TB

THỬ BÀN VỀ ĐẠO “HIẾU” CỦA NHO GIA

LÊ VĂN QUÁN

Học thuyết Khổng Tử lấy nhân và lễ làm gốc, đến Mạnh Tử coi nhân nghĩa là hạt nhân của học thuyết. Sau đó, nhân nghĩa trở thành ngọn cờ lý luận của học phái Nho gia. Nhưng ở trong sách Luận ngữ, hiếu được coi là gốc của nhân: “Hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bản dư !” (Luận ngữ, thiên Học nhi) - (Hiếu đễ là gốc của điều nhân, vậy chăng).

Sau Khổng Tử, địa vị hiếu ngày càng nổi bật. Sách Hiếu kinh nội dung tập trung nói về đạo hiếu đã được các nhà nho Việt Nam dùng làm sách giáo khoa giảng dạy ở các lớp học chữ Hán. Vì khi xưa Nho giáo ở địa vị thống trị, thì nguyên tắc đạo đức Nho giáo đồng thời cũng là nguyên tắc quan trọng nhất của toàn xã hội. Ở sách Hiếu kinh, ngay ở chương thứ nhất Khai tôn minh nghĩa đã có câu dạy mọi người về đạo hiếu:

“Bắt đầu là thờ phụng cha mẹ, rồi đến thờ vua, cuối cùng lập thân”. Câu này đã nói rõ, đạo hiếu không thể là quan hệ cha mẹ với con cái, mà là quan hệ bề tôi với vua. Đạo hiếu bao hàm đạo trung, hay nói đạo trung cũng là đạo hiếu. Bất trung tức là bất hiếu, cho nên khi xưa cai trị thiên hạ bằng hiếu, và không chỉ yêu cầu mọi người hiếu thuận với cha mẹ, mà còn bao gồm yêu cầu mọi người phải trung với vua. Điều này cũng nêu rõ ràng, hiếu là một nguyên tắc chính trị, mà không phải chỉ là qui phạm đạo đức. Cho nên sau chương Khai tôn minh nghĩa là các chương: Thiên tử, Chư hầu, Khanh đại phu, Sĩ, Thứ dân... cũng là lần lượt đề xuất yêu cầu đạo hiếu đối với từng lớp người khác nhau:

Hiếu của Thiên tử là: “Ái kính tận ư sự thân, nhi đức giáo gia ư bách tính, hình ư tứ hải”- (Kính yêu hết lòng phụng thờ cha mẹ, mà đức giáo hóa mở rộng ra đến trăm họ, khuôn phép đến với bốn bể). Như vậy, hiếu của Thiên tử là cai trị đất nước tốt.

Hiếu của chư hầu là: “Tại thượng bất kiêu, cao nhi bất nguy, tiết chế cẩn độ, mãn nhi bất dật, cao nhi bất nguy, sở dĩ thường thủ quí dã. Mãn nhi bất dật, sở dĩ thường thủ phú dã. Phú quí bất ly kỳ thân, nhiên hậu năng bảo kỳ xã tắc, nhi hòa kỳ dân nhân.”- (Ở trên không kiêu căng, ngôi cao mà không hiểm nguy, tiết chế giữ gìn pháp độ, đầy mà không đầy tràn. Ở ngôi cao mà không hiểm nguy, cho nên luôn giữ là sang, đầy mà không đầy tràn, cho nên luôn giữ là giàu. Giàu sang không xa rời thân mình, rồi sau có thể giữ gìn được xã tắc, mà người dân hòa vui).

“Bất hiếu” tức là kiêu căng, không giữ lễ, đều là ý của Khổng Tử: “Khắc kỷ phục lễ” - (Sửa mình khôi phục lễ). “Tiết” là tiết kiệm, tiết chế. “Độ” là lễ phép, lễ độ. “Tiết chế cẩn độ” là nói sinh hoạt vật chất nên tiết kiệm, tất cả hành vi đều phải giữ lễ. Mục đích là giữ mình, giàu sang xã tắc.

Hiếu của quan Khanh đại phu là: “Phi tiên vương chi pháp phục, bất cảm phục; phi tiên vương chi pháp ngôn, bất cảm đạo; phi tiên vương chi đức hạnh, bất cảm hành. Thị cố phi pháp bất ngôn, phi đạo bất hành,... Ngôn mãn thiên hạ vô khẩu quá, hạnh mãn thiên hạ vô oán ác. Tam giả bị hĩ, nhiên hậu năng thủ kỳ tôn miếu” - (Chẳng phải phép mặc của tiên vương, không dám mặc; chẳng phải phép nói của tiên vương, không dám nói; chẳng phải đức hạnh của tiên vương, không dám làm. ấy cho nên trái phép không nói, trái đạo chẳng làm..., nói đầy thiên hạ không nói lời lỗi lầm, nét đầy thiên hạ không có oán ghét. Ba điều ấy đủ, rồi sau mới có thể giữ gìn tôn miếu).

Một câu nói bao trùm, tức là phải thực hành trung thực đạo của tiên vương và mục đích là giữ gìn tôn miếu. Mục đích này hình như thể hiện rõ, mục đích của đạo hiếu không phải tích cực chiếu cố cha mẹ hiện tại khoẻ mạnh, mà đối tượng chủ yếu là cha mẹ, tổ tông đã chết.

Hiếu của kẻ sĩ là: “Tư ư sự phụ dĩ sự mẫu, nhi ái đồng; tư ư sự phụ dĩ sự quân, nhi kính đồng. Cố mẫu thủ kỳ ái nhi quân thủ kỳ kính, kiêm chi giả phụ dã. Cố dĩ hiếu sự quân tắc trung dĩ kính sự trưởng tắc thuận. Trung thuận bất thất, dĩ sự lý thượng, nhiên hậu năng bảo kỳ lộc vị, nhi thủ kỳ tế tự” - (Nhờ ở thờ cha để thờ cha mẹ mà cùng yêu; nhờ ở thờ cha để thờ vua mà cũng kính. Cho nên mẹ lấy sự yêu, mà vua lấy sự kính, là gồm có cả cha. Cho nên lấy hiếu thờ vua, trung lấy kính thờ bề trên thì thuận. Trung thuận không mất, lấy thờ bề trên, rồi sau có thể giữ được lộc vị, mà giữ tế tự).

Ở đây yêu cầu sĩ thờ cha mẹ là kính yêu, nhưng điều quan trọng là yêu cầu kẻ sĩ yêu và kính thờ cha mẹ chuyển ra thờ bậc trên, thờ vua, từ đó trung và thuận để giữ vững lộc vị và việc cúng lễ của mình. Do đó, trọng điểm đạo hiếu của kẻ sĩ vẫn là trung thuận với hoàng đế và vua. Mục đích ấy cũng là giữ ngôi quan của mình để giữ việc cúng tế của mình.

Chúng ta có thể khái quát đạo hiếu từ Thiên tử đến kẻ sĩ có ba điều:

Một là, thực hành đạo tiên vương. Hai là, giữ vững địa vị của mình. Ba là, bảo đảm việc tế lễ tổ tiên mình. Thực hiện cúng tế cao nhất là để cho tổ tiên mình “phối với trời”, tức là cùng thượng đế hưởng thụ tế lễ.

Trong Hiếu kinh cũng nói đến phụng thờ cha mẹ và đề xuất 5 nguyên tắc lớn: người con có hiếu thờ cha mẹ, ở thì rất kính, nuôi dưỡng thì rất sung sướng, ốm đau thì rất lo lắng, tang ma thì rất đau thương, tế lễ thì rất nghiêm chỉnh. Năm điều đầy đủ, rồi sau mới có thể thờ cha mẹ. Nhưng điều phụng thờ cha mẹ chưa phải là quan trọng nhất. Hiếu kinh tiếp tục nói rằng: “Thờ cha mẹ ở trên không kiêu, ở dưới không loạn, ở cùng không tranh. Ở trên mà kiêu thì mất, ở dưới mà loạn thì phạt, ở cùng mà tranh thì đòn. Ba điều không trừ bỏ, tuy hằng ngày dùng thức ăn ngon nuôi dưỡng cũng như là bất hiếu”. (Kỷ hiếu hành chương).

Nói về thờ cha mẹ, điều quan trọng cũng không phải là kính, lạc (= kính trọng và vui mừng), ưu (= lo lắng), ai (= thương xót), nghiêm (= nghiêm trang); mà là ở trên không kiêu, ở dưới không loạn. Nếu không, mặc dù hằng ngày dùng thức ăn ngon nuôi dưỡng cha mẹ mình, vẫn là bất hiếu. Điều này càng phải biểu hiện rõ ràng, hiếu trước tiên là một hành vi chính trị.

Ở xã hội phong kiến chuyên chế đề xướng đạo hiếu, mục đích không phải là chiếu cố cha mẹ mà thông qua phẩm chất trung thuận của những người kính yêu, nuôi dưỡng cha mẹ, để đảm bảo ổn định trật tự xã hội hiện thực. Giai cấp thống trị dần dần nhận thức được chỉ có học thuyết Nho gia là thích hợp nhất phục vụ chế độ gia tộc tông pháp. Do đó, hiếu đạo quan của Nho gia có thể được coi trọng hàng đầu, “dùng hiếu cai trị thiên hạ” trở thành hạt nhân tư tưởng thống trị. Ngay ở sách Luận ngữ, thiên Học nhi đã nói: “Kỳ vi nhân giả hiếu đễ, nhi hiếu phạm thượng giả, tiển hĩ. Bất hiếu phạm thượng nhi hiếu tác loạn giả, vị chi hữu dã. Quân tử vụ bản, bản lập nhi đạo sinh. Hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bản dư !” - (Là người hiếu đễ, mà thích phạm bề trên, thật ít có. Người không thích phạm bề trên, mà thích làm loạn cũng chưa từng có. Người quân tử chuyên vào điều gốc, gốc đứng vững mà đạo nảy sinh. Hiếu đễ là gốc của điều nhân vậy chăng).

Hiếu đễ là gốc của nhân, vì người hiếu đễ sẽ không phạm bề trên làm loạn, sẽ không nguy hại đến trật tự hiện thực: “Hiếu từ tắc trung” (Luận ngữ, Vi chính) – (Hiếu thuận thương yêu thì trung). Ở sách Hiếu kinh, chương Quảng dương danh tập trung trình bày ý nghĩa: “Di hiếu tắc trung” - (chuyển điều hiếu thành điều trung). Và Khổng Tử nói: “Tích giả minh vương chi dĩ hiếu trị thiên hạ dã...” (Hiếu kinh, chương Hiếu trị) - (Ngày xưa ông vua sáng suốt dùng hiếu cai trị thiên hạ).

Ở sách Luận ngữ bàn về hiếu tập trung nhất vẫn là thiên Vi chính. Có người hỏi Khổng Tử : “Hề bất vi chính” - (Sao không làm chính trị). Khổng Tử trả lời: “Thư vân: “Hiếu hồ ! duy hiếu ! hữu vu huynh đệ, thi ư hữu chính”. Thị diệc vi chính, hề kỳ vi chính” (Luận ngữ, Vi chính) - ( Kinh Thư nói rằng: “Hiếu ư ! chỉ có hiếu thuận cha mẹ, thương yêu anh em, thi hành phong thái đó ở chính trị”. Điều này cũng tức là tham dự chính trị, vì sao cứ phải làm quan mới là tham dự chính trị).

Hiếu là thủ đoạn làm chính trị, bản chất đó vẫn là phẩm chất trung thuận đối với vua phải trung thành, đối với trên phải cung thuận.

Cần phải bồi dưỡng phẩm chất đó, không thể chỉ dừng ở nuôi dưỡng cha mẹ, mà phải bắt đầu từ kính trọng cha mẹ. Biểu hiện kính trọng ở nét mặt vui mừng. “Tử Hạ vấn hiếu, Khổng Tử viết: “Sắc nam”. (Luận ngữ, Vi chính) - (Tử Hạ hỏi về đạo hiếu. Khổng Tử trả lời: “Khó nhất là ở sắc mặt người con luôn luôn hòa vui). Đến “Mạnh Ý Tử vấn hiếu. Tử viết: Vô vi.... Phàn Trì viết: Hà vị dã ? Tử viết: Sinh, sự chi dĩ lễ; Tử, táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ”. (Luận ngữ, Vi chính) - (Mạnh Ý Tử hỏi về đạo hiếu. Khổng Tử trả lời: Không trái (lễ)... Phàn Trì hỏi: Nghĩa là thế nào? Khổng Tử trả lời: Khi cha mẹ còn sống thờ phụng theo đúng lễ; khi chết, chôn cất, cúng tế theo đúng lễ qui định). Thờ cha mẹ không trái lễ, thờ vua tự nhiên có thể tuân theo lễ.

Lễ là tập trung thể hiện trật tự xã hội cổ đại, đại biểu lợi ích cao nhất của xã hội cổ đại, là nguyên tắc phổ biến của bất cứ người nào đều phải tuân thủ. Bất luận là vua, quan hay là cha mẹ.

Sách Hiếu kinh đã tập trung luận chứng nguyên tắc “dĩ hiếu trị thiên hạ” (lấy hiếu cai trị thiên hạ). Nếu như so sánh với kinh điển khác của Nho gia. Hiếu kinh gây cho người ta có ấn tượng nổi bật, tức là nội dung hạt nhân của đạo hiếu đã phát triển từ “thiện sự kỳ phụ mẫu” - (giỏi thờ phụng cha mẹ) dẫn đến ý nghĩa mở rộng “dĩ hiếu trị thiên hạ” (lấy hiếu trị thiên hạ). Sách Hiếu kinh tuyệt đại bộ phận chương tiết không phải nói đến “thờ cha mẹ” mà chính là nói đến “thờ vua”. Trong sách chưa đầy 2000 chữ thì chữ “trị” đã xuất hiện 11 lần. “Hiếu trị” trở thành tôn chỉ căn bản, xuyên suốt toàn sách. Chương Hiếu trị nói: “Tử viết: Tích giả minh vương dĩ hiếu trị thiên hạ dã” - (Khổng Tử nói: Ngày xưa, vua sáng suốt là cai trị thiên hạ bằng hiếu) đã đề cập đến ở trên cũng là dùng cái khung tề gia, trị quốc, bình thiên hạ ở sách Đại học, trong đó quán xuyến tinh thần lấy lòng yêu kính cai trị thiên hạ. Việc cai trị của thánh nhân, lý tưởng của Nho gia là biến thiên hạ thành một gia đình lớn. Nói về xã hội quân chủ chuyên chế, đề xướng lấy hiếu cai trị thiên hạ, đem sự đối lập đẳng cấp giữa nước nhỏ nước lớn, thiên tử chư hầu, quan lại trăm họ, gia chủ thần thiếp, đẳng cấp khác nhau hết thảy đều ẩn tàng trong huyết thống tông pháp.

Thực tiễn lịch sử chứng minh, xã hội gia tộc tông pháp phương Đông cổ đại (trong đó có Việt Nam) giữa con người với nhau tồn tại mối tình sâu sắc xây dựng trên cơ sở huyết thống. Cũng tồn tại đẳng cấp áp bức xây dựng trên cơ sở chế độ tư hữu. Ở hai mặt này, nhấn mạnh phiến diện một mặt nào đều không lợi cho sự yên trị lâu dài của xã hội. Tư tưởng đạo hiếu của Nho gia “lấy hiếu cai trị thiên hạ”, “lấy hiếu thương yêu cha mẹ” dẫn đến “kính trọng bề trên”, tuy về căn bản không thể thủ tiêu đối lập giai cấp, nhưng không mất phương hướng, khéo léo hòa hoãn mâu thuẫn xã hội, được giai cấp thống trị từng triều đại dung nạp. Nhưng điều không thể phủ nhận là, biến đạo hiếu phạm trù luân lý vốn là qui phạm huyết thống gia đình thành triết học chính trị của nhà nước, đem quan hệ lợi ích huyết thống nói rộng ra thành quan hệ nhân luân cha con anh em. Một mặt che đậy thực chất nhà nước giai cấp, mặt khác bẻ cong ý nghĩa của bản thân đạo hiếu. Chẳng hạn, ở xã hội phong kiến hậu kỳ đã luận chứng suy diễn “vua thiên hạ cũng là cha thiên hạ”, và cuối cùng đưa ra kết luận vô cùng tàn khốc “quân sử thần tử, thần bất tử bất trung” - (Vua bắt bề tôi chết, bề tôi phải chết, bề tôi không chết là bất trung). Thực chất tinh thần ấy đã phản lại nguyên tắc đạo hiếu của Nho gia. Điều này không thể tồn tại trong dân chúng Việt Nam. Nhất là đối với những người trong giai cấp bình dân, họ chỉ tiếp thu và thực hiện đạo hiếu là nuôi dưỡng cha mẹ. “Dụng thiên chi đạo, phân địa chi lợi, cẩn thận tiết dụng, dĩ dưỡng phụ mẫu, thử thứ nhân chi hiếu dã” (Hiếu kinh, chương Thứ nhân) - (Dùng đạo của trời, phân chia lợi của đất, giữ gìn thân thể tiết kiệm chi dùng để nuôi dưỡng cha mẹ, đó là hiếu của người bình thường). Dưới thời phong kiến họ có thể không tận trung với nước, nhưng không thể không tận hiếu với cha mẹ. Tuy họ không có điều kiện đọc sách thánh hiền, nhưng trong lòng họ thấm sâu những lời truyền tụng của các nhà Nho, trong cách ứng xử và nuôi dưỡng cha mẹ. Như “Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ” (Luận ngữ, Học nhi) - (Con em đi vào (về nhà) thì hiếu, đi ra (ra ngoài) thì nhường nhịn), “Sự phụ mẫu năng kiệt kì lực” (Luận ngữ, Học nhi) - (Phụng thờ cha mẹ phải hết sức mình). Họ hết lòng hết sức tích cực lao động, khiến cho cha mẹ sống tốt đẹp. Và họ lo lắng đến sức khỏe tuổi tác của cha mẹ, như Khổng Tử đã nói: “Phụ mẫu chi niên, bất khả bất tri dã. Nhất tắc dĩ hĩ, nhất tắc dĩ cụ”. (Luận ngữ, Lý nhân) - (Tuổi tác của cha mẹ không thể không biết. Một là để vui mừng, hai là để lo lắng).

Con cái từng giờ từng phút quan tâm đến sức khỏe cha mẹ, một mặt vui mừng vì sự sống lâu của cha mẹ, một mặt lo lắng vì tuổi cao sức yếu của cha mẹ. “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương”. (Luận ngữ, Vi chính) - (Cha mẹ còn sống, không đi chơi xa, đi chơi ắt phải cho biết phương hướng). Ngoài các nghĩa vụ phải hết lòng hiếu dưỡng cha mẹ, điều quan trọng là phải có lòng kính yêu cha mẹ. Cho nên khi Tử Du hỏi về điều hiếu, Khổng Tử trả lời: “Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng. Chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng. Bất kính, hà dĩ biệt hồ?” (Luận ngữ, Vi chính) - (Điều ngày nay gọi là hiếu, chỉ là nói có thể nuôi dưỡng cha mẹ. Đến như chó ngựa đều có thể được nuôi dưỡng; nuôi dưỡng cha mẹ mà không cung kính thì có khác gì chó ngựa?) Con người khác động vật, quan trọng nhất là ở chỗ có tư tưởng, có tình cảm, người con có hiếu nuôi dưỡng cha mẹ phải chí tình chí hiếu cung kính hết mực, nét mặt hòa vui.

Mạnh Tử bậc Á thánh của Nho gia đã thuyết minh tỉ mỷ rõ ràng về quy phạm hành vi đạo hiếu. Mạnh Tử nói: “Thế tục gọi là bất hiếu có 5 điều: tay chân lười nhác (không làm việc), không đoái hoài đến việc nuôi dưỡng cha mẹ, đó là điều bất hiếu thứ nhất. Đánh bạc, đánh cờ, ham uống rượu không đoái hoài đến việc nuôi dưỡng cha mẹ, đó là điều bất hiếu thứ hai. Ham mê của cải, chỉ lo vợ con thôi, không đoái hoài đến việc nuôi dưỡng cha mẹ, đó là điều bất hiếu thứ ba. Theo lòng ham muốn của tai mắt mình, để cho cha mẹ phải tủi hổ, đó là điều bất hiếu thứ tư. Thích những việc dũng lực và đấu tranh bạo nghịch để cho cha mẹ nguy khốn, đó là điều bất hiếu thứ năm”. (Mạnh Tử, Vạn chương thượng). Không phải chỉ nuôi dưỡng cha mẹ, mà còn phải tôn kính cha mẹ. Sự tôn kính này, cần phải kính yêu ngưỡng mộ từ trong đáy lòng. Mạnh Tử nói: “Đại hiếu chung thân mộ phụ mẫu, ngũ thập nhi mộ giả, dư ư đại Thuấn kiến chi hĩ”. (Mạnh Tử, Vạn chương thượng) - (Bậc đại hiếu suốt đời lúc nào cũng ngưỡng mộ cha mẹ, đến 50 tuổi vẫn ngưỡng mộ cha mẹ, ta chỉ thấy gương ấy ở vua Thuấn).

Hiếu với cha mẹ còn phải giữ lễ. Sách Lễ ký ra đời vào thời hậu kỳ Chiến Quốc, trình bày đầy đủ các nghi lễ thông dụng của xã hội tông pháp Trung Quốc. Sách Lễ ký, Tế Thống nói: “Thị cố hữu tử sự thân hữu tam sự, sinh tắc dưỡng, một tắc tang, tang tất tắc tế” - (Ấy cho nên người con có hiếu phụng thờ cha mẹ có ba điều: cha mẹ còn sống thì nuôi dưỡng, cha mẹ chết thì lo tang ma, tang ma xong thì phải cúng tế).

Lễ ký, nhiều thiên thuyết minh rõ ràng tường tận về việc người con có hiếu trong sinh hoạt thường ngày nên hết lòng lễ nghĩa cha mẹ. Trong cuộc sống chiếu cố cha mẹ từng việc nhỏ nhất, như: “Lễ của người làm con: mùa đông làm cho ấm, mùa hạ làm cho mát, tối thăm sớm viếng cha mẹ, không tranh giành làm việc xấu.”, “là người con, khi ra phải báo, khi về phải thưa...” (Lễ ký, Khúc lễ thượng).

Ngoài việc cúng tế tổ tiên, tưởng nhớ tổ tiên, điều quan trọng nhất là kế thừa sự nghiệp khai sáng của tổ tiên. Sách Trung dung nói: “Phù hiếu giả, thiện kế nhân chi chí, thiện thuật nhân chi sự dã... sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí dã” - (Người có hiếu giỏi kế thừa chí nguyện của cha ông, giỏi noi theo sự nghiệp của ông cha... Thờ người chết như thờ người sống; trọng người đã qua đời như trọng người hiện còn, là con người rất có hiếu).

Những điều trình bày trên, đề cập đến từng mặt của cuộc sống gia đình, làm cơ sở đạo hiếu đi sâu vào mỗi một góc độ của xã hội.

Hiếu dưỡng cha mẹ điều then chốt là làm cho cha mẹ về mặt tinh thần cảm thấy sung sướng vui vẻ, nhân cách được tôn trọng./.

L.V.Q

TB

CÔN SƠN - MIỀN ẨN CƯ TRONG THƠ NGUYỄN TRÃI

TRẦN THỊ BĂNG THANH

1. Côn Sơn, miền đất thiêng và sự lựa chọn của Trần Nguyên Đán

Trong Lịch triều hiến chương loại chí, ở phần ghi chép về huyện Chí Linh, Phan Huy Chú có đoạn viết: “Trong huyện có nhiều núi đẹp, cảnh lạ như Côn Sơn, cảnh vật thanh vắng âm u, là nơi Băng Hồ người đời Trần về hưu trí ở đấy, núi hang rất đẹp”. Về Côn Sơn, Phan Huy Chú lại ghi: “Côn Sơn ở xã Chi Ngại, trước thuộc về huyện Phượng Nhãn, trấn Kinh Bắc, hình như con Kỳ Lân. Trên núi có động Thanh Hư, dưới núi có cầu Thấu Ngọc, cây và đá xanh um thật là cảnh đẹp ở nhân gian. Về triều Trần, sư Pháp Loa làm nhà tu ở đấy; sư Huyền Quang cũng thường tu ở núi này. Đến cuối Trần, Băng Hồ về hưu, khi uống rượu, khi ngâm thơ ung dung thích ý...”(1). Huyền Quang đã được Trần Minh Tông coi là “Bậc thầy lớn ở Côn Sơn, vì ta làm ruộng phúc” (Côn Sơn đại đạo sư, vị ngã tác phúc điền - Tặng Huyền Quang tôn giả )(2). Côn Sơn cùng với núi Phượng Hoàng là hai cảnh đẹp của Chí Linh. Phượng Hoàng đã được Chu Văn An chọn làm nơi ở ẩn, trong sách vở, Phượng Hoàng đã thành ngọn núi huyền thoại: “Lưng núi có chùa Lệ Kỳ. Đầu đời Trần có đạo sĩ là Huyền Vân ẩn ở đấy, luyện thuốc tiên nên gọi là động Huyền Vân” ( Lịch triều hiến chương loại chí)(3). Về sau trong văn học trung đại, núi Phượng Hoàng đã trở thành một miền đất bí ẩn, có các đạo sĩ đi về và đôi khi những người có đạo duyên đã may mắn được lạc tới. Thế nhưng Côn Sơn thì khác, trước sau vẫn là một danh thắng có thực và sau sự lựa chọn của Trần Nguyên Đán, quả núi này đã trở nên nổi tiếng, trở thành nơi ở ẩn của một bậc trí giả, “tỏ rõ sự sáng suốt giữ mình”(4). Côn Sơn từ một khu đất hoang đã được sắp đặt, xây cất để làm ngôi nhà nghỉ cho quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Với con mắt nghệ sĩ của ông, sự hỗ trợ của hai vua Nghệ Tông và Duệ Tông nhà Trần, chỉ chưa đầy một tháng bằng sức lực “muôn người xúm lại, phạt bụi san đồi, thế là suối nguồn được gạn trong, cỏ rác được dọn sạch, phu thợ đủ các nghề, xây đắp không nghỉ”(5), một khu Thanh Hư động, các nơi nghỉ ngơi, chơi ngắm đều có tên riêng, đẹp đẽ lạ kỳ, “đứng xa thấy một màu xanh, khu động vây bọc”(6) đã hình thành. Thanh Hư động đã trở thành một khu ẩn cư sang trọng, nhiều mầu sắc vương giả nhưng vẫn có đủ cảnh đẹp tự nhiên cỏ rừng hoa suối, “mọi hình trạng trong mát, tiếng vi vu, xa xa mà không vẳng không, sâu thẳm mà lặng lẽ”(7) đủ cho người ngắm cảnh cảm nhận được “như đã hòa với bầu trời mênh mông mà vui chơi ngoài cõi vật”(8), cũng khiến cho người bỏ triều đình ra đi có được cảm giác thỏa mãn trong lòng. Tiểu sử về Nguyễn Trãi các sách đều ghi thuở ấu thơ Nguyễn Trãi đã được theo ông ngoại về sống ở sơn trại này. Thời gian cũng ngắn ngủi, Nguyễn Trãi sinh năm 1380, năm 1385 Trần Nguyên Đán mới về Côn Sơn, mà năm 1390 ông đã mất. Nguyễn Trãi cũng dời Côn Sơn từ đó. Về sau, khi làm quan với nhà Hồ, khi luân lạc tìm đường cứu nước dưới thời thuộc Minh, dường như Nguyễn Trãi ít có dịp về Côn Sơn. Thơ văn làm trong thời gian này, một đôi lần ông “ngẫu nhiên” nhắc tới chốn cũ. Nhưng dù thế nào thì Côn Sơn - miền đất tuổi thơ luôn luôn vẫn là “nơi ước hẹn”, vẫn chiếm một vị trí đặc biệt trong tình cảm, trong tâm hồn thơ ông.

2. Côn Sơn - miền đất hoài niệm trong hồn thơ Ức Trai

Nguyễn Trãi có gần 350 bài thơ, trong đó thơ chữ Hán, kể cả phần tồn nghi, có 105 bài, số thơ viết về Côn Sơn chừng hơn chục bài(9). Ở đó bao giờ cũng thể hiện một tình cảm gia đình sâu nặng, gắn bó và hầu như trĩu nặng những ưu tư, những ước muốn khó thành. Chỉ có một lần Giấc mơ trong núi (Mộng sơn trung) đem đến cảm giác trong trẻo:

“Thanh Hư động lý trúc thiên can,
Phi bộc phi phi lạc kính hàn.
Tạc dạ nguyệt minh thiên tự thủy,
Mộng ky hoang hạc thướng tiên đàn”.
(Trong Thanh Hư động trúc muôn ngàn,
Nước đổ gương rơi lạnh suối tràn.
Đêm trước trăng trong, trời tựa nước,
Hạc vàng mơ cưỡi lên tiên đàn).

Lần sau đó là một ý nghĩ “ngẫu nhiên”, thể hiện một mong muốn:

“Thế thượng hoàng lương nhất mộng dư,
Giác lai vạn sự tổng thành hư.
Như kim chỉ ái sơn trung trú,
Kết ốc hoa biên độc cựu thư”.
(Ngẫu thành)

(Cuộc thế mơ hồ, giấc mộng dư,
Tỉnh ra, muôn việc thảy không hư.
Như nay chỉ muốn vào trong núi,
Nhà dựng bên hoa đọc sách xưa).

Mong muốn này trở nên da diết hơn khi ông có dịp trở về Côn Sơn sau buổi loạn ly. Có hai bài được đặt cạnh nhau trong Ức Trai thi tập đều nói về tâm trạng của Nguyễn Trãi khi trở lại Côn Sơn mà ông coi là quê nhà. Bài trước là tâm trạng khi đã về đến “gia sơn”:

“Nhất biệt gia sơn kháp thập niên,
Quy lai tùng cúc bán tiêu nhiên.
Lâm tuyền hữu ước na kham phụ,
Trần thổ đê đầu chỉ tự liên.
Hương lý tài qua như mộng đáo,
Can qua vị tức hạnh thân tuyền.
Hà thời kết ốc vân phong hạ,
Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên”.
(Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác)

(Núi quê từ giã mười năm trọn,
Tùng cúc nay về nửa xác xơ.
Trót hẹn núi rừng đâu nỡ phụ,
Cúi đầu cát bụi chỉ thương ta.
Xóm làng rảo bước như trong mộng,
Thân hãy còn binh lửa chửa qua.
Mây núi bao giờ nhà dựng được,
Đá êm gối ngủ, suối pha trà).
(Sau loạn về Côn Sơn cảm tác - Huy Cận dịch)

Còn bài sau biểu hiện nỗi trăn trở của ông trên suốt dọc đường đi thuyền trở về:

“Thập niên phiêu chuyển thán bồng bình,
Quy tứ dao dao nhật tự tinh.
Kỷ thác mộng hồn tầm cố lý,
Không tương huyết lệ tẩy tiên quynh.
Binh dư cân phủ ta nan cấm,
Khách lý giang sơn chỉ thử tình.
Uất uất thốn hoài vô nại xứ,
Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh”.
(Quy Côn Sơn chu trung tác)

(Mười năm phiêu dạt cỏ bình bồng,
Lòng nhớ nhà như cờ gió rung.
Thác mộng cố hương đà mấy dạo,
Rửa mồ tiên tổ lệ tuôn dòng.
Búa rìu thời loạn mong sao thoát,
Đất khách tình này gửi núi sông.
U uất nỗi niềm khôn giãi tỏ,
Song thuyền trở gối đến hừng đông).
(Về Côn Sơn làm trong thuyền)

Hai bài thơ cho chúng ta một vài dữ kiện rất đáng chú ý, đó là con số mười năm sau loạn. Rất có thể hai bài thơ này được làm trong cùng một chuyến trở về (Côn Sơn). Nguyễn Trãi xa Côn Sơn, phiêu dạt mười năm vì loạn. Ông trở về vì nỗi nhớ cố hương không nguôi nhưng trong cảm giác không được an toàn - cảm giác này không thấy xuất hiện trong thời điểm Bình Ngô đại cáo, Hạ quy Lam Sơn. Loạn yên rồi, tấm thân may được thoát, nhưng “sau cơn binh lửa khó ngăn nạn búa rìu”, chỉ có thể “đem huyết lệ rửa mồ tiên tổ” và “cúi đầu tự thương mình”. Lâu nay các nhà nghiên cứu, kể cả bài viết gần đây nhất của nhà nghiên cứu người Mỹ O.W.Wolters đăng trên Tạp chí Văn học số 10 - 2002, vẫn cho tất cả các chữ “loạn” trong Ức Trai thi tập đều nói về cuộc xâm lược của nhà Minh. Theo chúng tôi thì không hoàn toàn như thế. Chữ “loạn” trong Loạn hậu cảm tác thì đúng như vậy, nhưng ở đây, chữ “loạn” Nguyễn Trãi nói về cuộc “tiếm đoạt” của Hồ Quy Ly. (Chúng tôi xin trở lại kỹ vấn đề này vào một dịp khác). Các tài liệu ghi chép về Côn Sơn đều cho biết Trần Nguyên Đán đã xây dựng Thanh Hư động rất tráng lệ. Trên có động, dưới có cầu, cảnh tự nhiên xinh đẹp tươi duyên đến “đáng vốc, đáng nuốt” thế mà bây giờ quá nửa tùng cúc đã tiêu điều. Nguyễn Trãi không nói cụ thể về sơn trang của ông ngoại mình nhưng cái nhìn tổng quát “vườn cũ nửa phần đã tiêu sơ” và cái cảm giác “xóm làng vừa đi qua, tưởng như trong giấc chiêm bao” cũng đủ gợi nên ý tưởng: Côn Sơn, Thanh Hư động qua loạn lạc đã thay đổi quá nhiều. Và người trở về chỉ còn một mong ước nhưng cũng rất khó thực hiện, đó là được làm một kẻ ẩn dật sống trong ngôi nhà nhỏ bên núi mây, uống nước suối pha trà và gối đầu lên đá mà ngủ. Cả tâm trạng này nữa cũng chưa thể là tâm trạng một người đang giữ chức vụ quan trọng trong Khu mật viện của triều đình nhà Lê vừa khôi phục đất nước. Vậy thì phải chăng đây là chuyến trở về của Nguyễn Trãi sau khi nhà Hồ đã hạ bệ xong nhà Trần, đã lập nên nhà Đại Ngu. Cuộc lật đổ chính quyền đã thực hiện xong nhưng chưa hẳn không còn những cuộc thanh trừng khốc liệt! Vì thế Nguyễn Trãi mang tâm trạng u uất, thấp thỏm khi trở về nơi ông coi là “làng cũ - cố lý” sau loạn nhưng cũng là nơi có dinh cơ cũ của một tông thất nhà Trần, một triều đại vừa bị thay thế mà ông dù sao cũng có liên hệ huyết thống ít nhiều. Ước đoán này có phần thêm chắc chắn nhờ ở con số “mười năm” mà chúng tôi đã nêu. Như các tài liệu khác đã cho biết, Nguyễn Trãi dời Côn Sơn sau khi ông ngoại tạ thế, năm 1390, mười năm sau chính là năm 1400, Quý Ly lên ngôi vua khởi nghiệp họ Hồ, hoàn tất quá trình đổi thay triều đại. Thêm nữa những tứ thơ trong hai bài này còn phảng phất thấy ở bài Ký cữu Dịch Trai Trần công:

“Bình dư thân thích bán ly tinh,
Vạn tử thân tàn ngẫu nhất sinh.
Vãng sự không thành Hòe quốc mộng,
Biệt hoài thùy tả Vị Dương tình.
Bất lai tự nghĩ tòng Vương Thức,
Tỵ loạn chung đương học Quản Ninh.
Dục vấn tương tư sầu biệt xứ,
Cô trai phong vũ dạ tam canh”.

(Loạn rồi thân thích nửa điêu linh,
Vạn tử thân tàn được nhất sinh.
Hòe Quốc luống thành cơn ảo mộng,
Vị Dương khôn tả mối thâm tình.
Chẳng theo, tự ví cùng Vương Thức(10)
Tránh loạn, âu đành học Quản Ninh(11)
Hỏi chốn tương tư sầu cách biệt,
Thư phòng mưa gió suốt ba canh).
(Gửi cậu là Trần Dịch Trai - Phan Võ và Lê Thước dịch).

Những bài thơ trên có thể cho thấy tình cảm của Nguyễn Trãi đối với nhà Trần gắn bó sâu nặng đến nhường nào. Và phải chăng cũng chính vì từ sự trải nghiệm của bản thân, từ những điều trông thấy mà sau này khi đã trở thành một nhà chiến lược, một anh hùng cứu nước dưới ngọn cờ của Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã rất thẳng thắn phê phán nhà Hồ mặc dù ông chấp nhận nhà Hồ và coi Hồ Quý Ly là anh hùng trong thiên hạ. Người đọc ngày nay có thể không coi những điều ông viết trong Bình Ngô đại cáo về nhà Hồ thực sự là nhận định của ông, bởi đó là văn kiện chính thức, công bố quan điểm của triều đại mới, nhưng trong Băng Hồ di sự lục, một ghi chép cho riêng mình Nguyễn Trãi cũng vẫn phê phán sự thoán đoạt của Hồ Quý Ly:

“Công tuy thân gửi suối rừng, mà chí thì ở tông xã, tấm lòng ưu ái chưa từng một ngày quên. Hoặc đi hoặc ở, khi động khi tĩnh, đều là có ý can gián. Rút cục Nghệ Tông đều không xét đến. Do đó uy thế nhà Hồ uy thế càng thịnh, kẻ xu phụ ngày càng nhiều, thế nước ngày càng suy, không làm sao được nữa, cái chí lui về hưu của công mới quyết. Đến cuối cùng, ốm mà không uống thuốc, con cháu có người khuyên thì công nói: “Thời sự như thế, ta được chết là may rồi, sao còn sống để thấy họa loạn”. “Công mất chưa được bao lâu, thì họ Hồ quả cướp nước, giết hại con cháu họ Trần không sót... Công con trai con gái có mười một người, sau cuộc binh đao ít người còn sống”. (Văn Tân dịch).

Như vậy có thể hiểu câu thơ “tùng cúc bán tiêu nhiên” trong bài Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác không hoàn toàn chỉ nói về cây cỏ trong vườn ! Song dù trải bao thăng trầm hiểm nguy. Nguyễn Trãi vẫn mơ ước trở về Côn Sơn. Ông coi đó như một lời hẹn, cả sau này dẫu đang ở vị trí quan cao lộc trọng trong triều nhà Lê thì ông vẫn không thôi dự định:

“Minh triêu Linh phố hoàn phi tích,
Hà nhật Côn Sơn cộng thính tuyền.
Lão khứ cuồng ngôn hưu quái ngã,
Lâm kỳ ngã diệc thượng thừa Thiền”.
(Tống tăng Đạo Khiêm quy sơn)

(Sáng mai gậy nhà sư lại bay về bến Chí Linh,
Ngày nào mới được cùng nhau nghe tiếng suối ở Côn Sơn,
Về già, hay nói ngông, ông đừng cười,
Đến ngả rẽ tôi cũng theo đạo Thiền).
(Tiễn sư Đạo Khiêm về núi)

Và trong khi còn chưa tới “ngả rẽ”, để vợi bớt tâm tư, Nguyễn Trãi đã “mượn người vẽ tranh Côn Sơn”, để treo:

“Bán sinh khâu hác phế đăng lâm,
Loạn hậu gia hương phí mộng tầm.
Thạch bạn tùng phong cô thắng thưởng,
Giản biên mai ảnh phụ thanh ngâm.
Yên hà lãnh lạc trường kham đoạn,
Viên hạc tiêu điều ý phỉ câm.
Bằng trượng nhân gian cao họa thủ,
Bút đoan tả xuất nhất ban tâm”.

(Nửa đời bỏ phí thú rừng xưa,
Sau loạn, hồn quê uổng đợi chờ.
Vách đá tùng reo, đâu khách nhạc,
Bờ khe mai đứng, thiếu người thơ.
Khói mây quạnh quẽ, bao đau xót,
Vượn hạc tiêu điều, luống ngẩn ngơ.
Muốn cậy trên đời tay vẽ giỏi,
Vẽ giùm ta cả khối tâm tư.)
(Khất nhân họa Côn Sơn đồ - Ngô Linh Ngọc dịch)

Ý nghĩa và tình cảm của việc làm này, Nguyễn Trãi cũng ghi rõ trong Băng Hồ di sự lục: “Cũng định dựng lại nhà ở dưới núi Côn Sơn để tứ thời cúng tế mà chí chưa được thỏa. Nhân mượn thợ vẽ tranh, góp chuyện cũ chép ở sau, cất ở nhà để tỏ ý không quên, ngõ hầu cũng được gần với tấm lòng của Đào Công, Tô Công và Văn Công vậy”.(12)

Như vậy, Côn Sơn luôn luôn là một niềm hoài niệm đằm thắm trong hồn thơ Nguyễn Trãi. Dù khi vui, khi buồn, khi vinh hoa hay luân lạc, Côn Sơn chưa bao giờ thôi là một điểm dừng nghỉ mơ ước của Nguyễn Trãi.

3. Côn Sơn, miền ẩn cư lý tưởng

Nguyễn Trãi thuộc hàng khai quốc công thần nhà Lê, nhưng chỉ sau ngày toàn thắng ba năm ông đã bị bắt giam vào ngục. Thời gian bị giam không lâu nhưng sau đó ông cũng không thật được trọng dụng. Các chuyên gia về Nguyễn Trãi cho rằng sau khi nước nhà giành được độc lập, nhà Lê không thực hiện được lý tưởng nhân nghĩa trong việc trị quốc an dân. Nguyễn Trãi thất vọng có ý muốn xin về nghỉ. Nhưng điều đó có thật nhất quán trong tư tưởng của ông, một người luôn luôn đặt trách nhiệm kinh bang tế thế lên trên tất cả và ông thực sự được nghỉ vào năm nào thì cũng chưa thật rõ. Nhưng tháng mười một năm 1437 (Đinh Tỵ)(13), còn ghi việc ông cùng Đào Công Soạn, Nguyễn Truyền, Nguyễn Văn Huyến, Nguyễn Liễu dâng sớ bàn cãi về thể lệ áo mũ triều phục do Lương Đăng vâng mệnh quy định. Sau đó, các năm 1438, 1439, 1440, 1441 đều không thấy ghi gì về Nguyễn Trãi, mãi đến năm 1442 (Nhâm Tuất) mới ghi về vụ án Lệ Chi viên, ông bị tội tru di. May mắn là trong Ức Trai di tập có ghi được tờ biểu của Nguyễn Trãi khi ông được phục hồi và trao chức Gián nghị đại phu kiêm Tri tam quán sự. Bài biểu không đề năm tháng, nhưng trong có câu: “Cúi nghĩ: Sáu chục tuổi thân tàn, chức vụ đã yên phận mọn; chín trùng trời xuống chiếu, móc mưa lại đội ân trên”. Theo cách tính tuổi ngày xưa suy ra thì năm Nguyễn Trãi viết bài biểu này là 1439. Lúc này trong chức vụ của ông có một phần liên quan đến Côn Sơn, đó là chức Đề cử Côn Sơn Tư Phúc Tự Á đại trí tự. Như vậy nếu Nguyễn Trãi được nghỉ hưu về Côn Sơn thì cũng chỉ trong thời gian rất ngắn, khoảng 1438-1439. Đào Duy Anh cho là chỉ vài tháng. Tuy nhiên cụ Đào còn đưa ra một dự đoán khác: Trong thời Lê Thái Tổ và cả Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi đều có thời gian ngắn được về Côn Sơn, thậm chí còn được giao trông coi chùa Tư Phúc bên cạnh việc đặc trách trông coi hai đạo Đông và Bắc. Ý kiến này cũng là một gợi ý có thể suy nghĩ, vì trong Quốc âm thi tập có bài thơ Nguyễn Trãi để lộ một cảm nghĩ: cuộc đời đầy bất trắc, được lúc nào ghé qua nhà thì chớ nên để lỡ:

“Trùng dương mấy phát khách thiên nha,
Kịp phen này được đỗ nhà.
Túi đã không tiền khôn chác rượu,
Vườn tuy có cúc chửa đâm hoa.
Phong sương đã bén biên thi khách,
Tang tử còn thương tiếc cố gia.
Ngày khác hay đâu còn việc khác,
Tiết lành mựa nỡ để cho qua”.
(Quy Côn Sơn trùng cửu ngẫu tác)

Song có lẽ chỉ sau ngày được nghỉ quan, Nguyễn Trãi mới thực sự được thỏa chí. Ông về Côn Sơn trong tâm trạng hòa đồng với thiên nhiên, trở thành một “phần” của tự nhiên. Bài Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi ra đời trong thời điểm này. Ở đây Côn Sơn không còn được nhìn với tư cách một “cố lý” tiêu điều hay một trang trại lộng lẫy, tư dinh quan Tư đồ mà là một vùng thiên nhiên trong suốt và tươi sáng, tươi sáng nhất trong thiên nhiên thơ Nguyễn Trãi. Côn Sơn chưa từng bao giờ được miêu tả đẹp đến thế. Côn Sơn có suối, có đá, có rêu, có thông, có trúc, tất cả đều tràn trề sức sống và thanh tân, trong đó chủ thể con người - được sống hòa đồng, thích chí và tự do:

“Côn Sơn hữu tuyền,
Kỳ thanh linh linh nhiên,
Ngỗ dĩ vi cầm huyền.
Côn Sơn hữu thạch,
Vũ tẩy đài phô bích,
Ngô dĩ vi đạm tịch.
Nham trung hữu tùng,
Vạn cái thúy đồng đồng,
Ngô ư thị hồ yển tức kỳ trung.
Lâm trung hữu trúc,
Thiên mẫu ấn hàn lục,
Ngô ư thị hồ ngâm khiếu kỳ trắc”.

(Côn Sơn có suối,
Tiếng nước chảy rì rầm,
Ta coi làm đàn cầm.
Côn Sơn có đá,
Mưa dội rêu phô xám,
Ta coi làm chiếu thảm.
Trên đèo có thông,
Muôn dặm biếc mông lung,
Ta thảnh thơi nằm nghỉ bên trong.
Giữa rừng có trúc,
Nghìn mẫu xanh chen chúc,
Ta đủng đỉnh ca ngâm dưới gốc).

Với Nguyễn Trãi bây giờ Côn Sơn không chỉ đẹp, thanh nhã mà còn trải rộng, hoành tráng, ông nghỉ ngơi thích ý và thỏa sức hoạt động. Côn Sơn đã thức tỉnh Nguyễn Trãi hay chính Nguyễn Trãi đã tự thức tỉnh sau sự trải nghiệm “Nửa đời lợi danh ràng buộc trong cát bụi” nên đã phát hiện ra vẻ đẹp tinh khiết của Côn Sơn. Dẫu sao thì phần sau của Bài ca Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã trình bày một quan niệm mới của ông về cuộc sống. Ở đây, trong khoảnh khắc này con người chính khách – nhà nho đã lánh mặt, chỉ còn một ẩn sĩ với cái nhìn đạt quan Trang Tử. Người ta ở đời giàu sang mà tham bỉ như Đổng Trác, Thạch Sùng, cùng khốn mà thanh cao như Bá Di, Thúc Tề chẳng qua đều muốn thỏa “sở dục” của mình. Họ, kẻ hiền, người ngu, được khen, bị chê, vinh nhục khác nhau nhưng “Chết rồi hỏi ai vinh ai nhục”. Con người đều bình đẳng khi trở về với cát bụi. Côn Sơn đem đến cho Nguyễn Trãi một sự thanh thản, bình yên. Với Côn Sơn ông hiểu ra một ý nghĩa khác của cuộc sống:

“Muôn chung chín vạc để làm gì ?
Nước lã cơm rau hãy tri túc”.

Và khi đã khẳng định “cuộc sống hôm nay”, một cuộc sống khác xưa, Nguyễn Trãi ắt xem xét, phủ định quá khứ:

“Hỏi ai sao chẳng sớm quay về,
Nửa đời vùi mãi trong lầm đục.
.....
Người sống trong trăm năm,
Khác đâu loài thảo mộc.
Vui buồn sướng khổ đổi thay nhau,
Một tươi một héo thường tiếp tục.
Đồi rậm lầu hoa cũng ngẫu nhiên.
Chết rồi hỏi ai vinh với nhục ?”

Nguyễn Trãi của Côn Sơn ca đã rất khác với Nguyễn Trãi của những ngày “viết thư thảo hịch hơn hết một thời”. Song dường như trong sâu thẳm tâm tư, Nguyễn Trãi vẫn không hề phủ định lý tưởng trí quân trạch dân của ông. Về với Côn Sơn, nhìn cuộc đời bằng cái nhìn đạt quan, cũng chính là một cách tự thấy mình đã trả xong cái nợ nam nhi và có thể cũng còn là sự chấp nhận một thực tế: cuộc đời không cần ông gánh vác nữa. Trong một bài thơ Nôm, Nguyễn Trãi cũng từng bộc bạch quan niệm xử thế đó của mình:

“Say hết tấc lòng hồng hộc,
Hỏi làm chi sự cổ câm (kim)”,
(Quốc âm thi tập - bài 70)

Côn Sơn ca thường gợi nhớ đến Quy khứ lai từ của Đào Tiềm. Hai tác phẩm đều như lời tuyên ngôn về quan niệm sống của hai thi hào, hai nhân cách lớn trong lịch sử. Song nếu như Đào Tiềm đóng cửa “tức giao tuyệt du” với thế tục thì Nguyễn Trãi mở cửa, vẫn chờ đợi tri âm:

“Nhân gian nếu có bọn Sào Do,
Khuyên hãy nghe ta một khúc”.

Rất tiếc Nguyễn Trãi không thực hiện được đến cùng chí ẩn dật của mình. Lê Thái Tông tiếc, trọng tài ông nhưng lại đem lụy đến cho ông. Một lần nữa ông lại dời Côn Sơn nhưng không còn cơ hội trở về và Côn Sơn sau Nguyễn Trãi dường như vẫn chưa tìm được tri âm.

T.T.B.T

CHÚ THÍCH:

(1), (3) Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Bản dịch, tập 1, Nxb. Sử học, H. 1960, tr.105 - 106.

(2) Thơ văn Lý - Trần, Nxb. KHXH, H. 1988, tập 2, quyển Thượng, tr.811.

(4), (5), (6), (7) Nguyễn Phi Khanh (con rể Trần Nguyên Đán, thân phụ Nguyễn Trãi), Thanh Hư động ký, Bản dịch Thơ văn Lý - Trần, Nxb. KHXH, H. 1978, tập 3, tr.497.

(8) Thanh Hư động ký, Bđd.

(9) Tất cả thơ văn Nguyễn Trãi trích trong bài đều theo văn bản Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Nxb. Văn học, H. 2000.

(10) Vương Thức là thày dạy của Xương ấp vương đời Hán. Xương ấp vương được nối ngôi vua, sau bị phế vì hoang dâm, ông cũng bị liên can nhưng không bị bắt tội. Từng được trao chức Bác sĩ nhưng cáo bệnh không nhận.

(11) Quản Ninh là người đời Ngụy thời Tam quốc. Cuối đời Hán ông tránh loạn Hoàng Cân sang Liêu Đông, rất nhiều người đi theo, lập thành ấp sinh sống.

(12) Tức Đào Tiềm, Tô Đông Pha, Chu Hy, ba ông đều có hồi ký về ông ngoại.

(13) Đại Việt sử ký toàn thư, Bản dịch, tập 2, Nxb. KHXH, H. 1995, tr.349.

TB

TÌM HIỂU
LỊCH SỬ VÕ CỬ Ở NƯỚC TA

NGUYỄN THUÝ NGA

Thuật ngữ "khoa cử" đã được biết đến với lịch sử hàng nghìn năm và gắn liền với người đỗ là các Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Tiến sĩ, Hương cống, Cử nhân v.v... Còn "võ cử" với các Tạo sĩ, Võ tiến sĩ, Võ cử nhân v.v. bắt đầu từ bao giờ, có lịch sử phát triển như thế nào, thì dường như chưa được quan tâm đúng mức.

Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu một cách khái quát lịch sử võ cử ở nước ta thời phong kiến, từ khởi thủy đến khi kết thúc.

1. Từ đời Lê sơ về trước:

Sử sách lần đầu tiên ghi năm Thiên Phúc thứ 7 (986) đời Tiền Lê, chọn trong dân, lấy những người trai tráng khoẻ mạnh, biết võ nghệ sung vào quân ngũ. Đời Lý - Trần vẫn theo phép tuyển quân như vậy nhưng biên chế luân phiên, người nào già yếu thì thải về, chọn dân binh khỏe mạnh thay thế.

Đời Lê sơ bắt đầu có lệ khảo thí. Năm Thuận Thiên 2 (1429) sắc cho các quan văn võ trong thiên hạ, từ tứ phẩm trở xuống, văn thì thông kinh sử, võ thì thông võ kinh đến tháng 5 năm sau (1430) tập trung ở Đông Kinh để khảo thí. Quan võ thi võ kinh và pháp lệnh kỳ thư.

Đến đời Lê Thái Tông có lệ khảo xét võ nghệ các tướng hiệu. Phép khảo xét gồm 3 môn: bắn cung, ném lao, lăn khiên để so đọ được thua. Cả 3 môn đều trúng thì cấp lương toàn phần, người nào không trúng sẽ bị giảm. Việc này sau định làm lệ thường.

Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức 9 (1478) định lệ thưởng phạt kỳ thi đô thí (tức kỳ thi võ nghệ ở kinh đô), chỉ thi cung tên, kiếm, mộc để định hơn kém, phép thi chưa được kỹ càng. Năm Hồng Đức 17 (1486) quy định cho cháu trưởng những người tước công, hầu, bá, tử, nam và con trưởng các quan văn quan võ hàng nhị phẩm, tam phẩm, người nào xin học tập võ nghệ thì do viên quan trong Cẩm y vệ luyện tập, hàng ngày đến trường thi võ nghệ ở phía tây kinh thành tập các môn bắn cung tên, phóng lao tay và lăn khiên. Đến cuối mùa đông thì khảo hạch. Học tập 3 năm, viên quan ở Cẩm y vệ khảo thi, nếu thấy đạt yêu cầu thì đưa sang dự thi ở Bộ Binh. Người nào khảo thi đỗ sẽ được bổ vào chức Võ uý.

Xem như vậy có thể biết từ đời Lê sơ trở về trước, việc tuyển lính và thi võ nghệ rất đơn giản, chưa đặt ra các trường học và chưa tổ chức thi theo chương trình.

2. Đời Lê Trung hưng

Đầu đời Lê Trung hưng, hàng năm vẫn theo lệ giảng tập và khảo duyệt như trước. Đến niên hiệu Bảo Thái đời vua Lê Dụ Tông, chúa Trịnh là Hy Tổ Nhân vương Trịnh Cương mới phỏng theo phép nhà Đường, nhà Tống, nhà Thanh ở Trung Quốc thi võ để tuyển chọn nhân tài.

Sự kiện chúa Trịnh Cương cho mở trường võ học vào năm Bảo Thái 2 (1721) và đặt chức quan Giáo thụ dạy con cháu các quan học võ nghệ, võ kinh có thể coi là sự khởi đầu cho việc học và thi võ cử ở nước ta.

Tháng 8 năm đó cho các triều thần bàn thi hành nội dung học và phép thi võ. Lại lệnh cho con cháu công thần và con cháu bầy tôi đều được vào nhà võ học, luyện tập chiến lược trong võ kinh và các môn võ nghệ. Hàng tháng đều có tổ chức thi, gọi là tiểu tập. Mỗi quý thi một kỳ vào tháng giữa của quý đó, gọi là đại tập. Hàng năm, vào mùa thu mùa xuân tập võ nghệ; mùa đông mùa hạ học võ kinh. Qua các kỳ thi trong năm, tức 12 lần tiểu tập và 4 lần đại tập, nếu người nào trúng tuyển sẽ được Giáo thụ trực tiếp giảng dạy đề cử để bổ dụng. Lại mở rộng dạy võ bằng cách thi cưỡi ngựa, bắn cung, giảng dạy thao lược làm cho các võ sĩ ngày càng tinh luyện rồi chọn người có tài mà bổ dụng.

Năm Quý Mão niên hiệu Bảo Thái 4 (1723), tháng 10, bắt đầu bàn định mở khoa thi võ(1), cứ 3 năm mở 1 kỳ như lệ bên văn khoa. Lấy các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu thi Sở cử; các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thi Bác cử. Thi Sở cử là kỳ thi tổ chức ở các trấn, chọn người đỗ cho dự thi ở Kinh. Thi Bác cử là kỳ thi tổ chức ở Kinh đô, những người đỗ Sở cử mới được dự kỳ thi này, và chỉ tổ chức thi một kỳ chứ không chia ra thi Hội và thi Điện như văn cử.

Đối với kỳ thi Sở cử, quy định tất cả các thuộc viên ngoại binh, võ sinh ở các đội Thị nhưng cùng là dân đinh, ai có tài trí mưu lược hơn người và các quân sĩ có học tập võ nghệ đều được dự thi Sở cử. Vào năm có khoa thi, đầu tuần tháng tư năm này, quan bộ Binh khải lên chúa Trịnh, xin chiếu lệ mở khoa thi, chúa chuẩn khải, vào tháng 10 thì thi hành.

Kỳ thi này tổ chức ở nhà Võ học. Chúa Trịnh cho cử một viên quan võ làm Đề điệu, 2 viên Giám thí, 2 viên Giám khảo, 4 viên Phúc khảo, 4 viên Đồng khảo, dùng cả quan võ lẫn quan văn. Quan trường võ cử khoa này cũng chính là quan trường của kỳ thi Hương văn cử. Còn các viên Tuần xước, Thể sát, Thu quyển, Di phong, Soạn hiệu và Tả bảng nhất luật đều theo thể lệ trường thi Hương bên văn, mỗi chức 1 viên. Cử các viên Tá nhị ở các phủ, huyện, châu trong xứ ấy, mà người nào thanh liêm, công bằng mới được tiến cử cho làm. Người nào quê ở trong xứ có trường thi thì không được sung vào làm quan trường.

Khoa này số người dự thi khá đông. Trường nhất thi lược vấn có 572 người, chọn được 188 người tương đối thông thạo về đại nghĩa. Trường nhì thi võ nghệ, gồm 172 người. Lấy 12 người vào hạng tam thắng, 16 người hạng nhị thắng, 17 người hạng nhất thắng, 21 người vào hạng bình phân. Có 6 người vào hạng thiếu 1 điểm nhưng vì thân thể, diện mạo, can đảm, sức lực có phần khá nên được lấy trúng. Lại có 14 người vào hạng nhất thắng nhưng thân thể, diện mạo, sức lực đều bình thường nên không được lấy trúng. Chúa Trịnh Cương ngự ở nhà Võ học, sai quan trường dẫn 62 người được lấy trúng về môn võ nghệ, đều là môn múa siêu đao và lăn khiên vào yết kiến. Ngày hôm sau thi bài văn sách, hỏi 6, 7 câu về phương thức đánh trận, địa hình bày trận và một bài thơ Tu tạo bảo pháp. Về môn thi võ nghệ, tức trường nhì, người nào trúng được làm Sinh viên, quan viên tử, quan viên tôn (con và cháu các quan viên) trúng được làm Biền sinh. Về môn văn sách, tức trường 3, người nào trúng được là Học sinh; quan viên tử, quan viên tôn trúng được làm Biền sinh hợp thức. Những người này chờ đến năm sau vào thi Bác cử.

Đó là kỳ thi Sở cử đầu tiên tổ chức vào đời Lê và cũng là đầu tiên ở nước ta.

Năm sau, Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724), tháng 9 theo bàn định năm trước, chúa Trịnh Cương bắt đầu cho mở trường thi Bác cử. Kỳ thi này diễn ra ở phường Thịnh Quang, nay là phường Thịnh Quang, quận Đống Đa Tp. Hà Nội(2). Năm này là năm mở khoa thi Bác cử đầu tiên nên chúa Trịnh Cương rước vua Lê Dụ Tông đến xét duyệt, còn các khoa sau chúa Trịnh tự quyền khảo xét. Để chuẩn bị cho kỳ thi, các thí viện, khảo viện và nhà cửa ở cả nội trường và ngoại trường đều được xếp đặt đầy đủ. Lại dựng Quan thí lâu (lầu duyệt thi) giống như thể chế điện Giảng Võ.

Kỳ thi Bác cử cũng gồm 3 trường: Trường nhất hỏi 10 câu trong bộ Võ kinh thất thư, trường nhì thi võ nghệ, trường 3 thi văn sách hỏi về thao lược binh gia. Người nào trúng cách được làm Tạo sĩ, được bổ dụng ngang với Tiến sĩ bên văn khoa. Người nào 2 trường đệ nhất đệ nhị võ nghệ tinh thông thành thạo mà trường văn sách không hợp thức thì chọn lấy người trội nhất trong số đó cho đỗ Tạo toát (hoặc còn gọi là Toát thủ), cũng cho bổ dụng ngang người đỗ Tạo sĩ. Các binh trong ngoài kinh đến kỳ thi Bác cử thì cũng cử người đến khảo thí ở sân phủ chúa, tùy tài lĩnh thưởng chứ không được lấy đỗ như các Tạo sĩ(3).

Khoa này lấy bọn Nguyễn Công Tự 11 người đỗ Tạo sĩ xuất thân, ngoài ra thì cho đỗ Tam trường. Đó là 11 Võ tiến sĩ đầu tiên của nước ta. Trong số này, Văn Đình Dận (người thôn Lạc Phố, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), Hoàng Nghĩa Bá (người xã Hoàng Vân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) và Nguyễn Thì Lỵ (người xã Đông Vĩ, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, Tp. Hà Nội) sau đều là các danh tướng một thời.

Từ đó về sau, cứ theo lệ 3 năm mở một khoa thi. Đời vua Lê Dụ Tông mở khoa thi thứ 2 vào năm Bảo Thái 8 (1727). Khoa này lấy đỗ 5 người.

Đến năm Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường, triều thần bàn luận, cho rằng lựa chọn tài "can thành"(4) trước hết phải căn cứ vào kỹ năng và sức mạnh. Những khoa thi trước đây, trường đầu hỏi về nghĩa sách võ kinh để thải bớt những người kém, người có kỹ năng và sức khỏe nhưng chưa thông binh thư tất sẽ bị đánh hỏng. Cũng có khi có người vì nhờ người làm bài mà trúng tuyển. Đến trường thi võ nghệ, mỗi môn thi theo từng hiệp, hai người lấy một người thì thực tế số người tài giỏi ưu tú bị loại mất một nửa, còn số kém cũng có một nửa được lấy đỗ. Do đó bèn theo thể chế thi võ ở đời Thanh bên Trung Quốc mà bàn định lại: Trường nhất thi giương cung múa đao. Trường nhì tham bác phép thi của Trung Quốc và nước ta quy định thi bắn cung, múa kiếm và cưỡi ngựa múa đâu mâu. Về môn bắn cung thì chia ra cưỡi ngựa bắn cung và chạy bộ bắn cung, mỗi thứ một tao. Trường ba thi văn sách, hỏi sơ lược những điều chép trong Võ kinh thất thư để xem học lực, sau đó khảo kỹ về phương pháp mưu lược việc binh để biết tài năng.

Năm Vĩnh Khánh 4 (1732)(5) chúa Trịnh Giang(6) cho rằng các khoa Bác cử lấy đỗ có hạn, có khi bỏ sót mất nhân tài. Bèn theo lệ bên văn cử có khoa Hoành từ để đặt ra khoa Hoành tuyển khảo hạch riêng môn võ nghệ. Phàm các quản binh xuất thân từ chánh phó đội trưởng binh Thị hậu trở lên, các tùy viên thuộc hiệu, các Biền sinh, những người thi Bác cử dự trúng nhị trường đều được ứng thí. Người nào đỗ được bổ dụng. Khoa Hoành tuyển không thấy sử sách ghi phép thi thế nào, thể lệ đỗ ra sao, tổ chức được mấy khoa và bao nhiêu người được lấy đỗ? Nhưng xét khoa Hoành từ(7) của văn khoa thấy sử ghi đặt ra hồi đầu đời Lê sơ, năm Thuận Thiên 4 đời vua Lê Thái Tổ (1431). Hoành từ có nghĩa là lời văn dồi dào, rộng rãi khoáng đạt, tỏ ra có lực học cao sâu. Thi Hoành từ là để chọn người văn hay học rộng, mà cũng chỉ người nào đã đỗ Hương cống, tức đã đỗ thi Hương, vào thi Hội không trúng cách mới được dự thi, cốt là để lấy những danh sĩ bị bỏ sót, do đó mà cất nhắc bổ dụng. Khoa Hoành tuyển đặt ra hẳn cũng là có ý nghĩa như vậy.

Từ đó về sau khoa thi võ được mở đều đặn, nội dung thi không có gì thay đổi. Trong 69 năm, triều Lê Trung hưng đã mở được 19 khoa, lấy đỗ 199 Tạo sĩ (trong đó, có 59 Tạo sĩ xuất thân và 140 Đồng tạo sĩ xuất thân).

Cụ thể như sau:

STT Niên hiệu Số người đỗ
1
2
Bảo Thái 5 (1724)
Bảo Thái 8 (1727)
5
10
3 Vĩnh Khánh 3 (1731) 11
4 Long Đức 2 (1733) 11
5
6
Vĩnh Hựu 2 (1763)
Vĩnh Hựu 5 (1739)
3
5
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
Cảnh Hưng 4 (1743)
Cảnh Hưng 13 (1752)
Cảnh Hưng 15 (1754)
Cảnh Hưng 18 (1757)
Cảnh Hưng 21 (1760)
Cảnh Hưng 24 (1763)
Cảnh Hưng 27 (1766)
Cảnh Hưng 30 (1769)
Cảnh Hưng 33 (1772)
Cảnh Hưng 37 (1766)
Cảnh Hưng 40 (1779)
Cảnh Hưng 42 (1781)
Cảnh Hưng 46 (1763)
5
7
6
16
8
11
7
11
23
21
5
7
28

3. Đời Nguyễn

Năm 1836, vua Minh Mệnh đã ban chỉ dụ cho Bộ Binh chuẩn bị bàn bạc đặt khoa thi võ. Chỉ dụ viết: "Khoa thi võ từ trước đến nay chưa từng được đặt ra(8). Nay có những người giỏi giang nghề võ, dũng cảm, mưu lược, biết võ kinh, phải nên rộng ơn thu nạp để phòng khi dùng đến. Vậy cho sang năm bàn đặt khoa thi võ"(9). Phép thi cũng 3 năm mở một khoa, lấy các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu thi Hương võ và các năm Sửu, Thìn, Mùi, Tuất mở khoa thi Hội võ. Phép thi mỗi khoa cũng có 3 trường: trường nhất thi nhấc vật nặng; trường nhì thi côn, quyền, đao, lăn khiên tay; trường ba thi bắn súng điểu thương. Như vậy thì nội dung thi Hương võ cử đời Nguyễn đã không thi võ kinh, chỉ chú trọng thi các môn võ nghệ. Học vị ban cho người thi đỗ cũng tham chước bên văn khoa mà thay đổi. Năm Minh Mệnh 9 (1828) đổi gọi Hương cống là Cử nhân; Sinh đồ là Tú tài. Vì vậy bên võ cử cũng đổi gọi là Võ cử nhân và Võ tú tài. Thi Hội võ cũng gồm 3 trường và nội dung thi cũng giống thi Hương võ cử nhưng yêu cầu cao hơn: môn nhấc vật nặng phải xách nặng hơn, môn bắn súng cự ly xa hơn.

Lời bàn thì như vậy, nhưng đến năm Thiệu Trị 6 (1846) gặp khánh điển mới đặc cách cho mở ân khoa đầu tiên. Thí sinh ở 31 tỉnh đều phải về kinh dự thi, gọi là khoa thi Võ kinh. Khoa này cho Thái tử thiếu bảo hữu quân đô thống Tân Lộc tử Mai Công Ngôn làm Chủ khảo, quyền Hữu tham tri bộ Binh Hoàng Tế Mỹ làm Phó chủ khảo. Lấy đỗ 51 người là bọn Phạm Đức Sáng, Lê Uy v.v... Những người này gọi là Võ cử nhân. Đó là khoa thi võ đầu tiên của triều Nguyễn tổ chức tại Kinh đô.

Năm Tự Đức 18 (1865) bắt đầu mở khoa thi Võ tiến sĩ. Người nào đỗ cả 3 trường và kỳ thi phúc hạch, đấu côn gỗ đều trúng cả thì được lấy vào hạng trúng cách. Hoặc giả có người nào vốn có học vấn về võ nghệ, tình nguyện thi Đình đều phải khai báo trước. Quan trường lược khảo, hỏi đại nghĩa sách Võ kinh Tứ thư cùng những sách dùng cốt yếu của danh tướng đời trước và việc hiện tại, gồm 5 điều. Người nào văn lý thông đạt thì cho vào thi Đình. Người nào không được điểm hoặc không biết chữ (chỉ thi võ nghệ 3 trường) thì cho đỗ Phó bảng. Các thể lệ về lấy đỗ, ban ân điển, ban yến, cấp ngựa vinh quy thì y lệ như văn đình thí.

Quan trường cũng đặt một chức Chủ khảo, một chức Phó chủ khảo. Lấy Thống chế, quyền Chưởng hữu quân là Tôn Thất Các sung làm Chủ khảo, Hữu thị lang bộ Hình là Nguyễn Oai làm Phó chủ khảo. Năm ấy có 97 người dự thi, lấy đỗ trúng cách 1 người là Võ Văn Đức và thứ trúng cách 7 người. Khi vào thi Đình, sai Đô thống trung quân kiêm Chưởng tiền quân, tả quân là Phạm Phú Thứ sung làm Võ giám thí đại thân. Kết quả cho Võ Văn Đức đỗ Đệ nhị giáp Võ tiến sĩ xuất thân, Võ Văn Lương đỗ Đệ tam giáp Đồng võ tiến sĩ xuất thân và 6 người khác đỗ Võ phó bảng.

Cũng năm này, sau khi thi Hội, vua Tự Đức sai tra trong sử sách Trung Quốc và Việt Nam để tìm danh hiệu ban cho người đỗ cao nhất ngạch thi võ, sao cho thật mật thiết và thanh nhã. Thấy đời Tống Hiến Tông gọi người đỗ đầu là Võ cử cập đệ, còn lại gọi là Võ cử xuất thân. Nhà Thanh thì gọi chung Nhất giáp, Nhị giáp và Tam giáp là Võ tiến sĩ. Ở nước ta, đời Lê gọi chung là Tạo sĩ, năm Minh Mệnh thứ 14 bàn gọi là Võ sĩ, nhưng danh hiệu ấy chưa thật thanh nhã nên cũng tham chước cả học vị thi Đình bên văn khoa mà gọi, nhưng thêm 2 từ Võ sĩ "cho có thanh nhã và phân biệt"(10). Ví như người đỗ Đệ nhất giáp thì gọi là Đệ nhất giáp Võ sĩ cập đệ, Đệ nhị giáp Võ sĩ xuất thân, Đệ tam giáp Đồng võ sĩ xuất thân. Vì vậy, Võ Văn Đức thi Hội đỗ đầu, vào thi Đình cũng đỗ đầu, được ban học vị Võ tiến sĩ đầu tiên của triều Nguyễn, danh hiệu chính thức là: Hội nguyên, Đình nguyên Đệ nhị giáp Võ tiến sĩ xuất thân. Võ Văn Lương, thi Hội thứ trúng cách, thi Đình được ban Đệ tam giáp Đồng võ tiến sĩ xuất thân.

Khoa thi Võ tiến sĩ triều Nguyễn bắt đầu từ đó, và học vị Võ tiến sĩ cũng bắt đầu có từ khoa này. Lại cho dựng bia đề tên người đỗ ở 2 bên tả hữu trước sân Võ miếu(11).

Để khuyến khích và răn đe các học quan, các viên sát hạch võ sinh, năm Tự Đức 26 (1873) quy định lệ thưởng phạt rất nghiêm khắc. Nếu có võ sinh thi đỗ thì Học quan, Quản suất; quan tỉnh, đạo và Thượng ty thống lĩnh đều được nghị thưởng theo mức độ nhiều ít khác nhau. Kỳ thi Hương: cứ 10 võ sinh dự thi mà 2 hoặc 3 người đỗ Võ cử nhân thì Học quan, Quản suất đều được thưởng kỷ lục(12) một thứ; 4 hoặc 5 người đỗ thì Học quan, Quản suất được thưởng kỷ lục 2 thứ. Nếu có học sinh đi thi, môn xách nặng không đi được 2 trượng, cứ 1 người thì Học quan và Quản suất đều bị phạt bổng 1 năm; quan tỉnh, đạo dự sát hạch và Thượng ty thống lĩnh đều bị phạt bổng 9 tháng. Cứ 2 người thì Học quan và Quản suất bị giáng 1 cấp; quan tỉnh hạt và Thượng ty thống lĩnh đều bị phạt bổng 1 năm. Cứ 4 người trở lên thì Học quan và Quảng suất đều bị giáng 2 cấp; quan tỉnh, đạo và Thượng ty đều bị giáng 1 cấp nhưng vẫn cho lưu tại sở làm việc. Kỳ thi Hội, cứ 10 võ cử dự thi có 1 người đỗ Võ tiến sĩ thì học quan, Quản suất được thưởng kỷ lục 2 thứ; cứ 2 đến 3 người đỗ thì gia thưởng 1 cấp, nếu 4 hoặc 5 người đỗ thì gia thưởng 2 cấp v.v...

Căn cứ vào sách Đại Nam thực lục, chúng tôi đã thống kê được các khoa thi võ ở triều Nguyễn như sau:

Thi Hương võ:

1. Ân khoa năm Thiệu Trị 6 (1846) thi tại kinh sư, lấy đỗ 51 Võ cử.

2. Tự Đức 20 (1867), mới mở trường thi tại Hà Nội, Bình Định (không ghi số người đỗ).

3. Tự Đức 21 (1868), mới mở Ân khoa trường Thanh Hóa (không ghi người đỗ).

4. Tự Đức 31 (1878), mở Ân khoa tại 5 trường: Bình Định, Thừa Thiên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Nội. Chỉ ghi số đỗ riêng trường Hà Nội là 27 người

5. Tự Đức 32 (1879), không rõ thi những trường nào, lấy đỗ 120 Võ cử.

Ngoài ra, căn cứ vào 2 tấm bia Võ tiến sĩ ở Huế, chúng tôi thấy trong tiểu sử một số người có ghi đỗ Võ cử nhân vào các năm Tự Đức 8 (Võ Văn Đức), Tự Đức 11 (Phạm Học), Tự Đức 17 (Nguyễn Văn Tứ, Dương Viết Thiệu v.v...) và Tự Đức 21 (Trần Văn Hiển, Lê Văn Trực v.v...).

Như vậy số lần thi Võ hương thí tổng cộng là 8.

Thi Hội võ, tổ chức 7 khoa:

1. Tự Đức 18 (1865), lấy 2 Võ tiến sĩ, 6 Võ phó bảng.

2. Tự Đức 21 (1868), lấy 5 Võ tiến sĩ, 20 Võ phó bảng.

3. Tự Đức 22 (1869), lấy 3 Võ tiến sĩ, 22 Võ phó bảng.

4. Tự Đức 24 (1871) 5 Võ phó bảng.

5. Tự Đức 28 (1875) 13 Võ phó bảng.

6. Tự Đức 32 (1879) 25 Võ phó bảng.

7. Tự Đức 33 (1880) 19 Võ phó bảng.

Trong đó có 5 chính khoa và 2 Ân khoa.

Triều Nguyễn chỉ tổ chức được 3 khoa thi Điện võ (Tự Đức 18, Tự Đức 21 và Tự Đức 22, lý do vì càng về các khoa sau các Võ cử nhân càng ít người biết chữ nên không tổ chức thi văn sách được) và 4 khoa thi Hội (Tự Đức 24, Tự Đức 28, Tự Đức 32 và Tự Đức 33), tất cả lấy đỗ 10 Võ tiến sĩ và 110 Võ phó bảng.

Sau đó, tình hình chiến sự ngày càng căng thẳng, quân Pháp đánh chiếm kinh đô Huế, buộc triều đình nhà Nguyễn phải ký hiệp ước Patenot năm 1884, đồng thời liên tục phản đối triều đình Nguyễn tổ chức thi võ khoa. Vì vậy, dù cho vào năm Kiến Phúc 1 (1884) vẫn bàn định về việc sửa đổi một số nội dung thi Hương võ và Hội võ, nhưng trên thực tế từ năm Tự Đức 33 (1880) các cuộc thi võ không còn được tổ chức, kết thúc sớm hơn văn khoa hơn một thế kỷ.

Như vậy, kể từ khoa thi võ đầu tiên năm Bảo Thái 5 (1742) đến cuối đời Tự Đức (1880), võ cử nước ta đã trải qua chặng đường hơn một thế kỷ rưỡi với hơn 200 người đỗ Tạo sĩ, Tiến sĩ và hơn 100 người đỗ học vị Phó bảng ngạch võ. Một con số quả thật khiêm tốn đối với một dân tộc có tinh thần thượng võ như dân tộc Việt Nam.

N.T.N

CHÚ THÍCH:

(1) Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (viết tắt: Cương mục ) của Quốc sử quán triều Nguyễn và Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi việc này vào năm Bảo Thái 5 (1724), gộp cả kỳ thi Sở cử và Bác cử vào năm này. Thực ra việc bàn mở khoa thi võ và tổ chức thi Sở cử vào năm Bảo Thái 4 (1723), thi Bác cử vào năm sau là năm Bảo Thái 5 (1724).

(2) Theo cụ Trần Văn Giáp thì khoa thi này mở ở Đống Đa, tức là gần chùa Đồng Quang trước đền Trung Liệt ở ấp Thái Hà. Xem Trần Văn Giáp: Lược khảo về khoa cử Việt Nam, từ khởi thủy đến khoa Mậu Ngọ (1918), bài trong sách Nhà sử học Trần Văn Giáp, Nxb. KHXH, H. 1996, tr. 194.

(3) Vì vậy trong một số sách hoặc gia phả có ghi người đỗ Bác cử, không nên hiểu người đó đỗ Tạo sĩ.

(4) Can thành: can là lá chắn, thành là bức tường thành. Người xưa thường dùng từ "can thành" để chỉ người có tài võ nghệ, có sức mạnh, ví như lá chắn để đỡ mũi tên, như tường thành bảo vệ bờ cõi.

(5) Cương mục, Q.37, tờ 28b ghi vào năm thứ 3 (1731).

(6) Trịnh Giang (1709-1761), con cả Trịnh Cương, nối ngôi chúa năm 1729, được tôn làm Thượng sư đại phụ Toàn vương. Sau khi em là Ân đô vương Trịnh Doanh lên thay, được tôn phong làm Thái thượng vương.

(7) Theo Lê Quý Đôn thì khoa Hoành từ cũng gọi là khoa Sĩ vọng. Xem Kiến văn tiểu lục, Phạm Trọng Điềm phiên dịch và chú thích, Nxb. Sử học. H. 1962, tr. 116.

(8) ý nói từ đầu đời Nguyễn đến năm ấy chưa có khoa thi võ.

(9) Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (viết tắt: Hội điển sự lệ) của Quốc sử quán triều Nguyễn. Người dịch: Lê Duy Chưởng, Phạm Huy Giu, Trương Văn Chinh. Nxb Thuận Hóa, 1993, T.10, Q.169, tr.273.

(10) Đại Nam thực lục, Sđd, T.30, tr. 222.

(11) Hai tấm bia này hiện còn tại Võ miếu Huế. Tấm thứ nhất ghi tên 2 người đỗ khoa Tự Đức 18, tấm thứ 2 ghi tên 5 người đỗ khoa Tự Đức 21 và 3 người đỗ khoa Tự Đức 22. Xin xem Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn: Phạm Đức Thành Dũng (Chủ biên). Nxb. Thuận Hóa, Huế 2000.

Nội dung 2 bia đó cũng được chép trong sách Văn Võ miếu nghi chú bi ký, ký hiệu VHv. 279 (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm).

(12) Kỷ lục: ghi vào bản lý lịch để tính thành tích.

TB

TRỊNH CƯƠNG VỚI KHÚC CA
GHI VIỆC ĐI TUẦN TỈNH

LÃ MINH HẰNG

Trịnh Cương ( ? – 1729) là chúa thứ năm dưới thời Lê - Trịnh Ông là người đi nhiều biết nhiều. Bước chân của ông đã in dấu trên các miền đất nước: miền đất Lã Côi, vùng Kinh Sơn, Quyển Sơn, vùng đất Cổ Bồng, Kẽm Trống, đất Dậu Cao, Phao Sơn, Đại Lã, đất Tử Dương, Kiện Khê... Ông cũng đã thăm khá nhiều chùa, như chùa Phả Lại, chùa Nhạn Tháp, chùa Phúc Long, chùa Nguyệt Đường, chùa Quỳnh Lâm, chùa Non Đồng... thăm núi Yên Tử, núi Dục Thúy, hang Các Cứ... Tất cả các địa danh này đều được ghi lại trong tập Lê triều ngự chế quốc âm thi.

Lê triều ngự chế quốc âm thi là tập sách chép tay gồm 36 trang. Sách mang ký hiệu AB.8 của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Trang đầu tập sách được ghi là Tiên triều ngự chế quốc âm khúc ký thi quyển. Nội dung của sách được thể hiện ngay từ dòng chữ đầu này. Đó là tập sách gồm thơ, khúc, ký và được ghi lại bằng chữ Nôm.

Khúc là một thể loại thơ ca dân gian làm theo thể Song thất lục bát. Nói đến thể loại Song thất lục bát, các nhà nghiên cứu thường hay nhắc đến các tác phẩm tiêu biểu như Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào (khoảng cuối thế kỷ XV - đầu thế kỷ XVI), Tứ thời khúc vịnh (khoảng cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII). Sang đến thế kỷ XVII, Song thất lục bát bước vào giai đoạn phát triển thứ hai của mình với sự nở rộ của hàng loạt tác phẩm như Thiên Nam minh giám, Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc... Thế nhưng, trong giới nghiên cứu cũng chưa mấy ai biết đến Tuần tỉnh ký trình khúc, gọi tắt Tuần tỉnh khúc (TTK) của Trịnh Cương.

TTK gồm 37 khổ thơ (một khổ thơ được tính gồm hai câu thất, một câu lục và một câu bát). Xen giữa các khổ thơ là 15 bài thơ bát cú. Cụ thể là: sau câu thất dưới khổ 4 là hai bài thơ vịnh thắng cảnh Bồ Đề; đầu khổ 9 là hai bài thơ vịnh đất Lã Côi; sau câu thất dưới khổ 11 là hai bài Như kinh thi Đáp hoài vọng thi; sau câu thất dưới khổ 13 là bài Nhạn Tháp tự thi; sau câu thất dưới khổ 14 là hai bài Tiên Tích tự thi; hết khổ 16 là bài Phúc Long tự thi; đầu khổ 19 là hai bài Phả Lại tự thi; sau câu thất dưới khổ 24 là bài Hưng Long tự thi; kết thúc khổ 28 là bài Lai Triều Vạn thi; kết thúc khổ 29 là bài Nguyệt Đường tự thi. Vì lý do khuôn khổ bài viết cho phép không đăng toàn văn các bài thơ này.

1. Đôi nét về văn bản

1.1 Hiện tượng mất chữ

Dựa vào các bằng chứng về chữ kiêng húy, có thể thấy đây là sách chép lại vào thời Tự Đức. Không hiểu vì lý do kiêng húy hay một lẽ nào khác mà TTK cũng bị mất một số chữ như:

- Chữ thứ hai câu tám khổ 25. Theo luật thơ, chúng tôi nghĩ chữ này nên đọc theo vần bằng.

- Chữ thứ sáu câu tám khổ 32. Chữ này theo luật thơ thì phải đọc theo vần bằng để hiệp vần với tiếng cuối câu sáu (đọc là mầu). Hơn nữa theo quy luật chuyển đổi trầm bổng thì có lẽ nên đọc theo thanh bổng (thanh ngang) như đâu, mâu, dâu... chẳng hạn.

- Chữ thứ năm câu thất dưới khổ 37. Chữ này theo chúng tôi nên đọc theo vần trắc để có thể hiệp vần với chữ lạc (chữ cuối câu thất trên).

1.2. Hiện tượng ghi địa danh

Đây là một khúc ca ghi việc đi tuần tỉnh ở các địa phương, cho nên địa danh ở mọi miền đất nước được ghi lại ở đây khá nhiều. Để ghi được đúng những địa danh đó đôi khi đã làm cho dòng thơ bị thất luật. Nên chăng có thể chuyển vần cho chúng để dảm bảo niêm luật của dòng thơ. Ví dụ:

- Chữ Tháp trong Nhạn Tháp (được ghi ở câu tám khổ 12) lẽ ra phải đọc thanh bằng lại chuyển sang thanh trắc. Thêm nữa tiếng thứ tư, thứ sáu cũng theo đó mà đảo ngược lại. Như vậy ở câu Nhạn Tháp trông chừng thoắt thoắt tới nơi sẽ có cấu trúc Trắc, Bằng, Trắc, Bằng ( T B T B) chứ không đúng theo luật là B T B B như đáng ra phải có.

- Trong văn bản thấy dùng chữ 鴈 âm Hán Việt là nhạn để ghi địa danh, nhưng để đảm bảo âm luật của dòng thơ đôi khi lại đọc thành nhàn. Ví dụ chữ thứ hai và thứ sáu câu tám khổ 6 nếu đọc nhạn thì theo luật nhị tứ lục phân minh, cấu trúc âm luật trong câu tám này sẽ là: T T T B (Bãi nhạn thớn thớn, triện nhạn thưa thưa). Lúc này luật thơ buộc phải đọc thành thanh bằng: Bãi nhàn thớn thớn, triện nhàn thưa thưa (B T B B). Trái lại những trường hợp khác vẫn giữ nguyên âm nhạn, như trong câu Mừng bốn phương trầm nhạn bặt hơi.

Trong khúc ngâm không phải chỉ có hai câu trên bị thất luật. Ở những trường hợp này để ghi chính xác địa danh dù không muốn, tác giả cũng khó tránh khỏi sai lầm. Những trường hợp khác xin sẽ nói kỹ ở sau.

2. Luật thơ

2.1. Hai câu thất

Theo luật thơ thì tiếng thứ ba câu thất trên phải là thanh trắc, thế nhưng trong bài này nhất luật chuyển thành sang bằng; trong khi đó các tiếng thứ thứ năm và thứ bảy thì vẫn giữ đúng luật. Ở câu thất dưới trái lại không có sự xáo trộn nào cả về thanh điệu. Như vậy, cấu trúc âm luật của hai dòng thất này (tiếng thứ ba, năm và bảy) sẽ lần lượt là các thanh: B B T ( câu thất trên) và B T B (ở câu thất dưới) với tỷ lệ áp đảo là 100%. Luật thơ truyền thống và luật thơ trong TTK thể hiện ở hai câu thất có thể được khái quát như sau:

Bảng 1: Cấu trúc âm luật của hai dòng thất

Tiếng

(1)
Câu thất trên Câu thất dưới

(4)
Luật thơ trong TTK
(2)
Luật thơ truyền thống
(3)
Tiếng thứ ba Bằng Trắc Bằng
Tiếng thứ năm Bằng Bằng Trắc
Tiếng thứ bảy Trắc Trắc Bằng

Trong bảng này, hai câu thất của Song thất lục bát theo luật thơ truyền thống thể hiện ở cột 3 và 4, còn của TTK là ở cột 2 và 3.

Cũng vì lý do đó nên tiếng cuối câu tám ở khổ trên thay vì hiệp vần với tiếng thứ năm thì lại có thể vần với tiếng thứ ba câu thất trên ở khổ sau. Theo khảo sát sơ bộ của chúng tôi thì 33/ 36(I) ( chiếm 91,6%) trường hợp vần với tiếng thứ ba, chỉ có 2/36 trường hợp vần ở tiếng thứ năm. Đặc biệt có trường hợp lại không hiệp vần với tiếng thứ ba mà cũng chẳng hiệp vần với tiếng thứ năm, như trong câu: Hứng thừa ngụ ý thuật chơi câu tài

Tiệc vầy thôi trải Gia Lâm huyện.

Trong câu này hình như lại hiệp vần với tiếng thứ tư của câu thất ở khổ sau. Đây là trường hợp khá hiếm thấy trong lịch sử Song thất lục bát.

2.2. Câu lục - bát

Ở câu lục, 36/37(II) trường hợp dùng theo đúng luật. Duy chỉ có một trường hợp tiếng thứ tư khổ năm không dùng ở vần trắc. Ở câu lục này có cấu trúc tiếng thứ 2, 4, 6 theo thứ tự là B B B. Tuy nhiên, đây lại là trường hợp ghi địa danh nên thiết nghĩ nên xếp vào trường hợp thất luật do ghi địa danh (Xem mục 1.2).

Ở câu tám tình hình lại phức tạp hơn. Ngoài đại đa số theo đúng luật B T B B ra vẫn có 4 trường hợp thất luật. Trong đó có một trường hợp ghi địa danh đã nêu ở trước, hai trường hợp bị mất chữ cũng đã được đề cập đến ở mục 1.1. Sau đây chỉ xin nói rõ hơn về trường hợp: Lục đầu hướng nhiễu ỷ la non nước (câu tám khổ 19). Đây là một câu thật chẳng đúng luật chút nào. Hình như cảm nhận được điều đó, nên trong văn bản đã thấy có dấu ngoắc báo hiệu cho người đọc phải chuyển non nước ® nước non. Như vậy thì mới đảm bảo đúng luật trong câu tám và lại còn có thể hiệp vần với cồn ở câu sau.

Tuy nhiên những trường hợp nêu trên chỉ chiếm tỷ lệ rất ít, nên không làm mất đi những nét chung của khúc ca. TTK là khúc ca mang đầy đủ những đặc trưng của thể loại Song thất lục bát vào giai đoạn đầu của thời kỳ phát triển. Nếu đem so sánh với Tứ thời khúc vịnh (cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII) của Hoàng Sĩ Khải thì thấy rõ những nét tương đồng của chúng:

Trong Tứ thời khúc vịnh, 95% dùng thanh bằng ở tiếng thứ ba dòng thất trên và 83% vần lưng nằm ở tiếng thứ ba (Theo thống kê của Phan Diễm Phương). Ở TTK, tỷ lệ đó lần lượt là 100% và 91,6%. Về âm luật của TTK, trên đại thể có thể khái quát như sau:

Bảng 2: Cấu trúc âm luật trong TTK



Trong bảng này, những ô trắng không ghi chữ là các tiếng tự do có thể dùng thanh bằng trắc tùy ý, mũi tên có hàm ý chỉ luật thơ quy định các tiếng đó phải hiệp vần với nhau.

Sau đây xin giới thiệu toàn văn bài khúc ca để độc giả tham khảo:

TUẦN TỈNH KÝ TRÌNH KHÚC
(Khúc ca ghi việc đi tuần tỉnh)
Giáp Ngọ niên thất nguyệt nhật.
Khổ 1 (*):
Vận trùng quang đương dương đỉnh thịnh(1)
Phủ trị(2) lành quốc chính dân an.
Vạn cơ(3) trong thuở dư nhàn,
Muốn cho phương thổ giang san chu tường(4).
Khổ 2:
Tuân Tiên vương giữ lề tuần tỉnh,
Mặc tiện đường phát chính thi nhân(5),
Dung bình vừa tiết thượng tuần.
Hoàng long muôn đội mới nhân tiến trình,
Khổ 3:
Rất nghiêm minh tín cầm quân chính,
Lừng lẫy ra uy lệnh dậy dan.
Ngang dòng phới phới chèo lan,
Bồ Đề thẳng tới đoàn loan sum vầy.
-----------
(1) Đỉnh thịnh: rất thịnh vượng.
(2) Phủ trị: cai trị, vỗ về.
(3)Vạn cơ: hàng vạn công việc.
(4) Chu tường: đầy đủ.
(5) Phát chính thi nhân: ban hành chính sách nhân đức.
Khổ 4:
Bút thày lay(1) vân vân vài thủ(2),
Dầu thướng tình canh bộ hẹp đâu.
Bồ Đề thắng cảnh thi (2 bài)(**)
Duềnh la giăng bạc phau phau,
Đỉnh đương mấy phát khoan mau dầu lòng,
Khổ 5:
Chợt ngước trông Điêu Diêu quán dịch,
ướm hỏi xem lai lịch dường bao.
Tắt qua nẻo Ngao sông Đào,
Luận công trị thủy xiết sao công trình.
Khổ 6:
Hướng thần kinh triều tông cuộn cuộn,
Vững âu vàng nguyên vốn đặt an,
Châu cơ xá lạ thiên ban,
Bãi nhàn thớn thớn, triện nhàn thưa thưa,
Khổ 7:
Dùng gió đưa tưng bừng dóng dả.
Này bãi thù, kia ngả sông Dâu.
Những màng đón hỏi trước sau,
Nọ duềnh Thiên Đức bởi đâu ngang vào,
Khổ 8:
Gạt hung đào(3) thuận dòng thẳng ruổi,
Đến Yên Thường vừa đội nghỉ ngơi,
Tiểu hoa lâm xã Lã Côi,
Hứng thừa ngụ ý thuật chơi câu tài.
Vịnh Lã Côi thi
Bộ Lã Côi thi
Khổ 9:
Tiệc vầy thôi trải Gia Lâm huyện,
Đỗ bến Lai đường tiện Như Kinh
Thể âu trời ắt hậu đình,
Ngẫm xem thủy thế địa hình lạ bao.
Khổ 10:
Gặp giống nào nền nhân cây đức,
Dõi chung tư dặc dặc(4) ức thiên.
Rày bao công nghiệp dựng nên,
ơn nhuần dân vật hân nhiên phải thời.
Khổ 11:
Một thủ(5) thi ứng tuần gia khánh,
Minh thịnh càng thêm thịnh vĩnh miên.
Như Kinh thi
Đáp hoài vọng thi
Phương đan hồng nhật lộ lên,
Sơ thìn(6) mới mới qua miền chợ Sưa
Khổ 12:
Hỡi bờ lư cõi sang hỏi chúng,
Phải dấu thiêng Phù Đổng đây chăng.
Những mang bàn bạc thốt thăng,
Nhạn Tháp trông chừng thoắt thoắt tới nơi.
Khổ 13:
Thể thanh vui bút bèn mô tả,
Thảnh thơi thay thong thả bước xuân.

Nhạn Tháp tự thi
Ngang sang Tiên Tích gần gần,
Nước non oanh quất nhiều phân hữu tình,
--------
(1) Thày lay: tùy ý, tùy tiện.
(2) Vài thủ: vài bài thơ.
(3) Hung đào: sóng dữ.
(4) Dặc dặc: dằng dặc, dài.
(5) Thủ: Bài (thơ). Một thủ: một bài thơ.
(6) Sơ thìn: mới.
Khổ 14:
Vốn thành danh nẻo xưa lập cực,
Lại ngâm chơi vài bức vân tiên(1).
Tiên Tích tự thi (2 bài)
Lạ thay thú vị kham(2) nhìn,
Tiệc vầy thăng thưởng mời khuyên chưng lừng.
Khổ 15:
Sớm từng từng băng đăng(3) tiến phát,
Cõi Kiều Hồ ngát ngát đồ phong(4).
Han(5) tìm cảnh cũ Phúc Long
Cảnh mầu cảm ứng linh thông tỏ tường.
Khổ 16:
Giữ ấn vàng Phật tiền còn rõ,
Dấu bia xưa trước có mở mang.
Thể càng sẽ chạnh muôn dường.
Nỗi lòng tu tạo thảo hành thi chương(6).

Phúc Long tự thi
Khổ 17:

Sự Huyền Quang Vạn Tư còn tích(7),
Bãi Bình Than vời cách trần ai.
Lạ thay nẻo trước an bài,
Ngước trông mường tượng Thiên Thai cảnh mầu.
Khổ 18:
Ghẽ một bầu danh lam Phả Lại,
Vốn dương dương như tại xưa nay.
Pháp chung(8) tiếng dấy bến mê,
Cậy xuôi dòng bát giang đê ân cần.
Phả Lại tự thi (2 bài)
Khổ 19:
Dấu thành xưa kề gần nơi đó.
áng Phao Sơn rày có chẳng ngoa.
Hòa ngàn chấp chới yên hà.
Lục Đầu hướng nhiễu ỷ la non nước.
Khổ 20:
Khéo lặn cồn đênh lênh bãi nguyệt.
Kìa ngọn giang chợt liếc ngã ba.
Những mang ngoạn thưởng lân la.
Đến chùa Hàm Thượng ngày đà ngọ trung(9).
Khổ 21:
Chỉn lạ lùng ngao kia ngã nọ.
Đò cống gang vừa độ thu canh.
Ngã ba Mè tắt ngang duềnh.
Qua tàu khách mới biết tình viễn phương.
Khổ 22:
Tiện kiêm đường Yên Thường tạm trú.
Ngã ba Tranh bèn ngụ tuần Tranh.
Ngàn phong nghiệm trước phân minh
Cẩn phòng sự dự tĩnh thanh minh từ
Khổ 23:
Quyết chẳng nghi, lệnh hành phấn phát
Lạt [ ] hà đường lạt dặm khơi.
Tới Hưng Long tự tạm ngơi.
Mảng danh hiển ứng xem chơi địa đồ.
---------
(1) Vân tiên: bức thơ.
(2) Kham: nên, cần phải
(3) Băng đăng: đi nhanh.
(4) Đồ phong: cảnh đẹp.
(5) Han: hỏi (từ cổ).
(6) Thảo hành thi chương: làm bài thơ.
(7) Còn tích: còn dấu tích.
(8) Pháp chung: chuông chùa
(9) Ngọ trung: giữa trưa.
Khổ 24:
Dấu trùng tu tạc ghi rạnh rạnh.
Xúc lòng thơ thành kính đinh ninh.
Hưng Long tự thi
Thuyền tiên nhẹ mái thênh thênh,
Ngàn tầm khuất khúc vân oanh(1) lạ vời.
Khổ 25:
Bến đỗ nghi thể dường phải đội,
Tuần tỉnh đây đà cõi cửa hây.
Ngã ba nông cả dĩ thời
Hãy [ ] dừng đà trước kia hầu gần.
Khổ 26:
Khéo lần lần vừa ngang cửa Lục,
Trống gióng ba dải cuộc tranh tiên(2).
Hiến giang thoắt tới kề miền,
Lễ bày bái yết dưới trên vui vầy.
Khổ 27:
Những xưa nay danh lai Triều Vạn,
Tiện hà phương cống khoản lai quy.
Vui thay nhân quảng ân thi(3),
Nhu hoài(4) vốn những vỗ về gần xa.
Khổ 28:
Rày kêu hòa vạn bang thống nhất,
Thuỷ lục thông nhân vật chúng đa(5).
Vịnh đề ứng vận(6) quang hoa,
Quốc âm Đường luật(7) thảo qua mấy hàng.
Lai Triều Vạn thi
Khổ 29:
Nhân thung dung tiện đường kinh quá.
Tiện thể xem phố xá đòi(8) nơi.
Nguyệt Đường tự thử qua chơi,
Tạm vần tùy cảnh mấy lời phân minh.
Nguyệt Đường tự thi
Khổ 30:
Mẽ kinh thành đồ trương diện diện,
Rỡ phố hoa thớn thớn(9) đường hoa.
Dặm ngàn rệt rệt trải qua,
Ngã ba lánh nấy thanh hoa nẻo vào.
Khổ 31:
Phẳng ba đào bãi phong ruổi tới,
Sẵn bến chờ sông phải là tên.
Uyển nhiên thay áng Tự Nhiên,
Thẳng lên Phù Liệt Cao Biền tích xưa.
Khổ 32:
Mặc thừa cơ vui đua vùng vẫy,
Uy nhơn nhơn vang dậy đâu đâu.
Trải xem cảnh lạ thú mầu,
Tóm thu về một mối [ ] kinh thành.
Khổ 33:
Mừng tĩnh ninh hải hà thanh yến,
Mừng bốn phương trầm nhạn bặt hơi(10).
Mừng vì chốn chốn yên vui,
Thuận lòng người, thuận lòng trời xưa sau.
Khổ 34:
Mừng đâu đâu chiêm hàm xâm nhuận(11)
---------
(1) Oanh: uốn quanh.
(2) Tranh tiên: tranh phần trước.
(3) Nhân quảng ân thi: mở rộng điều nhân.
(4) Nhu hoài: mềm yếu.
(5) Nhân vật chúng đa: nhiều.
(6) ứng vận: ứng vần thơ.
(7) Quốc âm Đường luật: thơ quốc âm làm theo luật thơ Đường.
(8) Đòi: một vài, nhiều.
(9) Thớn thớn: vẻ rộng rãi, bằng phẳng.
(10) Trầm nhạn bặt hơi: chỉ cảnh thái bình.
(11) Triêm hàm xâm nhuận: thấm nhuần.
Mừng phong đăng ứng vận trùng hanh(1).
Mừng vì càn lãng khôn ninh(2),
Nhĩ hà(3) vây một thói lành nhường nhân.
Khổ 35:
Mừng đài xuân thênh thênh rộng mở,
Mừng gác Yên Kì sở lâng lâng.
Mừng vì gia khánh(4) kiến trưng,
Vận lành rày thể thêm tăng phúc lành.
Khổ 36:
Mừng khắp thành cổ kim thừa hiến,
Mừng quy mô sủng viễn vang vang.
Mừng vì hạ đạt thượng tình
Long vân(5) hội cả huân danh(6) vẹn toàn.
Khổ 37:
Mừng yến diên trong ngoài đồng lạc,
Mừng thái bình lạc [ ] thơ dâng.
(1) Vận trùng hanh: vận tốt.
(2) Càn lãng khôn ninh: trời đất cao rộng, sáng sủa, chỉ cảnh thái bình.
(3) Nhĩ hà: xa gần.
(4) Gia khánh: phúc nhà.
(5) Long vân: cơ hội may mắn.
(6) Huân danh: công danh.
Mừng nên bình phẩm lâng lâng,
Nhật trình mới mới bút đằng để ghi.

L.M.H

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH:

1. Lê triều ngự chế quốc âm thi, AB.8

2. Phan Diễm Phương: Lục bát và song thất lục bát (Lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại), Nxb. KHXH, H. 1998.

3. Bùi Duy Dân: Văn học chữ Nôm: Tinh hoa - sáng tạo của văn học cổ điển Việt Nam thời Trung đại, Tạp chí văn học số 8/1998.

4. Dương Quảng Hàm: Việt Nam văn học, Bộ Quốc gia giáo dục, 1961.

CHÚ THÍCH:

(*). Các chữ khổ 1, khổ 2... do chúng tôi đưa vào khi phiên âm để độc giả tiện theo dõi, trong văn bản không có.

(**). Giữa các khổ Song thất lục bát có xen lẫn các bài thơ bát cú. Vì khuôn khổ bài viết có hạn chỉ ghi tên bài thơ đó

(I), (II) Trong TTK có 37 khổ thơ, như vậy nếu tính số câu lục hay câu bát thì sẽ có 37 câu; nhưng nếu tính số lần câu bát hiệp vần với câu thất khổ sau thì chỉ có 36 trường hợp thôi.

TB

THỬ TÌM HIỂU HIỆN TƯỢNG NHẦM LẪN CHỮ VIẾT DO ĐỒNG ÂM TRONG LĨNH NAM CHÍCH QUÁI VÀ MỘT SỐ TÁC PHẨM HÁN VĂN KHÁC THỜI LÍ-TRẦN

NGUYỄN THỊ OANH

Bài viết này muốn đi vào tìm hiểu một hiện tượng liên quan đến ngôn ngữ văn tự Hán thời Lí - Trần, đó là hiện tượng chữ viết “nhầm lẫn do đồng âm”(1). Các vấn đề sẽ được bàn tới gồm: Chữ viết nhầm lẫn do đồng âm có phải là hiện tượng chỉ xảy ra ở một tác phẩm Hán văn cá biệt nào đó trong thời Lí - Trần? Nguyên nhân của hiện tượng này là gì? “Nhầm lẫn do đồng âm” có thể coi là hiện tượng “tá âm” (vay mượn từ đồng âm) được không?

I. HIỆN TƯỢNG CHỮ VIẾT NHẦM LẪN DO ĐỒNG ÂM CÓ THỂ NÓI LÀ HIỆN TƯỢNG XẢY RA TƯƠNG ĐỐI PHỔ BIẾN TRONG NHIỀU TÁC PHẨM HÁN VĂN THỜI LÍ-TRẦN

1. Lĩnh Nam chích quái (LNCQ) : trong số 14 dị bản của LNCQ, bản LNCQ mang kí hiệu A.2914 là bản có nhiều hiện tượng nhầm lẫn do đồng âm nhất. Theo thống kê của chúng tôi có khoảng gần 40 trường hợp. Có thể nêu ra vài ví dụ:

- Truyện Trầu cau: trong câu “Thời thượng cổ có vị quan lang” (Thượng cổ chi thời hữu nhất quan lang), chữ “lang” 郎 (quan lang) được viết bằng chữ “lang” 榔 trong “tân lang” (trầu cau). Các bản LNCQ khác đều viết chữ “lang” (quan lang).

- Truyện cổ Dưa hấu: trong câu “thường chạy chọt biếu xén nơi cửa nhà” (thường chủng bào nghi ư môn đình), chữ “chủng” 踵 (gót chân) được viết bằng chữ “chủng” 種 (hạt giống). Các bản LNCQ khác đều viết là “chủng” (gót chân).

- Truyện Lí Ông Trọng: trong câu “An Dương Vương bèn đem Ông Trọng thân chinh cống Tần Thủy Hoàng” (An Dương Vương dĩ Lí Ông Trọng thân cống Tần Thủy Hoàng), chữ “thân” 親 (thân chinh) được viết bằng chữ “thân” 身 (thân thể).

- Truyện cổ Rùa vàng: trong câu “ta muốn xin thần một cái móng để chống giữ” (ngô khất thoát hứa nhất trảo dĩ thử ngự chi), chữ “dĩ” 以 (lấy) được viết bằng chữ “dĩ” 已 (đã).

- Truyện Từ Đạo Hạnh: trong câu “ bèn tắm rửa thay quần áo” (nãi thao thân dị phục), chữ “phục” 服 (quần áo) được viết bằng chữ “phục” 復 (trở lại).

- Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải: trong câu “Thời Lí Nhân Tông thường cùng Đạo Huyền chân nhân vào ngồi hầu ở chùa Lương Thạch ở Liên Bồng Mông” (Lí Nhân Tông thời thường dữ Đạo Huyền chân nhân phụ nhập Liên Bồng Mông, Lương Thạch tự), chữ “phụ” 附 (thêm vào) được viết bằng chữ “phụ” 負 (thua).

- Truyện Hà Ô Lôi: trong câu “[Ô Lôi] lấy một phong trầu cau đút cho thằng nhỏ [giữ cổng] xin vào vườn hoa của công chúa” (tân lang nhất phong lộ vấn đồng tử khất nhập công chúa viên hoa trung), chữ “lộ” 賂 (hối lộ) được viết bằng chữ “lộ” 路 (đường).

Hiện tượng chữ viết nhầm lẫn trong bản LNCQ nêu trên khiến nhiều nhà nghiên cứu trước đây khi tiếp xúc với văn bản này đã tỏ ý “thất vọng”, cho rằng đây là bản “chữ viết cẩu thả (có lẽ là chép thuê)”(2). Quả thật, trong số 14 dị bản của LNCQ, đây là bản duy nhất có nhiều chữ viết sai “chính tả”. Nhầm chữ có phải do “chép cẩu thả” không? Chúng tôi thử mở rộng việc tìm hiểu hiện tượng này qua một số tác phẩm Hán văn tiêu biểu thời Lí - Trần(3) như: Văn bia Lí - Trần(4)(5)(6), Thiền uyển tập anh (TUTA)(7), Việt âm thi tập (VATT)(8), Đại Việt sử kí toàn thư (ĐVSKTT)(9) và Đại Việt sử kí (ĐVSK)(10) thì thấy ở từng tác phẩm, mức độ “nhiều, ít” có khác nhau nhưng đều xảy ra hiện tượng tương tự. Có thể đơn cử vài thí dụ:

2. Văn bia thời Lí

- Bia An Hoạch sơn Báo Ân tự bi kí, câu: “đến năm Nhâm Thìn” (Chí Nhâm Thìn chi tuế), chữ “chí” 至 (đến) được viết bằng “trí” 致 (rất).

- Bia Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh, câu: “tự thử dĩ lai” (từ đó đến nay), chữ “dĩ” 以 (lấy) được viết bằng chữ “dĩ” 已 (đã).

- Bia Càn Ni Sơn Nghiêm tự bi, câu: “tên ba thiền viện truyền là Hương Nghiêm, Trinh Nghiêm và Minh Nghiêm” (Minh truyền Hương Nghiêm, Trinh Nghiêm, Minh Nghiêm, tam thiền viện), chữ “danh” 名 (tên) được viết bằng chữ “minh” 銘 (ghi vào, khắc vào); Hay câu: “Người hiền không quên tông tích tổ tiên” (Nhân hiền bất vong tiên tổ chi tung”, chữ “nhân” 人 (người) được viết bằng “nhân” 仁 (nhân đức).

3. Văn bia thời Trần

- Bia Phụng Dương công chúa thần đạo bi, câu: “Bài minh và lời tựa bia thần đạo Phụng Dương công chúa” (Phụng Dương công chúa thần đạo bi minh tịnh tự), chữ “tự” 序 (Tựa) được viết bằng chữ “tự” 寺 (chùa).

- Bia Hưng Phúc tự bia, câu: “Khủng tiên quân tử chi chí dữ hủ thảo nhất đán tư tận”, chữ “tư” 斯 (này, cái này, chỗ này) được viết bằng chữ “tư” 澌 (tận, hết).

- Bia Dục Thúy sơn linh tế tháp kí, câu “thác Già lam cảnh giới”, chữ “già” 伽 (chùa chiền) được viết bằng “gia” 茄 (cây cà). Hoặc trong câu: “Nhưng vì có kẻ gian hàng giặc chỉ đường nên nhà cửa ông bị đốt phá, công việc không thành” (Cố nãi hương hoạt hàng lỗ, nhân vi hương đạo, hợp kì lư xá vi sở phần đãng, sự toại bất quả), chữ “hướng đạo” 嚮 導 (chỉ đường) được viết bằng chữ “hương đạo” 鄉 道 (đường làng).

- Bia Dục Thúy Sơn linh tế tháp kí, câu: “tiểu phụng Phật giáo cổ hoặc chúng sinh”, chữ “cổ” 蠱 (làm cho mê cuồng) được viết bằng chữ “cổ” 鼓 (cái trống)

4. Thiền uyển tập anh

- Tiểu truyện Vô Ngôn Thông thiền sư, câu: “sách Truyền đăng chép là Bất Ngữ Thông” (Truyền đăng viết Bất Ngữ Thông), chữ “đăng” 燈 (đèn, đuốc) được viết bằng chữ “ đăng” 登 (trèo lên cao).

- Tiểu truyện Viên Chiếu thiền sư, câu: “Trưởng lão nhìn kĩ rồi bảo” (Trưởng lão thục thị viết), chữ “thị” 視 (nhìn) được viết bằng chữ “thị” 氏 (họ).

- Tiểu truyện Mãn Giác thiền sư, câu: “Ai hay mưa móc gội non sông” (Thùy tri vân vụ lạc sơn hà), chữ “lạc” 落 (rơi xuống) được viết bằng chữ “lạc” 洛 (tên sông ở Trung Quốc).

5. Việt âm thi tập

- Thơ Trần Minh Tông, bài Giới am ngâm (Bàn về cái am cỏ), câu thơ: “Thanh thủy mãn bình khả tiêu khát”, chữ “bình” 瓶 (bình nước) được viết bằng chữ “bình” 屏 (bình phong). Các bản Toàn Việt thi lục kí hiệu A.1262, VHv.117 đều viết là chữ “bình” 瓶 (bình nước).

- Thơ Trần Nghệ Tông, bài Vọng trông am Liễu Nhiên ở Đông Sơn (Vọng Đông Sơn Liễu Nhiên am), trong câu: “Minh niên thử tịch tri thùy kiện” (Ngày này năm sau biết ai còn khỏe mạnh), chữ “tịch” 夕 (buổi chiều) được viết bằng chữ “tịch” 席 (ghế ngồi, chiếu). Bài Đề chùa Báo Ân, huyện Siêu Loại (Đề Siêu Loại Báo Ân tự), trong câu “Nhị Hương điện thượng kim dung xán”, chữ “xán” 燦 (sáng chói) được viết bằng chữ “xán” 粲 (người con gái đẹp, người con trai tốt).

- Thơ Đỗ Khắc Chung, bài Vịnh cúc, trong câu: “Trùng dương trích nhụy Đào nhưỡng túy” (Tiết trùng dương hái nhị, họ Đào ủ men say), chữ “nhưỡng” 釀 (gây men rượu) được viết bằng chữ “nhương” 攘 (cướp, xua đuổi)

6. Đại Việt sử kí toàn thư

- Kỉ thuộc Tùy, Đường, tờ 7b, dòng 7, câu: “Bấy giờ Nguyên Gia dời phủ trị tới sông Tô Lịch” (Thời Nguyên Gia di phủ trị ư Tô Lịch giang), chữ “phủ” 府 (lị phủ) được viết bằng chữ “phủ” 撫 (vỗ về).

- Kỉ nhà Ngô, tờ 22a, dòng 5, câu: “Vả lại lúc ấy người trong nước ai cũng xem Tam Kha là vua” (thả đương thời quốc nhân giai dĩ quân Tam Kha), chữ “dĩ” 以 (lấy, coi) được viết bằng chữ “dĩ” 已 (đã)

- Kỉ nhà Lí, Nhân Tông hoàng đế, tờ 27a, dòng 2, câu: “các khanh nên bền mãi một lòng, giúp đỡ nhà vua” (Khanh đẳng nghi vĩnh kiên nãi tâm hiệp phụ vương thất), chữ “kiên” 堅 (bền, chắc) được viết bằng chữ “kiên” 肩 (vai).

7. Đại Việt sử kí

- Việt giám thông khảo tổng luận, tờ 13b, dòng 3, câu: “chẩn bần có lệnh, cầu hiền có chiếu, cho nên từ năm Thiên Tư Gia Thụy về trước, chính sự còn khả quan” (chẩn bần hữu lệnh, cầu hiền hữu chiếu, cố Thiên Tư Gia Thụy dĩ tiền, kì chính do hữu khả quan), chữ “do” 猶 (còn) được viết bằng chữ “do” 由 (tự do)

- Kỉ nhà Ngô, tờ 74a, dòng 3, câu : “Bình Vương đối với ta có ơn, sao nỡ giết” (Bình Vương ư ngã hữu ân, khởi nhẫn gia hình), chữ hình 刑 (hình phạt) được viết bằng chữ “hình” 形 (hình ảnh).

- Kỉ nhà Đinh, tờ 84a, dòng 9, câu: “Trung Hoa đối với Man di cũng như thân người có tứ chi, vận động duỗi co tùy ở tâm mình, cho nên gọi là chủ” (Trung Hạ chi ư Man mạch, do nhân thân chi hữu tứ chi dã, vận động thân túc, tùy chư nhân tâm, cố viết tâm giả chủ chi vị dã), chữ “túc” 縮 (co) được viết bằng chữ “túc” 宿 (trú lại).

- Kỉ nhà Lí, Thái Tổ hoàng đế, câu: “Châu Vị Long làm phản, hùa theo người Man” (Vị Long bạn, phụ vu Man), chữ “phụ” 附 (hùa phụ theo) được viết bằng chữ “phụ” 負 (thua).

Như vậy, hiện tượng chữ viết nhầm lẫn do đồng âm không phải chỉ có trong bản LNCQ nêu trên, ở một số các tác phẩm Hán văn giai đoạn Lí - Trần cũng xuất hiện hiện tượng này. Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, trong bia Lí-Trần có khoảng hơn 90 trường hợp; Thiền uyển tập anh có khoảng hơn 40 trường hợp; Việt âm thi tập có khoảng hơn 40 trường hợp; Đại Việt sử kí toàn thư (chỉ tính đến hết thời Trần) có khoảng 18 trường hợp; Đại Việt sử kí (chỉ tính đến hết thời Trần) có khoảng hơn 150 trường hợp. Tính cả 40 trường hợp trong LNCQ, chúng ta có khoảng 380 trường hợp. Từ 380 trường hợp được lẩy ra từ LNCQ và một số tác phẩm Hán văn thời Lí - Trần, dựa vào sự tương ứng ngữ âm giữa chữ “trong văn bản” và chữ “hiệu chỉnh”, chúng tôi chia 380 từ trên làm 3 loại sau:

a. Loại thứ nhất: bao gồm các chữ có cùng âm đọc Hán Việt. Ví dụ: lấy “công” 公 (ông) để ghi “công” 工 (công nhân); “hình” 形 (hình ảnh) để ghi “hình” 刑 (tội hình); “tự” 寺 (chùa) để ghi “tự” 序 (tựa). Loại này nhiều nhất, có khoảng hơn 300 trường hợp, chiếm gần 80 %.

b. Loại thứ hai : bao gồm các chữ có cùng âm đọc Hán Việt hoặc cùng âm bạch thoại nhưng chữ “trong văn bản” lại phức tạp hơn chữ “hiệu chỉnh”. Ví dụ: lấy “đồ” 塗 (lấp lỗ hở) để ghi “đồ” 途 (đường đi); lấy “thần” 晨 (buổi sáng) để ghi “thần” 辰 (có âm đọc khác là thìn, là giờ thìn); lấy “cảnh” 境 (biên giới) để ghi “cảnh” 景 (cảnh sắc); lấy “án” 案 (vụ án) để ghi “an” 安 (an dân). Loại này ít nhất, có khoảng 30 trường hợp, chiếm gần 8 %. Trong loại này còn có những chữ có cùng âm Hán Việt, cùng nghĩa với chữ Hán, nhưng trong văn bản lại phức tạp hơn chữ ở từ điển Hán. Ví dụ: hai chữ “thương hoàng” 倉 皇 (còn ghi là 倉 黃) trong văn bản lại ghi “thương hoàng” 愴 惶 (sách TUTA); hai chữ môn la 門 羅 trong văn bản lại ghi “môn la” 捫 蘿 (sách VATT).

c. Loại thứ ba: bao gồm các chữ có cùng âm Hán Việt hoặc cùng âm bạch thoại, nhưng chữ “trong văn bản” lại giản đơn hơn chữ “hiệu chỉnh”. Ví dụ: lấy chữ “chí” 至 (đến) để ghi chữ “trí” 致 (rất); chữ “lữ” 呂 (tên họ người) để ghi chữ “lư” 閭 (làng xóm); chữ “vong” 亡 (mất) để ghi chữ “vong” 忘 (quên), Loại này có khoảng 36 trường hợp, chiếm hơn 9 %. Trong loại này còn có chữ về hình dạng chỉ tương đồng một bộ phận, không tương đồng về âm đọc. Ví dụ: dùng “hạt” 曷 để ghi “kiệt” 竭 (bia Trần); dùng “kí” 既 để ghi “khái” 慨 (bia Trần); dùng “yếm” 厭 để ghi “áp” 壓 (TUTA), dùng “cập” 及 để ghi “cấp” 級 (ĐVSKTT); dùng “tế” 祭 để ghi “sát” 察 (ĐVSK).

II. NGUYÊN NHÂN CỦA HIỆN TƯỢNG CHỮ VIẾT NHẦM LẪN DO ĐỒNG ÂM

Nhầm lẫn do đồng âm là hiện tượng thường xảy ra khi viết, hoặc sao chép văn bản. Hiện tượng này do nhiều nguyên nhân:

- Do vốn từ vựng có hạn của người sử dụng. Chữ Hán đối với người nước ta vốn là chữ “vay mượn”, về mặt từ vựng ngay cả người bản ngữ cũng không ai nắm được trọn vẹn huống hồ người nước ta.

- Do tính linh động của người sử dụng. Trong khi ghi chép, trường hợp không nhớ mặt chữ, muốn ghi chép nhanh, người ghi chép có thể linh động mượn tạm chữ đồng âm.

Theo quy luật, người ta thường mượn những chữ giản đơn thay cho những chữ phức tạp, những chữ dùng thường xuyên thay cho chữ ít được dùng. Qua bảng thống kê có thể thấy rõ điều này. Nhưng xem kĩ các chữ đồng âm được thay thế không phải trường hợp nào cũng theo quy luật trên. Ví dụ: dùng chữ “cầu” 逑 để ghi “cầu” 求; chữ “thụ” 授 để ghi “thụ” 受; chữ “lang” 榔 để ghi “lang” 郎 (trong sách LNCQ), dùng chữ “từ” 慈 để ghi “tư” 玆 dùng chữ “thương hoàng” 愴 惶 để ghi chữ “thương hoàng” 倉 黃 (trong sách TUTA) ; Hay dùng chữ “trí” 致 để ghi “chí” 至; dùng chữ “chính” 政 để ghi chữ “chính” 正 (trong các bia thời Lí); dùng chữ “tư” 澌 để ghi “tư” 斯, dùng chữ “lạm” 濫 để ghi “lam” 藍 dùng chữ “thần” 晨 để ghi “thần” 辰 (trong bia thời Trần); dùng chữ cảnh 境 để ghi “cảnh” 景, dùng “cập” 及 để ghi “cấp” 級 (trong ĐVSKTT). Lại có những trường hợp viết lược, viết tắt như: dùng chữ “hạt” 曷 để ghi chữ “kiệt” 竭 , dùng chữ “lã” 呂 để ghi “lư” 閭, dùng chữ “kí” 既 để ghi “khái” 慨, dùng chữ “trưng” 徵 để ghi “trừng” 懲 (trong bia thời Lí - Trần); dùng chữ “túc” 宿 để ghi “túc” 縮; “đình” 亭 ghi chữ “đình” 停; dùng chữ “úy” 尉 để ghi chữ “ủy” 慰 (Trong ĐVSK)

Những chữ như “cầu” 逑, “thụ” 授, “lang” 榔, “thương hoàng” 愴 惶, “trí” 致, “chính” 政, “cảnh” 境, “tư” 澌, “lạm” 濫, “thần” 晨... và những chữ như “chính” 正, “hạt” 曷, “túc” 宿, đình” 亭, “úy” 尉 có lẽ khó giải thích là do nhầm lẫn chữ vì nó không theo quy luật của việc “mượn chữ”. Ví dụ chữ “cầu” 逑 về mặt lí thuyết phải xuất hiện sau chữ “cầu” 求 nhưng vì sao người ta lại không dùng chữ giản đơn, có trước để viết. Hiện tượng này còn thấy xuất hiện ở chữ Nôm, chữ “đường” 塘 xuất hiện trong các văn bản các năm 1210, 1467, 1593, 1620, còn dạng “đường” 唐 chỉ gặp từ năm 1670 về sau. Mặc dù trên mặt khả năng lí thuyết thì dạng “đường” 唐 vẫn có thể xuất hiện rất sớm(11). Ngoài ra những chữ như “kiệt” 竭 được viết bằng “hạt” 曷, chữ “yêu” 邀 được viết bằng chữ “hiệu” , chữ “khái” 慨 được viết bằng chữ “kí” 既, chữ “trừng” 懲 được viết bằng chữ “trưng” 徵, chữ “túc” 縮, được viết bằng chữ “túc” 宿,... đều là những chữ không cùng âm đọc, nhưng nhìn vào mặt chữ lại thấy chúng có chung một bộ phận. Những chữ này có phải là hiện tượng viết tắt, viết lược của phép mượn chữ hay không?

Chúng tôi được biết ở Trung Quốc, trong các sách kinh điển cũng xuất hiện hiện tượng này. Các nhà Huấn hỗ học Trung Quốc gọi hiện tượng đó là “giả tá” (tức vay mượn). Ông Hồ Phác An trong mục Văn tự thông giả, Chương 5: Phương pháp huấn hỗ học đời Thanh, sách Trung Quốc huấn hỗ học sử (12) đã dẫn chứng 50 trường hợp vay mượn trong các sách kinh điển: Thi, Thư, Dịch, Lễ do họ Vương lẩy ra. Theo ông Hồ, “vay mượn” (giả tá) là một trong sáu cách viết lục thư. Giả tá có hai loại:

- Thứ nhất là “tá tự” (mượn chữ): vốn không có chữ mà phải đi mượn. Dựa vào âm đọc để mà lồng vào sự việc (ỷ thanh thác sự), vay mượn chữ để dùng (giả tá dĩ dụng chi). Ví dụ trường hợp “trường” 長 (dài lâu) vay mượn để làm chữ “trưởng” 長 (trưởng ấu); chữ “lệnh” 令 (hiệu lệnh) được vay mượn làm chữ “lệnh” 令 (huyện lệnh).

- Thứ hai là “tá âm” (mượn âm). Trong tá âm lại có hai loại:

+ Một là: vốn không có chữ, mượn âm đọc để tạo chữ mới, nhưng chữ nghĩa gốc đã bị phế bỏ. Ví dụ chữ lai 來 nguyên là giống lúa mạch tốt được vay mượn để làm chữ lai 來 trong “lai vãng” với nghĩa là “đến”; chữ “tây” 西 nguyên có nghĩa là chim đậu trong tổ (điểu tây, đọc là điểu thê), được vay mượn để làm chữ “tây” là phương tây, trong “đông tây”. Các trường hợp vay mượn này, chữ nghĩa gốc đã bị phế bỏ (như trường hợp chữ “lai” với nghĩa lúa mạch), chúng ta hiện nay tuy không còn biết nghĩa gốc của chúng là gì nên không gặp trở ngại trong khi sử dụng.

+ Hai là: mượn âm đọc để tạo chữ, nhưng chữ gốc không bị phế bỏ, nghĩa gốc vẫn còn đi đôi, trong các sách kinh điển còn vay mượn dùng chung (thông giả) như mượn chữ “thích” 適 làm chữ “địch” 敵, mượn chữ “long” 龍 làm chữ “sủng” 寵, mượn “tiện” 便 làm “bình” 平, mượn “bàng” 旁 làm “phương” 方, làm cho chữ gốc và chữ mượn không còn phân biết rõ được, không tránh khỏi tình trạng nhìn vào mặt chữ để cắt nghĩa.

Theo trích dẫn của ông Hồ, có tới 50 trường hợp tá âm loại chữ vay mượn và chữ gốc cùng song song tồn tại được ông Vương lẩy ra từ sách kinh điển. Ví dụ: Mượn chữ “quang” 光 để làm chữ “quảng” 廣 (Thượng thư). Mượn chữ “cổ” 蠱 làm “cổ” 古 (Dịch tự quái). Mượn “thời” 時 làm “đãi” 待. Mượn “tôn” 尊 làm “tôn” 撙. Mượn “tẩy” 洗 làm “tiên” 先. Mượn “thịnh” 盛 làm “thành” 成 (Kinh Dịch). Mượn “lạp” 粒 làm “lập” 立. Mượn “chính” 政 làm “chính” 正 (Kinh Thư). Mượn “vong” 忘 làm “vong” 亡. Mượn “văn” 文 làm “vặn” 紊. Mượn “nghĩa” 義 làm “nga” 俄. Mượn “triết” 哲 làm “chiết” 折 (Kinh Thư). Mượn “cảnh” 景 làm “cảnh” 憬 (giác ngộ). Mượn “vi” 為 làm “ngoa” 訛. Mượn “cầu” 求 làm “cầu” 逑 (Kinh Thi)...

Ngoài 50 ví dụ về giả tá do họ Vương trích ra từ các sách kinh điển, ông Hồ Phác An còn lẩy thêm ra 12 trường hợp vay mượn nữa trong sách kinh điển. Theo ông, từ sự giải thích chữ trong kinh điển, các hiện tượng như dùng “chu” 周 để ghi “chung” 終 dùng “bân” 彬 để ghi “phần” 份... là những hiện tượng song thanh; dùng “lận” 吝 ghi “lân” 遴, dùng “cừu” 仇 ghi “cầu” 求 là các hiện tượng điệp vận. Các trường hợp mượn “dương” 羊 làm “tường” 祥 mượn “thạch” 鼫 làm “thạch” 鼫, mượn “lộc” 麓 làm “lục” 綠... đều có thể coi là giả tá loại điệp vận.

Xem xét 50 trường hợp của ông họ Vương và 12 trường hợp ông họ Hồ trích ra từ kinh văn, ngoài trường hợp mượn chữ thường dùng thay cho chữ ít dùng, cũng có trường hợp mượn chữ phức tạp để ghi chữ giản như: mượn “cổ” 蠱 để ghi “cố” 故; mượn “tẩy” 洗 để ghi “tiên” 先; mượn “thịnh” 盛 để ghi “thành” 成; mượn “chính” 政 để ghi “chính” 正... Cũng có trường hợp lược bớt chữ như “cảnh” 景 để ghi “cảnh” 憬;mượn “vi” 為 ghi “ngoa” 訛 ; mượn “giao” 交 để ghi “giảo” 姣; mượn “cầu” 逑 để ghi “cầu” 求; mượn “thổ” 土 ghi “đỗ” 杜.

Dựa vào 62 chữ do họ Hồ thống kê đối chiếu với các hiện tượng vay mượn của Việt Nam, cũng thấy xuất hiện một số trường hợp tương tự như chúng tôi nêu ra ở 3 loại trên, như: mượn chữ “cầu” 逑 làm “cầu” 求; mượn “thụ” 授 làm “thụ” 受 (LNCQ); mượn “chính” 政 làm “chính” 正; mượn “do” 猶 làm “do” 由; mượn “nịch” 溺 làm “nhược” 弱 (ĐVSK); mượn “từ” 慈 làm “tư” 玆 (TUTA); mượn “trí” 致 làm “chí” 至; mượn “minh” 銘 làm “danh” 名; mượn “tính” 鉼 làm “tịnh” 并 (Bia Lí); mượn “tư” 澌 làm “tư” 斯 mượn “lạm” 濫 làm “lam” 藍 (Bia Trần); mượn “biển” 扁 làm “biển” 匾; mượn “hạt” 曷 làm “kiệt” 竭 (Bia thời Lí); mượn “hương đạo” 鄉 道 làm “hướng đạo” 嚮 導 (Bia Trần); mượn “chính” 正 làm “chính” 政 (ĐVSK); mượn “sinh” 生 làm “sinh” 牲 (LNCQ); mượn “đăng” 登 làm “đăng” 燈; mượn “nữ” 女 làm “nhữ” 汝 (TUTA).

Như vậy, hiện tượng nhầm lẫn do đồng âm ở thời Lí - Trần ngoài hai nguyên nhân do vốn từ vựng có hạn và tính linh động của người sử dụng, còn một nguyên nhân nữa là do sử dụng từ ngữ kinh điển và mô phỏng cách dùng từ trong các sách kinh điển Trung Quốc. Hai nguyên nhân trước (cũng giống với nguyên nhân để sinh ra chữ giả tá trong các sách kinh điển Trung Quốc) là hai nguyên nhân sinh ra hiện tượng vay mượn ở bất kì ngôn ngữ nào (không chỉ với ngôn ngữ văn tự Hán). Riêng nguyên nhân thứ ba lại không phải theo quy luật chung của hiện tượng vay mượn.

Chúng ta đã biết, ở thời đại Lí - Trần, do yêu cầu cấp bách của thời đại phải xây dựng một nhà nước phong kiến tập quyền có đủ sức mạnh để xây dựng nền độc lập, thống nhất và phục hưng dân tộc; việc tiếp tục sử dụng chữ Hán như một công cụ để duy trì mọi hoạt động có tính chất quan phương, chính thống của nhà nước đã được nhà nước phong kiến đương thời chấp nhận. Mặt khác, mọi người đều thấy rằng, văn minh của Trung Quốc có nhiều điều nên học tập. Nếu không biết chữ Hán thì không thể tiếp thụ tri thức về mọi mặt. Cho nên, cùng với việc chủ động tiếp thụ chữ Hán và văn hóa Hán, các sách vở giáo lí của Phật giáo cũng được du nhập ồ ạt vào nước ta. Theo sách ĐVSKTT, năm 1018, vua Lí sai Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang nước Tống xin kinh Tam Tạng. Sau khi lấy được kinh Tam Tạng, vua nhà Lí còn xuống chiếu cho chép kinh vào năm 1023, 1027, 1035. Ban đầu, số người biết chữ Hán còn ít, tập trung chủ yếu vào giới tăng lữ. Các nhà sư ngoài các công việc xây chùa, dựng tháp, giáo hóa chúng sinh còn xây dựng vương quyền, giúp vua đánh giặc cứu nước. Sau do nhu cầu sử dụng chữ Hán ngày một cao, số lượng người biết chữ Hán đã tăng dần trong xã hội. Người ta không chỉ dùng chữ Hán để viết chiếu từ, làm quân lệnh, thư từ ngoại giao mà còn dùng chữ Hán để sáng tác thơ, văn. Sách ĐVSKTT còn ghi việc các quan trong triều làm thơ chúc tụng nhân dịp khánh thành cầu Thái Hòa trên sông Tô Lịch vào năm ất Hợi, niên hiệu Thông Thụy thứ 2 (1035)(13). Chưa rõ việc học chữ Hán ở thời Lí - Trần thế nào, nhưng theo các nhà nghiên cứu đi trước, Hán văn thời Lí - Trần chịu ảnh hưởng sâu sắc của kinh điển Nho gia và sách vở Phật giáo. Sự ảnh hưởng sách kinh điển không chỉ trên phương diện tư tưởng, mà còn ảnh hưởng cả phương thức diễn đạt ngôn ngữ(14). Các sách kinh điển Nho gia như Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Lễ và các sách khác của Trung Quốc có lẽ trở thành “giáo trình” học chữ Hán của người Việt thời bấy giờ. Thậm chí còn sử dụng thành thục các sách kinh điển tới mức có thể viện dẫn cả kinh điển để giải thích các hiện tượng thiên nhiên, xã hội. Sách ĐVSKTT còn ghi chuyện các quan trong triều dùng Kinh Thư để luận bàn điềm báo(15). Hay trong bia ở tháp Sùng Thiện Diên Linh còn ca ngợi việc tinh thông kinh sách của vua nhà Lí “Sách kinh nội điển, tinh thông tới chỗ yếu huyền”(16). Việc sử dụng thành thạo kinh điển còn thể hiện ý thức xã hội và quan niệm thẩm mĩ của thời đại “cái được đánh giá cao không phải là sự sáng tạo cái mới về cơ bản mà ngược lại chính là sự bắt chước những quy tắc và truyền thống”(17). Như vậy, việc sử dụng từ ngữ kinh điển và mô phỏng cách dùng từ ngữ kinh điển cũng là một trong nguyên nhân sinh ra hiện tượng chữ viết “nhầm lẫn” trong một số tác phẩm Hán văn thời Lí - Trần.

III. HIỆN TƯỢNG CHỮ VIẾT "NHẦM LẪN DO ĐỒNG ÂM" CÓ THỂ COI LÀ HIỆN TƯỢNG TÁ ÂM

Ngoài ba nguyên nhân gây ra sự nhầm lẫn trong chữ viết như đã nêu trên, cũng phải tính đến nguyên nhân “xã hội” của hiện tượng này. Chúng ta đã biết, “văn học Lí-Trần hình thành trong sự lệ thuộc, ảnh hưởng có thể nói nặng nề bởi nhiều yếu tố ngoại lai, đặc biệt là yếu tố Hán nhưng cố gắng vận động để phát triển theo hướng dân tộc hóa”(18). Bên cạnh việc tiếp thu những tinh hoa của văn hóa, văn học nước ngoài, văn học Lí-Trần vừa phải chống lại sự lấn lướt của yếu tố ngoại lai, gìn giữ và nâng cao yếu tố văn hóa cổ truyền của dân tộc. Điều này không chỉ diễn ra ở nội dung văn học mà còn biểu hiện ở hình thức văn tự. Từ trước thế kỉ X, trong một số tác phẩm văn học Phật giáo Việt Nam viết bằng chữ Hán, đã xuất hiện các hình thức tá âm, là hình thức phôi thai để hình thành chữ Nôm giai đoạn sau(19). Đến thời Lí - Trần, tá âm vẫn được sử dụng và có chiều hướng gia tăng mạnh mẽ. Chỉ nhìn qua số lượng các từ tá âm mà chúng tôi thống kê qua một số tác phẩm thời Lí - Trần, có thể thấy tá âm đã trở thành một hiện tượng mang tính “xã hội”.

Từ trước tới nay, ít ai quan tâm tìm hiểu hiện tượng tá âm trong sách cổ của Việt Nam, đặc biệt ở thời đại Lí - Trần. Nếu có trường hợp vay mượn, các nhà nghiên cứu cũng chỉ coi đó là hiện tượng nhầm lẫn, bởi nó có thể xảy ra ở bất kì tác phẩm nào, sách in cũng như chép tay, thư tịch cũng như văn khắc và có thể xảy ra ở bất kì thời nào, không riêng thời đại Lí - Trần. Tuy nhiên, trường hợp nhầm lẫn nhiều, trong đó có cả sự nhầm lẫn khó giải thích xuất hiện trong LNCQ và một số tác phẩm như bia thời Lí - Trần, TUTA ĐVSK, VATT thì không đơn giản là nhầm lẫn nữa. Có lẽ đã đến lúc phải nghiên cứu nghiêm túc các hiện tượng tá âm trong sách cổ Việt Nam, mà đối tượng đầu tiên cần nghiên cứu là các tác phẩm Hán văn thời Lí - Trần. Tá âm có phải là hiện tượng của thời Lí - Trần? Để trả lời câu hỏi này cần có sự thống kê đầy đủ hiện tượng tá âm trong các tác phẩm Hán văn thời Lí - Trần, lấy nó làm hệ quy chiếu với các thời đại tiếp theo, để tìm hiểu xem đây có phải là hiện tượng chỉ xuất hiện trong văn bản Lí - Trần? Từ thời Lê trở đi, hiện tượng trên có bớt dần rồi mất hẳn không? Mặt khác, nếu thống kê đầy đủ các trường hợp tá âm trong các tác phẩm Lí - Trần sẽ có thể cung cấp những tư liệu có giá trị cho việc nghiên cứu âm Hán - Việt và gián tiếp là địa hạt ngữ âm lịch sử tiếng Việt và những vấn đề văn hóa, xã hội khác.

IV. TỪ HIỆN TƯƠNG TÁ ÂM, THỬ GIẢI THÍCH MỘT VÀI TỒN NGHI TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM HÁN VĂN LÍ-TRẦN.

Nếu biết trong sách cổ có hiện tượng tá âm, có thể dễ dàng giải thích những hiện tượng “nhầm lẫn” trong LNCQ và ở các tác phẩm khác thời Lí - Trần. Thậm chí có thể đặt lại một số vấn đề, giải thích một số trường hợp hiểu nhầm do không biết hiện tượng này. Có thể đơn cử vài ví dụ:

Trong LNCQ, truyện Từ Đạo Hạnh, câu: “[Đạo Hạnh] bèn thân đi tới Quyết Châu lấy gậy ném thử xuống dòng nước chảy xiết” (thân chí Quyết Châu dĩ trụ trượng đầu tử, thí đầu cấp thủy trung lưu 身 至 決 州 以 柱 杖 頭 子 試 投 急 水 中 流), chữ “thân” nếu hiểu là “thân” 身 trong “thân thể” sẽ rất khó hiểu, nếu biết nó là vay mượn của chữ “thân” (thân chinh) thì có lẽ chẳng còn gì phải băn khoăn nữa. Chữ “thân” này đã được các bản LNCQ sau này sửa thành “thân” 親 trong “thân chinh”.

Hoặc trong sách TUTA , bài thơ Viếng thiền sư Chân Không (Truy điệu Chân Không thiền sư) của Đoàn Văn Khâm, câu thứ 6 “Thủy trám thanh sơn nhận tạ dung”, các tác giả TVLT cho rằng chữ “tạ” 藉 (còn có âm nữa là tịch, trong “hộ tịch”, chúng tôi phiên âm là tịch - ND) “có lẽ chép nhầm, làm cho ý câu thơ không rõ; các bản khác đều chép là “cựu” 舊 (20). “Cựu dung” 舊 容 có lẽ chẳng có gì khó hiểu, nhưng sách TUTA chép là “tịch” liệu có phải chép nhầm không. Nếu coi “tịch” 藉 (hộ tịch) là hiện tượng vay mượn của “tịch” 寂 (mất) thì câu không còn khó hiểu nữa. “Tịch dung” tức bóng dáng người đã mất.

Hoặc trong bài thơ Vọng trông Am Liễu Nhiên ở Đông Sơn (Vọng Đông Sơn Liễu Nhiên am), của Trần Nghệ Tông như đã nêu trên, nếu cứ mặt chữ mà cắt nghĩa thì “thử tịch” (cái ghế, hoặc cái chiếu ấy) trong VATT, câu: “Minh niên thử tịch tri thùy kiện” sẽ trở nên khó hiểu, nhưng nếu biết đây là chữ “tịch” mượn của chữ “tịch” 夕 (buổi chiều) thì câu trở nên dễ hiểu, nghĩa lí rõ ràng.

Còn nhiều trường hợp khác trong bảng thống kê, do khuôn khổ bài viết không cho phép chúng tôi nêu ra ở đây. Các trường hợp này, nếu cứ nhìn mặt chữ để cắt nghĩa sẽ rơi vào tình trạng câu lủng củng, khó hiểu, nếu dựa vào quy luật vay mượn để lí giải thì câu văn sẽ trở nên sáng sủa, nghĩa lí rạch ròi. Tác giả Hồ Phác An khi phân tích về hiện tượng vay mượn trong sách cổ, đã cho rằng: “Các chữ dùng để vay mượn ở đây cả chữ gốc lẫn chữ mượn đều song song tồn tại, không bị phế bỏ. Nếu người đọc không hiểu rõ các hiện tượng vay mượn chữ trong kinh văn, không biết được các chữ gốc của nó là gì, cứ nhìn vào nghĩa gốc của chữ vay mượn mà giải thích thì tất sẽ bị hiểu nhầm. Không rõ giả tá không thể đọc được sách cổ, mà loại chữ giả tá này phân biệt lại không phải dễ. Phải từ thanh vận để hiểu huấn hỗ, sau đó chữ vay mượn và chữ gốc mới có thể phân biệt không nhầm lẫn. Thư tịch cổ Trung Quốc đều có hiện tượng vay mượn chữ (văn tự thông giả). Biết rõ các trường hợp vay mượn chữ trong lúc đọc sách thì sẽ như nắm được con dao mổ xẻ vậy”(21).

Trở lên là một số vấn đề về hiện tượng tá âm trong LNCQ và một số tác phẩm Hán văn thời Lí - Trần. Đây là một vấn đề rất khó, cần phải có thời gian và sự cộng tác liên ngành, mới có thể giải quyết thấu đáo. Trong lúc chờ đợi kết quả nghiên cứu toàn diện hiện tượng này trong các tác phẩm Hán văn thời Lí - Trần, chúng tôi xin mạnh dạn đưa ra một số ý kiến. Rất mong được sự chỉ giáo của các quý vị.

N.T.O

CHÚ THÍCH VÀ SÁCH THAM KHẢO

(1) Trong một số tác phẩm dịch, giới thiệu tác phẩm Hán văn thời Lí - Trần như Bia Lí - Trần, TUTA. ĐVSKTT, VATT... chúng ta thường gặp chú thích của dịch giả. Ví dụ: “Nguyên văn là mộ 募 là tìm kiếm, mượn người, nghĩa không thích hợp. Đoán là mộ 慕 là hâm mộ, viết lầm” ( TVLT. T.I, tr.332. Xem xuất xứ sách ở chú thích 4, phía dưới); “Nguyên văn “vĩnh kiên nãi tâm”: chữ kiên 堅 là vững bền do đồng âm mà khắc lầm ra chữ kiên 肩 là vai” (ĐVSKTT. Q.III, tr.296, xem xuất xứ sách ở chú 9, phía dưới). Các trường hợp hiệu chỉnh chữ đồng âm (tá âm), xưa nay đều được các nhà nghiên cứu cho là “viết lầm”, hoặc “khắc lầm”.

(2) Lĩnh Nam chích quái. Đinh Gia Khánh (chủ biên), Nguyễn Ngọc San biên khảo, giới thiệu. Nxb. Văn học, 1990, tr.160.

(3) Chúng tôi dựa vào sự đính chính của các tác gia thời phong kiến và các nhà nghiên cứu đi trước để thống kê các hiện tượng nhầm lẫn do đồng âm trong các tác phẩm.

(4) Thơ văn Lí Trần. Nxb.KHXH. Hà Nội. Tập I: năm 1977; Tập II: năm 1989; Tập III: năm 1978.

(5) Văn khắc Hán Nôm Việt Nam. Tập I. Từ Bắc thuộc đến thời Lý. Phan Văn Các và Claudine Salmon (chủ biên) do école franỗaise d’ Extrême-Orient và Viện Nghiên cứu Hán Nôm hợp tác xuất bản. Paris-Hà Nội, 1998.

(6) Văn khắc Hán Nôm Việt Nam. Tập II. Thời Trần. 2 quyển Thượng, Hạ. Tổng chủ biên: Phan Văn Các, Mao Han Kuang, Cheng A Tsai, Hoàng Văn Lâu, Keng Hui Ling. Sách do Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Trường Đại học Trung Chính (Đài Loan) hợp tác xuất bản.

(7) Lê Mạnh Thát: Nghiên cứu Thiền uyển tập anh. Nxb.Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1999.

(8) Việt âm thi tập. Bản chữ Hán, kí hiệu A.1925, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(9) Đại Việt sử kí toàn thư (Bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697). Bản dịch Nxb. KHXH. H. 1993.

(10) Đại Việt sử kí. Bản chữ Hán, kí hiệu A.1272, Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Trong số 9 bản mang tên ĐVSK hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chỉ có bản A.1272 đầy đủ nhất, và là bản có sự nhầm lẫn từ đồng âm.

(11) Nguyễn Tài Cẩn: Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa. Nxb. Đại học quốc gia. H. 2001, tr.211.

(12) Hồ Phác An: Trung Quốc huấn hỗ học sử. Thương vụ ấn thư quán. Trung Hoa dân quốc năm thứ 28. Bản dịch do Trần Nghĩa dịch. Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu Bt.78.

(13) Đại Việt sử kí toàn thư. Sđd, tr.257.

(14) Phạm Văn Khoái: Giáo trình Hán văn Lý - Trần. Nxb. Đại học Quốc gia. H. 2001, tr.43.

(15) Đại Việt sử kí toàn thư. Sđd, tr.265.

(16) Thơ văn Lý - Trần. Sđd, tr.403.

(17) Riptin: Mấy vấn đề nghiên cứu những nền văn học trung cổ phương Đông theo phương pháp loại hình. TCVH, số 2/1974.

(18) Nguyễn Công Lý: Mấy đặc điểm văn học Lý - Trần. Tạp chí Hán Nôm, số 2 (47), tr.9.

(19) Lê Mạnh Thát. Khương Tăng Hội toàn tập. Tu thư Vạn Hạnh, tái bản. 1994.

(20) TVLT. T.I. Sđd, tr.338.

(21) Trung Quốc huấn hỗ học sử . Bản dịch. Sđd, tr.7.

Bảng thống kê hiện tượng tá âm
trong Lĩnh Nam chích quái (*)

TT Tên truyện Trang dòng LNCQ A.2914 Các bản LNCQ khác Hiệu chỉnh Nguyên văn
1 鴻 龐 氏 傳 6b2 率 相 魚 食 卜 為 蛟 蛇 所 傷
2 8b1 今 牛 寺 是 也
4 木 精 神 傳 10a5 宰 牲 物 而 祭 之
5 檳 榔 傳 10b1 上 古 之 時 有 一 官 榔
6 西 瓜 古 傳 14b5 常 種 苞 苴 於 門 庭
7 李 翁 仲 傳 21a5 安 陽 王 乃 以 李 翁 仲 身 貢 秦 始 皇
8 越 井 古 傳 22b4 萬 古 英 靈 鎮 越 常
9 金 龜 古 傳 29a5 擇 日 受 聘 禮 還 婚 姻
10 蠻 娘 古 傳 30b4 常 在 廚 灶 釆 米 魚 粥 身 親 炊 爨
11 徐 道 行 傳 40a1 設 大 會 七 日 行 法 捄 胎
12 龍 眼 如 月 二 神 傳 37a4 賜 臣 等 名 為 神 部 官
13 揚 空 路 阮 覺 海 42a7 至 河 澤 棲 縱 焉
14 何 烏 雷 傳 45a5 檳 榔 一 封 路 門 童 子 乞 入 公 主 園 花 中

(*) Chúng tôi xin lược trích một số trường hợp tá âm tiêu biểu.

Bảng thống kê hiện tượng tá âm trong
thiền uyển tập anh

TT Tên truyện Trang dòng VHv. 1267 Hiệu chỉnh Nguyên văn
1 無 言 通 禪 師 7a5 傳 登 曰 不 語 通
2 善 會 禪 師 10a5 報 心 是 佛 者 為 魔
3 雲 峰 禪 師 11a3 不 肖 遮 箇 會 便 休
4 定 香 長 老 13a8 喻 二 十 四 年
5 圓 照 禪 師 14a11 長 老 熱 氏 曰
6 法 賢 禪 師 48b4 師 忽 然 自 省 便 禮 拜 遂 得 旨 焉 支 滅 已 經 入 慈 山 唱 定
7 清 辨 禪 師 49b6 師 舉 前 話 似 之
8 長 老 羅 貴 安 51b7 故 於 明 珠 字 種 木 綿 一 樹
9 摩 訶 禪 師 53b9 愴 惶 倉 黃 吳 君 代 我 , 吳 愴 惶 岡 措
10 道 行 禪 師 58a8 適 子 號 為 覺 皇

Bảng thống kê hiện tượng tá âm
trong bia thời lí

TT Tên bia Kí hiệu
thư viện
Trang dòng Hiệu chỉnh Nguyên văn
1 安 穫 山 報 恩 寺 碑 記 17539
17540
8 致 壬 戌 之 歲 皇 帝 特 加 清 化 一 軍
2 崇 嚴 延 聖 寺 碑 銘 20953 6 自 此 已 來
3 大 越 國 李 家 第 四 帝 崇 善 延 齡 塔 碑 32724
32725
至 妙 至 寂 , 無 象 無 形
4 乾 尼 山 香 嚴 寺 碑 20957 6 銘 傳 香 嚴 貞 嚴 明 嚴 三 禪 院
5 鉅 越 國 太 尉 李 公 石 碑 銘 序 2 保 節 守 政
6 皇 越 太 傅 劉 君 墓 志 A.1027 9 累 格 三 世 曷 一 忠
7 奉 聖 夫 人 黎 氏 墓 志 10755
10761
9 皇 越 奉 聖 夫 人 黎 氏 墓 志 銘 鉼 序
8 圓 光 寺 碑 扁 曰 嚴 光 寺 者
9 報 恩 禪 寺 碑 記 4102
4103
2 釋 主 出 化 曾 崇 其 影

Bia Trần

1 奉 陽 公 主 神 道 碑 7804 1 奉 陽 公 主 神 道 碑 銘 并 寺
2 興 福 寺 碑 13 鄉 道 嚮 導 因 為 鄉 道
14 恐 先 君 子 之 志 興 腐 草 一 旦 澌 盡
3 延 福 院 碑 7 誘 導 玄 械 要 里
18 閻 呂 含 齒 陌 名 官
4 崇 天 寺 碑 5114
5115
2 粵 有 烘 路
5 開 嚴 碑 記 23637
23638
4 噫 去 聖 愈 遠 道 之 不 明
6 浴 翠 山 靈 濟 塔 記 30256 19 鼓 或 蠱 或 少 奉 佛 教 鼓 或 眾 生
25 重 有 發 余 長 既
7 天 寥 山 三 寶 地 12 綿 衣 綿 之 鄉 祖 不 忘

bảng thống kê hiện tượng tá âm trong
Đại Việt sử kí toàn thư

TT Trang dòng Hiệu chỉnh Nguyên văn
1 屬 吳 晉 宋 齊 梁 紀 3b6 常 法 無 奇 數 異 術 則 郡 惡 日 滋
2 3b8 戊 辰 [漢 延 喜 十 一 年]
3 5a2 吳 以 劉 俊 為 刺 史 俊 與 太 都 督 修 稷 將 軍
4 屬 隋 唐 紀 1a9 以 舟 師 出 比 境
5 1b4 象 多 陷 坑 顛 []轉 相 驚 駭
6 7b7 時 元 嘉 移 撫 治 於 蘇 歷 江
7 24a9 遣 行 軍 王 明 提 稱 攝 驩 洲 刺 史
8 吳 紀 22a5 且 當 時 國 人 皆 已 君 三 哥
9 李 紀 27a2 卿 等 宜 永 肩 乃 心 夾 輔 王 室
10 陳 紀 33b1 春 二 月 閱 定 及 戶 口 有 差

Bảng thống kê hiện tượng tá âm
trong Đại Việt sử kí

TT Trang dòng ĐVSK
A.1272
Hiệu chỉnh Nguyên văn
1 越 鑑 通 考 14b3 其 政 由 有 可 觀
2 25a2 蜀 既 洴 其 國
3 25a7 盤 旋 如 螺 刑
4 43a7 鄉 人 卜 龍 等 五 六 人
5 48a2 民 有 自 類 然 土 廣 民 眾 易 以 為 亂
6 48a4 黃 漁 一 枚 收 稻 一 斛
7 56b5 今 李 賁 有 兵 五 萬 而 不 能 取 國
8 71b2 雖 未 即 帝 位 改 元 而 我 越 之 匡 統 庶 幾 乎 復 讀 矣
9 83a1 官 家 幼 溺 未 堪 多 難
10 84a9 宿 猶 人 身 之 有 四 肢 也 運 動 伸 宿 隋 諸 人 心
11 李 紀 139b2 流 洮 江 案 致
12 143b7 柔 [桑] 榆 欲 逝 , 過 咎 難 亭
13 柔 [桑] 榆 欲 逝 , 過 咎 難 亭
14 143b4 朕 卓 早 歲 髯 嗣
15 143a6 皇 天 俘 祐 四 海 無 慮
16 157a9 高 宗 以 遠 戰 勞 人 令 諭 今 後 亭 土 象 之 貢
17 160a4 國 家 正 務 一 遵 成 憲
18 163a3 太 傅 為 受 天 子 明 命 階 下 既 屨 尉 之 矣

TB

THỜI ĐIỂM SÁNG TÁC TRUYỆN KIỀU
CHỮ HÚY TRONG BẢN IN CỦA
DUY MNH THỊ (1872)

ĐÀO THÁI TÔN

Ngay khi còn nằm tại xưởng in, công trình Tư liệu Truyện Kiều - Bản Duy Minh Thị 1872 của GS. Nguyễn Tài Cẩn đã được dư luận quan tâm qua các bài viết của ông(1).

Đây là bản Truyện Kiều do Duy Minh Thị “trùng san”, in tại Quảng Đông - Trung Quốc năm 1872. Nét đặc biệt của bản này là, do thợ khắc Trung Quốc không biết chữ Nôm nên khắc sai rất nhiều, nhưng đây là bản Kiều duy nhất kiêng húy(2) một cách triệt để đến mức sợ sệt pháp lệnh năm 1803 của triều Gia Long. Vậy giá trị của bản Duy Minh Thị là gì ? Đây là bản in đời Gia Long hay đời Tự Đức ?... Hàng loạt câu hỏi như thế sẽ đặt ra với bất kỳ ai đọc Tư liệu Truyện Kiều - Bản Duy Minh Thị 1872

Như GS. Nguyễn Tài Cẩn đã viết: “Tìm hiểu ý kiến của các nhà nghiên cứu đã mất là một chuyện phải tiến hành một cách hết sức thận trọng, vì tìm hiểu cốt là để cuối cùng thấy được đúng sự thật” (Sđd, tr.553) - nhất là cho đến trước khi mất, học giả Hoàng Xuân Hãn chưa hề viết bài hoặc miêu tả, phiên chú mà chỉ nhắc tới bản 1872 khi trả lời phỏng vấn(3) như nói tạt qua, không hề nhắc tới tên văn bản.

Công trình nghiên cứu của GS. Nguyễn Tài Cẩn đã cho chúng ta một tư liệu quí giá để biết được đến thời điểm nào thì học giả có bản Kiều chép tay mang chữ húy, thời điểm nào thì có bản Duy Minh Thị. Đây là điều vô cùng lý thú. Vì nó sẽ giải đáp một điều là: tại sao, đã chắc tin rằng Truyện Kiều được sáng tác vào đời Tây Sơn mà học giả Hoàng Xuân Hãn lại cặm cụi đi tìm văn bản mang chữ húy Gia Long ?

Chữ húy liên quan tới vấn đề thời điểm sáng tác Truyện Kiều và nghiên cứu văn bản là như vậy. Vì thế, hơn nửa thế kỷ qua các học giả đã không ngừng quan tâm tới vấn đề này. Chúng tôi xin điểm lại ý kiến từng học giả.

VỀ THỜI ĐIỂM VIẾT TRUYỆN KIỀU

1/ Năm 1943, Đào Duy Anh là người đầu tiên đặt vấn đề “Nguyễn Du viết Đoạn trường tân thanh vào lúc nào”(4)? Cụ viết:

“Mấy lâu tôi cũng theo ý kiến sẵn của phần đông người và bằng vào sách Đại Nam liệt truyện mà cho rằng Nguyễn Du được đọc sách Kim Vân Kiều truyện trong khi đi sứ sang Trung Quốc và sau khi trở về mới viết sách Đoạn trường tân thanh”.... Nhưng trong khi viết sách Khảo luận về Kim Vân Kiều, tôi đã sinh mối hoài nghi... Kịp đến gần đây, nhân nghiên cứu về sách Hoa tiên ký của Nguyễn Huy Tự, tôi nhận thấy nhiều chứng cứ tỏ rằng Nguyễn Thiện đã mô phỏng văn của Nguyễn Du mà sửa lại văn của Nguyễn Huy Tự(5), nhân đó phải xét xem Nguyễn Du viết Đoạn trường tân thanh vào lúc nào”.

Cụ trình bày những mối ngờ:

a/ “Sách Liệt truyện nói rằng Nguyễn Du đi sứ về thì có Bắc hành thi tập Thúy Kiều truyện hành thế. Nhưng sách Liệt truyện sơ tậpnn, soạn sau khi Nguyễn Du chết đến 30 năm, cũng có thể chép sai. Chữ Thúy Kiều truyện (tên gọi tục) và chữ Bắc hành thi tập các sử thần dùng đó, tỏ rằng họ chỉ bằng vào khẩu truyền nên mới chép những tên sách gọi tục ấy, chứ không chép tên chính là Bắc hành tạp lục Đoạn trường tân thanh. Như thế thì sách Liệt truyện, tuy là quốc sử, cũng không đủ cho ta tin”.

b/ “Ta có thể bằng vào gia phả được không? Gia phả cũng là do người đời sau chép, cho nên lòng tin của chúng ta đối với quyển gia phả cũng nên có giới hạn. Ví dụ gia phả họ Nguyễn Tiên Điền gán sách Lê quý kỷ sự cho Nguyễn Du vì người chép gia phả lộn tên tác giả sách ấy là Nguyễn Thu, một sử thần ở triều Tự Đức cũng có đi sứ Trung Quốc, với tên Nguyễn Du, đó là chứng cứ khiến ta không nên quá tin gia phả”...

c/ Nguyễn Văn Thắng “đậu Cử nhân năm 23 tuổi, năm 1825, sau khi Nguyễn Du chết 5 năm. Ông là một người đồng thời với tác giả Đoạn trường tân thanh, cho nên những lời của ông về sách của Nguyễn Du là rất có thể đáng tin. Ông được sách của Nguyễn Du lúc bị hạ ngục, “mùa đông năm Canh Dần” (cuối năm 1930”... Trong bài tựa Kim Vân Kiều án của Nguyễn Văn Thắng có câu: “Xưa nhà Ngũ-vân lâu bên Tàu in bản Thực lục đã lưu hành khắp chỗ, từ trước đến nay. Kịp đến quan Đông-các nước ta phu diễn ra quốc âm (theo Hoa Bằng dịch)”... “Bản Thực lục mà Nguyễn Văn Thắng nói đó là bản Kim Vân Kiều truyện của Trung Quốc. Xem thế thì sách ấy lưu hành trong nước đã rộng lắm rồi... Nếu sách ấy mãi khi Nguyễn Du đi sứ mới mang về - năm 1814, thì hẳn chưa có thể “lưu hành khắp chỗ, từ trước đến nay” được. Vậy ta có thể ngờ rằng sách Kim Vân Kiều truyện đã có ở nước ta trước khi Nguyễn Du đi sứ”.

d/ “Vả trong Lời tựa lại dùng danh hiệu “quan Đông-các” mà chỉ Nguyễn Du, chứ không dùng chữ “quan Tham tri bộ Lễ... Tại sao Nguyễn Văn Thắng lại gọi là quan Đông-các, dùng một chức quan nhỏ của Nguyễn Du từ năm 1805 đến 1809, là khi lãnh chức cai bạ dinh Quảng Bình ?… Ta có thể tưởng một cách có thể gọi là chắc chắn được, Nguyễn Du viết sự tích Thúy Kiều trong khi còn làm quan ở chức Đông-các, nghĩa là trước khi đi sứ Trung Quốc”.

2. Cũng năm 1943, trong bài Nguồn gốc văn Kiều (6), Hoàng Xuân Hãn viết:

Liệt truyện Gia phổ đều nói cụ đi sứ năm Gia Long thứ 12 (1813). Gia phổ lại chép rằng năm sau cụ về... Vậy quyển Đoạn trường tân thanh làm ra trong khoảng năm 1814-1820”. Và: “Từ Hoa tiên đến Đoạn trường tân thanh còn có Mai Đình mộng ký. Bài ký ấy lại làm vào năm 1809, trước Đoạn trường tân thanh”.

3. Nhưng, năm 1951, khi nghiên cứu Mai Đình mộng ký, Hoàng Xuân Hãn đã có một chú thích, tự phủ định ý kiến trên đây:

“Trong bài Nguồn gốc văn Kiều (Báo Thanh nghị số 29, 30, 31), tôi đã căn cứ vào thân sử cụ Nguyễn Du trong sách Đại Nam liệt truyện mà tạm nhận rằng bài Mai đình mộng ký viết trước quyển Đoạn trường tân thanh. Nhưng nay tôi đã tìm thấy chứng khá chắc chắn tỏ rằng tập sau (Đoạn trường tân thanh - ĐTT) đã viết trước tập trước (Mai Đình mộng ký - ĐTT). Hãy xem sách Hồng Sơn văn phái của tôi. (HXH)”.

Kể ra, chỉ xét về năm sinh năm mất của Nguyễn Huy Tự (1743-1790) tác giả Hoa tiên, Nguyễn Du (1765-1820) tác giả Truyện Kiều, Nguyễn Huy Hổ (1783-1841) tác giả Mai Đình mộng ký thì cũng thấy Truyện Kiều được sáng tác trước Mai đình mộng ký là có lý. Nhưng năm 1951, vì đang nghiên cứu về Mai đình mộng ký, Hoàng Xuân Hãn chưa nói rõ những “chứng khá chắc chắn” về thời điểm sáng tác Truyện Kiều.

4. Năm 1963, trong bài Nguyễn Du viết Truyện Kiều vào lúc nào?(7), sau khi lược thuật các luận điểm của Đào Duy Anh và Hoàng Xuân Hãn, GS. Trương Chính viết:

“Chúng tôi cho rằng thời gian sáng tác Truyện Kiều là vào khoảng những năm Nguyễn Du ở “dưới chân núi Hồng”, nghĩa là từ 1796 đến 1801, trước khi ra làm quan với nhà Nguyễn.

Lý do thứ nhất: trong Truyện Kiều có nhiều đoạn tỏ ra rằng Nguyễn Du đang còn có chút “hùng tâm”, mặc dù cái “hùng tâm” đó cũng như sinh kế đang hết sức mờ mịt (...). Nhưng cái “hùng tâm” tráng chí khi đó mất hẳn trong thời kỳ ra làm quan với nhà Nguyễn. Những bài thơ ông làm thời kỳ này, kể cả những bài thơ làm lúc đi sứ Trung Quốc, chứa chan một niềm u uất không thể bộc lộ ra được... Với một tâm trạng như vậy thì không thể ngồi mà sáng tác được một cuốn như Truyện Kiều.

Lý do thứ hai: Thời Gia Long là một thời chuyên chế. Gia Long dùng một số con em đại thần đời Lê để thu phục nhân tâm, cất nhắc lên những chức cao, nhưng không phải là đã tin cẩn. Nhiều người đã mang lụy vào thân. Nguyễn Văn Thuyên, con Nguyễn Văn Thành, vì một bài thơ mà bị chém. Võ Trinh, anh rể Nguyễn Du cũng bị đi đày... Ngục văn tự đã thiết lập. Cho nên, trong một hoàn cảnh như vậy, Nguyễn Du không thể viết được những câu thơ bất mãn với chế độ: Bó thân về với triều đình / Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu...

Những câu thơ đó, Nguyễn Du chỉ có thể viết khi ở dưới chân núi Hồng chưa bị một sức mạnh nào ràng buộc”.

5. Năm 1996, trong bài trả lời phỏng vấn, Hoàng Xuân Hãn có dịp nói rõ hơn về thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều:

... “Đến gia phả ở Tiên Điền cũng nói rằng khi cụ Nguyễn Du đi sứ, có mang Truyện Kiều về, cho nên cụ viết quyển Kiều tiếng Việt. Cái ấy là lầm. Chắc chắn là lầm”. Cụ nêu lý do:

a/ “Vì trong Đoạn trường tân thanh “có những lời phê bình của hai người là ông Vũ Trinh và ông Nguyễn Thành(8)... Sự phê bình ấy có phần chắc là đời Tây Sơn”.

b/ “Cái thứ hai là ông Vũ Trinh sống lâu, nhưng ông ấy đã bị tội trong đời Gia Long vì ông ấy là thầy dậy học con Nguyễn Văn Thành. Con Nguyễn Văn Thành bị xử tử, ông ấy bị đầy vào Quảng Nam. Cho đến đời Minh Mạng mới được tha về... Vì có sự phê bình của các ông ấy thì biết rằng Truyện Kiều được viết đầu đời Gia Long hoặc trước đời Gia Long. Tôi chắc cũng không phải đời Gia Long”...

c/ “Còn một chứng nữa, rất lớn, cũng không mấy người để ý tới: Cụ Phạm Quý Thích, người đề thơ đầu tiên về Kiều, còn để lại nhiều tập thơ. Có một tập cụ kể chuyện đi từ Bắc vào Huế... Khi cụ tới Quảng Trị…, cụ làm một bài thơ gọi là Đề từ quyển Kiều ... Do đấy thì biết rằng cụ có bản Nôm Kiều ở trong tay năm ấy, tôi nhớ như đầu đời Gia Long, năm 1805 - 1806 quãng ấy... Cho nên mình biết rằng quyển Kiều có trước đời ấy khá lâu, trước khi cụ Nguyễn Du đi sứ về”.

d/ “Hơn nữa, trong Kiều có mấy câu đầu, ít người để ý tới: Trăm năm trong cõi người ta / Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Hai câu ấy có thể nói gần như là hai câu sáo, không kể; nhưng câu dưới: Trải qua một cuộc bể dâu / Những điều trông thấy đã đau đớn lòng, sau này có bản chữa lại đau đớn lòng. Thực ra là đã đau đớn lòng... Trong truyện Tàu, không có chuyện bể dâu gì cả. Không có sự thay đổi gì cả... Vậy cuộc bể dâu ấy là gì ? Tức là Tây Sơn phá Trịnh với Lê và cụ, tức là cái họ của cụ không biết bao nhiêu người làm quan đầu triều. Một cuộc bể dâu mà Tây Sơn đánh đổ Lê - Trịnh là làm đổ hết cả họ về mọi mặt ở Tiên Điền. Cho nên những điều trông thấy đấy [đã] làm cụ đau đớn lòng. Theo đấy, với những lẽ suy khác thì nghĩ rằng cụ viết đời Tây Sơn chứ không phải đời Gia Long”.

6. Năm 1998, 1999 GS. Vũ Đức Phúc trong các bài viết, ngoài việc vạch ra những sai lầm của Nguyễn Quảng Tuân đối với bài trả lời phỏng vấn của Hoàng Xuân Hãn, còn dành một số trang để phê phán sự phê phán của “nhà Kiều học” đối với Đào Duy Anh trong vấn đề thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều (9). Đây là những bài viết chặt chẽ, riết róng. Bằng sự phẫn nộ chính đáng với những luận cứ thuyết phục, trong hai bài viết này, người viết đã chỉ ra từng sai trái trong việc nghiên cứu của Nguyễn Quảng Tuân để bảo vệ những luận điểm đúng đắn của hai học giả đã khuất là Đào Duy Anh và Hoàng Xuân Hãn khiến người bị phê phán không thể nào nói lại được. Và vì thế, vấn đề thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều lại đã được khẳng định thêm bằng những lý lẽ khác.

Theo dõi lịch sử vấn đề, chúng tôi thấy như sau:

Học giả Đào Duy Anh đã đưa ra những cứ liệu chắc chắn chứng minh Nguyễn Du viết Truyện Kiều từ trước khi đi sứ. Nhưng “chốt” lại rằng viết trong khi còn làm quan ở chức Đông-các từ năm 1805 đến 1809, thì e rằng Cụ đã hơi đãng trí, vì chức quan ấy chỉ cho ta thông tin về thời điểm chép văn bản chứ không phải thời điểm sáng tác Truyện Kiều. Tuy nhiên, nhìn lại sự nghiên cứu của các học giả từ 1943 đến 1999, từ Đào Duy Anh (1943), Hoàng Xuân Hãn, Trương Chính (1963) đến Vũ Đức Phúc (1999), chúng ta thấy các ý kiến dù đại đồng tiểu dị nhưng đa số đều đưa ra được những lý lẽ ngày càng cụ thể hơn làm cho ta có cơ sở để tin rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều trong đời Tây Sơn.

Điều đó có nghĩa là, từ nguyên tác đến những truyền bản ban đầu, Truyện Kiều không hề có chữ húy đời Gia Long.

CÁC CHỮ HÚY ĐỜI GIA LONG TRONG BẢN DUY MINH THỊ (1872)

Vậy vì sao ngay từ khi bắt tay vào nghiên cứu văn bản Truyện Kiều, học giả Hoàng Xuân Hãn lại để tâm đi tìm những bản mang chữ húy đời Gia Long ? Là vì, như Cụ cho biết, khi bắt tay vào nghiên cứu, Cụ thấy “không có bản in nào xưa hơn cuối đời Tự Đức (1848-1883)”. Vì thế, Cụ đi tìm bản mang chữ húy Gia Long (1802-1820), vì nếu tìm được một bản như thế thì đó chắc là bản được chép từ sinh thời Nguyễn Du (1765-1820), gần với nguyên tác hơn các bản được chép hoặc in vào cuối đời Tự Đức. Lý thuyết mách bảo học giả Hoàng Xuân Hãn đi tìm văn bản lý tưởng đó. Nhưng không ai có thể ngờ rằng khoảng trước 1942, khi Cụ đang chỉ hy vọng tìm được một bản chép tay như thế, thì hơn 60 năm trước, năm 1872, Duy Minh Thị đã cho khắc in tại Quảng Đông văn bản “lý tưởng” đó rồi ! Có thể hình dung Hoàng Xuân Hãn mừng đến thế nào.

Theo lý thuyết thì bản 1872 đã được in ra từ một bản gốc hình thành trong đời Gia Long. Có thể từ khi Nguyễn Du còn sống. Sự nghiên cứu chữ húy khiến GS. Nguyễn Tài Cẩn ước đoán văn bản này được ra đời trong khoảng 1803 đến sau 1825. Vậy bản gốc của bản 1872 là bản in hay bản chép tay? Bản Duy Minh Thị có phải là bản gần với nguyên tác không?…

Để trả lời câu hỏi này, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng bản Duy Minh Thị. Câu trả lời hiện đang nằm phía trước.

Điều đáng mừng là hôm nay, nhờ công phu của GS. Nguyễn Tài Cẩn, bản Duy Minh Thị đã hiện diện trước chúng ta mà nhờ đó, một bản Nôm rất khó đọc đã trở nên dễ hiểu hơn trong việc nghiên cứu của mọi người. GS. Nguyễn Tài Cẩn đã dày công trong việc giải mã văn bản này. Đó là khi ông phân tích một câu thơ mà chỉ bản Duy Minh Thị khắc như vậy. Đó là khi một từ cổ được ông phiên với một âm hoàn toàn mới và giải thích rõ ràng sự phiên của ông dưới góc độ ngữ âm lịch sử. Hoặc đó là khi ông chỉ ra những chữ mà thợ khắc ván khắc lầm. Có chữ “lầm” nhưng cũng có thể hiểu theo một cách nào đó theo sự dẫn giải của ông. Đó là khi ông chỉ ra những chữ Nôm phương ngữ v.v…

Nhưng điều quan trọng còn là ở chỗ Nguyễn Tài Cẩn đã cho người đọc thấy được sự sâu sắc về mặt phương pháp nghiên cứu cũng như sự kỳ khu trong công việc sưu tầm của học giả Hoàng Xuân Hãn. Có những vấn đề mà nếu không có công trình của ông, chỉ nghiên cứu qua bài trả lời phỏng vấn năm 1996, người đọc sẽ khó mà lĩnh hội rõ ràng. Chẳng hạn, khi Thụy Khuê hỏi: “Bản này bác khám phá ra hồi nào ạ”? Hoàng Xuân Hãn trả lời: “Từ hồi đầu trước, khoảng 42-43, tôi đã thấy rồi”, thì bản “đã thấy rồi” ấy là bản chép tay chứ không phải là bản in Duy Minh Thị(10) và ngay khi nhắc tới bản Duy Minh Thị, học giả Hoàng Xuân Hãn cũng chỉ nói: “Hiện bây giờ có bản in, nhưng in sai rất nhiều, cho nên không mấy người để ý tới. Nhiều khi người ta cho là bản một người dốt chép lại. Nhưng thực sự bản ấy là bản quý nhất”, thì ta cũng không hiểu “quí nhất” là thế nào, là quí hơn cả bản viết tay xưa hơn các bản in mà Hoàng Xuân Hãn có, hay quý là bởi bản in này là hình ảnh trung thực của một bản gốc xuất hiện từ sinh thời Nguyễn Du ?…

Đến nay, đọc kỹ bản Duy Minh Thị và bài trả lời phỏng vấn, chúng tôi thấy có lẽ câu sau đây là câu học giả Hoàng Xuân Hãn nói về bản Duy Minh Thị:

- “Cuối cùng tôi thấy trong những bản còn lại, có một bản hội đủ điều kiện để tái lập phần lớn văn Kiều đời xưa, có thể nói là nguyên lời Nguyễn Du, chứ không phải là nguyên bản bởi vì nguyên bản không tìm ra được nữa”.

Nếu đúng như vậy, thì Cụ không coi bản Duy Minh Thị là bản gần với nguyên tác. Cụ nói tới việc làm Kiều tầm nguyên:

- “Công việc của tôi làm, hầu hết là công việc kế toán. Tôi lấy tám bản Kiều đời Tự Đức, là đời xưa, tôi so sánh từng chữ một. Trong một chữ ấy, tám cuốn ấy viết như nhau hay là khác nhau thì khác như thế nào?.. In ra thì cũng thành cái bản Kiều, tôi gọi là bản Kiều tầm tguyên, tìm cái gốc. Thì cũng chỉ như những bản Kiều khác, chứ không có gì khác lắm”.

Tức là Cụ không xem bản 1872 là độc tôn, là bản gần nguyên tác nhất. Chúng tôi thấy cần phải lưu ý tới điểm này vì đã có một vài người do không quan tâm đầy đủ tới ý kiến Hoàng Xuân Hãn, tưởng đâu như mọi chữ trong bản Duy Minh Thị đều là của nguyên tác, trong khi, cho đến nay, đọc kỹ bài trả lời phỏng vấn và bản 1872, chúng tôi không nhận thức như thế; dù cho ngoài phần chữ húy, Hoàng Xuân Hãn còn lưu ý đến những điều khác trong bản Duy Minh Thị:

+ Những chữ bên trong, những tiểu từ gần với bản chính truyện Tàu.

+ Tiếng Nghệ instinctivement. Cụ viết ra những tiếng dùng ở Nghệ chứ ở ngoài Bắc người ta ít dùng lắm.

+ Có những chuyện họ Nguyễn ở Tiên Điền, họ nói một cách khác ở ngoài.

+ Có vài chi tiết, cụ lấy trong Kiều, viết ra y như thế.

+ Bản mà tôi thấy trượng nghĩa khinh tài chắc là nguyên văn ngay từ lúc đầu cụ Nguyễn Du viết ra, rồi sau người ta chữa chữ trượng ra trọng.

+ Về đoạn Sở Khanh tán Kiều, Cụ Nguyễn Du viết có bốn câu, các cụ chữa lại sáu câu. Lúc ấy tôi cũng không đếm số câu gì, sau về tôi khảo lại, thấy thực như thế. Mà cũng rất có thể chính cụ Nguyễn Du cũng có thể chữa bản mình viết khi đầu.

+ Những bản cũ là tha ra, là tiếng cổ. Tha ra có ý là không rơi thẳng xuống mà rơi xiên. Rồi sau chắc là các cụ thấy tha ra không quen đọc, không quen nói nữa, rồi đổi ra thướt tha, hay hơn.

Việc sưu tầm văn bản rất kỳ khu cùng với việc khai thác văn bản của Hoàng Xuân Hãn đã cho ta thấy việc làm của học giả khác hẳn công việc biên soạn Truyện Kiều trong thế kỷ qua. Một thế kỷ qua, do nhiều lẽ mà người ta mới chỉ biên soạn, biên khảo, chú thích, khảo đính... Truyện Kiều trên cơ sở những bản Nôm và quốc ngữ - mà phần lớn là của thế kỷ XX, chứ chưa ai thực sự chú trọng tới việc nghiên cứu văn bản một cách bài bản. Hoàng Xuân Hãn là người đầu tiên đề ra đường hướng nghiên cứu văn bản với mục đích để “tầm nguyên” (tìm cái gốc) Truyện Kiều. Cụ không đề ra mục tiêu đi tìm nguyên tác vì biết rằng không thể tìm được nguyên tác. Cụ cũng không đưa ra một bản Kiều được “hiệu đính” trên cơ sở những bản chữ Nôm, chữ Quốc ngữ của thế kỷ XX mà chú trọng “tầm nguyên” từ các bản đời Tự Đức.

Đó là những nét khác biệt nổi trội về mặt phương pháp làm việc của Hoàng Xuân Hãn.

*
**

Đọc Tư liệu Truyện Kiều - Bản Duy Minh Thị 1872 của GS. Nguyễn Tài Cẩn, tôi hiểu thêm tình cảm và lòng tri ân của Giáo sư với học giả Hoàng Xuân Hãn. Trong trang viết vội đính kèm nhờ người chuyển cho bản Duy Minh Thị, Giáo sư viết: “Tôi rất trọng nhân cách của Cụ. Rất phục sự uyên bác của Cụ cũng như kho kinh nghiệm của Cụ. Nhưng tôi có trao đổi với Cụ về phiên Nôm vì tôi căn cứ ngữ âm lịch sử, có những chỗ tôi khác Cụ. Cụ không đi theo hướng ấy nhưng Cụ rất khuyến khích tôi đi. Qua thư riêng, tôi thấy Cụ kì vọng ở tôi nhiều đến mức tôi đâm lo!”. Vì thế, tại công trình này, bên cạnh việc khẳng định công lao của học giả, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã “nối chí các nhà văn hóa đã đi trước” bằng những đóng góp mới về phương pháp và phong cách của riêng ông. Ngoài việc giới thiệu từng ý tưởng của học giả Hoàng Xuân Hãn trong việc khai thác bản Duy Minh Thị, Giáo sư còn miêu tả rõ ràng, cụ thể hơn những ý tưởng mà do khuôn khổ trả lời phỏng vấn, học giả không có điều kiện trình bày kỹ càng. Giáo sư cũng bắt đầu giải quyết nhiều vấn đề mà học giả Hoàng Xuân Hãn chưa đặt ra, như sự ảnh hưởng của bản 1872 tới bản 1871 và một số văn bản đời Tự Đức, bản gốc của bản Duy Minh Thị v.v. Nhưng với sự thận trọng vốn có, Giáo sư vẫn coi ý kiến của ông chỉ là những giả thiết…

Đó là những lý do mà tôi đã đọc miệt mài công trình của GS. Nguyễn Tài Cẩn với một sự tri ân sâu sắc, bởi từ năm 1998, khi có được bản Liễu Văn đường 1871, tôi không dám đắc ý vui mừng như người vừa săn tìm được món đồ cổ mà luôn mang một nỗi lo triền miên: đầu tiên là phải lo phiên âm cho đúng trong khi biết mình không được đào tạo bài bản về ngữ âm lịch sử. Đó là mối lo thứ nhất. Mà dù phiên đúng, cũng còn phải nghiên cứu về phương diện văn bản học để thấy bản 1871 có giá trị và vai trò gì trong nghiên cứu văn bản Truyện Kiều. Đó là mối lo thứ hai. May sao, cuối năm 2000, nhân Giáo sư về nước nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh, tôi đã tặng ông bản chụp để xin ông chỉ dẫn cho cách đọc một chữ Nôm nào đó mà tôi ngờ đang có cái bẫy về ngữ âm lịch sử.

Chẳng dè, từ Nga, Giáo sư đã cất công sưu tầm bản Duy Minh thị 1872, để “hưởng ứng chủ trương rất sáng suốt của Viện Nghiên cứu Hán Nôm” cũng như hưởng ứng “lời mời đầy thiện chí” của chúng tôi. Chúng tôi vô cùng cảm động và biết ơn.

Sau khi đọc bản Duy Minh Thị, những câu hỏi đặt ra cho chúng tôi hiện nay là: vậy thì bản Duy Minh Thị có quan hệ thế nào với bản 1871 và các bản in đời Tự Đức? Đây là bản khắc in lần đầu hay là khắc lại một bản in thời Gia Long? Có phải bản VNb.60 là văn bản đời Minh Mệnh? Luồng lạch truyền bản của Truyện Kiều là như thế nào? Có phải chỉ có hai luồng là “bản Kinh” và “bản Phường” như lâu nay vẫn hiểu hay không…

Thật là triền miên ! Nhưng cũng thật đáng bỏ công tìm hiểu.

Chúng tôi mong sẽ được trình bày từng vấn đề trong một thời gian gần đây.

Đ.T.T

CHÚ THÍCH:

(1) Nguyễn Tài Cẩn: Tư liệu Truyện Kiều – Bản Duy Minh Thị 1872. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H, 2002. Xin xem các bài của Nguyễn Tài Cẩn: Tạp chí Ngôn ngữ số tháng 1 và 11 năm 2001; Báo cáo tại Hội thảo văn hóa Châu âu Việt Nam lần thứ V (EURO – Việt, V, 28 đến 30/5/ 2002 tại Nga; Diễn đàn số 122 tháng 10/2002.

(2) Kiêng húy là pháp lệnh Nhà nước rất quái ác thời phong kiến, bắt người ta phải thay chữ này, đổi chữ khác mỗi khi “cung ngộ” một chữ tên húy của vua hay ông bà, cha mẹ và nhiều người trong Hoàng tộc. Điều này chẳng những gây ra bao khốn khổ ở chốn trường thi mà còn có thể dẫn tới “án văn tự” thảm khốc ! Dĩ nhiên là các văn bản hành chính, thơ văn càng phải chú trọng trong việc kiêng húy. Thí dụ: vì LAN là tên húy của mẹ cả vua Gia Long, nên lệnh kiêng húy năm 1803 bắt mọi người khi đọc chữ ấy phải “tránh âm”, khi viết phải đổi chữ lan thành chữ HƯƠNG. Truyện Kiều có 5 câu mang chữ LAN (câu 162, 375, 1310, 1471, 1988), bản Duy Minh Thị triệt để thay bằng chữ HƯƠNG, nghĩa là “đuổi hẳn chữ LAN Hán Việt ra khỏi toàn bộ Truyện Kiều !” (Nguyễn Tài Cẩn).

Nhưng trong nghiên cứu văn bản học, chữ húy lại là một chìa khóa rất quan trọng trong việc xác định niên đại văn bản: một trong những điểm đáng quí của bản Duy Minh Thị là ở đó.

(3) Do Thụy Khuê thực hiện: Nói chuyện với bác Hãn. In lần đầu trên Hợp lưu số 29, tr..51-113, (6&7. 1996). Trích đăng trên Tạp chí Văn học số 3-1997: Học giả Hoàng Xuân Hãn nói về Truyện Kiều. Sau đó in trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn. Nxb. Giáo dục, H. 1988.

(4) Khảo luận về Kim Vân Kiều. In lần thứ nhất năm 1943 mang tên Khảo luận về Kim Vân Kiều. In lần thứ hai tại Nxb. Văn hóa, H. 1958 mang tên Khảo luận về Truyện Thúy Kiều. Dẫn theo bản in lần thứ hai.

(5) Nguyễn Huy Tự (1743-1790), Nguyễn Thiện (1763-1818). Hoàng Xuân Hãn cũng cho rằng Nguyễn Thiện “ẩn dật ở làng từ thuở trẻ, vậy ông đã có rỗi thời giờ mà làm công việc ấy từ lúc còn trẻ” (ĐTT).

(6) Hoàng Xuân Hãn: Nguồn gốc văn Kiều. (Văn phái Hồng Sơn), Thanh Nghị số 29, 30, 31.

(7) Tạp chí Văn học số 6 (12 - 1963)

(8) Tác giả nhớ nhầm. Nguyễn Lượng chứ không phải Nguyễn Thành.

(9) Xin xem: Hoàng Xuân Hãn và việc khôi phục nguyên tác Truyện Kiều (Tạp chí Văn học số 6/1998); Phương pháp văn bản học chân chính và lối làm việc không có phương pháp (Tạp chí Văn học số 4 năm 1999).

Năm 1996, Nguyễn Thạch Giang còn đưa ra ý kiến rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều năm 14 tuổi, tức năm 1779 (!). Đó là sự lầm lẫn đáng tiếc. Xin xem Nguyễn Du viết Truyện năm 14 tuổi trong Văn bản Truyện Kiều - Nghiên cứu và thảo luận. Nxb. Hội Nhà văn, H. 2001.

(10) Nguyễn Tài Cẩn cho biết, trong một bài ký viết chậm nhất là vào khoảng cuối năm 1947, Hoàng Xuân Hãn đã tâm sự:
“Trong mươi năm nay tôi đã gia công tìm mua một bản Kiều cũ, ít ra cũng xuất từ đời Tự Đức. Tôi đã đi các vùng quê..., đã tìm tòi. Tôi cũng đã lục các tủ sách cũ của các cụ nho già hay đã quá cố. Tôi lại thuê người tìm hộ. Nhưng tuyệt nhiên không thấy. Nhưng may sau đó, vào năm 1946, cụ đã mua được ở bờ hè Hàng Nón một bản Kiều in năm Kỷ Mão 1789, và năm 1947 cụ lại được tiếp xúc thêm với một bản Kiều cổ nữa, in năm 1882, thuộc thư viện gia đình cụ Hoàng Huấn Trung. Cụ mừng lắm. Nhưng trong nước cũng chỉ tìm được đến thế. Phải khi sang Paris cụ mới có điều kiện gặp được những bản cổ hơn”.

“Bài ký này có hai đoạn ghi thêm năm 1953 và năm 1988, nhờ đoạn ghi thêm năm 1988 ta mới biết mực cũ bị nhòe hết, cụ phải gắng đồ lại. Có lẽ do vậy, và do lúc này mắt cụ đã mờ nên cụ nhận nhầm và đồ nhầm là bài ký viết năm Ất Hợi 1945; viết năm 1945 sao lại có thể kể chuyện hai năm 1946, 1947 được ? Vả lại 1945 thì Ất Dậu chứ sao lại Ất Hợi ? Chắc là Đinh Hợi, chậm nhất là cuối năm đó” (Sđd. tr. 11, 12). /.

TB

BẢN DỊCH PHÁP VĂN
LĨNH NAM CHÍCH QUÁI 115 NĂM TRƯỚC

NGUYỄN NAM

Trong chừng mực nào đó, có thể xem đây như một bài điểm sách, giới thiệu và phân tích dịch bản Pháp văn Lĩnh Nam chích quái của Gustave Dumoutier ra đời cách đây hơn một thế kỷ,(1) một bài điểm sách muộn màng, không có tính thời sự. Bình điểm sách trong hoàn cảnh như thế người viết thường có nhiều thuận lợi: khoảng cách thời gian cho phép mở ra một tầm nhìn khái quát hơn về các vấn đề, và tất nhiên, dễ thấy được những khiếm khuyết cña sách mà độc giả thời ấy, do nhiều nguyên nhân khác nhau, chưa có điều kiện nhận chân. Thế nhưng bài viết này không nhằm chỉ trích những sai sót (thường rất khó tránh) của các học giả nước ngoài khi nghiên cứu lịch sử, văn hãa bản địa, mà nhằm phục hiện những nỗ lực ban đầu cña các học giả Pháp trong việc nghiên cứu Việt Nam qua thư tịch Việt Hán và điều tra điền dã. Bên cạnh những điều bất cập, các nghiên cứu sơ kỳ của họ vẫn có không ít điều gợi mở bổ ích, đáng chú ý. Nói cách khác, bình duyệt bản dịch của Dumoutier cũng là đề xuất thêm cách đọc và hiểu mới về một vài chi tiết trong các bản dịch Việt ngữ Lĩnh Nam chích quái hiện đang lưu hành ở ta.

Dumoutier và các văn bản Hán văn cña người Việt

G. Dumoutier là cựu thông dịch viên Việt ngữ và Trung văn cña Tổng trú sứ Pháp tại Hà Nội, ủy viên và thanh tra học hiệu Pháp - Việt tại Bắc kỳ. Ở vào những cương vị vừa nêu, Dumoutier quả là một ứng viên uy tín trong việc khảo cứu các tác phẩm Hán văn Việt Nam, và dịch thuật các tác phẩm này sang tiếng Pháp. Tập Légendes Historique de L'Annam et du Tonkin (Truyền thuyết lịch sử ở Trung và Bắc kỳ) của G. Dumoutier do nhà in F. H. Schneider ở Hà Nội xuất bản năm 1887 là một điểm mốc đánh dấu sự thâm nhập của người Pháp trong việc tìm hiểu Việt Nam như một chỉnh thể với những chiều sâu lịch sử của nó, thông qua nguồn tư liệu Hán văn do người Việt viết. Thêm vào đó, tập sách của Dumoutier cho thấy thao tác chọn lọc nguồn tư liệu, phương pháp tiếp cận, khả năng dịch thuật buổi đầu của học giả Pháp trong lĩnh vực Việt học.

Sách Truyền thuyết lịch sử ở Trung và Bắc kỳ mở đầu với một bài tựa, toàn văn như sau:(2)

“Trong những truyền thuyết chúng tôi cung cấp ở đây, có một số là mới, số còn lại đã được Đức cha học giả Legrand ở Liraye dịch và công bố trong tập sách nhan đề Notes historiques sur la nation annamite (Ghi chú lịch sử về dân tộc Việt Nam) ; thế nhưng, chúng tôi mạo muội đưa ra một bản dịch mới về những chuyện này, bởi lẽ những truyền thuyết ở đây, trong bản Lĩnh Nam chích quái liệt truyện mà chúng tôi sử dụng, khác biệt đáng kể với những chuyện trong Thiếu vi thông giám (3) mà đức cha Legrand ở Liraye đã dùng.

Mặt khác, do năm trước [1886] được ông Paul Bert giao trọng trách nghiên cứu về bia văn ở Bắc kỳ, trong quá trình làm việc, chúng tôi đ· tìm được khi giải đọc văn bia ở các chïa một số thông tin lịch sử mới có liên quan đến các truyền thuyết này. Chúng tôi thêm các dữ liệu này cũng như một số chi tiết cung cấp bởi các tăng đồ và thức giả mà chúng tôi đ· phỏng vấn vào bản văn dưới dạng phụ chú.

Trong ấn bản này, chúng tôi tiếc là chỉ có thể viết đúng quy cách đại để các danh từ riêng Việt Nam và Trung Quốc với các mẫu tự quốc ngữ vốn rất cần thiết cho việc hình dung chính xác phát âm cña các từ, nhưng đến nay tại Bắc kỳ, chỉ riêng nhà in truyền giáo ở Kẻ Sở mới có.

Hà Nội, tháng 9 năm 1887”.

Bài tựa của Dumoutier cho thấy một số điểm đáng chú ý. Đó là:

1. Một lớp học giả Pháp thông thạo cả Việt ngữ lẫn Hán văn đã hình thành và tiếp tục phát triển, tham gia vào nghiên cứu Việt Nam.

2. Sau khi tiếp cận nguồn tư liệu liên quan đến Việt Nam do người Trung Quốc viết, học giả Pháp đã quay trở lại với các tác phẩm Hán văn của người Việt. Sách vở và văn bia đã trở thành đối tượng nghiên cứu cña họ vào những thập niên cuối của thế kỷ XIX. Nghiên cứu điền dã (thu thập tư liệu, phỏng vấn...) cũng đă được coi trọng.

3. Tuy bài tựa cña Dumoutier chỉ nhắc đến Lĩnh Nam chích quái liệt truyện như nguồn thư tịch duy nhất, trên thực tế, dịch giả còn dùng đến Truyền kỳ tân phả như một nguồn bổ sung (như các truyện Vân Cát thần nữ, Bích Câu kỳ ngộ, Long Hổ đấu kỳ ký). Thần thoại, truyền thuyết đã chiếm một vị trí quan trọng những bước đầu nghiên cứu Việt Nam.

4. Số đầu tiên của Gia Định báo phát hành vào ngày 15 tháng 4 năm 1865 đánh dấu khả năng ấn loát tiếng Việt với tự mẫu La tinh hoàn chỉnh ở miền Nam. Tuy nhiên, cho đến năm 1887, các phương tiện in ấn tiếng Việt ở miền Bắc hãy còn hạn chế và vẫn nằm trong tay các nhà truyền giáo.

Trong bài tựa dẫn vào sách, Dumoutier nói rõ ông đã [tuyển] dịch từ Lĩnh Nam trích [chích] quái liệt truyện (tr.7). Do vậy, để thấy Dumoutier đã hiểu và dịch văn bản Việt Hán này sang tiếng Pháp như thế nào, bài viết này sử dụng bản Lĩnh Nam chích quái liệt truyện (hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.2107) cùng các khảo dị(4) làm cơ sở đối chiếu và biện thuyết. Bài viết sẽ không thiên truy tìm những lỗi có thể đã phát sinh trong quá trình in ấn, ví như, “Âu Cơ” hóa thành “An-ki” trong truyện Le génie du mont Tan-Vien / Tản Viên sơn thần truyện (tr.9), hay “Đặng Sĩ Doanh” đọc ra “Danh-si-doang” trong Légende de Ha-O-Loi / Hà Ô Lôi truyện (tr.65). Bài viết thử phân tích bản dịch truyện Man Nương (5) thao tác dịch thuật và diễn giải, phương pháp chú thích và hệ thống hóa của Dumoutier.

1. Phương Tây - phương Bắc

Đoạn mở đầu Man Nương truyện được Dumoutier dịch như sau:

“Sous le règne de l’empereur Hiêu de la dynastie Han, Si-Nhiêp, gouverneur de l’Annam, construisit une citadelle au sud du fleuve Thien-duc (Song-Thuong).

Près de cette citadelle se trouvait une pagode dans lequelle vivait un bonze, originaire du Nord, nommé Gia-la-dô-lê, qui était très expert dans l’art magique de Doc-Cuoc” (tr.43).

[Tạm dịch: Dưới đời Hiếu [Hiến] đế đời Hán, Thái thú An Nam Sĩ Nhiếp lập thành ở phía Nam sông Thiên Đức (Sông Thương).

Gần thành này có một ngôi chùa, trong đấy có vị sư gốc từ phương Bắc gọi là Già-la-đồ-lê, vốn tinh thông phép thuật của thần Độc Cước, trụ trì]

So sánh đoạn dịch Pháp văn của Dumoutier với nguyên tác Hán văn, cùng bản dịch Việt ngữ(6), có thể thấy ngay tính chất lược dịch cña đoạn dẫn và một lỗi phiên dịch khá rõ: câu văn chữ Hán “hữu tăng tự tây lai” (có vị sư từ phương tây đến) được dịch thành “có vị sư gốc từ phương bắc”. Có lẽ khi nêu gốc gác cña vị tăng này, Dumoutier đã không căn cứ trên cụm từ “tự tây lai”, mà dựa vào ngữ đoạn “hữu Hồ tăng” (tăng người Hồ)(7). Học giả Trần Văn Giáp nêu rõ, từ đầu Công nguyên, người Trung Hoa dùng từ Hồ để chỉ các tộc người ở miền Trung Á và Ấn Độ; về sau, mãi đến đời Đường, từ này mới được dùng riêng cho “các dân tộc miền bắc Trung Hoa mà thôi”(8). Cả hai cụm từ “hữu Hồ tăng” và “tự tây lai” xét trong bối cảnh lịch sử thời Hán Hiến Đế (190 - 220) đều có thể quy về một mối - đó là Tây vực. Việc xác định gốc tích cña vị tăng này chính là cơ sở để giải đọc phép thuật của ông: “năng lập độc cước chi pháp.

2. Thần Độc Cước

Chú thích (1) của sách theo ngay sau ngữ dịch l’art magique de Doc-Cuoc (phép thuật của thần Độc Cước) cho biết:

“Doc-Cuoc est une génie que les bonzes annamites croient ne posséder qu’un côté du corps. Il n’a, disent ils, qu’un bras, une jambe et une moitié de tête, on lui attribue toutes sortes de sortilèges et de maléfices. Ils le disent originaire de la ville de Quang Yen.” (tr.43).

[Tạm dịch: Độc Cước là một vị thần mà tăng chúng Việt Nam tin là chỉ có nửa thân người. Theo họ, thần chỉ có một tay, một chân, và một nửa đầu; họ gán cho thần mọi loại thư ếm và bùa ngải. Họ bảo rằng thần có gốc tích ở tỉnh thành Quảng Yên].

Hơn 10 năm sau (1898), trong tập Etudes d’Ethnographie Religieuse Annamite (Nghiên cứu Dân tộc học Tôn giáo Việt Nam), Dumoutier nói rõ hơn về tông tích cửa vị thần này:

“Ce culte est, disent les Annamites, originaire du pays de Nam-quan, en Chine, d’où il fut apporté au Tonkin par un réligieux taoïste, nommé Dô-Lê, qui venait de Tay-Vưc.” (tr.276 [2])

[Tạm dịch: Theo người Việt, tục thờ thần này có gốc từ xứ Nam Quan [?] Trung Quốc, từ đấy mà được truyền nhập vào Bắc kỳ nhờ ở một đạo sĩ tên Đồ Lê, người Tây Vực].

Quả là ở Trung Quốc cũng có Độc Cước nhưng đó là quỷ chứ không phải thần. Nguời Trung Hoa xem độc Cước là sơn tiêu, một loại yêu quái ở sơn lâm, chỉ hiện hình vào đêm khuya. Lục Du đời Tống trong bài Tống Tử Long phó Cát Châu duyện (Tiễn biệt Tử Long đến quan Cát Châu) có câu: “Ba hoành thôn thuyền ngư, Lâm khiếu độc cước quỷ” (Dậy sóng ấy cá nuốt thuyền - Hú rừng này quỷ một chân). Độc Cước ở Việt Nam là thần, được thờ, và có cả thần tích. Tuy sinh ra bởi người trần nhưng thần có dung mạo phi phàm: “diện mạo dữ tợn, trên đầu có một cái sừng, trong mình có bảy cái lông mọc dài.” Một hôm trời giông bão, thần “bỗng nhiên dài thành mười trượng, một tiếng sét đánh tách cậu bé thành hai nửa, mỗi mảnh có nửa người, một tay, một chân, một mắt.” Một nửa thăng thiên thống lĩnh âm binh, nửa ở lại nhà sống với mẹ cha. Nửa ở trần thế dẹp loạn phương Bắc, trấn quỷ phương Nam, lúc hóa thì hiển linh, được dân Ái Châu lập miếu thờ phụng: “Đạo sĩ, phù thủy đều thờ ngài, ma quỉ thì sợ oai ngài. Triều Lý cầu đảo ở đền thờ ngài rất linh ứng.”(9) Tục thờ thần Độc Cước hẳn đã thịnh hành từ trước triều Lý, và đấy có thể chính là nguyên nhân vì sao truyện Việt Tỉnh (tức Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái), bản cải biên truyện Thôi Vĩ của Trung Quốc, đã thay quỷ ăn thịt người độc Cước trong nguyên tác bằng quỷ xương cuồng gốc tích ở ta.(10)

Một phần dựa vào tư liệu điền dã, phần khác căn cứ theo Truyện Man Nương, nhận định của Dumoutier viết năm 1898 về gốc tích thần Độc Cước chính là một sự nhầm lẫn về nguyên ủy sử liệu, không phân biệt rõ thần Độc Cước ở Việt Nam với quỷ độc Cước ở Trung Hoa; và Hồ tăng Tây Vực Đồ Lê hoàn toàn không phải là “đạo sĩ” như Dumoutier đã nêu.

3. Hắc tăng và “phép đứng một chân”

Một số học giả ở nước ta đã đề xuất các cách truy tìm ngữ nguyên cña bốn chữ Hán: già / cà-la-đồ (chà)-lê. Thúc Ngọc Trần Văn Giáp viết:

“Người ta gọi ông, khi thì dưới tên Khâu-đà-la (Ksudra ?), khi thì dưới tên Cà-la-chà-lê. Tên Cà-la-chà-lê có lẽ do từ chữ Kàlacàrya hay “Hắc sư”. Đây có lẽ là một tôn hiệu hay một biệt danh mà người Việt Nam thời đó dùng để chỉ một tu sĩ Ấn Độ.”(11)

Nguyễn Duy Hinh tin rằng Già-la-đồ-lê Khâu-đả-la chỉ là những phiên âm khác nhau của Ksudra. (12)

Cũng nên chú ý rằng đồ lê chính là phiên âm phạn ngữ của atchârya / àcàrya, tức là “vị thầy đạo hạnh,” “người có thể giúp cho môn đồ nâng cao đức độ.”(13) Cách hiểu của Thúc Ngọc vì vậy là khả thủ, và mặt khác, khó thể nghĩ rằng Già-la-chà-lê Khâu-đà-la chỉ là những cách phiên âm khác nhau cña Ksudra. Tri thức điền dã của Dumoutier cho phép ông liên tưởng đến phép thuật của thần Độc Cước khi đọc ngữ đoạn năng lập / tri độc cước chi pháp. Thế nhưng gốc tích Tây Vực và tôn hiệu cña nhà sư này khiến người đọc thiên về một cách đọc khác: nhà sư có thể thạo phép đứng một chân. Các thế tu tập yoga (đặc biệt là thế đứng trên một chân vriksha-àsana)(14) của tăng đồ nước ngoài thường tạo nên những ấn tượng sâu sắc đối với xã hội ta thời ấy. Và đây chính là ý của văn bản.

Lời kết

Tuy rằng ngay đầu sách, Dumoutier có báo cho biết là ông dịch Lĩnh Nam trích [chích] quái liệt truyện từ nguyên bản Hán văn, vẫn có nhiều chi tiết khiến người đọc hoài nghi về điều này. Chẳng hạn như truyện Le Précipice de Viêt ( Việt tỉnh, hay Giếng Việt) mở đầu như sau: “An Vương hay An Dương Vương, người xây Loa thành tử trận trong một trận chiến dưới chân núi Triêu...”(15) Ai cũng rõ Việt Tỉnh bắt đầu với sự kiện “nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam”(16), ngoài ra, hai chữ Hán an ân không dễ gì nhầm lẫn được. Có lẽ do đã không hoàn toàn dịch trực tiếp từ bản chữ Hán, Dumoutier đã “dịch” sai, và nghiêm trọng hơn là tùy tiện thêm thắt, khiến diện mạo của thần thoại - truyền thuyết Việt Nam trong bản dịch cña ông bị biến dạng nghiêm trọng. Tuy bản dịch Pháp văn và phương pháp tổng hợp cña Dumoutier còn quá nhiều khiếm khuyết, nhưng những kết quả điều tra điền dã của ông (được thêm vào dưới dạng phụ chú) lại là những tư liệu đáng lưu ý. Khoảng cách thời gian hơn một thế kỷ đã cho phép người đọc hôm nay thấy được những sai sót mà dịch giả không thể nhận ra được vào lúc ấy.

N.N

CHÚ THÍCH:

(1) G.Dumoutier: Légendes Historiques de l’Annam et du Tonkin (Truyền thuyết lịch sử Trung và Bắc kỳ), F. H. Schneider, Hanoi, 1887. Dumoutier cũng là tác giả các sách sau: Les Débuts de l’Enseignment Français au Tonkin (Khởi thủy giáo dục Pháp ở Bắc kỳ, 1887), Essai sur la Pharmacie Annamite (Tiểu luận về Dược học Việt Nam, 1887), Les Textes Sanscrits au Tonkin (Văn bản Phạn ngữ ở Bắc kỳ), L’Enfer des Bouddhists Tonkinois (Địa ngục cña tín đồ Phật giáo Bắc kỳ, 1888), Le Grand - Bouddha de Hanoi (Đại Phật Hà Nội, 1888).

(2) Ở đầu sách, Dumoutier có lời đề tặng Abel des Michels, Giáo sư Việt ngữ và Trung văn tại Trường Ngôn ngữ Đông Phương, Henri Cordier - Giáo sư lịch sử, địa lý, và luật học các nước Viễn đông tại Trường Ngôn ngữ Đông Phương; đồng thời tưởng nhớ Bá tước Kleczkowski, Công sứ toàn quyền, nguyên phụ trách công vụ Pháp tại Bắc Kinh, Giáo sư Trung văn tại Trường Ngôn ngữ Đông phương; tu viện trưởng Favre, nguyên sứ đồ truyền giáo tại Mã Lai, Giáo sư tiếng Mã Lai và Java tại Trường Ngôn ngữ Đông phương; và Giquel, nguyên Trung úy hải quân, Giám đốc giáo huấn đoàn Trung Quốc tại Châu Âu. Dumoutier tự nhận mình là một người "học trò tri ân sâu sắc, bien reconnaissant élève" của các vị trên.

(3) Theo Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp, Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, 3 tập, Nxb. KHXH, H. 1993, tập 3, ở ta có tập Thiếu vi tiết yếu đại toàn (có thế do Bùi Huy Bích soạn) lược chép "bộ sử Thiếu vi của Trung Quốc từ thời Tam Hoàng Ngũ Đế đến đời Nguyên Thuận Tông (1333 - 1368)" (tr.246).

(4) Xem Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san, tập 2, Trần Khánh Hạo, Trịnh A Tài, và Trần Nghĩa chủ biên, Học sinh Thư cục, Đài Bắc, 1992, quyển 1: Thần thoại truyền thuyết.

(5) Man Nương là một cô gái mồ côi giúp việc trên chùa. Một hôm, vì mệt, Man Nương ngủ quên nơi ngưỡng cửa. Vị tăng nước ngoài trên đường về phòng mình, bước ngang qua người cô, khiến cô hoài thai. Sau nàng sinh được một bé gái. Vị tăng nhận đứa trẻ, đặt vào trong hốc cây phù dung đầu sông, tặng nàng một cây gậy khơi nguồn nước, rồi hai người chia tay. Gặp năm trời hạn, nàng cắm gậy xuống đất, nước từ đấy cuồn cuộn tuôn ra. Năm Man Nương 19 tuổi, cây phù dung đổ, trôi ra bến sông trước chùa, dùng dằng mãi ở đấy. Ba trăm người trong làng xóm vào kéo nhưng cây không chuyển, thế mà chỉ mình Man Nương lại mang được cây vào bờ. Dân làng xẻ cây, đến chỗ đặt đứa trẻ năm xưa thì chỉ thấy một tảng đá. Họ lấy gỗ tạc bốn pho tượng Phật, đặt là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, và Pháp Điền. Man Nương không bệnh mà mất, táng ở trong chùa, gọi là Phật mẫu. Xem Vũ Quỳnh, Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái, Đinh Gia Khánh (chủ biên), Nguyễn Ngọc San biên khảo, giới thiệu, in lần thứ hai, Nxb. Văn học, H. 1990, tr.72-74.

(6) Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san - Tập 2, quyển 1: Thần thoại Truyền thuyết, sđd., tr.69; Vũ Quỳnh, Kiều Phú, Lĩnh Nam chích quái, Đinh Gia Khánh (chủ biên), Nguyễn Ngọc San biên khảo, giới thiệu, sđd.: “Thời Hiến Đế nhà Hán, quan Thái thú Sĩ Nhiếp đóng đô thành ở bờ phía Nam sông Bình Giang (tức sông Thiên Đức). Phía Nam thành đó có chùa thờ Phật, có vị sư từ Tây phương (chỉ Ấn Độ) tới, hiệu là Già-la-đồ-lê trụ trì ở đấy, có phép đứng một chân.” (tr.72-73).

(7) Lĩnh Nam chích quái ngoại truyện chép: “Hữu Hồ tăng tự tây lai”. Do tình hình văn bản Lĩnh Nam chích quái khá phức tạp, có thể Dumoutier đã sử dụng một bản Lĩnh Nam chích quái liệt truyện trong đó có từ “Hồ tăng”, và đấy chính là cơ sở để ông dịch thành “gốc từ phương Bắc.” Xem Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san, tập 2, quyển 1, sđd., tr.162; cũng xem thêm Vũ Quỳnh, Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái, sđd., tr.159-162.

(8) Trần Văn Giáp: Phật giáo Việt Nam - Từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII, Tuệ Sỹ dịch, Ban tu Thư viện Đại học Vạn Hạnh, Saigon, 1968, tr.42. Nối kết Hồ tăng với Ấn Độ là một khuynh hướng thường thấy ở ta, và chính đây là nguyên nhân dẫn đến sai lầm trong phiên dịch. Đại Việt sử ký toàn thư chép truyện cha con một vị Hồ tăng đến Việt Nam dưới triều vua Trần Nhân Tông. Có lẽ do liên tưởng đến Ấn Độ nên bản dịch đã đọc ngữ đoạn miêu tả ngoại hình cña vị tăng này “dung mạo thương cổ” thành “dung mạo đen sạm.” (xem Đại Việt sử ký toàn thư, Cao Huy Giu phiên dịch, еo Duy Anh hiệu đính, chú giải, và khảo chứng, Nxb. KHXH, H. 1967, tập 2, tr.99). Chi tiết này đã được cải chính trong bản dịch mới: “vẻ người già nua.” ( Đại Việt sử ký toàn thư, Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích, Hà Văn Tấn hiệu đính, Nxb. KHXH, H. 1993, tập 2, tr.96).

(9) Xem Độc Cước, Nguyệt Lãng, Trung Quốc Đại Vương - Thần tích xã Phán Thủy, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên trong Phạm Minh Thảo, Trần Thị An, Bùi Xuân Mỹ: Thành hoàng Việt Nam, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 1997, tr.391-392.

(10) Xem Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái, sđd., tr.114-119.

(11) Trần Văn Giáp: Phật giáo Việt Nam - Từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII, Tuệ Sỹ dịch, Tu Thư viện Đại Học Vạn Hạnh, Saigon, 1968, tr.61.

(12) Nguyen Duy Hinh: Three Legends and Early Buddhism in Vietnam (Ba truyền thuyết và sơ kỳ Phật giáo Việt Nam), The Vietnam Forum 13, tr.11-12.

(13) Ernest J. Eitel: Hand-book of Chinese Buddhism (Thủ sách Phật giáo Trung Hoa), Chinese Materials Center, Inc., San Francisco, 1976, tr.22. Cũng xem William Edward Soothill và Lewis Hodous, A Dictionary of Chinese Buddhist Terms (Trung - Anh Phật học từ điển), Buddhist Culture Service (Phật giáo văn hóa phục vụ xứ), Taipei, 1962, tr.463.

(14) Xem Georg Feuerstein: The Shambhala Encyclopedia of Yoga (Bách khoa toàn thư Yoga), Shambhala, Boston & London, 1997, tr.335.

(15) Légendes historiques de l’Annam et du Tonkin, sđd., tr.50.

(16) Vũ Quỳnh, Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái, Đinh Gia Khánh (chủ biên), Nguyễn Ngọc San biên khảo, giới thiệu, sđd., tr.114.

TB

SUY NGHĨ THÊM VỀ QUÁ TRÌNH TRUYỀN BẢN
TÁC PHẨM QUỐC ÂM THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI

HOÀNG THỊ NGỌ

Tác phẩm Quốc âm thi tập (QÂTT) của đại văn hào Nguyễn Trãi đã đánh dấu một cái mốc lớn trên con đường phát triển của ngôn ngữ, văn tự dân tộc. Thế nhưng cũng thật lạ lùng, tác phẩm sau bao nhiêu chìm nổi, phiêu dạt lại xuất hiện, tỏa sáng làm rạng rỡ thêm cho nhân cách và thiên tài của vị anh hùng dân tộc. Trải qua trên 560 năm, đến nay việc sưu tầm, khai thác, đánh giá về trước tác của ông vẫn là vấn đề còn cần phải nghị bàn. Bởi những người yêu mến thơ văn Nguyễn Trãi bao giờ cũng muốn đi tìm những giá trị tinh thần đích thực của vị danh nhân này. Muốn nghiên cứu, khai thác dù ở khía cạnh nào của tác phẩm QÂTT thì cũng phải được bắt đầu từ một văn bản đáng tin cậy. Vậy mà bấy lâu nay vấn đề văn bản QÂTT vẫn còn là một câu hỏi khó trả lời đối với những người nghiên cứu di cảo Nguyễn Trãi. Trong bài viết này, chúng tôi xin trình bày thêm một số suy nghĩ về quá trình truyền bản của tập thơ Nôm này.

Quá trình lưu truyền văn bản QÂTT có thể nhìn từ mấy góc độ như sau:

Văn bản chữ Nôm

Bản gốc đã bị thất tán sau khi tác giả và gia tộc gặp phải thảm họa tru di năm 1442. Theo sử sách, đến năm Quang Thuận 8 (1467) vua Lê Thánh Tông mới minh oan cho Nguyễn Trãi và ban chiếu cho sưu tầm di cảo thơ văn của ông. Bộ sách sưu tập đầu tiên là Ức Trai thi tập có bài tựa của Trần Khắc Kiệm đề năm Hồng Đức 11 (1480). Sau đó, bộ sách này lại bị thất lạc. Mãi đến đời Nguyễn, thơ văn Nguyễn Trãi mới lại được Dương Bá Cung sưu tầm, có sự góp sức của Nguyễn Năng Tĩnh, Ngô Thế Vinh, nhà in Phúc Khê tàng bản năm 1868. Bản QÂTT này (xin gọi tắt là bản Phúc Khê) mục lục ghi là gồm 263 bài nhưng thực tế chỉ có 254 bài. Trong 254 bài thì 30 bài có khả năng lẫn với thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và một ít bài lẫn với thơ Lê Thánh Tông.

Ngoài bản Phúc Khê còn có một số các bản chép tay khác nữa, đó là: 2 bản chép tay tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu : VHv.143 và A.139 ; 1 bản chép tay chỉ có 69 bài tại Thư viện Viện Sử học; gần đây, Nguyễn Tá Nhí lại cung cấp thêm 1 bản chép tay khác mới tìm thấy trong cuốn gia phả họ Nguyễn ở làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, Hải Dương. Hai bản chép tay ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm đều được chép từ bản Phúc Khê trong thời gian gần đây. Bản trong gia phả họ Nguyễn làng Chi Ngại theo Nguyễn Tá Nhí có 30 bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi cũng mới được chép lại có thể sau năm 1945 từ một cuốn gia phả khác có niên đại cổ hơn.

Về bản chép tay ở Viện sử học có 2 loại ý kiến khác nhau. Trong bản phiên âm quốc ngữ đầu tiên năm 1956, Trần Văn Giáp, Phạm Trọng Điềm gọi bản này là bản B và cho rằng "Bản này có lẽ thế nào cũng cũ hơn bản in, vì bao nhiêu chữ "thì" (時), không bị tránh tên huý triều Nguyễn mà làm méo mó lệch lạc đi như trong bản in, viết là ( ). Đó là một ví dụ cụ thể dễ nhận nhất, còn nhiều thí dụ khác tưởng không cần kể. Bản viết cổ hơn bản in thì có lẽ các chữ đỡ bị viết sai nhưng bản viết chỉ có 70 bài thôi nên chúng tôi buộc phải lấy bản in làm bản chính..."Ý kiến thứ 2 cho rằng bản chép tay này có sau bản Phúc Khê và coi đây là một dị bản. Đó là ý kiến của các nhà phiên khảo QÂTT ra quốc ngữ sau bản phiên đầu tiên của hai nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp, Phạm Trọng Điềm như: Đào Duy Anh (1976), Bùi Văn Nguyên (1994), Nguyễn Thạch Giang (2000), bản của Trung tâm Quốc học (2001)... Gần đây nhất là ý kiến của Nguyễn Tá Nhí cũng cho bản chép tay này có sau bản Phúc Khê, không những có sau mà còn xuất phát từ bản Phúc Khê. Nhưng đến nay chưa ai đưa ra chứng cứ thật thuyết phục làm rõ ý kiến này.

Ngoài các bản kể trên, cho đến nay vẫn chưa tìm thấy thêm một bản in ấn hoặc sao chép bằng chữ Nôm thơ quốc âm của Nguyễn Trãi nào nữa. Nếu có chăng nữa thì chỉ tìm thấy bài Bán chiếu gon gắn với truyền thuyết rắn báo oán, bài thơ này lại không có trong QÂTT. Ngoài bài Bán chiếu gon còn một bài nữa chép trong Lịch đại thế biên là bài 1 (Thủ vĩ ngâm). Trong khi đó, thơ chữ Hán của ông lại được chép không ít trong các văn bản Hán Nôm có tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Với một kiệt tác, một đỉnh cao của văn học Trung đại ở thế kỷ XV như QÂTT mà sự lưu truyền, phổ biến tác phẩm như vậy quả là không bình thường. Có nhà nghiên cứu đã đặt câu hỏi: không hiểu vì lý do gì việc lưu truyền phổ biến thơ Nôm Nguyễn Trãi lại chỉ diễn ra trong một khu vực hết sức hạn hẹp như vậy ?

Văn bản quốc ngữ

Trước bản phiên âm quốc ngữ QÂTT của Trần Văn Giáp, Phạm Trọng Điềm (Nxb. Văn Sử Địa năm 1956), không thấy có một bản phiên âm nào. Trong khi các nhà trí thức tân thời phiên âm, giới thiệu, cho in ấn nhiều các tác phẩm thơ Nôm, truyện Nôm trên văn đàn như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, thơ Hồ Xuân Hương, các truyện Nôm khuyết danh,... nhưng không thấy giới thiệu thơ Nôm Nguyễn Trãi. Kể cả các báo như Tri Tân, Nam Phong, Thanh Nghị cũng không thấy in một bài nào của QÂTT.

Sau khi có bản phiên âm, giới thiệu tập thơ QÂTT của Trần Văn Giáp, Phạm Trọng Điềm, đã xuất hiện rất nhiều bài viết nghiên cứu về giá trị nội dung, nghệ thuật của thơ Nôm Nguyễn Trãi. Đến năm 1976, Viện Sử học quyết định cho xuất bản Nguyễn Trãi toàn tập, QÂTT được Đào Duy Anh phiên âm, chú giải lại và ra mắt bạn đọc năm đó. Nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi(1980), Nxb. Văn học cho in Thơ văn Nguyễn Trãi (tuyển) đã chọn in 63 bài trong QÂTT. Năm 1994, Nxb. Giáo dục, giới thiệu cuốn Thơ Quốc âm Nguyễn Trãi do Bùi Văn Nguyên biên khảo, chú giải giới thiệu. Năm 2000, Nxb. Thuận Hóa giới thiệu Nguyễn Trãi Quốc âm thi tập do Nguyễn Thạch Giang phiên khảo và chú giải. Năm 2001, Nxb. Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học cho ra mắt bạn đọc Nguyễn Trãi toàn tập tân biên. Trong bộ sách đó, tập III phiên âm, chú thích, giới thiệu QÂTT do nhóm Mai Quốc Liên, Kiều Thu Hoạch, Vương Lộc, Nguyễn Khuê thực hiện. Ngoài ra, còn một số bản in, tuyển chọn thơ Nôm Nguyễn Trãi có tính chất giới thiệu thi ca Việt Nam ví dụ như bản của Nxb. Đồng Nai, 1997...

Như ta đã biết, Nguyễn Trãi sinh năm 1380 mất năm 1442 mà nội dung các bài thơ Nôm của ông hầu hết là ưu thời mẫn thế, do vậy thơ Nôm của ông rất có thể chỉ là được sáng tác vào giai đoạn khoảng nửa đầu thế kỷ XV.

Khi Nguyễn Trãi chịu án tru di thì theo thông lệ trước tác, di tự của ông cũng bị thiêu hủy, cấm lưu hành. Sau 25 năm, Trần Khắc Kiệm theo chiếu chỉ của vua Lê Thánh Tông sưu tầm di cảo thơ văn của ông. Hơn mười năm sau mới thấy nói đến tập Ức Trai thi tập có bài tựa của Trần Khắc Kiệm đề năm Hồng Đức 11 (1480). Như vậy, QÂTT nằm trong bộ sưu tập này thì cũng chỉ sau khi Nguyễn Trãi mất khoảng gần 40 năm. Chúng ta có thể tin được rằng thơ Nôm của ông vẫn đầy ắp những ngôn từ của thế kỷ XV và được ghi bằng loại chữ Nôm xuất hiện phổ biến ở thời điểm đó.

Theo giới nghiên cứu ngôn ngữ văn tự phân chia sự phát triển chữ Nôm ra làm 3 thời kì: thời kì đầu từ thế kỷ XV về trước, thời kỳ thứ 2 từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII, thời kỳ thứ 3 từ giữa thế kỷ XVIII về sau, thì chữ Nôm trong QÂTT thuộc thời kỳ đầu. Chữ Nôm thời kỳ này mang những đặc trưng, tính chất của loại chữ Nôm cổ thiên về ghi âm là chính. Chữ Nôm thế kỷ XV còn mang đậm dấu vết của một loại chữ Nôm cổ là ghi một từ bằng 2 mã chữ riêng biệt. Loại chữ Nôm cổ này xuất hiện phổ biến vào khoảng thế kỷ XIII đến XV do nhu cầu ghi tiếng Việt ở thời kỳ đó (xin tham khảo thêm Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Nxb. KHXH, 1999). Loại chữ này được xếp vào loại "chữ kép" rất khó đọc như đã được ghi trong bài tựa của cuốn từ điển Hán Việt cổ nhất hiện còn là Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa:

Vốn xưa làm Nôm xa chữ kép

Người thiểu học khôn biết khôn xem

Càng về sau, loại chữ này càng trở nên xa lạ, khó đọc, khó hiểu với người đương thời. Như vậy, chữ Nôm cổ thực sự là một trở ngại đáng kể trong việc lưu truyền, phổ biến các tác phẩm được viết bằng chữ Nôm ở thời kỳ này. Có lẽ chính vì vậy mà QÂTT cũng chịu chung số phận như một số các tác phẩm khác xuất hiện cùng thời, là rất ít được lưu truyền phổ biến rộng rãi. Tác phẩm muốn được phổ biến rộng rãi thì cần phải có người có trình độ, tâm huyết làm công việc giải nghĩa thích âm văn bản, tức là làm công việc như nhà sư Hương Chân đã làm đối với cuốn Chỉ nam phẩm vựng (xuất hiện vào khoảng thế kỷ XIII - XIV) để đời sau có được cuốn Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa: "... cẩn thận lựa lọc từng tiếng". Công việc ấy đã được những người lưu giữ thơ Nguyễn Trãi và các bậc tiên nho sau này như Dương Bá Cung, Nguyễn Năng Tĩnh, Ngô Thế Vinh thực hiện, để ngày nay chúng ta còn có được bản Phúc Khê.

Tác phẩm QÂTT là tác phẩm của thời Lê Sơ, nhưng chữ Nôm trong bản Phúc Khê không hoàn toàn là chữ Nôm thời Lê Sơ, mà cũng không phải chỉ là chữ Nôm thế kỷ XVIII. Các thành tựu nghiên cứu về chữ Nôm và ngữ âm lịch sử cho thấy rằng chữ Nôm trong bản Phúc Khê chỉ còn giữ lại dấu vết của chữ Nôm cổ thời Nguyễn Trãi. QÂTT cách chúng ta ngày nay khoảng gần 6 thế kỷ, bởi vậy tiếng Việt thời Nguyễn Trãi là tiếng Việt ở thời kỳ vẫn còn yếu tố tiền âm tiết. Chữ Nôm với chức năng văn tự luôn ghi lại thật chính xác tiếng Việt đương thời nghĩa là nó phải lưu giữ được một cách phổ biến loại chữ Nôm ghi bằng 2 mã chữ. Chẳng hạn trong bản Phúc Khê có từ đá (ghi bằng la đá ); ngựa (ghi bằng bà ngựa ); ngàn (ghi bằng la ngàn ). Hoặc là thu gọn lại ở dạng một mã ghi một từ Việt như giơ (ghi bằng a + da ) mẽ (ghi bằng cự + mỹ);... Nắm được quy luật biến chuyển của ngữ âm tiếng Việt, và quy luật phát triển của văn tự kết hợp với yếu tố văn hóa mới có thể đọc, có thể phiên âm chính xác thơ Nôm Nguyễn Trãi. Ví dụ như các trường hợp 工 (công) trong bài 9, 16, 23, 35... phải đọc là trong chứ không đọc cùng; 免 (miễn) trong bài 49 phải đọc lẫn chứ không đọc mến,... như bản Nôm chép tay và một số bản phiên âm quốc ngữ từng xử lý không xác đáng.

Cùng với chữ Nôm cổ là các từ ngữ cổ cũng góp phần làm hạn chế sự lưu truyền, phổ biến thơ Nôm Nguyễn Trãi. Gần đây số từ cổ được phát hiện trong các văn bản chữ Nôm ngày càng nhiều, nhưng cách đây vài thập kỷ, nhiều từ ngữ cổ vẫn còn là những thách đố với người đọc. QÂTT có rất nhiều từ ngữ cổ, văn phong lại cổ kính, mang đặc trưng của thơ quốc âm thời Nguyễn Trãi, có lẽ cũng vì thế mà những người yêu thơ ông, trân trọng ông đã ngại ngần phổ biến vì ngại rằng không biểu đạt được thấu đáo tâm tình của người xưa. Xin đơn cử một trường hợp từ cổ sá, nếu chỉ kết hợp với một từ thuần Việt quen thuộc với chúng ta ngày nay như sá lánh (bài 2), sá yêu (bài 24), sá thôi (bài 32) sá tiếc (bài (29) sá để (bài 108, 125)... còn có thể đoán nghĩa được phần nào, nhưng khi được kết hợp với một từ cổ khác thì sự khó hiểu lại tăng lên nhiều, ví dụ: sá cóc (bài 33), chỉn sá lui (bài 34) sá mựa (bài 193), tua sá (186, 194 ), sá toan (152)... Chúng ta cũng có thể chứng thực điều đó qua tần số xuất hiện của một số từ ngữ cổ:

Anh tam trong bài 64, 139, 174

Bui - 2, 50, 84, 99, 158

Chỉn - 34, 186, 230

Chưng - 10, 37, 58, 90, 93, 104, 122, 138, 251

Cóc - 20, 85,104, 151, 177

Diếp - 62, 162, 200

Ghê - 86, 106, 124, 172

Mắng - 165, 221, 250

Mựa - 44, 59, 87, 91, 93, 129, 136, 137, 140, 151, 173, 184,
189, 193, 230

Nẻo - 103, 107, 129, 131, 138, 144, 141, 191, 231, 253

...

Những từ cổ này đến nay đã có nhiều người hiểu được nhưng ở thời điểm bản phiên âm đầu tiên của Trần Văn Giáp, Phạm Trọng Điềm thì hầu như vẫn còn là những từ tồn nghi.

Chúng tôi thấy có hiện tượng phổ biến đối với các tác phẩm thơ trung đại là thay thế, sửa chữa từ ngữ cổ theo xu hướng hiện đại hóa trong quá trình truyền bản. QÂTT của Nguyễn Trãi cũng vậy, chỉ sơ bộ khảo sát bản chép tay đã thấy có sự thay đổi văn bản tương đối nhiều. Ví dụ trong bản chép tay ở Viện Sử học hầu hết các từ cổ vắng bóng vì nó được dịch nghĩa hoặc được thay bằng từ khác. Dù chỉ có 69 bài, nhưng đã có tới 173 trường hợp khác với bản Phúc Khê, trong đó sửa chữa, thay thế từ ngữ cổ chiếm tới 42 trường hợp. Bản chép tay vì vậy mà hiện đại hơn bản Phúc Khê rất nhiều.

Tác phẩm QÂTT với nhiều từ ngữ quen thuộc, dễ hiểu với người đương thời nhưng càng về sau lại càng trở nên khó hiểu với người đọc. Phải chăng chính vì sự đậm đặc của các từ ngữ cổ trong văn bản nên đã góp phần ảnh hưởng đến sự phổ biến rộng rãi của tác phẩm QÂTT trong suốt cả thời gian dài của lịch sử ?

Gần đây tập thơ Nôm QÂTT của Nguyễn Trãi được nhiều người khai thác ở nhiều góc độ khác nhau. Nhiều chuyên khảo nối tiếp nhau ra đời. Bởi vậy cần phải có sự nhìn nhận đúng mức ở các văn bản chữ Nôm mà chúng ta đang có. Bản đáng tin cậy nhất trong số văn bản mà chúng ta đang có là bản Phúc Khê. Nhưng cũng phải thấy rằng ngay bản Phúc Khê cũng đã có sự hiện đại hóa văn bản. Khi các bậc tiên nho "biên sắp" để cho in ấn tác phẩm năm 1868 thì ở bước này đã có xen vào yếu tố chủ quan của các nhà sưu tập. Nhìn vào chữ Nôm, trường hợp nào hiểu thì thường được họ hiện đại hóa khi biên chép, tức là có sự loại bỏ những yếu tố thừa, rườm rà theo quy luật phát triển của ngôn ngữ, văn tự; trường hợp nào khó hiểu thì được giữ nguyên chứ không tùy tiện sửa chữa.

Khi phiên khảo, giới thiệu tác phẩm QÂTT ra quốc ngữ hoặc tuyển chọn in ấn giới thiệu thơ Nguyễn Trãi, chúng tôi thường gặp 3 cách xử lý văn bản như sau:

1. Với các trường hợp chữ Nôm không hiểu hoặc hiểu không chắc chắn thì ghi lại tồn nghi để người sau giải quyết tiếp. Chúng tôi cho đây là cách xử lý khoa học nhất.

2. Tùy tiện sửa theo cách hiểu của mình nếu gặp trường hợp chữ Nôm hoặc từ ngữ cổ khó hiểu. Trường hợp này làm cho tác phẩm ngày càng xa nguyên tác, mất đi tính chân diện của một tác phẩm văn học ở thời điểm nó ra đời.

3. Do nhu cầu giới thiệu thi ca của cổ nhân, hoặc do nhu cầu thương mại, trong một số cuốn sách in, tuyển thơ Nguyễn Trãi, người tuyển chọn không dựa vào văn bản chữ Nôm mà chỉ dựa vào các bản phiên âm quốc ngữ, thả hồn thơ bay bổng mà chữa thơ theo cảm thụ chủ quan của mình. Với cách làm như vậy thì người đọc đâu còn đọc thơ Nguyễn Trãi nữa, mà là đọc thơ mới, phảng phất ý tứ thơ Nôm của ông.

Thấy được đặc điểm của chữ Nôm ở thời Nguyễn Trãi và đặc điểm chữ Nôm trong bản Phúc Khê cùng sự bảo lưu của khá nhiều từ ngữ cổ, có thể phần nào hiểu được vì sao một tác phẩm lớn rất có giá trị như QÂTT lại không được phổ biến, lưu hành rộng rãi.

Nhìn lại thơ quốc âm Nguyễn Trãi còn thấy trong di cảo của ông, mà ngậm ngùi tiếc cho những bài đã bị mất đi. Với số bài thơ còn lại, chúng ta cố gắng trân trọng giữ gìn, đừng làm cho nó xa dần nguyên tác mà đánh mất những tinh hoa của người xưa./.

H. T .N

TB

THÊM MỘT TẤM BIA ĐỜI TRẦN Ở THANH HÓA

NGUYỄN ĐỨC TOÀN

Năm 2002, đoàn cán bộ của Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã về công tác tại tỉnh Thanh Hóa. Đoàn đến hang Động Bồng, thôn Động Bồng, xã Hà Tiến, huyện Hà Trung, và đã làm thác bản một tấm bia mang niên hiệu đời Trần. Trước đây khu vực này có chùa, sau bị đổ nát, nền chùa bỏ hoang, chỉ còn lại mấy trụ đá kê chân cột và tấm bia trên vách hang này.

Bia thuộc loại ma nhai, cao 0,80m, rộng 0,60m. Trán bia có khắc hình hai con rồng chầu vào giữa, bốn chữ tên bia Động Bồng sơn am (洞 蓬 山 庵) chia làm 2 dòng. Hoa văn hai bên diềm bia trang trí dây lá hình sin móc vào nhau; chân bia chạm hình sóng nhô cao cách điệu lớp lớp như núi. So sánh với cách trình bày của các thác bản bia thời Trần hiện có trong kho ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi thấy có tới 11 bia có cách trình bày giống bia này, như: Thanh Mai Viên Thông tháp bi, Sùng Nghiêm tự bi, v.v...

Do thời gian lâu ngày, nước mưa chảy từ trên vách núi xuống đã bào nhẵn phần bên phải của bia, mặt đá có vết nứt nghiêng, cuối bia có một vết vỡ lớn. Phần bên trái tuy không bị mất hết chữ, nhưng đa số bị mờ, sứt sẹo nên việc đọc gặp nhiều khó khăn.

Mặc dù dòng lạc khoản đã mờ mòn nhiều, thậm chí những chữ phía dưới đã bị đục bỏ, nhưng vẫn có thể đọc được dòng niên đại: “Thiệu Phong thập niên Canh Dần nhị nguyệt sơ nhất nhật tả bi” (紹 豊 十 年 庚 寅 二 初 一 日 瀉 碑).

Nội dung văn bia ghi về việc cung tiến ruộng đất cho nhà chùa. Sau khi xem xét, chúng tôi thấy, văn bia hàm chứa một số thông tin có giá trị:

Thứ nhất, về chữ húy: ở dòng lạc khoản ghi niên hiệu Thiệu Phong, trong đó có một chữ nguyệt được viết kiêng huý theo kiểu , có thể nhận dạng rất rõ. Chữ nguyệt là chữ húy phổ biến dưới đời Trần, là chữ thuộc lớp từ thường dùng nên có nhiều cơ hội xuất hiện trên các bia, nên là một đặc trưng cơ bản “rất riêng biệt và đáng tin cậy” để nhận dạng các văn bản thời Trần. Đây là chữ huý tên của Thiện Đạo quốc mẫu (phu nhân của Khâm Minh đại vương Trần Liễu, tên là Lý Thị Nguyệt)(1) thuộc hàng trọng huý, khi làm văn phải viết bớt nét. Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư) ghi: “Ngày 12 tháng 4 năm Hưng Long thứ 7 (12/5/1299) đời Trần Anh Tông, xuống chiếu cấm dùng chữ tên huý của Khâm Minh đại vương là Liễu và của Thiện Đạo Quốc mẫu là Nguyệt”(2). Thêm vào đó, đối chiếu năm can chi thì năm Thiệu Phong thứ 10 khớp với năm Canh Dần (1350). Như vậy niên đại bia này là năm Thiệu Phong thứ 10 (1350) đời vua Trần Dụ Tông (1341-1357), trong khoảng thời gian này lệnh kiêng huý chữ Nguyệt vẫn chưa bị bãi bỏ(3) .

Thứ hai, về chữ Nôm. Trên bia còn ghi lại một số mã chữ Nôm theo 3 dạng:

1. Mượn chữ Hán đọc chệch âm:

Cù 劬 đọc là gò(4)

Khảm 坎 đọc là khóm

Đội 隊 đọc là đỗi hoặc doi

Biến đọc là bến

2. Loại gia thêm ký hiệu phụ đọc âm đôi (CL; KL®TR)(5):

+ lễ 禮 đọc là trê

+ lỗ 魯 đọc là rô (?)

3. Loại kết hợp biểu âm, biểu ý :

Khẩu 口 + lỗ 魯 đọc là rõ (?)

Hơn nữa trên bia có một cụm địa danh dùng theo kết cấu Nôm: Động Bồng

Sự xuất hiện của chữ Nôm “là thành tựu của thời đại Lý - Trần”, “thời kỳ phát triển bước đầu của một nhà nước phong kiến dân tộc đang ở giai đoạn đi lên, trong những thế kỷ đầu tiên sau khi nhà nước dành được độc lập; thành tựu của giai đoạn từ đầu thế kỷ thứ X đến đầu thế kỷ thứ XV”(6). Tuy nhiên chứng tích thành văn của thời kỳ này không còn lại gì hơn ngoài những chữ Nôm lẻ tẻ xuất hiện trên các bi ký. Những chữ Nôm trên tấm bia này sẽ góp phần bổ sung cứ liệu về lịch sử hình thành và phát triển chữ Nôm trong lịch sử.

Thứ ba, về đơn vị chỉ ruộng đất ta thấy xuất hiện: 田 一 面 điền nhất diện”; 田 一 隊 “điền nhất đội” (đọc là đỗi); 田 一 坎 “điền nhất khảm” (đọc là khóm). Trong số các từ này, chữ diện trong Toàn thư có ghi: “Năm Nguyên Phong thứ 4 (1254) tháng 6, bán ruộng công, mỗi diện 5 quan tiền, bấy giờ gọi mẫu là diện”(7). Còn chữ đỗi, tìm trên các văn bia đời Trần hiện còn, chúng tôi không thấy hiện tượng sử dụng nó làm đơn vị chỉ ruộng đất. Có thể đây là một chữ Nôm ghi âm cổ của vùng Thanh Hóa. “Điền nhất đỗi” có thể hiểu là “một mảnh ruộng, một quãng ruộng”(8); cũng có thể chữ này được đọc là doi trong doi đất, chỉ một mảnh đất dài và hẹp. Giống như vậy chữ khảm phiên âm Nôm là khóm, cũng để chỉ một mảnh ruộng, một khoảnh ruộng. Ngoài ra, còn một đơn vị đo chiều dài: 田 一 坎 活 五 高, 長 六 高 “Điền nhất khảm (khóm), khoát ngũ cao, trường lục cao”. Từ cao ở đây không dùng theo nghĩa của chữ cao là sào để đo diện tích mà phải hiểu là “con sào”- một đơn vị đo chiều dài (một sào độ mấy thước), giống như trong câu “Mặt trời mọc đã ba con sào”(9) . Vậy thì câu trên có nghĩa là: “Một khóm ruộng, bề rộng 5 con sào, bề dài 6 con sào”. Chúng tôi chưa tìm thấy cách dùng đơn vị này trên các văn bản đương thời, nhưng trong dân gian vẫn còn được dùng để tính chiều dài.

Thứ tư, văn bia còn có những cụm từ chỉ chức quan, như: Quản giáp (管 甲), Tả thánh dực (左 聖 翊), Hổ dực đô hỏa hỏa (虎 翊 都 火 火), Giám hỏa (監 火), Chủ đô, Đô (一 都 nhất đô).

Trong số các chức danh này thì chức Quản giáp, Chủ đô là hai chức quan nhỏ đã có từ thời Lý(10) . Đến cuối đời Trần chức Quản giáp vẫn còn(11).

Còn chức Tả thánh dực thì chính xác là một chức võ quan đời Trần. Toàn thư ghi: “Năm Thiên ứng Chính Bình thứ 15 (1246) chọn đinh tráng lộ Hồng, lộ Khoái sung vào quân Tả, Hữu thánh dực”(12). Riêng hai chức Hổ dực đô hỏa hỏa và Giám hỏa thì chưa rõ. Theo Cảnh Huệ Linh chú trong Văn khắc đời Trần(13) có chức Hổ dực đô hiệu đầu, dẫn sách An Nam chí lược của Lê Trắc, phần Binh chế: “Thân quân gồm có : Thánh dực đô, Thần dực đô, Long dực đô, Hổ dực đô”. Có lẽ chức Hổ dực đô hỏa hỏa ở đây là chức Hổ dực đô được Lê Trắc nhắc đến chăng ?

Về chữ cụm từ Nhất đô chúng tôi chưa xác định rõ. Tuy nhiên, theo Cổ Hán ngữ đại từ điển(14) chữ Đô còn có hai nghĩa:

+ Chỉ một đơn vị hành chính thời cổ.

+ Để gọi tân quân ở các phiên trấn đời Đường mạt.

Phải chăng dưới đời Trần, ở vùng phên dậu như Thanh Hóa người ta vẫn còn dùng chữ Đô với một trong hai nghĩa trên.

Thứ năm, văn bản cho biết hai khái niệm khá đặc biệt: Tín Đạo bà (信 道 婆) và Tam Bảo lộ (三 寶 路).

Tín Đạo bà là từ chỉ người phụ nữ mộ đạo, hiệu là Tín Đạo. Trong Văn khắc đời Trần cũng hay gặp như: Tín Tâm bà (tr.376), Tiểu Huệ bà (tr.436, 460), Huyễn Tâm bà, Viên Tâm bà, Chính Tín bà (tr.699), Huyễn Tịnh bà (tr. 270), Tín Tâm bà (tr. 580), v.v... Các cụm kết cấu này đời sau không thấy xuất hiện nữa.

Khái niệm Tam Bảo lộ là chỉ con đường thuộc về nhà chùa, cũng giống như Tam Bảo điền, Tam Bảo thị. Về sau khái niệm này cũng không còn, chỉ còn lại Tam Bảo điền và Tam Bảo thị, Tam Bảo lộ trở thành Quan lộ (là đường chung của nhà nước). Ở đời Trần, thế lực của nhà chùa vẫn còn mạnh, có quyền sở hữu riêng con đường đi vào chùa(15).

Ngoài ra, trên bia còn cho biết một địa danh cấp xã đời Trần là xã Hiệu Liễu (校 了 社). Đến đầu thời Nguyễn tên xã này không còn nữa nhưng Động Bồng (洞 蓬 山) là tên Nôm thì vẫn còn, nay là thôn Động Bồng xã Hà Tiến.

Từ các chứng cứ trên, chúng tôi cho rằng văn bản bia Động Bồng sơn am được khắc vào năm Thiệu Phong thứ 10 (1350) đời Trần, có thể đúng như dòng lạc khoản ghi trên bia.

Bia tuy đã bị mờ mòn mất phần đầu, phần còn lại chỉ đọc được đôi chỗ, nhưng những thông tin mà nó đem lại như chữ húy, chữ Nôm, đơn vị ruộng đất, chức quan, khái niệm liên quan đến nhà chùa là rất đáng lưu ý. Tuy nhiên, để có thể tìm hiểu, đánh giá được những giá trị của nó chúng tôi cần phải đi sâu nghiên cứu thêm.

Để giới thiệu được tấm bia này, tôi được sự chỉ bảo và hướng dẫn tận tình của một số các cô, chú trong Viện. Nhân đây tôi xin chân thành cảm ơn.

N.Đ.T

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Thuận Hóa, 1998.

- Nguyễn Tài Cẩn: Một số vấn đề về chữ Nôm, Nxb. ĐH và THCN, H. 1983.

- J. F. M. Genibrel: Tự điển Việt Pháp, Khai Trí, S. 1898

- Nguyễn Tá Nhí: Các phương thức biểu âm trong cấu trúc chữ Nôm Việt, Nxb. KHXH, H. 1997.

- Ngô Đức Thọ: Chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Nxb. Văn hóa, H. 1997.

- Hà Văn Tấn (chủ biên): Khảo cổ học lịch sử, Nxb. KHXH, H. 2001.

- Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. KHXH, H. 1998.

- Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. KHXH, H. 1993.

- Những phát hiện mới về Khảo cổ học 1996, Nxb. Viện Khảo cổ học, H. 1997.

- Tên làng xã Việt Nam thế kỷ XIX, Nxb. KHXH, H. 1981.

- Văn khắc Hán Nôm Việt Nam đời Trần, Thượng - Hạ, Viện Nghiên cứu Hán Nôm - Trung Chính Đại học Văn học viện. 2002.

CHÚ THÍCH

(1) Xem thêm Ngô Đức Thọ, Chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Nxb. Văn hóa, H. 1997, tr.38.

(2) Toàn thư, Nxb. KHXH, H. 1993. BK, Q.4, tờ 5b.

(3) “Quang Thái thứ 8 (3/1395) vua Trần Thuận Tông xuống lệnh bỏ kiêng húy chữ Nguyệt và chữ Nam, cho dùng nguyên dạng như cũ” Toàn thư, BK, Q.8, tờ 25a.

(4) Nguyễn Tài Cẩn: Một số vấn đề về chữ Nôm, Nxb. ĐH & THCN, H. 1985, tr.31.

(5) Nguyễn Tài Cẩn, sđd, tr.29,

(6) Nguyễn Tài Cẩn, sđd, tr.19.

(7) Toàn thư: BK, Q.5, tờ 19b.

(8) J. F. M. Genibrel: Tự điển Việt Pháp, Khai Trí, S. 1898. Tr 229. Có ghi chữ Đỗi, nghĩa thứ 2 là chỉ: một quãng. Vd: Đi cách một đỗi; Một đỗi nữa thì tới;

(9) J. F. M. Genibrel,... sđd, tr 66, 685.

(10) “Năm Đại Định thứ 7 (1147) đời Lý Anh Tông, tháng 8 xuống chiếu rằng các quan Quản giáp và Chủ đô, phàm sung bổ Cấm quân phải chọn những hộ nhiều người, không được lấy người cô độc, làm trái thì trị tội.” Toàn thư, BK, Q.4, tờ 6a.

(11) “Năm Quang Thái thứ 10 (1397), mùa hạ, tháng 4. Bãi các chức Đại, Tiểu tư xã, Đại toát, còn chức Quản giáp vẫn theo quy chế cũ”. Toàn thư, BK, Q.8, tờ 29b.

(12) Toàn thư , BK, Q.5, tờ 14b.

(13) Quyển Thượng, tr.195, 201, sđd.

(14) Cổ Hán Ngữ đại từ điển, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 1999.

(15) Xem thêm Văn khắc đời Trần, sđd, tr. XXIII, Q. Thượng.

TB

MỘT BÀI SLI MỪNG PI MẤƯ
(Thơ mừng năm mới)
CỦA NGƯỜI TÀY NÙNG TRONG KHO SÁCH HÁN NÔM

HOÀNG PHƯƠNG MAI

Cũng như hầu hết các dân tộc anh em trên khắp mọi miền đất nước Việt Nam, đối với đồng bào dân tộc Tày – Nùng, tết Nguyên Đán là một ngày lễ lớn trong năm, ngày mở đầu cho một mùa lễ hội, mở đầu cho một mùa cấy và cũng là ngày mở đầu cho một năm mới tràn trề niềm tin và hy vọng. Nhân dịp mùa xuân chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tới quí độc giả một bài Sli mửng pi mấư 詩 明 (Thơ mừng năm mới) trích trong tập thơ Nôm Tày - Nùng mang tên Xuân thiên chúc tụng 春 天 祝 頌 (Thơ chúc Tết), ký hiệu Nc.55 Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, trang 14-16. Văn bản gồm 18 tờ (36 trang) giấy khổ A4. Đây là văn bản được sao chụp lại từ bản gốc, mỗi trang văn bản gồm hai trang nguyên bản. Chữ viết tay, kích cỡ không đều nhau, khó đọc, có xen khá nhiều chữ Hán và chữ Nôm Việt. Sách được đóng bằng bìa thường, ai đó đã viết ở góc trên phía trái trang bìa dòng chữ 春 天 祝 頌 bằng mực tím, được đóng khung, giữa trang bìa có dòng chữ Xuân thiên chúc tụng (Thơ chúc Tết), góc dưới bên phải có chữ “Bản gốc” viết bằng mực xanh Cửu Long. Trên trang đầu tiên, ngoài dấu ký hiệu sách và dấu kiểm kê của Viện đề năm 1986 còn có dòng chữ: “Bản gốc của anh Hoàng Hựu cán bộ giảng dạy trường Đại học Việt Bắc” ở dưới góc trái bằng mực tím. Trang cuối sách có câu: “Mậu Thân niên năm cũ đệ qua minh niên lại đến năm mới...”, cho thấy tập thơ này ra đời nhằm chúc mừng năm mới Kỷ Dậu. Sách không ghi tên tác giả hay người sao chép. Nội dung văn bản gồm các bài thơ chúc mừng năm mới được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, đã được ngắt câu. Dưới đây là nội dung của bài thơ:

Phiên âm:

Chắp mừ khỏi kính chồm đôi tiểng
Chính nguyệt rày vận đến đầu xuân
Tôc tin thâng mường cần chồm lượn
Cung hoàng đồ thượng điện cao xa
Trị nam bắc linh ra quốc mạch
Phù trì nơi xạ tắc dân yên
Kính lộc dư pac niên vịnh bảo
Nhật nhật tằng thọ lạo vô cương
Niên niên slự phàm xương trường thọ
Giáng phúc hẩư con họ giàu slang
Năm mấư tống chư tai viện khứ.
Địa linh thần thủ ngự nhất phương
Mường nẩy đảy phàm xương slung túc
Xước ước chự pac phúc phú môn
Truyền xạ khop bản thôn khoái lạc
Thảnh thơi tới đài các văn chương
Vui vẻ thông văn chương kinh slử
Slinh nự thời lịch slự vẻ vang
Kim chỉ rụ mọi tàng khéo léo
Nhình chài cụng yểu điệu khôn ngoan
Tởi tởi nối con loan cháu phượng
Vỉ nặm phù sloong bưởng vân vân
Tôi dâng chự xiên xuân chúc thọ
Đức thánh vâng con họ giàu slang
Mường nẩy thậm phong quang đạ quá
Slí phương ngòi thong thả khoan dung.
Slị khỏi chúc các ông xiên tải
Đạ có cúa hòa lại lẳm con
Thóc lúa chất bặng non bặng pé
Chèn bạc vào khôn hẩư điểm quan.
Trâu bò thịnh mươi con có cả
Gà pêt thời ti xá đầy slân
Cứ xuân canh, hạ vân cày cấy
Thu thời thu, đông thướng tàng lai
Xuân tiết đáo hoa khai mản rườn
Vui vẻ như mèng mển tím hoa
Các thiếu nự khảu mừa hội đảm
Ước lăng đảy vọng bạn slăc nơi
Slị khỏi dú xa xôi mà pjot
Bấu chổn hâư thương xót lẻ thôi
Lại chúc mừa các nơi thướng há
Trẻ rặp chào hỷ hả vui chơi
Già khang kiện thảnh thơi rèng thọ
Trên điện xuân ngựa ngựa xe xe
Ví thể như cung phi hoàng hậu
Trai hiền lành chúa dấu quan yêu
Gái lịch slự phương phi nghiêm cẩn.

Dịch nghĩa :

Chắp tay tôi kính mừng đôi tiếng
Tháng Giêng nay đã đến đầu xuân
Bước chân sang mường người vui lượn(1)
Cung hoàng đồ thượng điện cao xa
Trị nam bắc sinh ra mạch nước
Phù trì nơi xã tắc dân yên
Tài lộc dư bách niên muôn thuở
Ngày ngày càng trường thọ vô cương
Năm năm được phồn xương thịnh vượng
Giáng phúc cho con cháu giàu sang
Năm mới tống chư tai viễn khứ
Thần địa linh chế ngự một phương
Mường này được phồn xương sung túc
Yểu điệu chữ phúc đức giàu sang
Truyền khắp xã bản thôn khoái lạc
Thảnh thơi tới đài các văn chương
Vui vẻ thông văn chương kinh sử
Sinh nữ thời lịch sự vẻ vang
Kim chỉ biết mọi đàng khéo léo
Trai gái đều yểu điệu, khôn ngoan
Đời đời nối con loan cháu phượng
Như nước phù hai hướng song song
Tôi dâng chữ thiên xuân chúc thọ
Đức Thánh ban con họ giàu sang
Mường này sẽ phong quang hơn trước
Bốn phương được thong thả, khoan dung
Tôi lại chúc các ông muôn tuổi
Đã có của mà lại lắm con
Thóc lúa chất bằng non bằng bể
Tiền bạc vào khôn thể đếm đo
Trâu bò khỏe mươi con có đủ
Gà vịt thời một lũ đầy sân
Cứ xuân cày, hạ sang làm cỏ
Thu thời gom, đông đến chất đầy(2)
Xuân tới hoa nở dầy mọi chốn
Nhộn nhịp như ong bướm tìm hoa
Các thiếu nữ lại qua trảy hội
Mong sao được gặp bạn một nơi
Tôi đây từ xa xôi về tới
Chẳng chốn nào thương với thì thôi
Lại chúc về các nơi thượng hạ
Trẻ đón chào, hỉ hả, vui chơi
Già khang kiện, thảnh thơi, trường thọ
Trên điện xuân ngựa ngựa xe xe
Ví thể như cung phi hoàng hậu
Trai hiền lành chúa dấu quan yêu
Gái lịch sự xinh tươi nghiêm cẩn.

H.P.M

CHÚ THÍCH :

(1) Hình thức hát giao duyên của thanh niên nam nữ dân tộc Tày - Nùng trong các dịp lễ hội.

(2) Lấy ý câu: “Xuân canh hạ vân, thu thu đông tàng 春 耕 夏 耘 秋 收 冬 藏” (Mùa xuân cày cấy, mùa hạ làm cỏ, mùa thu thu hoạch, mùa đông cất trữ) trong thiên Vương chế sách Tuân tử. Từ Nguyên, Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh. 1987. q.3, tr.2299.

TB

CÂU ĐỐI CHƠI CHỮ THEO CÁCH TÁCH GHÉP,
CHUYỂN HÓA CHỮ HÁN

TRIỀU NGUYÊN

Câu đối chơi chữ theo cách tách ghép, chuyển hóa chữ Hán được trình bày ở đây, là câu đối trong văn chương của người Việt, được sách vở ghi chép lại. Bài viết nhằm tập hợp một cách tương đối đầy đủ và có hệ thống vấn đề, để giúp bạn đọc thưởng lãm. Theo một kết quả nghiên cứu mới đây của người viết, thì phương thức chơi chữ liên quan đến chữ Hán, gồm có các hình thức sau: tách ghép chữ Hán, chuyển hóa chữ Hán, đố chữ Hán, sấm kí có liên quan đến chữ Hán, đọc nhầm chữ Hán, và viết rút gọn tác phẩm theo tự dạng Hán và đồ hình. Hai hình thức đầu được câu đối sử dụng nhiều và có không ít câu sắc sảo (hai hình thức đầu này, bên cạnh câu đối, thơ, ca dao,... cũng dùng, nhưng không phong phú, thú vị bằng; còn các hình thức sau, rất ít liên quan đến câu đối).

1. Câu đối chơi chữ theo cách tách ghép chữ Hán

Tách ghép chữ Hán, cũng gọi chiết tự, là cách tách các yếu tố cấu tạo một chữ Hán ra thành các chữ, thường cũng là từ, có nghĩa độc lập, hoặc ghép các chữ Hán lại thành một chữ. Đây là lối chơi chữ phổ biến trong văn chương xưa, mà câu đối tỏ ra có ưu thế hơn cả.

a. Tách một chữ Hán ra thành các yếu tố có nghĩa

* Mạc Đĩnh Chi có lần cùng bàn luận văn chương với một nhà sư Trung Hoa. Nhà sư đọc vế đối:

Kỉ dĩ mộc, bôi bất mộc, như hà dĩ kỉ vi bôi? (Kỉ là gỗ, còn bôi (chén nhỏ, thường dùng để uống rượu) không phải là gỗ, cớ sao lấy kỉ làm bôi?)

Ông Mạc đối lại:

Tăng tằng nhân, Phật phất nhân, vân hồ dĩ tăng sự Phật?

(Sư từng là người, Phật không phải là người, cớ sao lấy sư thờ Phật?) Chữ “kỉ” [杞] gồm hai chữ “dĩ” [已] và “mộc” [木]; chữ “bôi” [杯] gồm hai chữ “bất” [不] và “mộc” [木] ; chữ “tăng” [僧] gồm hai chữ “tằng” [曾] và “nhân” [ ] ; chữ “Phật” [佛] gồm hai chữ “phất” [弗] và “nhân” [ ]. Hàm ý của vế ra đối chê ông Mạc người thấp bé (như cây gỗ kỉ) mà được trọng dụng. Vế đối lại cũng có thể có hàm ý: việc tu hành của ông chẳng hợp lẽ chút nào.

* Lần khác, một bạn thơ Trung Hoa ra vế đối:

Lị, mị, võng, lượng tứ tiểu quỷ (Các chữ lị, mị, võng, lượng có bốn chữ quỷ nhỏ).

Mạc Đĩnh Chi đối lại:

Cầm, sắt, tì bà bát đại vương (Các chữ cầm, sắt, tì bà có tám chữ vương lớn).

Các chữ lị [魑], mị [魅], võng [魍], lượng [魎] đều có bốn chữ quỷ [鬼] ở bên phải; các chữ cầm [琴], sắt [瑟], tì bà [琵 琶] đều có tám chữ vương [王] đặt ở trên.(1)

b. Ghép các chữ Hán lại thành một chữ

Ghép các chữ Hán lại thành một chữ là cách làm theo quy trình ngược lại với cách trên. Chữ được ghép, tất nhiên, là chữ có nghĩa.

* Trong một cuộc trò chuyện với Mạc Đĩnh Chi, có một văn hữu Trung Hoa đọc:

Thập khẩu tâm tư: tư quốc, tư gia, tư phụ mẫu.

(Ghép ba chữ “thập” [十], “khẩu” [口], “tâm” [心] thành chữ “tư” [思] là lo: lo nước, lo nhà, lo cha mẹ).

Dứt lời, ông Mạc đối ngay:

Thốn thân ngôn tạ: Tạ thiên, tạ địa, tạ quân vương.

(Ghép ba chữ “thốn” [寸], “thân” [身], “ngôn” [言], thành chữ “tạ” [謝], là bái tạ, cảm ơn: ơn trời, ơn đất, ơn vua.)

* Tương truyền, Phùng Khắc Khoan đi sứ sang Trung Hoa, khi ngang qua đám rừng, gặp một người con gái ngồi dưới gốc cây. Ông đọc:

Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử (Ba cây mọc chụm ở sân, có cô con gái đẹp ngồi ở dưới).

Cô gái không chút do dự, đối ngay:

Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân (Núi non mở đường, người đi đến là quan sứ giả).

Trạng Bùng khâm phục cô gái. Bởi vế ra đối của ông tuy là lời lẽ dung dị, nhưng dùng cách ghép chữ không dễ đối: ba chữ “mộc” [木] (cây), ghép lại thành chữ “sâm” [森] (rậm rạp); chữ “hảo” [好] (tốt, đẹp), do chữ “ nữ” [女] (phụ nữ) và chữ “tử” [子] (con) ghép lại. Cô gái cũng dùng lời lẽ bình thường, và cũng sử dụng lối ghép chữ: hai chữ “sơn” [山] (núi), ghép lại thành chữ “xuất” [出] (ra, mở); chữ “sứ” [使] (đi sứ), do chữ “lại” [吏] (quan lại) và chữ “nhân” [人] (người) ghép lại.

Ông đọc tiếp:

Sơn nhân bằng bất kỉ, mạc phi tiên nữ lâm phàm ? (Cô sơn nữ ngồi trên ghế, phải chăng là tiên nữ giáng trần?)

Vẫn dùng lối ghép chữ: chữ “sơn” [山] (núi) ghép với chữ “nhân” [人] (người), thành chữ “tiên” [仙] (tiên); chữ “bằng” [朋] có chữ “kỉ” [几] (ghế); chữ “nhất” [一] ghép với chữ “kỉ” [几] thành chữ “phàm” [凡] (trần tục).

Cô gái thung dung đối lại:

Văn tử đới trường cân, tất thị học sinh thị trướng? (Văn nhân chít khăn dài, hẳn là học trò nhìn màn học?).

Lại vẫn dùng lối ghép chữ: chữ “văn” [文] ghép với chữ “tử” [子], thành chữ “học” [學]; chữ “đới” [帶] có chữ “cân” [巾] (cái khăn); chữ “trường” [長] ghép với chữ “cân” [巾] thành chữ “trướng” [帳] (màn).

Nghe đến đây, ông Phùng cúi đầu thi lễ. Khi vừa ngẩng lên thì cô gái đã biến mất. Trên cây gỗ có tấm biển treo dòng chữ: “Mão khẩu công chúa, băng mã dĩ tẩu”. Những người cùng đi tỏ vẻ không hiểu, ông Phùng giảng giải:

- “Mộc” [木] là cây gỗ, ghép với chữ “ mão” [卯] thành chữ “liễu” [柳], ghép với chữ “khẩu” [口] ra thành chữ “hạnh” [杏]. Tiên nữ vừa rồi chính là công chúa Liễu Hạnh. Còn chữ “băng” [冫] ghép với chữ “mã” [馬], là họ Phùng [馮] của ta; chữ “dĩ” [已] nằm cạnh chữ “tẩu” [走] chính là chữ “khởi” [起]. Chắc công chúa muốn ta khởi công xây dựng ngôi chùa (sau đó, Phùng Khắc Khoan khởi công trùng tu ngôi chùa này).

* Lúc còn là học trò, các bạn của Nguyễn Hàm Ninh ra cho ông vế đối:

Vinh Sơn, Ngưu Sơn, sơn sơn xuất anh hùng hào kiệt.

Ông Nguyễn đối lại:

Tràng Hải, Ngoại Hải, hải hải đa liệt nữ anh thư.

Vế ra nhằm thể hiện niềm tự hào về quê hương (vùng dưới chân đèo Ngang) của bạn. Cách ghép chữ “sơn” [山] (núi) + “sơn” [山] = “xuất” [出] (ra). Vế đối lại cũng biểu thị niềm vinh dự được sống trên mảnh đất có nhiều “liệt nữ anh thư”, để sánh cùng “anh hùng hào kiệt” của bạn. Ở đây, cũng dùng cách ghép chữ: khung chữ bên bộ “thủy” [ ] của chữ “hải” [海] (biển), được xem là “đa” [多] (nhiều).

* Kì Đồng Nguyễn Văn Cẩm đến thăm Nguyễn Khuyến, không nói rõ tên mà chỉ xưng là khóa sinh. Ông Nguyễn đang giảng bài, sai người đưa ra vế đối, bảo đối được sẽ đón tiếp. Vế đối ấy là:

Quả ngôn viết khóa, nhất nhân khấu mệnh, vi thùy? (Tự xưng là khóa sinh, một mình đến gặp ta, ai vậy?)

Vế ra đối dùng cách ghép chữ: chữ “quả” [果] ghép với chữ “ngôn” [言], thành chữ: “khóa” [課] (khóa sinh); chữ “nhất” [一], chữ “nhân” [人], chữ “khấu” [叩] ghép lại, thành chữ “mệnh” [命].

Kì Đồng đối lại rằng:

Nhập mỗ ngôn công, thiên lí hành xung, thị ngã (Người đến nói chuyện cùng ông, từ nghìn dặm đường đột, là tôi).

Vế đối lại cũng dùng cách ghép chữ: chữ “nhập” [入] ghép với chữ “mỗ” [ ], thành chữ “công” [公] (ông); chữ “thiên” [千], chữ “lí” [里] , chữ “hành” [行] ghép lại, thành chữ “xung” [衝].

Nghe vế đối, Nguyễn Khuyến giật mình, biết ngay người đến thăm mình là Kì Đồng, bèn ra thi lễ, rước vào nhà trong đàm đạo.

* Một câu đối (không ghi tên tác giả), có thể chép ra đây:

Ba sĩ ngồi một ghế, đội đức đế Nghiêu;

Một bách xách hai cung, đáng tài phụ bật.

Ba “sĩ” [士] (học trò) ghép với “kỉ” [几] (ghế), thành chữ “Nghiêu” [堯] (một ông vua hiền của Trung Hoa cổ đại); “bách” [百] (trăm) kết hợp với hai chữ “cung” [弓] (cung nỏ), thành chữ “bật” [弼] (giúp đỡ).

* Truyện Trạng Quỳnh có mẩu kể việc Quỳnh trêu ghẹo con gái quan Bảng nhãn (có tài liệu nói ông quan Bảng nhãn này là Phạm Quang Trạch (1653 - 1716), người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội, đỗ Bảng nhãn năm 1684, đời Lê Hi Tông). Quan Bảng ra vế đối khó, nếu đối không được sẽ bị đòn:

Thằng quỷ ôm cái đấu, đứng cửa khôi nguyên.

Vế ra sử dụng cách ghép chữ: “quỷ” [鬼] + “đấu” [斗] = “khôi”[魁].

Quỳnh đối lại:

Con mộc nấp cây bàng, dòm nhà bảng nhãn.

Vế đối lại cũng sử dụng cách ghép chữ: “mộc” [木] + “bàng” [旁] = “bảng” [榜]. ý nghĩa cũng tương xứng, già giặn (“mộc” (con Mộc): một loại ma gỗ, ma cây).

* Truyện Trạng Lợn có mẩu kể chuyện Chung Nhi vào nhà Phấn Khanh, thấy ở thư phòng có một vế đối [八 刀 分 米 粉] (bát đao phân mễ phấn), bèn viết tên mình bên cạnh nàng Phấn, xong lăn ra ngủ. Đến sáng, Phấn Khanh vào thấy chữ “Chung” [鍾] (Chung Nhi), cho rằng Chung Nhi đã đối lại vế ra của mình, là [千 里 重 金 鍾] (thiên lí trọng kim chung), mà không cần ghi hết ra, khen nức nở.

Hai chữ “bát” [八] , “đao” [刀] ghép lại thành chữ “phân” [分], lại ghép thêm chữ “mễ” [米] nữa, ra chữ “phấn” [粉] (Phấn Khanh); hai chữ “thiên” [千], “lí” [里] ghép lại thành chữ “trọng” [重], lại ghép thêm chữ “kim” [金] vào, ra chữ “chung” [鍾] (Chung Nhi).

2. Câu đối chơi chữ theo cách chuyển hóa chữ Hán

Nếu tách ghép chữ là cách xáo chữ có tính chất nội bộ, thì chuyển hóa chữ không đóng khung trong phạm vi một số chữ (hay nét chữ) của một chữ Hán, mà mở ra một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, vượt cả giới hạn tác động của một bộ thủ. Bên cạnh sự chuyển dịch, thay đổi chữ, còn có cả sự quay đảo chữ. Do vậy, cách chuyển hóa chữ cũng tạo được những bất ngờ thú vị hơn.

* Lê Quí Đôn từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng. Tương truyền, năm ông lên bảy, có người bạn của cha đến chơi, hỏi đâu ông trả lời được đấy, khiến người này vô cùng kinh ngạc. Nhân thấy có con sông nhỏ chảy thành ba nhánh cạnh nhà, mới ra vế đối:

Tam xuyên (Ba con sông).

“Tam” [三] (ba) gồm ba nét ngang, quay 900 thành “xuyên” [川] (sông); vế đối chỉ hai chữ mà thành không đơn giản chút nào !

Cậu bé Lê Quí Đôn hiểu ra ngay cái lắt léo này, nhìn quanh để tìm ý. Chợt thấy ông khách đang đeo kính, cậu liền đối:

Tứ mục (Bốn con mắt).

“Tứ” [四] (bốn), quay 900 thành “mục” [目] (mắt). Ông khách thán phục lắm.

“Tam xuyên - tứ mục” là một câu đối đặc biệt. Sự chuyển hóa ở đây là do sự quay đảo (tác động bên ngoài) tạo nên. Các trường hợp khác đều không như vậy.

* Nguyễn Hiền đỗ Trạng nguyên lúc mới mười hai tuổi, vua thấy bé loắt choắt mà ăn nói lại hàm hồ chưa có phép tắc gì cả, bắt về học lễ ba năm rồi bổ dụng sau. Trạng về quê, cùng đùa nghịch với bọn trẻ trong làng. Sau đó, vua phái sứ giả đến rước Nguyễn Hiền lên Kinh. Sứ giả chưa quen biết Trạng, khi đến làng, gặp ông đang đùa nghịch với vẻ khôn khéo đặc biệt, đọc một câu rằng:

Tự là chữ, cất giằng đầu, tử là con, con ai con ấy?

Nguyễn Hiền đối lại ngay:

Vu là chưng, bỏ ngang lưng, đinh là đứa, đứa nào đứa này ?

Cách chuyển hóa chữ: “tự” [字] (chữ), ‘tách’ [宀] (giằng đầu), còn “tử” [子] (con); “vu” [于] (chưng), ‘bỏ’ [一] (ngang), thành chữ “đinh” [丁] (đứa).

* Một câu đối khuyết tên tác giả, được nhiều người nhớ, có cung cách tương tự câu đối trên, nhưng thay vì tạo câu hỏi ở tổ hợp sau cùng, thì đó là câu tục ngữ:

Chữ đại là cả, bỏ một nét ngang, chữ nhân là người, chớ thấy người sang bắt quàng làm họ;

Chữ bì là da, thêm ba chấm thủy, chữ ba là sóng, chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo. Cách chuyển hóa chữ: “đại” [大] (cả, to, lớn), bỏ [一] “ngang”, thành chữ “nhân” [人] (người); chữ “bì” [皮] (da), thêm [ ] “ba chấm thủy”, ra chữ “ba” [波] (sóng).

* Câu đối sau có vế trên là của một văn sĩ Trung Hoa, vế dưới là của Mạc Đĩnh Chi:

An, nữ khứ thỉ nhập vi gia;

Tù, nhân xuất vương lai thành quốc.

Cách chuyển hóa chữ: “an” [安] (yên lành), bỏ chữ “nữ” [女] (phụ nữ), thay “thỉ” [豕] (lợn) vào, thành chữ “gia” [家] (nhà) ; “tù” [囚] (người tù), bỏ chữ “nhân” [人] (người), thay “vương” [王] (vua) vào, thành chữ “quốc” [國] (nước).

* Anh học trò tên Lỗi, tính tình rất ngang bướng. Anh ta đi thi, viên quan thừa ti được cử làm sơ khảo kì thi ấy, thấy Lỗi có vẻ ngông nghênh, bèn ra vế đối:

Lỗi kia đã nặng bằng ba thạch.

Lỗi ta trả miếng ngay:

Ti nọ xem khinh đáng nửa đồng.

Viên thừa ti biết gặp phải tay chẳng vừa, đành nuốt giận làm ngơ.

Vế ra dùng cách tách ghép chữ: chữ “lỗi” [磊] (phạm lỗi, cùng âm với tên anh học trò), do ba chữ “thạch” [石] (đá) viết chồng lên. Đồng thời, cũng có ý cảnh cáo về sự ngang ngạnh đáng phạt của anh học trò. Vế đối lại dùng cách chuyển hóa chữ: chữ “ti” [司] (cơ quan cấp ti, cũng hàm ý chỉ chức thừa ti của quan sơ khảo), bằng nửa chữ “đồng” [同] (cùng). Do “nửa (chữ) đồng” và “nửa đồng (bạc)” cùng âm, nên có ý xem thường viên quan thừa ti làm sơ khảo. Bên cạnh cách chơi chữ theo lối tách ghép, chuyển hóa chữ, ở đây, còn có cách chơi chữ khoán nghĩa (Lỗi, tên người học trò, và Ti, chỉ viên quan, được nêu trên văn bản, vừa theo cách cùng âm, vừa có vẻ trực tiếp).

* Phạm Đình Trọng và Nguyễn Hữu Cầu là bạn học cùng một thầy. Sau ông Nguyễn khởi nghĩa chống lại triều đình Lê - Trịnh (ở Đông Nam đồng bằng Bắc Bộ), ông Phạm vâng lệnh triều đình ra đánh. Trước khi tấn công, ông Phạm gửi cho ông Nguyễn một vế đối:

Thổ triệt bán hoành, thuận giả thượng, nghịch giả hạ (Chữ thổ bỏ một nửa nét ngang, để xuôi là chữ thượng, để ngược là chữ hạ).

Ý muốn nói là, nếu ông Nguyễn chịu quy hàng thì sẽ cho quan chức, nếu chống lại thì sẽ bị tiêu diệt.

Nguyễn Hữu Cầu xem xong, đối lại rằng:

Ngọc tàng nhất điểm, xuất vi chúa, nhập vi vương (Chữ ngọc có một chấm, để ra (trên) là chữ chúa, ẩn vào (trong) là chữ vương).

Tỏ ý “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, vua chúa chính là ta.

Thế là hai bên dàn quân ra đánh nhau kịch liệt.

Cách chuyển hóa chữ: chữ “thổ” [土] (đất), bỏ nửa nét ngang, để xuôi, thành chữ “thượng” [上] (trước, bậc trên); để ngược, thành chữ “hạ” [下] (dưới, bậc dưới). Chữ “ngọc” [玉] (ngọc) có dấu chấm, để ra (trên), thành chữ “chúa” [主] (chúa), ẩn vào (trong), thành chữ “vương” [王] (vua).* Tương truyền, khi vua Duy Tân mười hai tuổi, có lần ngự yến tại tòa khâm sứ cùng với viên cố đạo người Pháp. Viên cố đạo là người thông thạo tiếng Việt và chữ Hán, thấy nhà vua tuy ít tuổi mà có vẻ thông minh, anh tuấn, mới đọc ra một vế câu đối:

Rút ruột vua, tam phân thiên hạ.

Vua Duy Tân đối lại:

Chặt đầu Tây, tứ hải giai huynh.

Cách chuyển hóa chữ: chữ “vua” là “vương” (cùng nghĩa); “vương” [王] rút nét sổ ở giữa, thành chữ “tam” [三] (ba); “tây” [西] (hướng Tây, người Pháp), chặt ở phần đầu, thành chữ “tứ” [四] (bốn). Vế đối không chỉnh lắm, nhưng cũng đã làm cho viên cố đạo đau điếng.

Mảng câu đối chơi chữ theo cách tách ghép, chuyển đổi chữ Hán là mảng câu đối thú vị trong kho tàng văn học nước nhà. Những trình bày trên cũng cho thấy, để tham gia được trò chơi này, chẳng những cần phải am tường, nhuần nhuyễn về chữ nghĩa, mà nhiều trường hợp còn đòi hỏi cả sự mẫn tiệp, thông tuệ nữa. Việc có mặt của nhiều ông Trạng trong mảng câu đối này đã nói lên điều đó.

T.N

CHÚ THÍCH:

(1) Ca dao có bài dựa theo câu đối này:

- Cầm đàn gảy khúc nam thương
Tì bà cầm sắt, bát vương đối gì ?

- Khéo đưa sách cổ mà ôn
Lị, mị, võng, lượng, bốn con quỷ ngồi./.