Ctv62

CÙNG CỘNG TÁC VIÊN
TẠP CHÍ HÁN NÔM

Kính thưa các Quí vị công tác viên

Ngày 2 tháng 1 năm 2004, Tạp chí Hán Nôm tổ chức Hội nghị Cộng tác viên đầu năm để tổng kết công tác Tạp chí trong năm 2003 và thảo luận phương hướng công tác trong năm 2004, cũng như định hướng cho sự phát triển của Tạp chí trong các năm tiếp theo.

Về dự Hội nghị hôm nay, có gần 100 Cộng tác viên và các Quí vị đại biểu: Đại diện Ban kế hoạch Tài chính (Trung tâm KHXH & Nhân văn Quốc gia); Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hán Nôm; các đ/c Trưởng, Phó phòng và các đ/c trong Hội đồng Khoa học Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

1. Sơ kết công tác

Năm 2003, Tạp chí Hán Nôm nhận được trên 100 bài viết của các Quý vị cộng tác viên. Tạp chí ra được 6 số theo đúng kế hoạch đã định, với số lượng 76 bài các loại của 58 tác giả tham gia; trong đó: Nghiên cứu là 37 bài, Đọc sách - Trao đổi ý kiến là 16 bài, Sưu tầm - Tư liệu tham khảo là 12 bài, Thường thức Hán Nôm là 1 bài, Tin tức có 10 tin.

Nhìn vào những con số trên, ta thấy số lượng bài về nghiên cứu chiếm đa số, sau đó các bài về đọc sách - trao đổi ý kiến, điều này chứng tỏ nhiều vấn đề trong công tác nghiên cứu và trao đổi khoa học của ngành Hán Nôm đang được đặt ra; tiếp đến là những bài giới thiệu tư liệu mới sưu tầm được, chứng tỏ các tư liệu Hán Nôm có giá trị chưa được biết đến còn nằm rải khá nhiều tại các địa phương trong cả nước; số bài thường thức Hán Nôm còn quá ít, chỉ có được 1 bài trong 6 số Tạp chí trong năm.

- Về nội dung: Tạp chí Hán Nôm năm qua vẫn giữ được tôn chỉ mục đích là tạp chí khoa học chuyên ngành theo qui định của Bộ Văn hóa - Thông tin và của Trung tâm KHXH và Nhân văn Quốc gia. Tạp chí đã công bố nhiều bài viết có tính chất lý luận góp phần xây dựng phương pháp luận cho ngành Hán Nôm học Việt Nam và đăng tải nhiều bài trao đổi học thuật, phần nào đáp ứng nhu cầu tìm hiểu tri thức Hán Nôm trong đời sống văn hóa xã hội hiện nay. Tạp chí cũng giới thiệu nhiều bài sưu tầm tư liệu mới và tư liệu tham khảo có giá trị. Đặc biệt là Tạp chí đã ra được 2 số chuyên đề: Số 1(56)-2003 về Phả học; Số 3(58)-2003 về danh nhân Ngô Thì Nhậm nhân kỷ niệm 200 năm mất của ông.

Nhìn chung, bằng hoạt động của mình, Tạp chí Hán Nôm thực sự là diễn đàn khoa học của ngành Hán Nôm học trong nước và quốc tế.

- Về lực lượng cộng tác viên: Các tác giả tham gia viết bài cho Tạp chí ngày càng đông hơn, thu hút khá nhiều lực lượng cán bộ khoa học của chuyên ngành Hán Nôm ở các Viện nghiên cứu và các Trường đại học. Tòa soạn Tạp chí Hán Nôm xin chân thành cảm ơn tất cả các Quý vị cộng tác viên đã tham gia viết bài cho Tạp chí Hán Nôm, đây thực sự tạo nên động lực cho sự phát triển của Tạp chí.

- Về hình thức: Tòa soạn đã có nhiều cố gắng để Tạp chí ngày càng đẹp và rõ hơn, các lỗi do sửa bông ngày càng giảm dần, tuy nhiên vẫn không tránh khỏi những sai sót. Tòa soạn rất mong được các Quí vị cộng tác viên và bạn đọc chỉ giáo.

2. Về phương hướng năm 2004:

Năm 2004, Tạp chí tiếp tục ra 6 số/ năm, về bố cục vẫn như nguyên như cũ, gồm các mục: Nghiên cứu, Đọc sách -Trao đổi ý kiến, Sưu tầm - Tư liệu tham khảo, Thường thức Hán Nôm và Tin tức.

Tạp chí sẽ ra 4 số thường kỳ và phấn đấu ra 2 số chuyên đề. Dự kiến 2 số chuyên đề như sau: Số 3-2004 về La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723 - 1804) nhân 200 năm mất của ông, Số 5-2004 giới thiệu di sản Hán Nôm tỉnh Hải Dương.

Phát huy thành tích của năm 2003, trong năm 2004 Tạp chí Hán Nôm sẽ cố gắng để thực hiện tốt phương hướng nhiệm vụ của mình. Chúng tôi tin tưởng rằng, Tạp chí Hán Nôm sẽ tiếp tục nhận được sự ủng hộ tích cực của các nhà nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm, của các cộng tác viên trong cả nước, của Viện Khoa học xã Hội Việt Nam và của Bộ Văn hóa - Thông tin.

Nhân dịp năm mới Tạp chí Hán Nôm, xin chúc các Quý vị cộng tác viên lời chúc sức khỏe, thành đạt và gia đình hạnh phúc, an khang, thịnh vượng.

Donam62

TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA 50 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (Bài phát biểu của GS.TS. Đỗ Hoài Nam
Giám đốc Trung tâm tại Lễ Kỷ niệm
ngày 26/12/2003)

ĐỖ HOÀI NAM

Kính thưa các vị khách quý

Thưa các đồng chí và các bạn

Cách đây 50 năm, ngày 2 tháng 12 năm 1953, Tổng bí thư Trường Chinh đã ký Quyết định số 34/NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về việc thành lập Ban Nghiên cứu lịch sử, địa lý, văn học, sau này gọi tắt là Ban Văn - Sử - Địa, tổ chức tiền thân của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia hiện nay. Đến tháng 4-1959, Ban Văn - Sử - Địa được chuyển thành Ban Khoa học xã hội thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước. Năm 1965, Ban Khoa học xã hội được tách khỏi Ủy ban Khoa học Nhà nước để thành lập Viện Khoa học Xã hội. Năm 1967, Viện Khoa học Xã hội đổi tên thành Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, đến tháng 3/1990 được đổi tên thành Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và tháng 5-1993 được đổi thành Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia.

Khi mới thành lập, Ban Văn - Sử - Địa có 10 cán bộ do đồng chí Trần Huy Liệu làm Trưởng ban, trong đó có 6 cán bộ nghiên cứu là Trần Huy Liệu, Tôn Quang Phiệt, Hoài Thanh, Minh Tranh, Vũ Ngọc Phan và Trần Đức Thảo. Đến tháng 12 năm 1958, số cán bộ tăng lên 40 người, trong đó có 30 cán bộ nghiên cứu. Đến nay, Trung tâm có 1.380 cán bộ, viên chức, trong đó có 543 cán bộ là GS, PGS, TSKH, TS, ThS.

Về mặt tổ chức, nếu năm 1960 chỉ có 3 đơn vị là Viện Văn học, Viện Sử học, Viện Kinh tế học và năm 1962 có thêm Viện Triết học thì đến năm 1967, khi thành lập ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, còn có Viện luật học, Thư viện Khoa học xã hội và Nhà xuất bản Khoa học xã hội. Trong những năm tiếp theo đã lần lượt thành lập Viện Ngôn ngữ học, Viện Dân tộc học, Viện Khảo cổ học, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Viện Khoa học xã hội tại Tp. Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Xã hội học, Viện Kinh tế Thế giới, Viện Nghiên cứu Đông Nam á, Trung tâm nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ, Trung tâm nghiên cứu Địa lý nhân văn, Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian, Viện Tâm lý học, Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản, Trung tâm nghiên cứu Châu Âu, Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và Viện Nghiên cứu Con người. Đến nay Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia có 26 đơn vị nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu trực thuộc, 4 cơ quan chức năng. Ngoài ra, Trung tâm còn có 15 cơ sở đào tạo sau đại học, 30 tạp chí khoa học, trong đó có 6 tạp chí bằng tiếng Anh.

Các kết quả nghiên cứu trong 50 năm qua của Trung tâm đã được công bố trong hàng vạn chuyên luận trên các Tạp chí khoa học trong và ngoài nước và khoảng 6.800 đầu sách. Hôm nay, tôi xin phép chỉ trình bày rất vắn tắt về kết quả hoạt động của Trung tâm trên một số lĩnh vực nhất định.

Sau hơn 5 năm hoạt động, Ban Văn - Sử - Địa đã nghiên cứu, biên soạn và xuất bản được 36 đầu sách, trong đó có những công trình sau này được Giải thưởng Hồ Chí Minh như: Lịch sử 80 năm chống Pháp của Trần Huy Liệu, Vấn đề dân tộc trong cách mạng vô sản của Nguyễn Khánh Toàn, Giai cấp công nhân Việt Nam của Trần Văn Giàu, Lược khảo về thần thoại Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi, Truyện cổ Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, Lịch sử cổ đại Việt Nam Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX của Đào Duy Anh, v.v... Ngoài ra, còn dịch ra tiếng Việt và xuất bản những bộ sách của cha ông để lại như Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục tiền biên và chính biên, Đại Việt sử kí toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, v.v...

Trong những năm 60-70, Viện Khảo cổ học, Viện Sử học cùng các nhà dân tộc học, ngôn ngữ học, nghiên cứu văn hóa dân gian... đã hợp tác với khoa Sử ở các Trường Đại học và ngành bảo tàng Bộ Văn hóa, nghiên cứu về Thời đại Hùng Vương. Các báo cáo khai quật khảo cổ học về các di chỉ Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn, v.v... cùng các công trình nghiên cứu về Thời đại Hùng Vương, đặc biệt là kết quả của 4 cuộc Hội thảo lớn về Hùng Vương dựng nước do ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì tổ chức từ năm 1968 đến năm 1971 đã cung cấp các bằng chứng và luận cứ thuyết phục chứng minh rằng Thời đại Hùng Vương và An Dương Vương là thời đại có thực trong lịch sử Việt Nam.

Sự hình thành dân tộc Việt Nam có liên quan đến vấn đề các tộc người cư trú trên dải đất Việt Nam tạo thành cộng đồng dân tộc Việt Nam. Khác với nhiều nước trên thế giới coi lãnh thổ, đặc điểm kinh tế, đặc điểm tâm lý, phong tục tập quán... là những tiêu chí xác định tộc người. Ở Việt Nam, do hoàn cảnh lịch sử và quá trình tộc người, các nhà dân tộc học thống nhất chỉ có ba tiêu chí để xác định là: ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người. Vận dụng ba tiêu chí trên, Danh mục thành phần dân tộc Việt Nam gồm 54 dân tộc do Viện Dân tộc học xây dựng đã được Nhà nước công nhận và được Tổng cục thống kê chính thức công bố ngày 2/3/1979. Kết quả này đã phục vụ đắc lực cho 3 cuộc tổng điều tra dân số năm 1979, 1989 và 1999.

Trong lĩnh vực văn học, Viện Văn học đã tập trung dựng lại gương mặt 5 thế kỷ văn học Lý - Trần, một thời kỳ văn học phân tích rực rỡ gắn với kỉ nguyên độc lập tự chủ của dân tộc sau 10 thế kỷ Bắc thuộc. Bộ Thơ văn Lý - Trần đồ sộ gồm 3 tập, 4 quyển là thành quả lao động trong suốt 30 năm của vài ba thế hệ học giả. Hiện nay, Viện đang tổ chức biên soạn bộ Lịch sử văn học Việt Nam từ thế kỉ thứ X đến thế kỉ XX, gồm 10 tập.

Một đóng góp quan trọng khác của Viện Văn học là đã tổ chức dịch và xuất bản tác phẩm Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh ngay sau khi nhận được văn bản Ngục trung nhật ký từ Viện Bảo tàng Cách mạng vào giữa năm 1959. Chính Nhật ký trong tù đã trở thành một trong những căn cứ quan trọng để 30 năm sau kể từ khi sách được xuất bản. UNESCO đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa lớn.

Các thành tựu nghiên cứu trong lĩnh vực văn hóa dân gian được thể hiện trong hàng loạt công trình, trong đó có một số công trình sau này được Giải thưởng Hồ Chí Minh như các công trình: Văn học dân gian Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian của Đinh Gia Khánh, Người anh hùng làng Dóng Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam của Cao Huy Đỉnh - là những công trình nền tảng của khoa nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam. Một số công trình thuộc các lĩnh vực Sử học, Văn học, Hán Nôm, Triết học... được công bố trong những năm 60-80 sau này cũng được Giải thưởng Hồ Chí Minh như Hùng Vương dựng nước của Phạm Huy Thông, Nghiên cứu văn học Việt Nam và văn học thế giới của Đặng Thai Mai, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm Việt Nam của Trần Văn Giáp, Anh hùng và nghệ sĩ, Góp phần tìm hiểu cách mạng tư tưởng và văn hóa của Vũ Khiêu. v.v.

Đặc biệt, trong 4 công trình trọng điểm được thực hiện từ đầu những năm 60, cuốn Ngữ pháp tiếng Việt xuất bản năm 1983 được giới ngôn ngữ học coi là cuốn ngữ pháp tiếng Việt phổ thông tốt nhất, góp phần vào việc chuẩn hóa và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Còn Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) được xuất bản năm 1988, đã tái bản tới 8 lần và được đánh giá là cuốn từ điển có uy tín nhất trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra còn phải kể đến việc hoàn thành công trình Địa lý Việt Nam được khởi thảo từ thời Ban Văn - Sử - Địa.

Giai đoạn từ 1960 đến trước năm 1975, đất nước còn bị chia cắt, nước ta phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Để phục vụ công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, Viện Triết học, Viện Kinh tế học đã tập trung nghiên cứu các vấn đề cải tạo XHCN, hợp tác hóa và phát triển kinh tế nông nghiệp, công nghiệp hóa XHCN.

Tiêu biểu cho những công trình nghiên cứu về những vấn đề kể trên là loạt bài viết về “Bước đi của công nghiệp hóa” của Trần Phương đăng trên tạp chí Nghiên cứu Kinh tế. Loạt bài viết này, đã phân tích những điều kiện kinh tế khách quan của công nghiệp hóa, xác định bước đi của quá trình này ở Việt Nam. Nhiều luận điểm được nêu trong công trình đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho đường lối phân tích kinh tế nói chung, công nghiệp hóa nói riêng của Đảng ta ở thời kỳ này.

Góp phần vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thời kỳ những năm 60-70, các cán bộ của Trung tâm, đặc biệt là cán bộ của các Viện Triết học, Luật học, Kinh tế học, Văn học, Sử học... đã có nhiều công trình phê phán trào lưu triết học phản động chủ yếu ở miền Nam Việt Nam, đặc biệt là chủ nghĩa nhân vị và chủ nghĩa hiện sinh, hệ tư tưởng và chính trị của chủ nghĩa thực dân mới, lên án tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, nghiên cứu về vai trò của giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức miền Nam trong công cuộc kháng chiến cứu nước, hoàn thành các công trình như: Các tổ hợp công nghiệp quân sự Mỹ với cuộc chiến tranh Việt Nam, Những ảo tưởng về mặt kinh tế của chính quyền Ngụy trong chương trình Việt Nam hóa chiến tranh v.v... Đặc biệt, cuốn Chiến tranh Việt Nam và kinh tế Mỹ của Đào Văn Tập đã luận giải có cơ sở khoa học về khả năng chịu đựng có hạn của nền kinh tế Mỹ trong việc mở rộng chiến tranh ở Việt Nam, góp phần vào việc xây dựng chiến lược đối ngoại của Đảng ta và nâng cao quyết tâm chính trị đưa công cuộc kháng chiến chống Mỹ đi đến thắng lợi.

Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, Nam Bộ và Tây Nguyên trở thành đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngay sau khi được thành lập vào năm 1975, Viện đã phối hợp với nhiều Viện thuộc Trung tâm triển khai 5 chương trình nghiên cứu, đó là các chương trình: Khắc phục hậu quả của chủ nghĩa thực dân mới, Sự biến đổi kinh tế - xã hội ở các tỉnh phía Nam, Các dân tộc ít người trong tiến trình đi lên CNXH, Tình hình và xu hướng chính trị của các tôn giáo, Lịch sử và Văn hóa ở các tỉnh phía Nam trong mối quan hệ với cả nước đi lên CNXH.

Trong các năm 1993-1999, Thủ tướng Võ Văn Kiệt giao cho Viện Khảo cổ học triển khai chương trình khảo cổ học Trường Sa, Tây Nguyên và Nam Bộ. Qua hàng chục cuộc khai quật quy mô, chương trình đã thu được hàng vạn hiện vật là bằng chứng xác đáng khẳng định chủ quyền lãnh hải và lãnh thổ của Việt Nam.

Để góp phần gìn giữ di sản văn hóa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, trong những năm gần đây, Viện Văn hóa dân gian đã sưu tầm được nhiều bộ sử thi lớn của các dân tộc Êđê, Mnông, Gia Rai, Ba na, Xơ Đăng. Đồng thời, Viện Văn hóa dân gian còn phối hợp với Nhà xuất bản KHXH đã hoàn thành việc biên soạn bộ Tổng tập văn học dân gian người Việt gồm 19 tập (hiện đã xuất bản được 8 tập). Một số bộ sách công cụ lớn, trong đó có Kho tàng ca dao người Việt (Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên) gồm 2 tập, 3.080 trang và Kho tàng tục ngữ người Việt (Nguyễn Xuân Kính chủ biên) gồm 2 tập, 3.292 trang đã được xuất bản.

Từ kết quả thực hiện đề tài cấp Bộ Sở hữu và sử dụng đất đai ở các tỉnh Tây Nguyên, Viện Dân tộc học, năm 1998 đã đưa ra lời cảnh báo “nếu không kịp thời có giải pháp khắc phục những khiếm khuyết của quá trình khai thác và sử dụng đất đai thì ‘vấn đề dân tộc’ sẽ rất có thể phát sinh trong thực tế nay mai ở Tây Nguyên”.

Dưới sự chủ trì của Trung tâm, bộ Tổng tập văn học Việt Nam gồm 42 tập đã được xuất bản trọn bộ vào năm 2000 và được bình chọn là một trong 10 sự kiện văn hóa nổi bật trong năm.

Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã sưu tầm được hàng trăm ngàn đơn vị tư liệu Hán Nôm, trong đó có nhiều tài liệu quí hiếm như sách chữ Nôm Tày – Nùng, sách chữ Thái cổ và văn khắc thời Lý - Trần... Đặc biệt là Viện đã đưa được 9.299 chữ Nôm của Việt Nam vào mã chuẩn quốc tế IRG/ISO, trong đó có khoảng 4.200 chữ không trùng hình với chữ của các nước khác. Viện đã xuất bản khoảng hơn 100 đầu sách Hán Nôm.

Viện Ngôn ngữ học từ những năm 60 đến nay, sau 30 đợt tiến hành điều tra, đã xây dựng được một ngân hàng dữ liệu về ngôn ngữ của hầu hết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (gần 100 ngôn ngữ và phương ngữ).

Viện Khảo cổ học tiếp tục tiến hành khai quật các khu di tích lịch sử lớn như Đền Hùng, cố đô Hoa Lư, Văn Miếu - Quốc tử giám, đặc biệt trong năm 2003, đã phát hiện ra các dấu tích kiến trúc của Hoàng thành Thăng Long hiện đang làm nức lòng nhân dân cả nước.

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có những đóng góp nổi bật trong lĩnh vực bảo tàng ở Việt Nam hiện nay, đã thành công trong việc đổi mới và đa dạng hóa các hoạt động bảo tàng, được đánh giá cao ở trong và ngoài nước.

Một số công trình của các tác giả thuộc Trung tâm xuất bản vào thập niên 90 cũng đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh như Từ kí hiệu học đến thư pháp học, Bàn về văn học viết về “thân phận con người” của Hồ Tôn Trinh, Theo dấu các văn hóa cổ của Hà Văn Tấn, Tư tưởng phương Đông - gợi những điểm nhìn tham chiếu của Cao Xuân Huy, Tìm cội nguồn ngôn ngữ và ý thức của Trần Đức Thảo. v.v. Đồng thời, còn có hàng loạt công trình được tặng Giải thưởng Nhà nước của tác giả Cầm Trọng, Đặng Nghiêm Vạn, Hà Minh Đức, Hoa Bằng, Hoàng Tuệ, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Lương Bích, Phan Ngọc, Văn Tạo và Văn Tân.

Từ năm 1986 đến nay, các Viện thuộc khối ngành khoa học xã hội của Trung tâm đã góp phần làm rõ những luận cứ của đường lối đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng XHCN.

Vào giữa những năm 80, đất nước ta đã rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, lạm phát năm 1986 lên tới mức 774,7% năm. Năm 1988, Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã thành lập tổ nghiên cứu chống lạm phát gồm một số cán bộ của Viện Kinh tế thế giới và Viện Kinh tế học do Võ Đại Lược làm tổ trưởng. Đồng chí Đỗ Mười lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng - đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho tổ. Trong số hơn 40 đề án chống lạm phát được đệ trình lúc bấy giờ, đề án của Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã được đồng chí Đỗ Mười chọn làm một trong một số đề án làm cơ sở để xây dựng Chương trình chống lạm phát của chính phủ. Kết quả là lạm phát đã bị đẩy lùi từ 774,7% năm 1986 xuống còn 67,1% năm 1991 và 12,7% năm 1995. Điều đó chứng tỏ các giải pháp do đề án nêu ra là đúng.

Một số cán bộ chủ chốt của các Viện Triết học, Kinh tế học, Xã hội học, Kinh tế thế giới... cũng đã được huy động tham gia vào các tổ biên tập Cương lĩnh, chiến lược, chuẩn bị các Văn kiện của Đại hội VII, VIII, IX và của nhiều Hội nghị Ban chấp hành Trung ương. Thông qua đó, Trung tâm có dịp đóng góp trực tiếp vào quá trình dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương các Khóa.

Từ sau Đại hội VII đến nay, Trung tâm KHXH & NVQG đã được giao chủ trì một số Chương trình về đề tài độc lập cấp Nhà nước nghiên cứu về thời đại, về CNTB hiện đại, về CNXH và con đường đi lên CNXH, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta.

Những công trình đã hoàn thành và một số tác phẩm Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (Nguyễn Duy Quý chủ biên), Chủ nghĩa xã hội: Từ lý luận đến thực tiễn - Những bài học kinh nghiệm chủ yếu (Lê Hữu Tầng chủ biên), Tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (Dương Phú Hiệp chủ biên), Một số vấn đề về triết học - con người - xã hội (Nguyễn Trọng Chuẩn); và Những xu hướng phát triển của thế giới và sự lựa chọn mô hình công nghiệp hóa của nước ta (Võ Đại Lược)... đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước trong quá trình đi lên CNXH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, phải đẩy mạnh CNH, HĐH, Viện kinh tế học và tập thể tác giả tham gia chương KHXH.02 Phương hướng, mục tiêu, tiến trình và những giải pháp nhằm CNH, HĐH đất nước đã tập trung phân tích mối quan hệ giữa phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với vấn đề đẩy mạnh CNH, HĐH, coi việc tạo lập và phát triển đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là khâu đột phá để đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam; bước đầu luận giải cơ sở khoa học của mô hình CNH, HĐH rút ngắn trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh, đặc biệt lợi thế so sánh động do con người Việt Nam tạo ra và được thực hiện trong môi trường hội nhập, dựa vào phát huy tối đa nội lực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế dưới tác động của toàn cầu hóa kinh tế. Đáng chú ý là Báo cáo phát triển con người Việt Nam năm 2001 do Viện Kinh tế học chủ trì thực hiện phối hợp với một số Viện thuộc Trung tâm và các Bộ, ngành có liên quan đã được đánh giá cao và được UNDP trao giải thưởng về tác động chính sách trên cơ sở lựa chọn từ hơn 100 Báo cáo quốc gia và phát triển con người.

Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật đã tập trung vào việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; về hệ thống chính trị và dân chủ cơ sở; về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc tạo lập và phát triển đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Những công trình của Viện trong đó có cuốn Các cơ sở khoa học của việc đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta. Nhà nước và pháp luật của nước ta trong sự nghiệp đổi mới (Đào Trí úc chủ biên) đã cung cấp nhiều cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở nước ta.

Cán bộ của các Viện thuộc khối KHXH còn đạt nhiều kết quả nghiên cứu về các vấn đề bức xúc hiện nay như về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội; về cơ cấu và phân tầng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường; về tiến bộ và công bằng xã hội; về triết lý phát triển, về phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực; về môi trường; về tâm lý nông dân hiện nay; về tôn giáo ở Việt Nam, về ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay; về cách tiếp cận và phân tích giới đối với thực trạng bình đẳng giới và chính sách đối với phụ nữ, về lợi thế so sánh giới trong xóa đói giảm nghèo. v.v. Từ các kết quả nghiên cứu, các tác giả đã có những khuyến nghị với Đảng và Nhà nước về quan điểm, cơ chế và chính sách phát triển KT - XH bền vững.

Nghiên cứu những vấn đề quốc tế và khu vực cũng là lĩnh vực quan trọng trong hoạt động khoa học của Trung tâm trong suốt thời gian qua. Tuy vậy, phải đến khi Viện nghiên cứu Đông Nam Á và Viện Kinh tế thế giới ra đời, việc nghiên cứu nước ngoài mới thực sự có điều kiện đẩy mạnh ở Trung tâm. Thấy rõ tầm quan trọng của việc nghiên cứu các vấn đề quốc tế, từ năm 1993, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép thành lập một loạt Trung tâm nghiên cứu quốc tế, mở đầu cho một giai đoạn nghiên cứu toàn diện về khu vực và thế giới tại Trung tâm KHXH và Nhân văn Quốc gia.

Các Viện Kinh tế thế giới, Viện nghiên cứu Đông Nam á. Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản, Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc, Trung tâm nghiên cứu Châu Âu, Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ đã tập trung nghiên cứu về cục diện thế giới và trật tự quốc tế mới kể từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, sự điều chỉnh chiến lược, chính sách của các nhóm nước và khu vực, nhất là nhóm các nước phát triển như Mỹ, Nhật, EU và các nước lớn khác như Trung Quốc, Nga, ấn Độ...; bước đầu luận giải bản chất, đặc trưng và tác động của toàn cầu hóa, khu vực hóa và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, bước chuyển sang kinh tế tri thức; đánh giá tác động, thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức cũng như các vấn đề đặt ra các định chế của khu vực và toàn cầu, hình thành luận cứ cho việc hoạch định đường lối phát triển đất nước theo định hướng XHCN, các đối sách về kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh của ta, thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam.

Các Viện và Trung tâm nghiên cứu quốc tế còn đẩy mạnh việc nghiên cứu những vấn đề lịch sử, tôn giáo, văn hóa, văn học, ngôn ngữ... của nhiều nước theo hướng tiếp cận Đất nước học nhằm cung cấp những hiểu biết cần thiết về đất nước, con người, xã hội của các quốc gia láng giềng cho đông đảo bạn đọc có quan tâm, tạo tiền đề cho quá trình giao lưu, hội nhập của Việt Nam với khu vực và thế giới.

Những năm qua, Trung tâm KHXH và Nhân văn Quốc gia đã tổ chức thành công nhiều hội thảo quốc tế lớn mà tiêu biểu là Hội thảo quốc tế Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi; Hội thảo quốc tế Kỷ niệm 100 năm sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa lớn; Hội thảo quốc tế Việt Nam học (lần thứ nhất); Hội thảo quốc tế Việt Nam trong thế kỷ XX. Những cuộc hội thảo này đã hội tụ được những nhà khoa học và hoạt động chính trị nổi tiếng khắp năm châu, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao.

Đồng thời với việc tập trung và hoạt động nghiên cứu khoa học, trong thời gian vừa qua, Trung tâm KHXH và Nhân văn Quốc gia đặc biệt chú trọng công tác đào tạo sau đại học nhằm xây dựng nguồn nhân lực khoa học có chất lượng cao cho Trung tâm và góp phần phát triển tiềm lực KHXH của cả nước. ở lĩnh vực hoạt động quan trọng này, Trung tâm cũng đạt được những thành tựu rất đáng tự hào. Cho đến nay, Trung tâm đã đào tạo được 1.080 Tiến sĩ và Thạc sĩ thuộc 23 chuyên ngành đào tạo.

Trung tâm hiện có điều kiện tốt về cơ sở vật chất kỹ thuật cùng hệ thống thông tin tư liệu thư viện, hội đủ các chuyên ngành trong mã số đào tạo sau đại học thuộc lĩnh vực KHXH & nhân văn do Nhà nước qui định để tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo này. Đội ngũ cán bộ khoa học của Trung tâm có trình độ nghiên cứu cơ bản cao, có kinh nghiệm thực tiễn, hiện đang tham gia giảng dạy ở nhiều trường đại học trong nước - đó là những tiền đề hết sức cơ bản để Trung tâm đẩy mạnh công tác đào tạo sau đại học - một tiềm năng, một lợi thế hiện chưa được phát huy vì những trở ngại của cơ chế hiện hành.

Kính thưa các vị khách quý

Thưa các đồng chí và các bạn

Những thành tựu của Trung tâm trong những năm qua đã được các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước đánh giá cao khi đến thăm và làm việc tại Trung tâm: “Trung tâm đã cố gắng từng bước khắc phục sự chậm trễ đưa khoa học xã hội và nhân văn dần dần bắt kịp những vấn đề của thời đại, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong tình hình mới”. “Nhiều sản phẩm khoa học xã hội và nhân văn có chất lượng đã ra đời, đặc biệt phải kể đến sự đóng góp của Trung tâm trong việc góp phần bổ sung, lý giải và làm rõ thêm những quan điểm của Đảng ta về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta”. “Nhiều kết luận của khoa học xã hội và nhân văn đã được dùng làm cơ sở để soạn thảo các Nghị quyết, hoạch định các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới”.

Trong những năm tới, nhiệm vụ của Trung tâm KHXH và Nhân văn Quốc gia rất nặng nề, trong đó đặc biệt là phải:

1- Tổ chức nghiên cứu những vấn đề cơ bản và cấp bách của khoa học xã hội Việt Nam, khu vực và quốc tế, tổng kết thực tiễn, góp phần từng bước phát triển lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; giải đáp những vấn đề khoa học xã hội của cả nước và từng vùng phục vụ cho sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội, văn hóa, môi trường và con người Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chiến lược, qui hoạch và chính sách phát triển trong quá trình tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

2- Tổ chức sưu tầm, nghiên cứu, khai thác, bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa, tinh thần của các dân tộc Việt Nam, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

3- Tổ chức điều tra cơ bản về kinh tế - văn hóa - xã hội trên những địa bàn trọng điểm của đất nước; tiến hành phân tích và dự báo về kinh tế - xã hội đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của đất nước.

4- Kết hợp nghiên cứu với đào tạo trong lĩnh vực khoa học xã hội. Thực hiện đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ về khoa học xã hội tại Trung tâm; tham gia phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao theo yêu cầu của cả nước, ngành, vùng, địa phương và doanh nghiệp.

Những nhiệm vụ trên sẽ được cụ thể hóa thành những chương trình, đề tài, dự án trọng điểm trong 5 năm và hàng năm mà Đảng và Nhà nước giao cho Trung tâm KHXH và Nhân văn Quốc gia có trách nhiệm phải hoàn thành với chất lượng cao nhất, góp phần thiết thực vào sự nghiệp tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, thực hiện thắng lợi 2 nhiệm vụ và chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Kính thưa các vị khách quý

Thưa các đồng chí và các bạn

Cùng với những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam, Trung tâm KHXH và Nhân văn Quốc gia đã không ngừng trưởng thành và trong từng thời kỳ đã có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng chung của đất nước. Trung tâm đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng III và Viện Sử học thuộc Trung tâm được tuyên dương là Đơn vị anh hùng và GS. Trần Văn Giàu, GS. Vũ Khiêu được tuyên dương là Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới. Chủ tịch nước đã tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh Giải thưởng Nhà nước cho các công trình và cụm công trình của 26 nhà khoa học thuộc Trung tâm. Ngoài ra, nhiều cán bộ của Trung tâm cũng đã được tặng các phần thưởng khác. Riêng năm 2003, đã có 12 Giáo sư, Phó giáo sư, nhà nghiên cứu được tặng Huân chương lao động hạng Nhất, hạng Nhì và hạng Ba.

Có được sự trưởng thành, các kết quả nghiên cứu và những phần thưởng cao quí đó chính là nhờ có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của các Ngành, và địa phương, đồng thời là nhờ sự nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách của đông đảo đội ngũ cán bộ công chức thuộc nhiều thế hệ của Trung tâm trong 50 năm qua.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong hoạt động khoa học của Trung tâm cũng còn có nhiều mặt yếu kém. Một số kết quả nghiên cứu vẫn chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn và yêu cầu của đất nước. Nhiều vấn đề lý luận của thực tiễn và yêu cầu của đất nước, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản của công cuộc đổi mới và phát triển theo nhiều định hướng XHCN chưa được làm sáng tỏ. Chưa có nhiều công trình có giá trị cao về lý luận và thực tiễn. Đội ngũ cán bộ đầu ngành và đội ngũ chuyên gia còn thiếu. Hệ thống thông tin - tư liệu - thư viện chậm được hiện đại hóa. Phương pháp nghiên cứu chậm được đổi mới...

Trong dịp kỉ niệm 50 năm thành lập Trung tâm, chúng ta vui mừng với những thành tựu đã đạt được, nhận biết những mặt yếu kém để khắc phục, đồng thời cùng nhau hướng về phía trước, nâng cao trách nhiệm để hoàn thành những nhiệm vụ nặng nề mà Đảng và Nhà nước tin cậy giao phó.

Nhân dịp này, xin cho phép tôi được thay mặt cán bộ, công chức của Trung tâm KHXH và Nhân văn Quốc gia bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ; tới các Bộ, Ngành và địa phương trong 50 năm qua đã quan tâm đặc biệt và tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Trung tâm; tới các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học ở cả trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế đã nhiệt tình cộng tác hỗ trợ về mọi mặt; tới tập thể và cá nhân cán bộ công chức đã và đang làm việc tại Trung tâm đã cống hiến tất cả trí tuệ và công sức của mình cho sự phát triển của KHXH và nhân văn Việt Nam.

Tại lễ kỷ niệm long trọng này, thay mặt cho cán bộ, công chức hiện đang làm việc tại Trung tâm, xin được bày tỏ lòng trân trọng và tri ân các đồng chí: Cố GS. Trần Huy Liệu, Cố GS.VS. Nguyễn Khánh Toàn, Cố GS. Đào Văn Tập, GS. Phạm Như Cương, GS. Đặng Xuân Kỳ, GS. VS Nguyễn Duy Quý, GS. Trần Phương, Cố GS. Phạm Huy Thông, GS. Vũ Khiêu, GS. Phạm Xuân Nam và GS. Lê Hữu Tầng về những công lao to lớn của các vị đã cống hiến cho sự phát triển của Trung tâm KHXH và Nhân văn Quốc gia với tư cách là lãnh đạo tiền nhiệm.

Trong ngày hội lớn hôm nay, chúng ta vô cùng xúc động, bùi ngùi tưởng nhớ đến các nhà khoa học đã khuất, đến các cán bộ của Trung tâm đã hy sinh trên các chiến trường trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Thưa toàn thể cán bộ, công chức của Trung tâm KHXH và Nhân văn Quốc gia

Trước mắt chúng ta là những nhiệm vụ hết sức nặng nề mà Đảng và Nhà nước đã tin cậy giao phó. Đáp lại sự tin cậy ấy, với tinh thần trách nhiệm cao và bằng sự nỗ lực của mình, tập thể cán bộ, công chức của Trung tâm KHXH và Nhân văn Quốc gia xin hứa sẽ hoàn thành với chất lượng khoa học cao nhất, xứng đáng là cơ quan nghiên cứu đầu ngành về KHXH và nhân văn ở nước ta.

Chỉ còn vài ngày nữa chúng ta sẽ bước sang năm 2004. Xin gửi lời kính chúc sức khỏe, hạnh phúc và sự thành đạt tới các vị khách quí, các đồng chí, các bạn và gia đình nhân dịp năm mới.

Xin trân trọng cảm ơn !

Tmanh62

VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA

TRỊNH KHẮC MẠNH

LTS. Để bổ sung thành tích của Viện Nghiên cứu Hán Nôm trong Báo cáo của GS. TS. Đỗ Hoài Nam tại Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Tạp chí Hán Nôm xin đăng bài này để bạn đọc cùng tham khảo.

Di sản Hán Nôm gồm những thư tịch và tài liệu viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, là kho văn hóa thành văn to lớn và phong phú nhất của nước ta trước khi có các văn bản ghi bằng chữ La-tinh. Bảo tồn lâu dài và khai thác có hiệu quả kho di sản văn hóa này, là để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam trong thời đại ngày nay.

Xuất phát từ yêu cầu và nhiệm vụ trên, năm 1970 Ban Hán Nôm thuộc ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam được thành lập. Ban đã quy tụ nhiều nhà hoạt động cách mạng lão thành và có kiến thức Hán Nôm uyên bác như Phạm Thiều, Thạch Can, Cao Xuân Huy, Hoa Bằng, Đào Phương Bình, Ca Văn Thỉnh v.v., cùng các cộng tác viên như Trần Duy Vôn, Lê Duy Chưởng, Nguyễn Hữu Chế, Nguyễn Văn Lãng v.v.. Ban đã tổ chức nghiên cứu và phiên dịch các tài liệu Hán Nôm trong 9 năm (1970-1979).

Ngày 13/9/1979, Viện Nghiên cứu Hán Nôm được thành lập trên cơ sở Ban Hán Nôm, theo quyết định số 326/CP của Hội đồng Chính phủ và được tái khẳng định thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia trong Nghị định số 23/CP ngày 22/5/1993 của Chính phủ. Đây là một cơ quan duy nhất ở Việt Nam vừa là trung tâm bảo tồn các nguyên bản chữ Hán và chữ Nôm, vừa là trung tâm khai thác các tư liệu chữ Hán và chữ Nôm.

Nhiệm vụ cụ thể của Viện Nghiên cứu Hán Nôm là:

1/ Về bảo tồn, nghiên cứu khai thác các tư liệu Hán Nôm và đào tạo cán bộ nghiên cứu Hán Nôm được xác định ở các mặt cụ thể sau:

- Bảo tồn và giám định các nguyên bản chữ Hán chữ Nôm, sao các bản gốc thành nhiều bản để sử dụng hoặc cung cấp cho các thư viện và các cơ quan có nhu cầu;

- Tổ chức biên dịch (gồm cả chú giải) và chính thức công bố các tư liệu chữ Hán chữ Nôm, duyệt lại các bản dịch Hán Nôm đã được công bố;

- Nghiên cứu văn bản học, biên soạn những sách công cụ cần thiết cho công tác biên dịch và nghiên cứu tư liệu chữ Hán chữ Nôm;

- Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu chữ Hán, chữ Nôm (1).

2/ Về công tác sưu tầm và bảo quản tư liệu chữ Hán và chữ Nôm, Viện được Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam giao các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Tiến hành điều tra, thu thập các văn bản Hán Nôm và các tư liệu liên quan ở Việt Nam và ở nước ngoài, nhằm thống nhất quản lý thư tịch và tài liệu Hán Nôm trong phạm vi cả nước.

- Hệ thống hóa và gìn giữ các văn bản chữ Hán, chữ Nôm và các tư liệu liên quan hiện còn và sưu tầm được, đảm bảo kỹ thuật bảo tàng và kỹ thuật thư viện, nhằm lưu giữ và cho nhân bản để phục vụ cho công tác nghiên cứu trước mắt và lâu dài(2).

3/ Về công tác đào tạo cán bộ nghiên cứu Hán Nôm, Viện được giao nhiệm vụ đào tạo NCS. trong nước và cao học:

- Năm 1994, Viện được giao nhiệm vụ là cơ sở đào tạo trên đại học(3).

- Năm 1996, Viện được giao nhiệm vụ đào tạo cao học(4).

Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã triển khai hoạt động trên các mặt công tác và thu được những thành tựu nhất định, đáng khích lệ.

NHỮNG THÀNH TỰU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC TRONG NHỮNG NĂM QUA

1. Tổ chức Hội thảo khoa học để hoạch định phương hướng phát triển của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và ngành Hán Nôm học

Viện đã tổ chức các hội thảo khoa học nhằm thu hút các chuyên gia Hán Nôm trong nước và quốc tế tham gia về phương hướng phát triển của Viện nói riêng và của ngành Hán Nôm học Việt Nam nói chung. Xin đơn cử một số hội thảo được coi như những mốc quan trọng trong sự phát triển của Viện Nghiên cứu Hán Nôm:

- Hội thảo về Thư tịch cổ và nhiệm vụ mới (1979), đặt ra những phương hướng, nhiệm vụ trước mắt và lâu dài về công tác sưu tầm, bảo quản, biên dịch, nghiên cứu khai thác, công bố giới thiệu di sản Hán Nôm và đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu Hán Nôm cho ngành Hán Nôm học Việt Nam; nhằm góp phần vào công cuộc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc theo chủ trương của Đảng và Nhà nước.

- Hội thảo về Dịch thuật (1981), nêu lên những vấn đề quan trọng về công tác phiên âm và dịch nghĩa các tác phẩm Hán Nôm, làm sao các tác phẩm Hán Nôm khi dịch ra tiếng Việt hiện đại phải đảm bảo được các yếu tố cơ bản: tín, đạt, nhã. Hội thảo đã thống nhất cách đặt vấn đề là: dịch từ Hán sang Việt phải được coi là một khoa học và một nghệ thuật, nhằm chuyển tải những thông tin chính xác từ các văn bản viết bằng chữ Hán và chữ Nôm do ông cha ta để lại cho thế hệ người Việt Nam hôm nay.

- Hội thảo về Văn bản học Hán Nôm (1982), nhận xét về tình hình, đặc điểm các văn bản Hán Nôm và nhiệm vụ cần thiết của công tác văn bản học Hán Nôm hiện nay; đánh giá khái quát quá trình phát triển của các văn bản và của công tác văn bản học Hán Nôm; xác định mối quan hệ giữa văn bản học và sử liệu học; những yêu cầu khoa học đối với việc khảo dị, hiệu đính khôi phục văn bản và công bố văn bản Hán Nôm. Hội nghị đã cố gắng góp phần xây dựng lý luận và giải quyết những vấn đề thực tiễn của công tác văn bản học Hán Nôm.

- Hội thảo về Sưu tầm bảo quản thư tịch và tài liệu Hán Nôm (1983), đặt ra những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài cho công tác sưu tầm, bảo quản các tư liệu Hán Nôm hiện còn. Về công tác sưu tầm, hội nghị đề xuất cần có một kế hoạch tổng thể và xác định những địa bàn trọng điểm để sớm triển khai công tác sưu tầm một cách có hiệu quả. Về công tác bảo quản, hội nghị nêu lên những nhiệm vụ cần tập trung giải quyết, như sắp xếp phân loại, phục chế tu bổ, bảo quản thật tốt các tài liệu Hán Nôm hiện có.

- Hội thảo về Chữ Nôm (1985), đề cập một cách khái quát tình trạng các văn bản Nôm và kinh nghiệm giải mã một số tác phẩm Nôm nổi tiếng, trên cơ sở đó đã cung cấp những vấn đề lý luận cho việc nghiên cứu chữ Nôm và việc giải mã các văn bản Nôm. Đặc biệt là việc nghiên cứu chữ Nôm và văn bản Nôm của các dân tộc ít người (Tày, Nùng, v.v.).

- Hội thảo Hán Nôm trong đổi mới (1991), gợi mở nhiều hướng phát triển mới cho hoạt động nghiên cứu Hán Nôm như gắn liền nghiên cứu chuyên môn Hán Nôm với thực tiễn xã hội hiện nay, áp dụng những phương tiện kỹ thuật tiến bộ vào việc quản lý và giải mã các tư liệu Hán Nôm, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ (đặc biệt là đào tạo Sau đại học), mở rộng quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế v.v.

- Từ năm 1996 đến nay, hàng năm Viện tổ chức Hội nghị Thông báo Hán Nôm học và in Kỷ yếu Hội nghị nhằm tạo điều kiện cho giới nghiên cứu thông báo những kết quả sưu tầm, phát hiện và nghiên cứu mới nhất về Hán Nôm học ở Việt Nam và thế giới.

2. Tập trung lực lượng nghiên cứu, biên soạn, phiên dịch và lần lượt công bố những tác gia, tác phẩm Hán Nôm có giá trị nhằm xã hội hóa di sản Hán Nôm và phục vụ cho sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Nhận thức được giá trị to lớn và sâu sắc của kho di sản Hán Nôm đối với việc nghiên cứu văn hóa dân tộc, cũng như các mặt hoạt động xã hội khác của dân tộc Việt Nam trải hàng ngàn năm lịch sử. Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 65, ngày 23/11/1945, về Bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, như: đình, chùa, cung điện, thành quách, bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở, v.v... có tính chất tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử(5). Bác Hồ là người thầy vĩ đại của Cách mạng Việt Nam, kết tinh những tinh hoa của các anh hùng dân tộc. Bác đã hoạt động thành công trên nhiều lĩnh vực: quân sự, chính trị, ngoại giao, văn học... Không những thế, Bác còn là một nhà Hán học. Bác Hồ là người rất quan tâm đến việc kế thừa và phát huy những tinh hoa của nền văn hóa dân tộc, nhất là trong việc gìn giữ và khai thác các tư liệu Hán Nôm. Các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước cũng rất quan tâm tới công tác sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu khai thác di sản Hán Nôm và đào tạo cán bộ nghiên cứu Hán Nôm. Trong bài Mấy vấn đề văn nghệ Việt Nam hiện nay, đồng chí Trường Chinh viết: "Những tác phẩm cổ điển là tinh hoa của nền văn nghệ dân tộc qua nhiều thế kỷ, do đời sống và tiếng nói dân tộc ngày một phong phú mới dần tạo nên"(6). Khi bàn về việc tiếp thu di sản văn hóa dân tộc, đồng chí Phạm Văn Đồng đề ra yêu cầu về đào tạo đội ngũ cán bộ là: "Chúng ta cần có những người giỏi và có trình độ cao, có như thế mới sáng tạo, mới sưu tầm một cách có ý thức và nghiên cứu để vận dụng một cách sáng tạo vốn cũ"(7) .

Nhận thức được giá trị lớn lao của di sản Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm trong nhiều năm qua đã hướng nghiên cứu khoa học tập trung vào các vấn đề sau:

1- Để góp phần xây dựng cơ sở lý luận khoa học cho ngành Hán Nôm, vạch ra những định hướng phát triển trong từng thời kỳ, Viện đã tập trung biên soạn những công trình mang tính chất cơ sở lý luận khoa học và tổng kết những thành tựu chung của ngành Hán Nôm học Việt Nam. Hướng việc nghiên cứu khoa học chuyên ngành nhằm giới thiệu tinh hoa văn hóa dân tộc, những tri thức khoa học của ông cha trải hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Với những công trình có tích chất lý luận về phương pháp luận cho ngành Hán Nôm học Việt Nam trong các lĩnh vực khoa học, như: văn bản học, văn tự học, văn tịch học, huấn hỗ học, gia phả học, bi ký học, v.v.; và những bài viết khoa học liên ngành, như: về tư tưởng chính trị xã hội, kinh tế, văn học, sử học, địa lý, ngoại giao, pháp luật, giáo dục và đào tạo, y học, xã hội học, tâm lý học, và một số vấn đề khác.

Trong thời gian qua, Viện đã và đang biên soạn một số công trình, có thể kể như: Thư tịch cổ nhiệm vụ mới (tập thể), Dịch từ Hán sang Việt một khoa học một nghệ thuật (tập thể), Một số vấn đề văn bản học Hán Nôm (tập thể), Lịch sử nghiên cứu thư tịch Việt Nam (Nguyễn Văn Bến chủ biên), Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các đời (Ngô Đức Thọ), Văn bản học Hán Nôm (Ngô Đức Thọ chủ biên), Hồ Xuân Hương - Tiểu sử văn bản, Tiến trình huyền thoại dân gian hóa (Đào Thái Tôn), Những vấn đề văn bản Quân trung từ mệnh của Nguyễn Trãi (Nguyễn Văn Nguyên), Nghiên cứu văn bản học Đăng khoa lục Việt Nam (Nguyễn Thúy Nga), Văn học chữ Hán trước thế kỷ X (Trần Nghĩa), Một số vấn đề về văn bia Việt Nam (Trịnh Khắc Mạnh), Phương pháp làm sử của Lê Quý Đôn (Đinh Công Vĩ), Viện Nghiên cứu Hán Nôm - 30 năm xây dựng và phát triển (tập thể), Ngữ văn Hán Nôm gồm 4 tập (Trần Lê Sáng chủ biên), Nhìn lại Hán Nôm học Việt Nam thế kỷ XX (tập thể), v.v..

2- Nghiên cứu về văn tự, đặc biệt là chữ Nôm - loại chữ do ông cha ta sáng tạo ra, góp phần nghiên cứu lịch sử chữ viết và tiếng Việt. Chữ Nôm Việt là một sáng tạo rất có ý nghĩa về văn hóa của ông cha ta. Chữ Nôm ra đời đánh dấu một bước phát triển quan trọng của nền văn hóa dân tộc trên con đường độc lập tự chủ. Kho tàng văn thơ Nôm Việt còn lại ở nước ta khá nhiều. Một nguồn di sản văn hóa vô cùng phong phú của ông cha ta viết bằng chữ Nôm đang đợi chúng ta phiên âm, giải mã và nghiên cứu; nhằm tìm hiểu quá khứ dân tộc, nhất là nền văn hóa truyền thống dân tộc, thông qua ngôn ngữ văn tự dân tộc các thời kỳ lịch sử.

Công tác nghiên cứu về văn tự mà nổi trội là nghiên cứu về chữ Nôm của Viện trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu to lớn. Ở đây chúng tôi xin nêu hai vấn đề cơ bản sau:

+/ Nghiên cứu về văn tự, về chữ Nôm Việt; các công trình của Viện đã tập trung nghiên cứu về âm tiết và loại hình ngôn ngữ, khảo sát quá trình hình thành và phát triển chữ Nôm, cùng kết cấu nội tại của chữ Nôm, cách đọc chữ Nôm, mối quan hệ giữa chữ Nôm và tiếng Việt. Về lĩnh vực nghiên cứu văn tự và chữ Nôm, Viện đã có một số công trình, như: Âm tiết và loại hình ngôn ngữ (Nguyễn Quang Hồng), Nghiên cứu chữ Nôm Tày (Cung Văn Lược), Các phương thức biểu âm trong cấu trúc chữ Nôm Việt (Nguyễn Tá Nhí), Các phương thức biểu ý trong cấu trúc chữ Nôm Việt (Lã Minh Hằng), Mối tương quan giữa âm Hán Việt và âm Nôm trong cách đọc chữ Nôm (Trương Đức Quả), Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (Hoàng Thị Ngọ), Chữ Nôm và tiếng Việt qua văn bản Thiên Nam ngữ lục (Nguyễn Thị Lâm), Truyền kì mạn lục-Nghiên cứu văn bản và vấn đề dịch Nôm (Hoàng Hồng Cẩm), v.v..

+/ Về việc phiên âm các văn bản Nôm, Viện đã tập trung phiên âm các tác phẩm có giá trị văn chương, nhằm cung cấp một cách nhìn toàn diện về văn học Việt Nam thời trung đại, có thể kể như: Quốc âm thi tập (Cao Hữu Lạng), Hồng Đức quốc âm thi tập (tập thể), Ngọc kiều lê (Kiều Thu Hoạch), Thiên Nam minh giám (Hoàng Thị Ngọ), Thiên Nam ngữ lục (Nguyễn Thị Lâm), Lục Vân Tiên (Trần Nghĩa), Truyện Kiều (Đào Thái Tôn), Di văn chùa Dâu (Nguyễn Quang Hồng chủ biên), Thơ Nôm Hàn luật (Nguyễn Tá Nhí chủ biên), v.v.

+/ Tham gia xây dựng bảng mã chữ Nôm và đưa chữ Nôm vào bảng mã chuẩn quốc tế IRG/ISO, tổng số chữ Nôm Việt đã đưa vào kho chữ chung hiện nay là 9299 chữ, trong đó số chữ Nôm không trùng hình với chữ của các nước trong khu vực khoảng 4200 chữ. Tiếp tục sưu tầm và vẽ chữ Nôm để đưa vào bảng mã chuẩn quốc tế (gồm chữ Nôm Việt và chữ Nôm Tày), kế hoạch sẽ đưa thêm khoảng hơn 2.000 chữ mới.

+/ Cải tiến phần mềm phông chữ Hán để xây dựng bộ phông chữ Nôm, tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu đánh chữ Nôm bằng bàn phím máy vi tính.

3- Biên soạn sách công cụ, nhằm góp phần tạo nên những phương tiện tra cứu khi tiếp cận di sản Hán Nôm cho các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn nói chung và nghiên cứu Hán Nôm nói riêng. Việc biên soạn sách công cụ phục vụ nghiên cứu Hán Nôm phản ánh kết quả nghiên cứu và trình độ trưởng thành về khoa học. Trong thời gian qua Viện đã và đang tập trung biên soạn một số loại sách công cụ về chữ Hán, chữ Nôm, về địa danh, về sách thư mục, về các tác gia Hán Nôm, về những người đỗ đạt, v.v., có thể kể như: Từ điển chữ Nôm Việt (Nguyễn Quang Hồng chủ biên), Từ điển chữ Nôm Tày (Viện phối hợp với Hoàng Triều Ân và các chuyên gia nghiên cứu chữ Nôm Tày ở Cao Bằng), Từ điển Hán Việt (Phan Văn Các chủ biên), Từ thường dùng trong Hán văn cổ (Phan Văn Các), Đối chiếu chữ Hán thể triện, thảo, khải (Trịnh Khắc Mạnh - Nguyễn Văn Nguyên), Tên làng xã Việt Nam (Dương Thị The - Phạm Thị Thoa), Bảng tra thần tích theo làng xã (Nguyễn Thị Phượng chủ biên, Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Hữu Mùi, Bùi Hoàng Anh), Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam (Ngô Đức Thọ chủ biên), Các nhà khoa bảng Việt Nam (Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi), Di sản Hán Nôm - Thư mục đề yếu gồm 3 tập chính và 2 tập bổ di (Trần Nghĩa chủ biên), Thư mục Hán Nôm - mục lục tác giả (Dương Thái Minh), Thư mục Văn bia (Hoàng Lê chủ biên), Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (Nguyễn Quang Hồng chủ biên), Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam (Trịnh Khắc Mạnh), Thư mục văn khắc Hán Nôm Việt Nam (Trịnh Khắc Mạnh chủ biên), v.v.

4- Tiến hành nghiên cứu khai thác và biên dịch những bộ tùng thư theo chuyên đề, nhằm xã hội hoá ngày càng nhiều các tư liệu Hán Nôm, giúp cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay hiểu được giá trị đích thực của văn hóa truyền thống trong lịch sử. Một số bộ tùng thư mà Viện đã và đang triển khai trong thời gian qua, có thể kể như: Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam gồm 4 tập (Trần Nghĩa chủ biên), Thư tịch Hán Nôm về nghề nông cổ truyền (tập thể), Phụ nữ Việt Nam qua thư tịch Hán Nôm (Đỗ Thị Hảo chủ biên), Thơ đi sứ (tập thể), Tổng tập văn khắc Hán Nôm Việt Nam 3 tập (tập thể), Văn bia thời Mạc (Đinh Khắc Thuân), Văn bia Hà Nội (tập thể), Bia Văn Miếu Hà Nội (Ngô Đức Thọ chủ biên), Tục lệ Lạng Sơn (Hoàng Giáp chủ biên), Văn bản thần tích Thái Bình (Mai Hồng), Các văn bản pháp luật Việt Nam thời phong kiến (Nguyễn Ngọc Nhuận chủ biên), Ấn triện Việt Nam (Nguyễn Công Việt), Thư tịch gia phả (Nguyễn Hữu Tưởng), Văn bia xứ Kinh Bắc và làng xã (Phạm Thùy Vinh), Địa chí (Lê Việt Nga), Văn bia thời Nguyễn (Nguyễn Ngọc Nhuận chủ biên), Văn chuông thời Nguyễn (Nguyễn Thị Nguyệt), Văn xuôi đi sứ (Nguyễn Kim Oanh), Ca trù (Nguyễn Xuân Diện), Gia huấn (Lê Thu Hương), v.v.

5- Tiến hành biên dịch và giới thiệu các tác gia Hán Nôm ưu tú và các tác phẩm Hán Nôm có giá trị trong chiều dài lịch sử văn hóa Việt Nam. Như mọi người đều biết, ở mọi thời đại, ông cha ta đều có những thành tựu về mọi mặt trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước; trong mỗi lĩnh vực đều có những đỉnh cao mãi mãi tự hào, và điều may mắn là các tác phẩm Hán Nôm của các bậc thiên tài ấy một phần còn giữ được đến ngày nay. Đánh giá tổng quát di sản Hán Nôm của dân tộc Việt Nam, đồng chí Trường Chinh đã từng nhận định: “Ngô Quyền: quân sự học; Trần Hưng Đạo: quân sự học; Nguyễn Trãi: quân sự học, chính trị học và văn học; Lương Thế Vinh: toán học; Nguyễn Bỉnh Khiêm: triết học và văn học; Lãn Ông: y học; Lê Quý Đôn: văn học, khoa học; Quang Trung: quân sự học, chính trị học; Ngô Thì Nhậm: chính trị học, quân sự học và văn học; Nguyễn Du: văn học, Phan Huy Chú: sử học; Cao Bá Quát: chính trị học và văn học; Nguyễn Đình Chiểu: chính trị học và văn học; v.v..”(8).

Trong những năm qua, Viện đã triển khai các hệ thống đề tài nghiên cứu giới thiệu tác gia, tác phẩm Hán Nôm, phần nào đáp ứng những thông tin thời sự, cập nhật của chuyên ngành Hán Nôm; việc làm này, không chỉ đối với các tác gia Hán Nôm nổi tiếng, mà kể cả các tác gia khác. Bởi lẽ các tác gia Hán Nôm “Mãi mãi là những ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam làm vẻ vang cho giống nòi”(9). Viện đã biên dịch và giới thiệu một số tác gia, tác phẩm, có thể kể như: Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh của Ngô Thì Nhậm (Hà Thúc Minh), Thơ văn Phan Huy ích gồm 3 tập (Nguyễn Ngọc Nhuận giới thiệu), Thơ văn Nguyễn Trãi (Nguyễn Đổng Chi chủ biên), Đại Việt sử ký tục biên (Ngô Thế Long và Nguyễn Kim Hưng), Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn (Nguyễn Tuấn Lương chủ biên), Thơ văn Ninh Tốn (Hoàng Lê chủ biên), Thơ văn Lê Thánh Tông (Mai Xuân Hải chủ biên), Lê quý dật sử (Phạm Văn Thắm), Trùng san Lam Sơn thực lục (Trần Nghĩa), Thơ văn Nguyễn Cao (Phan Văn Các), Hội Tao đàn (Nguyễn Văn Bến chủ biên), Nghệ An ký (Nguyễn Thị Thảo), Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông (Mai Xuân Hải chủ biên), Thơ văn Nguyễn Đề (Nguyễn Thị Phượng chủ biên), Lịch triều tạp kỷ (Hoàng Văn Lâu), Diệu Liên thi tập (Đỗ Thị Hảo), Ứng Khê thi văn tập (Nguyễn Thị Oanh), Đại Việt sử ký tiền biên (Lê Văn Bảy, Phạm Thị Thoa, Dương Thị The), Ô châu cận lục (Trịnh Khắc Mạnh - Nguyễn Văn Nguyên), Phạm Đình Hổ tuyển tập thơ văn (Trần Kim Anh), Hồ Xuân Hương (Đào Thái Tôn), Cổ duệ từ (Phan Văn Các), Minh Mệnh chiếu dụ (Trần Văn Quyền), Đặng gia thế phả (Trần Lê Sáng, Nguyễn Huy Thức, Nguyễn Hữu Tưởng), Cổ tâm bách vịnh (Mai Xuân Hải), Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Quang Hồng), Thiên Nam ngữ lục (Nguyễn Thị Lâm), Đoạn trường lục (Phan Văn Các), Việt sử cương mục tiết yếu (Hoàng Văn Lâu), Phan Huy Trứ (Đinh Văn Minh), Lĩnh Nam chích quái (Nguyễn Thị Oanh), Thơ văn Phạm Hy Lượng ( Cao Việt Anh), Việt điện u linh tập (Đào Phương Chi), v.v...

6- Ngoài ra, còn có thể kể tới hàng chục công trình khác trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới Hán Nôm đã được công bố, do sự nỗ lực và năng động của cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm trong mối quan hệ hợp tác với các cơ quan và các địa phương trong cả nước, như Tây dương Gia Tô bí lục, Lượn Cọi, Truyện Thạch Sanh, Dương Từ - Hà Mậu, Phạm Thận Duật, cuộc đời và tác phẩm, Quốc triều hương khoa lục, Làng Đại Bái gò đồng, Văn Lãng huyện biên giới, Đền bà Chúa kho, Văn bia Lạng Sơn, Văn bia Hà Tây, Văn bia làng Nành, Hương ước cổ Hà Tây, Việt âm thi tập, Những điển tích Phật giáo kì thú, Từ điển Chu dịch, Nhật Bản linh dị ký, Đường thi một thuở, Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù, Hà Nội làng nghề phố nghề, Truyện Kiều nghiên cứu văn bản và thảo luận, Lý luận văn học cổ Trung Quốc, Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Người Hà Tây trong làng khoa bảng, Một thế kỷ sưu tầm văn hóa dân gian, Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia và nhiều sách tái bản khác, v.v.

3. Điều tra sưu tầm tư liệu Hán Nôm:

Di sản Hán Nôm còn lại đến ngày nay không còn được nguyên vẹn như nó vốn có trong lịch sử, mà bị mai một mất mát trải qua đời này đến đời khác, với nhiều lý do khác nhau, như: do thiên tai và khí hậu, do chiến tranh tàn phá, do con người thiếu cẩn thận, do sự lão hóa theo thời gian,v.v. Cách đây 200 năm, nhà khoa học Lê Quý Đôn khi nghiên cứu thư tịch Hán Nôm đã từng than tiếc: Nước Nam nổi tiếng là nước văn hiến, từ hai triều nhà Lý, nhà Trần đến bản triều (triều Lê), các bậc tiền bối trước tác cũng nhiều, nhưng lâu ngày bị mai một, sách vở còn lại không được bao nhiêu, những sỹ phu say mê về việc đời cổ không dựa vào đâu mà khảo cứu được(10). Nhà sử học thế kỷ XIX, Phan Huy Chú cũng đau lòng nói: Từ khi Lý - Trần dấy lên, văn vật đã thịnh..., đến đời Hồng Đức nhà Lê vận hội càng mở mang, trước thuật nảy nở, điển chương rất nhiều. Cho nên sách vở đầy rẫy, thực là rất thịnh. Nhưng trải nhiều phen biến loạn, nên các sách mất mát đi, tiếc rằng nay không còn mấy(11).

Về chủng loại, di sản Hán Nôm không chỉ gồm những tác phẩm văn học, sử học, địa lý v.v..; mà còn bao gồm cả các loại văn bản như gia phả, thần phả, văn khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ, địa bạ, hương ước v.v.; cho đến các thứ giấy tờ như văn khế, chúc thư, bằng sắc, lệnh chỉ, sách bói toán phương thuật, hoành phi câu đối v.v.. Tất cả, trong chừng mực khác nhau, đều gắn liền với bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc. Cho đến nay, ngoài phần lớn di sản Hán Nôm đã thu thập được hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, còn có khá nhiều tư liệu Hán Nôm rải rác ở các địa phương trong toàn quốc. Do vậy, công việc điều tra, sưu tầm tư liệu Hán Nôm hiện còn đang nằm rải rác trong dân gian là rất cần thiết và đúng hướng.

Trong nhiều năm qua, Viện đã triển khai thực hiện Dự án Điều tra sưu tầm tư liệu Hán Nôm trên các mặt công tác như:

- Xác định địa bàn để triển khai thực hiện Dự án Điều tra sưu tầm tư liệu Hán Nôm.

- Lập phiếu điều tra tình trạng di tích và tiến hành điều tra thu thập tư liệu Hán Nôm hiện còn ở các di tích tại các địa phương trong phạm vi toàn quốc và đưa ra những phương án thích hợp để quản lí, thu thập nguồn tư liệu này. /P>

- Sao chép các tư liệu chữ Hán, chữ Nôm gắn với các di tích như hoành phi, câu đối, bài vị, sắc phong v.v..

- In dập trên giấy dó nguyên dạng văn khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ, khánh, bệ đá, cột mốc, ngai thờ v.v.

- Thu thập tư liệu Hán Nôm với các hình thức: mua, trao đổi, chụp ảnh, photocopy để đưa về kho lưu trữ của Viện.

Trong các năm 1998 - 2002, Dự án điều tra sưu tầm tiếp tục được triển khai theo kế hoạch đã được duyệt từ những năm trước. Đến nay, Viện hoàn thành cơ bản việc điều tra và sưu tầm tư liệu Hán Nôm ở các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Nam Định, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương, Lạng Sơn, Ninh Bình; đang tiếp tục thực hiện ở các nơi như Phú Thọ, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Thanh Hóa. Kết quả khối lượng công việc đã làm được là:

- Lập phiếu điều tra tình trạng di tích và kiểm kê tư liệu Hán Nôm tại các di tích ở hơn 700 xã với khoảng 10.000 thôn.

- Sao chép được khoảng 15.000 đôi câu đối và 18.000 hoành phi.

- In dập được khoảng hơn 20.000 thác bản văn bia, biển gỗ và hơn 1300 chuông. Nhập kho, làm phiếu thư mục và đã đưa phục vụ bạn đọc, được mọi người rất hoan nghênh.

- Mua được hơn 3.000 cuốn sách chữ Hán và chữ Nôm, trong đó có cả sách chữ Nôm Tày và chữ Thái cổ của các dân tộc ít người.

Nhiều tư liệu Hán Nôm quí hiếm đã bổ sung cho kho sách của Viện, như các tập thơ văn viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, sách chữ Nôm Tày - Nùng, sách chữ Thái cổ và văn khắc Hán Nôm thời Lý - Trần, Lê, Tây Sơn, Nguyễn ở các địa phương trong toàn quốc, v.v. Hiện nay Viện đang phân loại và lập thư mục giới thiệu toàn bộ các tư liệu Hán Nôm đã sưu tầm được trong thời gian qua đồng thời triển khai nghiên cứu, công bố những tác phẩm Hán Nôm có giá trị.

4. Bảo quản tư liệu Hán Nôm

Ngay sau khi thành lập, được sự đồng ý của Nhà nước, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã tiếp nhận kho sách Hán Nôm từ Viện Thông tin Khoa học xã hội vốn được chuyển giao từ Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp. Đây là một vinh dự và cũng là một trách nhiệm nặng nề đối với cán bộ công chức của Viện.

Với tinh thần trách nhiệm cao, trong nhiều năm qua, công tác bảo quản của Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã làm được khá nhiều việc, xin nêu như sau:

- Kiểm kê, làm vệ sinh toàn bộ kho sách và kho thác bản văn bia.

- Tiến hành sao chụp, nhân thành 3 bản các sách Hán Nôm để phân tán ở các kho khác nhau và tiến tới phục vụ bạn đọc bằng bản photocopy, còn bản gốc đưa vào kho lưu giữ theo chế độ bảo tàng.

- Lập các phiếu quản lý sách Hán Nôm và thác bản văn khắc Hán Nôm, nhằm nêu lên những đặc điểm về nội dung và hình thức của sách, để kiến nghị những biện pháp bảo quản và triển khai nghiên cứu khai thác một cách hữu hiệu nhất.

- Tiến hành bồi vá, tu bổ, phục chế các sách Hán Nôm và thác bản văn khắc Hán Nôm bị rách nát, hư hỏng.

- Làm hộp bảo quản sách Hán Nôm, bởi vì các sách Hán Nôm làm bằng chất liệu giấy dó nên sách rất mềm và khi đưa dựng lên giá sách không đứng được. Do vậy việc làm các hộp bảo quản là rất có tác dụng đối với các sách Hán Nôm.

- Làm túi bằng giấy phi axít để bảo quản các thác bản văn Hán Nôm và các loại hình thác bản khác.

- Đóng bìa bằng chất liệu cậy và giấy dó cho các sách bị hư hỏng bìa, khi đóng bìa mới phải giữ nguyên bìa cũ để đảm bảo nguyên tắc văn bản.

- Tổ chức và cử cán bộ theo học nhiều lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác bảo quản do chuyên gia Mỹ, Nhật hướng dẫn. Hiện nay cán bộ của Phòng Bảo quản đã tiếp thu được khá nhiều kiến thức về nghiệp vụ bảo quản tài liệu cổ và đã vận dụng vào công tác bảo quản, tu bổ, bồi vá các tài liệu Hán Nôm. Tuy nhiên đây vẫn là giai đoạn thử nghiệm bước đầu về công việc phục chế và bảo quản các tài liệu Hán Nôm mới sưu tầm trong vài năm gần đây.

- Tổ chức Hội thảo về tu bổ và bồi vá tư liệu Hán Nôm. Hội thảo được đánh giá là có tác dụng tốt trong việc mở rộng mối giao lưu học hỏi kinh nghiệm về nghiệp vụ bảo quản giữa các đơn vị.

- Để rút kinh nghiệm cho công tác bảo quản, Viện đã tổ chức Hội thảo về Môi trường, nhiệt độ và độ ẩm của hệ thống điều hòa trung tâm trong việc bảo quản các tài liệu Hán Nôm. Hội thảo thu hút được nhiều cơ quan chuyên môn tham dự và đã khẳng định phương pháp bảo quản các tài liệu Hán Nôm bằng hệ thống điều hoà trung tâm là góp phần kéo dài tuổi thọ của các tài liệu hiện có trong kho lưu trữ.

- Xây dựng chương trình quản lí sách Hán Nôm và quét lưu hàng vạn trang bản gốc trên đĩa CD-ROM.

- Chụp microfilm các sách Hán Nôm trên film với hàng vạn trang bản gốc.

5. Thông tin tư liệu thư viện

Từ một vốn liếng ban đầu còn rất nghèo nàn với vài chục đầu sách, đến nay Phòng Thông tin - Tư liệu - Thư viện của Viện đã có một phông sách khá phong phú, gồm các nước Việt, Trung, Anh, Pháp, Nga và hàng ngàn cuốn tạp chí các loại. Công tác thông tin đã được triển khai phục vụ việc tra cứu dữ liệu Hán Nôm nhằm mục đích khai thác nghiên cứu di sản Hán Nôm và giao lưu văn hóa với bên ngoài. Phục vụ công tác thống kê, phân loại, góp phần quản lý và khai thác nguồn thông tin Hán Nôm một cách hiệu quả. Xây dựng hệ thống phục vụ việc tìm tin theo một qui trình chuẩn khi phục vụ độc giả, nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu khai thác tư liệu. Trong những năm qua Viện đã xây dựng phương án ghi lưu kho tư liệu Hán Nôm trên các phương tiện mang tin điện tử hiện đại, nhằm phát huy tính ưu việt về độ an toàn, hiệu quả, chính xác, dễ bảo quản, dễ truy cập của phương tiện này. Thiết kế và xây dựng hệ CSDL Hán Nôm và tiếng Việt, bao gồm các thông tin văn bản, bản đồ, hình ảnh v.v. dựa trên biện pháp kỹ thuật tin học hiện đại. Xin nêu một số thành tựu cụ thể như:

- Lập thư mục các sách và tài liệu Hán Nôm đã được dịch.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu cho kho sách tiếng Việt, sách Trung Quốc.

- Lập thư mục những người đỗ đạt thời kì phong kiến.

- Hoàn chỉnh bản thảo Thư mục các bài viết có liên quan đến tác giả, tác phẩm Hán Nôm trên các tạp chí (Nam Phong, Tri Tân và các tạp chí, thông báo khoa học ở miền Bắc từ 1954 - 1998).

- Làm mục lục sách Hán Nôm hiện tàng trữ ở các thư viện khác tại Hà Nội.

- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu với hàng ngàn biểu ghi, phục vụ cho việc tra cứu thông tin chuyên ngành một cách nhanh nhất.

- Xây dựng phần mềm quản lý và hệ thống từ khoá cơ sở dữ liệu trích yếu nội dung sách Hán Nôm.

- Xây dựng CSDL mục lục liên hợp sách Hán Nôm và sách tiếng Trung Quốc, biên soạn từ khóa tự do với hàng vạn mục từ. Đây là công cụ cần thiết để tra tìm trên máy.

- Xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu quản lý và tra cứu các hoành phi, câu đối tại các địa phương, nhập máy toàn bộ số hoành phi, câu đối đã sưu tầm được.

6. Tập san Nghiên cứu Hán NômTạp chí Hán Nôm

Tập san Nghiên cứu Hán Nôm, tiền thân của Tạp chí Hán Nôm, ra đời từ năm 1984, nhằm giới thiệu những kết quả mới nhất của Viện Nghiên cứu Hán Nôm cùng cộng tác viên của Viện trên các lĩnh vực sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu khai thác thư tịch, tài liệu Hán Nôm do ông cha để lại. Đến giữa năm 1986, Tập san được nâng lên thành loại ấn phẩm định kỳ, tức Tạp chí Hán Nôm với mỗi năm ra 2 số. Đến năm 1993, để phục vụ độc giả kịp thời hơn, Tạp chí đã tăng kỳ xuất bản lên gấp đôi, mỗi năm ra 4 số. Từ năm 2002, Tạp chí tiếp tục tăng kỳ xuất bản, mỗi năm ra 6 số. Tính đến cuối năm 2003, Tập san Tạp chí đã phát hành được 65 số, đăng tải hàng ngàn bài viết lớn nhỏ của hàng trăm tác giả; với nhiều bài nghiên cứu có giá trị học thuật cao và công bố nhiều tư liệu Hán Nôm thuộc loại quý hiếm mới sưu tầm được. Tạp chí Hán Nôm trong thời gian qua đặt mình trong xu hướng phát triển của thời đại và của đất nước, bắt nhịp được hơi thở của đời sống văn hóa xã hội và sự phát triển của khoa học và nhân văn, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu tri thức Hán Nôm, làm chỗ dựa tin cậy của đông đảo người Việt Nam hôm nay và mai sau khi tìm về văn hóa thành văn truyền thống của dân tộc. Tạp chí Hán Nôm là tạp chí khoa học chuyên ngành nằm trong khoa học xã hội và nhân văn, là diễn đàn của chuyên ngành Hán Nôm học Việt Nam, trong thời gian qua đã xác định rõ hơn phương hướng phát triển trên 3 vấn đề chủ yếu sau đây: tính khoa học, tính cập nhật và tính xã hội.

7. Đào tạo cán bộ

Ngay sau khi thành lập, Ban Hán Nôm và tiếp đó là Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã tập trung vào việc bồi dưỡng trình độ chuyên môn sâu và giải mã văn bản Hán Nôm cho cán bộ, như các lớp Lịch sử tư tưởng Trung Quốc, Nho giáo Việt Nam, Phật giáo Việt Nam, Tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam, Kinh nghiệm dịch từ Hán sang Việt, Nghiên cứu về chữ Nôm, Thư pháp, Nghiên cứu văn bản học, Ngữ văn học, và các khóa bồi dưỡng về Hán ngữ học, Hán Nôm Việt Nam, chữ thảo v.v.

Từ khi Viện được công nhận là cơ sở đào tạo Sau đại học (1994), đã có 13 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án TS. Ngữ văn chuyên ngành Hán Nôm tại Viện.

Năm 1996 Viện tuyển cao học Hán Nôm. Đã tổ chức bảo vệ luận án Thạc sĩ cho 15 học viên, kết quả đều đạt loại giỏi.

8. Hợp tác nghiên cứu ngày càng mở rộng

Quá trình xây dựng và pháp triển Viện Nghiên cứu Hán Nôm gắn liền với việc củng cố và mở rộng mối quan hệ hợp tác với các ngành, địa phương, cơ quan, trường đại học trong nước và quốc tế. Viện đã hợp tác với một số Viện nghiên cứu và các Trường đại học trong và ngoài nước để đào tạo cán bộ có trình độ đại học và sau đại học. Trong nước, như: với Viện Văn học, Viện Ngôn ngữ học, Viện Sử học v.v. thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia; với Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội v.v. thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ngoài nước, như: Viện Đông Phương học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (trước đây), Trường Đại học Tổng hợp Tokyô, Ôsaka (Nhật Bản), Học viện Viễn Đông Bác cổ và Trường Cao học Khoa học xã hội (Cộng hòa Pháp), và một số nước khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan v.v.

Việc mở rộng mối quan hệ với các ngành, các địa phương là nguyên tắc nhất quán từ trước tới nay của Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Viện đã tham gia hợp tác nghiên cứu khoa học và công bố nhiều tư liệu Hán Nôm có giá trị với các địa phương, như Lạng Sơn, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Sơn La, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội, Thái Bình, Hà Tây, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Nghệ An, Bình Định v.v. Những công trình thắm đượm tình nghĩa giữa Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các đơn vị bạn đã lần lượt ra mắt bạn đọc.

9. Xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ nghiên cứu

Từ năm 1985 - 1990, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, được sự giúp đỡ của các Bộ, các Ngành hữu quan, trụ sở làm việc và kho lưu trữ tài liệu Hán Nôm của Viện với khoảng gần 2000m2 đã được xây dựng và đưa vào sử dụng. Phải nói rằng mười năm về trước mà có được một tòa nhà cao tầng tương đối khang trang, tiện nghi khá đầy đủ và diện tích làm việc rộng rãi như Viện Nghiên cứu Hán Nôm quả là chuyện không dễ.

Từ năm 1995, được sự giúp đỡ của Trung tâm KHXH và Nhân văn Quốc gia, cơ sở vật chất của Viện ngày càng được tăng cường. Trụ sở làm việc được chống xuống cấp, nên khang trang sạch đẹp. Nhiều máy móc thiết bị hiện đại đã được đưa vào sử dụng nhằm phục vụ tốt nhất cho công tác sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu khai thác di sản Hán Nôm và đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu Hán Nôm.

Kết luận chung:

Nhìn lại quá trình hoạt động các mặt công tác của Viện, cán bộ công chức Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực sự phấn khởi tự hào về những thành tích đã làm được, nhưng cũng không khỏi băn khoăn day dứt về những thiếu sót, bất cập còn đang tồn tại. Những năm qua Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã phấn đấu theo hướng đoàn kết, ổn định và phát triển. Tin tưởng rằng những năm tới Viện tiếp tục đoàn kết, ổn định và phát triển hơn cùng xu thế phát triển chung của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) và của đất nước trong giai đoạn cách mạng hiện nay./.

T.K.M

CHÚ THÍCH:

(1) Trích trong Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 311/CP ngày 8/9/979, Về công tác sưu tầm, thu thập, bảo quản và khai thác các tư liệu chữ Hán, chữ Nôm.

(2) Trích trong Quyết định của Chủ nhiệm ủy ban Khoa học xã hội số 63/KHXH-QĐ ngày 3/2/1988, Về chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(3) Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 300/TTg ngày 21/6/1993, Về việc giao nhiệm vụ đào tạo trên đại học cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(4) Quyết định của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo số 3853/GD-ĐT ngày 13/12/1994, Về việc giao nhiệm vụ đào tạo cao học cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(5) Hồ chí Minh toàn tập (tập 4). Nxb. Chính trị quốc gia, H. 1995, tr.504.

(6) Về văn hóa văn nghệ (in lần thứ 4). Nxb. Văn học, H. 1976, tr. 214.

(7) Xây dựng nền văn hóa văn nghệ ngang tầm với dân tộc ta, thời đại ta. Nxb. Sự thật, H. 1975, tr. 98.

(8) Trường Chinh: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam. Nxb. Sự Thật, H. 1975, tr.171.

(9) Trường Chinh: Sđd, tr.171.

(11) Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục. Nxb. KHXH, H. 1977, tr.13-14.

(11) Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí. Nxb. KHXH, H. 1992, tr.20.

Lam62

VĂN HOÁ HÁN NÔM - ĐÔI ĐIỀU
SUY NGẪM

ĐỖ PHƯƠNG LÂM

Ông cha để lại cho con cháu một ngôi nhà cổ. Con cháu lại xây cho mình những ngôi nhà mới, to đẹp, tiện nghi hơn. Vì thế mà không ở nhà cổ nữa, cũng không chăm nom, coi sóc để một ngày kia nó bị mối mọt xâm hại, mục ruỗng và bị gió mưa đánh bẹp. Con cháu lúc ấy mới nhận ra rằng tất cả của cải quý báu, tinh túy hun đúc của bao đời ông cha đều cất giữ trong ngôi nhà cổ ấy; nhận ra rằng từng hơi thở của mình đều nhận sinh khí từ ngôi nhà cổ ấy. Con cháu bèn hò nhau dựng lại ngôi nhà. Dĩ nhiên chẳng phải để ở mà chí ít cũng mong bảo tồn linh khí của ông cha. Nhưng, chao ôi việc đó mới khó làm sao !

Mấy năm gần đây bỗng rộ lên phong trào học Hán Nôm và “chơi Hán Nôm” ở nhiều nơi. Ngành Hán Nôm, bao gồm những người nghiên cứu Hán Nôm, những người dạy - học Hán Nôm... và cả những người “chơi Hán Nôm” nữa, như được khoác lên mình tấm áo mới. Ngành Hán Nôm đang được xã hội quan tâm và trọng vọng. Điều đó làm cho những “người trong Ngành” như chúng tôi thấy rất đỗi vui mừng, song cũng không phải là không thấy lo. Mừng vì rằng cái “sở học” của mình từ nay có “đất dụng võ”. Còn lo thì không ít...

1. Trước hết xin được bắt đầu từ một chuyện rất nhỏ. ấy là mới đây, trong không khí hân hoan của năm mới, anh chị em phóng viên làm chương trình truyền hình đón xuân, có “đưa” khán giả ngang qua “chợ chữ”. “Chợ chữ” - cái tên gọi làm chúng tôi phải giật mình. ồ thế ra trong cái thời buổi kinh tế thị trường này, cái gì chả có thể đem ra chợ mà bán, mà mua ? Nhưng chúng tôi đều thống nhất với nhau rằng chữ là một loại “hàng hóa” đặc biệt. Đó là thứ “sản phẩm” mà không phải “nhà sản xuất” nào cũng có thể hiểu thấu đáo được nó, kiểm soát được nó, nắm bắt được cái “thần” của nó. Cứ xem cái cách mà mấy chàng trai trẻ tuổi “bán chữ” luận về “hàng hóa” của mình trên tivi đủ thấy điều đó. Đâu phải cứ biết viết chữ Hán, viết chữ Hán đẹp là có thể ra chợ “bán chữ”.

Xin chữ, cho chữ là một tập tục lâu đời của dân tộc ta, là nét đẹp văn hóa đã đi vào văn chương ( Ông Đồ - Vũ Đình Liên, Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân). Ngày trước chỉ có những bậc tài cao, đức trọng mới được người ta đến “xin chữ”. Nay ở “chợ chữ”: ai bán cũng được, ai mua cũng xong. Người bán chữ, dám xin chưa bàn tới, nhưng hẳn cũng có nhiều hạng. Người mua chữ, họ là ai ? Một số người muốn đến “chợ chữ” để gửi gắm tâm sự, tình cảm, những ước vọng và cả trí tuệ của mình. Một số người yêu thích nghệ thuật thư pháp. Một số người thì đơn giản chỉ là muốn tìm cái gì đó để treo trong nhà ngày Tết, mà treo chữ thì thật trang trọng cổ kính. Lại có người vô thức, hoặc tò mò. Còn một số người khác thì coi đó như một thứ mốt thời thượng, một thứ trang sức cho cuộc đời.

Chữ nghĩa vốn là thú chơi tao nhã của ông cha, nay trở thành “hàng hóa” để mua bán, để không ít “trưởng giả học làm sang”, há chẳng phải là một điều đáng lo sao ?

2. Rồi thỉnh thoảng, chúng tôi hoặc các đồng nghiệp lại được nghe những lời bông đùa của người quen, đại loại như: “Biết chữ Hán, khi nào thất nghiệp đi viết sớ cũng sống được đấy!”; “Này, viết sớ bây giờ “kiếm” lắm, tết tư cứ lên chùa mà ngồi...”; “Có biết xem bói không, xem cho một quẻ ?”... Thật, cũng có lúc ngẫm mà buồn, thấy “tự trọng nghề nghiệp”. Thì ra người ta thường quan niệm cái “nghề” của chúng tôi chẳng khác nào những thầy “lí số”! Những quan niệm ấy xuất phát từ những nguyên do xã hội. Chả là chục năm trở lại đây, đời sống kinh tế vật chất của dân ta được cải thiện đáng kể. Một bộ phận dân cư “phất” lên nhanh chóng. Phú quí sinh lễ nghĩa. Người ta đi lễ bái Thánh - Phật nhiều hơn, cúng tế nhiều hơn. Thầy cúng, viết sớ, xem bói, đoán việc lại thành nghề. Nhưng đâu phải cứ có chút ít vốn chữ Hán, chữ Nôm thì đều có thể làm thầy bói, thầy cúng.

3. Hay chuyện làng tôi có cả thảy bốn họ lớn cùng chung sống dưới gốc đa cổ thụ, cùng uống nước giếng đình. Vừa rồi cả bốn họ cùng xây lại từ đường Những ngôi từ đường được xây dựng rất khang trang, đồ sộ cho “sánh ngang với tầm cỡ” của dòng họ. Để “tăng cường” dáng vẻ cổ kính, tôn nghiêm cho bê tông cốt thép, người ta phải vừa tái tạo, vừa tân tạo những kiến trúc Hán Nôm của ngôi từ đường. Không riêng gì quê tôi mà hầu như các làng quê khác đang diễn ra những hoạt động tương tự. Vô hình trung, người ta đã thực hiện việc gìn giữ, bảo tồn và lưu truyền những vốn văn hóa Hán Nôm. Còn việc thực hiện được đến đâu, như thế nào lại là chuyện khác.

Có lẽ căn nguyên sâu xa của những hoạt động này là do những thay đổi về đời sống kinh tế vật chất, Do đời sống khấm khá, có dư dật mà người ta có điều kiện chú ý hơn đến những nhu cầu tinh thần. Việc tu bổ các di sản, các công trình kiến trúc của ông cha thời nào cũng có. Nhưng thời nay, công việc đó được thực hiện một cách rầm rộ và đôi chỗ có những biểu hiện của sự thái quá, tùy tiện, cẩu thả và thái độ thiếu nghiêm túc. ở khắp nơi người ta hối hả đi đúc chuông, đúc khánh, khắc bia đá, làm câu đối, hoành phi, cuốn thư, đại tự... để bài trí ở tư thất, từ đường, đình chùa, miếu mạo, khu du lịch... Rất nhiều công trình được thực hiện với quy mô to lớn, hoành tráng. Để tạo ấn tượng đặc biệt, tạo cảm giác mới lạ, người ta trang trí chữ Hán ở các quán ăn, quán rượu dân tộc, quán trà... Có chàng họa sĩ còn làm bức đại tự bằng xi măng to bằng cả bức tường lớn đặt ở đại sảnh nhà mình. Có nhà sính chữ đến mức đề chữ Hán ở khắp mọi nơi trong nhà.

Trang hoàng cho ngôi nhà mình bằng một đôi câu đối, hay một bức hoành phi không khó. Những đôi câu đối có nội dung đại loại như: “Tổ công tông đức thiên niên thịnh, Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương”... được chế tác và bán phổ biến. Chất liệu được sử dụng để làm các sản phẩm này khá đa dạng và rất hiện đại: gỗ, gỗ khảm trai, đồng, nhôm, kính, mi - ka, gương, giấy si... Chữ Hán được khắc, chạm, trổ trên các sản phẩm này thường không đẹp, trông thô dại, có khi còn sai hình thể nội dung...

Cách đây không lâu, chúng tôi tình cờ được một người bạn kể cho nghe một câu chuyện khá thú vị. Chuyện rằng một hôm có một cụ già đến “cửa hàng dịch vụ Hán Nôm” của anh ta nằng nặc yêu cầu làm cho cụ bức hoành phi đề 3 chữ “Thủy Hữu Dĩ”. Theo lời cụ thì trước đây ở nhà thờ tổ của dòng họ có đặt bức hoành phi đề ba chữ ấy, nay đã thất truyền. Con cháu muốn tưởng nhớ tổ tiên bàn nhau làm lại, nhưng chỉ nhớ âm đọc mà không nhớ mặt chữ ra sao, ý nghĩa thế nào? Tra cứu các điển cố, điển tích khắp các sách vở mà chẳng thấy manh mối nào, mướt mồ hôi cuối cùng lại thấy trong Kinh Thi, bài Văn Vương hữu thanh, có khổ thơ:

豐 水 有 芑
武 王 豈 不 仕
貽 厥 孫 謀
以 燕 翼 子

Phong thủy hữu dĩ,
Vũ Vương khởi bất sĩ?
Di quyết tôn mưu,
Dĩ yến dực tử.

Nghĩa là:

Sông Phong có cỏ dĩ, (cây rong)
Vua Vũ há chẳng làm được gì? (có công gì ?)
(Người) Để lại mưu kế cho cháu,
(Người) Để yên ổn giúp cho con.

Hóa ra “THỦY HỮU DĨ” nghĩa đen là “sông có cỏ dĩ”, mà đặt vào văn cảnh khởi nguồn mới thấy được điển nghĩa thật sâu sắc: tổ tiên mưu tính để giúp đỡ con cháu đời sau. Thì ra, các cụ xưa hẳn đã cân nhắc kĩ lưỡng mới đặt ba chữ ấy ở từ đường của gia tộc vậy.

Càng đi sâu khám phá càng thấy thế giới Hán Nôm thật mênh mông, kì diệu và đầy những ý nghĩa sâu xa. Trộm nghĩ, sau những con chữ ấy luôn là những ẩn số, mà mỗi lần giải mã được chúng, là mỗi lần người ta thấy mình trưởng thành cùng với những điều tâm đắc. Bởi vì, những ẩn số đó chính là vốn sống, vốn văn hóa, tư tưởng, kinh nghiệm của ông cha bao đời đúc kết và truyền lại cho con cháu.

Tóm lại, học chữ Hán, chữ Nôm hay cả việc chơi Hán Nôm là một việc tốt, rất cần được sự quan tâm, khích lệ và sự hướng đạo của xã hội. Càng tốt hơn nếu việc đó trở thành một tập tính, một thói quen văn hóa của dân ta. Mong sao Ngành Hán Nôm sẽ ngày càng phát triển sánh ngang với vị trí, tầm quan trọng của nó trong xã hội.

Đ.P.L

Pmai62

LƯỢC KHẢO VỀ THƯ TỊCH CỔ
VIỆT NAM DU NHẬP VÀO TRUNG QUỐC

HÀ THIÊN NIÊN

Trong quá trình giao lưu văn hóa Trung - Việt, không chỉ riêng thư tịch Trung Quốc du nhập vào Việt Nam mà cũng đã có một số tác phẩm chữ Hán của người Việt Nam ra đời và lưu truyền ở Trung Quốc. Tứ khố tổng mục có ghi chép một số sách Việt Nam như An Nam chí lược của Lê Trắc, Nam Ông mộng lục của Lê Trừng, song chỉ có duy nhất một cuốn sách vốn thuộc về Việt Nam nhưng về sau du nhập vào Trung Quốc. Đó là Việt sử lược. Bài viết này nhằm tìm hiểu về một số thư tịch cổ từ Việt Nam du nhập vào Trung Quốc, nếu có điều gì thiếu sót, kính mong độc giả chỉ giáo. Niên đại các thư tịch cổ ở đây phần lớn giới hạn từ đời Thanh trở về trước.

Thời Tống, chỉ có cuốn An Nam biểu trạng của Lý Thiên Tộ tức vua Anh Tông triều Lý (ở ngôi từ 1138 - 1175) có thể được coi là có nguồn gốc từ Việt Nam. Trong Q.7 sách Trực Trai thư lục giải đề của Trần Chấn Tôn có viết: “Sách An Nam biểu trạng là do Lý Thiên Tộ tiến cống năm Thiệu Hưng thứ 25. [Sự giao thiệp hai bên] kể từ năm Tĩnh Khang thứ 2 đến bấy giờ mới bắt đầu thông suốt”. An Nam biểu trạng còn được Mã Đoan Lâm nhắc đến trong Văn hiến thông khảo. Năm Thiệu Hưng thứ 25, tức là năm Đại Định thứ 16 (1155) triều Lý. ở quyển 3 sách Đại Việt sử ký toàn thư (dưới đây gọi tắt là Đại Việt sử ký), năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 7 (1126) (niên hiệu Tĩnh Khang thứ nhất đời vua Khâm Tông) có đoạn: “Tháng (11) nhuận, sai Lệnh thư gia Nghiêm Thường, Ngự khố thư gia Tứ Diên đem 10 con voi thuần và vàng bạc, sừng tê sang biếu nhà Tống để tạ ơn việc bắt Mạc Hiền”. Chuyến đi tiến cống này gặp đúng lúc người Kim sang xâm chiếm, cuối cùng sứ giả đem lễ vật trở về nước, chưa được vào chầu. Việt sử lược thì ghi chép: “Năm Quý Mão niên hiệu Thiên Thuận thứ nhất (đúng ra phải là năm Mậu Thân, 1128), (Lý Thần Tông) sai người đem thư sang Tống, báo tin việc tang vua Nhân Tông và việc vua lên ngôi. Lúc bấy giờ vua Tống Cao Tông chạy loạn người Kim, đã sang sông, đóng đô ở Lâm An”. Nếu vậy thì từ niên hiệu Kiến Viêm trở đi, nước Việt vẫn có sứ sang Trung Quốc chứ không phải như Trực Trai thư lục đề giải nói rằng đến năm Thiệu Hưng thứ 25 mới bắt đầu thông sứ. Về chuyến triều cống năm Thiệu Hưng thứ 25, Tống sử cũng có ghi chép khái quát. Giao Chỉ truyện chép: Năm Thiệu Hưng thứ 25, (vua) ra chiếu chỉ cho sứ giả An Nam trọ ở dịch trạm Hoài Viễn để tỏ rõ ân sủng đối với người dị tộc. Lịch sử Việt Nam không thấy ghi chép về nguyên do của chuyến đi đó. Trong khi đó, Việt sử lược lại chép về một lần tiến cống khác: “Năm ất Hợi niên hiệu Đại Định thứ 16 (thời vua Lý Anh Tông, tức năm Thiệu Hưng thứ 25), Tống Cao Tông phong vua làm Nam Bình vương. Bấy giờ vua bèn sai Ngoại lang Nguyễn Quốc đem đồ lễ vật sang Tống. Tống Cao Tông ban cho vua áo, đai, yên, ngựa”. Nhưng đây không phải là chuyến triều cống nhà Tống cùng năm đó mà trên đây đã đề cập, bởi vì Tống sử. Giao Chỉ truyện chép: Năm Thiệu Hưng thứ 25, “tháng 8, Thiên Tộ sai bọn Lý Quốc (tức Nguyễn Quốc) đem vàng bạc châu báu, trầm hương, lông chim trả, ngựa tốt, voi thuần sang cống”. Nếu vậy thì Nguyễn Quốc phải xuất phát từ năm Đại Định thứ 16 thời Lý Anh Tông, lúc bấy giờ là năm Thiệu Hưng thứ 26 triều Tống, và trở về nước vào năm Đại Định thứ 19 (tức năm Thiệu Hưng thứ 28). Việt sử lược Đại Việt sử ký đều có ghi chép việc này với lời lẽ khá giống nhau.

Thời Minh, bộ Việt sử lược gồm 2 sách du nhập từ Việt Nam vào Trung Quốc. Bộ thư mục sớm nhất có ghi chép về bộ sách này là Văn Uyên các thư mục của Dương Sỹ Kỳ. Phần trước của cuốn thư mục có đề: “Ngày 26 tháng 6 năm Chính Thống thứ 6 (1441), trong sách Việt sử lược có câu: Đinh Sửu niên hiệu Xương Phù thứ nhất đời vua ta hiện nay” Xương Phù (1377 - 1388)(1) là niên hiệu của vua Trần Phế Đế, cho nên sách này du nhập vào Trung Quốc sau khoảng 50 năm. Sau đó, có khá nhiều cuốn sách khác đề cập đến bộ sách này; chẳng hạn Bức Tống lâu tàng tư chí, Bão Kinh lâu tàng thư chí, Thiết Cầm Đồng Kiếm lâu tàng thư mục lục, Trù Tĩnh Trai tàng thư kỷ yếu ...

Thư tịch Việt Nam nhiều lần đề cập đến việc người Minh tìm cướp các trước tác của Việt Nam trong thời kỳ mà họ chiếm đóng. Theo Đại Việt sử ký, tháng 7 mùa thu Mậu Tuất thời vua Lê Thái Tổ (tức năm Vĩnh Lạc thứ 16 thời Minh - 1418) “nhà Minh sai Hành nhân Hạ Thanh, Tiến sĩ Hạ Thì sang thu lấy các loại sách ghi chép về sự tích xưa nay của nước ta mang về Kim Lăng”. Trong Lời tựa phần Văn tịch chí sách Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú viết: “Cuối thời Trần bị nạn giặc Minh, sách vở đã bị mất mát nhiều hơn trước...” và chú rằng “nhà nhuận Hồ thất thủ, lúc bấy giờ tướng nhà Minh là Trương Phụ thu lấy cả sách vở kim cổ đưa về Kim Lăng”. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (sau đây gọi tắt là Việt sử thông giám ) phần Chính biên quyển 13, năm Bình Định Vương thứ 2 (tức năm Vĩnh Lạc 17 (1419) có phần chú và mục lục các sách vở bị cướp mất, tổng cộng hơn 30 loại(2). Trong các thuyết kể trên thì Đại Việt sử ký ra đời sớm nhất còn Lịch triều hiến chương loại chí - Văn tịch chí ra đời muộn hơn. Nay chúng tôi tiến hành khảo cứu Minh Thanh Tiến sĩ đề danh bi ký thì quả là có người tên Hạ Thì, đỗ Đệ nhị giáp năm Vĩnh Lạc thứ 16 thời Minh. Về việc lấy đỗ Tiến sĩ đó, sách Minh sử, Thành Tổ kỷ chép: “Tháng 3 mùa xuân năm Giáp Dần (niên hiệu Vĩnh Lạc) thứ 16, ban cho bọn Lý Kỳ đỗ Tiến sĩ cập đệ, xuất thân khác nhau”; còn sách Minh Thái Tông thực lục có đoạn: “năm Vĩnh Lạc thứ 16, (tháng 3) năm Bính Dần, bọn Trương Minh cất nhắc Đệ nhất giáp Tiến sĩ Lý Kỳ làm Tu soạn Viện Hàn lâm, bọn Trương Minh 5 người làm Hành nhân”. Có lẽ Hạ Thì được tuyển làm Hành nhân, nếu thế thì điều mà Đại Việt sử ký chép là có căn cứ.

Theo phần đề ký của sách Văn Uyên các thư mục viết: “từ năm Vĩnh Lạc thứ 19 trở đi, các loại sách ngự chế của bản triều và sách kinh, sử, tử, tập cổ kim thu hồi về Nam Kinh đều cất giữ ở hành lang phía Bắc cửa Tả Thuận, chứ chưa có thư mục hoàn chỉnh”. Còn về sách Đại Việt sử lược, nếu xét về tên gọi thì có lẽ đây là bộ sách vốn chưa được người Trung Quốc chỉnh lý; nếu xét về thời gian(3) và địa điểm thì hình như nó có liên quan đến việc người Minh cướp bóc sách của người Việt về Kim Lăng như các sách sử Việt Nam từng đề cập. Tuy nhiên, ở đây còn tồn tại 2 điểm nghi vấn: Thứ nhất, các sách được liệt kê trong Việt sử thông giám không hề thấy xuất hiện trong Văn Uyên các thư mục, trong khi đó Đại Việt sử lược cũng không thấy có trong thư mục của Việt sử thông giám (4). Thứ hai, căn cứ vào các chiếu dụ từ năm Vĩnh Lạc thứ 4 đến thứ 5 được chép trong Việt kiệu thư thì có khá nhiều lần đề cập đến việc đốt sách, trong đó có một đạo sắc cho Trương Phụ đề ngày 21 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 5: “Trước đây (trẫm) từng nhiều lần chỉ dụ cho các khanh rằng phàm là văn tự sách vở của An Nam, từ những loại sách học vỡ lòng quê mùa vụn vặt như Thượng đại quan nhân, Khâu Ất Kỉ cho đến các loại bia khắc do họ tự lập hễ trông thấy là phá huỷ ngay lập tức, không được để lại. Nay trẫm nghe nói trong quân khi thu được văn tự sách vở đã không ra lệnh cho quân lính thiêu hủy ngay lập tức, mà để lại đọc qua sau đó mới đốt. Quân lính nhiều người không biết chữ, nếu duy trì lệnh đó tất sẽ để lại nhiều thiếu sót. Nay các ngươi phải nên thực thi theo sắc trước, ra lệnh trong quân hễ gặp bất cứ vật gì có văn tự thì lập tức thiêu huỷ ngay, không được lưu lại”. Như vậy thì các cuốn sách mà người Minh rất ghét như Trung hưng thực lục hay Binh gia yếu lược liệu có còn để mà chuyển về Kim Lăng chăng? Mà giả sử có mang về Kim Lăng thì tại sao trong các sách thư mục thời Minh như Văn Uyên các thư mục lại không hề thấy nói đến một cuốn sách nào khác của Việt Nam ngoài bộ Việt sử lược ? Từ mức độ tin cậy của các tư liệu sử học cho chúng ta thấy, các sách Văn Uyên các thư mục, Việt kiệu thư ra đời sớm hơn Việt sử thông giám Lịch triều hiến chương loại chí (5).

Minh Thái Tông thực lục viết: Tháng 6 năm thứ 16, (vua) xuống chiếu toản tu các sách quận chí, huyện chí trong thiên hạ, lệnh cho Thượng thư Bộ Hộ Hạ Nguyên Cát, Học sĩ Hàn lâm viện kiêm Hữu thứ tử phường Hữu Xuân Dương Vinh, Học sĩ Hàn lâm viện kiêm Hữu dụ đức phường Hữu Xuân Kim ấu Đôn đảm trách, lại lệnh cho bộ Lễ sai các quan đến khắp các quận huyện thu thập sự tích và sách vở cũ”. Thời bấy giờ, Giao Chỉ chỉ là quận huyện của Trung Quốc, cho nên việc “đến khắp các quận huyện” chắc chắn bao gồm cả Giao Chỉ. Sách Văn Uyên các thư mục quyển 4 có ghi chép khá nhiều sách tổng chí Giao Chỉ và địa phương chí Giao Chỉ, chẳng hạn: Giao Chỉ thông chí, Lạng Giang phủ chí ... Từ đó chúng ta có thể suy luận rằng việc Hạ Thanh, Hạ Thì sang nước Việt thu thập sách vở vào tháng 7 như Đại Việt sử ký đã đề cập chẳng qua là vì phải thực hiện nhiệm vụ toản tu sách địa chí. Có thể vì thế mà sau này các ông như Phan Huy Chú hiểu nhầm câu nói đó mà cho rằng người Minh sang cướp bóc thư tịch của Việt Nam khiến văn tịch của Việt Nam bị hủy diệt, chứ các ông không biết rằng người Minh đã chấp hành chính sách hủy hoại thư tịch ở Việt Nam một cách tàn bạo(). Ngoài điều đó ra, rất có thể sách Việt sử lược không phải là do Hạ Thanh mang về Trung Quốc trong chuyến đi đó, bởi vì nếu muốn hoàn thành công việc biên tu sách địa chí thì các sách thu thập về phải lưu giữ ở Bắc Kinh mới phải, chứ không thể để ở Kim Lăng được. Phần Ngự chế tự sách Minh nhất thống chí đề năm Thiên Thuận thứ 5 viết: “(Thái Tông Văn Hoàng đế) sai sứ đi thu thập thư tịch và bản đồ khắp các quận huyện trong thiên hạ, đặc mệnh cho các nho thần đại phu tu soạn, làm thành sách... Trẫm nghĩ cái chí của tổ tông chưa thành, những mong kế nối. Bèn sai các đại thần giỏi văn học biên tập thêm, phải thêm bớt, lấy bỏ cho thỏa đáng”. Việc Minh nhất thống chí của Lý Hiền kế thừa các tài liệu thời Vĩnh Lạc thì không có gì đáng bàn. Nhưng quyển 90 của sách này, phần viết về An Nam lại khác xa so với những gì viết trong Việt sử lược, tuyệt nhiên không thấy dấu vết của việc sử dụng hay tham khảo Việt sử lược. Như vậy, người Minh tuy có sang Việt Nam thu thập sách vở, nhưng có thể cuốn sách này cũng như các cuốn sách khác của Việt Nam đã vào Trung Quốc theo con đường dân gian.

Ngoài Việt sử lược ra lẻ tẻ trong các sách thư mục khác, chúng ta còn có thể bắt gặp một số thư tịch khác có nguồn gốc từ Việt Nam như: Quyển 6 sách Khai Hữu ích Trai độc thư chí của Chu Tự Tằng có ghi: “Việt Nam thi tuyển, Bùi Bích biên, bản in”. Tên gọi vốn có bộ sách này đã bị thay đổi, nó phải là Hoàng Việt thi tuyển mới đúng. Bùi Bích tức Bùi Huy Bích (1744 - 1818), hiệu là Tồn Am, học trò của Lê Quý Đôn. Bài tựa viết vào năm Mậu Thân (1788), còn có lời tựa khác của Đốc học trấn Sơn Nam Nguyễn Tập viết vào năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), Hy Văn đường ấn hành. Phần tiểu dẫn cho biết, sách này vốn được biên tập lại dựa trên Hoàng Việt thi lục của Lê Quý Đôn. Sách này thu thập thơ của các thi nhân 3 triều Lý, Trần, Lê của Việt Nam, gồm 193 tác giả, tổng cộng 526 bài thơ. Cuốn Hoàng Việt thi tuyển mà Chu Tự Tằng được đọc đã bị thất lạc ở đâu không rõ, nhưng hiện Viện Nghiên cứu Hán Nôm của Việt Nam còn 11 bản in. Quyển 4 sách Gia Nghiệp đường tàng thư chí ghi chép về Trích diễm tập, 6 quyển, Hoàng Đức Lương biên, bản chép tay, phần giải đề do Mậu Thuyên Tôn viết. Sách có bài tự viết vào năm Hồng Đức 28 (1497) thời Lê Thánh Tông. Hoàng Đức Lương, người làng Ngọ Kiều, huyện Gia Lâm, đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức, Toàn Việt thi lục khen ông là: “Khốc hiếu thi học, củ bộ hữu Đường, từ chương thanh lệ, tình cảnh kiêm đáo” (Nghĩa là: (ông) rất thích làm thơ, quy tắc theo Đường, văn chương sáng đẹp, tình, cảnh kiêm toàn). Tác phẩm được chọn vào sách này đều là những bài thơ thể tuyệt cú của các danh gia thời Trần và thời Lê sơ, gồm 15 quyển. Cuốn Trích diễm tập mà Mậu Thuyên Tôn được đọc là bản chép tay có lời bạt của Lê Quý Đôn, nhưng hiện nay Viện Nghiên cứu Hán Nôm chỉ còn lại bản sao do Ngô Ngọc Can hiệu đính, gồm 6 quyển, không có lời bạt của Lê Quý Đôn.

Quyển 7 sách Phán thư ngẫu ký chép: Hoàng Việt dư chí, 2 quyển, họ Tôn viết, không ghi rõ tên người soạn, Việt Đông Phật Sơn Kim Ngọc lâu in khoảng năm Nhâm Thân niên hiệu Đồng Trị 11 (1872). Sách này ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm có khá nhiều bản. Theo Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu (6), thư viện Quốc gia Paris có lưu trữ bản in năm 1883 (Quang Tự thứ 9) do Kim Ngọc lâu in.

Theo Bắc Kinh Sư phạm đại học đồ thư quán Trung văn cổ tịch thư mục thì Thư viện này có lưu trữ bộ Đại Việt sử ký toàn thư, bản in thì do Sơn đường ở Nhật Bản in năm Minh Trị 17 (1884), gồm 10 quyển.

Trung Quốc khoa học viện đồ thư quán tăng thiện bản thư mục ghi chép về Nam chi tập, tác giả là Nguyễn Thượng Hiền(7), một nhà yêu nước chống Pháp nổi tiếng của Việt Nam thời cận đại, nhưng niên đại sách này khá muộn, có lời tựa của Chương Bích Lân năm 1913.

HOÀNG PHƯƠNG MAI dịch
(Theo Tạp chí Văn hiến số 2, năm 2003, tr.257-261).

CHÚ THÍCH:

(1) Nguyên văn bài viết là Xương Phù (1477-1487).

(2) Tham khảo Việt Nam thông sử, Trần Trọng Kim trứ, Đới Khả Lai dịch, Thương vụ ấn thư quán, 1992, tr.145.

(3) Tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407) bình định An Nam, bố cáo thiên hạ, đến năm Tuyên Đức 2 (1427) Vương Thông rời khỏi An Nam).

(4) Trần Trọng Kim nói: “Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, phần Văn tịch chí, điển tịch An Nam bị mang sang Trung Quốc gồm...” là không chính xác. Lịch triều hiến chương loại chí, Văn tịch chí, không thấy nói rõ những điển tịch này bị người Minh mang đi.

(5) Việt sử thông giám, soạn từ năm Tự Đức thứ 9 (1856), hoàn thành năm Tự Đức thứ 34 (1881), Lịch triều hiến chương loại chí, soạn năm Minh Mệnh 2 (1821) triều Nguyễn.

(6) Nxb. KHXH, H. 1993, tr.846 (Trong bài viết, tác giả viết là Việt Nam Hán Nôm di sản mục lục đề yếu - ND).

(7) Theo Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu, tập 2, Nxb. KHXH, H. 1993, tr.311 (Nguyên văn bài viết là Nguyễn Trung Hiền - ND).

( ) Xét theo logic, có lẽ nguyên văn câu này bị sót một đoạn - ND)./.

Damtu62

TÌM HIỂU NHỮNG CỐNG HIẾN CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM ĐỐI VỚI VĂN HOÁ HÁN QUA TƯ LIỆU HÁN NÔM VÀ SỬ LIỆU
TRUNG QUỐC

ĐÀM CHÍ TƯ

Như nhiều học giả đã công nhận, Trung Quốc và Việt Nam là hai nước có nền văn hóa rất gần nhau. Sự gần nhau về văn hóa đó là kết quả của sự giao lưu văn hóa đó lâu dài qua nhiều thế kỷ giữa hai nước. Mối giao lưu văn hóa này mang tính hai chiều, tuy không loại trừ trường hợp một chiều trong một khoảng thời gian nhất định. Bởi vậy, chúng ta phải nhìn thấy tính hai chiều của nó khi nghiên cứu mối giao lưu văn hóa giữa hai nước Trung - Việt. Đáng tiếc là, lâu nay trong giới nghiên cứu khoa học tồn tại một tình trạng thiếu khoa học là cường điệu một chiều sự ảnh hưởng của nền văn hóa Hán đối với nền văn hóa Việt Nam (Hán sang Việt), còn chiều khác là sự ảnh hưởng (cống hiến) của văn hóa Việt Nam đối với văn hóa Hán (Việt sang Hán) thì rất ít được đề cập đến. Bài viết này xin đưa ra quan điểm của chúng tôi về những cống hiến của người Việt và văn hóa Việt Nam vào văn hóa Hán dựa trên tư liệu Hán Nôm và sử liệu Trung Quốc.

Trước hết, chúng tôi khẳng định rằng, song song với chiều văn hóa Hán truyền sang, góp phần hình thành và phát triển văn hóa Việt Nam, còn tồn tại chiều văn hóa Việt Nam truyền sang văn hóa Hán, góp phần làm phong phú thêm nội dung của văn hóa Hán. Điều đó được thể hiện trong những khía cạnh sau đây:

I. Một số loại sản vật Việt Nam hoặc từ Việt Nam truyền sang Trung Quốc, làm phong phú thêm kho tàng tài nguyên sản vật và đời sống của nhân dân Trung Quốc

Theo sử sách Trung Quốc, những loại sản vật đó gồm các cây nhãn, vải, giầu cau, dừa, khoai lang, thuốc lá, bông, ý dĩ (bo bo), hoàng tiết (黃 屑) và phong hương (楓 香) v.v...

Cây nhãn, vải: vốn xuất xứ vùng Giao Chỉ, Cửu Chân, sau đó được truyền sang miền Nam Trung Quốc. Vua Ngụy Văn Trung Quốc từng xuống chiếu rằng: “Những hoa quả lạ ở miền Nam có cây nhãn, vải... xuất xứ ở Giao Chỉ, Cửu Chân(1)”.

Cây trầu cau: cuốn Nam phương thảo mộc trạng của Kê Hàm chép: cây trầu cau “có nguồn gốc ở Lâm ấp (miền Trung Việt Nam ngày nay)”. Có học giả Trung Quốc nhận định rằng, thời gian cây trầu cau truyền sang Trung Quốc không muộn hơn đời Tấn(2).

Cây dừa: vốn xuất xứ ở vùng Mêlanixia (thuộc châu Đại Dương) và được truyền sang vùng Đông Nam Á trước công nguyên. Trước đời Hán, cây dừa được truyền từ Việt Nam sang Trung Quốc(3). Cuốn Tề dân yếu thuật, quyển 10 dẫn các sách Quảng chí, Giao Châu ký, Dị vật chí rằng: “Cây dừa xuất xứ từ Giao Chỉ, nhà nào nhà nấy đều trồng cây đó”.

Cây khoai lang: vốn xuất xứ ở châu Mỹ, được truyền sang vùng Đông Nam Á vào thế kỷ XVI. Khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573 - 1620) đời Minh, ông Trần ích, người Quảng Đông đem giống cây khoai lang từ Việt Nam tới và ông Trần Chấn Long, người Phúc Kiến đem giống khoai lang từ Phi-líp-pin về, sau đó cây khoai lang được trồng rộng rãi ở vùng Quảng Đông, Phúc Kiến(4).

Cây thuốc lá: vốn xuất xứ ở châu Mỹ. Năm 1492, nhà hàng hải Cô-lôm-bô phát hiện cây thuốc lá, từ đó cây thuốc lá được truyền đi khắp nơi trên thế giới. Lúc đầu cây thuốc lá được truyền qua con đường Phi-lip-pin sang Trung Quốc vào khoảng niên hiệu Vạn Lịch đời Minh. Đến niên hiệu Thiên Khởi (1621 - 1627) đời Minh, cây thuốc lá lại được truyền từ Việt Nam sang vùng Quảng Đông Trung Quốc. Cuốn Cao Yếu huyện chí ở Quảng Đông chép rằng: “Thuốc lá xuất xứ từ Giao Chỉ, nay nơi nào cũng có(5)”.

Cây bông: theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, cây bông ở Trung Quốc được nhập từ nước ngoài qua ba con đường. Một trong ba con đường đó là từ Việt Nam qua đường biển truyền sang đảo Hải Nam, Phúc Kiến và Quảng Tây v.v... Thứ vải được dệt bằng loại bông đó được gọi là Việt Bố (vải Việt)(6).

Cây ý dĩ (bo bo): là loại cây họ thảo sống lâu năm, quả ý dĩ có thể ăn hoặc làm thuốc, lá và thân cây ý dĩ có thể dùng làm nguyên liệu giấy. Ngày nay các tỉnh Hà Bắc, Sơn Đông và Quảng Tây đều trồng cây ý dĩ. Theo sử sách ghi chép, ngày xưa, loại ý dĩ Việt Nam có hạt to nhất. Vào đời Đông Hán, Mã Viện vào cai trị vùng Giao Chỉ, khi trở về, lần đầu tiên ông đem giống ý dĩ về Lạc Dương, kinh đô nhà Hán. Sau khi chết, ông mang “oan ý dĩ”(7). Hiện nay trong tiếng Hán còn có thành ngữ “ý dĩ minh châu” nói về chuyện đó.

Cây hoàng tiết (黃 屑), cây phong hương (楓 香): cuốn Nam phương thảo vật trạng của Từ Trung, người đời Tấn chép: “cây hoàng tiết Nhật Nam (nay là miền Trung Việt Nam) tốt nhất, thỉnh thoảng đem vào cống [cho Trung Quốc]”; “cây phong hương, quả to như trứng vịt... chỉ quận Cửu Chân mới có(8)”.

Còn có thể điểm ra nhiều ví dụ khác, song trong khuôn khổ của một bài viết không cho phép liệt kê hết mọi sản vật được truyền từ Việt Nam sang Trung Quốc được.

II. Một số người Việt Nam sang Trung Quốc góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa hai nước và giúp sức xây dựng, phát triển nền văn hóa Hán

Từ thời Tần Thủy Hoàng đã có người Việt Nam sang Trung Quốc. Sử sách chép rằng, vào đời Tần Thủy Hoàng, có Lý Ông Trọng, người Từ Liêm, Giao Chỉ, cao 3 trượng 2 thước, sang nước Tần làm quan đến chức Tự lệ hiệu úy. Ông đem quân đóng giữ đất Lâm Thao (nay thuộc tỉnh Cam Túc Trung Quốc), uy danh chấn động nước Hung Nô. Khi tuổi già, về làng rồi chết. Thủy Hoàng cho rằng ông là người kỳ lạ, đúc đồng làm tượng để ở cửa Tư Mã Hàm Dương. Bụng tượng chứa được mấy chục người, lắp máy bên trong, nên tượng có thể chuyển động được. Hung Nô tưởng đó là Hiệu úy còn sống, không dám đến xâm phạm(9). ở đời Đông Hán, có người Giao Châu là Lý Tiến, Lý Cầm và Trương Trọng sang học rồi làm quan ở Trung Quốc. Sử sách Trung Quốc chép rằng: “Nhân tài Giao Châu được cùng tuyển dụng với người Trung Châu có thể là bắt đầu từ Lý Tiến(10).

Đời Đường, có ba người Việt Nam là hai anh em Khương Công Phụ và Khương Công Phục, Liêu Hữu Phương đều đậu Tiến sĩ và làm quan ở Trung Quốc. Nhất là Khương Công Phụ, ông đã làm quan đến chức Tể tướng. Chẳng những thế, ông còn giỏi làm văn. Hai bài Bạch vân chiếu xuân hải phú và Đối trực ngôn cực gián sách của ông đều đã được thu chép vào bộ sách Toàn Đường văn. Ông Trương Tú Dân, một học giả Trung Quốc chuyên về lịch sử quan hệ Trung Việt đã tôn xưng ba ông Khương Công Phụ, Khương Công Phục và Liêu Hữu Phương là An Nam tam hiền đời Đường(11)”. Đời Đường, còn nhiều văn nhân Việt Nam (chủ yếu là Nho sĩ và tăng lữ) sang Trung Quốc, đã trao đổi nghệ thuật văn chương, tư tưởng với các văn nhân Trung Quốc. Sự kiện đó được phản ánh qua một số bài thơ của một số nhà thơ đời Đường trong tập thơ Toàn Đường thi, như các bài Sơn trung tặng Nhật Nam tăng, Tống Nam khách của nhà thơ Trương Tịch, bài Cung Phụng Định pháp sư quy An Nam của nhà thơ Dương Cự Nguyên, bài Tống An Nam Duy Giám pháp sư của nhà thơ Giả Đảo v.v...

Những người Việt Nam trên đây sang Trung Quốc, hoặc cố gắng làm việc trong phạm vi chức quyền của mình, hoặc trao đổi nghệ thuật văn chương, qua đó đã góp phần vào sự phát triển của văn hóa Hán.

Kể từ thời Nam Bắc triều đến đầu đời Tùy, nhạc và múa của Lâm ấp (nay là Trung bộ Việt Nam) đã được chọn làm cống phẩm cho Trung Quốc(12). Trong nhạc cung đình đời Thanh còn có nhạc An Nam(13).

Ở đời Lý - Trần, Lê Đức Toàn là một Bác sĩ Việt Nam nổi tiếng đã sang Trung Quốc chữa bệnh cho Hoàng hậu nhà Tống, rồi ông ở lại miền Nam Trung Quốc cho đến chết. Ông quê ở Nghĩa Lư, tự hiệu là Tuệ Tĩnh Thiền Sư. Sau khi ông chết, vua nhà Tống tổ chức lễ tang ông và cho khắc bia đá ghi lại sự tích của ông. Về sau, có sứ giả Việt Nam sang Trung Quốc đem bia đá đó về nước. Đến năm Thiệu Trị thứ 6 (1853), Việt Nam bị dịch đậu mùa nghiêm trọng, tấm bia đá đó đã hiển linh để giúp dân. Do đó, dân lập đền thờ ông(14). Đời Minh, Nguyễn An, một kiến trúc sư tài ba Việt Nam theo lệnh triều đình nhà Minh trực tiếp phụ trách công trình thiết kế và xây dựng thành phố Bắc Kinh, trong đó chủ yếu là Tử Cấm Thành và Hoàng Thành. Nguyễn An đã hoàn thành sơ bộ công trình đồ sộ đó trong 4 năm. Ngày nay, khi đến tham quan Cố Cung của thành phố Bắc Kinh, người ta biết ơn kiến trúc sư tài ba Việt Nam Nguyễn An(15). Lê Trừng, tự Mạnh Nguyên, hiệu Nam Ông, con trưởng của Hồ Quý Ly, bị tướng nhà Minh Trương Phụ bắt giải sang Trung Quốc. Triều Minh thấy Trừng thông minh tính trời, văn võ kiêm toàn, bèn thả và trọng dụng ông. Trừng chuyên phụ trách quản lý chế tạo hỏa khí, nên được người ta ví là thần Hỏa khí. Người đời Minh phàm thờ hỏa khí, đều thờ luôn ông Trừng. Lê Trừng đã làm quan đến chức Công bộ thượng thư, góp phần to lớn vào nền quốc phòng triều Minh(16).

III. Trong quá trình tiếp thu văn hóa Hán, văn hóa Việt Nam đã có những sáng tạo mới, góp phần phát triển và làm phong phú thêm nội dung của văn hóa Hán

Trong khi tiếp thu văn hóa ngoại lai, mọi dân tộc đều không rập khuôn máy móc, mà căn cứ theo tình hình cụ thể của mỗi dân tộc để tiếp thu có chọn lọc và cải tạo, đồng thời phát huy văn hóa ngoại lai để nâng văn hóa bản địa lên tầm cao mới. Nhưng vì bối cảnh và điều kiện lịch sử khác nhau, nên mức độ cải tạo và phát huy văn hóa ngoại lai của mỗi dân tộc cũng khác nhau. Về phần Việt Nam, xét tổng quan trên bình diện lịch sử, Việt Nam không xây dựng một nền văn hóa khác hẳn văn hóa Hán. Nhưng điều đó không có nghĩa là Việt Nam không có sáng tạo gì trong quá trình tiếp thu văn hóa Hán. Trong một số lĩnh vực, dân tộc Việt Nam đã có sáng tạo mới. Xin đơn cử một số trường hợp sau đây:

Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) của Nguyễn Du đã mượn cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân - một nhà văn cuối đời Minh đầu đời Thanh (Trung Quốc). Nhưng Nguyễn Du đã sử dụng một cách tài tình ngôn ngữ Việt Nam (tiếng Việt) và thể thơ Việt Nam (lục bát) để sáng tác lại Truyện Kiều. Kết quả là Truyện Kiều của Nguyễn Du không những được coi là tác phẩm văn học nổi tiếng nhất ở Việt Nam, mà còn có tiếng trên thế giới, từng được dịch và giới thiệu bằng tiếng Trung, Pháp, Anh, Nga, Đức, Nhật, Tiệp Khắc và Hung-ga-ri. Nguyễn Du cũng vì đó mà trở thành danh nhân văn hóa. Còn bản Kim Vân Kiều truyện Trung Quốc thì hầu như không có tiếng tăm gì, chỉ những học giả chuyên về văn học thời kỳ đó mới biết thôi. Trên một chừng mực nào đó, sở dĩ sau này bản Kim Vân Kiều truyện Trung Quốc được nhiều người biết đến là nhờ tiếng tăm của bản Truyện Kiều Việt Nam, tức họ biết Truyện Kiều của Nguyễn Du trước, biết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân sau.

Phú là một trong bốn thể loại văn cổ đại Trung Quốc. Trong quá trình tiếp thu phú Trung Quốc, phú Việt Nam đã có sáng tạo và phát triển mới. Chẳng hạn, phú Trung Quốc thì thường hay sử dụng những lời văn mỹ miều để ca ngợi công đức của bọn thống trị hoặc tác giả khoe tài. Còn phú Việt Nam thì có khi dùng để bàn luận sự việc hoặc thuyết minh đạo lý, thậm chí để luận chiến, giống như thể văn nghị luận, như bài Cần Chính lầu phú, Quan Chu nhạc phú của Nguyễn Pháp v.v... Đôi khi phú Việt Nam còn được dùng để thuyết trình đặc tính và hướng dẫn cách sử dụng dược phẩm, giống như thể văn thuyết minh ngày nay, như bài Trực giải chỉ nam dược tính phú, Nam dược Quốc ngữ phú của Nguyễn Bá Tĩnh v.v...

Chơi chữ bằng chữ Hán là bộ phận quan trọng trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, cũng được nhân dân Việt Nam ưa thích. Người Việt Nam đã tiếp thu văn hóa chơi chữ Hán rồi kết hợp với văn hóa bản địa để tạo ra nhiều tác phẩm chơi chữ mang bản sắc dân tộc Việt Nam. Thực tế, cách chơi chữ bằng chữ Hán của Việt Nam đã góp phần làm phong phú thêm nội dung của văn hóa chơi chữ Trung Quốc, thí dụ:

Vua Duy Tân chơi chữ với cha cố Tây:

Cha cố: Rút ruột ông vua, tam phân thiên hạ.

Vua Duy Tân: Chặt đầu thằng Tây, tứ hải giai huynh.

Cha cố Tây đã chơi chữ bằng chữ vương (王) trong tiếng Hán, bởi chữ vương rút đi sổ giữa (〡), còn lại chữ tam (三), ngụ ý Việt Nam bị chia cắt làm ba Kỳ. Vua Duy Tân đã chọi lại ông cha cố bằng cách chơi chữ Tây (西, hồi ấy Việt Nam gọi người Pháp là Tây) trong tiếng Hán, bởi chữ Tây (西) cắt đi phần đầu còn lại chữ tứ (四).

Xem thêm câu đố sau đây:

Đầu cha lấy làm chân con,
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.

Đáp án của câu đố trên là hai chữ Hán “光 景” (Quang Cảnh). Vì phần đầu của chữ “光” là “小”, đúng là phần chân của chữ “景”, Quang chỉ vua Quang Trung, Cảnh chỉ năm Cảnh Thịnh, triều Quang Trung chỉ tồn tại 14 năm.

Xin xem thêm bài Chiết tự trong Nhật ký trong tù của Bác Hồ như sau:

折 字
囚 人 出 去 或 為 國
患 過 頭 時 始 見 忠
人 有 懮 愁 優 點 大
籠 開 竹 閂 出 真 龍

Phiên âm:

Chiết tự

Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc,
Hoạn quá đầu thời thủy kiến trung.
Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,
Lũng khai trúc soàn xuất chân long.

Ở đây, với trình độ Hán học uyên thâm, Bác Hồ đã bày tỏ ý chí cách mạng của mình bằng hình thức chơi chữ Hán.

Tập Kiều là một hình thức chơi chữ trên cơ sở kết hợp văn hóa chơi chữ Hán với văn hóa bản địa Việt Nam, vừa là kết quả của mối giao lưu văn hóa giữa hai nước Trung - Việt, lại vừa thể hiện tinh thần sáng tạo của dân tộc Việt Nam. Thí dụ:

Một hôm, học trò của cụ Phan Bội Châu bị bắt bởi sờ vào ngực của cô hàng hoa. Để cứu trò mình, cụ Phan Bội Châu chơi chữ bằng hình thức tập Kiều:

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.
Những là âu yếm vành ngoài,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm.

Còn bao nhiêu tác phẩm chơi chữ nữa mà tác giả của chúng chính là người Việt Nam. Đó là sự phát triển mới của văn hóa Hán ở khu vực ngoài Trung Quốc. Những tác phẩm đó đã góp phần làm phong phú thêm nội dung của văn hóa chơi chữ Hán.

IV. Văn hóa Việt Nam đã bảo tồn được một số thành phần văn hóa mà ở Trung Quốc đã bị mất mát đi hoặc khó tìm được

Việc một số thành phần của văn hóa bị mất đi bởi nhiều nguyên nhân trên dòng sông lịch sử dài hơn mấy nghìn năm là hiện tượng khó tránh khỏi. Những thành phần văn hóa đó bao gồm cả văn hóa vật chất và tinh thần. Những thành phần đó có khi chúng ta có thể tìm lại được hoặc khám phá được ở khu vực ngoài Trung Quốc. Trung Quốc và Việt Nam có quan hệ chặt chẽ về lịch sử và văn hóa, nên Việt Nam đã bảo tồn những thành phần văn hóa Hán mà ở Trung Quốc đã bị mất đi hoặc khó tìm. Thí dụ:

Nhạc cổ Trung Quốc đời Tống bị biến mất, từng tìm lại được ở Việt Nam như Hoàng Đế Viêm, một thứ nhạc trượng cổ đã thất truyền ở Trung Quốc(17).

Hiện nay, Việt Nam lưu giữ được một kho tàng di sản Hán Nôm đồ sộ và vô giá, tập trung nhất và phong phú nhất tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm với khoảng 26.000 quyển sách, khoảng 36.000 đơn vị thác bản văn khắc, 20.000 tấm ván gỗ khắc in sách Hán Nôm. Đó là một cống hiến vô cùng to lớn của nền văn hóa Việt Nam nói chung và ngành Hán Nôm học Việt Nam nói riêng đối với nền văn hóa Hán. Kho tàng Hán Nôm đó tiềm ẩn biết bao ẩn số về văn hóa Hán và văn hóa Việt Nam (không phải là đối tượng nghiên cứu của bài này) đang chờ đợi các nhà Hán học đi tìm tòi, khám phá mà những người đi trước đã đạt được thành quả đáng mừng. Xin nêu thí dụ:

Hệ thống chữ Nôm và âm Hán Việt đã giữ được nhiều dữ liệu về ngữ âm tiếng Hán thời trung cổ mà ở Trung Quốc khó tìm được. Năm 1948, ông Vương Lực, nhà Ngôn ngữ học nổi tiếng Trung Quốc khảo sát chữ Nôm và hệ thống âm Hán Việt một năm ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, ông viết bài Hán Việt ngữ nghiên cứu nổi tiếng, giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng về lịch sử ngữ âm tiếng Hán. Cho đến ngày nay, chữ Nôm và âm Hán Việt là tài liệu quan trọng được các học giả Trung Quốc quan tâm nghiên cứu về ngữ âm tiếng Hán thời trung đại.

Đôn Hoàng học là một nền học vấn hết sức sâu rộng và có lịch sử lâu dài ở Trung Quốc, đến nay vẫn còn nhiều vấn đề chưa ngã ngũ. Một trong những vấn đề đó là thể loại văn học. Vương Tiểu Thuẫn, Giáo sư Khoa Trung văn trường Đại học Thanh Hoa Trung Quốc đã giải quyết được một số vấn đề hết sức quan trọng về thể loại văn học Trung Quốc nói chung và văn học Đôn Hoàng nói riêng qua một thời gian tìm hiểu và nghiên cứu về di sản Hán Nôm Việt Nam. Những thành quả nghiên cứu liên quan đến di sản Hán Nôm của ông được công bố trong hai quyển sách là Từ Đôn Hoàng học đến văn học chữ Hán nước ngoài Việt Nam Hán Nôm văn hiến mục lục đề yếu. Ông đánh giá rất cao cống hiến của di sản Hán Nôm Việt Nam đối với văn hóa Hán. Ông cho rằng: “Văn hiến Hán Nôm được lưu giữ ở Việt Nam hiện nay đã cung cấp nhiều tư liệu mới cho nền học thuật Trung Quốc trong thế kỷ mới. Sự tác động tích cực của nó đối với nền học thuật Trung Quốc sẽ không chỉ giới hạn trong những ngành khoa học truyền thống như văn, sử, triết, v.v... mà nó còn tác động cụ thể đến nghiên cứu Đôn Hoàng. Cho nên, nó vừa là tấm gương phản chiếu nền văn hóa kinh điển Trung Quốc, vừa là tấm gương soi bóng nền văn hiến Đôn Hoàng(18).

Với sự không ngừng phát triển của ngành Hán Nôm học Việt Nam và mối quan hệ hợp tác quốc tế trong công tác nghiên cứu di sản Hán Nôm, chắc chắn còn nhiều cống hiến cụ thể của văn hóa Việt Nam đối với văn hóa Hán.

Thay lời kết

Không nghi ngờ gì nữa, giao lưu văn hóa giữa hai nước Trung - Việt trong lịch sử tồn tại hai chiều, không chỉ tồn tại ảnh hưởng và cống hiến của văn hóa Hán đối với văn hóa Việt Nam, mà còn ngược lại, tồn tại ảnh hưởng và cống hiến của văn hóa Việt Nam đối với văn hóa Hán. Điều đó đã được chứng tỏ qua di sản Hán Nôm Việt Nam và sử liệu Trung Quốc. Vấn đề này cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu không những đối với học giả Việt Nam mà còn đối với học giả Trung Quốc nữa. Di sản Hán Nôm Việt Nam với nội dung phong phú, hình thức đa dạng cần được tiếp tục khai thác để làm rõ hơn vấn đề này. Thiết nghĩ, trong quá trình khai thác di sản Hán Nôm, học giả Trung Quốc và Việt Nam tiến hành hợp tác là yếu tố cần được quan tâm.

Đ.C.T

CHÚ THÍCH

(1) Lý Phiên biên soạn: Lịch sử phát triển của thực vật trồng trọt Trung Quốc, (中 國 栽 培 植 物 發 展) KHXH,1984, tr.220

(2) Lâm Minh Hoa: Trầu cau và mối giao lưu văn hóa Trung Việt (檳 桹 與 中 越 文 化 交 流), tạp chí Đông Nam Á học san của Sở Châu Á - Thái Bình Dương, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, 1989, số thử san.

(3) Lý Phiên: Sđd., tr.223.

(4) Mẫn Tông Điện: Trung Quốc nông lịch sử hệ niên yếu lục (中 國 農 曆 史 系 年 要 錄)Nxb. Nông nghiệp 1989, tr.178

(5), (6)Vương Giới Nam: Trung Quốc dữ Đông Nam Á văn hóa giao lưu chí (中 國 與 東 南 亞 文 化 交 流 志), Nxb. Nhân dân Thượng Hải, 1998, tr.137, 132.

(7) Hậu Hán thư, quyển 24 (後 漢 書, 卷 24, 馬 援 傳) chép: “Xưa, Mã Viện ở Giao Chỉ, thường ăn hạt ý dĩ dể làm nhẹ nhàng mình mẩy và thắng chướng khí. Quả ý dĩ miền Nam rất to, Viện muốn lấy làm giống. Khi quân trở về nước, chở một xe ý dĩ về. Người bấy giờ cho đó là đồ quý lạ của miền Nam, những người quyền quý đều nhòm ngó. Bấy giờ Viện đang được triều đình nuông chiều, nên không việc gì. Sau khi Viện chết, có người dâng sớ vu khống ông, cho những gì ngày xưa Viện chở về đều là châu báu vật lạ, nên Viện bị can tội, không được táng vào mộ, vợ ông cũng bị liên lụy. Sử gọi chuyện đó là ‘oan ý dĩ’. Về sau được minh oan”.

“初, 援 在 交 趾, 常 餌 薏 苡, 用 能 輕 身 省 欲 以 勝 瘴 氣. 南 方 薏 苡 寔 大, 援 欲 以 為 種, 軍 還, 載 之 一 車. 時 人 以 為 南 土 珍 怪, 權 貴 皆 望 之 援 時 方 有 寵, 固 莫, 以 文 及 卒 後 有 上 書 之 者 以 為 前 所 載 還, 能 明 珠 文 犀 因 而 坐 罪, 死 不 歸 墓 妻 子 亦 株 連, 史 稱 薏 苡 之 謗, 後 詔 雪”

(8) Thạch Thanh Hán, Tập Từ Trung Nam phương thảo vật trạng (輯 徐 衷 南 方 草 物 狀). Nxb. Nông Nghiệp, Bắc Kinh, 1990, tr.23.

(9) Theo Ngô Sĩ Liên: Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ, quyển I và Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam.

(10) Gia Khánh trùng tu nhất thống chí (嘉 慶 重 修 一 統 志), quyển 553, Việt Nam, Nhân vật.

(11) Trương Tú Dân: Đường đại An Nam văn học sử tư liệu tập dật (唐 代 安 南 文 學 史 資 料 輯 佚), Tạp chí Nghiên cứu Đông Dương, số 1 - 1983.

(12) âm nhạc trên đường tơ lụa cổ đại (古 代 絲 綢 之 路 的 音 樂). Vương Diệu Hoa dịch. Nxb. Âm nhạc Nhân Dân, 1988, tr.60.

(13) Âm Pháp Lỗ: Mối giao lưu văn hóa âm nhạc giữa Trung Quốc và các nước phương Đông trong lịch sử (曆 史 上 中 國 和 東 方 各 國 音 樂 文 化 的 交 流), trong Đông phương văn hóa tri thức giảng tọa (東 方 文 化 知 識 講 座), Nxb. Hoàng Sơn, 1988, tr.89.

(14) Phan Thúc Trực tập, Quốc sử di biên, tập II, Quốc triều Đại Nam ký, điều năm Thiệu Trị thứ sáu (國 史 遺 編, 下 集, 國 朝 大 南 記 - 紹 治 六 年 條). Sở Nghiên cứu Tân Á Đại học Trung văn Hồng Kông, tháng 10/1965, tr.380.

(15), (16) Trương Tú Dân: Trung Việt quan hệ sử luận văn tập (中 越 關 系 史 論 文 集). Nxb. Văn Sử Triết, Đài Loan, 1991, tr.121, 57.

(17) Thẩm Quát: Mộng khê bút đàm, nhạc luật (夢 溪 筆 談 - 樂 律).

(18) Vương Côn Ngô: Từ Đôn Hoàng học đến văn học chữ Hán nước ngoài (從 敦 煌 學 到 域 外 漢 文 學). Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, năm 2003, tr.154.

Vunhan62

VUA KHANG HI VỚI VIỆC BIÊN SOẠN
BỘ KHANG HI TỰ ĐIỂN

VŨ NHÂN

Tự điển là gì? Tự điển là loại sách công cụ ngữ văn thường dùng hàng ngày. Mỗi khi mọi người gặp một số chữ Hán mình không biết hoặc không hiểu, sẽ mở tự điển ra để tra cứu, trong đó sẽ có âm đọc, ý nghĩa và cách dùng... của chữ đó.

Vậy lai lịch của hai chữ “Tự điển” ra sao ? Từ năm 1716 về trước, Trung Quốc vẫn chưa có “Tự điển” này. Vậy trong xã hội cổ đại kéo dài, lẽ nào Trung Quốc lại không có lấy một bộ thư tịch nào, để có thể tra cứu âm đọc và ý nghĩa của chữ Hán ? Đương nhiên là có, nhưng nó chưa được gọi là “Tự điển”.

Loại thư tịch mà Trung Quốc thời cổ đại có thể dùng để tra cứu âm đọc và ý nghĩa của chữ Hán, gồm hai loại lớn. Loại thứ nhất gọi là “Tự thư”, bộ ra đời sớm nhất là Thuyết văn giải tự, thành sách vào năm Đông Hán Hòa Đế Vĩnh Nguyên thứ 12 (Công nguyên 100), tác giả là Hứa Thận. Một loại gọi là Vận thư, bộ sớm nhất hiện còn giữ được là Thiết vận, thành sách vào năm Tùy Văn Đế Nhân Thọ nguyên niên (Công nguyên 601), tác giả là Lục Pháp Ngôn. Bộ trước là sắp xếp theo bộ thủ, tương đương với loại tự điển bộ thủ hiện nay; bộ sau sắp xếp theo vận bộ, tương đương với tự điển âm tự (thứ tự âm) ngày nay. Điều khác nhau là bộ thủ hiện đại chỉ có trên 200 bộ, còn thời cổ đại lại thường có trên 500 bộ. Âm tự của hiện đại sắp xếp theo A, B, C, D, còn cổ đại lại thường dùng vận bộ (tương đương với vận mẫu) để sắp xếp.

Lần đầu tiên dùng hai chữ “Tự điển” để gọi một bộ sách công cụ ngữ văn, chính là bộ Khang Hi tự điển, hoàn thành năm 1716.

Vậy tại sao vua Khang Hi phải cho biên soạn bộ Tự điển này ?

Khang Hi là Hoàng đế đời thứ hai của triều Thanh. Hoàng đế đời thứ nhất của triều Thanh là Thuận Trị, thời gian tại vị không dài, đại quyền luôn nằm trong tay thúc phụ là Đa Nhĩ Cổn. Mà lúc đó thời cục còn chưa định, chiến tranh liên miên, không có điều kiện để biên soạn loại sách công cụ về phương diện ngữ văn. Trách nhiệm nặng nề này, rõ ràng là đặt lên vai Khang Hi.

Khang Hi là vị vua có thời gian tại vị dài nhất Trung Quốc lúc đó, và cả thế giới nữa, những 61 năm. Lúc ông làm Hoàng đế năm thứ 49, thời cục đã thái bình từ lâu, thế là liền nẩy ra ý nghĩ biên soạn một bộ sách công cụ ngữ văn cỡ lớn.

Ở Trung Quốc, từ thời Tây Chu trở đi, mỗi khi kiến lập một triều đại mới, những người thống trị tối cao đều phải làm ba việc trọng đại, gọi là “Tam trọng”. Cái gọi là “Tam trọng”, chính là “Nghị lễ, chế độ, khảo văn”. Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất Trung Quốc đã thi hành “xa đồng quỹ, thư đồng văn, hành đồng luân”. “Xa đồng quỹ” chính là sự thống nhất về chế độ, “Thư đồng văn” là khảo đính văn tự, làm cho nó thống nhất, “Hành đồng luân” là tiêu chuẩn hành vi của toàn quốc - nghị lễ, cũng phải nhất trí lại.

Triều Thanh sau khi kiến lập, văn tự đương nhiên cũng cần phải có một tiêu chuẩn thống nhất: sự thống nhất về hình thể chữ viết, thống nhất về âm đọc, thống nhất về giải thích. Mà trước tác quyền uy đánh dấu sự thống nhất đó, chính là bộ Khang Hi tự điển.

Năm 1710, vua Khang Hi cho gọi hai vị đại thần, từng thay nhau đảm nhiệm trọng trách Tể tướng - Văn Hoa điện Đại học sĩ, kiêm Lại bộ Thượng thư Trương Ngọc Thư và Văn Uyên các Đại học sĩ, kiêm Lại bộ Thượng thư Trần Đình Kính đến, lệnh cho họ lãnh đạo 30 vị chuyên gia ngữ văn, biên soạn bộ sách công cụ cỡ lớn, mang tính điển phạm. Vua Khang Hi còn lệnh rằng, bộ sách cự phách này nhất thiết phải vượt qua tất cả các bộ tự thư và vận thư trước đây, những chữ được thu thập phải đầy đủ nhất, chú âm phải chuẩn xác nhất, giải thích phải hoàn bị nhất. Điều đó có nghĩa là, bộ sách phải bao la vạn trượng, đưa vào toàn bộ cái hay trong các loại tự thư và vận thư cổ đại.

Trương Ngọc Thư và Trần Đình Kính sau khi nhận mệnh lệnh đã dồn hết tinh lực, ngày đêm lao tâm khổ tứ, ròng rã suốt 6 năm trời, cuối cùng, vào năm Khang Hi thứ 55 (1716) đã soạn xong bộ sách cự phách này. Vua Khang Hi sau khi xem xong vô cùng sung sướng, đích thân viết lời tựa cho bộ sách. Ông cho rằng, bộ sách này “vừa mở ra là hiểu ngay, không nghĩa nào không rõ, không âm nào không hoàn bị”. Thế là, ông liền đặt tên cho bộ sách, gọi là “Tự điển”, nghĩa là điển phạm của các loại tự thư xưa nay.

Từ đó, Trung Quốc đã sản sinh ra danh từ “Tự điển”. Nhưng, nó là một danh từ chuyên dụng, chỉ để nói về một bộ sách - Khang Hi tự điển. Chính vì danh từ này do Hoàng đế khâm định, cho nên, trong suốt 200 năm đời Thanh, hàm nghĩa của hai chữ “Tự điển” chỉ có một, đó là Khang Hi tự điển. Mãi đến năm 1914, hai ông Lục Phí Quỳ và Âu Dương Phổ Tồn chủ biên, cho ra mắt cuốn Trung Hoa đại tự điển, hai chữ “Tự điển” mới từ danh từ chuyên dụng chuyển thành danh từ phổ thông, có thể dùng để phiếm chỉ toàn bộ các sách công cụ ngữ văn.

Khang Hi tự điển tổng cộng đã thu thập được 47.035 chữ Hán, là bộ sách có số lượng chữ Hán nhiều nhất trong các tự thư xuất bản trước thế kỷ XVIII. Toàn bộ sách chia làm 214 bộ, tức dùng 214 bộ thủ để sắp xếp chữ Hán. Phương pháp này dùng mãi đến ngày nay, trở thành phương pháp thông dụng nhất hiện nay. Phương pháp chú âm vừa có “phản thiết” (dùng hai chữ để chú âm cho một chữ), lại có “trực âm” (dùng chữ đồng âm để chú âm), có thể thích hợp với những người có trình độ văn hóa khác nhau sử dụng. Sự giải thích về nghĩa của chữ lại tiếp nhận rộng rãi các kiểu nói, nên rất hoàn bị. Về cơ bản, đã đạt được yêu cầu đặt ra của Hoàng đế Khang Hi.

Chẳng hạn chữ “冲” (xung). Trước tiên dùng phản thiết chú âm: “昌 中 切”(xương trung thiết). Thanh mẫu của chữ “昌” là ch, vận mẫu của chữ “中” là ong, thanh điệu là âm bình, cho nên chữ “沖” đọc là chōng. Tiếp theo, lại dùng chữ đồng âm (trực âm) để chú âm: “音 充” (âm sung), nói rõ âm đọc của chữ “沖” và chữ “充” giống nhau. Tiếp đến, lại chú rõ chữ dị thể của nó: “同 沖” đồng xung) cho biết chữ “冲” lại có thể viết thành “沖”. Sau đó là giải thích nghĩa chữ. Tác giả đã dẫn dụng các loại ghi chép trong cổ tịch, nói rõ chữ “沖” có các nghĩa: “和” (hòa), “深” (thâm), “稚” (trĩ), “幼” (ấu)..., có thể nói rất phong phú và chặt chẽ.

Khang Hi tự điển không chỉ chú rõ âm đọc, ý nghĩa và hình thể chữ của chữ đơn, mà còn chú rõ cả ý nghĩa của các điệp tự. Chẳng hạn như chữ: “冲” (xung), điệp tự của nó là “冲 冲” (xung xung) có hai giải thích: tiếng đục băng, dáng rủ xuống (nghĩa trước là từ tượng thanh, nghĩa sau là hình dung từ). “Tự điển” đều làm khảo chứng. Đặc biệt là, trong Đạo giáo, chữ “冲” (xung) đọc thành âm “長” (cháng), giống âm đọc của vùng hẻo lánh rất hiếm thấy. Khang Hi tự điển đều thu thập đầy đủ. Qua đó đủ thấy, các soạn giả của bộ Khang Hi tự điển đã tiến hành thu thập trên diện rất rộng và đã dồn toàn bộ tinh lực vào công việc.

Xét theo góc độ ngày nay, thu thập chữ nhiều và khảo chứng tường tận, vẫn là hai ưu điểm lớn của bộ Khang Hi tự điển. Xin cử một ví dụ: trong tiểu thuyết nổi tiếng của Lỗ Tấn “Khổng Ất Kỷ”, nhân vật chính Khổng Ất Kỷ, do muốn khoe khoang học vấn uyên bác của mình, nên rất hay hỏi người khác: “chữ 回 (Hồi) có 4 cách viết, bạn đã biết chưa?” Bởi vì trong các bộ tự thư phổ thông, chữ “回” chỉ có 3 cách viết: 回, , . Chỉ có trong Khang Hi tự điển mới có cách viết thứ 4 là . Đương nhiên, Khổng Ất Kỷ chỉ muốn khoe mẽ. Song qua đó cho thấy, số lượng chữ Hán mà bộ Khang Hi tự điển thu thập nhiều biết bao.

Chẳng hạn chữ “戊” (mậu), hiện nay đọc là wu nhưng xét theo chữ hình thanh, chữ “戊” là thanh phù của chữ “茂” (mậu), nên đọc là mao. Thế nghĩa là sao ? Khang Hi tự điển đã khảo chứng rất rõ ràng. Chữ đó trong chú âm của chữ “戊” nói là “音 茂” (âm mao), nói rõ cổ âm đọc là “茂” (mao). Phía sau lại thêm phần án ngữ (lời chú), theo Ngũ đại sử, vào năm Lương Khai Bình nguyên niên (907) do kỵ húy, Hoàng đế quyết định, sửa âm đọc của chữ “戊” thành âm đọc giống như chữ “武” (vũ), đọc là wu. Như vậy, quá trình cải biến âm đọc của chữ “戊” đã được khảo chứng rất tường tận.

Đương nhiên, một bộ sách công cụ ngữ văn đồ sộ như vậy, 30 người hoàn thành trong khoảng thời gian chưa đầy 6 năm, thì sai sót khó mà tránh khỏi. Nhưng do bộ sách này được Hoàng đế Khang Hi đánh giá là “Tự thư đích điển phạm”, người khác rất khó mà sửa được chỗ sai của nó. Thời Càn Long, có một người tên là Vương Tích Hậu đã biên soạn bộ “Tự quán”, trong đó có vài chỗ phê những sai sót trong bộ Khang Hi tự điển, kết quả đã bị Hoàng đế Càn Long khép vào tội “Đại nghịch bất đạo”, cả gia đình nhà Vương Tích Hậu đều bị giết, toàn bộ sách bị thiêu hủy, trở thành vụ án văn tự cực kỳ tàn khốc. Từ đó, không còn ai dám sửa chỗ sai trong Khang Hi tự điển nữa.

Mãi đến năm Đạo Quang 7 (1827), Hoàng đế Mân Ninh mới lệnh cho nhà ngữ văn học Vương Dẫn Chi sửa chữa những chỗ sai trong bộ Khang Hi tự điển. Sau nhiều năm nỗ lực, ông đã tìm được 2588 chỗ sai trong bộ Khang Hi tự điển. Song ông không dám nói là “sửa sai”, chỉ nói là “khảo chứng”. Từ đó về sau, phía sau bộ Khang Hi tự điển đã phụ thêm phần “Tự điển khảo chứng” của Vương Dẫn Chi, coi như đã bổ khuyết được những chỗ sai sót của bộ sách cự phách này.

Ngày nay, ở Trung Quốc nhiều bộ tự điển ưu tú đã ra đời, như các bộ: Trung Hoa đại tự điển, Từ nguyên, Từ hải, Hán ngữ đại tự điển, Hán ngữ đại từ điển ... Nội dung đều vượt qua Khang Hi tự điển. Nhưng truy về cội nguồn, chúng đều chịu ảnh hưởng của Khang Hi tự điển. Công tích lịch sử của bộ sách cự phách này sẽ còn mãi.

Trần Sơn dịch
(Theo Năm ngàn năm văn hóa Trung Quốc, Nxb. Thiếu niên Nhi đồng, 1992).

phuc62

TỪ "THI NGÔN CHÍ" ĐẾN THUYẾT
"MỸ THỨ" ĐỜI HÁN

NGUYỄN ĐÌNH PHÚC

I. “Thi ngôn chí” - Hình thành, ý nghĩa

Thiên Thuấn Điển trong sách Thượng thư có đoạn chép:

Đế viết: Quỳ, mệnh nhữ điển nhạc, giáo trụ tử trực nhi ôn, khoan nhi lật, cương nhi vô ngược, giản nhi vô ngạo. Thi ngôn chí, ca vịnh ngôn, ... Nghĩa là: Này ông Quỳ, ta giao cho ông quản âm nhạc, ông hãy dùng nó để dạy con em, để chúng trở thành người chính trực ôn nhu, rộng lượng kiên nghị, cứng cỏi mà không thô bạo, giản dị mà không ngạo mạn. Thơ dùng để nói chí, ca dùng để ngân dài lời thơ,...

Trên đây là lời của vua Thuấn nói với quan cai quản âm nhạc là ông Quỳ, cũng là tài liệu đề cập đến "thi ngôn chí" sớm nhất hiện còn. Thuyết "ngôn chí" không phải duy nhất có ở Thượng thư, trong sách vở thời Tiên Tần, thuyết này xuất hiện không ít. Tả truyện, Tương Công năm thứ 27, trong lời Văn Tử nói với Thúc Hướng có câu: Thi dĩ ngôn chí (thơ là để bày tỏ chí hướng); Lễ ký chương Nhạc ký có câu: Thi, ngôn kỳ chí dã, mục Trọng Ni nhàn cư ghi lời Khổng Tử có câu: Chí chi sở chí, thi diệc chí yên (Chí đến đâu thì thi đến đấy); sách Trang Tử thiên Thiên hạ có câu: Thi dĩ đạo chí (thơ là để nói chí); sách Tuân Tử mục Nho hiệu có câu: Thi ngôn thị kỳ chí dã (thơ là để nói cái chí của mình vậy), v.v... Với những cứ liệu đã nêu, chứng tỏ thuyết "thi ngôn chí" đương thời đã hết sức phổ biến.

"Thi ngôn chí" quan trọng ở "chí". Vậy "chí" là gì ? "Chí" bao hàm những nội dung gì ? Thứ nhất, từ góc độ từ nguyên, "chí" có nghĩa tương đồng với "thi". Ở đời Hán, người ta đa số lấy "chí" để giải thích "thi". Hứa Thận trong Ngôn bộ sách Thuyết văn giải tự viết: Thi, chí dã. Chí phát vu ngôn, tùng ngôn, tự thanh (Thi, chí vậy. Thơ là chí phát ra lời, trong đó chữ "ngôn" biểu nghĩa, chữ "tự" biểu âm). Trịnh Huyền chú Thượng thư chương Hồng phạm mục Ngũ hành truyện nói: "Thi chi ngôn, chí dã". Cao Dụ chú Lã thị xuân thu mục Thận đại lãm nói: "Thi, chí dã ". Vương Dật chú Cửu chương sách Sở từ mục Bi hồi phong cũng nói: "Thi, chí dã". Học giả Trung Quốc cận đại Dương Thụ Đạt trong Thích thi nói: "Chữ 'chí' lấy chữ 'tâm' làm nghĩa, chữ 'sĩ' làm thanh. Ba chữ 'sĩ', 'chí' và 'tự' thời cổ âm đọc không khác nhau..., lấy chữ 'sĩ' coi là chữ 'chí', hoặc lấy chữ 'tự' coi là chữ 'chí', thực cũng như phép giả tá mà thôi". Ông lại căn cứ vào câu của Hàn Tuyên Tử "phú bất xuất Trịnh chí" trong Tả Truyện, Chiêu Công năm thứ 16, cho rằng "Trịnh chí" tức "Trịnh thi", và kết luận hai chữ "thi", "chí" thời cổ dùng thông nhau, đây cũng chính là lý do Hứa Thận lấy "chí" để thích "thi". (Xem Tích Vi Cư Tiểu học kim thạch luận tùng, quyển 1). Văn Nhất Đa trong Ca dữ thi cũng cho rằng "thi" và "chí" vốn chỉ là một chữ, đồng thời nói thêm: "Chữ 'chí' có phần trên là chữ 'chỉ'. Trong Bốc từ, chữ 'chỉ' được viết với chữ 'chỉ' ở trên, chữ 'nhất' ở dưới, giống như hình bàn chân người dừng trên mặt đất, vậy nên 'chỉ' có nghĩa dừng lại". Ông lại nói: "Chữ 'chí' có phần trên là 'chỉ', phần dưới là 'tâm' có nghĩa dừng ở trong lòng. Dừng ở trong lòng cũng có thể nói là cất giữ (tàng) ở trong lòng". Sách Tuân tử chương Giải tế nói: Chí dã giả, tàng dã (nghĩa của chữ 'chí' là chữ 'tàng' vậy). Phía sau có thêm lời chú rằng: Tại tâm vi chí (ở trong lòng là chí), đây cũng như nói: "tàng tại tâm lý" (cất giữ trong lòng). Cho nên Thi tự sớ nói: Uẩn tàng tại tâm vị chi chí (cất giữ ở trong lòng gọi là chí). Mao thi tự nói càng rõ hơn: Thi giả, tại tâm vi chí, phát ngôn vi thi (thơ, ở trong lòng là chí, phát ra lời là thơ).

Thứ hai, vì "chí" có nghĩa dừng ở trong lòng, hoặc cất giữ ở trong lòng, thế nên trong một số sách vở đời Tần, Hán, "chí" thường được giải thích với hai chữ "tình" và "ý". Thái Thúc đáp Triệu Giản Tử hỏi về lễ trong Tả truyện, Chiêu Công năm thứ 25 nói: "Dân có hiếu, ố, hỷ, nộ, ai, lạc, ấy đều từ lục khí mà ra. Vậy nên loại nào đặt theo loại ấy, chế thành lục chí". Khổng Dĩnh Đạt trong Chính nghĩa nói: " Lễ ký gọi lục chí này là lục tình. ở mình là tình, tình động là chí, tình và chí thực cũng như nhau". Sách Lễ ký chương Học ký có câu: "Nhất niên thị ly kinh biện chí". Trịnh Huyền chú: Biện chí vị biệt kỳ tâm ý sở xu hướng dã [Biện chí tức phân biệt rõ nơi mà lòng người (tâm ý) hướng tới]. Trịnh Huyền chú câu: "Thi ngôn chí, ca vĩnh ngôn" trong Thuấn điển nói: Thi sở dĩ ngôn nhân chi chí ý dã; vĩnh, trường dã; ca hựu sở dĩ trường ngôn thi chi ý (Thơ dùng để biểu đạt ý chí của con người; chữ vĩnh có nghĩa kéo dài, ca dùng để ngân dài lời thơ). Sách Quảng nhã mục Thích ngôn nói: "Thi, ý dã". Hán thư mục Tư Mã Thiên truyện dẫn lời Đổng Trọng Thư: Thi dĩ đạt ý (Thơ là để biểu đạt ý). Từ những chú thích trên, có thể thấy, "chí" bao hàm "tình" và "ý", cũng chính là tình cảm và ý chí trong lòng nhà thơ. Thế nên, "ngôn chí" không ngoài "ngôn tình" và "ngôn ý". Cần phải chỉ ra rằng, "chí", "tình", "ý" là những khái niệm hoàn toàn tương đồng, "chí" có thể chỉ là "tình", hoặc có thể chỉ là "ý", cũng có thể bao hàm cả hai. Điều này có nghĩa, trong một tác phẩm thơ, thi nhân có thể chỉ nói "tình", có thể chỉ nói "ý", cũng có thể biểu đạt cả "tình" lẫn "ý".

Về ý nghĩa của "chí", Văn Nhất Đa trong Thi dữ ca từ góc độ khác khảo sát tỉ mỉ hơn. Ông nói: "Chí có ba nét nghĩa: một là ký ức (trí nhớ), hai là ghi chép và ba là hoài bão. Ba nghĩa này đại biểu cho ba giai đoạn phát triển chủ yếu của thi ca".

Thứ nhất, "thi" đã là "chí", "chí" lại tàng (cất giữ) ở trong lòng, vậy nên, "thi" hoặc "chí" chính là ký ức. Họ Văn nói: "Thơ vốn ra đời trước chữ viết (văn tự), đương thời người ta dựa vào ký ức, thông qua truyền miệng để lưu hành thi tác. Thơ sở dĩ có vần, hình thức câu gãy gọn, ấy chẳng phải để tiện cho ghi nhớ và diễn xướng (ký tụng) sao ? Cho nên, đương thời thơ đôi khi cũng có người gọi thơ là "tụng". Như vậy, hình thức cổ nhất của thơ cũng chính là những khẩu quyết còn truyền đến ngày nay, kiểu như Bách gia tính, Tứ ngôn tạp tự, v.v...

Thứ hai, sau khi chữ viết ra đời, sự tiện lợi của chữ viết nhanh chóng thay thế vị trí của ký ức, "ký ức được gọi là chí, ghi chép cũng được gọi là chí. Thời cổ, mọi ghi chép đều được gọi chung là "chí" (xem Thi dữ ca). Sách Quản Tử mục Sơn quyền số nói: Thi sở dĩ chí vật dã (thơ ghi chép sự vật). Giả Nghị trong Tân thư mục Đạo đức thuyết có câu: Thi giả, chí đức chi lý nhi minh kỳ chỉ, lệnh nhân duyên chi dĩ tự thành dã. Cố viết: Thi giả, thử chi chí giả dã (thơ dùng để ghi đức và làm rõ điều mà đức muốn nói, để cho người đời căn cứ vào đó mà tự trau dồi. Vậy nên nói: Thi là những ghi chép về đức vậy). Vô luận "chí vật" hay "chí đức", cả hai không ngoài nghĩa ghi chép, ký lục. Ngoài ra, trong sách vở đời Tiên Tần, hai chữ "chí vân": [đồng nghĩa với "thi vân": (thơ rằng:)] xuất hiện không dưới mười lần, đều chỉ sách vở ghi chép nói chung, hơn nữa lời dẫn ở dưới đều là văn vần. Từ những điều đã nêu, có thể kết luận, ghi chép chính là nét nghĩa thứ hai của chí (hoặc thơ).

Thứ ba, đồng thời với quá trình trên, sự phát triển nhanh chóng của xã hội và nhu cầu bức thiết của xã hội với việc cải tiến ngôn ngữ thúc đẩy sự ra đời của tản văn. Tản văn ra đời cùng với xu hướng thay thế thi ca ở lĩnh vực ghi chép và thuyết lý đã đẩy mạnh quá trình chuyên môn hóa của thi ca. Từ đây, tính tự sự và ký lục trong thơ giảm dần, nhường chỗ cho "tình" và "ý". Quá trình này tiếp diễn đến khi thuật ngữ "thi ngôn chí" hoàn toàn được xã hội công nhận, "chí" được dùng để chuyên chỉ việc biểu đạt hoài bão, tức "tình" và "ý" của thi nhân. Đây chính là nét nghĩa thứ ba của chí (hoặc thơ).

Như đã xét, ý nghĩa của "chí" vô cùng phong phú, nó có thể là "tình" là "ý", hoặc bao hàm cả hai, hay nói như Văn Nhất Đa, "chí" cùng lúc bao hàm ký ức, ký lục và hoài bão. Trước hết, theo chúng tôi, khảo sát của họ Văn chỉ có ý nghĩa về mặt thi sử, tức thi ca từ khởi nguyên đến khi có sự chuyên môn hóa cùng với ý nghĩa khác nhau của "chí" ở từng giai đoạn. Điều này, chính họ Văn cũng thừa nhận. Thứ hai, kết quả khảo sát "chí" bao gồm "tình", "ý" ở trên, thực chất chỉ là cái nhìn tổng quan không mang tính cụ thể cho bất kỳ giai đoạn nào. Trong suốt quá trình dài phát triển của thi ca, "chí" mang tính thời đại sâu sắc. Nếu thi ca từ Ngụy Tấn đến Đường để lại dấu ấn bởi thuyết "duyên tình", thì thơ Tống đặc biệt chú trọng về "lý" (ý). Nếu thi ca đời Minh là cuộc trỗi dậy của thi nhân nhằm vào thành trì Tống học, thì thi ca đời Thanh là sự nở rộ của nhiều khuynh hướng sau khi cái "tình", tức tình cảm cá nhân có cơ hội được giải phóng. Dưới đây chúng tôi sẽ tập trung lý giải sự biến thiên cũng như nội dung của "chí" từ khởi nguyên đến đời Hán.

II. Từ “dĩ ý nghịch chí” của Mạnh Tử đến thuyết “mỹ thứ” đời Hán

Như chúng ta đã biết, "chí" trong "thi ngôn chí" ở Thuấn điển và trong "thi dĩ ngôn chí" ở Tả truyện hoàn toàn không hạn định ở nội dung, có chăng chẳng qua chỉ là chỉ rõ thơ là biểu hiện của tâm hồn thi nhân, chứ hoàn toàn không mang nghĩa cụ thể, kiểu như tái hiện, mô phỏng tự nhiên, hay sự khúc xạ của ý niệm, v.v... Thời Xuân Thu xuất hiện thêm thuật ngữ "phú thi dĩ ngôn chí". Thuật ngữ này chuyên chỉ thói quen trích dẫn thi ca biểu đạt ý chí của các nhà ngoại giao thời Xuân Thu. Hoạt động này theo Nghệ văn chí sách Hán thư nói là có thể: biệt hiền bất tiếu nhi quan thịnh suy yên (phân biệt kẻ hiền người ngu và xem lẽ thịnh suy của một nước). Thế nên "chí" ở đây có thể là "hiền", có thể là "bất tiếu"; có thể phản ánh "thịnh", cũng có thể phản ánh "suy". Cuối thời Xuân Thu, Khổng Tử đem "chí" đặt trong phạm trù nhân tính, đồng thời hạn định khái niệm này trong phạm vi "nhân nghĩa". Đối với Kinh Thi, Khổng Tử nói: Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết tư vô tà (Kinh Thi hơn ba trăm bài, ta có thể lấy một câu để khái quát, ấy là "suy nghĩ trong sáng, không có tà vạy") (xem Vi chánh sách Luận ngữ). "Tư vô tà" thực ra chính là nhân nghĩa. Đến Mạnh Tử, trong Vạn Chương thượng sách Mạnh Tử, ông nói: "Việc luận thơ không nên lấy văn hại từ, không nên lấy từ hại chí, nên lấy ý mình truy ngược đến chí của nhà thơ ("dĩ ý nghịch chí"), như vậy mới thực sự nắm bắt được ý của tác giả". Triệu Kỳ chú đoạn trên nói: "Nhân tình bất viễn, dĩ kỷ ý nghịch thi nhân chi chí, thị vi đắc kỳ thực hỹ". Chú giải của họ Triệu rõ ràng đã nắm bắt được nội dung Nhân tính luận của Mạnh Tử. "Nhân tình bất viễn", ấy chính là "tâm" mà người người đều có. Bởi người người đều có "tâm", nên mới có việc lấy "kỷ ý" để truy ngược đến "thi nhân chi chí". "Dĩ ý nghịch chí" mà Mạnh Tử đưa ra là bước ngoặt của tư tưởng văn học Trung Quốc, từ đây yêu cầu với "thi nhân chi chí" hay "thi nhân chi tâm" bắt đầu được đặt ra. Yêu cầu này có thể khái quát thành hai chữ "chân" và "chính". Từ "chân" đến "chính" và "chân", "chính" hội thông với nhau, nói chung gồm hai bước: Thứ nhất, nhà thơ cần tĩnh hóa "kỳ tâm", sao cho lòng mình trong sáng, đạt đến độ thuần "chân". Khi ấy "chí" mà thi nhân biểu đạt sẽ là "xích tử chi tâm (tấm lòng trẻ thơ), hay "đồng tâm". Lòng người một khi đạt đến "xích tử chi tâm", tất yếu "tâm" ấy sẽ "vô tà", "chân" cũng sẽ là "chính". Vương Quốc Duy trong Nhân gian từ thoại nói: "Nhà thơ chủ quan, không cần nhiều kinh nghiệm ở đời, kinh nghiệm càng ít thì tính tình càng "chân", chính được hiểu theo ý trên. Thứ hai, nhà thơ cần đem lòng mình (kỳ tâm) hòa cùng "tâm" xã hội, hay "tâm" nhân loại, khi ấy, "chí" mà nhà thơ biểu đạt không chỉ là sự cùng thông của cá nhân, mà còn là sự vui buồn của đại chúng. Tác phẩm như thế không chỉ có cá tính mà còn có tính xã hội. Sự kết hợp giữa cá tính và tính xã hội chính là sự dung hợp giữa "chân" và "chính". Khổng Dĩnh Đạt trong Mao thi chính nghĩa quyển 1 sớ giải câu: "Thị dĩ nhất quốc chi sự, hệ nhất nhân chi bổn" trong Mao thi tự rằng: "Một người, kẻ ấy làm thơ, điều mà hắn nói trong thơ chỉ là "nhất nhân chi tâm" mà thôi. Muốn nói về một người, mà cái 'tâm' ấy lại là 'nhất quốc chi tâm', thi nhân cần đem ý nguyện của một nước coi là cái 'tâm' của mình (kỷ tâm)... Viết về việc trong thiên hạ thì cần tổng hợp "thiên hạ chi tâm", cộng thêm khảo sát phong tục khắp chốn, coi đó là ý mình, sau đó tập trung ca ngợi nền chính giáo của đế vương". Đây chính là lời sớ nói rõ nhất ý trên. "Chính" mà không "chân", ắt chẳng phải là "chính" thật; "chân" mà không "chính" cũng chẳng phải là "chân" thật. Duy có sự dung hợp của "chân" và "chính" trong cùng một tác phẩm mới là đạt đến cái "tâm" chung, cái "tâm" mà người người cùng có, mới là tác phẩm vĩ đại. Tư tưởng nêu trên cũng chính là tư tưởng cơ bản của văn học cổ đại Trung Quốc.

Tư tưởng của Mạnh Tử trên đây sang đời Hán vẫn được kế thừa và tiếp tục phát triển, nhưng ảnh hưởng bởi một trật tự chuyên chế khác xa trật tự xã hội Tiên Tần, thế nên cùng một nội dung nhưng xuất hiện không ít điểm khác biệt. Xã hội đời Hán so với Xuân Thu - Chiến Quốc là một cuộc đại nhất thống đặt dưới sự chuyên chế của một vị vua. Điều này được Giả Sơn phản ánh trong Chí ngôn: "Cơn lôi đình đến, không gì không gãy đổ; vạn cân ập xuống, không gì không nát vụn. Nay uy chúa không chỉ là lôi đình; sức nặng, không chỉ là vạn cân vậy" (xem Toàn Hán văn, quyển 14). Giữa lý tưởng (đạo) và uy chúa (thế), Hán nho phải xử trí sao cho không tới nỗi phải rời bỏ lý tưởng để "tòng thế" (theo đời). Giải quyết mối quan hệ phức tạp này, một mặt về chủ quan, Hán nho cần có dũng khí và đảm lược dám "xả thân gián chúa", mặt khác về mặt khách quan cũng cần tạo dư luận khiến cho mọi người (bao gồm cả giai cấp thống trị) thừa nhận và tiếp thu tư tưởng "đạo" cao hơn, tôn quí hơn "thế". Nói cho đúng, "nhân nghĩa" cao hơn chính trị, chính trị trong bất kỳ tình huống nào đều phải phụ thuộc vào nhân nghĩa.

Đặc trưng xã hội của đời Hán có ảnh hưởng sâu sắc đến thi luận, đặc biệt ở sự lý giải "thi nhân chi chí" (chí của nhà thơ). Trình Đình Tộ trong Thi luận thập tam mục Tái luận thứ thi nói: Hán nho ngôn thi, bất quá mỹ thứ nhị đoan (Hán nho luận thơ, chẳng qua chú trọng hai mặt 'mỹ' và 'thứ'). "Thi" ở đây chủ yếu được hiểu là Kinh Thi, bởi giai đoạn này ngoài Kinh Thi ra, thành tựu của Nhạc phủ cũng chưa đáng kể. Đời Hán làm truyện cho Kinh Thi chủ yếu gồm ba nhà Tề (Viên Cố), Lỗ (Thân Công) và Hàn (Hàn Anh), Mao Thi chủ yếu lưu hành trong dân gian, chưa được lập vào học quan. Sách Hán thư, Nho lâm truyện chép: "Hàn Anh vì muốn truy ý của các nhà thơ, nên viết cuốn (Hàn thi) Nội ngoại truyện mấy vạn chữ". Ban Cố nói tiếp: "Sách ấy tuy lời lẽ khác xa truyện của Viên Cố và Thân Công, nhưng cả ba nhà đều 'quy nhất' vậy". Vương Tiên Khiêm đời Thanh trong Thi tam gia nghĩa tập sớ mục Tự lệ nói: "'Quy nhất' là nói truyện của ba nhà về 'đại chỉ' là không khác nhau mà thôi". ở đây "quy nhất", "đại chỉ" chính là nói truyện của ba nhà Tề, Lỗ và Hàn (có thể kể cả Mao truyện) mặc dù văn tự, chú giải khác nhau, nhưng "ý" mà họ cùng truy (theo đuổi), "chí" mà họ cùng "nghịch" (truy ngược) đều như nhau, tức "mỹ thứ", "phúng gián". ở đây "mỹ" mang nghĩa ca ngợi, ca công tụng đức của đế vương; "thứ" có nghĩa phúng gián, can gián, chỉ sự uyển chuyển ôn nhu trong cách can gián của kẻ dưới với bề trên, cụ thể của kẻ làm tôi can gián bậc quân vương. "Mỹ thứ" là sản phẩm của Hán nho, dùng để quy định nội dung của "chí", đó thực chất là những viên gạch mới trên cái nền cũ "dĩ ý nghịch chí" của Mạnh Tử. Điều này Vương Quốc Duy trong Ngọc Khê Sinh niên biểu hội tiên tự chỉ rõ: "Đến khi Trịnh Huyền xuất thế, chuyên dùng thuyết của Mạnh Tử để trị Thi. Với Kinh Thi , họ Trịnh đã soạn Phổ, lại soạn thêm Tiên. Phổ dùng để 'tri nhân luận thế'; Tiên dùng để 'nghịch' chí của thi nhân" (xem Quan Đường tập lâm, quyển 23). Trịnh Huyền trong Lục nghệ luận nói: "Thơ là lời ca phúng tụng, từ khi thư khế (văn tự) hưng khởi, sùng thượng giản dị, khi ấy ca ngợi mà không đến nỗi xu nịnh, can gián mà không đến nỗi phỉ báng. Quân thần đối đãi với nhau như bằng hữu, được vậy là nhờ ở sự thành khẩn mà thôi. Đạo ấy vừa suy, gian thần nghịch tặc liền nổi lên, trật tự trên dưới đảo lộn. Đến khi phục hồi lễ chế, vua quý tôi khinh, đạo quân tôn nghiêm, đạo thần nhu nhuận. Thế nên, kẻ dám can gián trong triều ít đi, tình chí không nơi thổ lộ, thi nhân vì đó làm thơ, mục đích là để ca ngợi điều thiện, phê phán cái ác". Lời của họ Trịnh trên đây có thể coi là tổng kết của thi luận đời Hán. Rõ ràng "quân thần đối đãi với nhau như bằng hữu" là thực trạng xã hội thời Tam đại (Hạ, Thương, Chu), còn "vua (quân) quý tôi khinh" là thực trạng của xã hội Tần Hán, thời mà Trịnh Huyền đang sống. ở đây, họ Trịnh thực đã lý giải nguyên nhân về sự quy định "mỹ thứ" đối với khái niệm "chí" của thi luận đời Hán.

Đặc trưng của xã hội đời Hán không chỉ ảnh hưởng đến nội dung của thơ, mà còn ảnh hưởng đến hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống văn học đương thời. ở những lĩnh vực này, hầu như bất kỳ tác giả nào khi đề cập đến chủ ý sáng tác đều không nằm ngoài hai nội dung "mỹ thứ". Ở đây lấy Sở từ chương cú của Vương Dật làm ví dụ: Ly Tao Kinh tự gọi Ly Tao là "đem chính đạo để can gián vua"; Cửu ca tự nói: "Trên trình bày sự kính sợ trong việc thờ thần, dưới biểu đạt nỗi uất ức của bản thân, lấy đó để làm phương tiện phúng gián vậy". Cửu biện tự viết về Cửu Chương rằng: "Phúng gián Hoài vương, chủ ý làm cho Hoài vương thấy lời của mình là hợp với lẽ trời đất, có thể đi theo con đường ấy"; Chiêu hồn tự nói: "Ngoài thì kể điều xấu xa trong thiên hạ, trong thì ca ngợi ưu điểm của nước Sở, lấy đó để phúng gián Hoài vương, mong Hoài vương giác ngộ mà quay về đường chính"; Tích thệ tự nói: "Khiển trách Hoài vương có thủy mà không có chung"; v.v... Có thể nói, ở đời Hán, "mỹ thứ" là nội dung không chỉ của thơ mà còn là của bất kỳ lĩnh vực nào thuộc đời sống văn học, đây cũng là điểm khác biệt nổi bật của Thi luận đời Hán với Thi luận các giai đoạn sau.

Từ "thi ngôn chí" đến thuyết "mỹ thứ" đời Hán là giai đoạn đầu tiên, cũng là giai đoạn mang tính định hình hết sức quan trọng của thi ca từ sau khi có sự chuyên môn hóa về nội dung lẫn phương thức phản ánh. Việc đem thơ gắn liền với chính trị và phục vụ chính trị tuy gây tổn hại không ít đến văn học, nhưng đương thời không phải không có ý nghĩa tích cực. Về vấn đề này, chúng tôi hy vọng sẽ có một dịp khác để bàn luận.

N.Đ.P

Duyphi62

THƠ CHỮ HÁN
HOÀNG VĂN HOÈ

DUY PHI

Hoàng Văn Hòe (1848 - ?), hiệu Cổ Lâm, biệt hiệu Hạc Nhân, quê gốc Phù Lưu, Từ Sơn, Bắc Ninh. Ông đỗ Tiến sĩ năm Tự Đức thứ 33 (1880), năm sau lại đậu khoa Yêm bác làm quan đến chức Thị độc triều Nguyễn.

Ông sáng tác nhiều, nhất là thơ chữ Hán. Thơ chữ Hán của Hoàng Văn Hòe được tập hợp trong di cảo Hạc nhân tùng ngôn. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (1858 - 1920) tập IV, quyển Một, của nhóm Lê Thước (Nxb. Văn hóa - Viện Văn học) có dịch đôi ba bài thơ của Hoàng Văn Hòe và nhận định: “ Hạc nhân tùng ngôn ghi lại sự u uất của ông trước cảnh nước mất và lâm vào cảnh lầm than của nhân dân”. Một số công trình khác khi đề cập tới Hoàng Văn Hòe cũng từng nhận định rằng: Tài năng ông sớm bộc lộ, ông là người có chí khí yêu nước... Một số bậc túc nho đọc Hạc Nhân tùng ngôn đã từng khen ngợi “thơ hay nhưng cực khó dịch, chữ viết lại như rồng bay phượng múa, người đời này không mấy người đọc thông hiểu đầy đủ…”. Hậu duệ của Tiến sĩ Hoàng Văn Hòe cũng đã nhiều lần nhờ một số nhà Hán học dịch cho Hạc Nhân tùng ngôn, nhưng do văn bản khó đọc, nên kể từ khi Hạc Nhân tùng ngôn ra đời, trên một trăm năm chưa có một công trình dịch thuật, khảo cứu nào xứng đáng.

Trong Lời tựa, Hoàng Thụy Liên (em ruột tác giả) có ghi rõ: Hoàng Văn Hòe sinh ra thông minh dĩnh ngộ khác thường, lên bảy tuổi đã đọc Hán thư …Sự phát lộ như chí hướng này cũng thể hiện trong thơ của ông như: Bài IX, Giang quán khiển hứng, khi viết về kỷ niệm thời niên thiếu:

Thời trắc thôi ngôi lập bích thiên
Tinh du nhân vị học thần tiên

(Trèo lên chỗ núi cao ngất đứng nhìn trời xanh biếc.
Vẫn cho rằng lên đó để học phép tiên).(1)

Chí lớn của Hoàng Văn Hòe luôn hướng về phía bách tính (trăm họ). Chỉ thấy nước sông (ở Huế) hôm qua ngọt, nay bỗng mặn, ông cảm nhận được sự kỳ diệu của thiên nhiên, hình như có ai đó đã ra lệnh cho cả một khúc sông dài này thay đổi. Từ đó ông nghĩ, tấm lòng tốt của ông, sao không được tỏa ra nghìn dặm với mây trắng, cứ phải sống cô trung, u uẩn:

Chỉ hữu tâm hương nhân bất đắc
Triển khai thiên lý bạch vân hàm.
(Giang thủy)

(Chỉ tiếc lòng thơm thảo của con người, không thể
Mở ra nghìn dặm nỗi niềm cùng mây trắng).

Nét tâm hồn này, có sự tương đồng với niềm ước mong có áo rộng muôn dặm của Bạch Cư Dị và ước muốn nước cỏ lan thơm được chia cho bốn biển trong Đoan Ngọ nhật của Nguyễn Trãi:

Nguyện bả lan thang phân tứ hải
Tòng kim táo tuyết cựu ô dân

(Nguyện đem nước thang lan chia khắp bốn biển
Từ nay rửa sạch những nhớp nhơ xưa cho dân).

Khát vọng lớn lao của Hoàng Văn Hòe còn bộc lộ trong nhiều bài thơ khác. Hương giang dạ phiếm chu (Đêm dạo thuyền trên sông Hương), buông cần câu cá, mặt sông sao trời in lấp lánh, ông nhấc cần lên ngỡ câu được cả sao Ngưu, sao Đẩu:

Tinh thần ba diện sam si kiến
Ngộ bả trường can điếu Đẩu, Ngưu.

(Trăng sao trên mặt sóng bồng bềnh lên xuống
Ngỡ nhấc cần, câu được cả sao Đẩu, sao Ngưu).

Với chí hướng kiên trinh, ông rất tâm đắc với ý tưởng xưa “bái thạch vi huynh”:

Hợp tri sơn khả tỉ
Hoàn bái thạch vi huynh
(Ấp nhân Nguyễn Sinh Đắc)

(Hợp biết núi cũng dời đi được
Về lạy đá làm anh).

Có gì bền bỉ hơn khối đá đứng trơ trọi giữa trời đất, bốn mùa nắng mưa sương tuyết. Lạy đá, tôn đá làm anh, ông noi gương đá, dốc sức tu luyện thành tài. Song cũng như Nguyễn Du, ông quan niệm “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, nên ông luôn hướng tới điều thiện, làm việc tâm đức:

Khắc phục nhân do kỷ
Tàng tu học dưỡng tài
Thiện tư đa vãn tựu
Đốc vật tất nhân tài
Lạc sự phù luân tự
Tâm tâm tự khổng hoài
(Dạ ẩm ngâm khúc - I)

(Chữ nhân muốn được là do mình
Ẩn dật tu thân nuôi tài chí
Chăm lo làm nhiều điều thiện
Không bao giờ muộn
Dốc sức ắt thành người tài
Sự việc gì cũng phải giữ lấy luân thường
Tâm - đức tự mình nhớ suốt đời).

Hoàng Văn Hòe có nhiều bài thơ ca ngợi về quê hương đất nước. Với Kinh Bắc quê gốc, ông viết Đăng Phật Tích sơn (Lên núi Phật Tích), Du Phật Tích sơn ngộ vũ … (Chơi núi Phật tích gặp mưa…) Cổ Pháp lâm hành (Đi trong rừng Cổ Pháp)… Với Hà Nội, nơi ông nhiều năm học hành rèn luyện, có các bài: Quái nễ (Quái lạ…), Hiểu phát Hà Nội phóng chu … (Sáng sớm ở Hà Nội phóng thuyền…), Đề Cổ Loa miếu (Đề thơ ở miếu Cổ Loa)… Với Huế, ông viết An Định chu thứ (Thuyền qua An Định), Tân Tỵ nguyên nhật triều hồi kỷ sự (Ngày mồng một tết Tân Tỵ ở triều về ghi lại)… Ông có nhiều bài thơ về các loại hoa: Hoa sen, hoa phù dung, hoa thủy tiên, hoa cúc . Ngắm hoa cúc vàng ( Hoàng cúc ) ông chợt nhớ mình yêu cúc vàng hơn nhiều thứ hoa khác vì Hoàng cúc cùng họ Hoàng với ông, chung điểm cao quý, thanh khiết:

Thu lai lôi tước dục sinh trần
Vạn đóa phù kim bất liệu bần
Mạc quái bình sinh thiên ái cúc
Cúc hoa nguyên điểm tính Hoàng nhân

(Thu sang tẩy bụi, rượu nồng
Vàng suông vạn đóa, khốn cùng chưa vơi
Bình sinh yêu lắm, cúc ơi !
Cúc hoa nguyên nét với người Hoàng đây).

Đất nước mênh mông, nhiều danh lam thắng cảnh, hầu như đi đến đâu ông cũng có thơ ( Diễn Châu thành, Mã giang dạ bạc …), nhưng thơ vịnh cảnh của ông luôn đau đáu một nỗi niềm tâm sự. Đến thăm đền Kiếp Bạc, ông kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của vị anh hùng dân tộc. Ông ca ngợi Trần Hưng Đạo là người có công đầu trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông:

Đại vương khởi duy huân liệt cao
Trung hiếu nhất sinh chân quốc trụ
Nộ lạt bất dung ngỗ nghịch nhi
Thử tâm tự túc dĩ thiên cổ

(Chỉ có đại vương là người có công cao hơn cả
Một đời trung hiếu trụ cột của đất nước
Người từng giận, không dung sự ngỗ nghịch của con trẻ
Tấm lòng ấy đủ lưu thiên cổ).

Đọc những vần thơ trong Hữu Dược Sơn viên (Bên sườn Dược Sơn), ta bỗng nhớ đến chi tiết ghi trong lịch sử. Trần Liễu (sinh ra Trần Quốc Tuấn - Hưng Đạo Đại vương) thù hận với Trần Cảnh (sinh ra Trần Quang Khải) vì theo sự thu xếp của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh lấy vợ của Trần Liễu (anh ruột). Trần Liễu từng đem quân làm loạn. Sau này, Trần Quốc Tảng (con thứ của Trần Quốc Tuấn) có ý bàn với cha nên cướp ngôi của chi thứ. Ông nổi giận rút gươm toan chém chết Quốc Tảng và nói “Từ nay cho đến khi nhắm mắt, ta sẽ không nhìn mặt thằng nghịch tử này nữa”.(2)

Trần Quốc Tuấn đã chủ động hoà hiếu với Trần Quang Khải tạo sự thống nhất ý chí trong toàn bộ vương triều Trần. Hình ảnh Trần Hưng Đạo rực sáng trong tâm trí ông, trong thơ ông.

Khác với hòa khí khi viết Hữu Dược Sơn viên, trong Đề Cổ Loa miếu, về những năm tháng do không cảnh tỉnh mà nước Âu Lạc bị Triệu Đà xâm chiếm, nhớ mối tình oan trái Mỵ Châu - Trọng Thủy, bên Giếng Ngọc, giọng thơ ông ngậm ngùi chua xót:

Bằng lan tạm kí man du hứng
Tẩy ngọc trì biên tư võng nhiên

(Tựa lan can, tạm ghi lại niềm hứng khởi tản mạn
Bên ao rửa ngọc, nghĩ thêm đau xót).

Đi thăm các di tích, ôn lại bao trang sử bi hùng, tâm hồn ông như được tiếp thêm ngọn lửa.

Một điểm khác, thơ Hoàng Văn Hòe không chỉ ca ngợi những nhân vật lịch sử lớn lao, những vùng đất nổi tiếng, ông còn viết nhiều cảnh quê, với những con người bình dị: Lý Hòa hải ngạn (Bờ biển Lý Hòa), Đồng hãn Lê lão thỉnh thi đề (Thơ đề tặng ông họ Lê cùng làng), Tặng Cối giang lão nhân (Tặng ông già bên sông Cối)…

Với lòng yêu nước thương dân như vậy, trước cảnh giặc xâm chiếm đốt phá, tàn sát, Hoàng Văn Hòe đứng ngay về phía những người yêu nước, chủ chiến để bảo vệ sơn hà xã tắc. Ông vô cùng đau xót trước cảnh tang tóc. Mười năm bốn bể còn binh lửa - Vạn xóm ngàn thôn lút cỏ lau ( Cảm tập đỗ - I ). Trong bài Cảm tập đỗ - II, ông còn vạch rõ bản chất thực dân, xâm lược của giặc. Ông dùng hình ảnh cáo vàng (chỉ dân ta) bị cáo trắng (chỉ giặc) đến chiếm chỗ. Thỏ cũ (chỉ dân ta) nhiều tang thương và ngay cả thỏ mới (chỉ giặc) chẳng sung sướng gì, chúng cũng luôn kêu oan khổ vì bị lôi cuốn vào một cuộc chiến tranh phi nghĩa, nhiều tên cũng phải bỏ mạng… Thấy đất nước bỗng trải cơn dâu bể, nhiều nơi máu chảy thành sông, ông không nén được nỗi lòng, phải thốt lên bằng những câu thơ sa lệ:

Cổ vãng kim lai cộng nhất thần
Bi kiến sinh nhai bách ưu tập

Dịch thơ:

Cũ qua mới đến triền miên
Thương thay kế sống rộn nghìn mối lo…

Căm thù giặc và thương dân như vậy, nhưng ông nghĩ: Trời ở trên cao xa, mờ mịt. Những chỗ tối tăm đâu thấy được ánh sáng (Liểu nhiên thiên giới cao, Hà u bất kiến chúc, Tập đào II). Lúc này ông không theo được ý nguyện xưa của mình là ẩn dật tu thân nuôi tài chí (Tàng du học dưỡng tài) mà trái lại không như với một số nhà thơ yêu nước, ông đã trực tiếp tham gia xung trận. Sau khi thi đỗ Cử nhân ba năm, giặc Pháp tấn công Hà Nội, ông đã cùng quân triều đình đánh giặc, nhằm giải vây cho Hà thành. Trong Hạc nhân tùng ngôn ông viết: “Năm Quý Dậu (1873) Hà thành hữu sự. Lúc bấy giờ, tôi mộ quân đi theo quân thứ”.

Tháng 4 năm 1882, hai năm sau khi ông đậu Tiến sĩ, giặc Pháp đánh chiếm Bắc kỳ lần thứ hai. Lúc đó, ông đang làm Tri phủ Kiến Xương (Thái Bình), ông đã khảng khái trả lại ấn, đi theo quân thứ. Về Bắc Ninh, Hoàng Văn Hòe đã liên hệ ngay với Nguyễn Cao (Cách Bi - Quế Dương), Nguyễn Thiện Thuật (lãnh tụ khởi nghĩa Bãi Sậy) và nhiều sĩ phu Bắc Hà khác, lập tuyến phòng thủ dài tới ba cây số để đối phó với mưu đồ đánh chiếm thành Bắc Ninh của giặc. Những ngày giặc tiến đánh thành Bắc Ninh, Hoàng Văn Hòe thường xuyên có mặt trong thành để chỉ huy chiến đấu và động viên binh sĩ. Song do chiến thuật và vũ khí lạc hậu, thành Bắc Ninh bị thất thủ.

Thời kỳ này triều đình Huế có hai phe: chủ chiến và chủ hòa. Tôn Thất Thuyết cầm đầu phe chủ chiến. Thấy Hoàng Văn Hòe là người kiên quyết chống Pháp, Tôn Thất Thuyết đã vời ông vào Huế làm việc với danh nghĩa chức Sử quán Tu biên, nhưng thực chất là để tăng cường tướng lĩnh cho phe chủ chiến. Năm Ất Dậu (1885), Hoàng Văn Hòe tham gia vào vụ chính biến, tấn công vào đồn Pháp tại kinh thành Huế, sau đó hộ giá vua Hàm Nghi ra sơn phòng Nghệ Tĩnh… Và cũng từ đó, không có tư liệu nào thêm về Hoàng Văn Hòe nữa! (3)

Đọc thơ, không chỉ biết nội dung, mà còn thụ cảm được chiều sâu của hình tượng, ngôn ngữ. Bài thơ tứ tuyệt Giang quán khiển hứng – VII của Hoàng Văn Hòe có nhiều nét mới lạ:

Sổ khúc lan tường xuân thủy thâm
Thổ âm Thái tạp Nông âm
Khấu huyền ngã dục ca tường họa
Liêu họa dương hoa cách ngạn âm.

Mái chèo khỏe, chèo thuyền lượn theo nước sông xuân sâu thăm thẳm. Nghe (thuyền bên) những tiếng địa phương nửa là tiếng Thái nửa là tiếng Nùng - hai câu đầu chỉ là sự mô tả bình thường cảnh vật. Đến hai câu sau:

Gõ thuyền ta ca, mong có tiếng ca ai đó vọng lại
Chỉ có hoa dương liễu họa lại ở phía Nam sông.

Tác giả ca, mong có tiếng ca đối đáp một tâm hồn nghệ sĩ. Nhưng rồi chẳng có tiếng ai vọng lại, chỉ có đám dương liễu phía Nam sông: Cây đó hay người đó? Mà mỗi lần gõ nhịp ca, cành lá họa lại bằng cách rung lên, lả tả rụng hoa… Bài thơ này cấu tứ chặt chẽ và có nét tinh tế của thơ hiện đại.

Câu thơ “Tối hỉ sơ dương hậu” trong bài Tĩnh Gia tảo phát, cứ theo Kinh Dịch mà hiểu thì sơ dương đâu chỉ là mặt trời mọc. Ý tứ trong thơ Hoàng Văn Hòe rất sâu rộng. Thời nào cũng vậy, thiên hạ thường đề cao cái tâm, nhưng Hoàng Văn Hòe cho rằng: Có một tấm lòng tốt đâu phải đã là đủ ( Nhất phiến tâm nhưng vị khẳng long ).

Có nhiều câu thơ thể hiện ông có một năng lực quan sát kì lạ:

Tùng trúc tứ vi bình tháp ảnh
Lâu đài nhất thốc đảo ba tâm
(Đăng Phật Tích sơn)

(Thông trúc bốn bề, hình tháp trên mặt đất ngả đi
Lâu đài một cõi, bóng in ngược dưới đáy nước).

Nhiều hình ảnh trong thơ ông rất sinh động:

Sơn như khuynh thạch tương điền hải
Triều dục truy nhân cấp thượng sa
(Lý Hòa hải ngạn)

(Núi như nghiêng đá cùng nhau lấp biển
Sóng triều muốn đuổi theo người chạy gấp trên bãi cát).

Hạc nhân tùng ngôn lại có những câu thơ rất hàm súc:

Lục ỷ hữu nha, huyền tự thán,
Trung thư vô thiệt quản năng ngôn.
(Thứ vận phục đồng niên Nguyễn Á Ưng…)

(Vải the lụa biếc vẫn phải nhờ đến người rao hàng, riêng dây đàn thì tự than được,
Cuốn sách không có lưỡi, mà đó là nơi chiếc bút lông có khả năng tâm sự).

Có những câu thơ mới đọc lên nghe lạnh vắng, nhưng ngẫm cho cùng, đó là nỗi niềm trăn trở vì nhân thế, là một nét chân dung của tác giả:

Vạn lý cô vân tùy độc điểu,
Bách niên hoàng quyển thoại thanh đăng.
(Thư quán mạn đê)

(Vạn dặm một cánh chim bay hoài trong đám mây lẻ,
Trăm năm quyển sách vàng trò chuyện với ngọn đèn xanh).

Chữ nghĩa, ý tứ trong thơ Hoàng Văn Hòe, phải đâu ta dễ thấu suốt, bởi thơ ông hướng tới:

Nhất chi bút hội thiên sơn ý,
Bán cú thi hàm vạn cổ tình.

(Đạo trung thứ Phan Đồng Giang)
(Một nhành bút hội được ý nghĩa núi non,
Nửa câu thơ chứa đựng cả tình muôn thuở).

Sau hai năm nghiên cứu, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, chú giải, Nhóm biên dịch chúng tôi mới tự chọn lựa được 83 bài, chúng tôi nghĩ đây là phần cơ bản của Hạc Nhân tùng ngôn. Qua đây phần nào đã thấy rõ Hạc Nhân tùng ngôn quả xứng đáng với lời ca ngợi của nhiều học giả.

Về thơ chữ Hán, ở thời Nguyễn sau Cao Bá Quát có Tùng Thiện vương Miên Thẩm (1819-1870) và Tuy Lý vương Miên Trinh (1820-1897) là hai trong số bốn danh gia kiệt xuất của đất nước thời ấy, được vua Tự Đức ban tặng Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường (Thơ được như Tùng, Tuy nhạt cả thơ Thịnh Đường).

Hoàng Văn Hòe sống trong thời kỳ này, phải chăng Hạc Nhân tùng ngôn chưa được vua biết đến ? Mà có biết, thì sự đánh giá của vua dễ sao đạt được sự khách quan với một tác giả xuất thân từ bình dân mà bản lĩnh, phóng túng. Thơ trong Hạc Nhân tùng ngôn vượt xa loại thơ ca cung đình xướng họa, niêm luật chu chỉnh nhưng mô phỏng. Hạc Nhân tùng ngôn đã làm chói sáng cuộc đời Hoàng Văn Hòe và ngược lại chính cuộc đời ông đã thắp đuốc cho thơ ông mãi tỏa sáng…

CHÚ THÍCH:

(1) Các bản dịch trong bài rút từ cuốn Thơ chữ Hán - Hoàng Văn Hòe ... của nhóm biên dịch: Duy Phi, Lê Xuân Hãng và Tống Đức Nhuận.

(2) Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng: Các triều đại Việt Nam, Nxb. Thanh Niên. 1995, tr.106.

(3) Theo Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (1858 -1930) . Nxb. Văn hóa, 1963: Hoàng Văn Hòe bị chết trong cuộc phản công giặc ở Huế tháng 5 năm Ất Dậu (1885).

Tanh62

MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ CUỐN
300 BÀI THƠ VIỆT CHỮ HÁN

THẾ ANH

Cuốn 300 bài thơ Việt chữ Hán (Hán tự Việt thi tam bách thủ) (1) do nhà thơ Ngô Văn Phú biên soạn, tuyển thơ và dịch vừa mới phát hành vào quý II năm 2003 là một ấn phẩm đẹp. Đây là cuốn thứ tư sau Thơ Đường ở Việt Nam (1966), Thiên gia thi toàn tập (1998) và Đường thi tam bách thủ (2000) của cùng một soạn giả. Phải nói nhà thơ Ngô Văn Phú là người say mê dịch thuật thơ Đường, có nhiều tâm huyết với di sản của tiền nhân và đã có những đóng góp nhất định trên lĩnh vực này. Nhà thơ đã nói rõ mục đích biên soạn cuốn sách “Tôi cũng muốn học người xưa (tức là các soạn giả cuốn Đường thi tam bách thủ của Trung Quốc - TA), ứng dụng cho thơ Việt, cũng mong giúp bạn đọc yêu thích hoặc muốn nghiên cứu thơ chữ Hán có một văn bản thuận tiện, có cái nhìn đầu tiên về thơ chữ Hán Việt Nam” (trích Lời nói đầu tr.6).

Mỗi bài thơ tuyển chọn trong cuốn sách được giới thiệu tóm tắt tiểu sử tác giả, nguyên văn bài thơ chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ và chú thích giúp cho người đọc có thêm tư liệu tham khảo và bước đầu tìm hiểu thơ chữ Hán Việt Nam. Đó là những ưu điểm của cuốn sách, tuy nhiên cuốn sách còn nhiều sai sót làm hạn chế tác dụng tích cực của nó vì độ tin cậy về mặt văn bản chưa cao. Sau đây chúng tôi sẽ lần lượt nêu lên những điểm cụ thể:

1. Về lỗi chính tả: đành rằng đây là một vấn đề phổ biến hiện nay trên sách báo của ta mà những nhà làm sách không mấy quan tâm, nhưng đối với loại sách thơ chữ Hán thì lại rất quan trọng vì viết sai sẽ làm mất hứng thú và gây không ít phiền toái cho người sử dụng, vì không phải ai cũng biết chữ Hán và tìm được tài liệu để đối chiếu. ở đây chúng tôi không thống kê hết được mà chỉ nêu lên một số dẫn chứng, trong đó có loại sai về dấu: biên/biền, điểm/điềm, từ/tử, bán/bàn, tuyệt/tuyết, tả/tá, ngô/ngộ, tịnh/tỉnh, ly/lý...; nhầm lẫn giữa s-x: sách/xách, sao/xao, sà/xà...; nhầm lẫn giữa tr-ch: triêu/chiêu, trụ/chụ, trí/chí; các loại khác; vãn/văn, quang/quanh, liêm/liên, đăng/đáng, thôn/thôi, tác/tấc, hàm/hầm, tầm/tâm...

2. Viết và phiên âm chữ Hán có nhiều sau sót. Chẳng hạn:

Chữ nhậm (任) trong bài Thị đệ tử tr.11 phiên âm (p.â) thành nhân, Pháp (法) trong bài Vãn Pháp Loa tôn giả tr.45 p.â thành tháp, Chiêm (占) trong bài Chinh Chiêm Thành ... tr.47 viết thành cổ (古), thùy (垂) trong bài Hỷ tình tr.55: Ngạn liễu thùy kim tiết viết thành trọng (重), thâu (輸) trong bài Bạch Đằng giang tr.59: Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan p.â thành nhân, tùng tuế lão (松 歲 老) trong bài Động Đình hồ tr.76: Hạc tích bất lai tùng tuế lão p.â thành tùng sở tại. Đầu đề bài thơ Thần Đầu cảng khẩu hiểu bạc tr.77, viết chữ Hán là: Hiểu bạc (曉 泊) không p.â chữ “hiểu” và dịch là “Đỗ thuyền bến Thần Đầu ban sớm”, như vậy là sai. Thực ra là “vãn bạc (晚 泊), đầu đề là “Buổi chiều thuyền ghé bến Thần Đầu”. [Đi khơi buổi sáng thì buổi chiều muộn phải quay về bến đậu. Vô số nhà chài đậu neo (Vô hạn ngư gia)]. Trong bài Kiệt Đặc sơn chữ Cẩm cung (錦 宮) tr.80: Cẩm Cung di miếu bách thành âm viết thành Cẩm khách (錦 客), chữ hậu (後), trong câu cuối bài thơ Nhạc Dương lâu (bài 1) tr.82 viết thành hựu (又), chữ ương (央) trong bài Thu dạ tức sự tr.91: Phá ốc khan tinh dạ vị ương viết thành giáp (夾), chữ hoa (花) trong bài Đề Dương Công Thủy hoa đình (câu thứ 7 từ dưới lên) tr.107 viết thành diệp (葉), chữ thuần (蓴) trong Đề quần ngư triều lý đồ tr.118 viết thành tôn (尊). Bài Thuật hoài của Đặng Dung tr.124-125 câu thứ 7: Quốc thù vị báo đầu tiên bạch, viết chữ Hán sai chữ báo (報) thành chữ phục (復), bài Hóa thành thần chung tr.127 chữ nguyệt bạch (月白) viết thành minh bạch (明白), chữ đáo (到) trong bài Sơn trung tr.129 viết thành khắc (刻), chữ tiết (節) trong bài Giang trung phùng lập xuân nhật tr.135 viết thành giới (界). Đầu đề bài thơ Chu Công phụ Thành Vương đồ tr.148 chữ Thành Vương viết thành Chính Vương (政 王), câu thứ 7. Trong bài thơ Mạn hứng tr.196 chữ lạc đạo (樂 道) viết thành cừ đạo (渠 道), trong bài Đông từ tr.207 viết là xuân hiểu (春 曉) nhưng lại p.â là thanh hiểu. Chữ nhàn tình (閑 情) trong câu Lãn tán nhàn tình đạm tự tăng tr.223 p.â là nhàn dinh. Chữ cửu tam (九 三) trong bài Tự thuật tr.247 viết thành cửu niên (九 年): Điểm kiểm hành niên duyệt cửu tam, chữ cầu (求) trong câu vị cảm cầu tri âm tr.253 viết ra vĩnh (永). Viết một đằng p.â một nẻo: đắc dụng (得 用), p.â là hữu dụng (tr.254), huề (攜) p.â là hề (tr.256), ngũ cửu (五 九) p.â là cửu ngũ (tr.261), Tiền đường (錢 塘) viết thành (前 塘) tr.272, tự (似) p.â là dĩ (tr.328), dung (容) p.â là đang, hựu (又) p.â là lưu (tr.355), khinh (輕) p.â là kinh (tr.355), sạ (乍) p.â là tạc (tr.368), cộng (共) p.â là đồng (tr.448), do (猶) p.â vô (tr.461), thiên (天) p.â là niên (tr.461). Có nhiều trường hợp viết sai: viết sai cả họ và tên của những nhân vật nổi tiếng như Phan Huy Chú (tr.378), Phan Bội Châu (tr.466), Phan Chu Trinh (tr.471), Phan Văn ái (tr.464) - chữ Phan (潘) viết nhầm ra phiên (番), chữ Phức (馥) trong Lý Văn Phức (tr.411) viết là (幅), chữ Công (公) trong Nguyễn Công Trứ (tr.384) viết là (功), chữ San (珊) trong Trần Bích San (tr.386) viết là (刊), chữ Tự (序) trong Vũ Công Tự (tr.495) viết là (字). Chữ hệ (系), trong câu thơ: hà thời nhân hệ cường hồ cảnh (tr.485) viết nhầm ra phồn (繁), chữ hành (衡) trong câu: hành mao hà xứ khởi lâu các (tr.444) viết ra hoành (橫), chữ Tiền Đường (錢 塘) trong bài Đoạn trường tân thanh tổng vịnh (tr.272) viết là (前 塘); tác phẩm Chinh phụ ngâm nổi tiếng của Đặng Trần Côn được phổ biến rộng rãi có nhiều người biết, nhưng chỉ riêng một đoạn trích cũng có nhiều chỗ sai. Ví dụ: Câu bất vong thiếp tâm ưu (tr.236) p.â thành bất vong thiếp quân ưu, chữ khiên (牽) trong câu bộ nhất bộ hề khiên quân nhu (tr.236) p.â thành... phan quân nhu, chữ tu (須) trong câu tu du trung hề đối diện p.â thành ta, chữ nhất (一) trong câu lộ bàng nhất vọng hề bái ương ương (tr.237) p.â thành bất (câu này viết sót chữ hề), chữ sơn (山) trong câu vọng sơn qui hề thiếp tư lang (tr.237) p.â thành vân, chữ xứ (處) trong câu thiếp qui xứ hề tạc dạ phòng (tr.237) p.â thành khứ. Có nhiều câu thơ 7 chữ p.â thành 8 chữ (tr.82, 194, 263, 383...).

Trên đây là bảng liệt kê chưa đầy đủ những sai sót mà chúng tôi đã phát hiện được.

3. Trong Lời nói đầu người biên soạn có nói là các bài thơ xếp theo biên niên tức là theo trình tự thời gian, nhưng thực tế thì lại khá lộn xộn. Những tác gia sinh trước thì lại xếp sau và ngược lại, có khi cách nhau đến hàng thế kỷ.

Ngày sinh và ngày mất của nhiều tác giả thường để trống. Nếu người soạn chịu khó tra cứu thì cũng dễ dàng bổ sung nhất là những nhân vật nổi tiếng như Cao Bá Quát (Kỷ Tỵ 1809 - Giáp Dần 1854), Bùi Dương Lịch (Mậu Dần 1758 - Đinh Hợi 1827), Đặng Thái Thân (1874-1910), v.v... Một sai sót không đáng có là ghi thời gian mất khi tác giả chưa sinh, chẳng hạn: Huỳnh Thúc Kháng (1876-1847), Ngô Đức Kế (1878-1829).

4. Việc tuyển chọn thơ cũng như tác giả tiêu biểu cho tuyển tập Tam bách thủ đã được soạn giả cân nhắc kỹ, nhưng đây là một vấn đề phức tạp khó tránh khỏi những nhận định chủ quan. Ở đây chúng tôi chưa có điều kiện trao đổi về vấn đề này. Các nhà thơ Việt Nam làm thơ chữ Hán chủ yếu là dựa vào các thể thơ của Trung Quốc, nhưng có một số đã dùng thể thơ truyền thống Việt Nam như lục bát, song thất lục bát, hát nói trong ca trù để sáng tác bằng chữ Hán. Đó là nét sáng tạo độc đáo, theo chúng tôi, cũng có thể đưa vào tuyển tập, chẳng hạn bài Thu dạ lữ hoài ngâm nổi tiếng của Tiến sĩ Đinh Nhật Thận viết theo thể song thất lục bát mở đầu bằng mấy câu:

Thu dạ tĩnh thiên quang ẩn ước
Cao sơ liêm đàm chước kim lôi
Thiên thời nhân sự tương thôi
Phù sinh nhược mộng kỉ hồi vi hoan.

Nhà chí sĩ Phan Bội Châu cũng có bài thơ Tư hữu ngâm theo thể thơ song thất lục bát.

Nguyễn Khuyến có bài Bùi viên cựu trạch ca Bùi viên đối ẩm trích cú ca theo thể hát nói rất hay. Nhiều người còn dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du ra chữ Hán theo nguyên thể lục bát.

5. Về phần dịch thơ chúng tôi chưa có dịp đọc kỹ, nhưng riêng việc soạn giả dịch 300 bài thơ cho tuyển tập trong khi đã có nhiều bản dịch thành công của những người đi trước cũng là một điều đáng khích lệ. Việc thẩm bình các bài thơ dịch xin nhường lại cho những nhà nghiên cứu và các bạn yêu thích.

Ngoài ra cuốn sách còn có phần phụ lục: Ấu học ngũ ngôn thi (Trạng nguyên thi) . Tuy đây không phải là nội dung chính của cuốn sách, nhưng soạn giả đã cung cấp cho bạn đọc một văn bản tốt gồm 270 câu (số câu gấp đôi những bản khác mà chúng tôi đã có dịp đối chiếu) kèm theo lời dịch gọn gàng, sáng sủa, có nhiều chất thơ. Nhân đây tôi xin cung cấp thêm một số ít tư liệu về nguồn gốc của ấu học ngũ ngôn thi. Do thiếu tư liệu nên từ trước đến nay nhiều người vẫn ngộ nhận tác giả cuốn sách là của nhà nho Việt Nam, cách đây mấy năm chúng tôi cũng đinh ninh như vậy. Mới đây nhà xuất bản Thuận Hóa vừa cho in cuốn Tam tự kinh, Bách gia tính, Thần đồng thi, Thiên tự văn do Thanh Thủy dịch(2). Nội dung Thần đồng thi hoàn toàn trùng hợp với Ấu học ngũ ngôn thi (Trạng nguyên thi) được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam và người dịch cho biết tác giả cuốn sách là Uông Chu đời Bắc Tống. Trong bài Về nguồn gốc và tác giả cuốn ấu học ngũ ngôn thi (Tạp chí Hán Nôm số 1 (42) - 2000) ông Trần Ngọc Thuận cũng khẳng định như vậy. Tuy nhiên chúng ta còn cần phải có thêm tư liệu để xác định đâu là những câu thơ được các nhà Nho Việt Nam sáng tác và bổ sung thêm, nếu có.

Tóm lại, cuốn 300 bài thơ Việt chữ Hán tuy có những sai sót như chúng tôi đã nêu, nhưng vẫn là một cẩm nang cần thiết, hy vọng soạn giả sẽ khắc phục để có dịp tái bản sẽ được hoàn bị và phục vụ độc giả tốt hơn.

T.A

CHÚ THÍCH

(1) Nxb. Hội Nhà văn, 2003.

(2) Nxb. Thuận Hóa, 2002. Bản dịch không ghi xuất xứ cuốn sách nêu trên, nhưng theo chỗ chúng tôi biết thì đó là bản do Thượng Hải thư điếm xuất bản năm 1993.

Loc62

TÌM HIỂU BÀI THƠ
GIANG BẠN ĐỘC BỘ TẦM HOA CỦA ĐỖ PHỦ

ĐẶNG VĂN LỘC

Thơ Đỗ Phủ được nhiều thế hệ kẻ sĩ “bút lông, mực tàu, giấy dó” tôn thờ. Trước lúc đi xa Bác Hồ ghi tên ông trong bản di chúc và khẳng định là “nhà thơ nổi tiếng đời Đường”.

Sách Văn học lớp 9 tập 2 của Nxb. Giáo dục, H. 1995, cuốn Thơ Đường bình giảng của Nguyễn Quốc Siêu có tuyển bài thơ: Giang bạn độc bộ tầm hoa. Cả hai tác phẩm đều thực hiện các bước phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ…

Các cuốn Cổ đại thi ca tuyển, Thiếu niên Nhi đồng xuất bản xã 1962 do Vương Dịch Bằng tuyển chọn, chú giải; Thơ Đường bình giảng ở phần phụ lục còn ghi nguyên tác bằng chữ Hán. Bài thơ được phiên âm như sau:

Giang bạn độc bộ tầm hoa
Hoàng Tứ nương gia hoa mãn khê
Thiên đóa vạn đóa áp chi đê,
Lưu liên hí điệp thời thời vũ.
Tự tại kiều oanh kháp kháp đề.

江 畔 獨 步 尋 花
黃 四 娘 家 花 滿 蹊
千 朵 萬 朵 壓 枝 低
留 連 戲 蜨 時 時 舞
自 在 嬌 鶯 恰 恰 啼

Ngay ở đầu đề Giang bạn độc bộ tầm hoa đã có hai cách dịch khác nhau: “Một mình dạo chơi, tìm hoa ven sông” (Nguyễn Khắc Phi) và “Dạo bước tìm hoa bên sông” (Nguyễn Quốc Siêu).

Từ “giang bạn” được chuyển nghĩa sang tiếng Việt là bên sông, ven sông đã giúp người đọc xác định đúng nơi tác giả đi tìm hoa. Ông Vương Dịch Bằng cũng chú thích “giang bạn” là bên sông (giang biên). Từ nơi đây tác giả tìm được cảm hứng cho bài tứ tuyệt bất hủ này. Cảnh tươi đẹp của ngàn vạn đóa hoa, tiếng hót thánh thót của chim kiều oanh đã như là được “chạm tay” để trái tim thơ hơn một lần được xao xuyến.

Đã có những cách hiểu khác nhau về từ “độc bộ”.

“Một mình dạo chơi”, ý này thể hiện tâm trạng thanh thản trong thời khắc của “Con tim buồn thời thế”. Đọc tiểu sử Đỗ Phủ chúng ta thấy cuộc đời ông hay phải xê dịch” trong dâu bể của xã hội đầy bất công và loạn lạc. Hình ảnh “rượu, thịt thừa mứa, ôi thiu ở chốn quyền lực và xương người chết chất thành đống ở đường đi” đã lột tả một xã hội có sự phân hóa đến cực độ giữa cuộc sống giàu sang, hưởng lạc và những cuộc đời cơ cực, những hoàn cảnh thảm khốc.

“Độc bộ” trong nguyên nghĩa là từ chỉ người có ý chí lớn nhưng chưa được cộng đồng hiểu và ủng hộ, vẫn “một mình đi trong thiên hạ để tìm tri kỷ, tri âm” (xem thêm Hậu Hán thư - Đới Lương truyện).

Từ điển Từ hải giải thích: đi lên nhà tế tổ là “hành”, đi từ nhà tế tổ xuống là “bộ”. Từ “bộ” thể hiện dáng đi của người đã hoàn thành nhiệm vụ, bước đi có tính nhàn nhã, tùy ý. Khác với “hành” đi nghiêm túc như chuẩn bị làm một việc trọng đại. (Đường thượng vị chi hành, đường hạ vị chi bộ).

Dịch “độc bộ” ra “dạo bước” chỉ đảm bảo được sự chuyển nhượng số từ (đều 2: 2) còn nghĩa thể hiện hình ảnh “người có ý chí lớn, một mình đi trong thiên hạ…” thì chưa thể hiện được.

“Dạo bước tìm hoa” mới thể hiện được một thông báo đi tìm cảm xúc thẩm mỹ trong tâm trạng, dáng điệu nhàn nhã, thảnh thơi. Tư thế kẻ sĩ: “Có ai đi cùng ta trong thiên hạ” của Khổng Tử, Đới Lương… mà tác giả muốn gửi gắm qua “độc bộ” như là một chấm phá đặc sắc của nghệ thuật “ước lệ, tượng trưng” đã vắng bóng ở bản dịch.

Câu phá đề:

“Hoàng Tứ nương gia hoa mãn khê” Thể hiện ngay hai chủ thể, một ẩn, một hiện, “người em gái” và “hoa”. Các bản dịch đều thống nhất chuyển nghĩa “Hoàng Tứ nương gia” sang “nhà cô Hoàng Tứ”.

Ông Vương Dịch Bằng giải thích: Đây là người hàng xóm, bên cạnh nơi ở của tác giả. Chúng tôi muốn nhấn mạnh thêm một ý về tài chọn từ của Đỗ Phủ. Trong rất nhiều chữ chỉ người phụ nữ như mẫu, nãi, cô, gì, tỷ, muội…, ông dùng từ “nương”. Riêng về lĩnh vực âm vận học đã cho ta cảm giác của âm thanh “nhỏ bé” nhưng vang rất xa. Nó là tiếng gọi thân thương, tiếng gọi người con gái (Đào Duy Anh).

Các bản dịch đều chọn từ “cô” là từ chỉ quan hệ thân thiện của người con trai lớn tuổi hơn với giới nữ.

Trở lại nguyên tác:

- “Hoàng Tứ nương gia hoa mãn khê”

Nguyễn Khắc Phi dịch: “Hoa nở đầy suối cạnh nhà cô Hoàng Tứ”. Phải chăng có sông (giang) thì có suối (khê). Chúng ta cần chú ý tới hiện tượng đọc âm giống nhau nhưng nghĩa khác nhau (đồng âm biệt ngữ) của chữ Hán. Chúng tôi đã tìm hiểu nguyên tác ở hai công trình của Vương Dịch Bằng và Nguyễn Quốc Siêu, tham khảo các bộ từ điển Hán - Hán, Hán - Việt và một số tư liệu liên quan. Chữ “khê” trong câu thơ này khác hình chữ “khê” (suối), nó có nghĩa là “con đường nhỏ, lối đi” (tiểu lộ dã).

Như vậy: “hoa nở đầy suối” (Nguyễn Khắc Phi) và “hoa đầy lối đi” (Nguyễn Quốc Siêu) đã tạo ra không gian và sự vật khác nhau. Một đằng có nhà, hoa và suối nước, không gian hoa ở nơi suối nước tạo ra sức hấp dẫn và rung động thẩm mỹ khác hẳn hoa “đầy lối”. Hoa trên lối đi vừa là biểu tượng chào đón khách vừa là nét vẽ nhạt nhòa phục vụ ý định của chủ đề: hoa trong khuôn viên nhà cô Hoàng Tứ. Sự vật như là chìm xuống trong bức tranh bằng chất liệu ngôn ngữ để hình tượng về “cái đẹp” càng thêm lộng lẫy, nó tạo cho người đọc tưởng tượng đến từng bước đi “trên lối nhỏ” đều có hương thơm, sắc đẹp.

Phần dịch nghĩa câu thơ này, Nguyễn Khắc Phi còn cho chúng ta biết rõ hoa ở cạnh nhà cô Hoàng Tứ. Như vậy hoa chưa chắc đã ở trong khuôn viên của gia chủ, con suối thơ mộng cũng vậy. Bức tranh như có một không gian khác không ăn khớp với câu thơ.

Chữ “gia” không mang ý nghĩa ngôi nhà cụ thể, nó là “một nhà” (Đào Duy Anh), có ngôi nhà ở, công trình phụ, vườn cây, ao cá v.v... “Hoa nở đầy suối cạnh nhà Hoàng Tứ” thì hoa đã ở khuôn viên của một nhà. Câu thơ chữ Hán xác định rõ hoa ở trong nhà cô Hoàng Tứ. Bản dịch thêm một từ cạnh, (cạnh nhà) đã làm thay đổi ý định miêu tả.

- Câu “Thiên đóa vạn đóa áp chi đê”

Các bản dịch đều thể hiện được ý của nguyên tác. Riêng chữ “áp” do ảnh hưởng của các chữ đứng trước: ngàn bông, vạn bông hoa (thiên đóa vạn đóa) nên cành thấp xuống (chi đê). Dịch là “ép” như “ép cành trĩu thấp xuống”, hoặc “ép trĩu cành”, “đè trĩu cành”. Như vậy câu thơ đã mất đi tính lôgíc tự nhiên, thiếu vắng hẳn tình cảm âu yếm, yêu thương, làm mất tính bất tử với thời gian của “ngàn đóa muôn bông” chỉ đủ để cành trĩu xuống. Nhiều tao nhân, mặc khách đã thừa nhận bài thơ này là “một kiệt tác” (lời bình của Hồ Tứ đời Tống). Dùng nghĩa “ép” của từ “áp” đã thêm nghĩa cho “ngàn đóa muôn bông” sức mạnh cưỡng bức. Chính từ “áp” trong câu thơ đã tạo nên hiệu xuất hô ứng giữa “thiên đóa vạn đóa” và “chi đê” vì “áp” ngoài nghĩa “ép” còn có nghĩa: “đủ”, “làm cho đầy đủ” (Từ hải)... Câu thơ nhờ vậy mà thể hiện vẻ đẹp rực rỡ, tự nhiên, nồng thắm của cảnh hoa đồng gió nội. Hình ảnh càng trĩu thấp với sức nặng vừa đủ như còn muốn nói tới sự dịu dàng, nhún nhường của “ngàn đóa muôn bông” mà ẩn hiện trong hoa là tâm hồn và dáng điệu cô Hoàng Tứ.

Đọc tiếp câu luận và câu kết với cảnh đàn bướm say vẻ đẹp mà cứ nửa ở, nửa đi, bồi hồi lưu luyến, rồi tiếng chim kiều oanh thảnh thơi “ca hát”, thì hoa cũng làm ta lưu luyến bồi hồi.

- Câu kết: “Tự tại kiều oanh kháp kháp đê” là chim kiều oanh thảnh thơi hót tiếng của mình (kháp kháp đê). Có bản dịch đã chuyển “tự tại” thành “ung dung”, “thỏa thích”, thật vô tình chúng ta đã nhân cách hóa kiều oanh xinh đẹp thành bậc “tiên phong đạo cốt”.

Ông Nguyễn Khắc Phi có đặt câu hỏi về sự không bình thường của việc sắp xếp thanh điệu. Quả thật đây là kỳ tài của tác giả: vẫn giữ nguyên được hơi thở của cuộc sống qua các từ láy toàn bộ “thời thời, kháp kháp” của âm điệu dân ca Trung Quốc mà luật thì vẫn đúng, các vị trí của thanh điệu ở các từ thứ 2, 4, 6 trong hai câu vẫn đối nhau. Người xưa đã qui định “nhất tam ngũ bất luận, nhị, tứ, lục phân minh”. Tạm dịch: Các thanh điệu ở vị trí 1, 2, 5 trong câu thơ có thể châm chước; các vị trí thanh điệu ở 2, 4, 6 phải dứt khoát đúng luật.

Từ góc độ hướng tới cội nguồn của chữ nghĩa (Hán Nôm), suy nghĩ về bài thơ Giang bạn độc bộ tầm hoa, chúng tôi muốn góp thêm vài khía cạnh vào việc tìm hiểu chữ nghĩa từng câu thơ mong có thể đóng góp trong việc giảng dạy một bài thơ của Đỗ Phủ trong nhà trường phổ thông hiện nay.

Đ.V.L

Dien62

VỀ BÀI NGỰ CHẾ QUỐC ÂM TỪ KHÚC CỦA TRỊNH SÂM TRONG SÁCH
BÌNH NINH THỰC LỤC

NGUYỄN XUÂN DIỆN

1. Trong lịch sử, Trịnh Sâm (1739-1782)(1) là một nhân vật, mà về mặt văn hóa được đánh giá là có những đóng góp khá tích cực. Ông là một vị chúa trọng học vấn, biết phát hiện và quý trọng hiền tài(2). Là người thích du ngoạn, dấu vết xe loan của nhà chúa đã in khắp những nơi phong cảnh đẹp trong nước, và đời sau coi ông là người đã phát hiện những tuyến du lịch kỳ thú. Mỗi nơi ông đến, vẫn thường có thơ hoặc bút tích để lại, với số lượng nhiều mà bài nào cũng hay, với nét riêng thi vị. Về thơ, ông là một tác giả sáng tác nhiều tác phẩm Nôm(3). Đặc biệt, theo một số nhà nghiên cứu, thì ông còn sáng tạo ra điệu Thổng cho Ca trù, đến nay các đào nương vẫn còn hát(4). Bài viết này giới thiệu một bài thơ và một từ khúc của ông chép trong cuốn Bình Ninh thực lục.

2. Bình Ninh thực lục, cùng với Bình Hưng thực lục Bình Nam thực lục đều do Trịnh Sâm sai biên soạn (gọi là Tam Bình thực lục; cùng với Bình Tây thực lục - do Trịnh Doanh sai biên soạn, gọi chung là Tứ Bình thực lục), là loại sách “quan bản”. Bình Ninh thực lục kể lại sự việc bình định cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật từ năm Cảnh Hưng 30 (1769) đến 31 (1770) ở Trấn Ninh. Sách có ký hiệu VHv.2939, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Cũng có in dấu của Viễn đông Bác cổ học viện). Sách gồm 45 tờ, khổ 28,5x16,3cm. Chữ Hán viết rất chân phương, dễ đọc, và đã được chấm câu, ngắt mạch văn. Ngoài bản VHv.2939 ở Tư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, thì còn 2 bản nữa hiện đang lưu trữ tại Pháp. Đó là 2 bản đều đang lưu giữ tại Thư viện Hiệp hội châu á (Société asiatique) ở Paris, dưới các ký hiệu HM. 2211 (là bản in, 109 trang, khổ 26,4x15,7cm) và HM. 2107 (là bản chép tay từ bản in, 109 trang, khổ 32x22cm). Nhờ vào lòng hào hiệp của ông Philippe Le Failler và ông Trần Văn Quyền mà chúng tôi có được cả hai văn bản nói trên, trong khi viết bài này. Nhân đây chúng tôi xin chân thành cảm ơn !

Bài viết này không có mục đích lạm bàn về cuốn sách Bình Ninh thực lục cũng như công nghiệp của Trịnh Sâm, về phương diện lịch sử. Chúng tôi chỉ muốn cung cấp một tác phẩm Nôm của Trịnh Sâm, được viết vào khoảng các năm 1769 và 1770, dưới dạng từ khúc, để góp phần giới thiệu về văn nghiệp của ông, cũng như tình hình sáng tác văn học chữ Nôm và ca từ âm nhạc trong thời đại mà Trịnh Sâm ở ngôi chúa, cũng như thời Lê - Trịnh nói chung.

3. Dưới đây là bài thơ và bài từ khúc của Trịnh Sâm, chép trong Bình Ninh thực lục, bản VHv.2939 được phiên âm, chú giải. Riêng trong bài từ khúc, dấu ngoặc vuông [ ] là biểu thị một chữ trong nguyên bản VHv.2939 bị mất. Chúng tôi dựa vào bản in HM.2211 để điền vào.

Ngự chế Lạo hoàn dịch Quốc âm thi
(Bài thơ Quốc âm úy lạo người đi chiến dịch phương xa trở về)

Đã mấy trăng(1) nay áng(2) chiến trường,
Nhọc nhằn thay bấy, kẻ Cần vương(3)!
Cờ mao đủ nhuốm mùi lam chướng;
Áo sắt thêm dày vệt tuyết sương.
Nghìn dặm quét không hơi bụi thẳm;
Muôn năm đặt khỏe thế âu vàng.
Thẻ quyên bao trả công lênh ấy(4),
Thể tất niềm chu tả một chương(5).

Ngự chế Quốc âm từ khúc

Bóng thỏ(6) chập chờn,
Lậu rồng(7) thưa nhặt.
Chặp địch(8) mơ màng nơi viễn thú(9),
Bông(10) [đào] [thắc] mặc thuở sư kỳ(11).
Trước nhà vàng(12) con hỷ thước chăng băng(13), tiếng tâu công sớm [ruổi],
Ngoài dặm tía(14) cái đề quyên ánh ỏi, người hành dịch(15) mới về.
Xuất xa(16) mấy nỗi ân cần,
Trượng đỗ(17) vài lời khoản khúc(18).
Ta nay:
Vâng nền gian đại(19),
Noi dấu hiển thừa(20).
Lòng lệ tinh(21) sớm áo trưa cơm, mảy tấc(22) hằng chăm bóng hạ;
Đường lý chính(23) trong văn ngoài vũ, gần xa khắp phủ hơi xuân(24).
An chiếu(25) đà thỏa chốn nhạn hồng,
Lọt lưới chút còn loài cáo quỷ.
Sáu bảy huyện non cao hang thẳm, lung lao thói dữ quấy dân lành;
Ba mươi nhăm thành rộng hào sâu, nấn ná ngày chầy nên thế cả.
Một giải áo riêng ngăn đức giáo(26),
Điểm nốt ruồi lạm bạn thanh bình(27).
Giống can thường(28) bao dễ dung nào !
Việc chinh tiến ắt chăng được chớ !
Vậy phải:
Trao gươm khiển tướng(29),
Xuống lệnh ra quân.
Trước là nối chí đức tiên vương, công kinh hoạch(30) bấy lâu còn chửa chút;
Sau nữa thông [đường] ngoài tuyệt vực(31), lòng úy hoài(32) đâu đấy cũng cho phu(33).
Nghìn trùng dóng dả xa [xôi],
Ba đạo nhọc nhằn ai nấy.
Hăm hở bác(34) vàng ngựa sắt, trăm tướng một lòng;
Duổi dong chân tuyết đầu sương(35), ba quân cộng sức.
Trải gió tắm mưa rập rã,
Trèo non lặn suối pha phôi.
Mường Thanh(36) vừa đóng việc gác yên(37), xuân trước chửa tan màu chướng vụ(38),
Trình Quang(39) lại trải tuần gối bác(40); thu sau thêm quyến thức lam yên(41).
Gian nan ai vẽ nên đồ !
Hiểm viễn dễ đo được đất !
Lạnh lùng nhẽ ! Chăn sương nệm giá(42), dày cừu sĩ trạnh kẻ vu giao(43);
Lạt lẽo thay! Cơm ống nước bầu, hằng bữa chẳng khuây người mĩ thất(44).
Đá cật ngựa(45) xót hề phận khổ,
Giao đầu duềnh(46) bao đã đồng cam.
Đoạn cần lao muôn dặm xem gần, mai dịch(47) vắn dài lời ruổi cánh;
Niềm trữ vọng(48) năm canh chất nặng, Thiên San(49) chầy kíp thuở treo cung.
Mừng thấy:
Chiếu lát chông gai(50),
Sấm vang hiệu lệnh.
Chước ly gián, dẫu ruột rà cũng trói(51),
Thế bức cùng cho vây cánh nên mòn.
Lũ hoàn lương ngậm cỏ ra đầu, thành Sái(52) nửa đêm tuyết lọt,
Loài nghịch mệnh nghe hơi vỡ mật, non Côn(53) một trận lửa tan.
Giúp thiêng, trên đội đức thiên địa tổ tông,
Nung sức, dưới cậy lòng tướng thần sĩ tốt.
Lận mấy tiết, cúc bông sen chiếng(54); công trì khu thẻ Hán kham điền(55);
Vây một nhà rồng dậy(56) mây tuôn, lòng thể tất tịch Chu ngõ thỏa(57).
Sau trước tả bề lao khổ,
Dưới trên hưởng phúc thái bình.
(Phiên âm từ bản VHv.2939, từ tờ 53 a đến 55 a
và bản HM.2211 từ tờ 53a đến 55a)

4. Nhận xét:

Bài Ngự chế Quốc âm từ khúc của Trịnh Sâm được viết bằng chữ Nôm. Trong nguyên bản, bài này được gọi là bài từ khúc. Như chúng ta đều biết, Ngâm khúc Nôm là một trong những sáng tạo thể loại của văn học chữ Nôm. Các tác phẩm Ngâm khúc Nôm mà chúng ta thường gặp như Tứ thời khúc vịnh, Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, Ai tư vãn, Văn chiêu hồn, Tự tình khúc … đều sử dụng thể thơ lục bát // song thất lục bát quen thuộc vốn có nguồn gốc từ thơ ca dân gian. Riêng trường hợp Ngự chế Quốc âm từ khúc, được ghi là từ khúc, nhưng lại được viết giống như thể phú, bằng lối biền ngẫu, với hai câu đối nhau. Chính điều này cho thấy, hoặc là cách gọi tên thể loại của người xưa thật không chặt chẽ như quan niệm của chúng ta ngày nay, hoặc là thể từ khúc ngày xưa được viết thế chăng? Tìm hiểu về các điệu từ khúc mà các tác gia Việt Nam quen dùng, chúng tôi cũng không ghi nhận được một điệu từ khúc nào viết với lối văn biền ngẫu như trường hợp Ngự chế Quốc âm từ khúc. Từ đó, cho phép chúng ta nghĩ đến việc, phải chăng, trong văn học thời trung đại, có một lối từ khúc Nôm viết bằng lối văn biền ngẫu ?

N.X.D.

CHÚ THÍCH:

(1) Về năm sinh của Trịnh Sâm, các tài liệu ghi khác nhau: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập II, trang 110 ghi ông sinh năm 1737; sách Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam, trang 886, ghi năm 1739. Năm mất được ghi thống nhất trong các tài liệu.

(2) Quốc Chấn: Trịnh Sâm (1737- 1782) Một vị chúa trọng học vấn, quý hiền tài . In trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Chúa Trịnh - Vị trí và vai trò lịch sử. Ban nghiên cứu và biên soạn Lịch sử Thanh Hóa xuất bản, 1995.

(3) Nguyễn Q. Thắng: Từ điển tác gia văn hóa Việt Nam. Nxb. Văn hóa Thông tin. H. 1999, tr.1540-1542.

(4) Các nhà nghiên cứu Đỗ Bằng Đoàn - Đỗ Trọng Huề, Ngô Linh Ngọc - Ngô Văn Phú, đều cho rằng điệu Thổng trong ca trù là do Trịnh Sâm sáng tạo ra.

CHÚ GIẢI

1. Đã mấy trăng: đã mấy tháng, một cách đếm thời gian ngày xưa.

2. Áng: (từ cổ) chỉ nơi diễn ra cảnh đua tranh. áng chiến trường: chỉ nơi chiến địa.

3. Cần vương: hết sức giúp rập, cứu đỡ nhà vua.

4. Thẻ quyên: sổ ghi công. ý cả câu: Thẻ ghi công biết thế nào trả được công lênh vất vả của những người đi chinh chiến.

5. Thể tất: hiểu thấu đáo. Chu: toàn vẹn, trọn vẹn. ý cả câu: Ta đã hiểu thấu công lao vất vả đó, và xin viết ra bài văn này để biểu thị sự úy lạo.

6. Bóng thỏ: Bóng trăng. Theo truyền thuyết, trên cung trăng có con thỏ ngọc. Sau văn thơ dùng chữ bóng thỏ để chỉ trăng.

7. Lậu rồng: Lậu là cái đồng hồ nước ngày xưa. Lậu rồng là chỉ cái đồng hồ chạm hình con rồng, dùng trong cung điện.

8. Chặp địch: Chặp là một hồi. Địch: cây sáo. Chặp địch: tiếng sáo thổi từng hồi.

9. Viễn thú: đóng đồn phòng thủ ở phương xa.

10. Chưa rõ nghĩa.

11. Sư kỳ: ngày hẹn xuất quân đi đánh dẹp.

12. Nhà vàng: nhà cửa trong cung điện, hoặc nơi quyền quý.

13. Chăng băng: từ tượng thanh, tả tiếng hót nhí nhảnh của con chim thước báo tin vui.

14. Dặm tía: con đường bụi bặm.

15. Hành dịch: đi làm nhiệm vụ, theo lệnh trên.

16. Xuất xa: mang xe ra ngoài thành; chỉ việc xuất quân, ra trận.

17. Trượng đỗ: cắm gậy, nghĩa là dừng quân, cắm trại trên đường hành quân.

18. Khoản khúc: khẩn khoản, chỉ sự ân cần quan tâm.

19. Gian đại: nhiều khó khăn.

20. Hiển thừa: nối tiếp sự rực rỡ của tổ tiên.

21. Lệ tinh: lòng phấn chấn, hưng phấn.

22. Mảy tấc: (từ cổ) một chút ít, rất ít.

23. Lý chính: lo việc chính sự.

24. Gần xa khắp phủ hơi xuân: khắp nơi tràn ngập hơi ấm mùa xuân.

25. An chiếu: Vâng chiếu nhà vua dẹp yên miền biên viễn. Bài Chức cẩm hồi văn của nàng Tô Huệ có câu: Quân thừa Hoàng chiếu an biên thú (Chàng vâng chiếu vua đi thú để yên ổn ngoài biên).

26. ý cả câu: mảnh đất bé như cái giải áo mà dám ngăn đức giáo của nhà vua đưa tới (ý nói đất nhỏ mà dám cự lại nhà vua).

27. Lạm bạn: cản trở, vướng víu. ý cả câu: Một mảnh đất nhỏ như cái nốt ruồi mà dám cản trở vào sự thanh bình do nhà vua gây dựng.

28. Can thường: Can là xâm phạm; Thường là chính sự của quốc gia. Can thường: kẻ xâm phạm vào sinh hoạt chính trị của quốc gia.

29. Trao gươm khiển tướng: nghi thức trước khi ra trận, vua chúa trao gươm cho tướng. Điển tích: Lưu Bang trao gươm và quyền tướng quân cho Hàn Tín để sai đi dẹp Hạng Vũ.

30. Kinh hoạch: kinh là chinh chiến, chinh phục. Hoạch là vẽ bản đồ vùng đất chiếm được. Kinh hoạch: tính toán hoạch định công việc.

31. Ngoài tuyệt vực: nơi xa xôi, tận cùng của cõi đất.

32. úy hoài: sợ hãi, vỗ về. Chính sách cai trị xưa: đối với người ở gần thì mềm mỏng, đối với người ở xa thì vỗ về; làm cho kẻ ở gần thì sợ mà theo, người ở xa thì được chở che mà theo về.

33. Phu: tin tưởng.

34. Bác: khí giới thời xưa, cán dài, lưỡi rộng bản, mũi nhọn, dùng để chém.

35. Chân tuyết, đầu sương: chân đạp tuyết, đầu đội sương.

36. Mường Thanh: thuộc châu Ninh Biên, phủ Gia Hưng, trấn Hưng Hóa, nay thuộc tỉnh Lai Châu. Xưa đất Mường Thanh rất rộng, gồm cả Mường Lễ, Sông Mã ở khu Tây Bắc và vùng phụ cận.

37. Gác yên: thôi việc chinh chiến, gác cái yên ngựa thôi không dùng nữa.

38. Chướng vụ: khí độc nơi rừng sâu, núi cao.

39. Trình Quang: tên đất, thuộc phủ Trấn Ninh, nay thuộc vùng xứ Nghệ, giáp với Lào. Theo Bình Ninh thực lục (tờ 1a, VHv. 2939), Trình Quang là tên ấp, sau đắp nên thành, nơi cát cứ, xây cất cung thất của viên Thổ tù Lô Cầm Dân (Lô Cầm Hương - bản dịch Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Tập II. Nxb. Giáo dục, Hà Nội, trang 656).

40. Gối bác: gối đầu lên cái bác (vác). ý nói người chiến sĩ ở ngoài chiến trường.

41. Quyến thức lam yên. Quyến: (từ cổ) nhiễm, dính vào. Thức: (từ cổ) Màu vẻ. Lam yên: khí độc nơi rừng sâu.

42. Chăn sương nệm giá: tả nỗi vất vả của người ở nơi chiến địa, phải nằm trên sương lạnh.

43. Vu giao: đi ra ngoài thành, đến nơi xa xôi, biên ải. Dày cừu sĩ trạnh kẻ vu giao: Chưa hiểu nghĩa.

44. Mĩ thất: kẻ không nhà, ở đây chỉ những người đang ở nơi chiến địa. ý cả câu: Mỗi bữa chẳng nguôi nhớ đến những người không nhà cửa, đang trong cảnh cơm ống nước bầu.

45. Đá cật ngựa: đường núi hiểm trở, cheo leo như lưng ngựa.

46. Giao đầu duyềnh: nguyên bản (ở cả hai bản VHv.2939 và HM.2211) đều viết là , có lẽ phải viết là . Do chữ đầu giao hưởng sĩ, dẫn điển trong sách Văn tuyển chép lời Hoàng Thạch Công rằng: “Xưa có viên tướng giỏi, khéo dùng binh, nhân có người biếu hũ rượu, viên tướng liền truyền tập họp quân sĩ bên gềnh sông rồi đổ hũ rượu xuống dòng sông để quân sĩ đều được nhắp lấy hơi rượu, gọi là chia ngọt sẻ bùi, cùng nhau chung sức chiến đấu. Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi có câu: Đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm (Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào).

47. Mai dịch: trạm dịch đặt dọc đường để đưa tin tức. Điển tích: Lục Khải ở Giang Nam bẻ một cành hoa mai gửi về Trường An cho bạn là Phạm Hoa kèm theo bài thơ. Về sau dùng chữ “Mai dịch” để chỉ việc đưa tin. ý cả câu: Con đường xa muôn dặm gian lao vất vả vẫn xem như gần, là bởi nhờ có các trạm dịch nối những đường thư thông suốt.

48. Trữ vọng: sự trông mong canh cánh.

49. Thiên San: tên đất. Thiên San (Thiên Sơn) còn gọi là Kỳ Liên Sơn, dẫy núi ở Tây Vực, cách Trường An hơn tám nghìn dặm, về phía Tây huyện Trương Dịch, tỉnh Cam Túc, nơi xảy ra nhiều trận chiến ác liệt thời Hán, Đường. Về sau Thiên San chỉ nơi xa xôi, hiểm trở hay có chiến sự. Theo Hán thư: Năm Thiên Hán thứ 2, Nhị tướng quân đem ba vạn quân cùng với Hữu Hiền vương giao chiến ở Thiên San chém được hơn ba vạn đầu giặc. ý cả câu: Năm canh nặng nỗi niềm trông đợi (tin thắng trận), việc treo cung, kết thúc chiến dịch như trận Thiên San ngày trước sớm muộn cũng sẽ đến.

50. Chiếu lát chông gai: hình ảnh ví von tả nỗi vất vả gian lao của chiến sĩ, lấy chông gai làm chiếu.

51. Nghĩa cả câu: ta dùng kế ly gián, thì kẻ phản nghịch dẫu là ruột rà của nhau cũng vẫn trói nhau nộp mạng.

52. Thành Sái: tức thành Thái Châu, thuộc huyện Nhữ Nam, tỉnh Hà Nam (Trung Quốc) ngày nay. Theo Thông chí: Đời Đường, Ngô Nguyên Tế làm phản, chiếm giữ thành Thái Châu; bấy giờ Lý Tố, tự Nguyên Trinh làm Tiết độ sứ ở đất Đường Đặng, giỏi mưu lược, nhân đêm tuyết xuống, đem quân vào Thái Châu bắt sống Ngô Tuyên Tế. Thơ Hồng Đức Quốc âm thi tập có câu: Cửa Trình chăm chắm lòng cầu đạo, Thành Thái hây hây chí lập công.

53. Non Côn: tên núi, tức Côn Cương (hoặc Côn Lôn). Kinh Thư, Dận chinh: Hỏa viêm Côn Cương, ngọc thạch câu phần (Lửa thiêu núi Côn Cương, ngọc và đá đều cháy ráo cả). Núi Côn Cương sản ra ngọc, nên có câu này. Đời sau, trong văn chương thường hay dùng chữ Côn hỏa hay Côn viêm, để dẫn ra việc này. ở câu thơ trong bài chỉ cảnh chinh chiến, người dân lành cũng bị tàn hại, như ngọc đá núi Côn Cương. Hoài Nam khúc của Hoàng Quang có câu: Tới đâu ngọc thạch câu phần; Than rằng Thăng, Điện, ấy dân tội gì. (Nguyễn Văn Sâm: Văn học Nam Hà (Văn học Đường trong thời phân tranh). Nxb. Lửa thiêng, Sài Gòn, 1974. tr.106.

54. Chiếng: (từ cổ) nở, nở ra.

55. Công trì khu thẻ Hán kham điền. Trì khu: rong ruổi nơi trận mạc. Thẻ Hán: tấm thẻ ghi công lao công thần nhà Hán, chỉ sự tưởng thưởng lớn lao, vinh dự. Kham điền: Có thể lấp chỗ trống. ý cả câu: Công chinh phạt của hôm nay có thể điền vào, bổ sung cho sổ ghi công nhà Hán.

56. Rồng dậy: dịch từ hai chữ Long phi hoặc Hưng long, chỉ bậc đế vương ở ngôi. ở đây chỉ cảnh thái bình, thịnh trị.

57. Lòng thể tất tịch Chu ngõ thỏa. Thể tất: hiểu thấu đáo. Tịch Chu: bữa tiệc thưởng công ở đời nhà Chu. Ngõ: (từ cổ, thuộc loại kết từ) ngõ hầu, để rồi, để mà. Thỏa: trạng thái hoàn toàn hài lòng khi được đúng như đã mong muốn. ý cả câu: Cả triều đình quần tụ vui vẻ hưởng thái bình, tấm lòng thấu hiểu này thấy phải mở tiệc lớn như nhà Chu xưa kia thì mới thỏa lòng.

* Xin trân trọng cám ơn các nhà nghiên cứu đã giúp chúng tôi hoàn thành bài viết này: Ông Trần Văn Quyền cung cấp bản dịch Bình Ninh thực lục (phần văn xuôi) do chính ông thực hiện; Ông Nguyễn Tá Nhí đã đọc những chữ Nôm khó đọc và hiệu đính toàn văn, bản phiên âm và chú giải này (Tác giả).

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1. Chúa Trịnh - Vị trí và vai trò lịch sử. Kỷ yếu Hội thảo khoa học. Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hóa xuất bản, 1995.

2. Nguyễn Quang Thắng. Từ điển tác gia văn hóa Việt Nam. Nxb. Văn hóa Thông tin, H. 1999.

3. Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế: Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam. Nxb. KHXH, H. 1991.

4. Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Tập I. Trần Văn Giáp. Nxb. Văn hóa, H. 1984.

5. Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Tập II. Trần Văn Giáp. Nxb. KHXH, H. 1990.

6. Việt Nam Ca trù biên khảo. Đỗ Bằng Đoàn - Đỗ Trọng Huề. Sài Gòn, 1962.

7. Ngô Linh Ngọc - Ngô Văn Phú: Tuyển tập Thơ Ca trù. Nxb. Văn học, H. 1987.

8. Vương Lộc: Từ điển Từ cổ. Nxb. Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản. Hà Nội - Đà Nẵng, 2001.

9. Từ ngữ điển cố văn học. Nguyễn Thạch Giang và Lữ Huy Nguyên biên soạn. Nxb. Văn học, H. 1999.

10. Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Hai tập. Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Tái bản. Nxb. Giáo dục, H. 1998.

11. Khảo và luận một số thể loại - tác gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam. Bùi Duy Tân. Tập II. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H. 2001

Thoan62

BỨC TRƯỚNG MỪNG
TIẾN SĨ NGUYỄN HỮU ĐIỂN VINH QUY

NGUYỄN PHƯƠNG THOAN

Nguyễn Hữu Điển (1825-1858), quê làng Cẩm Văn, tổng Đại Đồng, huyện Nam Đường, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Thanh Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An), Tiến sĩ khoa Quý Sửu (1853) triều Tự Đức. Làm quan đến chức Tri phủ phủ Bình Giang (Hải Dương) và đã hy sinh trong khi cầm quân chống giặc phỉ đến cướp bóc trong địa hạt. Hiện tại, ở từ đường họ Nguyễn - nơi thờ phụng ông, con cháu còn lưu giữ được 4 bức trướng khổ rộng viết chữ Hán mà nội dung là lời mừng (khi ông đỗ Tiến sĩ) và lời điếu (sau khi ông qua đời). Trong số đó duy nhất còn một bức trướng mừng là còn nguyên vẹn (có rách thủng vài chỗ nhưng không đáng kể) do 3 dải gấm vàng kết lại mà thành khổ 135x151cm. Phần diềm bao quanh bằng gấm tím, bề rộng 25cm, được trang trí bằng nhiều họa tiết hoa lá trông rất tinh vi và sinh động. Nội dung bức trướng gồm 2 phần: bên phải là văn mừng và bên trái là lạc khoản. Đặc biệt qua phần lạc khoản này mà hậu thế ngày nay biết thêm giới sĩ phu người Nghệ Tĩnh cùng thời và thân quen với Tiến sĩ Nguyễn Hữu Điển thật đông đảo.

Văn nghĩa của toàn bức trướng như sau:

Thiết nghĩ: Người Hoa Diễn(1) vốn hiếu học, khí tiết thanh cao, thuần khiết tựa núi cao, sông sâu mênh mang kim cổ. Đến mãi bây giờ, nơi đây vẫn nổi trội về đường khoa giáp, sĩ hoạt hiển đạt. Văn chương, đức nghiệp sáng ngời, sử sách đã nói lên mối tương quan giữa phong thổ và nhân tài là thế…

Như dòng dõi họ Nguyễn ở Nam Đường thuộc Châu Hoan ta, ngược về thời Lê cũ có Ngự sử đài là Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1676)(2) lập nên phái hệ thi thư truyền nối đến nay. Tiếp sau triều Nguyễn, lại có Cử nhân khoa Mậu Tí (1828) được bổ Tri huyện Thiên Thi(3) là người đã dày công trong việc vun trồng ân đức cho đời sau. Nối nghiệp tiền nhân, thầy Nguyễn(4) từ nhỏ đã được giáo huấn qua thầy và bạn suốt 3 năm tại nhà. Tự thấy sự học vốn rộng lớn, chẳng biết thế nào là đủ nên càng dốc chí chăm chỉ, chuyên cần. Thế rồi qua kỳ thi Hương mùa thu năm Bính Ngọ (1846) đã diễn ra tốt đẹp; nhưng trải đến thi Hội xuân sau càng thấu hiểu rằng muốn trở thành người tài năng thực sự thì cũng tựa như vàng kia phải qua lò luyện đủ trăm lần mới gọi là vàng ròng hoặc như luyện đan dược chưa đủ chín lần chưng cất thì chưa thể thành được. Và thế là tới kỳ Xuân thí [năm nay] trước sau đều hợp cách, nên lọt vào Đình thí. Và rồi một lần nữa, nhờ ứng đáp trôi chảy nên được [Nhà Vua] ban phong “Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân đệ nhị danh” (Tiến sĩ hàng thứ hai - ND) cùng một bảng với bốn anh tài khác trong nước. Trải các triều đại xưa nay, việc mở khoa thi Tiến sĩ để chọn lựa nhân tài đều được tiến hành theo nghi thức điển lễ long trọng, và không chỉ dân chúng kinh đô náo nức chào đón mà kể cả các địa phương [có con em ứng thí] cũng đều mừng vui trông đợi. Hiện nay, Đức vua anh minh, tôn kính đang ra sức quần tụ mọi hiền tài, coi trọng nghĩa lý, chính học; còn những cái mang tính tô vẽ màu mè hoặc phù phiếm không thiết thực chỉ nhằm phô trương bề ngoài thì đều bị gạt bỏ. Chính thầy Nguyễn thời trai trẻ đã cùng dăm ba bạn bè đồng trang lứa có chung chí hướng miệt mài rèn luyện đức hạnh và tài năng, ngõ hầu báo đáp ơn trên. Và đương kim Hoàng thượng cất nhắc ông như hiện nay càng làm rạng rỡ thêm ân trạch của bậc đế vương. Mai rày, những ai là kẻ sĩ vinh hiển thuộc người Hoan Châu cũng đều là chỗ bạn bè thân tình cùng xứ sở của chúng ta. Đạt được điều mong muốn ấy há chẳng vui hay sao! Tuy nhiên không dám khoe khoang, mà chỉ nói lên điều đắc ý của ngày vinh quy. Vậy xin có lời mừng này !

Trung tuần tháng 5 năm Tự Đức thứ 6 (1853).

Sĩ phu Nghệ Tĩnh(5) chúc mừng:

Thượng thư Bộ Hộ sung Sử quán Phó tổng tài kiêm quản Quốc tử giám sự vụ Ngụy Khắc Tuần.

Tả Tham tri bộ Binh kiêm quản Hàn lâm viện sung Kinh diên nhật giảng quan Trương Quốc Dũng.

Quang lộc tự khanh biện lý sự vụ Bộ Lại Tạ Hữu Khuê.

Quyền (nguyên văn: thự) án sát sứ tỉnh Bình Thuận Phan Nhật Tỉnh; quyền Lang trung Bộ Hình Đặng Huy Thuật; quyền Lang trung Bộ Hộ Đặng Trọng Dật; quyền Lang trung Bộ Lễ Hồ Sĩ Tuần; quyền Lang trung Bộ Hình Lê Cán; quyền Lang trung Tôn nhân phủ Phan Đình Tuyển; Chưởng ấn Cấp sự trung Bộ Lễ Vũ Nguyên Dinh (Doanh); quyền Tập hiền viện Thị giảng học sĩ Bùi Thức Kiên; Giám sát ngự sử đạo Định Yên Trần Tuấn; Tập hiền viện Thị độc Nguyễn Thái Đễ; Viên ngoại lang Bộ Binh Lê Dụ; Đốc học tỉnh Quảng Bình Bùi Sĩ Tuyển; Đốc học tỉnh Bình Định Trần Nguyên Hy; Đốc học tỉnh Phú Yên Nguyễn Huy Phiên; Lĩnh quyền Đốc học tỉnh Bắc Ninh Ngô Phùng; Hàn lâm viện Thị giảng Nguyễn Huy Tuấn; Hàn lâm viện Thị giảng Nguyễn Sĩ ấn; Tri phủ phủ Thăng Bình Nguyễn Liêm; Tri phủ phủ Cam Lộ Bùi Hoàng Nghị; Nguyên Tri huyện Kim Sơn Bùi…(?) Tri phủ phủ Hoằng Hóa Hồ Ngọc Ban; Tri phủ phủ Hoài Nhơn Nguyễn Xuân Tùng; Tập hiền viện trước tác Phạm Huy; Hàn lâm viện trước tác Nguyễn Thái; Trước tác sung Quốc tử giám học chính Trương Danh Chấn; Hậu bổ Đồng Tri phủ Phan Văn Phong; Huấn đạo huyện Hương Thủy Cao Đăng Ngoạn; Hậu bổ Đồng tri phủ Nguyễn Huy Bính; Nguyên Tri huyện Quảng Điền Hồ Sĩ Đĩnh; Tri huyện huyện Quảng Điền Trần Mậu; Hàn lâm viện tu soạn Trần Hữu Dực; Nguyên Tri huyện Trấn Yên Lê Văn Sanh; Tri huyện huyện Đông Sơn Nguyễn Dương Đạt; Huấn đạo huyện Lệ Thủy Cao Trọng Sính; Hàn lâm viện Kiểm thảo Phan Doãn Nhã; Nội các Kiểm thảo Nguyễn Thái Thông; Hàn lâm viện Biên tu Phan Độ; Huấn đạo huyện Quảng Điền Nguyễn Hân; Hành tẩu Cử nhân Hà Huy Nhiếp; Tọa giám Cử nhân Lê Hữu Dự; Tọa giám Cử nhân Nguyễn Hữu Khuê; Tọa giám Cử nhân Phạm Danh Chiểu; Tọa giám Cử nhân Trương Đình Thiên; Tọa giám Cử nhân Nguyễn Văn Nhu; Giám sinh Quốc tử giám Nguyễn Khánh; phó Ngự y(6) Hoàng Nguyên Lệ.

Đồng chúc mừng !

CHÚ THÍCH:

(1) Chỉ vùng Nghệ Tĩnh ngày nay.

(2) Tức Nguyễn Hữu Ban - Thủy Tổ chi họ Nguyễn mà Nguyễn Hữu Điển là hậu duệ đời thứ chín, làm quan trải đến Thượng thư bộ Binh, tước Trác Quận công.

(3) Tức Nguyễn Hữu Bích - thân phụ Nguyễn Hữu Điển, từng làm Tri huyện huyện Thiên Thi (Hưng Yên).

(4) Chỉ Nguyễn Hữu Điển.

(5) Nguyên văn: văn thân.

(6) Nguyên văn: Thái y viện Y phó.

Bao62

TÌM HIỂU VỀ QUẢ CHUÔNG CỔ NHẤT
XỨ KINH BẮC Ở CHÙA DIÊN PHÚC

NGUYỄN KHẮC BẢO

Miền đất cổ Kinh Bắc là một trong những cái nôi của nền văn hiến nước Việt. Ngay từ những năm đầu Công nguyên, vùng này đã là trung tâm của cả nước với các thủ phủ: Cổ Loa, Luy Lâu, Long Biên. Đây cũng chính là nơi dừng chân đầu tiên để truyền đạo Phật của các thiền sư Tây Trúc với các trung tâm Phật giáo nổi tiếng: Chùa Dâu, Phật Tích, Đại Lãm Sơn,... Đến khi vương triều Lý định đô ở Thăng Long thì chùa chiền càng được xây dựng nhiều ở Kinh Bắc - quê hương Lý Thái Tổ. Xứ Bắc đã trở thành phên dậu che chắn bảo vệ kinh thành, cũng lại là nơi thường xảy ra những cuộc quyết chiến chống quân xâm lược phương Bắc. Bởi vậy dù đã có hàng ngàn năm lịch sử xây dựng chùa chiền ở khắp các làng xóm trong vùng mà số chuông chùa được đúc từ đời Lê trở về trước hiện còn lại rất hiếm. Theo số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (từ 1992-1995) toàn tỉnh Hà Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang) hiện còn 130 quả chuông chùa, trong đó quả chuông có niên đại sớm nhất là quả chuông ở chùa Diên Phúc, thôn Khúc Toại xã Khúc Xuyên huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh được đúc năm Phúc Thái thứ 6 (1648) đời Lê Chân Tông cách nay 355 năm.

Chùa Diên Phúc nằm ở bờ nam sông cổ Ngũ Huyện Khê nối vùng Cổ Loa - Thăng Long với bờ nam sông Cầu, cách cổng Hậu thành Bắc Ninh và đường quốc lộ 1A có một cánh đồng nhỏ. Địa bàn này chính là nơi các đạo quân xâm lược phương Bắc thường tràn qua tàn phá vơ vét. Cuối đời Lê, chuông lại thường được dùng để đúc tiền. Thế mà tăng ni và nhân dân địa phương đã cất giấu, lưu giữ nguyên vẹn được quả chuông đến ngày nay là một thành tích bảo vệ di vật văn hóa lịch sử rất đáng trân trọng. Chuông cao 122cm, đường kính đáy 65cm, chu vi đáy 204cm chất liệu đồng thau. Quả chuông chia làm 4 múi, có quai được cách điệu bởi hai con rồng đấu lưng vào nhau rất khỏe đẹp, miệng chuông được trang trí họa tiết hình cánh sen, các hoa văn, đường diềm và chữ khắc trên chuông còn rất rõ nét và đẹp. Bài tự và minh khắc trên chuông như sau:

Phiên âm:

TÂN TẠO CHÚ DIÊN PHÚC TỰ HỒNG CHUNG

Đại Minh quốc, Vân Thủy tỳ khưu Sa môn Minh Hành thụ ký - đệ tử:
Từ Sơn phủ, Yên Phong huyện, Khúc Toại xã, Sa Di tự Minh Trực; nãi phiệt duyệt tích thiện chi gia, hậu duệ từ bi thiện niệm chi đạo.
Hạnh ngộ tổ sư giáo hóa, quán thế phù hư, phi kiên tri thân tri mộng, bất như vật dã. Khải hoàn hương quán, thiết kiến bản xã Diên Phúc tự, nguyên cổ tích danh lam, vị hữu hồng chung, tình dục tạo tác, lượng kỳ gia tài vị phu. Duyên ngộ quý quan Đô đốc Trung quận công Dương Bá Hợp, Quận phu nhân Lê Thị Ngọc Thái, hiệu Diệu Bảo, chưởng quyền quý tướng, chí đại trượng phu, tâm mộ thiện duyên gia tài dụng phát, hưng công tập phúc, ưng chú hồng chung, dĩ vi bảo khí, dĩ trọng thiền môn, tính bản xã sãi vãi, thập phương thiện tín đẳng viên nhân phụ hội công đức, dĩ tư ứng dụng.
Nãi ư Mậu Tý niên, thập nguyệt, nhị thập tam nhật, lương thì, chú hồng chung viên thành hoàn hảo. Kim phù chung dã, dĩ ngũ hành chi khí, dĩ ngũ âm chi thanh. Minh Vương văn chi sở dĩ thính chính, từ Phật văn chi sở dĩ giáng phúc. Tắc tri Phật - Pháp, dữ Pháp Vương đồng, thường lịch quan Nam Việt chi quốc, tự Lý Trần dĩ lai, sùng thượng Phật - Pháp, mỗi hữu chứng nghiệm. Cố Báo Thiên chi tháp hữu trúc, Quỳnh Vân chi Phật hữu tạo, Phổ Minh tự chi kiến đại đỉnh, Phổ Lại tự chi chú hồng chung. An Nam hiệu viết: Tứ khí. Cận thế kiến kỳ anh linh, nhân kỳ cựu tích. Huống ư bản tự, thủy tạo hồng chung, các tại hậu đường, vĩnh truyền vạn đại. Nguy nguy tương vọng, nhi kính sự Phật thần chi anh linh, Long thần chi hộ hựu, tăng tích hội nội, quý quan phiệt duyệt, công hầu tể tướng chi vinh. Thứ nhân an lạc, tư đào phú thọ chi ân. Toàn xã nhị thôn, nhân an vật thịnh, cộng hưởng cơ trù chi phúc. Thập phương tín thí, nam nữ cự tiểu, các bảo bình an chi khánh.
Khải văn tả tự, tính danh tạc nhập hồng chung, vĩnh truyền miêu duệ, ư thị hồ ký.

Minh viết:

Hoàng đồ củng cố,
Quốc thế an cường.
Bát man phụng cống,
Vạn quốc lai vương.
Yên Phong chi huyện,
Khúc Toại xã hương.
Tự danh Diên Phúc,
Vị trấn Nam phương.
Phong cảnh hoàn hảo,
Chế độ kỷ cương.
Phật thần hiển ứng,
Phù hộ đương hương.
Quý quan chức chưởng,
Phụ tá Thánh hoàng.
Tiền Chu - Tước triều(2),
Hậu Huyền - Vũ giang(3).
Tả hữu thị tứ,
Nội ngoại nghiêm trang.
Vũ thăng quận quốc,
Văn chiếm bảng hoàng(4)
Nông đa phú túc,
Tính mãn lẫm thương.
Công thương lân ngõa,
Tài lộc mãn đường.
Sư cao công lộc,
Phú quý vinh quang.
Triêu chung mộ cổ,
Chúc thánh phần hương.
Hồng chung nhất khấu,
Thanh đạt thập phương.
Hạ thông địa phủ,
Thượng thấu thiên đường.
Thiên tăng ngũ phúc,
Phật tứ bách tường.
Thánh hiền chứng giám,
Sãi vãi thọ trường.
Toàn thôn cự tiểu,
Nhân vật bình khang.
Đàn na hội nội,
Danh bảo vĩnh xương
Sở hữu tính danh,
Vu hậu khai tường.
Phúc Thái lục niên thập nguyệt nhị thập tam nhật.

Dịch nghĩa:

ĐÚC MOIỨ QUẢ CHUÔNG LỚN CHÙA DIÊN PHÚC

Đệ tử tỳ khưu Sa môn Minh Hành Vân thủy tể khưu nước Đại Minh là vị đệ tử đã được thụ kí(1) ghi lại:
Sa Di tự Minh Trực người xã Khúc Toại huyện Yên Phong phủ Từ Sơn là hậu duệ của gia đình dòng dõi thế gia, chăm lo làm điều lành, luôn chú trọng từ bi thiện niệm. May được gặp vị Tổ sư giáo hóa cho nên hiểu được cõi đời chỉ là phù phiếm hư không, nếu không bền lòng tìm hiểu được đời mình cũng chỉ là giấc mộng thì không hiểu được lẽ của vạn vật. Đến khi Người trở về quê quán, trộm thấy chùa Diên Phúc nguyên là nơi danh lam cổ tích mà chưa có một quả chuông lớn, lòng muốn tạo tác nhưng liệu tính thấy gia tài của nhà chưa đủ đáp ứng. May gặp được quý bà Lê Thị Ngọc Thái hiệu Diệu Bảo là phu nhân của quý quan Đô đốc Trung quận công Dương Bá Hợp là bậc quý tướng nắm quyền, chí đại trượng phu tâm mộ thiện, đem gia tài nhà mình dùng vào việc hưng công làm việc phúc, ưng thuận góp vào đúc quả chuông lớn, để làm bảo khí, tăng giá trị cửa thiền. Đã cùng với sãi vãi trong xã và thiện nam tín nữ thập phương, quan viên cùng góp công đức của cải để dùng vào việc đúc chuông. Chọn vào giờ tốt ngày 23 tháng 10 năm Mậu Tý đúc một quả chuông lớn, công việc đã hoàn thành tốt đẹp.
Kìa như quả chuông, chính là Khí của Ngũ hành, là Thanh của Ngũ âm. Bậc vua sáng nghe được sẽ chăm lo việc triều chính, chư Phật hiền từ nghe được sẽ giáng xuống phúc lành. Như vậy thì phép nhà Phật và phép nhà Vua là giống nhau.
Từng được thấy: Nước Nam Việt ta từ thời Lý - Trần đến nay, luôn luôn sùng trọng Phật - Pháp, thường được chứng nghiệm rõ ràng. Cho nên mới có việc xây tháp Báo Thiên, tạc tượng Phật chùa Quỳnh Vân, tạo đỉnh lớn ở chùa Phổ Minh, đúc chuông lớn chùa Phổ Lại. An Nam gọi là: Tứ khí. Đời gần đây thấy ở những chốn cũ ấy đều anh linh cả.
Huống chi chùa nhà vừa đúc mới quả chuông lớn, gác chuông ở hậu đường để lưu truyền mãi muôn đời. Càng ngắm cảnh cao vòi vọi, càng tôn kính Phật thần anh linh, Long thần phù hộ cho các bậc quan lại dòng dõi, công hầu, tể tướng càng thêm vẻ vang. Các tầng lớp thứ nhân, quan viên bản xã đều được mừng đón ơn giàu có, vui vẻ, sống lâu. Toàn xã hai thôn, dân yên vật thịnh, chung hưởng đời đời phúc lớn. Tín thí mười phương, nam nữ lớn bé đều mừng đón hưởng phúc bình an.
Theo như lệ xưa, xin được viết chữ khắc vào chuông, ghi tính danh những người có công của đóng góp để truyền mãi đời sau. Vì thế làm bài kí ghi lại.

Nay có bài minh rằng:

Cơ đồ củng cố,
Thế nước an cường.
Tám man vào cống,
Vạn nước lại dâng.
Yên Phong tên huyện,
Khúc Toại là hương.
Chùa tên Diên Phúc,
Trấn cõi Nam phương.
Phong cảnh tươi đẹp,
Chế độ kỷ cương.
Phật thần hiển ứng,
Phù hộ quê hương.
Chức quan nắm giữ,
Phò giúp Thánh hoàng.
Trước sao Chu - Tước,
Sau Huyền - Vũ giang.
Hai bên phố xá,
Trong ngoài nghiêm trang.
Võ thăng Quận quốc,
Văn chiếm bảng vàng.
Nhà nông lắm thóc,
Đầy ắp kho tàng.
Công thương giàu có,
Tài lộc huy hoàng.
Sư cao công lộc,
Phú quý vinh quang.
Sớm chuông chiều trống,
Chúc Thánh thắp hương.
Chuông to gõ tiếng,
Vang vọng mười phương.
Dưới thông địa phủ,
Trên thấu thiên đường.
Trời tăng Ngũ phúc,
Phật ban bách tường.
Thánh hiền chứng giám,
Sãi vãi thọ trường.
Toàn thôn già trẻ,
Mọi người an khang.
Lập đàn mở hội,
Giữ được danh thơm.
Lưu truyền mãi mãi,
Cháu con rõ ràng.
Ngày 23 tháng 10 năm Phúc Thái 6 (1648).

Trên đây là toàn bộ bài tựa và bài minh khắc ở một múi ở quả chuông. Ba múi chuông còn lại dành để ghi tính danh của nhiều vị Quận công, Đề đốc, Quận chúa, Đô đốc cùng gia quyến ở kinh thành Thăng Long đã có thiện tâm công đức đóng góp bạc trắng, đồng thau, tiền cổ vào việc đúc chuông.

Danh sách gồm có:

- Đô đốc Quận công Dương Bá Hợp và Quận phu nhân Lê Thị Ngọc Thái:

Ngân tử thập thành sắc: Tứ dật (bạc trắng 80 lạng, 1 dật bằng 20 lạng); tiền bát quan (tiền 8 quan).

- Yên Dũng huyện, Phú Khê xã Đề Đốc Lương Quận công Nguyễn Công Luận, Đồng: Tứ thập tam dật (43 dật, tương đương 860 lạng đồng).

- Đề đốc Ân Quận công Hoằng Nhân Hậu; Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Đảo, Lê Thế Bảng, Phu nhân Trịnh Thị Ngọc Nga, Trịnh Phát, Lê Thị Ngọc Diếu, Hoằng Thị Đề, Lê Hồng Hảo, Lê Thị Hảo. Thiệu Thiên phủ, Vĩnh Phúc huyện, Bình Lăng xã, Tín vãi Biện Thượng hương, Đô đốc Thắng Quận công Trịnh Đá, Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Bằng, nữ tử Trịnh Thị Ngọc Bảo, Trịnh Thị Ngọc Bảng, Trịnh Thị Ngọc Do, Trịnh Thị Ngọc Ân, Trịnh Thị Ngọc Dạng, Trịnh Thị Ngọc Đổ: Ngân tử thập thành sắc: ngũ lạng, tiền nhất quán ngũ mạch (bạc trắng 5 lạng, tiền 1 quan 5 mạch - mạch là đơn vị tiền cổ có giá trị 60 hay 70 đồng tiền).

Vài nhận xét

Qua những dòng thông tin trên chúng ta có thể suy luận ra rằng: vào hồi thế kỷ XVII con sông Ngũ Huyện Khê (tên cổ là sông Thiếp) còn là một đường giao thông thủy quan trọng của nước Đại Việt. Từ kinh thành Thăng Long xuống thuyền đi ngược sông Hồng một quãng rẽ sang sông Đuống, tới vùng Ao Cả, Vực Dê (huyện Đông Anh bây giờ) là vào thượng nguồn sông Thiếp. Từ đó thuyền xuôi dòng sông Ngũ Huyện Khê là tới vùng Khúc Toại qua Quả Cảm ra tới sông Cầu rồi có thể đi ra vùng Đông Bắc. Có lẽ đoàn thuyền của các Quận công, Đô đốc, Công chúa, Quận chúa con cháu vua Lê chúa Trịnh trong một chuyến tuần du ra vùng biển Đông Bắc đã dừng chân nơi cầu Chọi - cây cầu cổ có từ thời Lý bắc qua sông Ngũ Huyện Khê - lên viếng cảnh đẹp chùa Diên Phúc nên đã phát tâm công đức đóng góp nhiều tiền của để đúc lên quả Đại hồng chung sánh ngang với Tứ đại khí thời Lý Trần nói trên.

Về phía nhân dân địa phương, ngoài bản thân vị Sa di Minh Trực cung tiến "tiền ngũ quán" (năm quan tiền) còn có sự đóng góp của "quan viên lương lão, thôn trưởng và mọi người trên dưới trong các giáp" thuộc thôn Khúc Toại. Trong xứ Kinh Bắc còn có sự đóng góp của "quan viên hương lão và mọi người trên dưới trong các giáp" gồm tên của hàng trăm người thuộc các địa phương sau: Viêm Xá, Hữu Chấp, Quả Cảm, Đại Lâm, Bình Lục, Châm Khê, Lạc Nhuế, Yên Xá, Nguyễn Xá, Đông Xá, Dương ổ, Yên Dũng. ở các địa phương khác cũng có sự đóng góp của quan viên các phủ huyện: Tứ Kỳ (Hải Dương), Khoái Châu (Hưng Yên), Lôi Dương, Vĩnh Phúc (Phủ Thiệu Thiên, Thanh Hoa thừa tuyên - nay là tỉnh Thanh Hóa).

Điều đó cho thấy công việc đúc chuông của chùa Diên Phúc đã được sự hưởng ứng nhiệt tình của quan lại, tăng ni, hương lão, thiện nam tín nữ ở khắp các địa phương trong cả nước. Dòng chữ nhỏ cho ta biết một thông tin thú vị: Thư chung Nguyễn Quang Hoa ký, hoàn công tượng thích tự hảo, tiền nhị quan. Tạm dịch nghĩa là: "Chữ viết trên chuông do Nguyễn Quang Hoa ghi, toàn bộ công thợ khắc chữ đẹp vào chuông là hai quan tiền".

Trên đây là đôi nét giới thiệu sơ lược về quả chuông cổ nhất xứ Kinh Bắc hiện còn lưu giữ được ở chùa Diên Phúc, thôn Khúc Toại, xã Khúc Xuyên, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Vừa qua nhân dân địa phương đã xây mới được tòa tam quan vững vàng to đẹp để treo và bảo quản quả chuông cổ quý hiếm nói trên. Mong rằng tiếng chuông chùa ngân nga hàng ngày sẽ giúp cho mọi người luôn tĩnh tâm làm việc thiện được hưởng ngũ phúc bách tường trong cuộc sống.

CHÚ THÍCH:

(1) Thụ ký: Đức Phật ghi nhận đặc biệt cho chúng sinh nào đã phát tâm sau này sẽ được thành Phật. Từ để ghi nhận vị đệ tử nào đã phát tâm, có nhiều công đức sau này sẽ thành chính quả.

(2) Sao Chu Tước là chỉ hướng Nam, chùa nhìn về hướng Nam.

(3) Sao Huyền Vũ chỉ hướng Bắc, phía sau chùa chính là sông Ngũ Huyện Khê.

(4) Năm 1496 cụ Nguyễn Thượng Nghiêm, người thôn Khúc Toại đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ, đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến Thừa Chính sứ, đã từng đi sứ phương Bắc. Nay ở cạnh chùa còn đền thờ Ngài.

Minh62

HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ VỀ GIAO LƯU VĂN HOÁ TRUNG VIỆT

Hội thảo khoa học quốc tế “Sự truyền bá chữ Hán và giao lưu văn hóa Trung - Việt” do Học viện Khoa học Xã hội Nhân văn trường Đại học Thanh Hoa, Đại học Trung văn Hồng Kông và Viện nghiên cứu sinh Thâm Quyến thuộc Đại học Thanh Hoa đồng tổ chức, trong hai ngày 19-20/12/2003, tại khu nghỉ ở vùng đồi Kỳ Lân phía Đông bắc thành phố Thâm Quyến, tỉnh Quảng Đông Trung Quốc.

Hơn một trăm học giả đến từ các trường đại học, học viện, viện nghiên cứu của các nước và khu vực: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canađa, Đức, Đài Loan, Ma Cao và Việt Nam đến tham gia hội thảo. Việt Nam có 9 nhà nghiên cứu được Ban tổ chức hội thảo mời tham dự chính thức, trong đó có 6 cán bộ hiện đang công tác ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Trung tâm khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia.

Trong phiên khai mạc, đại biểu Viện Nghiên cứu Hán Nôm tham gia Chủ tịch đoàn, phát biểu chào mừng hội nghị, đọc bài tham luận “Di sản Hán Nôm Việt Nam” của PGS. TS. Viện trưởng Trịnh Khắc Mạnh gửi tới hội thảo. Đến với hội thảo, đoàn học giả Việt Nam đã có các tham luận nghiên cứu khoa học về các vấn đề: Quá trình truyền bá chữ Hán vào Việt Nam và vai trò của nó trong việc hình thành, phát triển văn hóa học thuật bản địa; Nghiên cứu gia phả viết bằng chữ Hán ở Việt Nam; Văn bia; Chữ Nôm; Hương ước; Văn bản học cổ tịch Hán Nôm Việt Nam v.v...

Di sản Hán Nôm và văn hóa truyền thống Việt Nam được các nhà khoa học các nước đặc biệt chú ý, thảo luận sôi nổi và thấy rằng văn hóa truyền thống Việt Nam cùng với văn hóa truyền thống Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc có nhiều nét tương đồng, đó là cơ sở để các quốc gia này hợp tác, xích lại gần nhau hơn. Các học giả cùng có chung kiến nghị các trường đại học, các viện nghiên cứu trên thế giới cần mở những cuộc hội thảo tương tự để nghiên cứu về Việt Nam sâu sắc hơn.

Đinh Văn Minh
(Viện Nghiên cứu Hán Nôm)