 |

VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA
TRỊNH KHẮC MẠNH
LTS. Để bổ sung thành tích của Viện Nghiên cứu Hán Nôm trong Báo cáo của GS. TS. Đỗ Hoài Nam tại Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Tạp chí Hán Nôm xin đăng bài này để bạn đọc cùng tham khảo.
Di sản Hán Nôm gồm những thư tịch và tài liệu viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, là kho văn hóa thành văn to lớn và phong phú nhất của nước ta trước khi có các văn bản ghi bằng chữ La-tinh. Bảo tồn lâu dài và khai thác có hiệu quả kho di sản văn hóa này, là để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam trong thời đại ngày nay.
Xuất phát từ yêu cầu và nhiệm vụ trên, năm 1970 Ban Hán Nôm thuộc ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam được thành lập. Ban đã quy tụ nhiều nhà hoạt động cách mạng lão thành và có kiến thức Hán Nôm uyên bác như Phạm Thiều, Thạch Can, Cao Xuân Huy, Hoa Bằng, Đào Phương Bình, Ca Văn Thỉnh v.v., cùng các cộng tác viên như Trần Duy Vôn, Lê Duy Chưởng, Nguyễn Hữu Chế, Nguyễn Văn Lãng v.v.. Ban đã tổ chức nghiên cứu và phiên dịch các tài liệu Hán Nôm trong 9 năm (1970-1979).
Ngày 13/9/1979, Viện Nghiên cứu Hán Nôm được thành lập trên cơ sở Ban Hán Nôm, theo quyết định số 326/CP của Hội đồng Chính phủ và được tái khẳng định thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia trong Nghị định số 23/CP ngày 22/5/1993 của Chính phủ. Đây là một cơ quan duy nhất ở Việt Nam vừa là trung tâm bảo tồn các nguyên bản chữ Hán và chữ Nôm, vừa là trung tâm khai thác các tư liệu chữ Hán và chữ Nôm.
Nhiệm vụ cụ thể của Viện Nghiên cứu Hán Nôm là:
1/ Về bảo tồn, nghiên cứu khai thác các tư liệu Hán Nôm và đào tạo cán bộ nghiên cứu Hán Nôm được xác định ở các mặt cụ thể sau:
- Bảo tồn và giám định các nguyên bản chữ Hán chữ Nôm, sao các bản gốc thành nhiều bản để sử dụng hoặc cung cấp cho các thư viện và các cơ quan có nhu cầu;
- Tổ chức biên dịch (gồm cả chú giải) và chính thức công bố các tư liệu chữ Hán chữ Nôm, duyệt lại các bản dịch Hán Nôm đã được công bố;
- Nghiên cứu văn bản học, biên soạn những sách công cụ cần thiết cho công tác biên dịch và nghiên cứu tư liệu chữ Hán chữ Nôm;
- Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu chữ Hán, chữ Nôm (1).
2/ Về công tác sưu tầm và bảo quản tư liệu chữ Hán và chữ Nôm, Viện được Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam giao các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Tiến hành điều tra, thu thập các văn bản Hán Nôm và các tư liệu liên quan ở Việt Nam và ở nước ngoài, nhằm thống nhất quản lý thư tịch và tài liệu Hán Nôm trong phạm vi cả nước.
- Hệ thống hóa và gìn giữ các văn bản chữ Hán, chữ Nôm và các tư liệu liên quan hiện còn và sưu tầm được, đảm bảo kỹ thuật bảo tàng và kỹ thuật thư viện, nhằm lưu giữ và cho nhân bản để phục vụ cho công tác nghiên cứu trước mắt và lâu dài(2).
3/ Về công tác đào tạo cán bộ nghiên cứu Hán Nôm, Viện được giao nhiệm vụ đào tạo NCS. trong nước và cao học:
- Năm 1994, Viện được giao nhiệm vụ là cơ sở đào tạo trên đại học(3).
- Năm 1996, Viện được giao nhiệm vụ đào tạo cao học(4).
Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã triển khai hoạt động trên các mặt công tác và thu được những thành tựu nhất định, đáng khích lệ.
NHỮNG THÀNH TỰU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC TRONG NHỮNG NĂM QUA
1. Tổ chức Hội thảo khoa học để hoạch định phương hướng phát triển của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và ngành Hán Nôm học
Viện đã tổ chức các hội thảo khoa học nhằm thu hút các chuyên gia Hán Nôm trong nước và quốc tế tham gia về phương hướng phát triển của Viện nói riêng và của ngành Hán Nôm học Việt Nam nói chung. Xin đơn cử một số hội thảo được coi như những mốc quan trọng trong sự phát triển của Viện Nghiên cứu Hán Nôm:
- Hội thảo về Thư tịch cổ và nhiệm vụ mới (1979), đặt ra những phương hướng, nhiệm vụ trước mắt và lâu dài về công tác sưu tầm, bảo quản, biên dịch, nghiên cứu khai thác, công bố giới thiệu di sản Hán Nôm và đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu Hán Nôm cho ngành Hán Nôm học Việt Nam; nhằm góp phần vào công cuộc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc theo chủ trương của Đảng và Nhà nước.
- Hội thảo về Dịch thuật (1981), nêu lên những vấn đề quan trọng về công tác phiên âm và dịch nghĩa các tác phẩm Hán Nôm, làm sao các tác phẩm Hán Nôm khi dịch ra tiếng Việt hiện đại phải đảm bảo được các yếu tố cơ bản: tín, đạt, nhã. Hội thảo đã thống nhất cách đặt vấn đề là: dịch từ Hán sang Việt phải được coi là một khoa học và một nghệ thuật, nhằm chuyển tải những thông tin chính xác từ các văn bản viết bằng chữ Hán và chữ Nôm do ông cha ta để lại cho thế hệ người Việt Nam hôm nay.
- Hội thảo về Văn bản học Hán Nôm (1982), nhận xét về tình hình, đặc điểm các văn bản Hán Nôm và nhiệm vụ cần thiết của công tác văn bản học Hán Nôm hiện nay; đánh giá khái quát quá trình phát triển của các văn bản và của công tác văn bản học Hán Nôm; xác định mối quan hệ giữa văn bản học và sử liệu học; những yêu cầu khoa học đối với việc khảo dị, hiệu đính khôi phục văn bản và công bố văn bản Hán Nôm. Hội nghị đã cố gắng góp phần xây dựng lý luận và giải quyết những vấn đề thực tiễn của công tác văn bản học Hán Nôm.
- Hội thảo về Sưu tầm bảo quản thư tịch và tài liệu Hán Nôm (1983), đặt ra những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài cho công tác sưu tầm, bảo quản các tư liệu Hán Nôm hiện còn. Về công tác sưu tầm, hội nghị đề xuất cần có một kế hoạch tổng thể và xác định những địa bàn trọng điểm để sớm triển khai công tác sưu tầm một cách có hiệu quả. Về công tác bảo quản, hội nghị nêu lên những nhiệm vụ cần tập trung giải quyết, như sắp xếp phân loại, phục chế tu bổ, bảo quản thật tốt các tài liệu Hán Nôm hiện có.
- Hội thảo về Chữ Nôm (1985), đề cập một cách khái quát tình trạng các văn bản Nôm và kinh nghiệm giải mã một số tác phẩm Nôm nổi tiếng, trên cơ sở đó đã cung cấp những vấn đề lý luận cho việc nghiên cứu chữ Nôm và việc giải mã các văn bản Nôm. Đặc biệt là việc nghiên cứu chữ Nôm và văn bản Nôm của các dân tộc ít người (Tày, Nùng, v.v.).
- Hội thảo Hán Nôm trong đổi mới (1991), gợi mở nhiều hướng phát triển mới cho hoạt động nghiên cứu Hán Nôm như gắn liền nghiên cứu chuyên môn Hán Nôm với thực tiễn xã hội hiện nay, áp dụng những phương tiện kỹ thuật tiến bộ vào việc quản lý và giải mã các tư liệu Hán Nôm, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ (đặc biệt là đào tạo Sau đại học), mở rộng quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế v.v.
- Từ năm 1996 đến nay, hàng năm Viện tổ chức Hội nghị Thông báo Hán Nôm học và in Kỷ yếu Hội nghị nhằm tạo điều kiện cho giới nghiên cứu thông báo những kết quả sưu tầm, phát hiện và nghiên cứu mới nhất về Hán Nôm học ở Việt Nam và thế giới.
2. Tập trung lực lượng nghiên cứu, biên soạn, phiên dịch và lần lượt công bố những tác gia, tác phẩm Hán Nôm có giá trị nhằm xã hội hóa di sản Hán Nôm và phục vụ cho sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Nhận thức được giá trị to lớn và sâu sắc của kho di sản Hán Nôm đối với việc nghiên cứu văn hóa dân tộc, cũng như các mặt hoạt động xã hội khác của dân tộc Việt Nam trải hàng ngàn năm lịch sử. Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 65, ngày 23/11/1945, về Bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, như: đình, chùa, cung điện, thành quách, bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở, v.v... có tính chất tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử(5). Bác Hồ là người thầy vĩ đại của Cách mạng Việt Nam, kết tinh những tinh hoa của các anh hùng dân tộc. Bác đã hoạt động thành công trên nhiều lĩnh vực: quân sự, chính trị, ngoại giao, văn học... Không những thế, Bác còn là một nhà Hán học. Bác Hồ là người rất quan tâm đến việc kế thừa và phát huy những tinh hoa của nền văn hóa dân tộc, nhất là trong việc gìn giữ và khai thác các tư liệu Hán Nôm. Các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước cũng rất quan tâm tới công tác sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu khai thác di sản Hán Nôm và đào tạo cán bộ nghiên cứu Hán Nôm. Trong bài Mấy vấn đề văn nghệ Việt Nam hiện nay, đồng chí Trường Chinh viết: "Những tác phẩm cổ điển là tinh hoa của nền văn nghệ dân tộc qua nhiều thế kỷ, do đời sống và tiếng nói dân tộc ngày một phong phú mới dần tạo nên"(6). Khi bàn về việc tiếp thu di sản văn hóa dân tộc, đồng chí Phạm Văn Đồng đề ra yêu cầu về đào tạo đội ngũ cán bộ là: "Chúng ta cần có những người giỏi và có trình độ cao, có như thế mới sáng tạo, mới sưu tầm một cách có ý thức và nghiên cứu để vận dụng một cách sáng tạo vốn cũ"(7) .
Nhận thức được giá trị lớn lao của di sản Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm trong nhiều năm qua đã hướng nghiên cứu khoa học tập trung vào các vấn đề sau:
1- Để góp phần xây dựng cơ sở lý luận khoa học cho ngành Hán Nôm, vạch ra những định hướng phát triển trong từng thời kỳ, Viện đã tập trung biên soạn những công trình mang tính chất cơ sở lý luận khoa học và tổng kết những thành tựu chung của ngành Hán Nôm học Việt Nam. Hướng việc nghiên cứu khoa học chuyên ngành nhằm giới thiệu tinh hoa văn hóa dân tộc, những tri thức khoa học của ông cha trải hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Với những công trình có tích chất lý luận về phương pháp luận cho ngành Hán Nôm học Việt Nam trong các lĩnh vực khoa học, như: văn bản học, văn tự học, văn tịch học, huấn hỗ học, gia phả học, bi ký học, v.v.; và những bài viết khoa học liên ngành, như: về tư tưởng chính trị xã hội, kinh tế, văn học, sử học, địa lý, ngoại giao, pháp luật, giáo dục và đào tạo, y học, xã hội học, tâm lý học, và một số vấn đề khác.
Trong thời gian qua, Viện đã và đang biên soạn một số công trình, có thể kể như: Thư tịch cổ nhiệm vụ mới (tập thể), Dịch từ Hán sang Việt một khoa học một nghệ thuật (tập thể), Một số vấn đề văn bản học Hán Nôm (tập thể), Lịch sử nghiên cứu thư tịch Việt Nam (Nguyễn Văn Bến chủ biên), Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các đời (Ngô Đức Thọ), Văn bản học Hán Nôm (Ngô Đức Thọ chủ biên), Hồ Xuân Hương - Tiểu sử văn bản, Tiến trình huyền thoại dân gian hóa (Đào Thái Tôn), Những vấn đề văn bản Quân trung từ mệnh của Nguyễn Trãi (Nguyễn Văn Nguyên), Nghiên cứu văn bản học Đăng khoa lục Việt Nam (Nguyễn Thúy Nga), Văn học chữ Hán trước thế kỷ X (Trần Nghĩa), Một số vấn đề về văn bia Việt Nam (Trịnh Khắc Mạnh), Phương pháp làm sử của Lê Quý Đôn (Đinh Công Vĩ), Viện Nghiên cứu Hán Nôm - 30 năm xây dựng và phát triển (tập thể), Ngữ văn Hán Nôm gồm 4 tập (Trần Lê Sáng chủ biên), Nhìn lại Hán Nôm học Việt Nam thế kỷ XX (tập thể), v.v..
2- Nghiên cứu về văn tự, đặc biệt là chữ Nôm - loại chữ do ông cha ta sáng tạo ra, góp phần nghiên cứu lịch sử chữ viết và tiếng Việt. Chữ Nôm Việt là một sáng tạo rất có ý nghĩa về văn hóa của ông cha ta. Chữ Nôm ra đời đánh dấu một bước phát triển quan trọng của nền văn hóa dân tộc trên con đường độc lập tự chủ. Kho tàng văn thơ Nôm Việt còn lại ở nước ta khá nhiều. Một nguồn di sản văn hóa vô cùng phong phú của ông cha ta viết bằng chữ Nôm đang đợi chúng ta phiên âm, giải mã và nghiên cứu; nhằm tìm hiểu quá khứ dân tộc, nhất là nền văn hóa truyền thống dân tộc, thông qua ngôn ngữ văn tự dân tộc các thời kỳ lịch sử.
Công tác nghiên cứu về văn tự mà nổi trội là nghiên cứu về chữ Nôm của Viện trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu to lớn. Ở đây chúng tôi xin nêu hai vấn đề cơ bản sau:
+/ Nghiên cứu về văn tự, về chữ Nôm Việt; các công trình của Viện đã tập trung nghiên cứu về âm tiết và loại hình ngôn ngữ, khảo sát quá trình hình thành và phát triển chữ Nôm, cùng kết cấu nội tại của chữ Nôm, cách đọc chữ Nôm, mối quan hệ giữa chữ Nôm và tiếng Việt. Về lĩnh vực nghiên cứu văn tự và chữ Nôm, Viện đã có một số công trình, như: Âm tiết và loại hình ngôn ngữ (Nguyễn Quang Hồng), Nghiên cứu chữ Nôm Tày (Cung Văn Lược), Các phương thức biểu âm trong cấu trúc chữ Nôm Việt (Nguyễn Tá Nhí), Các phương thức biểu ý trong cấu trúc chữ Nôm Việt (Lã Minh Hằng), Mối tương quan giữa âm Hán Việt và âm Nôm trong cách đọc chữ Nôm (Trương Đức Quả), Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (Hoàng Thị Ngọ), Chữ Nôm và tiếng Việt qua văn bản Thiên Nam ngữ lục (Nguyễn Thị Lâm), Truyền kì mạn lục-Nghiên cứu văn bản và vấn đề dịch Nôm (Hoàng Hồng Cẩm), v.v..
+/ Về việc phiên âm các văn bản Nôm, Viện đã tập trung phiên âm các tác phẩm có giá trị văn chương, nhằm cung cấp một cách nhìn toàn diện về văn học Việt Nam thời trung đại, có thể kể như: Quốc âm thi tập (Cao Hữu Lạng), Hồng Đức quốc âm thi tập (tập thể), Ngọc kiều lê (Kiều Thu Hoạch), Thiên Nam minh giám (Hoàng Thị Ngọ), Thiên Nam ngữ lục (Nguyễn Thị Lâm), Lục Vân Tiên (Trần Nghĩa), Truyện Kiều (Đào Thái Tôn), Di văn chùa Dâu (Nguyễn Quang Hồng chủ biên), Thơ Nôm Hàn luật (Nguyễn Tá Nhí chủ biên), v.v.
+/ Tham gia xây dựng bảng mã chữ Nôm và đưa chữ Nôm vào bảng mã chuẩn quốc tế IRG/ISO, tổng số chữ Nôm Việt đã đưa vào kho chữ chung hiện nay là 9299 chữ, trong đó số chữ Nôm không trùng hình với chữ của các nước trong khu vực khoảng 4200 chữ. Tiếp tục sưu tầm và vẽ chữ Nôm để đưa vào bảng mã chuẩn quốc tế (gồm chữ Nôm Việt và chữ Nôm Tày), kế hoạch sẽ đưa thêm khoảng hơn 2.000 chữ mới.
+/ Cải tiến phần mềm phông chữ Hán để xây dựng bộ phông chữ Nôm, tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu đánh chữ Nôm bằng bàn phím máy vi tính.
3- Biên soạn sách công cụ, nhằm góp phần tạo nên những phương tiện tra cứu khi tiếp cận di sản Hán Nôm cho các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn nói chung và nghiên cứu Hán Nôm nói riêng. Việc biên soạn sách công cụ phục vụ nghiên cứu Hán Nôm phản ánh kết quả nghiên cứu và trình độ trưởng thành về khoa học. Trong thời gian qua Viện đã và đang tập trung biên soạn một số loại sách công cụ về chữ Hán, chữ Nôm, về địa danh, về sách thư mục, về các tác gia Hán Nôm, về những người đỗ đạt, v.v., có thể kể như: Từ điển chữ Nôm Việt (Nguyễn Quang Hồng chủ biên), Từ điển chữ Nôm Tày (Viện phối hợp với Hoàng Triều Ân và các chuyên gia nghiên cứu chữ Nôm Tày ở Cao Bằng), Từ điển Hán Việt (Phan Văn Các chủ biên), Từ thường dùng trong Hán văn cổ (Phan Văn Các), Đối chiếu chữ Hán thể triện, thảo, khải (Trịnh Khắc Mạnh - Nguyễn Văn Nguyên), Tên làng xã Việt Nam (Dương Thị The - Phạm Thị Thoa), Bảng tra thần tích theo làng xã (Nguyễn Thị Phượng chủ biên, Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Hữu Mùi, Bùi Hoàng Anh), Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam (Ngô Đức Thọ chủ biên), Các nhà khoa bảng Việt Nam (Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi), Di sản Hán Nôm - Thư mục đề yếu gồm 3 tập chính và 2 tập bổ di (Trần Nghĩa chủ biên), Thư mục Hán Nôm - mục lục tác giả (Dương Thái Minh), Thư mục Văn bia (Hoàng Lê chủ biên), Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (Nguyễn Quang Hồng chủ biên), Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam (Trịnh Khắc Mạnh), Thư mục văn khắc Hán Nôm Việt Nam (Trịnh Khắc Mạnh chủ biên), v.v.
4- Tiến hành nghiên cứu khai thác và biên dịch những bộ tùng thư theo chuyên đề, nhằm xã hội hoá ngày càng nhiều các tư liệu Hán Nôm, giúp cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay hiểu được giá trị đích thực của văn hóa truyền thống trong lịch sử. Một số bộ tùng thư mà Viện đã và đang triển khai trong thời gian qua, có thể kể như: Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam gồm 4 tập (Trần Nghĩa chủ biên), Thư tịch Hán Nôm về nghề nông cổ truyền (tập thể), Phụ nữ Việt Nam qua thư tịch Hán Nôm (Đỗ Thị Hảo chủ biên), Thơ đi sứ (tập thể), Tổng tập văn khắc Hán Nôm Việt Nam 3 tập (tập thể), Văn bia thời Mạc (Đinh Khắc Thuân), Văn bia Hà Nội (tập thể), Bia Văn Miếu Hà Nội (Ngô Đức Thọ chủ biên), Tục lệ Lạng Sơn (Hoàng Giáp chủ biên), Văn bản thần tích Thái Bình (Mai Hồng), Các văn bản pháp luật Việt Nam thời phong kiến (Nguyễn Ngọc Nhuận chủ biên), Ấn triện Việt Nam (Nguyễn Công Việt), Thư tịch gia phả (Nguyễn Hữu Tưởng), Văn bia xứ Kinh Bắc và làng xã (Phạm Thùy Vinh), Địa chí (Lê Việt Nga), Văn bia thời Nguyễn (Nguyễn Ngọc Nhuận chủ biên), Văn chuông thời Nguyễn (Nguyễn Thị Nguyệt), Văn xuôi đi sứ (Nguyễn Kim Oanh), Ca trù (Nguyễn Xuân Diện), Gia huấn (Lê Thu Hương), v.v.
5- Tiến hành biên dịch và giới thiệu các tác gia Hán Nôm ưu tú và các tác phẩm Hán Nôm có giá trị trong chiều dài lịch sử văn hóa Việt Nam. Như mọi người đều biết, ở mọi thời đại, ông cha ta đều có những thành tựu về mọi mặt trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước; trong mỗi lĩnh vực đều có những đỉnh cao mãi mãi tự hào, và điều may mắn là các tác phẩm Hán Nôm của các bậc thiên tài ấy một phần còn giữ được đến ngày nay. Đánh giá tổng quát di sản Hán Nôm của dân tộc Việt Nam, đồng chí Trường Chinh đã từng nhận định: “Ngô Quyền: quân sự học; Trần Hưng Đạo: quân sự học; Nguyễn Trãi: quân sự học, chính trị học và văn học; Lương Thế Vinh: toán học; Nguyễn Bỉnh Khiêm: triết học và văn học; Lãn Ông: y học; Lê Quý Đôn: văn học, khoa học; Quang Trung: quân sự học, chính trị học; Ngô Thì Nhậm: chính trị học, quân sự học và văn học; Nguyễn Du: văn học, Phan Huy Chú: sử học; Cao Bá Quát: chính trị học và văn học; Nguyễn Đình Chiểu: chính trị học và văn học; v.v..”(8).
Trong những năm qua, Viện đã triển khai các hệ thống đề tài nghiên cứu giới thiệu tác gia, tác phẩm Hán Nôm, phần nào đáp ứng những thông tin thời sự, cập nhật của chuyên ngành Hán Nôm; việc làm này, không chỉ đối với các tác gia Hán Nôm nổi tiếng, mà kể cả các tác gia khác. Bởi lẽ các tác gia Hán Nôm “Mãi mãi là những ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam làm vẻ vang cho giống nòi”(9). Viện đã biên dịch và giới thiệu một số tác gia, tác phẩm, có thể kể như: Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh của Ngô Thì Nhậm (Hà Thúc Minh), Thơ văn Phan Huy ích gồm 3 tập (Nguyễn Ngọc Nhuận giới thiệu), Thơ văn Nguyễn Trãi (Nguyễn Đổng Chi chủ biên), Đại Việt sử ký tục biên (Ngô Thế Long và Nguyễn Kim Hưng), Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn (Nguyễn Tuấn Lương chủ biên), Thơ văn Ninh Tốn (Hoàng Lê chủ biên), Thơ văn Lê Thánh Tông (Mai Xuân Hải chủ biên), Lê quý dật sử (Phạm Văn Thắm), Trùng san Lam Sơn thực lục (Trần Nghĩa), Thơ văn Nguyễn Cao (Phan Văn Các), Hội Tao đàn (Nguyễn Văn Bến chủ biên), Nghệ An ký (Nguyễn Thị Thảo), Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông (Mai Xuân Hải chủ biên), Thơ văn Nguyễn Đề (Nguyễn Thị Phượng chủ biên), Lịch triều tạp kỷ (Hoàng Văn Lâu), Diệu Liên thi tập (Đỗ Thị Hảo), Ứng Khê thi văn tập (Nguyễn Thị Oanh), Đại Việt sử ký tiền biên (Lê Văn Bảy, Phạm Thị Thoa, Dương Thị The), Ô châu cận lục (Trịnh Khắc Mạnh - Nguyễn Văn Nguyên), Phạm Đình Hổ tuyển tập thơ văn (Trần Kim Anh), Hồ Xuân Hương (Đào Thái Tôn), Cổ duệ từ (Phan Văn Các), Minh Mệnh chiếu dụ (Trần Văn Quyền), Đặng gia thế phả (Trần Lê Sáng, Nguyễn Huy Thức, Nguyễn Hữu Tưởng), Cổ tâm bách vịnh (Mai Xuân Hải), Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Quang Hồng), Thiên Nam ngữ lục (Nguyễn Thị Lâm), Đoạn trường lục (Phan Văn Các), Việt sử cương mục tiết yếu (Hoàng Văn Lâu), Phan Huy Trứ (Đinh Văn Minh), Lĩnh Nam chích quái (Nguyễn Thị Oanh), Thơ văn Phạm Hy Lượng ( Cao Việt Anh), Việt điện u linh tập (Đào Phương Chi), v.v...
6- Ngoài ra, còn có thể kể tới hàng chục công trình khác trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới Hán Nôm đã được công bố, do sự nỗ lực và năng động của cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm trong mối quan hệ hợp tác với các cơ quan và các địa phương trong cả nước, như Tây dương Gia Tô bí lục, Lượn Cọi, Truyện Thạch Sanh, Dương Từ - Hà Mậu, Phạm Thận Duật, cuộc đời và tác phẩm, Quốc triều hương khoa lục, Làng Đại Bái gò đồng, Văn Lãng huyện biên giới, Đền bà Chúa kho, Văn bia Lạng Sơn, Văn bia Hà Tây, Văn bia làng Nành, Hương ước cổ Hà Tây, Việt âm thi tập, Những điển tích Phật giáo kì thú, Từ điển Chu dịch, Nhật Bản linh dị ký, Đường thi một thuở, Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù, Hà Nội làng nghề phố nghề, Truyện Kiều nghiên cứu văn bản và thảo luận, Lý luận văn học cổ Trung Quốc, Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Người Hà Tây trong làng khoa bảng, Một thế kỷ sưu tầm văn hóa dân gian, Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia và nhiều sách tái bản khác, v.v.
3. Điều tra sưu tầm tư liệu Hán Nôm:
Di sản Hán Nôm còn lại đến ngày nay không còn được nguyên vẹn như nó vốn có trong lịch sử, mà bị mai một mất mát trải qua đời này đến đời khác, với nhiều lý do khác nhau, như: do thiên tai và khí hậu, do chiến tranh tàn phá, do con người thiếu cẩn thận, do sự lão hóa theo thời gian,v.v. Cách đây 200 năm, nhà khoa học Lê Quý Đôn khi nghiên cứu thư tịch Hán Nôm đã từng than tiếc: Nước Nam nổi tiếng là nước văn hiến, từ hai triều nhà Lý, nhà Trần đến bản triều (triều Lê), các bậc tiền bối trước tác cũng nhiều, nhưng lâu ngày bị mai một, sách vở còn lại không được bao nhiêu, những sỹ phu say mê về việc đời cổ không dựa vào đâu mà khảo cứu được(10). Nhà sử học thế kỷ XIX, Phan Huy Chú cũng đau lòng nói: Từ khi Lý - Trần dấy lên, văn vật đã thịnh..., đến đời Hồng Đức nhà Lê vận hội càng mở mang, trước thuật nảy nở, điển chương rất nhiều. Cho nên sách vở đầy rẫy, thực là rất thịnh. Nhưng trải nhiều phen biến loạn, nên các sách mất mát đi, tiếc rằng nay không còn mấy(11).
Về chủng loại, di sản Hán Nôm không chỉ gồm những tác phẩm văn học, sử học, địa lý v.v..; mà còn bao gồm cả các loại văn bản như gia phả, thần phả, văn khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ, địa bạ, hương ước v.v.; cho đến các thứ giấy tờ như văn khế, chúc thư, bằng sắc, lệnh chỉ, sách bói toán phương thuật, hoành phi câu đối v.v.. Tất cả, trong chừng mực khác nhau, đều gắn liền với bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc. Cho đến nay, ngoài phần lớn di sản Hán Nôm đã thu thập được hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, còn có khá nhiều tư liệu Hán Nôm rải rác ở các địa phương trong toàn quốc. Do vậy, công việc điều tra, sưu tầm tư liệu Hán Nôm hiện còn đang nằm rải rác trong dân gian là rất cần thiết và đúng hướng.
Trong nhiều năm qua, Viện đã triển khai thực hiện Dự án Điều tra sưu tầm tư liệu Hán Nôm trên các mặt công tác như:
- Xác định địa bàn để triển khai thực hiện Dự án Điều tra sưu tầm tư liệu Hán Nôm.
- Lập phiếu điều tra tình trạng di tích và tiến hành điều tra thu thập tư liệu Hán Nôm hiện còn ở các di tích tại các địa phương trong phạm vi toàn quốc và đưa ra những phương án thích hợp để quản lí, thu thập nguồn tư liệu này. /P>
- Sao chép các tư liệu chữ Hán, chữ Nôm gắn với các di tích như hoành phi, câu đối, bài vị, sắc phong v.v..
- In dập trên giấy dó nguyên dạng văn khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ, khánh, bệ đá, cột mốc, ngai thờ v.v.
- Thu thập tư liệu Hán Nôm với các hình thức: mua, trao đổi, chụp ảnh, photocopy để đưa về kho lưu trữ của Viện.
Trong các năm 1998 - 2002, Dự án điều tra sưu tầm tiếp tục được triển khai theo kế hoạch đã được duyệt từ những năm trước. Đến nay, Viện hoàn thành cơ bản việc điều tra và sưu tầm tư liệu Hán Nôm ở các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Nam Định, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương, Lạng Sơn, Ninh Bình; đang tiếp tục thực hiện ở các nơi như Phú Thọ, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Thanh Hóa. Kết quả khối lượng công việc đã làm được là:
- Lập phiếu điều tra tình trạng di tích và kiểm kê tư liệu Hán Nôm tại các di tích ở hơn 700 xã với khoảng 10.000 thôn.
- Sao chép được khoảng 15.000 đôi câu đối và 18.000 hoành phi.
- In dập được khoảng hơn 20.000 thác bản văn bia, biển gỗ và hơn 1300 chuông. Nhập kho, làm phiếu thư mục và đã đưa phục vụ bạn đọc, được mọi người rất hoan nghênh.
- Mua được hơn 3.000 cuốn sách chữ Hán và chữ Nôm, trong đó có cả sách chữ Nôm Tày và chữ Thái cổ của các dân tộc ít người.
Nhiều tư liệu Hán Nôm quí hiếm đã bổ sung cho kho sách của Viện, như các tập thơ văn viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, sách chữ Nôm Tày - Nùng, sách chữ Thái cổ và văn khắc Hán Nôm thời Lý - Trần, Lê, Tây Sơn, Nguyễn ở các địa phương trong toàn quốc, v.v. Hiện nay Viện đang phân loại và lập thư mục giới thiệu toàn bộ các tư liệu Hán Nôm đã sưu tầm được trong thời gian qua đồng thời triển khai nghiên cứu, công bố những tác phẩm Hán Nôm có giá trị.
4. Bảo quản tư liệu Hán Nôm
Ngay sau khi thành lập, được sự đồng ý của Nhà nước, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã tiếp nhận kho sách Hán Nôm từ Viện Thông tin Khoa học xã hội vốn được chuyển giao từ Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp. Đây là một vinh dự và cũng là một trách nhiệm nặng nề đối với cán bộ công chức của Viện.
Với tinh thần trách nhiệm cao, trong nhiều năm qua, công tác bảo quản của Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã làm được khá nhiều việc, xin nêu như sau:
- Kiểm kê, làm vệ sinh toàn bộ kho sách và kho thác bản văn bia.
- Tiến hành sao chụp, nhân thành 3 bản các sách Hán Nôm để phân tán ở các kho khác nhau và tiến tới phục vụ bạn đọc bằng bản photocopy, còn bản gốc đưa vào kho lưu giữ theo chế độ bảo tàng.
- Lập các phiếu quản lý sách Hán Nôm và thác bản văn khắc Hán Nôm, nhằm nêu lên những đặc điểm về nội dung và hình thức của sách, để kiến nghị những biện pháp bảo quản và triển khai nghiên cứu khai thác một cách hữu hiệu nhất.
- Tiến hành bồi vá, tu bổ, phục chế các sách Hán Nôm và thác bản văn khắc Hán Nôm bị rách nát, hư hỏng.
- Làm hộp bảo quản sách Hán Nôm, bởi vì các sách Hán Nôm làm bằng chất liệu giấy dó nên sách rất mềm và khi đưa dựng lên giá sách không đứng được. Do vậy việc làm các hộp bảo quản là rất có tác dụng đối với các sách Hán Nôm.
- Làm túi bằng giấy phi axít để bảo quản các thác bản văn Hán Nôm và các loại hình thác bản khác.
- Đóng bìa bằng chất liệu cậy và giấy dó cho các sách bị hư hỏng bìa, khi đóng bìa mới phải giữ nguyên bìa cũ để đảm bảo nguyên tắc văn bản.
- Tổ chức và cử cán bộ theo học nhiều lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác bảo quản do chuyên gia Mỹ, Nhật hướng dẫn. Hiện nay cán bộ của Phòng Bảo quản đã tiếp thu được khá nhiều kiến thức về nghiệp vụ bảo quản tài liệu cổ và đã vận dụng vào công tác bảo quản, tu bổ, bồi vá các tài liệu Hán Nôm. Tuy nhiên đây vẫn là giai đoạn thử nghiệm bước đầu về công việc phục chế và bảo quản các tài liệu Hán Nôm mới sưu tầm trong vài năm gần đây.
- Tổ chức Hội thảo về tu bổ và bồi vá tư liệu Hán Nôm. Hội thảo được đánh giá là có tác dụng tốt trong việc mở rộng mối giao lưu học hỏi kinh nghiệm về nghiệp vụ bảo quản giữa các đơn vị.
- Để rút kinh nghiệm cho công tác bảo quản, Viện đã tổ chức Hội thảo về Môi trường, nhiệt độ và độ ẩm của hệ thống điều hòa trung tâm trong việc bảo quản các tài liệu Hán Nôm. Hội thảo thu hút được nhiều cơ quan chuyên môn tham dự và đã khẳng định phương pháp bảo quản các tài liệu Hán Nôm bằng hệ thống điều hoà trung tâm là góp phần kéo dài tuổi thọ của các tài liệu hiện có trong kho lưu trữ.
- Xây dựng chương trình quản lí sách Hán Nôm và quét lưu hàng vạn trang bản gốc trên đĩa CD-ROM.
- Chụp microfilm các sách Hán Nôm trên film với hàng vạn trang bản gốc.
5. Thông tin tư liệu thư viện
Từ một vốn liếng ban đầu còn rất nghèo nàn với vài chục đầu sách, đến nay Phòng Thông tin - Tư liệu - Thư viện của Viện đã có một phông sách khá phong phú, gồm các nước Việt, Trung, Anh, Pháp, Nga và hàng ngàn cuốn tạp chí các loại. Công tác thông tin đã được triển khai phục vụ việc tra cứu dữ liệu Hán Nôm nhằm mục đích khai thác nghiên cứu di sản Hán Nôm và giao lưu văn hóa với bên ngoài. Phục vụ công tác thống kê, phân loại, góp phần quản lý và khai thác nguồn thông tin Hán Nôm một cách hiệu quả. Xây dựng hệ thống phục vụ việc tìm tin theo một qui trình chuẩn khi phục vụ độc giả, nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu khai thác tư liệu. Trong những năm qua Viện đã xây dựng phương án ghi lưu kho tư liệu Hán Nôm trên các phương tiện mang tin điện tử hiện đại, nhằm phát huy tính ưu việt về độ an toàn, hiệu quả, chính xác, dễ bảo quản, dễ truy cập của phương tiện này. Thiết kế và xây dựng hệ CSDL Hán Nôm và tiếng Việt, bao gồm các thông tin văn bản, bản đồ, hình ảnh v.v. dựa trên biện pháp kỹ thuật tin học hiện đại. Xin nêu một số thành tựu cụ thể như:
- Lập thư mục các sách và tài liệu Hán Nôm đã được dịch.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu cho kho sách tiếng Việt, sách Trung Quốc.
- Lập thư mục những người đỗ đạt thời kì phong kiến.
- Hoàn chỉnh bản thảo Thư mục các bài viết có liên quan đến tác giả, tác phẩm Hán Nôm trên các tạp chí (Nam Phong, Tri Tân và các tạp chí, thông báo khoa học ở miền Bắc từ 1954 - 1998).
- Làm mục lục sách Hán Nôm hiện tàng trữ ở các thư viện khác tại Hà Nội.
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu với hàng ngàn biểu ghi, phục vụ cho việc tra cứu thông tin chuyên ngành một cách nhanh nhất.
- Xây dựng phần mềm quản lý và hệ thống từ khoá cơ sở dữ liệu trích yếu nội dung sách Hán Nôm.
- Xây dựng CSDL mục lục liên hợp sách Hán Nôm và sách tiếng Trung Quốc, biên soạn từ khóa tự do với hàng vạn mục từ. Đây là công cụ cần thiết để tra tìm trên máy.
- Xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu quản lý và tra cứu các hoành phi, câu đối tại các địa phương, nhập máy toàn bộ số hoành phi, câu đối đã sưu tầm được.
6. Tập san Nghiên cứu Hán Nôm và Tạp chí Hán Nôm
Tập san Nghiên cứu Hán Nôm, tiền thân của Tạp chí Hán Nôm, ra đời từ năm 1984, nhằm giới thiệu những kết quả mới nhất của Viện Nghiên cứu Hán Nôm cùng cộng tác viên của Viện trên các lĩnh vực sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu khai thác thư tịch, tài liệu Hán Nôm do ông cha để lại. Đến giữa năm 1986, Tập san được nâng lên thành loại ấn phẩm định kỳ, tức Tạp chí Hán Nôm với mỗi năm ra 2 số. Đến năm 1993, để phục vụ độc giả kịp thời hơn, Tạp chí đã tăng kỳ xuất bản lên gấp đôi, mỗi năm ra 4 số. Từ năm 2002, Tạp chí tiếp tục tăng kỳ xuất bản, mỗi năm ra 6 số. Tính đến cuối năm 2003, Tập san và Tạp chí đã phát hành được 65 số, đăng tải hàng ngàn bài viết lớn nhỏ của hàng trăm tác giả; với nhiều bài nghiên cứu có giá trị học thuật cao và công bố nhiều tư liệu Hán Nôm thuộc loại quý hiếm mới sưu tầm được. Tạp chí Hán Nôm trong thời gian qua đặt mình trong xu hướng phát triển của thời đại và của đất nước, bắt nhịp được hơi thở của đời sống văn hóa xã hội và sự phát triển của khoa học và nhân văn, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu tri thức Hán Nôm, làm chỗ dựa tin cậy của đông đảo người Việt Nam hôm nay và mai sau khi tìm về văn hóa thành văn truyền thống của dân tộc. Tạp chí Hán Nôm là tạp chí khoa học chuyên ngành nằm trong khoa học xã hội và nhân văn, là diễn đàn của chuyên ngành Hán Nôm học Việt Nam, trong thời gian qua đã xác định rõ hơn phương hướng phát triển trên 3 vấn đề chủ yếu sau đây: tính khoa học, tính cập nhật và tính xã hội.
7. Đào tạo cán bộ
Ngay sau khi thành lập, Ban Hán Nôm và tiếp đó là Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã tập trung vào việc bồi dưỡng trình độ chuyên môn sâu và giải mã văn bản Hán Nôm cho cán bộ, như các lớp Lịch sử tư tưởng Trung Quốc, Nho giáo Việt Nam, Phật giáo Việt Nam, Tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam, Kinh nghiệm dịch từ Hán sang Việt, Nghiên cứu về chữ Nôm, Thư pháp, Nghiên cứu văn bản học, Ngữ văn học, và các khóa bồi dưỡng về Hán ngữ học, Hán Nôm Việt Nam, chữ thảo v.v.
Từ khi Viện được công nhận là cơ sở đào tạo Sau đại học (1994), đã có 13 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án TS. Ngữ văn chuyên ngành Hán Nôm tại Viện.
Năm 1996 Viện tuyển cao học Hán Nôm. Đã tổ chức bảo vệ luận án Thạc sĩ cho 15 học viên, kết quả đều đạt loại giỏi.
8. Hợp tác nghiên cứu ngày càng mở rộng
Quá trình xây dựng và pháp triển Viện Nghiên cứu Hán Nôm gắn liền với việc củng cố và mở rộng mối quan hệ hợp tác với các ngành, địa phương, cơ quan, trường đại học trong nước và quốc tế. Viện đã hợp tác với một số Viện nghiên cứu và các Trường đại học trong và ngoài nước để đào tạo cán bộ có trình độ đại học và sau đại học. Trong nước, như: với Viện Văn học, Viện Ngôn ngữ học, Viện Sử học v.v. thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia; với Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội v.v. thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ngoài nước, như: Viện Đông Phương học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (trước đây), Trường Đại học Tổng hợp Tokyô, Ôsaka (Nhật Bản), Học viện Viễn Đông Bác cổ và Trường Cao học Khoa học xã hội (Cộng hòa Pháp), và một số nước khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan v.v.
Việc mở rộng mối quan hệ với các ngành, các địa phương là nguyên tắc nhất quán từ trước tới nay của Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Viện đã tham gia hợp tác nghiên cứu khoa học và công bố nhiều tư liệu Hán Nôm có giá trị với các địa phương, như Lạng Sơn, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Sơn La, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội, Thái Bình, Hà Tây, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Nghệ An, Bình Định v.v. Những công trình thắm đượm tình nghĩa giữa Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các đơn vị bạn đã lần lượt ra mắt bạn đọc.
9. Xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ nghiên cứu
Từ năm 1985 - 1990, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, được sự giúp đỡ của các Bộ, các Ngành hữu quan, trụ sở làm việc và kho lưu trữ tài liệu Hán Nôm của Viện với khoảng gần 2000m2 đã được xây dựng và đưa vào sử dụng. Phải nói rằng mười năm về trước mà có được một tòa nhà cao tầng tương đối khang trang, tiện nghi khá đầy đủ và diện tích làm việc rộng rãi như Viện Nghiên cứu Hán Nôm quả là chuyện không dễ.
Từ năm 1995, được sự giúp đỡ của Trung tâm KHXH và Nhân văn Quốc gia, cơ sở vật chất của Viện ngày càng được tăng cường. Trụ sở làm việc được chống xuống cấp, nên khang trang sạch đẹp. Nhiều máy móc thiết bị hiện đại đã được đưa vào sử dụng nhằm phục vụ tốt nhất cho công tác sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu khai thác di sản Hán Nôm và đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu Hán Nôm.
Kết luận chung:
Nhìn lại quá trình hoạt động các mặt công tác của Viện, cán bộ công chức Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực sự phấn khởi tự hào về những thành tích đã làm được, nhưng cũng không khỏi băn khoăn day dứt về những thiếu sót, bất cập còn đang tồn tại. Những năm qua Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã phấn đấu theo hướng đoàn kết, ổn định và phát triển. Tin tưởng rằng những năm tới Viện tiếp tục đoàn kết, ổn định và phát triển hơn cùng xu thế phát triển chung của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) và của đất nước trong giai đoạn cách mạng hiện nay./.
T.K.M
CHÚ THÍCH:
(1) Trích trong Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 311/CP ngày 8/9/979, Về công tác sưu tầm, thu thập, bảo quản và khai thác các tư liệu chữ Hán, chữ Nôm.
(2) Trích trong Quyết định của Chủ nhiệm ủy ban Khoa học xã hội số 63/KHXH-QĐ ngày 3/2/1988, Về chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
(3) Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 300/TTg ngày 21/6/1993, Về việc giao nhiệm vụ đào tạo trên đại học cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
(4) Quyết định của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo số 3853/GD-ĐT ngày 13/12/1994, Về việc giao nhiệm vụ đào tạo cao học cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
(5) Hồ chí Minh toàn tập (tập 4). Nxb. Chính trị quốc gia, H. 1995, tr.504.
(6) Về văn hóa văn nghệ (in lần thứ 4). Nxb. Văn học, H. 1976, tr. 214.
(7) Xây dựng nền văn hóa văn nghệ ngang tầm với dân tộc ta, thời đại ta. Nxb. Sự thật, H. 1975, tr. 98.
(8) Trường Chinh: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam. Nxb. Sự Thật, H. 1975, tr.171.
(9) Trường Chinh: Sđd, tr.171.
(11) Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục. Nxb. KHXH, H. 1977, tr.13-14.
(11) Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí. Nxb. KHXH, H. 1992, tr.20.
|