 仁 (nhân đức).
3. Văn bia thời Trần
- Bia Phụng Dương công chúa thần đạo bi, câu: “Bài minh và lời tựa bia thần đạo Phụng Dương công chúa” (Phụng Dương công chúa thần đạo bi minh tịnh tự), chữ “tự” 序 (Tựa) được viết bằng chữ “tự” 寺 (chùa).
- Bia Hưng Phúc tự bia, câu: “Khủng tiên quân tử chi chí dữ hủ thảo nhất đán tư tận”, chữ “tư” 斯 (này, cái này, chỗ này) được viết bằng chữ “tư” 澌 (tận, hết).
- Bia Dục Thúy sơn linh tế tháp kí, câu “thác Già lam cảnh giới”, chữ “già” 伽 (chùa chiền) được viết bằng “gia” 茄 (cây cà). Hoặc trong câu: “Nhưng vì có kẻ gian hàng giặc chỉ đường nên nhà cửa ông bị đốt phá, công việc không thành” (Cố nãi hương hoạt hàng lỗ, nhân vi hương đạo, hợp kì lư xá vi sở phần đãng, sự toại bất quả), chữ “hướng đạo” 嚮 導 (chỉ đường) được viết bằng chữ “hương đạo” 鄉 道 (đường làng).
- Bia Dục Thúy Sơn linh tế tháp kí, câu: “tiểu phụng Phật giáo cổ hoặc chúng sinh”, chữ “cổ” 蠱 (làm cho mê cuồng) được viết bằng chữ “cổ” 鼓 (cái trống)
4. Thiền uyển tập anh
- Tiểu truyện Vô Ngôn Thông thiền sư, câu: “sách Truyền đăng chép là Bất Ngữ Thông” (Truyền đăng viết Bất Ngữ Thông), chữ “đăng” 燈 (đèn, đuốc) được viết bằng chữ “ đăng” 登 (trèo lên cao).
- Tiểu truyện Viên Chiếu thiền sư, câu: “Trưởng lão nhìn kĩ rồi bảo” (Trưởng lão thục thị viết), chữ “thị” 視 (nhìn) được viết bằng chữ “thị” 氏 (họ).
- Tiểu truyện Mãn Giác thiền sư, câu: “Ai hay mưa móc gội non sông” (Thùy tri vân vụ lạc sơn hà), chữ “lạc” 落 (rơi xuống) được viết bằng chữ “lạc” 洛 (tên sông ở Trung Quốc).
5. Việt âm thi tập
- Thơ Trần Minh Tông, bài Giới am ngâm (Bàn về cái am cỏ), câu thơ: “Thanh thủy mãn bình khả tiêu khát”, chữ “bình” 瓶 (bình nước) được viết bằng chữ “bình” 屏 (bình phong). Các bản Toàn Việt thi lục kí hiệu A.1262, VHv.117 đều viết là chữ “bình” 瓶 (bình nước).
- Thơ Trần Nghệ Tông, bài Vọng trông am Liễu Nhiên ở Đông Sơn (Vọng Đông Sơn Liễu Nhiên am), trong câu: “Minh niên thử tịch tri thùy kiện” (Ngày này năm sau biết ai còn khỏe mạnh), chữ “tịch” 夕 (buổi chiều) được viết bằng chữ “tịch” 席 (ghế ngồi, chiếu). Bài Đề chùa Báo Ân, huyện Siêu Loại (Đề Siêu Loại Báo Ân tự), trong câu “Nhị Hương điện thượng kim dung xán”, chữ “xán” 燦 (sáng chói) được viết bằng chữ “xán” 粲 (người con gái đẹp, người con trai tốt).
- Thơ Đỗ Khắc Chung, bài Vịnh cúc, trong câu: “Trùng dương trích nhụy Đào nhưỡng túy” (Tiết trùng dương hái nhị, họ Đào ủ men say), chữ “nhưỡng” 釀 (gây men rượu) được viết bằng chữ “nhương” 攘 (cướp, xua đuổi)
6. Đại Việt sử kí toàn thư
- Kỉ thuộc Tùy, Đường, tờ 7b, dòng 7, câu: “Bấy giờ Nguyên Gia dời phủ trị tới sông Tô Lịch” (Thời Nguyên Gia di phủ trị ư Tô Lịch giang), chữ “phủ” 府 (lị phủ) được viết bằng chữ “phủ” 撫 (vỗ về).
- Kỉ nhà Ngô, tờ 22a, dòng 5, câu: “Vả lại lúc ấy người trong nước ai cũng xem Tam Kha là vua” (thả đương thời quốc nhân giai dĩ quân Tam Kha), chữ “dĩ” 以 (lấy, coi) được viết bằng chữ “dĩ” 已 (đã)
- Kỉ nhà Lí, Nhân Tông hoàng đế, tờ 27a, dòng 2, câu: “các khanh nên bền mãi một lòng, giúp đỡ nhà vua” (Khanh đẳng nghi vĩnh kiên nãi tâm hiệp phụ vương thất), chữ “kiên” 堅 (bền, chắc) được viết bằng chữ “kiên” 肩 (vai).
7. Đại Việt sử kí
- Việt giám thông khảo tổng luận, tờ 13b, dòng 3, câu: “chẩn bần có lệnh, cầu hiền có chiếu, cho nên từ năm Thiên Tư Gia Thụy về trước, chính sự còn khả quan” (chẩn bần hữu lệnh, cầu hiền hữu chiếu, cố Thiên Tư Gia Thụy dĩ tiền, kì chính do hữu khả quan), chữ “do” 猶 (còn) được viết bằng chữ “do” 由 (tự do)
- Kỉ nhà Ngô, tờ 74a, dòng 3, câu : “Bình Vương đối với ta có ơn, sao nỡ giết” (Bình Vương ư ngã hữu ân, khởi nhẫn gia hình), chữ hình 刑 (hình phạt) được viết bằng chữ “hình” 形 (hình ảnh).
- Kỉ nhà Đinh, tờ 84a, dòng 9, câu: “Trung Hoa đối với Man di cũng như thân người có tứ chi, vận động duỗi co tùy ở tâm mình, cho nên gọi là chủ” (Trung Hạ chi ư Man mạch, do nhân thân chi hữu tứ chi dã, vận động thân túc, tùy chư nhân tâm, cố viết tâm giả chủ chi vị dã), chữ “túc” 縮 (co) được viết bằng chữ “túc” 宿 (trú lại).
- Kỉ nhà Lí, Thái Tổ hoàng đế, câu: “Châu Vị Long làm phản, hùa theo người Man” (Vị Long bạn, phụ vu Man), chữ “phụ” 附 (hùa phụ theo) được viết bằng chữ “phụ” 負 (thua).
Như vậy, hiện tượng chữ viết nhầm lẫn do đồng âm không phải chỉ có trong bản LNCQ nêu trên, ở một số các tác phẩm Hán văn giai đoạn Lí - Trần cũng xuất hiện hiện tượng này. Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, trong bia Lí-Trần có khoảng hơn 90 trường hợp; Thiền uyển tập anh có khoảng hơn 40 trường hợp; Việt âm thi tập có khoảng hơn 40 trường hợp; Đại Việt sử kí toàn thư (chỉ tính đến hết thời Trần) có khoảng 18 trường hợp; Đại Việt sử kí (chỉ tính đến hết thời Trần) có khoảng hơn 150 trường hợp. Tính cả 40 trường hợp trong LNCQ, chúng ta có khoảng 380 trường hợp. Từ 380 trường hợp được lẩy ra từ LNCQ và một số tác phẩm Hán văn thời Lí - Trần, dựa vào sự tương ứng ngữ âm giữa chữ “trong văn bản” và chữ “hiệu chỉnh”, chúng tôi chia 380 từ trên làm 3 loại sau:
a. Loại thứ nhất: bao gồm các chữ có cùng âm đọc Hán Việt. Ví dụ: lấy “công” 公 (ông) để ghi “công” 工 (công nhân); “hình” 形 (hình ảnh) để ghi “hình” 刑 (tội hình); “tự” 寺 (chùa) để ghi “tự” 序 (tựa). Loại này nhiều nhất, có khoảng hơn 300 trường hợp, chiếm gần 80 %.
b. Loại thứ hai : bao gồm các chữ có cùng âm đọc Hán Việt hoặc cùng âm bạch thoại nhưng chữ “trong văn bản” lại phức tạp hơn chữ “hiệu chỉnh”. Ví dụ: lấy “đồ” 塗 (lấp lỗ hở) để ghi “đồ” 途 (đường đi); lấy “thần” 晨 (buổi sáng) để ghi “thần” 辰 (có âm đọc khác là thìn, là giờ thìn); lấy “cảnh” 境 (biên giới) để ghi “cảnh” 景 (cảnh sắc); lấy “án” 案 (vụ án) để ghi “an” 安 (an dân). Loại này ít nhất, có khoảng 30 trường hợp, chiếm gần 8 %. Trong loại này còn có những chữ có cùng âm Hán Việt, cùng nghĩa với chữ Hán, nhưng trong văn bản lại phức tạp hơn chữ ở từ điển Hán. Ví dụ: hai chữ “thương hoàng” 倉 皇 (còn ghi là 倉 黃) trong văn bản lại ghi “thương hoàng” 愴 惶 (sách TUTA); hai chữ môn la 門 羅 trong văn bản lại ghi “môn la” 捫 蘿 (sách VATT).
c. Loại thứ ba: bao gồm các chữ có cùng âm Hán Việt hoặc cùng âm bạch thoại, nhưng chữ “trong văn bản” lại giản đơn hơn chữ “hiệu chỉnh”. Ví dụ: lấy chữ “chí” 至 (đến) để ghi chữ “trí” 致 (rất); chữ “lữ” 呂 (tên họ người) để ghi chữ “lư” 閭 (làng xóm); chữ “vong” 亡 (mất) để ghi chữ “vong” 忘 (quên), Loại này có khoảng 36 trường hợp, chiếm hơn 9 %. Trong loại này còn có chữ về hình dạng chỉ tương đồng một bộ phận, không tương đồng về âm đọc. Ví dụ: dùng “hạt” 曷 để ghi “kiệt” 竭 (bia Trần); dùng “kí” 既 để ghi “khái” 慨 (bia Trần); dùng “yếm” 厭 để ghi “áp” 壓 (TUTA), dùng “cập” 及 để ghi “cấp” 級 (ĐVSKTT); dùng “tế” 祭 để ghi “sát” 察 (ĐVSK).
II. NGUYÊN NHÂN CỦA HIỆN TƯỢNG CHỮ VIẾT NHẦM LẪN DO ĐỒNG ÂM
Nhầm lẫn do đồng âm là hiện tượng thường xảy ra khi viết, hoặc sao chép văn bản. Hiện tượng này do nhiều nguyên nhân:
- Do vốn từ vựng có hạn của người sử dụng. Chữ Hán đối với người nước ta vốn là chữ “vay mượn”, về mặt từ vựng ngay cả người bản ngữ cũng không ai nắm được trọn vẹn huống hồ người nước ta.
- Do tính linh động của người sử dụng. Trong khi ghi chép, trường hợp không nhớ mặt chữ, muốn ghi chép nhanh, người ghi chép có thể linh động mượn tạm chữ đồng âm.
Theo quy luật, người ta thường mượn những chữ giản đơn thay cho những chữ phức tạp, những chữ dùng thường xuyên thay cho chữ ít được dùng. Qua bảng thống kê có thể thấy rõ điều này. Nhưng xem kĩ các chữ đồng âm được thay thế không phải trường hợp nào cũng theo quy luật trên. Ví dụ: dùng chữ “cầu” 逑 để ghi “cầu” 求; chữ “thụ” 授 để ghi “thụ” 受; chữ “lang” 榔 để ghi “lang” 郎 (trong sách LNCQ), dùng chữ “từ” 慈 để ghi “tư” 玆 dùng chữ “thương hoàng” 愴 惶 để ghi chữ “thương hoàng” 倉 黃 (trong sách TUTA) ; Hay dùng chữ “trí” 致 để ghi “chí” 至; dùng chữ “chính” 政 để ghi chữ “chính” 正 (trong các bia thời Lí); dùng chữ “tư” 澌 để ghi “tư” 斯, dùng chữ “lạm” 濫 để ghi “lam” 藍 dùng chữ “thần” 晨 để ghi “thần” 辰 (trong bia thời Trần); dùng chữ cảnh 境 để ghi “cảnh” 景, dùng “cập” 及 để ghi “cấp” 級 (trong ĐVSKTT). Lại có những trường hợp viết lược, viết tắt như: dùng chữ “hạt” 曷 để ghi chữ “kiệt” 竭 , dùng chữ “lã” 呂 để ghi “lư” 閭, dùng chữ “kí” 既 để ghi “khái” 慨, dùng chữ “trưng” 徵 để ghi “trừng” 懲 (trong bia thời Lí - Trần); dùng chữ “túc” 宿 để ghi “túc” 縮; “đình” 亭 ghi chữ “đình” 停; dùng chữ “úy” 尉 để ghi chữ “ủy” 慰 (Trong ĐVSK)
Những chữ như “cầu” 逑, “thụ” 授, “lang” 榔, “thương hoàng” 愴 惶, “trí” 致, “chính” 政, “cảnh” 境, “tư” 澌, “lạm” 濫, “thần” 晨... và những chữ như “chính” 正, “hạt” 曷, “túc” 宿, đình” 亭, “úy” 尉 có lẽ khó giải thích là do nhầm lẫn chữ vì nó không theo quy luật của việc “mượn chữ”. Ví dụ chữ “cầu” 逑 về mặt lí thuyết phải xuất hiện sau chữ “cầu” 求 nhưng vì sao người ta lại không dùng chữ giản đơn, có trước để viết. Hiện tượng này còn thấy xuất hiện ở chữ Nôm, chữ “đường” 塘 xuất hiện trong các văn bản các năm 1210, 1467, 1593, 1620, còn dạng “đường” 唐 chỉ gặp từ năm 1670 về sau. Mặc dù trên mặt khả năng lí thuyết thì dạng “đường” 唐 vẫn có thể xuất hiện rất sớm(11). Ngoài ra những chữ như “kiệt” 竭 được viết bằng “hạt” 曷, chữ “yêu” 邀 được viết bằng chữ “hiệu” , chữ “khái” 慨 được viết bằng chữ “kí” 既, chữ “trừng” 懲 được viết bằng chữ “trưng” 徵, chữ “túc” 縮, được viết bằng chữ “túc” 宿,... đều là những chữ không cùng âm đọc, nhưng nhìn vào mặt chữ lại thấy chúng có chung một bộ phận. Những chữ này có phải là hiện tượng viết tắt, viết lược của phép mượn chữ hay không?
Chúng tôi được biết ở Trung Quốc, trong các sách kinh điển cũng xuất hiện hiện tượng này. Các nhà Huấn hỗ học Trung Quốc gọi hiện tượng đó là “giả tá” (tức vay mượn). Ông Hồ Phác An trong mục Văn tự thông giả, Chương 5: Phương pháp huấn hỗ học đời Thanh, sách Trung Quốc huấn hỗ học sử (12) đã dẫn chứng 50 trường hợp vay mượn trong các sách kinh điển: Thi, Thư, Dịch, Lễ do họ Vương lẩy ra. Theo ông Hồ, “vay mượn” (giả tá) là một trong sáu cách viết lục thư. Giả tá có hai loại:
- Thứ nhất là “tá tự” (mượn chữ): vốn không có chữ mà phải đi mượn. Dựa vào âm đọc để mà lồng vào sự việc (ỷ thanh thác sự), vay mượn chữ để dùng (giả tá dĩ dụng chi). Ví dụ trường hợp “trường” 長 (dài lâu) vay mượn để làm chữ “trưởng” 長 (trưởng ấu); chữ “lệnh” 令 (hiệu lệnh) được vay mượn làm chữ “lệnh” 令 (huyện lệnh).
- Thứ hai là “tá âm” (mượn âm). Trong tá âm lại có hai loại:
+ Một là: vốn không có chữ, mượn âm đọc để tạo chữ mới, nhưng chữ nghĩa gốc đã bị phế bỏ. Ví dụ chữ lai 來 nguyên là giống lúa mạch tốt được vay mượn để làm chữ lai 來 trong “lai vãng” với nghĩa là “đến”; chữ “tây” 西 nguyên có nghĩa là chim đậu trong tổ (điểu tây, đọc là điểu thê), được vay mượn để làm chữ “tây” là phương tây, trong “đông tây”. Các trường hợp vay mượn này, chữ nghĩa gốc đã bị phế bỏ (như trường hợp chữ “lai” với nghĩa lúa mạch), chúng ta hiện nay tuy không còn biết nghĩa gốc của chúng là gì nên không gặp trở ngại trong khi sử dụng.
+ Hai là: mượn âm đọc để tạo chữ, nhưng chữ gốc không bị phế bỏ, nghĩa gốc vẫn còn đi đôi, trong các sách kinh điển còn vay mượn dùng chung (thông giả) như mượn chữ “thích” 適 làm chữ “địch” 敵, mượn chữ “long” 龍 làm chữ “sủng” 寵, mượn “tiện” 便 làm “bình” 平, mượn “bàng” 旁 làm “phương” 方, làm cho chữ gốc và chữ mượn không còn phân biết rõ được, không tránh khỏi tình trạng nhìn vào mặt chữ để cắt nghĩa.
Theo trích dẫn của ông Hồ, có tới 50 trường hợp tá âm loại chữ vay mượn và chữ gốc cùng song song tồn tại được ông Vương lẩy ra từ sách kinh điển. Ví dụ: Mượn chữ “quang” 光 để làm chữ “quảng” 廣 (Thượng thư). Mượn chữ “cổ” 蠱 làm “cổ” 古 (Dịch tự quái). Mượn “thời” 時 làm “đãi” 待. Mượn “tôn” 尊 làm “tôn” 撙. Mượn “tẩy” 洗 làm “tiên” 先. Mượn “thịnh” 盛 làm “thành” 成 (Kinh Dịch). Mượn “lạp” 粒 làm “lập” 立. Mượn “chính” 政 làm “chính” 正 (Kinh Thư). Mượn “vong” 忘 làm “vong” 亡. Mượn “văn” 文 làm “vặn” 紊. Mượn “nghĩa” 義 làm “nga” 俄. Mượn “triết” 哲 làm “chiết” 折 (Kinh Thư). Mượn “cảnh” 景 làm “cảnh” 憬 (giác ngộ). Mượn “vi” 為 làm “ngoa” 訛. Mượn “cầu” 求 làm “cầu” 逑 (Kinh Thi)...
Ngoài 50 ví dụ về giả tá do họ Vương trích ra từ các sách kinh điển, ông Hồ Phác An còn lẩy thêm ra 12 trường hợp vay mượn nữa trong sách kinh điển. Theo ông, từ sự giải thích chữ trong kinh điển, các hiện tượng như dùng “chu” 周 để ghi “chung” 終 dùng “bân” 彬 để ghi “phần” 份... là những hiện tượng song thanh; dùng “lận” 吝 ghi “lân” 遴, dùng “cừu” 仇 ghi “cầu” 求 là các hiện tượng điệp vận. Các trường hợp mượn “dương” 羊 làm “tường” 祥 mượn “thạch” 鼫 làm “thạch” 鼫, mượn “lộc” 麓 làm “lục” 綠... đều có thể coi là giả tá loại điệp vận.
Xem xét 50 trường hợp của ông họ Vương và 12 trường hợp ông họ Hồ trích ra từ kinh văn, ngoài trường hợp mượn chữ thường dùng thay cho chữ ít dùng, cũng có trường hợp mượn chữ phức tạp để ghi chữ giản như: mượn “cổ” 蠱 để ghi “cố” 故; mượn “tẩy” 洗 để ghi “tiên” 先; mượn “thịnh” 盛 để ghi “thành” 成; mượn “chính” 政 để ghi “chính” 正... Cũng có trường hợp lược bớt chữ như “cảnh” 景 để ghi “cảnh” 憬;mượn “vi” 為 ghi “ngoa” 訛 ; mượn “giao” 交 để ghi “giảo” 姣; mượn “cầu” 逑 để ghi “cầu” 求; mượn “thổ” 土 ghi “đỗ” 杜.
Dựa vào 62 chữ do họ Hồ thống kê đối chiếu với các hiện tượng vay mượn của Việt Nam, cũng thấy xuất hiện một số trường hợp tương tự như chúng tôi nêu ra ở 3 loại trên, như: mượn chữ “cầu” 逑 làm “cầu” 求; mượn “thụ” 授 làm “thụ” 受 (LNCQ); mượn “chính” 政 làm “chính” 正; mượn “do” 猶 làm “do” 由; mượn “nịch” 溺 làm “nhược” 弱 (ĐVSK); mượn “từ” 慈 làm “tư” 玆 (TUTA); mượn “trí” 致 làm “chí” 至; mượn “minh” 銘 làm “danh” 名; mượn “tính” 鉼 làm “tịnh” 并 (Bia Lí); mượn “tư” 澌 làm “tư” 斯 mượn “lạm” 濫 làm “lam” 藍 (Bia Trần); mượn “biển” 扁 làm “biển” 匾; mượn “hạt” 曷 làm “kiệt” 竭 (Bia thời Lí); mượn “hương đạo” 鄉 道 làm “hướng đạo” 嚮 導 (Bia Trần); mượn “chính” 正 làm “chính” 政 (ĐVSK); mượn “sinh” 生 làm “sinh” 牲 (LNCQ); mượn “đăng” 登 làm “đăng” 燈; mượn “nữ” 女 làm “nhữ” 汝 (TUTA).
Như vậy, hiện tượng nhầm lẫn do đồng âm ở thời Lí - Trần ngoài hai nguyên nhân do vốn từ vựng có hạn và tính linh động của người sử dụng, còn một nguyên nhân nữa là do sử dụng từ ngữ kinh điển và mô phỏng cách dùng từ trong các sách kinh điển Trung Quốc. Hai nguyên nhân trước (cũng giống với nguyên nhân để sinh ra chữ giả tá trong các sách kinh điển Trung Quốc) là hai nguyên nhân sinh ra hiện tượng vay mượn ở bất kì ngôn ngữ nào (không chỉ với ngôn ngữ văn tự Hán). Riêng nguyên nhân thứ ba lại không phải theo quy luật chung của hiện tượng vay mượn.
Chúng ta đã biết, ở thời đại Lí - Trần, do yêu cầu cấp bách của thời đại phải xây dựng một nhà nước phong kiến tập quyền có đủ sức mạnh để xây dựng nền độc lập, thống nhất và phục hưng dân tộc; việc tiếp tục sử dụng chữ Hán như một công cụ để duy trì mọi hoạt động có tính chất quan phương, chính thống của nhà nước đã được nhà nước phong kiến đương thời chấp nhận. Mặt khác, mọi người đều thấy rằng, văn minh của Trung Quốc có nhiều điều nên học tập. Nếu không biết chữ Hán thì không thể tiếp thụ tri thức về mọi mặt. Cho nên, cùng với việc chủ động tiếp thụ chữ Hán và văn hóa Hán, các sách vở giáo lí của Phật giáo cũng được du nhập ồ ạt vào nước ta. Theo sách ĐVSKTT, năm 1018, vua Lí sai Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang nước Tống xin kinh Tam Tạng. Sau khi lấy được kinh Tam Tạng, vua nhà Lí còn xuống chiếu cho chép kinh vào năm 1023, 1027, 1035. Ban đầu, số người biết chữ Hán còn ít, tập trung chủ yếu vào giới tăng lữ. Các nhà sư ngoài các công việc xây chùa, dựng tháp, giáo hóa chúng sinh còn xây dựng vương quyền, giúp vua đánh giặc cứu nước. Sau do nhu cầu sử dụng chữ Hán ngày một cao, số lượng người biết chữ Hán đã tăng dần trong xã hội. Người ta không chỉ dùng chữ Hán để viết chiếu từ, làm quân lệnh, thư từ ngoại giao mà còn dùng chữ Hán để sáng tác thơ, văn. Sách ĐVSKTT còn ghi việc các quan trong triều làm thơ chúc tụng nhân dịp khánh thành cầu Thái Hòa trên sông Tô Lịch vào năm ất Hợi, niên hiệu Thông Thụy thứ 2 (1035)(13). Chưa rõ việc học chữ Hán ở thời Lí - Trần thế nào, nhưng theo các nhà nghiên cứu đi trước, Hán văn thời Lí - Trần chịu ảnh hưởng sâu sắc của kinh điển Nho gia và sách vở Phật giáo. Sự ảnh hưởng sách kinh điển không chỉ trên phương diện tư tưởng, mà còn ảnh hưởng cả phương thức diễn đạt ngôn ngữ(14). Các sách kinh điển Nho gia như Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Lễ và các sách khác của Trung Quốc có lẽ trở thành “giáo trình” học chữ Hán của người Việt thời bấy giờ. Thậm chí còn sử dụng thành thục các sách kinh điển tới mức có thể viện dẫn cả kinh điển để giải thích các hiện tượng thiên nhiên, xã hội. Sách ĐVSKTT còn ghi chuyện các quan trong triều dùng Kinh Thư để luận bàn điềm báo(15). Hay trong bia ở tháp Sùng Thiện Diên Linh còn ca ngợi việc tinh thông kinh sách của vua nhà Lí “Sách kinh nội điển, tinh thông tới chỗ yếu huyền”(16). Việc sử dụng thành thạo kinh điển còn thể hiện ý thức xã hội và quan niệm thẩm mĩ của thời đại “cái được đánh giá cao không phải là sự sáng tạo cái mới về cơ bản mà ngược lại chính là sự bắt chước những quy tắc và truyền thống”(17). Như vậy, việc sử dụng từ ngữ kinh điển và mô phỏng cách dùng từ ngữ kinh điển cũng là một trong nguyên nhân sinh ra hiện tượng chữ viết “nhầm lẫn” trong một số tác phẩm Hán văn thời Lí - Trần.
III. HIỆN TƯỢNG CHỮ VIẾT "NHẦM LẪN DO ĐỒNG ÂM" CÓ THỂ COI LÀ HIỆN TƯỢNG TÁ ÂM
Ngoài ba nguyên nhân gây ra sự nhầm lẫn trong chữ viết như đã nêu trên, cũng phải tính đến nguyên nhân “xã hội” của hiện tượng này. Chúng ta đã biết, “văn học Lí-Trần hình thành trong sự lệ thuộc, ảnh hưởng có thể nói nặng nề bởi nhiều yếu tố ngoại lai, đặc biệt là yếu tố Hán nhưng cố gắng vận động để phát triển theo hướng dân tộc hóa”(18). Bên cạnh việc tiếp thu những tinh hoa của văn hóa, văn học nước ngoài, văn học Lí-Trần vừa phải chống lại sự lấn lướt của yếu tố ngoại lai, gìn giữ và nâng cao yếu tố văn hóa cổ truyền của dân tộc. Điều này không chỉ diễn ra ở nội dung văn học mà còn biểu hiện ở hình thức văn tự. Từ trước thế kỉ X, trong một số tác phẩm văn học Phật giáo Việt Nam viết bằng chữ Hán, đã xuất hiện các hình thức tá âm, là hình thức phôi thai để hình thành chữ Nôm giai đoạn sau(19). Đến thời Lí - Trần, tá âm vẫn được sử dụng và có chiều hướng gia tăng mạnh mẽ. Chỉ nhìn qua số lượng các từ tá âm mà chúng tôi thống kê qua một số tác phẩm thời Lí - Trần, có thể thấy tá âm đã trở thành một hiện tượng mang tính “xã hội”.
Từ trước tới nay, ít ai quan tâm tìm hiểu hiện tượng tá âm trong sách cổ của Việt Nam, đặc biệt ở thời đại Lí - Trần. Nếu có trường hợp vay mượn, các nhà nghiên cứu cũng chỉ coi đó là hiện tượng nhầm lẫn, bởi nó có thể xảy ra ở bất kì tác phẩm nào, sách in cũng như chép tay, thư tịch cũng như văn khắc và có thể xảy ra ở bất kì thời nào, không riêng thời đại Lí - Trần. Tuy nhiên, trường hợp nhầm lẫn nhiều, trong đó có cả sự nhầm lẫn khó giải thích xuất hiện trong LNCQ và một số tác phẩm như bia thời Lí - Trần, TUTA và ĐVSK, VATT thì không đơn giản là nhầm lẫn nữa. Có lẽ đã đến lúc phải nghiên cứu nghiêm túc các hiện tượng tá âm trong sách cổ Việt Nam, mà đối tượng đầu tiên cần nghiên cứu là các tác phẩm Hán văn thời Lí - Trần. Tá âm có phải là hiện tượng của thời Lí - Trần? Để trả lời câu hỏi này cần có sự thống kê đầy đủ hiện tượng tá âm trong các tác phẩm Hán văn thời Lí - Trần, lấy nó làm hệ quy chiếu với các thời đại tiếp theo, để tìm hiểu xem đây có phải là hiện tượng chỉ xuất hiện trong văn bản Lí - Trần? Từ thời Lê trở đi, hiện tượng trên có bớt dần rồi mất hẳn không? Mặt khác, nếu thống kê đầy đủ các trường hợp tá âm trong các tác phẩm Lí - Trần sẽ có thể cung cấp những tư liệu có giá trị cho việc nghiên cứu âm Hán - Việt và gián tiếp là địa hạt ngữ âm lịch sử tiếng Việt và những vấn đề văn hóa, xã hội khác.
IV. TỪ HIỆN TƯƠNG TÁ ÂM, THỬ GIẢI THÍCH MỘT VÀI TỒN NGHI TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM HÁN VĂN LÍ-TRẦN.
Nếu biết trong sách cổ có hiện tượng tá âm, có thể dễ dàng giải thích những hiện tượng “nhầm lẫn” trong LNCQ và ở các tác phẩm khác thời Lí - Trần. Thậm chí có thể đặt lại một số vấn đề, giải thích một số trường hợp hiểu nhầm do không biết hiện tượng này. Có thể đơn cử vài ví dụ:
Trong LNCQ, truyện Từ Đạo Hạnh, câu: “[Đạo Hạnh] bèn thân đi tới Quyết Châu lấy gậy ném thử xuống dòng nước chảy xiết” (thân chí Quyết Châu dĩ trụ trượng đầu tử, thí đầu cấp thủy trung lưu 身 至 決 州 以 柱 杖 頭 子 試 投 急 水 中 流), chữ “thân” nếu hiểu là “thân” 身 trong “thân thể” sẽ rất khó hiểu, nếu biết nó là vay mượn của chữ “thân” (thân chinh) thì có lẽ chẳng còn gì phải băn khoăn nữa. Chữ “thân” này đã được các bản LNCQ sau này sửa thành “thân” 親 trong “thân chinh”.
Hoặc trong sách TUTA , bài thơ Viếng thiền sư Chân Không (Truy điệu Chân Không thiền sư) của Đoàn Văn Khâm, câu thứ 6 “Thủy trám thanh sơn nhận tạ dung”, các tác giả TVLT cho rằng chữ “tạ” 藉 (còn có âm nữa là tịch, trong “hộ tịch”, chúng tôi phiên âm là tịch - ND) “có lẽ chép nhầm, làm cho ý câu thơ không rõ; các bản khác đều chép là “cựu” 舊 (20). “Cựu dung” 舊 容 có lẽ chẳng có gì khó hiểu, nhưng sách TUTA chép là “tịch” liệu có phải chép nhầm không. Nếu coi “tịch” 藉 (hộ tịch) là hiện tượng vay mượn của “tịch” 寂 (mất) thì câu không còn khó hiểu nữa. “Tịch dung” tức bóng dáng người đã mất.
Hoặc trong bài thơ Vọng trông Am Liễu Nhiên ở Đông Sơn (Vọng Đông Sơn Liễu Nhiên am), của Trần Nghệ Tông như đã nêu trên, nếu cứ mặt chữ mà cắt nghĩa thì “thử tịch” (cái ghế, hoặc cái chiếu ấy) trong VATT, câu: “Minh niên thử tịch tri thùy kiện” sẽ trở nên khó hiểu, nhưng nếu biết đây là chữ “tịch” mượn của chữ “tịch” 夕 (buổi chiều) thì câu trở nên dễ hiểu, nghĩa lí rõ ràng.
Còn nhiều trường hợp khác trong bảng thống kê, do khuôn khổ bài viết không cho phép chúng tôi nêu ra ở đây. Các trường hợp này, nếu cứ nhìn mặt chữ để cắt nghĩa sẽ rơi vào tình trạng câu lủng củng, khó hiểu, nếu dựa vào quy luật vay mượn để lí giải thì câu văn sẽ trở nên sáng sủa, nghĩa lí rạch ròi. Tác giả Hồ Phác An khi phân tích về hiện tượng vay mượn trong sách cổ, đã cho rằng: “Các chữ dùng để vay mượn ở đây cả chữ gốc lẫn chữ mượn đều song song tồn tại, không bị phế bỏ. Nếu người đọc không hiểu rõ các hiện tượng vay mượn chữ trong kinh văn, không biết được các chữ gốc của nó là gì, cứ nhìn vào nghĩa gốc của chữ vay mượn mà giải thích thì tất sẽ bị hiểu nhầm. Không rõ giả tá không thể đọc được sách cổ, mà loại chữ giả tá này phân biệt lại không phải dễ. Phải từ thanh vận để hiểu huấn hỗ, sau đó chữ vay mượn và chữ gốc mới có thể phân biệt không nhầm lẫn. Thư tịch cổ Trung Quốc đều có hiện tượng vay mượn chữ (văn tự thông giả). Biết rõ các trường hợp vay mượn chữ trong lúc đọc sách thì sẽ như nắm được con dao mổ xẻ vậy”(21).
Trở lên là một số vấn đề về hiện tượng tá âm trong LNCQ và một số tác phẩm Hán văn thời Lí - Trần. Đây là một vấn đề rất khó, cần phải có thời gian và sự cộng tác liên ngành, mới có thể giải quyết thấu đáo. Trong lúc chờ đợi kết quả nghiên cứu toàn diện hiện tượng này trong các tác phẩm Hán văn thời Lí - Trần, chúng tôi xin mạnh dạn đưa ra một số ý kiến. Rất mong được sự chỉ giáo của các quý vị.
N.T.O
CHÚ THÍCH VÀ SÁCH THAM KHẢO
(1) Trong một số tác phẩm dịch, giới thiệu tác phẩm Hán văn thời Lí - Trần như Bia Lí - Trần, TUTA. ĐVSKTT, VATT... chúng ta thường gặp chú thích của dịch giả. Ví dụ: “Nguyên văn là mộ 募 là tìm kiếm, mượn người, nghĩa không thích hợp. Đoán là mộ 慕 là hâm mộ, viết lầm” ( TVLT. T.I, tr.332. Xem xuất xứ sách ở chú thích 4, phía dưới); “Nguyên văn “vĩnh kiên nãi tâm”: chữ kiên 堅 là vững bền do đồng âm mà khắc lầm ra chữ kiên 肩 là vai” (ĐVSKTT. Q.III, tr.296, xem xuất xứ sách ở chú 9, phía dưới). Các trường hợp hiệu chỉnh chữ đồng âm (tá âm), xưa nay đều được các nhà nghiên cứu cho là “viết lầm”, hoặc “khắc lầm”.
(2) Lĩnh Nam chích quái. Đinh Gia Khánh (chủ biên), Nguyễn Ngọc San biên khảo, giới thiệu. Nxb. Văn học, 1990, tr.160.
(3) Chúng tôi dựa vào sự đính chính của các tác gia thời phong kiến và các nhà nghiên cứu đi trước để thống kê các hiện tượng nhầm lẫn do đồng âm trong các tác phẩm.
(4) Thơ văn Lí Trần. Nxb.KHXH. Hà Nội. Tập I: năm 1977; Tập II: năm 1989; Tập III: năm 1978.
(5) Văn khắc Hán Nôm Việt Nam. Tập I. Từ Bắc thuộc đến thời Lý. Phan Văn Các và Claudine Salmon (chủ biên) do école franỗaise d’ Extrême-Orient và Viện Nghiên cứu Hán Nôm hợp tác xuất bản. Paris-Hà Nội, 1998.
(6) Văn khắc Hán Nôm Việt Nam. Tập II. Thời Trần. 2 quyển Thượng, Hạ. Tổng chủ biên: Phan Văn Các, Mao Han Kuang, Cheng A Tsai, Hoàng Văn Lâu, Keng Hui Ling. Sách do Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Trường Đại học Trung Chính (Đài Loan) hợp tác xuất bản.
(7) Lê Mạnh Thát: Nghiên cứu Thiền uyển tập anh. Nxb.Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1999.
(8) Việt âm thi tập. Bản chữ Hán, kí hiệu A.1925, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
(9) Đại Việt sử kí toàn thư (Bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697). Bản dịch Nxb. KHXH. H. 1993.
(10) Đại Việt sử kí. Bản chữ Hán, kí hiệu A.1272, Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Trong số 9 bản mang tên ĐVSK hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chỉ có bản A.1272 đầy đủ nhất, và là bản có sự nhầm lẫn từ đồng âm.
(11) Nguyễn Tài Cẩn: Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa. Nxb. Đại học quốc gia. H. 2001, tr.211.
(12) Hồ Phác An: Trung Quốc huấn hỗ học sử. Thương vụ ấn thư quán. Trung Hoa dân quốc năm thứ 28. Bản dịch do Trần Nghĩa dịch. Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu Bt.78.
(13) Đại Việt sử kí toàn thư. Sđd, tr.257.
(14) Phạm Văn Khoái: Giáo trình Hán văn Lý - Trần. Nxb. Đại học Quốc gia. H. 2001, tr.43.
(15) Đại Việt sử kí toàn thư. Sđd, tr.265.
(16) Thơ văn Lý - Trần. Sđd, tr.403.
(17) Riptin: Mấy vấn đề nghiên cứu những nền văn học trung cổ phương Đông theo phương pháp loại hình. TCVH, số 2/1974.
(18) Nguyễn Công Lý: Mấy đặc điểm văn học Lý - Trần. Tạp chí Hán Nôm, số 2 (47), tr.9.
(19) Lê Mạnh Thát. Khương Tăng Hội toàn tập. Tu thư Vạn Hạnh, tái bản. 1994.
(20) TVLT. T.I. Sđd, tr.338.
(21) Trung Quốc huấn hỗ học sử . Bản dịch. Sđd, tr.7.
Bảng thống kê hiện tượng tá âm
trong Lĩnh Nam chích quái (*)

|