TB

HỘI BẢO TỒN DI SẢN CHỮ NÔM

JOHN BALABAN

Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm (Hoa Kỳ) ra đời vào cuối năm 1999. Từ đó tới nay, mục đích của Hội là làm tăng nhận biết di sản lớn lao về hệ thống chữ Nôm và phát triển các công cụ máy tính để truy nhập vào nó.

Hội được hình thành từ việc chuẩn bị bản thảo cuốn thơ Hồ Xuân Hương, Spring Essence: The Poetry of Hồ Xuân Hương (Nhà xuất bản Copper Canyon Press, 2000), mà tôi đã dịch và biên tập. Spring Essence đã được in bằng ba loại chữ viết: theo phông Quốc ngữ mới do James Đỗ Bá Phước tạo ra, theo bản dịch tiếng Anh của tôi, và có điều chúng tôi tin là bản in Nôm đầu tiên khác với bản khắc gỗ trong phông true type do Ngô Thanh Nhàn tại Viện Toán học Courant tạo ra.

Thơ của Hồ Xuân Hương, bây giờ lần đầu tiên được xuất hiện bằng tiếng Anh qua bản dịch này, đã tạo ra một cảm giác gì đó ở Mĩ. Trong khi sự tuyệt diệu trong thơ của bà có lẽ đã không gây ra ngạc nhiên cho hầu hết độc giả Việt Nam, thì độc giả tiếng Anh lại chưa bao giờ gặp điều gì giống như hương vị của bà cả. Thêm vào đó, truyền thuyết về cuộc đời long đong của bà như một người vợ lẽ, những quan niệm văn hóa về duyên và nợ ba sinh, những ngụ ý tục tĩu trong việc dùng cả cách nói lái và từ nghĩa kép tưởng tượng, cũng như cấu trúc phức tạp của thể thơ Đường luật đã làm say mê độc giả Mĩ. Kể các lần xuất bản, cuốn sách này đã bán được 20.000 bản, một điều hoàn toàn bất thường cho bất kì cuốn sách thơ nào ở Mĩ, lại là bản dịch của một nhà thơ đã mất gần 200 năm nay. Thơ của Hồ Xuân Hương khởi đầu cho mối quan tâm tới chữ Nôm từ các độc giả đọc tiếng Anh, người chưa bao giờ được nghe nói về nó.

Vào tháng 11 năm 2000, một thời gian ngắn sau khi Spring Essence ra mắt. Tổng thống Clinton đã nhắc tới cuốn sách này trong bài phát biểu nhân buổi chiêu đãi nguyên thủ quốc gia ở Hà Nội. Biến cố này càng làm tăng tính tò mò về cuốn sách này ở mọi nơi, kể cả trong những người Việt Nam ở nước ngoài, ở Mĩ và ở châu Âu. Ngày 15/03/2001, tờ New york Times đã dành kín hai trang của phần Nghệ thuật sống cho cuốn sách này, kể cả một bức tranh giới thiệu bài thơ Tức cảnh của Hồ Xuân Hương bằng tiếng Anh, Quốc ngữ, và chữ Nôm. Chúng tôi nhận ra chúng tôi còn có nhiều hơn một cuốn sách: chúng tôi đã có một điển hình văn chương tuyệt vời có thể hấp dẫn sự quan tâm tới truyền thống 1000 năm của chữ Nôm và tất cả những gì đã được viết trong nó, phần lớn còn chưa được biết tới đối với phương Tây và thậm chí với nhiều người Việt đương đại. Hội Bảo tồn di sản Chữ Nôm do vậy đã được sinh ra như một tổ chức không vụ lợi, được giảm thuế, chuyên tập trung cho việc đẩy mạnh bảo tồn chữ Nôm.

Trong khi Hồ Xuân Hương và thơ của bà bằng chữ Nôm có thể đã là một sự khải lộ đối với tôi và nhiều người Mĩ khác, thì việc in chữ Nôm theo phông true type đã là mục đích của nhiều nhà ngôn ngữ, toán học, chuyên gia máy tính và các học giả ở Việt Nam và ở nước ngoài trong suốt thập kỉ qua. Cái Hội nhỏ bé của chúng tôi trở thành tiêu điểm cho những nỗ lực tình nguyện của họ. Điều tất yếu, chúng tôi đã tìm được sự giúp đỡ của các học giả tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm - Viện Nghiên cứu chính của Việt Nam về nghiên cứu các văn bản cổ.

Như tôi đã chỉ ra, việc làm chính của Hội là cung cấp công cụ máy tính cho việc truy nhập và trao đổi văn bản Nôm. Nếu di sản chữ Nôm của Việt Nam về văn học, y học, tuyên cáo của vua, các châu bản, lịch sử, âm nhạc, tôn giáo, kịch tuồng và các con số kiểm kê làng xã (đặc biệt từ thời Tây Sơn) mà còn tiếp tục tồn tại chỉ bằng chữ Nôm hay việc phiên chuyển sang Quốc ngữ có thiếu sót từ nhiều bản thảo hay bản in khắc gỗ, thì di sản đó chỉ còn truy nhập được cho quãng 100 học giả trên toàn thế giới, những người có thể làm việc với văn bản Nôm, một tình huống còn bị tồi tệ thêm bởi sự kiện nhiều văn bản Nôm bị phân tán rải rác ở nhiều thư viện quốc gia trên thế giới: thư viện quốc gia Pháp, thư viện Vatican, và những thư viện lớn ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Anh, Hà Lan, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc và Mĩ, chưa kể tới những tàng trữ của nhiều gia đình Việt Nam.

Chúng tôi ước lượng rằng phần lớn các văn bản Nôm ở các thư viện nước ngoài chưa bao giờ được nhận diện đúng.

Kế hoạch của chúng tôi để tạo ra việc truy nhập từ bàn phím máy tính vào chữ Nôm đã được nhiều chuyên gia Việt Nam ở Thụy Sĩ, Bỉ và Việt Nam tham gia, những người đã tình nguyện dành thời gian của mình cho việc số thức hoá tất cả các kí tự Nôm. Ở Hà Nội, chúng tôi đã tạo ra một văn phòng lấy tên là “Nôm Na” gồm bốn chuyên gia trẻ về máy tính và chữ Nôm, những người này đã khắc họa và tạo chữ dưới dạng điện tử, cho tới cuối mùa hè 2004, quãng 16.000 kí tự Nôm (trong đó có hơn 6000 chữ thuần Nôm, tức là không có trong chữ Trung Quốc). Mục đích của chúng tôi là đưa những kí tự này, và hàng nghìn chữ khác còn đang ẩn kín, vào chuẩn Unicode và ISO, để cho chữ Nôm trở thành ngôn ngữ chữ thế giới.

Trước bước đầu tiên này, có hai bước nữa, cả hai đều là những bước chính: thứ nhất là vẽ tất cả chữ Nôm xuất hiện trong cuốn sách hơn 950 trang của Cha Anthony Trần Văn Kiệm Giúp đọc Nôm và Hán Việt. Cuốn sách này đã được xuất bản trước đây nhưng các kí tự Nôm phải viết tay, đưa đi sao chụp và in ra như những bức ảnh. Mục đích của chúng tôi ở đây là đạt được hai điều. Thứ nhất chúng tôi muốn xuất bản lần xuất bản mới cho công trình đặc sắc của Cha Anthony bằng phông true type, điều chúng tôi tự hào đã đạt được. Thứ hai, vì chúng tôi đã nắm được phông này, chúng tôi làm cho chúng thành có sẵn dần cho công cụ tra cứu đặt tại website của chúng tôi http://nomfoundation.org, nơi mọi người có thể đi từ Quốc ngữ sang cách biểu diễn chữ Nôm tương đương hay thậm chí đi từ chữ Anh sang chữ Nôm, với các kí tự song song được trình bày trong chữ Trung Quốc và Kanji Nhật Bản. Cuối cùng, chúng tôi đưa tất cả những kí tự này vào kho chữ Nôm số thức chung.

Từ nền các kí tự chữ Nôm này, được mở rộng với sự giúp đỡ của những người khác như các nhóm công tác ở Việt Nam: Huesoft và Hanosoft, chúng tôi hi vọng xây dựng một kho chữ Nôm số thức, sẵn có cho các học giả và những người nghiên cứu quan tâm khác trên toàn thế giới.

Một vấn đề lớn tiếp cho Hội là nhận diện các tài sản văn bản Nôm trên toàn thế giới. Hiện tại, các thư viện quốc gia chính không thể nhận diện hay công bố các tài sản chữ Nôm của họ bởi vì họ không có độc giả chữ Nôm và không có danh mục chữ Nôm. Bên ngoài Việt Nam, phần lớn các văn bản Nôm đều bị nhận diện lầm là "Trung Quốc" hay "Hán Việt" cho dù độc giả Trung Quốc không thể đọc được chúng. Chúng trông đơn giản tựa như chữ Trung Quốc. Ai biết cái gì có thể đang nằm ở thư viện tòa thánh Vatican hay các bản lưu trữ thuộc địa Pháp ở aix-en-Provence ? Việt Nam đã bị mất đi những kho báu nào ? Sau khi chúng tôi lập ra kho kí tự chữ Nôm, chúng tôi hi vọng tạo ra một nhóm các học giả, những người sẽ làm cuộc điều tra các thư viện trên thế giới để lập bảng tổng mục lục tư liệu Nôm. Văn phòng Nôm Na của chúng tôi sẽ cung cấp dịch vụ thư viện cho những thư viện này cũng như cho các học giả Nôm, mô tả văn bản của họ để cho họ có thể đăng thông báo thư mục thư viện trên toàn thế giới. Cuối cùng, chúng tôi sẽ bắt đầu biết các văn bản đó là gì, và chúng ở đâu. Tất nhiên đây là một dự án khổng lồ có thể phải kéo dài nhiều năm. Hi vọng rằng Việt Nam, cũng như một số quĩ lớn, có thể tài trợ cho tổ điều tra này.

Chúng tôi tin rằng để thấy được tương lai, người ta phải biết quá khứ văn hóa của mình, cả những khoảnh khắc lớn lao và những thất bại. Bao nhiêu người ngày nay đã từng thoáng nhìn vào tập thơ của Nguyễn Trãi viết bằng chữ Nôm, Quốc âm thi tập. Bao nhiêu người biết tới những câu thơ sáng láng đọc xuôi ngược giống nhau của vua Thiệu Trị trong thơ Đường luật, vẫn còn được thấy trong những tấm khảm ngọc ở Huế. Hay đọc chỉ dụ của Hoàng đế Nguyễn Huệ khi phái tầu ra biển Đông ? Hay được thấy trong ca dao, cổ hàng thế kỉ, được viết bằng Nôm ? Những điều như vậy là mối quan tâm văn hóa lớn lao, và không chỉ ở Việt Nam. Chúng phải là những mục có thể truy nhập được trong thư viện thế giới về cuộc truy tìm của con người. Chúng có thể dường như cổ đại và xa xăm, khi đối diện với làn sóng dường như tràn ngập của văn hóa phổ biến phương Tây đang quét qua thế giới này, những ví dụ như vậy về quá khứ văn hóa của người ta có thể trở thành cái neo.

Từ niềm tin này vào tầm quan trọng duy nhất, toàn thế giới của quá khứ của Việt Nam đã được viết bằng chữ Nôm, Hội chúng tôi theo đuổi những dự án này và những dự án khác, kể cả việc trao đổi các học giả quốc tế, trợ giúp việc dạy chữ Nôm cho các sinh viên làm luận án tiến sĩ ở phương Tây, việc dạy chữ Nôm cho các trường phổ thông và đại học Việt Nam, một thư viện số hóa các văn bản Nôm tinh hoa, và việc in ấn tài liệu chữ Nôm.

Công việc hàng ngày với đồng nghiệp của tôi là giáo dục. Tôi nhớ lại bài thơ Cảnh thu của Hồ Xuân Hương, Cảnh thu, xin kết thúc bởi

“Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ.
Ơ hay, cảnh cũng ưa người nhỉ.
Ai thấy, ai mà chẳng ngẩn ngơ.”

(My backpack, breathing moonlight, sags with poems
Look, and love everyone.
Whoever sees this landscape is stunned.)

J. B. L. B

TB

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VÀ KHÍA CẠNH NGHIÊN CỨU CHỮ NÔM

NGUYỄN QUANG HỒNG

Tiểu dẫn

Chữ Nôm là một hiện tượng nổi bật trong lịch sử phát triển của nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Đi sâu nghiên cứu về chữ Nôm là công việc quan trọng đã và đang đặt ra đối với các học giả trong nước và cả ngoài nuớc, xuất phát từ những nhu cầu của thực tiễn đời sống xã hội nước ta cũng như từ những nhu cầu của nhận thức khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Đã có nhiều học giả và nhiều công trình nghiên cứu về chữ Nôm của Việt Nam, trong đó có không ít tác giả đã để lại những ấn tượng sâu sắc cho các thế hệ sau họ, như: Nguyễn Văn Huyên, Trần Văn Giáp, Đào Duy Anh, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Tài Cẩn,v.v... Ở trong nước, và ở nước ngoài như: J. L. Taberd, H. Maspéro, Hoàng Xuân Hãn, Pual Schneider, Văn Hựu, Vương Lực, Yonosuke Takeuchi, Kawamoto Kuniye, v.v... Riêng ở Việt Nam, trong vài chục năm lại đây, bên cạnh một số bộ tự điển chữ Nôm được xuất bản, đã có nhiều luận án, luận văn, bài viết lấy chữ Nôm làm đối tượng nghiên cứu, và cũng đạt tới những kết quả đáng ghi nhận.

Tuy nhiên, ở đây chúng tôi không có ý định và cũng không dám làm một bản tổng thuật về tình hình nghiên cứu chữ Nôm. Trong bài này chúng tôi muốn trình bày, theo sự suy nghĩ và thu hoạch của mình, đôi nét đại quan về những vấn đề hoặc những khía cạnh đáng lưu ý trong quá trình tiếp cận với chữ Nôm ở Việt Nam.

1. Về sự hình thành chữ Nôm

Có một câu hỏi chúng ta thường nghe thấy, không chỉ ở các nhà nghiên cứu, mà nhiều khi ở cả những người dân thường: Chữ Nôm ra đời từ bao giờ ? Để trả lời cho câu hỏi này, đã có những cách tiếp cận khác nhau.

Một cách nhìn khá phổ biến là chỉ cần phát hiện một chứng tích nào đó, như bia đá, chuông đồng chẳng hạn, có niên đại càng cổ xưa càng tốt, nếu trên đó có vài ba chữ vuông, có thể khác với chữ Hán hay vẫn là chữ Hán, dùng để ghi từ ngữ tiếng Việt, thì chúng được coi là chứng tích của sự xuất hiện chữ Nôm vào thời đó. Trên văn bia Hán văn thời Lý thế kỷ XI đã có một số chữ Nôm. Muộn hơn, có trên tấm bia Báo Ân thiền tự bi ký ở chùa Tháp Miếu (Yên Lãng, Vĩnh Phúc). Theo sự khảo cứu của GS. Đào Duy Anh thì tấm bia này có niên đại năm 1210 đời Lý Cao Tông. Trong văn bia Hán văn đó ở những phần nói về việc cúng ruộng, ghi ranh giới ruộng và ghi tên người thấy có những chữ Nôm xen vào: tất cả 24 chữ, gồm 18 chữ giả tá chữ Hán và 6 chữ tự tạo theo phép hình thanh. Và đây được coi là chứng tích xưa nhất của chữ Nôm còn lưu lại đến ngày nay. Căn cứ vào những chứng tích như thế, có học giả nước ngoài cho rằng chữ Nôm Việt đã ra đời muộn hơn chữ vuông Choang, vì từ năm Vĩnh Thuần nguyên niên (628) đời nhà Đường đã có tấm bia Đại tụng bi bằng Hán văn trên đó ghi xen kẽ một số chữ vuông Choang (tự tạo), còn ở Việt Nam thì không thấy tấm bia nào có chữ Nôm Việt với niên đại sớm đến thế.

Tuy nhiên, những chứng tích như vậy chưa đủ sức minh chứng cho sự hình thành một hệ thống văn tự như chữ Nôm Việt hay chữ vuông Choang. Trước hết, sự có mặt trên các cổ vật một số chữ lẻ tẻ của người bản địa xen kẽ trong văn bản chữ Hán chỉ là những hiện tượng tạo chữ hoặc mượn chữ lâm thời, chưa đủ để thừa nhận đó là một thứ văn tự thực sự của người bản địa. Hiện tượng này về nguyên tắc cũng giống như người Hán đã dùng một số chữ Hán có sẵn hoặc lâm thời tạo ra những "tục tự" để ghi chép tên gọi các vật thể địa phương hoặc ngoại tộc mà thôi. Những cách ghi chép từ ngữ bản địa như vậy hoàn toàn có thể xuất hiện rất sớm, ngay từ khi người Hán hoặc người bản địa sử dụng chữ Hán để ghi chép, để trước tác (mà sự tiếp xúc với chữ Hán đã diễn ra ở Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên) và các văn bản như vậy hầu như đều đã mai một qua thời gian. Cho nên, phát hiện ra các cổ vật có niên đại sớm hoặc muộn còn lưu lại những chữ "tục tự" như thế, là việc có thể diễn ra lúc này hay lúc khác, và khó lòng mà nói rằng đến đâu là tận cùng, là giới hạn cho sự phát hiện những chứng tích có niên đại sớm nhất như vậy.

Những chứng tích như vừa kể trên có thể sẽ tiếp tục được phát hiện, chúng xác nhận những nhu cầu và những cố gắng của người xưa trong việc mượn dùng mô hình chữ Hán để ghi một số từ ngữ dân tộc, và đánh dấu cho những bước đi ban đầu trong quá trình hình thành một thứ văn tự dân tộc như chữ Nôm. Chữ Nôm, cũng như chữ Hán và các hệ thống chữ vuông khác trong khu vực, không phải thuộc loại những văn tự do sáng kiến của một ai, do một người nào chế tác ra ngay trong một sớm một chiều, mà là một hệ thống văn tự mở, được hình thành và hoàn thiện dần trong quá trình hành chức. Cho nên, muốn xác định một thời điểm được coi là đánh dấu sự "ra đời" (đúng hơn là hình thành) một thứ văn tự như chữ Nôm của tiếng Việt, theo thiển nghĩ của chúng tôi, là phải căn cứ trên những cứ liệu cho thấy khả năng hành chức độc lập tối thiểu của chữ Nôm được bắt đầu từ bao giờ. Những cứ liệu như thế phải đáp ứng hai điều kiện như sau: Một là, chứng tích không phải là những chữ lẻ tẻ xuất hiện trong các văn bản ngoại văn (ở đây là Hán văn), mà phải là một văn bản hoàn chỉnh, cho dù đó là một văn bản ngắn, đủ để ghi lại và chuyển đạt một thông tin trọn vẹn. Hai là, trong văn bản đó không chỉ có chữ vay mượn (tức là loại "giả tá" chữ Hán), mà phải có mặt những chữ tự tạo (những chữ ghép theo kiểu "hội ý", "hình thanh" v.v... Mặc dù chưa có một sự minh định như vậy, nhưng một số học giả tiền bối cũng đã có nhiều cố gắng chứng minh sự ra đời của chữ Nôm theo những cứ liệu như thế. Theo hướng này, chúng ta đã từng nghe nói đến việc Nguyễn Thuyên làm văn tế cá sấu, Nguyễn Sĩ Cố làm thơ phú Quốc âm, và việc các triều quan nhà Trần làm thơ Nôm nhân sự kiện nhà vua gả công chúa Huyền Trân cho vua nước Chiêm. Những chuyện này đều có ghi chép trong bộ chính sử Đại Việt sử ký toàn thư. Tuy nhiên, tất cả các văn bản chữ Nôm đó đến nay đều đã thất truyền. Cho nên, những chi tiết sử ký này chỉ có thể hỗ trợ phần nào cho việc xác nhận sự hình thành của chữ Nôm mà thôi. Những cứ liệu có niên đại sớm nhất có thể đáp ứng hai điều kiện nêu trên cho đến nay vẫn thường được nhắc đến là hai bài Cư trần lạc đạo phú và bài Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca của Trần Nhân Tông (1258 - 1308) và bài Vịnh Hoa Yên tự phú của Lý Đạo Tái, tức sư Huyền Quang (1254 -1334). Như vậy, có thể nói chắc là từ thời nhà Trần (thế kỷ XIII), chữ Nôm của ta đã thực sự trở thành một thứ văn tự hẳn hoi. Tuy nhiên, vẫn chừa ra khả năng có thể tìm thấy những chứng tích cổ hơn còn tiềm ẩn trong dân gian, trong nhà chùa và cả trong lòng đất. Cũng cần lưu ý đến những văn bản chữ Nôm mặc dầu chưa xác minh được niên đại, song xét về mặt ngôn ngữ được ghi chép bằng chữ Nôm trong đó, ta thấy những dấu hiệu của một tiếng Việt cổ xưa, có thể là xưa hơn cả các văn bản thời nhà Trần. Đó phải chăng là trường hợp của văn bản giải âm (trực dịch từ Hán sang Nôm) trong sách Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, trong đó ngoài những chữ Nôm tự tạo, có hàng loạt từ ngữ tiếng Việt được viết bằng hai chữ vuông Hán, phản ánh tình trạng cấu trúc ngữ âm từ theo kiểu MiS + MaS (âm tiết phụ + âm tiết chính) hoặc CCVC với tổ hợp phụ âm đầu khá đang dạng, như 破 散 "phá tán" *păsanh / psănh > rắn) 破 了 "phá liễu" *pălau / plău > sáu, "cư mãng" 車 莽 *kămang / kmăng > mắng , "cá nô" 个 奴 *kăno / kno > no, v.v..., là những gì đặc trưng cho tiếng Việt sơ kỳ, có thể là vào thời nhà Lý, là thời kỳ đạo Phật rất thịnh hành ở nước ta.

2. Về đặc trưng loại hình của chữ Nôm

Đặc trưng loại hình của chữ Nôm lệ thuộc vào hai nhân tố quan trọng: Một là , đặc trưng loại hình của văn tự Hán ngữ, là thứ văn tự mà chữ Nôm dựa vào để tạo chữ. Hai là, đặc trưng loại hình của bản thân tiếng Việt, là thứ ngôn ngữ cũng thuộc cùng loại hình đơn lập âm tiết tính (cơ chế đơn tiết) như tiếng Hán. Trong quá trình tiếp xúc với văn hóa Hoa Hạ, nhiều dân tộc lân cận khi tạo lập văn tự cho ngôn ngữ của mình đã chịu nhiều ảnh hưởng từ thể chế (hoặc "cơ chế") của chữ Hán. Tuy nhiên, mức độ tương đồng giữa các hệ thống văn tự "phái sinh" này với văn tự Hán ngữ có thể không hoàn toàn giống nhau, và điều này chủ yếu là tuỳ thuộc vào nhân tố loại hình ngôn ngữ.

Thể chế của chữ Hán, theo phân tích của học giả Triệu Lệ Minh (Trung Quốc), có thể quy thành mấy điểm như sau:

(a) Đơn vị chữ viết theo nét bút trong một ô vuông.

(b) Đơn vị chữ phiên ghép theo thành tố.

(c) Đơn vị chữ biểu ý theo ngữ tố.

(d) Đơn vị chữ biểu âm theo âm tiết.

(e) Đơn vị chữ có cấu trúc âm - ý.

(f) Đơn vị chữ được viết lần lượt theo hàng dọc (theo truyền thống vốn dĩ như vậy).

Trong danh sách trên đây không có yếu tố "tượng hình" như nhiều người vẫn có ấn tượng cố hữu về chữ Hán. Quả thực, có không ít những chữ Hán thời sơ khai được tạo ra theo nguyên tắc tượng hình, tức là vẽ lại đối tượng tự nhiên (như: hổ, ngựa, chó, trâu, dê, cá, rắn, cây, núi, lửa, nước, v.v...) thành đồ họa và dùng để ghi chép, thông tin sự việc. Nhưng đó chỉ là thuở ban đầu, sau rồi qua nhiều biến đổi về hình chữ và cách viết chữ, hệ thống nét bút với quy tắc ô vuông đã xoá nhoà những hình tượng ban đầu đó trên văn tự Hán. Và các hệ chữ viết phái sinh từ chữ Hán đã tiếp nhận ảnh hưởng của chữ Hán ở thời kỳ sau này, khi tính "tượng hình" đã thuộc về quá khứ, và đã hình thành đầy đủ các yếu tố thể chế nêu trên.

Nếu chấp nhận các yếu tố thuộc về thể chế của chữ Hán như vừa nêu làm tiêu chí để xác định loại hình văn tự cho các thứ chữ ô vuông phái sinh từ chữ Hán, thì có thể nhận thấy tình hình chung như sau: Đáp ứng gần như đầy đủ các yếu tố trên đây là chữ Nôm tiếng Việt và các hệ thống chữ vuông của dân tộc Choang, Đồng, Miêu, Dao, Bạch, Bố Y, Hà Nhì, v.v... Đó đều là các dân tộc có ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập âm tiết tính như tiếng Việt và tiếng Hán. Chữ viết của một số dân tộc khác, vốn cũng bắt nguồn từ chữ Hán, như: Chữ Tây Hạ (nước Phiên - thế kỷ XI - XIV) theo hầu hết các yếu tố nêu trên, chỉ không chấp nhận yếu tố (e), về cơ bản đó cũng là thứ văn tự cùng loại hình với chữ Hán. Còn các thứ chữ khác như chữ Khiết Đan (nước Liêu - thế kỷ X - XII), chữ Nữ Chân (nước Kim, thế kỷ XII - XV), chữ Bát Ba Tư (Mông Cổ, nhà Nguyên - thế kỷ XII - XIV), chữ Kana của Nhật, chữ Ngạn (Hangul) của Triều Tiên, v.v... thì hầu như đều phỏng theo nét bút chữ Hán để tạo ra chữ ghi âm tiết mà không biểu âm biểu ý. Có thể nhận thấy rằng, các ngôn ngữ mà mấy thứ chữ này đại diện đều là thuộc loại hình chắp dính.

Như vậy, chữ Nôm của tiếng Việt và các thứ chữ vuông của nhiều ngôn ngữ dân tộc khác thuộc loại hình đơn lập - âm tiết tính, cũng như tiếng Hán và chữ Hán, đều thuộc loại hình văn tự ghi âm tiết - biểu âm biểu ý. (Trên lãnh thổ Trung Quốc cũng có một số ngôn ngữ dân tộc thuộc loại hình đơn lập - âm tiết tính từ xưa đã tạo cho mình những hệ thống chữ viết biểu ý biểu âm mà hầu như không hề liên quan với chữ Hán, trong đó có cả chữ tượng hình, chỉ sự, giả tá, v.v... như chữ Đông Ba của dân tộc Na Xi, chữ Bu Ma của dân tộc Di, v.v...). Theo chúng tôi, trong một phát ngôn có tính khái quát về loại hình văn tự của các thứ chữ đang xét, không nhất thiết phải gắn với những thuật ngữ quen thuộc như "văn tự ghi ngữ tố" hay "văn tự ghi từ", bởi lẽ các thuật ngữ này có vẻ loại trừ nhau, nhưng trên thực tế hầu như là không mâu thuẫn đối với các ngôn ngữ có cơ chế đơn tiết (đơn lập - âm tiết tính).

Tiếp tục khảo sát và phân tích khả năng đáp ứng các tiêu chí về thể chế của văn tự ô vuông ghi âm tiêt - biểu âm biểu ý đối với từng thứ chữ của một ngôn ngữ cụ thể (trong chữ Hán, trong chữ Nôm và chữ vuông của các dân tộc khác) sẽ có thể cho phép ta hình dung được mức độ đậm nhạt khác nhau của từng thứ chữ đối với các tiêu chí kể trên. Từ đó tiến hành so sánh, đối chiếu sẽ giúp ta xác định được những đặc điểm của các thứ chữ vốn cùng thuộc loại hình văn tự ô vuông ghi âm tiết - biểu âm biểu ý này. Bên cạnh đó, những cuộc khảo sát thống kê số lượng và tỉ lệ các chữ mượn Hán và chữ tự tạo trong tự điển hay trong văn bản sẽ cho thấy có sự chênh lệch giữa chữ Hán và chữ tự tạo, giữa chữ thuần biểu âm và thuần biểu ý với chữ vừa biểu âm vừa biểu ý, v.v... từ thời kỳ này sang thời kỳ khác của cùng một thứ văn tự ô vuông như thế. Và đó sẽ là những cứ liệu vô cùng quý giá đối với việc nhận diện sự phát triển lịch sử của bản thân từng thứ văn tự đang xét. Rất tiếc là cho đến nay, trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản về chữ Nôm, những công trình triển khai theo hướng này vẫn còn thiếu vắng. Quả là thực hiện một công trình loại này đối với chữ Nôm là không hề đơn giản chút nào. Nó đòi hỏi một trình độ phân tích, xử lý có nghề, đáng tin cậy và sự nhẫn nại cao độ của người nghiên cứu, khi trước mắt họ là các văn bản chữ Nôm chép tay hoặc khắc in (chứ không phải là những văn bản dễ dàng đưa vào máy tính), mà niên đại ra đời của chúng thì ít khi được chỉ báo rõ ràng. Trong khi đó thì ý nghĩa của những cuộc nghiên cứu thống kê định lượng đối với chữ Nôm từ lâu cũng đã được các học giả tiền bối lưu ý đến (Đào Duy Anh, Y. Takeuchi, Nguyễn Tài Cẩn).

3. Vấn đề phân tích cấu trúc chữ Nôm

Đã có không ít các học giả để tâm nghiên cứu về cấu trúc của chữ Nôm, và kết quả thường đưa ra những sơ đồ về các loại cấu tạo chữ Nôm. Chúng tôi không có ý định kéo dài thêm danh sách các sơ đồ như thế ở đây. Chỉ xin lưu ý tới những cách tiếp cận cần thiết trong việc nhận diện và phân tích cấu trúc chữ Nôm Việt.

Có lẽ ai cũng nhận thấy rằng, các chữ Hán được mượn nguyên vẹn vào văn bản Nôm, sẽ không phải là đối tượng thực sự của việc phân tích cấu trúc chữ Nôm. Người ta có thể chú ý đến khả năng đọc một chữ Hán như thế theo đúng âm Hán Việt hay "chệch" đi ít nhiều trong khi giải đọc văn bản. Nhưng đó là công việc nằm bên ngoài cấu trúc của chữ. Nhưng nếu một chữ Hán được mượn làm chữ Nôm với một sự "gia giảm" nào đó, thì ta không có quyền làm ngơ đối với việc phân tích cấu trúc của nó. Chẳng hạn, với chữ “làm” có thể được lý giải là do chữ "vi" 為 lược bớt một phần mà thành; chữ “day” (day động) là do chữ "di" 移 thêm dấu "nháy" mà thành, v.v...

Đi vào phân tích cấu trúc của các chữ Nôm tự tạo theo cơ chế phiên ghép chứ không phải là gia giảm, chúng ta sẽ đứng trước những hiện tượng dường như không có mặt trong chữ Hán, và đó có thể sẽ là những gì làm nên những điểm đặc thù của chữ Nôm so với chữ Hán. Chúng tôi muốn lưu ý tới những hiện tượng như sau.

Trước hết là những chữ Nôm gồm hai thành tố đều là biểu âm, có thể gọi là chữ Nôm hội âm. Thí dụ: trăng / giăng < *blăng (ba + lăng), trước < *klươc (lược + cư), v.v... Khi người Việt bắt đầu dùng chữ Hán để ghi từng tiếng trong ngôn ngữ của mình, lúc ấy tiếng Việt còn giữ khá nhiều các phụ âm kép ở đầu âm tiết, và một sáng kiến được nảy sinh: dùng hai chữ Hán ghép thành một chữ để phản ánh tình trạng này. Cần nhớ rằng, tiếng Hán vào thời bấy giờ đã không còn các phụ âm kép như vậy nữa, và mỗi chữ Hán chỉ đọc với một âm tiết "trơn tru" với một phụ âm mở đầu mà thôi. Đành rằng trong chữ Hán cũng có những thành tố biểu âm như 各 "các", khi thì cho âm đọc với [k] (như 各 “các”, 格 “cách”), khi thì cho âm đọc với [l] (như 洛 “lạc”, 路 “lộ”) khiến các học giả nghĩ đến khả năng ở thời cổ xưa thành tố này có âm đầu là *[kl]. Tuy nhiên đó chỉ là chuyện của quá khứ từ thời thượng cổ đối với các chữ Hán này, và trong hệ thống chữ Hán về sau hầu như không hề có mặt những chữ "hội âm" như ở chữ Nôm. Còn với tiếng Việt thì đến thế kỷ XVII, một số các phụ âm kép này vẫn còn là hiện thực: Từ điển Việt - Bồ - La (1651) của A. de Rhodes ghi nhận ba phụ âm kép ml, bl, tl. Bởi vậy việc xuất hiện những chữ Nôm hội âm này trong các văn bản Nôm thời kỳ đầu là một biểu hiện sinh động cho tinh thần độc lập sáng tạo của người Việt trong khi sử dụng chữ Hán cho văn tự bản ngữ của mình. Những chữ Nôm có cấu trúc như thế, đến đời sau đôi khi vẫn còn được dùng như là một sự kế thừa vốn cũ, mặc dù thực tế phát âm không còn duy trì những phụ âm kép như vậy nữa.

Tiếp theo, xin lưu ý đến một số chữ Nôm mà bộ thủ của chúng không thể nào giải thích được sáng rõ nếu không tìm cách vượt ra khỏi bản thân một chữ vuông, mà phải liên hệ nó theo quan hệ liên kết (chiều ngang) trong văn bản hoặc quan hệ liên tưởng (chiều dọc) trong hệ thống văn tự thì mới mong "giải mã" được chúng. Đây là câu chuyện liên quan đến việc nhận diện một số bộ thủ trong cấu trúc chữ Nôm. Xin nêu một vài thí dụ như sau.

Chẳng hạn trong câu "Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu" (Ca dao), hai chữ “cơi / khay” và “đựng” đều viết với bộ "mộc" 木. “cơi/khay” thì dĩ nhiên phải là bộ "mộc" rồi, nhưng tại sao lại dùng bộ "mộc" cho đựng (chứ không là bộ "thủ" chẳng hạn). Rõ ràng có một sự liên kết về ngữ nghĩa giữa “khay/cơi” và đựng trong câu, khiến chúng được viết thống nhất với nhau ở bộ thủ. Cũng có thể giải thích như vậy đối với bộ "túc" 足 ở chữ lỡ* đi liền với chữ “bước” trong câu" Tối tăm lỡ bước đến đây" (Lục Vân Tiên). Sự liên kết bộ thủ như thế là có tính lâm thời, ở vào những văn cảnh khác, các chữ “đựng” chữ “lỡ” hoàn toàn có thể "mang" những bộ thủ khác thích hợp hơn. Còn như sự liên kết thể hiện bằng bộ thủ trong cách viết các từ láy, như “đất đai” 坦 có thể coi như là sự liên kết “cố định”, có tác dụng gắn nối hai âm tiết trong từ láy thành một khối chặt chẽ về âm chữ, nghĩa chữ và cả hình chữ. Tuy nhiên, đây không hẳn là hiện tượng của riêng chữ Nôm Việt, mà trong chữ Hán cũng có thể bắt gặp, như: bàng hoàng 徬 徨, phảng phất 仿 佛, v.v.

Lại như trường hợp chữ “gần” thường được viết với bộ "bối" 貝. Thật khó lòng hình dung được tại sao ý niệm về "gần" lại phải dùng bộ "bối". Chỉ có thể tìm được lời giải thích, nếu ta liên hệ “gần” với “xa” (hai tiếng trái nghĩa trong cùng một trường nghĩa): chữ “xa” trong văn bản Nôm là mượn từ chữ Hán “xa” 賒 (có nghĩa là "mua chịu, kéo dài thời hạn trả tiền"). Chữ “xa” đã có bộ “bối” rồi, thì chữ “gần” cũng dĩ nhiên có thể mang bộ "bối" trong mối liên tưởng với “xa”.

Một điều thú vị là có một số trưòng hợp "bộ thủ" của thành tố ý biểu âm được viết ở vị trí thông thường của bộ thủ chữ Hán, nên chúng cũng được nhận diện như là một bộ thủ của cả chữ Nôm. Thí dụ như thành tố biểu âm "nữ" 女 trong các chữ “nửa” , “nợ” v.v... Tư cách "bộ thủ" của nó dường như càng được khẳng định khi từ mối liên hệ với chữ “nợ”, người ta đã viết hai chữ “nợ nần” , cùng có bộ "nữ", trong đó chữ “nần” đã là thành tố biểu âm là "nan" rồi, và "nữ" ở đây không biểu âm mà cũng không biểu nghĩa, đích thị chỉ là một bộ thủ "hờ" trong cấu trúc chữ Nôm đang xét, nó chỉ đóng vai trò liên kết với chữ “nợ” mà thôi.

Xin chuyển sang xem xét cấu trúc của những chữ Nôm có vẻ "bí hiểm" khác. Hãy lấy chữ “đất” 坦 làm thí dụ. Chữ này trùng hình với chữ Hán "thản" 坦, và xuất hiện rất phổ biến trong các văn bản Nôm, từ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi trở đi. Không mấy ai nghĩ rằng chữ Nôm này đã mượn chữ Hán "thản" để đọc "đất" và phân tích chữ “đất” gồm bộ "thổ" 土 biểu ý và chữ "đán" 旦 biểu âm. Thực ra, trong sách Phật thuyết, các chữ “đất”, đều viết bằng chữ Hán "đát" 怛, theo phép giả tá biểu âm. Như vậy có nhiều khả năng về sau người ta thêm bộ "thổ" theo phép hình thanh, rồi để cho giản tiện và gọn mặt chữ hơn, người ta đã rút bỏ bớt bộ "tâm" trong thành tố "đát", chỉ giữ lại "đán" vốn dĩ là thành tố biểu âm của chữ Hán "đát" mà thôi. Tương tự như vậy là chữ “mười/mươi”: bên cạnh những mặt chữ như hay , ta còn bắt gặp trong các văn bản Nôm những mặt chữ như hay , v.v... Khó có thể giải thích lý do "tồn tại" của bộ "xước" trong các chữ viết gọn (tắt) nếu như không liên hệ nó với bộ "xước" trong chữ "mại" 邁, biểu âm ở các dạng chữ đầy đủ hơn, chỉ có điều bộ phận bị lược bớt đi là phần biểu âm, còn bộ thủ thì để lại, cốt sao cho mặt chữ Nôm được gọn và dễ "trình bày" trong một khuôn khổ ô vuông. Có thể dẫn ra rất nhiều những trường hợp như vây. Tình hình này khiến chúng tôi muốn nói đến sự phân định cấu trúc nổi và cấu trúc chìm khi phân tích chữ Nôm.

Khi gặp những chữ Nôm mà mặt chữ không lấy gì làm phức tạp, nhưng đi vào xem xét thành tố biểu âm và thành tố biểu ý của chúng, ta gặp rắc rối không phân định được, tức thì khi ấy ta phải phân tích cấu trúc của những chữ Nôm này theo cách tiếp cận cấu trúc nổi và cấu trúc chìm. Cấu trúc nổi là cấu trúc hình thức, trực tiếp phân định theo các thành tố có mặt trong hình chữ đang xét, mặc dù sự phân tích ấy không phản ánh được thực chất cấu trúc âm và nghĩa của chữ. Theo cách này, ta sẽ chấp nhận cấu trúc nổi của “đất” 坦 là gồm bộ "thổ" + "đán" (biểu âm), “mười/mươi” là gồm bộ "xước" + "thập" (biểu nghĩa). Sự chấp nhận cấu trúc nổi này có vẻ là khiên cưỡng, song cũng cần thiết cho ứng dụng thực tế, nhất là trong việc sắp xếp những chữ Nôm như thế vào tự điển theo bộ thủ. Bên cạnh đó, người học và người đọc chữ Nôm sẽ không thể nào thỏa mãn với những cấu trúc nổi như thế, họ cần biết thực sự lý do sâu xa của sự cấu tạo nên các hình chữ Nôm "kỳ lạ" đó. Khi đó chúng ta cần phải lý giải sơ đồ cấu tạo chúng theo cấu trúc chìm, từng bước "khôi phục" dạng đầy đủ của chúng dù là ở dạng tiềm ẩn hay thực sự có dạng thức đầy đủ kiểm chứng.

Còn có khá nhiều những hiện tượng, những khía cạnh liên quan với vấn đề cấu trúc chữ Nôm. Trên đây chỉ nêu lên một số, chủ yếu là những gì làm nên đặc thù của chữ Nôm và các cách tiếp cận vào việc phân tích chúng. Từ đó có thể nhận thấy một phần nào tình trạng dường như là "bất ổn định" của mã chữ Nôm so với đơn vị ngôn ngữ mà nó đại diện, song mặt khác cũng cho thấy tính chất cơ động và linh hoạt trong cấu tạo và sử dụng chữ Nôm.

4. Về vai trò hành chức của chữ Nôm

Nếu tính từ khi thực sự hình thành cho đến nay thì chữ Nôm đã có mặt trong hành trình lịch sử của dân tộc khoảng 7 thế kỷ. Trong thời gian đó và trước đó nữa, chữ Hán cũng được sử dụng ở Việt Nam. Và từ thế kỷ XVII, bên cạnh chữ Hán, chữ Nôm, nước ta còn có chữ Quốc ngữ La tinh, thuộc một loại hình văn tự khác hẳn (ở đây tạm không kể đến tiếng Pháp và chữ Pháp trong thời Pháp thuộc). Vậy thì, xét về mặt hành chức, một vấn đề quan trọng đặt ra là trong thế "song hành" với chữ Hán (âm Hán Việt với ngữ pháp văn ngôn) và "tam hành" với chữ Hán và chữ Quốc ngữ, chữ Nôm đã được sử dụng như thế nào, đã đóng vai trò gì trong đời sống xã hội Việt Nam. Đôi khi người ta hay nói đến sự lần lượt thay thế vai trò của nhau từ chữ Hán sang chữ Nôm, và đặc biệt là từ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ. Chúng tôi muốn nhấn mạnh tính "song hành" và "tam hành" của mấy thứ chữ này trong khả năng hành chức của chúng cho đến ngày nay. Phải thừa nhận rằng, trải qua các thời kỳ lịch sử, vai trò chung của các thứ văn tự này có lúc đậm có lúc nhạt, song khó có thể đặt dấu chấm hết cho một thứ chữ nào đó vào một thời điểm cụ thể được. Quả thực, từ đầu thế kỷ XX, khả năng hành chức của chữ Quốc ngữ ngày càng nổi bật, và từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chữ Quốc ngữ được coi là văn tự chính thức của nước ta. Điều này khẳng định vị thế quan trọng của chữ Quốc ngữ, và nó có thể phát huy triệt để vai trò hành chức của mình trong mọi mặt đời sống xã hội. Nhưng nếu như văn tự không chỉ là công cụ giao tiếp đại diện và phụ trợ cho ngôn ngữ, mà còn là phương tiện chuyển tải và thể hiện văn hóa, thì chữ Hán và chữ Nôm vẫn không hẳn phải từ bỏ mọi vị trí của mình trong đời sống xã hội Việt Nam ngày nay. Chứng cứ là không chỉ ở các đình chùa cổ kính, mà ngay cả ở các khu lưu niệm, các điểm du lịch, các công trình văn hóa mang đậm tính truyền thống dân tộc, các cuộc sinh hoạt tín ngưỡng và văn hoá dân gian ngày nay, chúng ta đều nhận thấy sự góp mặt của chữ Hán và chữ Nôm. Thậm chí trên nhãn hiệu các thương phẩm, chữ Hán chữ Nôm vẫn có thể tìm được chỗ đứng của mình.

Để có thể xác định được chức năng xã hội của một thứ văn tự kể trên qua từng thời kỳ lịch sử, chúng ta cần khảo sát dung lượng và chất lượng của các văn bản được tạo thành và sử dụng trong những môi trường hành chức nhất định. Về nguyên tắc, có thể phân định các môi trường hành chức của chữ viết tương tự như phân định môi trường hành chức của ngôn ngữ. Chẳng hạn, đối với ba thứ chữ (và có thể cả chữ Pháp nữa) được sử dụng ở Việt Nam, có lẽ cần phân định thành những môi trường hành chức chủ yếu như sau:

(a) Môi trường văn hóa dân gian (dòng họ và làng xã, tín ngưỡng và tôn giáo).

(b) Môi trường sáng tạo và hưởng thụ văn học.

(c) Môi trường giáo dục, trước tác và truyền bá tri thức.

(d) Môi trường hành chính, sự nghiệp.

(e) Môi trường hoạt động kinh tế.

(f) Môi trường giao lưu quốc tế.

Có thể nhận thấy rằng các công trình nghiên cứu về chữ Nôm cũng như về chữ Hán và chữ Quốc ngữ hiện nay chưa thực sự đi sâu khảo sát các cứ liệu thực tế theo các môi trường hành chức nêu trên. Thông thường có một tâm lý coi nhẹ thứ văn tự không hoặc ít được sử dụng trong môi trường hành chính sự nghiệp, chưa được xác nhận là văn tự chính thức của quốc gia. Thực ra thì trong thế "song hành" hoặc "tam hành" của ba thứ chữ được người Việt Nam sử dụng, có thể nhận ra một bức tranh với nhiều mảng đậm nhạt khác nhau dành cho ba thứ chữ tùy theo các thời kỳ và những môi trường hành chức khác nhau. Chẳng hạn, có thể hình dung được rằng, với chức năng sáng tạo và hưởng thụ văn học thì chữ Nôm không hề thua kém mà có phần nổi trội hơn chữ Hán (với những tác phẩm văn thơ chữ Nôm nổi tiếng từ Nguyễn Trãi, qua Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương đến Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, v.v...). Trong giới Công giáo Việt Nam, nhất là vào thế kỷ XVII, XVIII, bên cạnh chữ Quốc ngữ còn sử dụng cả chữ Nôm trong khá nhiều văn bản, kể cả giáo lý, kinh truyện và thư từ. Và đối với từng thứ chữ cũng sẽ có sự biến chuyển chức năng tuỳ theo từng thời kỳ phát triển của đời sống xã hội Việt Nam. Chẳng hạn, chữ Hán đã từng là văn tự hành chính và bang giao của nước ta trong thời phong kiến, sang thế kỷ XX chữ Quốc ngữ đã dần dần gánh vác vai trò này. Cũng cần lưu ý là mỗi hệ thỗng văn tự không chỉ hành chức một cách riêng rẽ, mà nhiều khi là phối xen hoặc phối hợp với nhau trong cùng một văn bản, nhằm thoả mãn những nhu cầu khác nhau của người tiếp nhận. Tiêu biểu nhất là trường hợp của những tác phẩm Hán văn được "giải âm" bằng chữ Nôm, và từ đầu thế kỷ XX thì có cả sự tham gia của chữ Quốc ngữ (và đôi khi cả chữ Pháp) nữa vào các văn bản Hán Nôm như thế. Hy vọng rằng, những cuộc khảo sát và nghiên cứu trên nhiều cứ liệu cụ thể sẽ tiếp tục làm sáng rõ thêm vai trò chức năng của chữ Nôm bên cạnh chữ Hán và chữ Quốc ngữ.

5. Vấn đề phiên âm và chú giải chữ Nôm

Công việc phiên âm chú giải các tác phẩm chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ có lẽ đã bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, đến nay có hơn 100 năm lịch sử. Những cố gắng không mệt mỏi của nhiều thế hệ các nhà phiên chú đã giúp cho đông đảo dân chúng Việt Nam có điều kiện thông qua chữ Quốc ngữ để hưởng thụ và tự hào về nền văn học chữ Nôm phong phú mà tổ tiên chúng ta đã để lại. Thực tiễn phiên âm và chú giải chữ Nôm đồng thời cũng gợi lên nhiều vấn đề khoa học cần bàn thảo. Không đi sâu vào các hiện tượng và chi tiết, ở đây chúng tôi chỉ xin trình bày vắn tắt một số khía cạnh có tính nguyên tắc của vấn đề.

Trước hết, một điều hết sức rõ ràng là phiên chuyển từ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ là làm công việc chuyển mã văn tự, từ một loại hình văn tự biểu âm biểu ý sang loại hình văn tự phiên âm theo chữ cái. Trong sự phiên chuyển hình thức văn tự này, dù muốn hay không, thể nào cũng có chỗ được chỗ mất. Chẳng hạn: Trong văn bản chữ Quốc ngữ phải viết hoa tên riêng và một số danh xưng nhất định, phải chấm phảy câu văn, chia tách đoạn văn, v.v..., mà văn bản Nôm thì không, đòi hỏi nhà phiên chú phải "làm việc" thêm rất nhiều. Ngược lại, những thành tố biểu ý trong chữ Nôm giúp ích không ít cho việc nắm hiểu nghĩa chữ nghĩa câu, thì trong phiên bản Quốc ngữ, giá trị "biểu ý" này hoàn toàn bị thủ tiêu, và đôi khi buộc nhà phiên chú phải chua thêm cho rõ nghĩa.

Tiếp theo, phiên chuyển văn bản chữ Nôm trong quá khứ sang văn bản chữ Quốc ngữ ngày nay, nói chung là đồng thời phiên chuyển một phần nào đó hình thức ngữ âm của từ ngữ tiếng Việt ngày xưa sang tiếng Việt ngày nay. Trong việc này lại cũng có chuyện chỗ được chỗ mất. Chẳng hạn: trong văn bản Nôm thường chấp nhận nhiều hình chữ khác nhau cho một ngữ tố hay một từ đơn tiết, điều này đôi khi làm phân tán tâm trí người đọc, khi chuyển sang văn bản chữ Quốc ngữ, tình trạng này liền bị thủ tiêu. Ngược lại, trong khuôn khổ của chữ Quốc ngữ và cách phát âm của tiếng Việt hiện nay, sẽ là chuyện kỳ dị, nếu gặp những chữ Nôm có thành tố thể hiện phụ âm kép thời xưa, như mà phiên là “blăng, klươc” cho người thời nay đọc (để rồi phải chua là “trăng, trước”). Xin nhớ cho rằng, chuyển chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ cho người thời nay đọc là câu chuyện khác hẳn với việc tái lập cách phát âm cổ như nó vốn được phản ánh trong văn bản gốc.

Rõ ràng là trong những trường hợp trên đây, người đọc các văn bản phiên âm chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ khó lòng có thể hình dung hết mọi sự đặc thù của văn bản Nôm trong nguyên tác. Với những "chỗ mất" như thế, khi thật sự cần thiết, nhà phiên chú có thể bù lại phần nào bằng cách ghi lời chú giải ngoài văn bản chính. Ngoài những điều có vẻ là đương nhiên như trên đây, thực tiễn phiên âm và chú giải văn bản Nôm còn đặt ra rất nhiều khía cạnh đòi hỏi phải cân nhắc xử lý sao cho thoả đáng. Chẳng hạn như sau:

(a) Trong trường hợp tác phẩm Nôm không phải là độc bản, mà có một số truyền bản, thì nhà phiên chú sang chữ Quốc ngữ sẽ phải cân nhắc lựa chọn một trong hai khả năng: Chỉ tuyệt đối trung thành với một truyền bản hay là thực hiện việc đối chiếu với các truyền bản khác để lựa chọn những gì được cho là tối ưu, tổng hợp thành văn bản mới trước khi chuyển mã sang chữ Quốc ngữ. Trong trường hợp thứ nhất, nếu có sự tham chiếu với truyền bản khác để bổ cứu những sai sót hoặc lầm lẫn hiển nhiên (trong sao chép hoặc khắc in) trong văn bản được chọn thì cũng có thể chấp nhận được với điều kiện cần phải ghi chú rõ ràng về sự bổ cứu đó. Trong trường hợp thứ hai, phần khảo cứu đối chiếu và chú giải văn bản trong bản phiên chú chữ Quốc ngữ là không thể bỏ qua, có điều mức độ chi tiết thì có phần phụ thuộc vào quy mô và mục đích phiên chú để xuất bản. Thực tiễn phiên chú các tác phẩm Nôm, như Truyện Kiều chẳng hạn, đã phản ánh sự nhất quán hay không trước sự lựa chọn có tính nguyên tắc trên đây.

(b) Có lẽ cũng tùy thuộc vào mục đích phiên chú mà có sự lựa chọn cân nhắc trước các chữ Nôm có thể đọc theo âm cổ và cả âm hiện đại hoặc đọc theo âm địa phương và cả âm phổ thông. Khi có sự cần thiết phản ánh phong cách thời đại hoặc phong cách địa phương của tác phẩm, hẳn là nhà phiên chú sẽ bảo lưu cách phát âm cổ hoặc địa phương trong văn bản phiên chú của mình.

(c) Mặc dù chúng ta chưa tìm thấy chứng cớ nào cho thấy trong quá khứ chữ Nôm đã được chuẩn hóa ở cấp độ chính sách ngôn ngữ của quốc gia. Song điều đó không có nghĩa là trong thực tế viết chữ và tạo chữ Nôm cũng đã không hề có sự cố gắng chuẩn hóa nhất định nào đó ở cá nhân các tác gia lớn và ở các tác phẩm của họ. Mặc dù nói chung chữ Nôm có phần thiếu ổn định giữa hình chữ và âm đọc (một chữ có thể đọc nhiều âm và ngược lại), nhưng với những tác giả lớn (và cả nhà in lớn), tình trạng tuỳ tiện khi viết chữ là rất hạn chế. Nhà phiên chú hiện đại không thể không lưu ý đến những biểu hiện của xu hướng chuẩn mực hóa như thế trong tạo chữ và dùng chữ của tác giả nguyên bản.

(d) Có lẽ cần phân biệt việc chuyển mã (phiên chuyển) chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ, với việc giải mã các đơn vị chữ trong văn bản Nôm. Thuật ngữ sau chỉ nên dùng vào những trường hợp nhà nghiên cứu phải "đau đầu" trước những mã chữ không dễ gì một lúc có thể đọc được âm và giải được nghĩa của chúng. Đương nhiên là trong toàn bộ công việc phiên chú các văn bản Nôm, đôi khi chúng ta bắt gặp những trường hợp nan giải như vậy, đặc biệt là những chữ Hán được mượn để ghi từ ngữ Việt, như hai chữ 又又 曰 (“song viết” / “rông vát”? v.v...) chẳng hạn, đòi hỏi phải nghiên cứu giải mã riêng, và chính qua việc nghiên cứu cụ thể đó, sẽ góp phần xác định những nguyên tắc và thao tác cần thiết cho công việc phiên chú chữ Nôm. Trong công việc gian nan này, những tri thức bách khoa là hết sức cần thiết, mà cách tiếp cận của ngôn ngữ học lịch sử là cực kỳ quan trọng.

6. Tin học hóa và ứng dụng chữ Nôm

Có lẽ đối với không ít người thì chữ Nôm là thứ văn tự của quá khứ, và ngày nay chỉ cần đào tạo một số chuyên gia để tiếp xúc với nó, với các văn bản Hán Nôm do người xưa để lại, là đủ rồi. Do đó, việc tin học hóa chữ Nôm phải chăng là cần thiết phải đặt ra? Câu hỏi này trên thực tế đã được nêu ra hơn mười năm trước đây, và đến nay, đã có được những bước đi ban đầu của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực Hán Nôm và lĩnh vực công nghệ thông tin theo hướng khẳng định sự cần thiết của tin học hóa chữ Nôm nhằm đáp ứng một loạt các nhu cầu mới trong đời sống xã hội ngày nay. Thuộc loại những nhu cầu như thế có thể kể như: Cần phải có bộ chữ Nôm trên máy tính để thực hiện việc lập danh mục các tư liệu chữ Nôm hiện đang lưu trữ ở các nơi, và thực hiện việc thông tin chúng giữa các thư viện và giữa thư viện với độc giả qua máy tính. Cũng cần phải có các phần mềm chữ Nôm để thực hiện việc in ấn từng chữ riêng lẻ hay từng đoạn văn trong các sách vở nghiên cứu hoặc trong sách giáo khoa, thậm chí có thể dùng chúng để chế bản và in ấn các văn bản chữ Nôm mới (câu đối, gia phả, thơ văn, v.v...) theo nhu cầu khác nhau của công chúng. Một điều quan trọng là với sự hiện diện của chữ Nôm trên máy tính, thế hệ những người Việt Nam hôm nay và mai sau sẽ không còn "kính nhi viễn chi" đối với chữ Nôm, và như vậy, chữ Nôm - di sản văn hóa của dân tộc, sẽ không còn nguy cơ bị mai một nữa.

Có nhiều khía cạnh trong vấn đề tin học hóa và ứng dụng chữ Nôm qua công nghệ thông tin. Tại đây, chúng tôi chỉ xin đề cập đến một vài khía cạnh có liên quan mang tính chất nghiên cứu cơ bản thuộc lĩnh vực ngữ văn Hán Nôm mà thôi.

(a) Bước đi đầu tiên trong tiến trình tin học hóa chữ Nôm là phải xác lập kho chữ Nôm và thực hiện việc mã hóa chúng. Từ hơn mười năm qua, các chuyên gia ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm cùng phối hợp với các chuyên gia tin học trong và ngoài nước, đã thực hiện công việc này trong chương trình chung của Nhóm công tác về chữ biểu ý (IRG - Ideographic Raporteur Group) thuộc tổ chức ISO quốc tế. Đến cuối năm 2000, trong bảng tổng hợp kho chữ biểu ý của nhóm IRG đã có mặt 9229 chữ của Việt Nam, với mã quốc tế Unicode. Khi xác lập các danh sách chữ Nôm để cung cấp cho IRG, các chuyên gia Việt Nam đã tuân theo hai nguyên tắc cơ bản: Một là, tôn trọng thực trạng đa dạng của chữ Nôm thể hiện qua các văn bản khác nhau, chỉ bước đầu thực hiện chuẩn hóa các nét bút và hình thể các thành tố của đơn vị chữ mà thôi. Hai là, ưu tiên cung cấp những chữ Nôm "thuần Việt". Trong số những chữ Nôm thuần Việt, cũng có một số ngẫu nhiên trùng hình với chữ Hán và các hệ văn tự khác trong khu vực. Hiện nay còn có danh sách gồm 2286 chữ nữa (trong đó có cả chữ Nôm Tày) đang được đăng ký để cấp mã quốc tế. Trong các tập chữ Nôm kể trên, vẫn có thể phát hiện một số ít trường hợp có sự lầm lẫn về hình chữ và không ăn khớp giữa hình chữ với ký mã của chữ, cần tiếp tục điều chỉnh khi có điều kiện.

(b) Công việc tiếp theo là thực hiện việc nghiên cứu mối tương quan giữa hình chữ và âm đọc, xác lập tương đối đầy đủ quan hệ đối ứng giữa hai bên. Trên cơ sở đó mới có thể tạo ra các phần mềm chữ Nôm được cài đặt theo khóa âm đọc (qua chữ Quốc ngữ). Hiện nay Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng đang thực hiện chương trình nghiên cứu đối chiếu này.

(c) Để có thể vẽ phông chữ Nôm, cần xúc tiến việc nghiên cứu cấu trúc chữ Nôm theo các thành tố trực tiếp, đồng thời thực hiện chuẩn hóa các thành tố đó theo các phong cách viết chữ khác nhau. Từ đó xác lập sự tương đồng và tương dị giữa các thành tố về hình thể, về vị trí trong thể thức ô vuông của chữ Nôm. Nhóm Nôm Na thuộc Hội Bảo tồn chữ Nôm (Hoa Kỳ) và một số nhóm khác ở Huế, Tp. Hồ Chí Minh đã và đang thực hiện những chương trình nghiên cứu này và thu được những kết quả khả quan.

(d) Một trong những hướng ứng dụng các phần mềm chữ Nôm là làm chế bản và in lại các tác phẩm chữ Nôm của người xưa để cung cấp cho độc giả ngày nay một loại hình văn bản mới của tác phẩm cũ - văn bản chữ Nôm in ấn điện tử. Giá trị thực sự của một ấn phẩm Nôm hiện đại như vậy trước hết không phải là ở khía cạnh kỹ thuật, ở chỗ chữ Nôm in ra có đẹp không, mà ở tư cách văn bản học của ấn phẩm đã được xác định như thế nào. Đối với những tác phẩm có nhiều truyền bản, như Truyện Kiều chẳng hạn, thì đây là một vấn đề khá phức tạp. Những vấn đề văn bản học đặt ra ở đây về căn bản cũng như những gì đã nói đến ở điểm (a) mục 5 trên đây. Có thể tìm thấy một số nét tương tự và khác biệt nào đó giữa hai chặng đường làm nên các truyền bản Hán Nôm: từ các truyền bản chép tay đến các truyền bản khắc in, rồi từ các truyền bản khắc in (và có thể cả chép tay) đến các văn bản in ấn điện tử theo công nghệ thông tin hiện đại. Trong mọi trường hợp đều không tránh khỏi vấn đề có thực hiện việc chuẩn hoá văn tự trong ấn phẩm mới hay không.

Tiểu kết

Có thể còn nhiều vấn đề và nhiều khía cạnh của chữ Nôm chưa được đề cập đến ở đây, trong bài này. Song trước khi kết thúc bài viết, chỉ xin được nói sơ qua về một vấn đề quan trọng nữa trong việc nghiên cứu chữ Nôm. Đó là nghiên cứu về lịch sử phát triển của thứ văn tự truyền thống này. Thực ra, nội dung chủ yếu của công việc này chính là ở chỗ: Một mặt, khảo sát kỹ sự phát triển về đặc trưng loại hình và về cấu trúc của chữ Nôm, tìm hiểu sự diễn biến các cách tạo chữ và dùng chữ qua nhiều thời kỳ khác nhau. Mặt khác, cần tìm hiểu, nghiên cứu chu đáo về sự diễn biến trong các khả năng hành chức của chữ Nôm qua các thời kỳ lịch sử khác nhau. Tổng hợp các mặt nghiên cứu đó sẽ cho ta hình dung rõ nét về lịch sử phát triển, diễn biến của chữ Nôm trong lịch sử văn hóa nước ta. Mà những khía cạnh nghiên cứu như vậy, đều không ra ngoài những gì đã trình bày trên đây về sự hình thành chữ Nôm, về đặc trưng loại hình của chữ Nôm, và đặc biệt là về cấu trúc và vai trò hành chức của chữ Nôm.

N.Q.H

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH:

1. Vương Lực: Hán Việt ngữ nghiên cứu, Trong tập Hán ngữ sử luận văn tập, Khoa học xuất bản xã, Bắc Kinh, 1958.

2. Đào Duy Anh: Chữ Nôm: Nguồn gốc - Cấu tạo - Diễn biến, .Nxb. KHXH, H. 1975.

3. Nguyễn Tài Cẩn: Một số vấn đề về chữ Nôm, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H. 1985.

4. Yonosuke Takeuchi: Tự điển chữ Nôm , Đông Kinh Đại học thư lâm xuất bản, Tokyo, 1988.

5. Dân tộc văn hiến khái lãm, Trương Công Cẩn (chủ biên), Dân tộc xuất bản xã, Bắc Kinh, 1997.

6. Hán tự đích ứng dụng dữ truyền bá , Triệu Lệ Minh, Hoàng Quốc Doanh (biên tập), Hoa ngữ giáo học xuất bản xã, Bắc Kinh, 2000.

7. Nguyễn Quang Hồng, Ngô Thanh Nhàn, Ngô Trung Việt, Đỗ Bá Phước: Chữ Nôm: Văn hóa cổ truyền và thông tin hiện đại, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4/1999.

8. Tự điển chữ Nôm Việt (bản thảo năm 2004), Nguyễn Quang Hồng (chủ biên), Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội./.

TB

GIÁ TRỊ ĐÍCH THỰC CỦA SỬ LIỆU TRONG VĂN BẢN NÔM

NGUYỄN TÁ NHÍ

Lâu nay khi đề cập đến vấn đề tư liệu lịch sử của nước Việt Nam ghi bằng loại chữ khối vuông, người ta chỉ tập trung sự chú ý vào những pho sử đồ sộ ghi bằng chữ Hán. Đó là những tài liệu hoặc do cơ quan chuyên viết sử của triều đình phong kiến biên soạn, hoặc do các sử gia có tâm huyết với lịch sử đất nước viết ra. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là trong vòng mấy chục năm lại đây, các nhà nghiên cứu lịch sử đã chú trọng hơn việc sử dụng tư liệu lịch sử. Tư liệu lịch sử bằng chữ viết cần được khai thác để đánh giá đúng về lịch sử phát triển của dân tộc, đã được mở rộng ra cả các loại sách: địa chí, hương ước, thần phả, gia phả, bằng sắc, những bản công văn hành chính, những tài liệu khoa học kỹ thuật v.v... Song những tài liệu mới được chú ý tới này hầu hết chỉ là những tư liệu được viết bằng chữ Hán. Trước đây những tài liệu do Viện Sử học cho dịch để tham khảo như các bộ sử, địa bạ, hương ước đều là những văn bản chữ Hán, còn các văn bản Nôm chỉ thấy ở Viện Văn học cho dịch. Dường như người ta có ấn tượng rằng số văn bản Nôm còn lại ít ỏi đó chỉ có thể khai thác tư liệu về mặt văn học, nhất là văn học dân gian mà thôi. Đúng là số lượng văn bản Nôm ít hơn nhiều lần so với văn bản chữ Hán, song có phải vì thế mà nó không thể cung cấp cho bộ môn nghiên cứu lịch sử những tư liệu cần thiết cho việc tìm hiểu lịch sử dân tộc về các mặt: đấu tranh giải phóng dân tộc, sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, văn hóa hay không ?

Chúng ta đều có thể dễ dàng thống nhất với nhau rằng việc ghi lại những tâm tư tình cảm, những nhận thức về thế giới khách quan của con người bằng tiếng mẹ đẻ thường là đầy đủ chuẩn xác hơn bằng tiếng nước ngoài. Nhìn vào các văn bản Nôm, ở một chừng mực nào đó chúng ta cũng có thể thể nghiệm được điều đó. Chẳng hạn như sự thất bại thảm hại của hai mươi vạn quân xâm lược nhà Thanh hồi cuối thế kỷ XVIII được nhiều bộ sử của ta và cả của nhà Thanh ghi lại khá đầy đủ, thế nhưng trong bài Thiên triều văn viết bằng lối ca lục bát vẫn có được một ý vị riêng biệt mà ở các bộ sử chữ Hán không có. Bằng giọng văn cầu hồn ai oán thống thiết, tác giả miêu tả rất đầy đủ về cái chết của bọn giặc cướp:

“... Thương thay hỡi các chú ơi
Ăn uống no rồi ta kể một văn.
Quý Tỵ giữa ngày mồng năm
Giờ Dần chính nguyệt ầm ầm huyên hoa.
Một chi đánh ở Đống Đa,
Cầu Duệ kéo đến tốt xa muôn phần.
Phép voi bại trận tiên phong
Cầu Tương sụt cả xuống sông Bồ Đề.
Đạo binh tử trận đầy khe
Dọc đường gài gác nằm kề năn năn.
Chú sang cứu viện nước Nam
Chẳng may gặp phải suối vàng thương thay.
Chú thì thắt cổ trên cây
Chú thì tự vẫn ở ngay trong nhà.
Chú thì thác xuống Diêm La
Chú thì còn sống về nhà Đại Minh.
Ai ai là chẳng đeo tình
Di Đà tiếp dẫn chúng sinh cô hồn.
Chú nào có vợ có con
Có cha có mẹ hãy còn giỗ chung.
Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông,
Nam Kinh, Quảng Bắc có lòng sang đây...”

Văn bản Nôm còn ghi được khá chính xác tên gọi các loài vật, tên đồ dùng vật dụng, tên sông, tên núi, tên người, tên địa phương v.v... Vì vậy nó có thể giúp chúng ta tìm hiểu về phong tục tập quán, về trình độ sản xuất của nhân dân ta trong quá khứ. Ví dụ tìm hiểu các giống lúa trồng cấy ở nước ta trong mấy thế kỷ trước, nếu bằng vào các tài liệu chữ Hán chúng ta có thể nhận biết tên gọi đích thực mà người dân quê thường dùng của các giống lúa ấy, thế nhưng riêng Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa đã cho chúng ta biết được hàng chục giống lúa nếp tẻ khác nhau trồng cấy ở lưu vực sông Hồng thời Lê:

“... Hòa cốc trăm giống kể bày
Thiên hạ bảo vật ta rày dưỡng thân.
Cùng thì hưởng lộc thiên ân
Mỹ tắc nếp mỡ bội phần dẻo lên.
Đương tắc nếp quảng tốt nên
Ác thủ nếp ác màu đen tựa trầm.
Mãn tắc nếp vang đỏ hâm
Hương đạo thực ấy nếp hương dẻo dầy.
Bạch đạo nếp trắng dây dây
Hẩm vang Xích đỗ muộn thay hội mùa.
Lương canh lúa tám thơm tho
Lai mạch lúa sớm rủ câu đen vàng.
Lục mạch chín trước tưng bừng
Hoàng vân lúa hỗ thức vàng tựa mây.
Đồng chí lúa châm muộn thay
Đại mạch lâu chầy lúa chín tháng năm...”

Về mặt ghi chép những truyền thuyết lịch sử thì các văn bản Nôm phần nào tỏ ra đầy đủ tỉ mỉ hơn. Nhiều mẩu chuyện, nhiều tình tiết trong chính sử, nhất là những tài liệu chữ Nôm lại được ghi lại rất sống động, thể hiện sức sáng tạo của quần chúng. Chẳng hạn nhân vật Dương Tự Minh trong Đại Việt sử ký toàn thư chép rất sơ sài: “Đinh Mùi, Thiên Phù Khánh Thọ năm thứ 11... tháng 12... đem công chúa Diên Bình gả cho thủ lĩnh Phú Lương là Dương Tự Minh...”, phần dưới nói thêm việc Dương Tự Minh tham gia vào việc lật đổ quyền thần Đỗ Anh Vũ, việc không thành Dương bị đày đi nơi xa. Thế nhưng trong sách Việt sử diễn âm, nhân vật Dương Tự Minh lại xuất hiện với một thân phận khác hẳn. Dương vốn con nhà nghèo làm nghề kiếm cá nuôi mẹ. Một lần Dương đến trú ở chiếc cầu đổ, có con yêu ma đến nhờ Dương dạy chữ và tặng cho chiếc áo. Dương mặc áo đi về nhà, mẹ Dương không nhìn thấy. Khi cởi áo ra thì bà mẹ mới nhìn thấy ông. Biết áo có phép lạ, Dương nảy ra ý định mặc áo đi ăn cắp của trong kho nhà vua. Sau bị bắt, Dương xin đi đánh giặc Tống chuộc tôi. Xin dẫn một đoạn Dương mặc áo ma vào kho nhà vua:

“... Tự Minh ra dạ chẳng ngay,
Liền vào ăn trộm của nay nội đền.
Giữ kho túc trực bốn bên
Tự Minh trộm được ai nào biết hay.
Rạng ngày quan kho tâu bày:
“Rằng thằng ăn trộm đêm này kho vua”.
Cửa kho khóa kín bo bo
Của thì đã mất khôn lo sự nào.
Anh Tông mới hỏi thấp cao:
“Chúng bay có thấy sự nào lạ chăng”?
Quan kho mới tâu lại rằng:
“Thấy có cái bướm thung thăng ra vào”.
Vua liền phán bảo: “Đêm sau
Dẫu thấy nó vào lấy lưới ra vây”.
Đêm ấy vắng vẻ canh chầy
Liền thấy cái bướm lại bay vào thành.
Quân liền lấy lưới vây quanh
áo ma mắc lưới khôn mình ra đi.
Quân liền bắt được đem về
Lột ra mới thấy tên là Tự Minh...”

Một vài ý kiến đánh giá nhận xét như trên, phần nào đã đề cập tới giá trị của các tư liệu lịch sử có trong các văn bản Nôm. Thật vậy, tuy nói rằng ít ỏi về số lượng nhưng những tư liệu hiếm hoi quý giá ấy vẫn có thể bổ sung, minh xác thêm cho những tài liệu chữ Hán. Để làm sáng tỏ thêm vấn đề này chúng ta hãy tìm hiểu phân tích thêm những văn bản Nôm hiện lưu giữ trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Cũng giống như văn bản chữ Hán, văn bản Nôm bao gồm các thể loại như sau:

1. SÁCH NÔM

Như phần trên đã đề cập tới, số sách Nôm hiện có ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ở các thư viện lớn của các viện nghiên cứu và một số trường đại học, sở văn hóa và trong dân gian ít hơn nhiều so với sách chữ Hán. Theo số liệu điều tra của một số nhà nghiên cứu đã công bố trên sách báo, số sách Nôm ở riêng Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm có khoảng 1.500 cuốn.

Nếu dựa vào đặc điểm tỉ lệ số lượng chữ Nôm trong văn bản mà phân chia, thì trong số 1500 cuốn sách Nôm đó có 500 cuốn sách thuần Nôm, nghĩa là gồm những tác phẩm hoàn toàn ghi bằng chữ Nôm hoặc chữ Nôm chiếm phần chủ yếu, số còn lại là những sách vừa Nôm vừa Hán mà phần Nôm chỉ là thứ yếu, trong đó có 150 cuốn dịch từ Hán sang Nôm.

Nếu dựa vào nội dung tác phẩm phản ánh, giống như cách phân chia của Thư mục Hán Nôm do Thư viện Khoa học Xã hội biên soạn trước đây, thì những sách Nôm có chứa tư liệu lịch sử (gồm cả sách địa chí, gia phả, hương ước, địa bạ v.v...) chỉ có 324 cuốn.

Theo quan niệm mới về tư liệu lịch sử bằng chữ viết, số sách Nôm này có thể phân ra thành mấy loại:

1.1. Tài liệu chính sử:

Về các bộ sử ghi theo lối kỷ truyện hoặc biên niên bằng chữ Nôm trước kia hầu như không có, mãi đến đầu đời Nguyễn mới thấy xuất hiện, song cũng chỉ là những sách tóm lược hoặc bổ sung từng phần vào lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán có trước đó, ví dụ: Sử nam chí dị, Việt Nam sử ký quốc ngữ, Việt Nam sử lược bổ di v.v... Hoặc một số sách dịch từ nguyên bản chữ Hán, như: Việt Nam khai quốc chí diễn âm, Đại Nam hội điển sự lệ quốc âm, Quốc triều sử diễn âm v.v...

1.2. Diễn ca lịch sử:

Gồm những tác phẩm diễn Nôm viết theo thể văn vần, chủ yếu là lục bát và song thất lục bát. Tuy rằng sử dụng các tư liệu của chính sử, song diễn ca lịch sử có được một bút pháp riêng về việc ghi chép các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử, đặc biệt là đã mạnh dạn thu nhặt những tư liệu dã sử, những truyền thuyết dân gian. Những sử liệu lấy từ dã sử này không chỉ đơn thuần bổ sung cho chính sử, mà đôi khi còn đối lập hẳn với chính sử. Có loại dựa vào bộ sử biên niên diễn ca toàn bộ lịch sử Việt Nam từ thời Hùng Vương dựng nước cho đến thời đại của tác giả, như Thiên Nam quốc ngữ thực lục, Việt sử diễn âm, Đại Nam quốc sử diễn ca v.v... Có loại chỉ viết về một triều đại hoặc một vài nhân vật lịch sử tiêu biểu, như Mạc sử diễn âm, Lê Thái Tổ lịch sử ca v.v...

1.3. Hương ước, khoán ước:

Hương ước, khoán ước là loại sách ghi chép các quy định ước lệ chung về nếp sống sinh hoạt ở hương thôn như nghi thức tế lễ, ma chay, hội hè, đình đám, bầu lý trưởng, bán ruộng v.v... Do ghi chép bằng chữ Nôm nên nhiều phong tục tập quán, điều kiện sinh hoạt của cộng đồng người Việt trong các làng xã được phản ánh một cách đầy đủ chính xác hơn, ví dụ như: Vân Trục tổng các xã thôn hương ước, Văn khoán ước cúng lễ hội đàn của xã Phù Lễ, Đông Trù kê hương ước, Hương ước các làng v.v...

1.4. Sách từ vựng dạy học:

Loại sách từ vựng tiểu phẩm có thể coi là những bộ tự điển hai thứ tiếng đầu tiên của nước ta, từ điển Hán Việt. Các từ Hán được giải thích ra tiếng Việt và sắp xếp theo các chủ đề: thiên văn, địa lý, nhân luân, thân thế, tôn giáo, canh nông, khí cụ v.v... Những chủ đề này đã đề cập đến mọi mặt sinh hoạt của xã hội, từ những công việc hàng ngày trong sản xuất, trong đời sống của nhân dân lao động cho đến các việc chính sự trong triều đình, trong cung cấm, ví dụ: Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, Đại Nam quốc ngữ, Nhật dụng thường đàm, Tự loại diễn nghĩa v.v...

1.5. Sách y học:

Số sách y học cũng có thể chia làm hai loại nhỏ. Một loại là sách dịch từ nguyên bản chữ Hán, như Hồng nghĩa giác tư y thư, Bảo thai thần hiệu toàn thư quốc âm, Thực vật bản thảo v.v... Một loại chiếm số lượng lớn hơn là những bài thuốc, những cách chữa bệnh rút ra từ kinh nghiệm thực tế viết lại dưới dạng văn vần, như: Gia truyền thiên kim quốc ngữ, Chủng tử bảo thai quốc âm, Chẩn đậu gia truyền quốc âm v.v...

1.6. Văn Nôm biền ngẫu như: Hịch, dụ, cẩn khải, văn tế, văn chiêu hồn

Loại tài liệu này thường là gắn với một sự kiện lịch sử cụ thể và nằm rải rác trong văn bản chữ Hán, ví dụ bài Khải của Nguyễn Lệnh Danh dâng lên chúa Trịnh nói về cuộc đấu tranh ngoại giao quyết liệt giữa triều đình Lê - Trịnh và sứ thần nhà Thanh; bài Biểu dụ quân dân hai xứ Thuận Quảng của Hoàng Ngũ Phúc kể về việc triều đình Lê - Trịnh huy động sức người sức của ở xứ Thuận Quảng phục vụ cho cuộc chinh phạt chúa Nguyễn hồi đó v.v...

1.7. Sách quân sự

Về mặt quân sự, tài liệu trong sách Nôm chủ yếu đề cập đến phương án tác chiến, như cách đánh địch ở đồng bằng, ở miền núi cao, ở miền đầm lầy, hoặc cách công phá đồn lũy, cách đánh quân cứu viện và thường được trình bày dưới dạng “trả lời câu hỏi”, ví dụ: Thảo tặc vấn đối quốc âm luận, Gia truyền giải âm tổng yếu, Vũ nghệ quốc ngữ ca v.v...

1.8. Kinh Phật

Số sách Nôm ghi chép về đạo Phật chiếm gần một phần tư số sách Nôm hiện còn, nhiều cuốn có niên đại rất sớm. Phải thừa nhận rằng những chứng tích xưa nhất về chữ Nôm mà ngày nay ta có được phần lớn nằm trong các sách ghi chép về đạo Phật. Đặc điểm này khiến nó không chỉ cung cấp cho các nhà nghiên cứu những tư liệu quý giá để nghiên cứu đạo Phật ở Việt Nam, nghiên cứu nguồn gốc cấu tạo và diễn biến của chữ Nôm, mà còn cung cấp nhiều tư liệu có giá trị khác. Ví dụ, vấn đề tên nước Việt Nam có tự bao giờ ? Nhiều tài liệu chữ Hán đều khẳng định có từ đời Nguyễn (1802-1945), nhưng trong sách Nôm Phật giáo lại thấy có xuất hiện sớm hơn. Hòa thượng Chân Nguyên Tuệ Đăng, một vị Thiền sư có danh tiếng trong phái Trúc Lâm sống ở đầu thế kỷ XVIII, đã hai lần nói đến tên nước Việt Nam trong tác phẩm của mình, là Nam hải quan âm bản hạnh ngữ lục:

“Việt Nam Yên Tử Quỳnh Lâm,
Sát tiêu cực lạc cổ câm những là”.

Trần triều Thiền tông bản hạnh truyền tâm quốc ngữ hạnh:

“Việt Nam thắng cảnh Hoa Yên
Sát tiêu cực lạc tây thiên những là.”

2. VĂN BIA

Bia chữ Nôm không nhiều, song rải rác các đời Lê, Nguyễn đời nào cũng có. Ngoài một số bia ghi lại trọn vẹn một bài thơ Nôm của một danh nhân nào đó, còn thấy có một số bia ghi chép hương ước, lệ làng, việc thờ cúng thần Phật, như Cao Mại bi, Lâm Tế chính phái v.v... Đáng lưu ý hơn nữa là khá nhiều văn bia đã dùng chữ Nôm để ghi tên núi, tên sông, tên xứ đồng có liên quan mật thiết với những chiến công chống ngoại xâm hiển hách, hay một sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ.

3. BẰNG SẮC

Bằng sắc bằng chữ Nôm do triều đình phong kiến ban cho các quan lại địa phương cũng còn lại khá nhiều. Có dòng họ vẫn cất giữ gần như nguyên vẹn hàng chục tấm sắc phong. Gần đây các nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử đã phát hiện được tại dòng họ quan lang ở Phủ Quỳ, Nghệ An có hòm đựng gia bảo, trong đó có hơn mười sắc phong bằng chữ Nôm thời Tây Sơn. Một vài chuyến đi công tác của anh em khác về Chương Mỹ, Hà Tây; Gia Lương, Bắc Ninh cũng thu được kết quả tương tự...

Ngoài số sách Nôm, bia chữ Nôm, bằng sắc Nôm còn có câu đối ở đền miếu và gia đình, ván khắc in, tranh vẽ dân gian có chua chữ Nôm cũng là những văn bản Nôm có chứa đựng nhiều tư liệu lịch sử.

Thành tựu nghiên cứu của ngành khảo cổ, văn hóa dân gian trong những năm gần đây phát hiện từ trong lòng đất, tìm thấy từ trong dân gian nhiều tư liệu quý giá cung cấp cho bộ môn sử học. Mong rằng ngành thư tịch học, nhất là những người nghiên cứu văn bản Nôm trong những năm tới đây cũng cố gắng tìm tòi nghiên cứu khai thác những tư liệu lịch sử quý giá hiện đang tiềm tàng trong các văn bản Nôm của nước ta, nghĩa là ở một chừng mực nào đó cũng cung cấp cho bộ môn sử học những tư liệu thực sự cần thiết.

N.T.N

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cúng khoa văn tạp lục, ký hiệu A.1948.

2. Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, ký hiệu AB.372.

3. Việt sử diễn âm, ký hiệu AB.108.

4. Nam Hải quan âm bản hạnh ngữ lục.

5. Thiền tông bản hạnh .

6. Di sản Hán Nôm Việt Nam - thư mục đề yếu, Nxb. KHXH, H. 1993.

7. Đại Việt sử ký toàn thư, (Bản dịch), Nxb. KHXH, H. 1993.

8. Đào Duy Anh: Chữ Nôm - nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến, Nxb. KHXH, H. 1976.

9. Kiều Thu Hoạch: Báo cáo điều tra về sách Nôm và tình hình khai thác văn bản Nôm từ trước Cách mạng tháng Tám đến nay, in trong Thư tịch cổ và nhiệm vụ mới, Nxb. KHXH, H. 1980./.

TB

CHỮ NÔM VÀ VĂN HỌC CHỮ NÔM

TRỊNH KHẮC MẠNH

Việt Nam cũng như các nước Nhật Bản, Triều Tiên và Hàn Quốc qua giao lưu đã chịu ảnh hưởng văn hóa Hán của Trung Quốc và đã sử dụng chữ Hán trong một thời gian nhất định. Ở Việt Nam, chữ Hán có mặt từ rất sớm, có thể kể từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên, sau này, đến hết thời kỳ “Bắc thuộc” - thời kỳ đô hộ của chế độ phong kiến phương Bắc (thế kỷ I - X) chữ Hán tiếp tục phát triển. Từ năm 939 trở về sau, Việt Nam thoát khỏi sự thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán vẫn được thịnh hành và khẳng định vị trí quan trọng của nó trong đời sống chính trị, văn hóa, xã hội của người Việt. Chữ Hán trở thành một phương tiện quan trọng để nâng cao dân trí, thi cử, đào tạo nhân tài và phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam.

Từ chữ Hán, người Việt sáng tạo ra chữ Nôm, được sử dụng và phát triển trong đời sống văn hóa của người Việt. Xét về mặt vị trí, thì chữ Hán được nhiều triều đại phong kiến Việt Nam coi trọng, được xem là văn tự chính thống của quốc gia. Còn chữ Nôm chủ yếu được phát triển trong sáng tác văn học, tuy nhiên cũng có những triều đại phong kiến Việt Nam coi trọng chữ Nôm, như triều Tây Sơn (1788 - 1802).

Chữ Nôm ra đời có ý nghĩa hết sức lớn lao, đánh dấu bước phát triển của nền văn hóa dân tộc, ý thức tự cường và khẳng định vai trò, địa vị của tiếng Việt. Như mọi người đều biết, tiếng Việt của chúng ta rất giàu hình ảnh, là tiếng nói của nhân dân, là lời văn trong sáng của các nhà ngoại giao và là ngôn ngữ cảm xúc văn học trong các sáng tác của các nhà thơ, nhà văn và là kho tàng ca dao trong sáng tác văn học dân gian. Tiếng Việt của chúng ta giàu tình cảm, nhiều màu sắc và âm điệu, phản ánh tâm hồn trong sáng và cốt cách vĩ đại của nhân dân Việt Nam trải hàng ngàn năm lịch sử.

Có nhiều học giả trong và ngoài nước đã đi sâu tìm hiểu về sự ra đời của chữ Nôm và có nhiều ý kiến khác nhau: Lê Dư và GS. Nguyễn Đổng Chi đã căn cứ vào ý “Sĩ Vương bắt đầu lấy chữ Hán để dịch ra tiếng ta” của Nguyễn Văn San trong Đại Nam quốc ngữ, để đưa ra nhận định cho rằng chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp (thế kỷ thứ II)(1). Nguyễn Văn Tố thì dựa vào chữ “Bố Cái” mà nhân dân suy tôn Phùng Hưng là “Bố Cái đại vương” để cho rằng chữ Nôm có từ cuối thế kỷ thứ VIII(2). Học giả Trần Văn Giáp đã căn cứ vào chữ “Cồ” trong quốc hiệu “Đại Cồ Việt”, để cho rằng chữ Nôm có từ thời nhà Đinh(3). Trần Huy Bá dựa vào chữ “Ông Hà” khắc trên quả chuông Vân Bản tự chung minh tìm được ở Đồ Sơn có niên đại năm 1076, để cho rằng chữ Nôm có từ thời nhà Lý(4). Hai nhà nghiên cứu là GS. Nguyễn Tài Cẩn và GS. Lê Văn Quán đã căn cứ vào mặt thanh mẫu, vận mẫu để chứng minh chữ Nôm không thể có từ thời Sĩ Nhiếp(5) mà xuất hiện sau thời Đường Tống(6). GS. Đào Duy Anh cho rằng: do yêu cầu mới của xã hội từ sau cuộc giải phóng, đặc biệt dưới các triều Đinh, Lê và đầu Lý, chữ Nôm đã xuất hiện(7).

Bắt đầu từ thời nhà Lý, chúng ta thấy trong các văn bia hiện còn lưu giữ được, xuất hiện những chữ Nôm ghi tên đất và tên người, như: Phụng Thánh phu nhân Lê thị mộ chí (niên đại 1173) có các chữ:: “Bà Cảm, đầu đình, cửa ngõ, bến sông”; Chúc Thánh Báo Ân tự bi (niên đại 1185-1214) có các chữ: “Bà Đỗ, đồng Mộc”; Báo Ân thiền tự bi ký (niên đại 1210) có các chữ” “đồng Hấp, đồng Chài, đồng Nhe”. Những chữ Nôm khắc trên các văn bia thời Lý là sản phẩm của giai đoạn đầu trong quá trình hình thành và phát triển của chữ Nôm trong các văn bản và làm tiền đề tạo nên văn học chữ Nôm ở Việt Nam sau này.

Chữ Nôm ra đời, đã đáp ứng được phần nào nhu cầu phát triển của nền văn hóa dân tộc, giai đoạn nước Đại Việt vững bước trong kỷ nguyên độc lập, tự chủ và thống nhất. Ở thời nhà Lý, chữ Nôm xuất hiện trong các văn bản chỉ đơn thuần là những từ ghi tên người hay tên đất; nhưng sang thời nhà Trần thì đã phát triển thịnh hành và bắt đầu dùng trong ghi chép trước thuật để tạo nên văn học chữ Nôm.

Thời Trần, theo các tài liệu đã công bố, chúng ta còn lưu giữ được một số văn bản được coi là văn học chữ Nôm ở vào thời kỳ này. Trước hết phải kể đến Cư trần lạc đạo phú Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca của vua Trần Nhân Tông (1258-1308), tổ thứ nhất của phái Thiền tông Trúc Lâm; tiếp đến là Hoa Yên tự phú của Lý Đạo Tái (1254-1334), đạo hiệu là Huyền Quang, tổ thứ ba của phái Thiền tông Trúc Lâm và Giáo tử phú của Mạc Đĩnh Chi (thế kỷ XIV). Bốn bài phú này, hiện còn được ghi chép trong sách Thiền tông bản hạnh.

Ngoài ra, các bộ sử lớn của Việt Nam, như Đại Việt sử ký tiền biên (q.5, t.37) và Khâm định Việt sử thông giám cương mục (q.7, t.26) đều ghi: “Mùa thu tháng 8 năm Nhâm Ngọ niên hiệu Thiên Bảo thứ 4 (1282), có cá sấu đến sông Lô, Vua sai quan Thượng thư Bộ Hình là Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống sông, cá sấu tự bỏ đi. Vua cho việc ấy giống việc làm Hàn Dũ (đời nhà Đường) nên ban cho ông họ Hàn. Thuyên giỏi thơ phú quốc ngữ, nhiều người bắt chước làm. Nay gọi thơ quốc âm là Hàn luật bắt đầu từ đây”. Rất tiếc bài văn của Nguyễn (Hàn) Thuyên đã bị thất truyền, còn tập thơ của ông là Phi sa tập cũng đã thất truyền, nhưng theo Phan Huy Chú ghi trong Lịch triều hiến chương loại chí (phần Văn tịch chí) thì “Tập này có nhiều thơ quốc âm”. Như vậy, theo các tư liệu lịch sử thì Nguyễn (Hàn) Thuyên là người giỏi về văn và thơ Nôm, rất tiếc các tác phẩm của ông hiện không còn. Căn cứ vào ghi chép của Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí thì Chu Văn An (?-1370) có Tiều ẩn quốc ngữ thi tập (đã bị thất truyền), sau này các nhà nghiên cứu cho rằng có thể trong tập thơ này có thơ chữ Nôm. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, q.7, t.44) thì Nguyễn Sĩ Cố (thế kỷ XIV) cũng giỏi làm văn thơ quốc âm, để cho mọi người theo; và cũng theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, q.11, t.3 và t.22) có chép việc Hồ Quí Ly (cuối thế kỷ XIV - đầu thế kỷ XV) có làm thơ quốc âm để tặng vua Trần Nghệ Tông và dịch thiên Vô dật trong Kinh Thư ra quốc ngữ để dạy cho các quan gia (nhưng đều thất truyền). Theo Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử thì Hồ Tông Thốc (thế kỷ XIV) có soạn cuốn Phú học chỉ nam và Nguyễn Phi Khanh (1355-1428) cùng nhiều nho sĩ có làm bài phú Con ngựa lá.

Nhìn chung, tác phẩm văn học chữ Nôm thời Trần truyền lại đến nay không được nhiều; những tác phẩm này tuy thuộc thời Trần, nhưng chắc chắn đã được người đời sau sửa chữa, thay đổi, vấn đề giám định văn bản vẫn đang được đặt ra cho giới Hán Nôm học. Nhưng đây là những văn bản có giá trị giúp chúng ta tìm hiểu về sự hình thành văn Nôm (đặc biệt là văn Nôm biền ngẫu) nói riêng và văn học chữ Nôm thời Trần nói chung. Các tác gia văn học thời Trần đã tạo nền móng cho việc sáng tác văn học bằng ngôn ngữ dân tộc. Đây là sự khởi đầu, tạo tiền đề cho sự phát triển nở rộ những tác phẩm văn học chữ Nôm các thế kỷ tiếp theo.

Thời Lê, vào thế kỷ XV, nền văn học của nước Đại Việt phản ánh tinh thần của một dân tộc đã cường thịnh, với nhiều tác phẩm văn học rất có giá trị về nội dung và thể loại; trong xu hướng phát triển chung của lịch sử, văn học chữ Nôm thời kỳ này đạt được những thành tựu nhất định. Những tác phẩm thơ Nôm điển hình của thời kỳ này, trước hết phải nói đến Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi (1380-1442), với tập thơ quốc âm gồm 254 bài thơ Nôm, Nguyễn Trãi được đánh giá là một trong những tác giả làm thơ Nôm hay nhất trong lịch sử văn học chữ Nôm; tiếp đến là Hồng Đức quốc âm thi tập, trong đó Lê Thánh Tông có 128 bài và sau này người ta sưu tầm các bài thơ Nôm xướng họa của các tác giả khác trong Hội Tao đàn, tạo thành tập thơ quốc âm với khoảng 328 bài thơ Nôm. Quốc âm thi tập Hồng Đức quốc âm thi tập được sáng tác bằng chữ Nôm, ghi lại tiếng nói của dân tộc, nói lên sức sống mãnh liệt, một bước tiến mới của ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác văn học và khẳng định vai trò của văn học chữ Nôm trong văn học Việt Nam thế kỷ XV. Ngoài ra còn có các tác phẩm, như Thập giới cô hồn quốc ngữ văn chép trong Thiên Nam dư hạ tập tương truyền là của Lê Thánh Tông, Kim lăng ký Phan Trần tương truyền là của Đỗ Cận (thế kỷ XV), Hồng Châu quốc ngữ thi tập của Lương Như Hộc (thế kỷ XV); rất tiếc, những tác phẩm này hầu hết đã thất truyền.

Tình hình văn bản các tác phẩm viết bằng chữ Nôm thế kỷ XV, tuy còn nhiều vấn đề cần xem xét, nhưng những tác phẩm còn lại đến hôm nay thể hiện sức sống, âm hưởng cảm xúc của ngôn ngữ dân tộc, tinh thần sáng tạo nghệ thuật của các nhà thơ nhà văn, tạo nên nền tảng vững chắc cho sự phát triển văn học chữ Nôm.

Từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX, trải qua các triều đại phong kiến: Mạc - Lê Trung hưng - Tây Sơn và Nguyễn, tình hình chính trị, văn hóa, xã hội có nhiều biến đổi lớn lao. Các triều đại phong kiến ở Việt Nam phát triển lúc thịnh lúc suy, nhưng văn học Việt Nam nói chung và văn học chữ Nôm nói riêng, lại có sự phát triển mạnh mẽ. Nhiều điểm mới trong sáng tác văn học nghệ thuật được hình thành cả về giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật. Văn học chữ Nôm phát triển toàn diện về chất lượng nội dung và số lượng tác phẩm. Nhiều tác phẩm văn thơ Nôm có tư tưởng tiến bộ, thể hiện nhận thức và quan điểm ngoài khuôn khổ đạo lý chính thống của nhà nước phong kiến; và vì thế, nhà nước phong kiến đã ban hành những có thời kỳ chủ trương cấm đoán hay hủy hoại văn học chữ Nôm(8). Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều tác phẩm văn học Nôm giai đoạn này đã không đề tên tác giả. Nhưng việc sáng tác văn thơ Nôm là khuynh hướng tất yếu của phát triển lịch sử, nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa của công chúng. Bên cạnh sự tiến bộ về giá trị nội dung tác phẩm, văn học chữ Nôm còn có sự phát triển về thể loại, nhằm góp phần vào sự hoàn thiện hệ thống thể loại văn học trung đại Việt Nam. Khi đánh giá về đặc điểm thể loại văn học chữ Nôm, GS. Bùi Duy Tân nhận xét “Sáng tạo về mặt thể loại chỉ có thể tìm thấy ở văn học chữ Nôm, cả quá trình Việt hoá và quá trình dân tộc hóa”(9). Điều này đã được thể hiện rất rõ về sự hình thành và phát triển thành phần thể loại của văn học chữ Nôm từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX.

Về biền văn Nôm, tiếp nối thành tựu từ thời Trần, biền văn Nôm giai đoạn này phát triển ngày càng nhiều về số lượng, như Phụng thành xuân sắc phú của Nguyễn Giản Thanh (1482-?); Cung trung bảo huấn của Bùi Vịnh (1508-1545), Tịch cư ninh thể phú Đại đồng phong cảnh phú của Nguyễn Hãng (thế kỷ XVI); Huyền Quang cho vàng một cung nữ của Nguyễn Thế Nghi (thế kỷ XVI), Phạm Lãi đi chơi Ngũ Hồ của Vũ Duy Đoán (1621-1688), Ngã ba Hạc phú Giai cảnh hứng tình của Nguyễn Bá Lân (1701-1785), Tụng Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng (?-1808), Chiến tụng Tây Hồ của Phạm Thái (1777-1813), v.v... Nhiều kịch bản tuồng viết chữ Nôm theo lối văn biền ngẫu (có xen chữ Hán) đã ra đời trong giai đoạn này, như Sơn Hậu (khuyết danh), Tam nữ đồ vương (khuyết danh), Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh (1716-1763). Nhìn chung, xét về phong cách thể hiện và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ dân tộc, văn biền ngẫu Nôm giai đoạn này có những phát triển mới so với thời Trần, từ ngôn ngữ điển cố sang ngôn ngữ tả thực, từ phong cách khoa trương sang phong cách bình dị.

Thơ chữ Nôm, giai đoạn này có Bạch Vân quốc ngữ thi khoảng 170 bài của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), Ngự đề Thiên hòa doanh bách vịnh gồm 90 bài của Trịnh Căn (1633-1709), Càn nguyên ngự chế thi tập có 231 bài thơ của Trịnh Doanh (?-1767); ngoài ra phải kể đến nhiều tác giả khác có sáng tác thơ Nôm, như Nguyễn Cư Trinh (1716-1763), Mạc Thiên Tích (1706-1780), Nguyễn Tông Khuê (1693-1767), Hoàng Sĩ Khải (thế kỷ XVI), Hồ Xuân Hương (thế kỷ XVIII), Bà huyện Thanh Quan (thế kỷ XIX). Sau này xuất hiện nhiều nhà thơ sáng tác thơ Nôm và thơ Nôm theo thể ca trù, như: Nguyễn Công Trứ (1778-1858), Cao Bá Quát (?-1854), Nguyễn Hàm Ninh (1808-1867), Nguyễn Khuyến (1835-1909), Dương Khuê (1839-1902), Dương Lâm (1851-1920), Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1888-1939), Trần Tuấn Khải (1895-1983) v.v...

Văn học Việt Nam giai đoạn này, với sự đóng góp của văn học chữ Nôm đã xuất hiện những thể loại văn học mới, như: ca trù, diễn ca, truyện thơ lục bát, song thất lục bát và truyện thơ luật Đường, đây là những thể loại sử dụng ngôn ngữ thi ca dân tộc.

Có thể nêu ra hàng loạt tác phẩm, trước hết phải kể đến: Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào của Lê Đức Mao (1462-1529), tác phẩm gồm 128 câu thơ, chia làm nhiều đoạn; mỗi đoạn thường bắt đầu 2 câu thất (hoặc 2 câu ngũ), đoạn giữa là lục bát (thỉnh thoảng có xen song thất lục bát) và đoạn kết là 4 câu song thất lục bát.

Thể truyện Nôm lục bát phải kể đến là Lâm tuyền vãn của Phùng Khắc Khoan (1528-1613), gồm khoảng 200 câu, Ngoạ Long cương vãn gồm 136 câu và Tư Dung vãn gồm 332 câu đều của Đào Duy Từ (1572-1634), Hoán tỉnh châu dân từ của Đinh Nho Hoàn (1671-?), Lư khê vãn tương truyền là của nhóm Chiêu Anh Các, Nhạc Xương phân kính của Nguyễn Thế Nghi (thế kỷ XVI), Song tinh bất dạ gồm 2000 câu của Nguyễn Hữu Hào (?-1713), Sứ trình tân truyện gồm 600 câu của Nguyễn Tông Khuê (1693-1767). Sau này có những tác phẩm truyện thơ Nôm lục bát được lưu hành sâu rộng trong nhân dân và được nhiều người học thuộc lòng, như: Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765-1820), Truyện Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự (1743-1790), Sơ kính tân trang của Phạm Thái (1777-1813), Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888). Ngoài ra còn hàng loạt các tác phẩm thơ Nôm lục bát khuyết danh, như: Nhị độ mai, Phạm Tải Ngọc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa, Phương Hoa, Lý Công Hoàng Trừu, Phan Trần v.v...

Đặc biệt, giai đoạn này xuất hiện các tác phẩm Nôm thể lục bát diễn ca lịch sử, điển hình là Thiên Nam ngữ lục (khuyết danh), đây là tác phẩm viết bằng chữ Nôm dài nhất trong lịch sử văn học chữ Nôm với hơn 8000 câu thơ lục bát; Truyện Song tinh (khuyết danh), Việt sử diễn âm, Thiên Nam quốc ngữ lục ký (khuyết danh), sau này có Đại Nam Quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát (1827-1875). Tiếp thể diễn ca lịch sử là các tác phẩm diễn ca truyện cổ tích, đặc điểm của loại truyện này là nhiều tác phẩm khuyết danh, như: Ỷ Lan phu nhân của Trương Thị Ngọc Trong (thế kỷ XVIII), Lý triều đệ tam Hoàng thái hậu cổ lục thần tích quốc ngữ diễn ca, Chúa Thao cổ truyện, Ông Ninh cổ truyện, Tấm Cám, Thạch Sanh, Trương Chi v.v... Rồi loại ký sự lục bát cũng ra đời, như: Mai Đình mộng ký của Nguyễn Huy Hổ (1783-1841), Bất phong lưu truyện của Lý Văn Phức (1875-1849), v.v...

Thể ca khúc viết theo lối song thất lục bát ở giai đoạn này cũng phát triển và thành thể ngâm, như các tác phẩm: Tứ thời khúc của Hoàng Sĩ Khải (thế kỷ XVI), Thiên Nam minh giám (khuyết danh), Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm (1705-1748) và của Phan Huy ích (1750-1822), Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân (thế kỷ XVIII), Chức cẩm hồi văn của Hoàng Quang (?-1801), Văn triệu linh của Phạm Thái (1777-1813), Văn chiêu hồn của Nguyễn Du (1765-1820), Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ (thế kỷ XIX), Tỳ bà hành của Phan Huy Thực (1778-1844), Bần nữ thán (khuyết danh) v.v...

Thể truyện thơ Nôm luật Đường, như: Vương Tường, Tô công phụng sứ, Lâm tuyền kỳ ngộ, Tam quốc thi v.v.., đều là những truyện khuyết danh cũng lần lượt xuất hiện.

Ngoài ra, còn phải kể đến việc dịch sách và diễn ca kinh truyện sang chữ Nôm của các tác giả văn học thời kỳ này, tiêu biểu là Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Tân biên Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú của Nguyễn Thế Nghi; rồi Hương Hải thiền sư dịch và chú giải kinh phật ra quốc âm, Đặng Thái Phương (1678-?) diễn ca Kinh Dịch, Nguyễn Bá Lân (1701-1785) diễn ca Kinh Thi v.v..., để phổ biến bằng ngôn ngữ dân tộc.

Kho tàng thư tịch về chữ Nôm và văn học chữ Nôm, hiện được lưu giữ tương đối đầy đủ nhất và phong phú nhất ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, với số lượng tác phẩm khoảng 1500 tên sách (trong đó sách viết toàn chữ Nôm khoảng 500 tác phẩm, sách chữ Hán diễn Nôm khoảng 200 tác phẩm, sách chữ Hán lẫn Nôm khoảng 800 tác phẩm), đó là chưa kể tới hàng vạn thác bản văn bia có chữ Nôm (trong đó văn bia toàn khắc chữ Nôm khoảng gần 200 đơn vị). Những năm gần đây, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã sưu tầm được hàng ngàn cuốn sách chữ Nôm của các dân tộc ít người như Tày, Nùng, Dao, Thái v.v...

Để giới thiệu với thế hệ người Việt Nam hôm nay về vai trò của chữ Nôm trong ngôn ngữ văn học dân tộc và một nền văn học chữ Nôm có giá trị, sáng tạo tiến bộ về nội dung và giàu phong cách nghệ thuật; nhiều thế hệ nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam, từ những năm đầu của thế kỷ XX đã tiến hành nghiên cứu chữ Nôm và giám định, phiên dịch, công bố nhiều tư liệu Hán Nôm có giá trị ra tiếng Việt hiện nay. Có thể nêu ra như sau:

Về nghiên cứu chữ Nôm có: Chữ Nôm với chữ Quốc ngữ (Lê Dư), Chữ Nôm - Nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến (Đào Duy Anh), Lược khảo về nguồn gốc chữ Nôm (Trần Văn Giáp), Một số vấn đề về chữ Nôm (Nguyễn Tài Cẩn), Nghiên cứu về chữ Nôm (Lê Văn Quán), Nghiên cứu chữ Nôm Tày (Hoàng Triều Ân và Cung Văn Lược), Các phương thức biểu âm trong cấu trúc chữ Nôm Việt (Nguyễn Tá Nhí), Cấu trúc nghĩa trong chữ Nôm Việt (Lã Minh Hằng), Mối tương quan giữa âm Hán Việt và âm Nôm trong cách đọc chữ Nôm (Trương Đức Quả), Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (Hoàng Thị Ngọ), Chữ Nôm và tiếng Việt qua văn bản Thiên Nam ngữ lục (Nguyễn Thị Lâm), Truyền kì mạn lục - Nghiên cứu văn bản và vấn đề dịch Nôm (Hoàng Hồng Cẩm) v.v...

Về việc phiên âm các văn bản Nôm, có: Truyện Kiều, Hoa Tiên, Phan Trần, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Lục súc tranh công, Phạm Công Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Lâm tuyền kỳ ngộ, Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi, Chỉ nam ngọc âm, Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Tân biên Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, Ngọc Kiều Lê, Thơ ca trù, Thiên Nam minh giám, Thiên Nam ngữ lục, Việt sử diễn âm, Đại Nam quốc sử diễn ca, Lục Vân Tiên, thơ Nôm Hồ Xuân Hương, thơ Nôm Nguyễn Khuyến và nhiều tác gia khác v.v...

Về biên soạn những bộ sách công cụ, nhằm góp phần tạo nên những phương tiện tra cứu khi tiếp cận di sản chữ Nôm, có thể kể như: Bảng tra chữ Nôm (Viện Ngôn ngữ học), Đại từ điển chữ Nôm (Vũ Văn Kính), Từ điển chữ Nôm Tày (Hoàng Triều Ân chủ biên), Từ điển chữ Nôm Việt (Nguyễn Quang Hồng chủ biên) v.v..

Về nghiên cứu khai thác và biên dịch những bộ tùng thư theo chuyên đề, nhằm xã hội hóa ngày càng nhiều các tư liệu Nôm, giúp cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay hiểu được giá trị đích thực của văn hóa truyền thống trong lịch sử, có thể kể như: Thư mục sách Nôm, Thơ Nôm Hàn luật, Văn Nôm biền ngẫu, sắp tới Viện Nghiên cứu Hán Nôm sẽ triển khai xuất bản bộ Tổng tập văn học chữ Nôm - một sưu tập văn học chữ Nôm đầy đủ lần đầu tiên được giới thiệu rộng rãi v.v...

Đặc biệt, để bảo tồn và phát huy chữ Nôm, dưới sự chủ trì của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, các chuyên gia nghiên cứu Hán Nôm cùng các chuyên gia tin học trong và ngoài nước đã xây dựng bảng mã chữ Nôm và đưa chữ Nôm vào bảng mã chuẩn quốc tế IRG/ISO, tổng số chữ Nôm đã đưa vào kho chữ chung quốc tế là 9.299 chữ, trong đó số chữ Nôm không trùng hình với chữ của các nước trong khu vực khoảng 4.200 chữ. Hiện nay, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đang tiếp tục sưu tầm và vẽ chữ Nôm để đưa vào bảng mã chuẩn quốc tế (gồm chữ Nôm Kinh và chữ Nôm Tày), kế hoạch sẽ đưa thêm khoảng hơn 2.000 chữ mới. Khi chữ Nôm được khẳng định trong bảng mã chuẩn quốc tế, như vậy chủ quyền đã được khẳng định, điều này rất có ý nghĩa về quốc tế, cũng như phát huy giá trị khoa học của chữ Nôm trong quá trình giao lưu và hội nhập văn hóa Việt Nam.

Tóm lại, từ những chứng cứ mà các nhà khoa học đã chứng minh cho sự hình thành chữ Nôm từ thế kỷ VIII đến thế kỷ X, chữ Nôm lưu hành trong các văn bản từ thế kỷ XI đến thế kỷ XII, chữ Nôm phát triển từ thế kỷ XIII đến thế kỷ đầu thế kỷ XX và hình thành nên văn học chữ Nôm. Cần phải khẳng định rằng văn học chữ Nôm, trải theo chiều dài lịch sử đã phát triển ngày càng rộng rãi trong đời sống văn học của xã hội, đáp ứng nhu cầu tình cảm của tầng lớp nhân dân, phản ánh tư tưởng yêu nước nhân đạo theo khuynh hướng nhân đạo chủ nghĩa, đánh dấu sự phát triển rực rỡ của văn học chữ Nôm trong lịch sử văn học Việt Nam. Từ đầu thế kỷ XX, việc nghiên cứu cấu tạo chữ Nôm, giám định văn bản Nôm, biên soạn sách tra cứu chữ Nôm, biên soạn thư mục Nôm, và phiên dịch công bố các tác phẩm chữ Nôm có giá trị đã được các nhà nghiên cứu quan tâm; bước đầu thu được những kết quả khả quan, phần nào đáp ứng nhu cầu tìm hiểu di sản chữ Nôm trong đời sống văn hóa xã hội. Chúng tôi mong muốn rằng, giới nghiên cứu Hán Nôm trong và ngoài nước, cần quan tâm hơn nữa đến việc nghiên cứu, khai thác và bảo tồn di sản chữ Nôm trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và trong bối cảnh giao lưu, hoà nhập với văn hóa khu vực và quốc tế; tạo cho chữ Nôm và văn học chữ Nôm có một vị trí nhất định, trong kho tàng di sản văn hóa thành văn của thế giới.

T.K.M

CHÚ THÍCH

(1) Lê Dư: Chữ Nôm với chữ Quốc ngữ trong Tạp chí Nam Phong , tập XXX và Nguyễn Đổng Chi: Việt Nam cổ văn học sử, 1942.

(2) Nguyễn Văn Tố: Bài đăng trong Tạp chí B.E.F.E.O, tập XXX.

(3) Trần Văn Giáp: Lược khảo về nguồn gốc chữ Nôm trong Nghiên cứu lịch sử, số 127, 1969.

(4) Trần Huy Bá: Một quả chuông 700 năm dưới đáy biển trong Tạp chí Tổ quốc, số 3/1963. Nhưng gần đây, theo ý kiến của một số nhà khoa học thì văn bản này có niên đại vào thời Trần.

(5)(6) Nguyễn Tài Cẩn: Cứ liệu ngữ âm lịch sử với vấn đề thời kỳ xuất hiện chữ Nôm trong Ngôn ngữ học, số 1, 1971 và GS. Lê Văn Quán: Góp phần tìm hiểu nguồn gốc chữ Nôm trên cơ sở cứ liệu thanh điệu Hán Việt trong Ngôn ngữ học, số 4, 1973.

(7) Đào Duy Anh: Chữ Nôm - Nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến, Nxb. KHXH, H. 1975.

(8) Các chúa Trịnh, như Trịnh Tạc, Trịnh Cương và Trịnh Doanh; đã ban hành những lệ vào các năm 1663, 1718 và 1760 để thu hồi, tiêu hủy sách chữ Nôm đã in không có lợi cho giáo hóa của triều đình và hạn chế việc in sách chữ Nôm mới. Nhưng các chúa Trịnh lại là những người rất giỏi làm thơ Nôm.

(9) Bùi Duy Tân: Văn học chữ Nôm: tinh hoa - sáng tạo của văn học cổ điển Việt Nam thời trung đại trong Tạp chí Văn học, số 8/1998.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1/ Đào Duy Anh: Chữ Nôm - Nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến, Nxb. KHXH, H. 1975.

2/ Nguyễn Tài Cẩn: Một số vấn đề về chữ Nôm, Nxb. ĐH & THCN, H. 1985.

3/ Lê Văn Quán: Nghiên cứu về chữ Nôm, Nxb. KHXH, H. 1981.

4/ Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Nguyễn Lộc và nhiều tác giả: Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến năm 1945 (ba tập), Nxb. Giáo dục, H. 2000-2002 (tái bản)./.

TB

KHẢO SÁT SƠ BỘ KHO SÁCH CHỮ NÔM Ở THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM

PHẠM THẾ KHANG

1. Thư viện Quốc gia Việt Nam, tiền thân là thư viện Trung ương Đông Dương, được thành lập năm 1917. Khi mới thành lập, Thư viện chỉ lưu trữ các ấn phẩm chữ Latinh (Pháp, Việt...), không lưu trữ sách Hán Nôm. Sau ngày tiếp quản Thủ đô (1954), Thư viện Quốc gia có tiếp nhận một số ít sách Hán Nôm của thư viện Văn phòng Trung ương ở chiến khu chuyển về. Các năm tiếp sau thỉnh thoảng Thư viện cũng nhận được một số sách Hán Nôm của các cơ quan trung ương, của địa phương và của cá nhân gửi tặng. Vì số sách quá ít và thiếu cán bộ chuyên trách, cho nên phải đến năm 1961, Thư viện Quốc gia mới tiến hành lựa chọn sách Hán Nôm để xử lý.

Và đến năm 1963, Thư viện Quốc gia mới bắt đầu công việc biên mục để chuẩn bị thông báo cho bạn đọc sử dụng. Bên cạnh đó, thư viện còn có những hoạt động như đăng tin trên báo thu mua sách Hán Nôm, hay thu gom trong nhân dân qua những người mua bán sách cũ. Nhờ sự kiên trì của cán bộ thư viện và lòng nhiệt tình của người dân mà một kho sách quý hiếm đã được hình thành. Từ đó đến nay, kho sách Hán Nôm luôn được xếp vào loại hình tài liệu quí hiếm có chế độ bảo quản và phục vụ đặc biệt, có kho và phòng đọc riêng biệt.

Hiện nay, sách Hán Nôm đang được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia có trên 1.000 tên sách (gồm 2.300 bản sách, trong đó có 298 tên sách chép tay). Đặc biệt là trong số đó có 257 tên sách chữ Nôm (bao gồm sách chữ Nôm, sách Hán Nôm - Quốc ngữ và sách Nôm - Quốc ngữ).

2. Chúng tôi chưa có điều kiện giới thiệu toàn bộ những văn bản Nôm đang lưu trữ tại thư viện mà chỉ xin giới thiệu về một số văn bản Nôm tiêu biểu.

- Về văn học:

+/ Có thể kể đến Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ một trong những khúc ngâm Nôm hay nhất trong văn học Việt Nam. Giới nghiên cứu Việt Nam đều biết đến Tự tình khúc, nhưng bản Nôm của tác phẩm này rất hiếm, văn bản gốc không còn. Trong kho sách Thư viện Quốc gia, tác phẩm này được chép lại trong một tập sách mang tên Cảm ngộ ngâm (R.1767). Đến nay chưa rõ vì lý do nào mà người chép lại đổi tên là Cảm ngộ ngâm.

+/ Tác phẩm Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều một trong ba khúc ngâm Quốc âm nổi tiếng của văn học cổ điển Việt Nam. Bản in của tác phẩm Nôm này rất hiếm, hiện Thư viện Quốc gia có hai bản in: Bản thứ nhất của Phú Văn đường tàng bản, được khắc gỗ in năm Tự Đức thứ 19 (1866) (R.1962); Bản thứ 2 của Liễu Văn đường tàng bản, khắc in năm Duy Tân Nhâm Tý (1912) (R.1559). Bản in của Phú Văn đường (1866) lưu trữ tại Thư viện Quốc gia có thể xem là bản in xưa nhất hiện có về tác phẩm này. Trước đây, Thư viện Viễn đông Bác cổ Pháp cũng có một bản in Cung oán ngâm khúc năm 1866, nhưng sách đã chuyển về Pháp. Bản in của Liễu Văn đường gần đây hơn (1912), tuy việc khắc chữ Nôm không mấy tinh tế, nhưng cũng rất cần để làm căn cứ cho việc khảo cứu văn bản.

+/ Tác phẩm Tân biên truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, khắc in năm Cảnh Hưng thứ 24 (1763), được lưu trữ tại kho sách Hán Nôm của Thư viện Quốc gia cũng là một văn bản Nôm có giá trị.

+/ Đặc biệt phải kể đến Truyện Kiều - tác phẩm thơ Nôm nổi tiếng, nhưng văn bản Truyện Kiều rất phức tạp, cho đến nay chưa có công trình nào bao quát khảo sát hết các văn bản hiện có. Thư viện Quốc gia có 12 văn bản Truyện Kiều, trong đó văn bản Kim Vân Kiều tân truyện (R.2001) được khắc in khá sớm, năm Tự Đức Kỷ Mão (1879) do Quan Văn đường tàng bản.

Chúng tôi được biết, hiện nay có hai văn bản Nôm Truyện Kiều được khắc in sớm hơn bản Kiều nói trên vài năm. Đó là: bản Kim Vân Kiều tân truyện của Liễu Văn đường tàng bản, khắc in năm 1871 và bản của Duy Minh Thị khắc in năm 1872. Nhưng cả hai bản này đều đang ở nước ngoài, một bản lưu trữ tại Thư viện liên trường Đại học Ngôn ngữ Phương Đông ở Paris và một bản lưu trữ tại Thư viện riêng của cố GS. Hoàng Xuân Hãn.

Gần đây, tại Vinh đã phát hiện một bản Kiều Nôm khắc in năm 1866, được coi là bản Kiều khắc in có niên đại xưa nhất hiện nay.

Như vậy, có thể coi bản Kim Vân Kiều tân truyện chữ Nôm, in ván gỗ, hiện lưu trữ tại Thư viện Quốc gia (R.2001) là một trong những bản Kiều khắc in sớm nhất hiện có ở Việt Nam.

Về lịch sử:

- Có cuốn Đại Nam quốc sử diễn ca, tập diễn ca lịch sử bằng thơ Quốc âm. Sách do nhà in Trí Trung đường khắc ván in lần đầu năm Canh Ngọ Tự Đức thứ 23 (1870). Thư viện Quốc gia hiện có bản in sớm nhất (năm 1870) (R.7; R.303; R.1934) và các bản in năm 1871, 1881 và 1908.

- Sách Kinh Dịch: có tập bài giảng về Kinh Dịch của Phạm Đình Hổ: Dịch phu tùng thuyết (R.1617) bản Hán Nôm chép tay. Kinh Dịch là một lĩnh vực uyên bác, nhưng các tác phẩm nghiên cứu Kinh Dịch trong di sản Hán Nôm không nhiều. Hy vọng cuốn Dịch phu tùng thuyết ở Thư viện Quốc gia sẽ hữu ích cho các nhà nghiên cứu Kinh Dịch.

3. Ngoài ra, trong kho sách Hán Nôm của Thư viện Quốc gia còn có rất nhiều văn bản Hán Nôm khác có giá trị về các lĩnh vực văn học, lịch sử, địa lý, y học v.v... xứng đáng được xếp vào loại hình tài liệu quý hiếm của thư viện.

Trong tiến trình xây dựng một thư viện hiện đại, Thư viện Quốc gia dự định kiểm soát kho sách Hán Nôm trên cơ sở dữ liệu thư mục hoặc toàn văn đối với một số văn bản có giá trị, để thuận lợi cho việc tra cứu cũng như bảo vệ các văn bản gốc. Trong thời gian tới, Thư viện Quốc gia sẽ ra mắt bạn đọc cuốn Thư mục sách Hán Nôm ở Thư viện Quốc gia do PGS.TS. Ngô Đức Thọ biên soạn. Đây là một cuốn cẩm nang quý giá cho những ai quan tâm đến Hán Nôm.

Mặc dù số lượng khiêm tốn, nhưng kho sách Hán Nôm ở Thư viện Quốc gia rất phong phú về nội dung và thể loại, được coi là một trong những kho sách Hán Nôm lớn ở Việt Nam. Hy vọng rằng kho sách này sẽ đáp ứng phần nào nhu cầu của các nhà nghiên cứu về văn bản và về đất nước Việt Nam trong quá khứ.

P.T.K

TB

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU CHỮ NÔM TRONG CÁC BẢN VĂN KHẮC THỜI LÝ - TRẦN

TRẦN THỊ GIÁNG HOA

I. VĂN KHẮC THỜI LÝ - TRẦN VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Văn khắc Hán Nôm là loại hình văn bản khắc chữ Hán chữ Nôm, trên một số vật liệu như đá, đồng, gỗ. Do có đặc tính bền vững, ít bị phá hủy bởi tác động của thiên nhiên và thời gian nên văn khắc có thể lưu giữa nhiều tư liệu vô cùng quý giá. Chúng ta có thể khai thác từ đó những giá trị về mặt kinh tế, văn hóa, tôn giáo, chế độ chính trị, pháp luật, ngôn ngữ, văn tự v.v... Đối với thời điểm xuất hiện văn khắc Hán Nôm, cho đến nay mới chỉ biết đến bản văn khắc có niên đại sớm nhất là Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn (năm 618). Sau đó một thời gian dài kể đến hàng vài trăm năm, khi đất nước giành độc lập, văn khắc Hán Nôm mới xuất hiện rất phong phú cả về số lượng lẫn chất lượng.

Thời Lý - Trần là giai đoạn rực rỡ trong lịch sử đất nước, nó đánh dấu những mốc son vô cùng quan trọng của một dân tộc anh hùng. Từ đây, người Việt Nam đã xây dựng được khối đại đoàn kết, lòng tự hào dân tộc, dần dần khẳng định vị trí của nhà nước Đại Việt. Để ghi lại các sinh hoạt xã hội thời bấy giờ, cha ông ta đã sử dụng chữ Hán ghi chép trước thuật, đồng thời sáng tạo ra chữ Nôm bổ sung cho những chỗ bất cập của chữ Hán. Đó là việc ghi lại những tên đất, tên người, là việc sáng tác thơ văn bằng tiếng Việt. Cho đến nay, các tư liệu chữ Nôm hiếm hoi này còn lưu giữ chủ yếu trong các văn bản văn khắc thời Lý - Trần.

Đối với văn bản văn khắc giai đoạn này, từ những năm 70 của thế kỷ XX trở về trước chúng ta chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính hệ thống. Cho đến những năm 70 của thế kỷ XX, Viện Văn học có thực hiện công trình Thơ văn Lý - Trần. Trong hoàn cảnh bấy giờ, bộ sách này giới thiệu khá đầy đủ những tác gia văn học thời kỳ Lý - Trần và tác phẩm của họ, trong đó có mảng văn khắc. Năm 2002, Viện Nghiên cứu Hán Nôm hợp tác với Trường Viễn đông Bác cổ (Pháp) và trường Đại học Trung Chính (Đài Loan) xuất bản bộ Văn khắc Hán Nôm Việt Nam gồm 2 tập, giới thiệu tất cả 71 bài văn khắc Hán Nôm, trong đó có 10 bài ghi niên đại từ thời Bắc thuộc đến trước thời Lý.

Từ thực tế và gợi ý của những người đi trước, trong bài viết này chúng tôi mạnh dạn giới thiệu một số mã chữ Nôm được sử dụng trên chất liệu văn khắc, với hy vọng phần nào giúp những người quan tâm đến lĩnh vực này có được một số tư liệu nhất định.

Trong số hai tập của bộ Văn khắc Hán Nôm Việt Nam kể trên, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và thấy có 28 văn bản xuất hiện những mã chữ Nôm. Dưới đây xin sắp xếp những văn bản đó theo trình tự thời gian. Tuy đã cố gắng nhưng một số văn bản khó có thể xác định niên đại, nên chúng tôi tạm thời xếp sau cùng.

Danh sách bia, chuông đã khảo sát chữ Nôm trong văn khắc Lý - Trần:

1. Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi minh: tác giả là Công Diễm, soạn năm Đại Khánh thứ 4 (1113), Kí hiệu thác bản tại Kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm: 30279 - 30281. Dưới đây chúng tôi để ký hiệu thác bản vào trong ngoặc đơn.

2. Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi: tác giả là Nguyễn Công Bật, soạn năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 (1121), (32724 - 32725).

3. Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh: không ghi rõ tên người soạn, nhưng theo học giả Hoàng Xuân Hãn, tác giả có thể là Hải Chiếu đại sư Thích Pháp Bảo, dựng năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 5 (1125). Bài văn bia này đã được khắc lại vào năm Bảo Thái thứ 7 (1726), (20957).

4. Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh: tác giả là Hải Chiếu đại sư, soạn Thiên Phù Duệ Vũ thứ 7 (1126), (20954- 20955).

5. Cự Việt quốc Thái úy Lý công thạch bi tịnh tự: Không ghi rõ tên người soạn, thông qua nội dung đoán định niên đại ra đời của văn bia khoảng năm 1159. Nay bia và thác bản không còn, bài văn bia này do Hoàng Xuân Hãn chép lại.

6. Phụng Thánh phu nhân Lê thị mộ chí: (không ghi rõ người soạn không ghi rõ niên đại ra đời, nhưng căn cứ vào nội dung, văn bia này ra đời không lâu sau năm Chính Long Bảo ứng thứ 11 (1174). Bia có khả năng được người đời sau khắc lại, (10755, 10761).

7. Báo Ân thiền tự bi kí: tác giả là Ngụy Tự Hiền, soạn năm Trị Bình Long ứng thứ 5 (1210), (4102 - 4103).

8. Chúc Thánh Báo Ân tự bi: tác giả là Đỗ Thế Diên, dựa vào nội dung đoán định niên đại ra đời của văn bia vào khoảng năm 1185 - 1214. Bài văn bia đã được khắc lại, (30285 - 30287).

9. A Nậu tự tam bảo điền bi : Không rõ tác giả, soạn năm Thiệu Long Mậu Ngọ (1258). Có ý kiến cho rằng bia này thuộc thời Lê về sau, (5766).

10. Đa Bối đồng mộc bài : Không rõ tác giả, soạn năm Thiệu Long thứ 12 (1269). Hiện được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

11. Sùng Hưng tự điền bi: Không rõ tác giả, chỉ biết soạn năm Hưng Long thứ 1 (1293). Hiện để tại chùa xã Liêu, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

12. Sùng Quang tự chung: tác giả là Đặng Lân Chủng, soạn năm Đại Khánh thứ 7 (1320). Quả chuông hiện nay chưa tìm thấy nhưng bài minh được chép trong Kim văn loại tụ kí hiệu A.1059.

13. Đại Bi Diên Minh tự bi: tác giả là Sa Môn Sùng Nhân, văn bia ghi lại sự kiện trùng tu chùa năm Khai Thái thứ 4 (1327), (5309 - 5312). Ngoài ra bài văn bia này còn được chép trong sách Kim văn loại tụ kí hiệu: A.1059/2.

14. Sùng Thiên tự bi : không rõ tên tác giả, soạn năm Khai Hựu thứ 3 (1331), hiện để tại chùa Sùng Thiên, thôn Thị Đức, xã Nhật Tân, huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải Dương.

15. Hưng Phúc tự ma nhai : Không ghi rõ tác giả, soạn năm Thiệu Phong thứ 17 (1357), (19162).

16. Từ Am bi kí : Không ghi rõ tác giả, soạn năm Đại Trị thứ 1 (1358). Bia đã bị vỡ, ngờ rằng đã được người đời sau khắc lại, (25883).

17. Thắng Nghiệp luật tự thạch trụ : Không rõ tác giả, soạn năm Đại Trị thứ 3 (1360). Bia để ở cánh đồng gần chùa làng Dư Dụ, xã Thanh Thùy, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Tấm bia này có thể đã được người đời sau khắc lại.

18. Thanh Mai Viên Thông tháp bi : tác giả là Huyền Quang, soạn năm Đại Trị thứ 5 (1362). Dựng tại chùa Thanh Mai, xã Hoàng Hoa Thám, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

19. Sùng Khánh tự bi : tác giả là Tạ Thúc Ngao, soạn năm Đại Trị thứ 10 (1367), (30274).

20. Ngô gia thị bi : Không rõ tác giả, không ghi rõ niên đại nhưng dựa vào nội dung đoán định thời gian dựng khoảng từ 1366 - 1395. (39706 - 39709).

21. Sùng Nghiêm tự bi : tác giả là Phạm Sư Mạnh, soạn năm Thiệu Khánh thứ 3 (1372), (20965).

22. Quế Dương thôn Đại Bi tự Phật bàn : Không ghi rõ tác giả, soạn năm Long Khánh thứ 2 (1374). Hiện để tại chùa thôn Quế Dương, xã Cát Quế huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây.

23. Ngọc Đình xã bi : Không rõ tác giả, soạn năm Long Khánh thứ 3 (1375), (19581 - 19584).

24. Phúc Minh tự bi : tác giả là Đỗ Nguyên Chương, khắc lần đầu năm (1377). Hiện để tại chùa Phúc Minh thôn Yên Để, xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

25. Chân Nguyên tự Phật bàn : Không rõ tác giả, soạn năm Quang Thái thứ 3 (1379). Hiện để tại chùa Chân Nguyên, thôn Viên Ngoại, xã Viên An, huyện ứng Hòa, tỉnh Hà Tây.

26. Bối Khê thôn Đại Bi tự Phật bàn : Không ghi rõ tác giả, soạn năm Xương Phù 6 (1382), (5662 - 25663).

27. Vân Bản tự chung : Không rõ tác giả, chưa xác định chính xác niên đại nhưng dựa vào một số cứ liệu, bài văn chuông này có lẽ được soạn vào cuối triều Trần. Năm 1958, ngư dân vớt được ở bãi biển Đồ Sơn, nay được lưu giữ tại Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam.

28. Thiên Liêu sơn tam bảo địa: Không ghi tên tác giả, chưa xác định chính xác niên đại, nhưng theo nội dung có thể biết đây là văn bia thời Trần. Phát hiện trên núi Thiên Liêu xã Yên Đức, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

II. CHỮ NÔM TRÊN VĂN KHẮC LÝ - TRẦN

Với 28 thác bản văn khắc nói trên, chúng tôi đã khảo sát thấy có những mã chữ Nôm, và chữ Hán ghi tiếng Việt thời kỳ này.

Dưới đây sẽ sắp xếp theo thứ tự a, b, c:

Stt Tiếng Việt Ngữ cảnh Xuất xứ
1 Ao 一 所 基 處, 田 四 高 三 尺, 東 三 高 四 尺, … Bia 17
2 ẢI 隘 一 所 麻 菟 午 隘 中 廊 處, 土 宅 肆 口 … Bia 17
3 Ba 波 北 伴 長 波 高 會 伍 尺 … Bia 20
4 Bà 婆 婆 杜 乙 娘 田 一 所, 東 近 … Bia 8
5 Bến 一 田 坐 落 處, … Bia 6
6 Bờ 皮 一 所 皮 處, 田 四 高, 東 五 高, … Bia 16
7 Bơi 貳 拾 畝 Bia 7
8 Cành 喻 些 同 處, 田 陸 篙, … Bia 17
9 Cầu 求 上 自 求 坦, 下 至 頭 豪 處, … Bia 17
10 Cây 一 所 橘 處, 田 肆 篙, 東 近 三 寶,…
… 田 二 畝 共 五 段, 坐 落 處,…
Bia 13, bia 26
11 Chài 如 外 碣 同 捌 畝,… - Bia 7
12 Chàng 撞 南 伴 闊 四 篙, 近 撞 四,… Bia 14
13 Chợ 助 一 所 頭 助 處, 田 壹 篙,... Bia 17
14 Chùa 廚 一 所 札 橋 社 安 朗 村 廚 處 Bia 17
15 Cơ 基 一 所 基 處, 田 四 高 三 尺, 東 三 高 四 尺,… Bia 17
16 Cửa
舉,
一 所 洪 溪 同 舉 廚 粟 處
施 為 三 寶 留 本 寺 奉 事 香 火 一 所
Bia 17
17 Dậu 貳 拾 畝 Bia 7
18 Đất 坦 上 自 求 坦, 下 至 頭 豪 處, … Bia 17
19 Đầu 頭 一 坐 落 池 頭 停 處,... Bia 6
20 Đê 堤 一 所 堤 域 處, 田 貳 篙, 東 近 民 田, 西 近 小 路. Bia 17
21 Đìa 池 在 淥 池 一 所, Bia 17,
22 Đình 停 一 坐 落 頭 停 處,… Bia 6
23 Đổ 一 所 皮 處, 田 四 高,… Bia 16
24 Đồng 同 , 洞 , 多 貝 木 牌
施 田 在 枚 舍 洞 一 所
... 及 同 參 拾 畝,…
Bia 8, bia 20, bia 7
25 Đống 棟 喻 些 同 棟 處,… Bia 17
26 Đường
唐 , 塘
... 塘 山 五 畝,…
范 個 令 妻 范 氏 延 施 唐 豪 洞 個 蓮 田 宅 ...
Bia 7
27 Hai 咍 悟 空 居 士 施 宅 田 咍 面, … Bia 20
28 Hào 豪 上 自 求 坦 , 下 至 頭 豪 處 . Bia 17
29 Khe 溪 一 所 溪 同 處 , 秋 田 一 篙 Bia 17
30 Làng 廊 一 所 安 朗 同 頭 廊 處, 田 參 篙, 東 近 民 田,… Bia 17
31 Ma麻 … 東 近 陶 旺, 西 近 麻, 南 近 阮 淘,… Bia 18
32 Màn 在 上 洪 府 錦 江 縣 錦 軸, 秋 浪 二 社 底 處 一 區 ... Bia 2
33 Na 那 一 所 那 處, 田 五 高, 東 〨 高, 西 三 高 … Bia 16
34 Nành 一 所 皮 處, 田 一 高, 東 [] 高, 西 三 高 五 尺 … Bia 16
35 Ngăn 一 所 溪 同 處, 秋 田 一 篙,… Bia 17
36 Ngõ 午 壹 田 坐 落 舉 午 處,…
壹 所 麻 午 隘 中 廊 處, 土 宅 肆 口,…
Bia 6, bia 17
37 Nhà 茹 他 麻 茹 陳 罷 處,… Bia 16
38 Nhe 梆 …, 同 梆 參 畝,… Bia 7
39 Ông 翁 翁 何 地 宅 一 所 Bia 27
40 Phướn 幡 其 內 砂 幡 上 夷 參 拾 畝, 幡 下 參 拾 畝 … Bia 7
41 Rặng
,
喻 些 同 處, 田 六 篙,…
一 所 梅 處,…
… 田 二 畝 共 五 段, 坐 落 處,…
Bia 17, bia 16, bia 26
42 Rộc 淥 … 近 淥, 西 北 近 路
在 淥 池 一 所,…
Bia 21, bia 26
43 Sào 高 , 篙 , 蒿 西 一 畝 篙
南 活 一 高 半, 近 杜 氏 遙;…
一 所 安 朗 處, 田 三 篙 柒 尺 五 寸,…
Bia17, bia 26
44 Sen 蓮 一 所 蓮 處, 田 一 畝, 東 十 高, 西 十 高,… Bia 16
45 Sông 壹 田 坐 落 處,…
46 Tám 糝 東 伴 [] [] 壹 糝 尺,… Bia 20
47 Túc 粟 一 所 洪 溪 同 舉 廚 粟 處,… Bia 17
48 Vực 域 一 所 堤 域 處, 田 貳 篙, 東 近 民 田, 西 近 小 路 … Bia 17
49 Vôi 一 所 羅 善 同 一 處 ,… Bia 17
A là một ký hiệu ghi tiền âm tiết
50 A các 阿 閣 一 所 國 威 中 路 大 定 同 阿 閣 處, 田 參 篙,… Bia 17
51 A giới 阿 界 一所 阿 界, 田 三 高, 東 十 高, 西 十 高 … Bia 16
52 A lôi 阿 雷 隨 上 到 阿 雷 潭, 半 潭 與 貝 里 甲,… Bia 3
53 A vĩ 阿 尾 一所 阿 尾 處, 田 一 畝 七 高, 東 二 二 高,… Bia 16
Đ là một ký hiệu ghi tiền âm tiết Bia 16
54 Đa ma 多 麻 施 田 在 舍 洞 多 麻 伴 ,… Bia 19
55 Đa mai 多 埋 在 不 鬧 乍 兜 巷 養 婆 杜 氏 省 施 多 埋 洞 田 一 坎 ,… Bia 12
Dùng mã chữ “cá”, “cự”, “khả” ghi yếu tố tiền âm tiết và thành tố thứ nhất của nhóm phụ âm đầu Bia 12
56 Cá điểu个 鳥 南 近 楊 任, 北 近 阮 個 鳥, 施 青 梅 山 圓 通 塔 寺. Bia 17
57 Cá lâm个 林 南 長 伍 高 會 三 尺 近 武 个 林,…
58 Cá lâu个 縷 施 个 縷 田 一 分 與 崇 天 寺 為 三 寶 物 Bia 13
59 Cá liên个 蓮 范 個 令 妻 范 氏 延 施 唐 豪 洞 個 蓮 田 宅 坎 為 ... Bia 13
60 Cá lệnh个 令 范 个 令 妻 范 氏 廷 Bia 13
61 Cá lộc个 鹿 在 丁 舍 獲 系 芬 並 妻 杜 氏 個 鹿 義 佛 有 田 三 高 ,… Bia 20
62 Cá lôI个 雷 比 丘 一 心 供 養 田 地 一 坎, 東 近 地, 西 近 个 雷 Bia 11
63 Cá lũ个 婁 在 个 婁 洞, 翁 鄧 所, 東 近 火 頭 日 主 … Bia 20
64 Cá luật个 律 西 近 梁 帥, 北 近 張 个 律 為 界, 施 為 流 通 三 寶, 代 代 子 孫 不 得 爭 認. Bia 20
65 Cự lãng 巨 浪 … 黎 家 戶 阮 巨 浪, 飯 一 時. Bia 22
66 Cự lật 巨 栗 一 主 御 前 選 合 路 一 都 令 上 阮 巨 栗 等 伍,… Bia 22
67 Khả lôi 可 雷 並 山 邊 可 雷 半 分 為 三 寶 物 Bia 12
Dùng mã chữ “ma” ghi yếu tố tiền âm tiết và thành tố thứ nhất của nhóm phụ âm đầu
68 Ma cả 麻 哿 一 所 黎 楊 同 麻 哿 處, 秧 田 一 篙,… Bia 16
69 Ma hộ 麻 戶 一 所 麻 戶 處, 田 貳 篙 柒 尺 五 寸, 東 近 路, 西 近 民 田 … Bia 16
70 Ma lãng
麻 朗, 麻 浪
役 火 頭 子 麻 朗 并 妻 宋 …
粵 有 洪 路 麻 浪 橋 綺 蘭 社 中 品 山 崇 員 君, 名 巽 泊,…
Bia 12, bia 14
71 Ma liệu
麻 料
…, 留 稍 麻 料 庄 為 三 寶 物. Bia 27
72 Ma lôI 麻 雷 … 並 范 氏 麻 雷 及 女 阮 氏 卯 施 陀 琴 田 一 坎.
在 利 仁 路 麻 雷 鄉 支 封 社 塊 坊,…
Bia 13, Bia 24

III. PHÂN LOẠI CHỮ NÔM TRÊN VĂN KHẮC THỜI LÝ - TRẦN

Theo phương pháp phân loại chữ Nôm truyền thống, chúng tôi sắp xếp những chữ Nôm trên vào hai loại cơ bản: Loại chữ đơn (có 1 thành tố), Loại chữ ghép (có 2 thành tố).

1. Loại chữ đơn: loại chữ này là những chữ mượn nguyên chữ Hán, ghi âm tiếng Việt. Trong đó, có thể phân chia thành một số loại nhỏ như sau:

1.1 Loại chữ mượn hình, mượn nghĩa và ghi âm Hán Việt:

Âm Việt Chữ Nôm Âm Hán Việt Nghĩa
ẢI Ải Chật hẹp
Bà già
Nền, gốc
Đầu Đầu Bậc cao nhất
Đê Đê Bờ ngăn nước
Ông Ông ông già

1.2 Loại chữ mượn hình, mượn âm, không mượn nghĩa:

Âm Việt Chữ Nôm Âm Hán Việt Biểu nghĩa Việt
Ba Ba Số 3
Cỗu Cầu Cây cầu
Chàng Chàng Chàng
Chợ Trợ Chợ búa
Đình Đình Nơi thờ thánh thần
Đổ Đổ đổ nghiêng
Đồng Đồng Cánh đồng
Đống Đống Chồng chất
Đường Đường Con đường
Hào Hào Con nước
Na Na Cây na
Túc Túc
Vực Vực Nơi hố sâu

1.3 Loại chữ mượn hình, không mượn nghĩa, đọc chệch âm:

Âm Việt Chữ Nôm Âm Hán Việt Biểu nghĩa Việt
Bờ bờ sông
Chùa Trù Chùa thờ Phật
Cửa 舉, Cử Cửa ra vào
Làng Lang làng xóm
Ma Ma Ma
Ngõ Ngọ đường nhỏ trong làng
Nhà Như nhà ở
Sào Cao đơn vị đo

Trong cuốn Chữ Nôm - nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến, GS. Đào Duy Anh ghi nhận trên bia Báo Ân thiền tự bi kí có 26 chữ Nôm, trong đó chữ 尚 “thượng” ông phiên là “thằng”. Song một số học giả cho rằng cách lý giải đó chưa thật hợp lý, bởi vì trường hợp chữ “thượng” ghi một đại từ nhân xưng trong tiếng Việt là “thằng” không thấy xuất hiện trong các văn bản Nôm đời sau, phải chăng từ “thượng” là một chức danh thời xưa.

1.4 Loại chữ mượn hình, mượn nghĩa, ghi âm Tiền Hán Việt:

Âm Việt Chữ Nôm Âm Hán Việt Biểu nghĩa Việt
Đìa Trì đầm
Khe Khê lạch nước
Phướn Phan lá cờ
Sen Liên hoa sen

2. Loại chữ ghép: là những chữ do người Việt sáng tạo dựa trên cơ sở chữ Hán, và bộ thủ chữ Hán. Dựa vào quan hệ nội tại giữa các thành tố, loại chữ ghép này có thể phân chia thành một số tiểu loại:

2.1 Ghép một chữ Hán với một bộ thủ: (một bộ phận biểu ý + một bộ phận biểu âm)

Âm Việt Bộ thủ Chữ Hán Chữ Nôm
Ao
Bến
Bơi
Cành
Chài
Dởu
Đồng
Đồng
Đường
Nành
Nhe
Sông
Tám

2.2 Ghép một bộ thủ với một chữ Hán viết bớt nét:

Âm Việt Bộ thủ Chữ viết bớt nét Chữ Nôm
Cây
Ngăn
Rặng ()
Rộc 祿

Ngay trong kho tàng chữ Hán, số lượng chữ được hình thành trên cơ sở kết hợp một yếu tố biểu ý và một yếu tố biểu âm là rất lớn. Kiểu loại này được gọi là chữ hình thanh, một trong sáu phép tạo chữ của người Hán. Phép hình thanh cũng được sử dụng rất nhiều trong cấu tạo chữ Nôm. Ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành, chữ Nôm loại này chưa thực sự phổ biến. Nhưng trong những văn bản Nôm giai đoạn sau loại chữ này xuất hiện ngày càng nhiều, dần dần chiếm tỉ lệ cao nhất trong cả kho tàng chữ Nôm Việt.

2.3 Ghép một chữ Hán với một chữ Hán: đây là loại chữ dùng hai mã chữ biểu đạt một tiếng, mang dấu vết phụ âm đầu trong tiếng Việt cổ. Trong số hai mã chữ đó, mã chữ thứ hai thường được ghi bằng những chữ như 阿 a, 巴 ba, 婆 bà, 个 cá, 車 cư, 巨 cự, 多 đa, 可 khả, 羅 la, 麻 ma v.v…, biểu thị những tổ hợp phụ âm đầu bl, tl, kl, đm, ml, v.v… Nếu như loại chữ đơn, trong điều kiện nhất định, người Hán vẫn có thể đọc và hiểu được, thì với loại chữ ghép này họ không đọc được và không hiểu nghĩa.

2.3.1 “A” là ký hiệu ghi tiền âm tiết: sách Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, khi miêu tả về chiếc diều gió, tác giả có nói việc Cao Biền cưỡi diều gió đi khắp A An (An Nam). “A” trong trường hợp này là tiền tố, không ảnh hưởng đến âm đọc, dần dần ở những văn bản Nôm sau này không thấy xuất hiện hiện tượng này.

Những trường hợp chữ Nôm có tiền tố “a”, phụ âm đầu là yếu tố xác định âm đọc. Trong số văn bia đã giới thiệu trên, có 4 mã chữ Nôm có mang tiền tố “a”:

阿 閣 A các => gác

阿 界 A giới => dưới

阿 雷 A lôi => lôi

阿 尾 A vĩ => vạy

2.3.2 Đa là ký hiệu ghi tiền âm tiết:

Trường hợp dùng “đa” làm tiền âm tiết trong những chữ Nôm cổ là rất hiếm khi xuất hiện, ít được đề cập đến, ngay trong cuốn Từ điển Việt - Bồ - La, cũng không còn dấu vết của tổ hợp phụ âm này. Về cơ bản, tiền âm tiết “đa” cũng không điều chỉnh âm đọc của cả chữ. Trong sách Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, TS. Hoàng Thị Ngọ có đưa ra 13 dẫn chứng cụ thể, trong đó có:

đa + mai => đmai => vai

Trong văn bia Lý - Trần, ngoài chữ Nôm được ghi bằng hai mã chữ “đa mai”, chúng tôi còn phát hiện thấy chữ ghi bằng hai mã chữ “đa ma”. Theo cách giải thích của TS. Hoàng Thị Ngọ, chúng tôi tạm thời đọc đa ma => đma => va.

2.3.3 Dùng “cá”, “cự”, “khả” ghi yếu tố tiền âm tiết và thành tố thứ nhất của nhóm phụ âm đầu: Những chữ Nôm mang dấu vết tổ hợp phụ âm đầu “kl”, thường được dùng mã chữ “cá”, “cư” “cự”, “cổ” “khả” để ghi. Có thể thấy những ví dụ cụ thể trong cuốn Phật thuyết phụ mẫu đại báo ân trọng kinh (Phật thuyết):

cá + đát => nát

cổ + lộng => sống

cư + long => trông

cự + lã => krã => sữa

khả + nhữ => nhớ

Tuy nhiên, chữ Nôm mang tổ hợp phụ âm đầu “kl” trên văn bia thời kỳ Lý - Trần, chỉ thấy sử dụng mã chữ “cá”, “cự”, “khả” để ghi yếu tố thứ nhất của tổ hợp này:

cá + điểu => cđiểu => điểu (dẻo)

cá + lâm => clâm => trăm

cá + lâu => clâu => trâu

cá + liên => cliên => sên

cá + lệnh => clệnh => chệch

cá + lộc => clộc => luộc

cá + lôi => clôi => trôi

cá + lũ => clũ => rú

cá + luật => cluật => lọt

cự + lãng => clãng => rạng

cự + lật => clật => rất

khả + lôi => klôi => trôi

2.3.4 Dùng mã chữ “ma” để ghi yếu tố tiền âm tiết và thành tố thứ nhất của nhóm phụ âm đầu: Để ghi yếu tố thứ nhất của tổ hợp phụ âm đầu “ml” trong chữ Nôm, từ trước mới chỉ thấy sử dụng mã chữ “ma” để ghi. Ở một số văn bản như Phật thuyết, Thiên nam ngữ lục có những chữ viết tắt mã chữ “ma” để ghép thành chữ trong một khối vuông, nhưng những chữ Nôm thuộc loại này trên văn bia Lý - Trần, không thấy hiện tượng viết tắt:

ma + cả => mcả => cả

ma + hộ => mhộ => họ

ma + lãng => mlãng => rạng

ma + liệu => mliệu => treo

ma + lôi => mlôi => trôi

Trên đây, chúng tôi đã tạm thời phân loại chữ Nôm vào hai loại hình cơ bản là chữ đơn (chữ vay mượn) và chữ ghép (chữ tự tạo). Nhưng thực tế có một số chữ khó có thể xác định chính xác thuộc loại hình nào.

Ví dụ như trường hợp chữ Nôm 咍 hai”, nghĩa là 2 (là số đếm), nhưng trong từ điển chữ Hán cũng thấy xuất hiện chữ này với âm đọc là “hai”, có nghĩa là “chê cười”. Theo TS. Lã Minh Hằng, chữ “hai” này có thể là chữ Hán được dùng để ghi tiếng Việt, cũng có thể là do người Việt tự tạo trên cơ sở bộ “khẩu” kết hợp với chữ “thai”, mà bộ khẩu không mang ý nghĩa chỉ là bộ phận chỉnh âm đọc. Tuy nhiên, đối với chữ Nôm ở trường hợp này đọc là “hai”, là một đơn vị đo lường (xem dẫn chứng cụ thể ở trên).

Trong chữ Nôm Việt, ngoài “口 khẩu” được dùng làm kí hiệu chỉnh âm đọc còn có “巨 cự”, “个 cá nháy”. Như vậy, kí hiệu “巨 cự” trong chữ vôi, cũng có thể được coi là bộ phận chỉnh âm, giúp đọc chữ “bôi” thành “vôi”. Theo những nhà ngữ âm học, ngoài tác dụng như trên, “巨 cự” còn được dùng để ghi tiền tố “k”. Nếu “cự” là một tiền tố, chúng tôi tạm thời tái lập cự bôiÞ kb=>i => vôi. Điều này rất có thể xảy ra, vì trong những văn bản Nôm giai đoạn sau chữ vôi được ghi bằng chữ “bôi” hoặc bộ thạch + bôi.

Lời kết

Trong quá trình tìm hiểu chữ Nôm trên văn khắc thời Lý - Trần, chúng tôi gặp những khó khăn nhất định, ngoài vốn kiến thức có hạn, về mặt tư liệu cũng còn nhiều bất cập, ví như trong số 28 bài văn khắc khảo sát ở trên có ít nhất 5 bài đã được khắc lại hoặc chép lại. Như đã nói "tam sao thất bản", việc chép lại, khắc lại không thể giữ nguyên vẹn được những cái vốn có, nhưng nó ít nhiều cũng bảo lưu được một số bằng chứng xác đáng, nên có thể được coi là tư liệu quý giá. Nói như vậy để nói rằng, trong bài viết này không phải đã giới thiệu được tất cả và những chữ Nôm giới thiệu ở trên đều sát với thực tế.

Về hình thức, theo như cách phân loại trên đây, phần nào đã thể hiện được diện mạo chữ Nôm ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành, phát triển. Nó gồm cả loại hình chữ đơn, chữ ghép, và trong mỗi loại hình có thể phân thành nhiều tiểu loại. Với những chữ đã khảo sát, có 32 chữ đơn (chữ vay mượn) trong tổng số 72 chữ Nôm, chiếm 44,4%; chữ ghép âm âm chiếm 57,5% trong tổng số chữ sáng tạo.

Trong hệ thống ngữ âm tiếng Việt, chúng ta còn thấy được dấu vết của tổ hợp phụ âm đầu: kl, bl, tl, ml, km, bv, v.v... Trên văn khắc thời kỳ Lý - Trần, cũng mang những chứng tích chữ Nôm mang dấu vết phụ âm đầu, nhưng chỉ xuất hiện xen kẽ trong văn bản chữ Hán, dùng để ghi tên người hoặc tên đất. Tuy nhiên trong phạm vi bài viết này, chúng tôi không có điều kiện để khảo sát trên phạm vi rộng, hoặc còn nhiều thiếu sót nên chưa thể trình bày đầy đủ diện mạo chữ Nôm ở giai đoạn đầu, chỉ giới thiệu một số tư liệu có thể giúp những nhà Ngôn ngữ học làm cơ sở cho việc nghiên cứu.

T.T.G.H

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đào Duy Anh: Chữ Nôm - Nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến, Nxb. KHXH, H. 1975.

2. Nguyễn Tài Cẩn: Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nxb. KHXH, H. 1979.

3. Nguyễn Quang Hồng: Lời tựa sách Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Nxb. KHXH, H. 1993.

4. Hoàng Thị Ngọ: Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, H. 1999.

5. Lê Văn Quán: Nghiên cứu về Chữ Nôm, Nxb. KHXH, H. 1981.

6. Nguyễn Ngọc San: Lý thuyết về chữ Nôm và văn Nôm, Nxb. Đại học Sư phạm, H. 2003.

7. Thơ văn Lý - Trần, 3 tập, Viện Văn học, Nxb. KHXH, H. 1988.

8. Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập 1, từ Bắc thuộc đến thời Lý, Viện Nghiên cứu Hán Nôm - Học viện Viễn đông Bác cổ hợp tác, 1998.

9. Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập 2 (gồm 2 quyển), thời Trần, Viện Nghiên cứu Hán Nôm - Đại học Trung Chính Đài Loan hợp tác, 2002.

10. Nguyễn Tá Nhí: Cách ghi tổ hợp phụ âm đầu như thế nào, Bài tham luận Hội nghị chữ Nôm 1988, Kí hiệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Bt. 143.

11. Lã Minh Hằng: Sơ bộ tìm hiểu vai trò của bộ khẩu Hán trong cấu tạo chữ Nôm, Tạp chí Hán Nôm, số 4 - 1994.

12. Trịnh Khắc Mạnh - Trương Đức Quả: Về những thác bản văn khắc chữ Nôm ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Tạp chí Hán Nôm, số 2-1994.

13. Từ nguyên, (hợp đính bản), Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1998.

TB

CHỮ NÔM TRÊN VĂN BIA THỜI LÊ
(Thế kỷ XV - XVIII)

ĐINH KHẮC THUÂN

Thời Lê được khởi dựng từ thế kỷ thứ XV đến thế kỷ thứ XVIII thì chấm dứt hoàn toàn. Tuy nhiên cả thời kỳ lịch sử này lại chia thành ba giai đoạn là Lê sơ (1428-1527), Mạc (1527-1533) và Lê - Trịnh (1533-1788). Nhà Lê trong giai đoạn sau tuy vẫn được duy trì, song quyền hành cai quản đất nước chủ yếu thuộc về Trịnh. Cả ba giai đoạn lịch sử này vừa mở đường vừa kế nối và phát triển khá mạnh mẽ trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, nhất là văn học chữ Nôm. Vì vậy tìm hiểu chữ Nôm trên văn bia ở thời kỳ lịch sử này là sự bổ sung cần thiết trong việc nghiên cứu đặc điểm tự dạng chữ Nôm thời Lê nói riêng, chữ Nôm trong lịch sử nói chung.

1. Về xuất xứ, có thể tìm thấy chữ Nôm trên văn bia trong 3 trường hợp tiêu biểu sau:

Một là xuất hiện ở các tên đất, tên người.

Hai là xuất hiện trong những bài thơ Nôm.

Ba là xuất hiện trong các bài ký hay bài phú tức là ở dạng văn xuôi bằng chữ Nôm.

* Trường hợp thứ nhất xuất hiện khá phổ biến ở nhiều văn bia từ thế kỷ XV đến XVIII. Chẳng hạn văn bia Diên Khánh tự bi, kí hiệu 4486 dựng năm Hồng Đức thứ 4 (1473) ghi: “Ông ngộ đạo, bà ngộ thiện 翁 悟 道 婆 悟 善”; bia Phật kí hiệu 7208 (Thạch Thất, Hà Tây) dựng năm Hồng Đức thứ 18 (1487) ghi: “Tây phương ông tính thiện tâm bà 西 方 翁 并 善 心 婆” , hoặc “Nhất sở Đa Bái đồng nhất khản nhị cao 一 所 多 拜 同 一 坎 二 高”... Sang thế kỷ XVI, chữ Nôm ghi tên người tên đất xuất hiện khá nhiều trên bia, như “Già Đồng nhất mẫu 伽 同 一 畝” (bia Công chúa tự điền, kí hiệu 3675, dựng năm 1513), “Nhất sở Chằm Sâu xứ điền 一 所 沉 婁 處 田” (bia Đức Thắng tự bi, kí hiệu 10499, dựng năm 1589); “Nhất sở Đình Cả xứ điền nhất cao 一 所 亭 哿 處 田 一 高...” (bia Tam Giáo tự, kí hiệu 2696, dựng năm 1591), hoặc tên người công đức vào quán Chân Thánh xã Cẩm Khê (Hải Phòng), kí hiệu 5802, dựng năm 1572 như “Bà Chào, ông Cả, Chúa Quận Ả, bà Lễ Nghi, bà Ty... 婆 嘲, 翁 哿, 主 郡 , 婆 礼 儀, 婆 司”, thậm chí trên một số văn bia ghi cả một câu như khẩu hiệu: “Đức vua muôn muôn năm 德 ...”

* Trường hợp thứ hai cũng khá đa dạng, xuất hiện chủ yếu vào thế kỷ XV, XVII và XVIII. Đó là những bài thơ quốc âm của vua Lê hay chúa Trịnh đề vịnh danh lam thắng cảnh hoặc thù tặng, trong đó có 2 bài của vua Lê Thánh Tông thế kỷ XV, 2 bài của chúa Trịnh Căn thế kỷ XVII, 3 bài của chúa Trịnh Cương thế kỷ XVIII, cùng một số bài khác của chúa Trịnh Doanh, Trịnh Sâm cuối thế kỷ XVIII, cụ thể như sau:

* Hai bài thơ Nôm của vua Lê Thánh Tông (1460-1497):

- Quang Khánh tự thi, kí hiệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm 11766, khắc năm Quang Thuận thứ 6 (1465), bài thơ của Lê Thánh Tông ngợi ca người trụ trì chùa đã qua được cửa đại giác.

- Ngự đề Quang Khánh tự, kí hiệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm 11765, khắc năm Hồng Đức thứ 17 (1486). Đây là bài thơ quốc âm của vua Lê Thánh Tông đề ở chùa Quang Khánh (Hải Dương).

* Thơ Nôm chúa Trịnh được khắc trên bia:

Trịnh Căn (1682-1709) có 2 bài thơ Nôm, một bài khắc trên biển gỗ treo tại nhà Thái học, Văn miếu, Hà Nội đề năm Ất Hợi (1695) quý đông; một bài khác khắc trên biển gỗ chùa Đậu tức chùa Pháp Vũ, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây có ghi niên đại là “Chính Hòa Mậu Dần mạnh xuân cốc đán” (Ngày lành tháng giêng năm Chính Hòa Mậu Dần [1698]).

Trịnh Cương (1709-1729) có 3 bài, trong đó một bài cũng khắc trên chùa Pháp Vũ, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây được ghi niên đại là “Vĩnh Thịnh thập tứ niên thập nguyệt thập cửu nhật” (Ngày 19 tháng 10 năm Vĩnh Thịnh thứ 14 [1718]), một bài khác khắc trên biển gỗ chùa Nhạc Lâm, xã Tân Hòa, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây có niên đại là “Vĩnh Thịnh thập tam niên thất nguyệt thập thất nhật” (Ngày 17 tháng 7 năm Vĩnh Thịnh thứ 13 [1717]) và một bài khác tặng vị Quốc lão Đặng Đình Tướng khi viên quan họ Đặng này thọ 80 tuổi, được khắc năm Bảo Thái thứ 10 (1729) trên bia từ đường họ Đặng (nay thuộc xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây).

Trịnh Sâm (1767-1782) có nhiều bài thơ nổi tiếng, trong đó có bài đề trên vách động chùa Hương.

Một số bài thơ Nôm trên đã được giới thiệu, song dường như đều cho là thơ của vua Lê. Thực ra thơ Nôm ở giai đoạn cuối thế kỷ XVII đầu XVIII đều do chúa Trịnh Căn và Trịnh Cương soạn. Hai vị chúa tài hoa đều có khiếu làm thơ chữ Nôm, nhất là Trịnh Cương từng chủ trương cho thi bằng chữ Nôm. Ngay tờ dụ của triều đình ban hành năm 1720 cũng được chúa Trịnh Cương cho dịch ra quốc âm rồi cho gọi quần thần vào răn dậy. Mặt khác hai vị chúa này hay làm thơ thù tạc, vì thế mà tạo ra đội ngũ sáng tác thơ Nôm ngày một đông đảo, cũng như mở ra một không khí sôi động sáng tác thơ văn bằng chữ Nôm, cũng như chữ Hán, tiêu biểu như Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Công Hãng, Nguyễn Mậu áng, Vũ Thạnh, Đinh Nho Hoàn, Lê Anh Tuấn v.v... Trong các sáng tác bằng chữ Nôm ở thời chúa Trịnh có một mốc hết sức quan trọng là xuất hiện lần đầu tiên một cuốn từ điển song ngữ Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, được in lại vào năm Cảnh Hưng thứ 22 (1761). Hàng loạt truyện Nôm khuyết danh ra đời ở thời kỳ này, trong đó có tập diễn Nôm sự tích Nguyên phi ỷ Lan theo thể lục bát có tới 606 câu, tương truyền là tác phẩm của bà Trương Thị Ngọc Trong, phi của An vương Trịnh Cương. Đây là sự đóng góp vào quá trình hoàn thiện thể truyện thơ lục bát mà đỉnh cao là Truyện Kiều của Nguyễn Du ở đầu thế kỷ sau đó - thế kỷ XIX.

* Trường hợp thứ ba là chữ Nôm xuất hiện trong các bài văn xuôi bằng chữ Nôm. Trước hết là các đoạn văn chữ Hán có lẫn chữ Nôm được viết theo ngữ pháp tiếng Việt, chẳng hạn một câu trong bia chùa Diên Khánh (Bắc Ninh) khắc năm Hồng Đức thứ 4 (1473) như sau: “Ông ngộ đạo tính bà ngộ thiện cộng ký lưu Diên ứng tự điền tam khản cửa Bạch Đa tự “翁 悟 道 并 婆 悟 善 共 寄 留 延 應 寺 田 三 坎 舉 白 多 寺”, nghĩa là “Ông ngộ đạo và bà ngộ thiện cùng gửi lưu vào chùa Diên ứng ruộng 3 mẫu ở cửa chùa Bạch Đa”. Những câu chữ Hán xen chữ Nôm như vậy gặp khá nhiều trên bia thế kỷ XVI.

Tuy nhiên những câu văn hoặc đoạn văn thuần túy là chữ Nôm trên bia thì xuất hiện muộn hơn. Văn bản sớm nhất hiện biết là trên bia Tân tạo bi ký các bức đẳng từ, kí hiệu 1938 -1939, ở đình xã Thổ Ngõa, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, dựng năm Thịnh Đức thứ 5 (1657). Văn bia này ghi lại sự tranh chấp địa giới giữa xã Sơn Lộ và xã Tiên Lữ. Xã Tiên Lữ thắng kiện, lại bị xã Sơn Lộ tố cáo là xã Tiên Lữ đã hối lộ quan trên để được kiện. Sau khi điều tra sự thật, xã Sơn Lộ bị khiển trách vì đã tố cáo sai. Để dân chúng biết rõ chuyện này và lưu truyền về sau, xã Tiên Lữ cho dựng bia khắc lại sự việc trên. Mặt trước bia khắc văn bản bằng chữ Hán, mặt sau khắc văn bản bằng chữ Nôm diễn giải quá trình xã Tiên Lữ khai khẩn đất mới, bạt núi mở trường học, tất cả đều đã ghi trong sổ tu tri của quan trên, nhưng dân xã Sơn Lộ muốn tranh giành. Xin dẫn một đoạn trong bia này như sau: “Quan viên tướng thần xã thôn trưởng khẩu đắc rằng thượng hạ làng nhà tôi ưng khiến chúng tôi lên nói xưa nay chúng tôi thấy tu tri Thổ Ngõa thôn thượng tự Kim Cương hạ chí đê mộ các xứ. Làng chúng tôi chẳng biết đến ngày sau Sơn Lộ xã lại gian cáo bản phủ nha môn khám đạc...”.

Tiếp đó, cũng xuất hiện một số đoạn văn bia bằng chữ Nôm trên bia khác, như bia Thiên đài thạch trụ, kí hiệu 14957 tại chùa Thanh Tú, xã Phượng Trì, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, dựng năm Chính Hòa thứ 20 (1699), hay bia bầu Hậu của làng xã, như bia Hậu Phật, kí hiệu 5249-51 dựng năm Vĩnh Khánh 3 (1731) tại chùa Tam Giáo, xã Lạc Đạo, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên v.v...

Văn bia toàn văn bằng chữ Nôm xuất hiện muộn hơn nữa, như văn bia đình thôn Châu Xá, xã Hữu Thanh Oai huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội, dựng năm Cảnh Hưng thứ 41 (1780), ghi việc ông Đoàn Đình Kim bỏ tiền mua Hậu Thần cho ông bà cha mẹ và chính ông đích thân viết bài ký giử giỗ cho cha mẹ bằng chữ Nôm, trong đó có đoạn sau: “... Năm trước ơn lòng trong bản thôn đã hiệp bảo phụ mẫu song thân tịnh vi Hậu Thần. Các điều tế tự cụ tại bi ký...”.

Loại văn bia này được sử dụng khá phổ biến vào cuối thời Nguyễn đối với loại bia gửi giỗ, bầu Hậu của làng xã.

Như vậy chữ Nôm được sử dụng trên bia không phải là ít, song ở giai đoạn sớm thì thường xuất hiện ở dạng địa danh và nhân danh, số khác là trong thơ Nôm, còn được dùng thuần túy trong bài văn xuôi thì thường có niên đại muộn hơn. Tuy vậy, các văn bản này đều có xuất xứ rõ ràng và niên đại cụ thể, nên đã cung cấp tự dạng chữ Nôm theo cách viết của từng địa phương, của từng đối tượng và của từng giai đoạn khác nhau.

2. Đặc điểm tự dạng chữ Nôm trên bia thời Lê

Khi nghiên cứu tự dạng chữ Nôm trên văn bia thế kỷ XV, XVI, chúng ta có nhận xét sau:

Chữ Nôm ở giai đoạn này phổ biến được viết dạng chữ đơn, nghĩa là chưa sử dụng phổ biến bộ phận chỉ nghĩa như “đa多” trong cây đa, chưa có bộ “mộc 木”, “cửa 舉” trong cửa đình, cửa chùa chưa có bộ “môn 門”. Nhiều chữ mượn âm khác cũng hết sức đơn giản như ngã ba thì dùng “ngã 我” là tôi, “ba 巴” không có chữ “tam 三” để chỉ nghĩa như thường gặp trong các văn bản Nôm sau này, “chân cờ 真 旗” cũng vậy và đặc biệt là ao cá, “ao 幻” không có bộ chấm thuỷ chỉ nước, “cá 个” không có bộ “ngư 魚” chỉ loài cá, cầu chợ, cầu không dùng chữ “kiều 橋” có nghĩa là cầu mà dùng chữ “cầu 求” có nghĩa là cầu xin, với tự dạng giản đơn hơn nhiều so với “cầu (kiều)” và “chợ” mượn chữ “trợ” không cần chữ “thị” để chỉ nghĩa. Có lẽ thế kỷ XVI trở về trước người ta đã không phân biệt “ch” và “tr” (chợ và trợ). Nhìn chung chữ Nôm ở giai đoạn này chú trọng phần âm hơn là bộ phận chỉ nghĩa, nên chữ “quan” trong đường cái quan không mượn chữ “quan 官” trong quan lại mà mượn chữ “quan 觀” trong quan sát. Dấu phụ được sử dụng là chữ “cự 巨” và “cá 个” cũng bắt đầu phổ biến từ cuối thế kỷ XVI.

Chữ Nôm trên văn bia thế kỷ XVII, đầu XVIII về cơ bản tương tự chữ Nôm thế kỷ XVI, song phần chỉ âm đã xuất hiện phổ biến, nhưng chủ yếu là dấu “nháy”, chứ chưa phải là bộ phận chỉ nghĩa như từ cuối thế kỷ XVIII trở đi. Chẳng hạn, khi đối chiếu hai bài thơ Nôm của Trịnh Căn (thế kỷ XVII) khắc trên biển gỗ cũng với chính hai bài thơ này được chép trong sách Khâm định thăng bình bách vịnh tập, thấy khác nhau ở tự dạng một số chữ Nôm.

Cụ thể như trong bài thơ ở nhà Thái học, chữ “gấp” trong bản khắc gỗ dùng chữ “cấp 急”, còn trong sách thì cũng dùng chữ “cấp”, song bên cạnh có thêm dấu “cá 个” để phân biệt âm; chữ “mẽ” trong bản khắc mượn âm chữ “mỹ 美”, còn trong sách thì thêm dấu cá bên cạnh chữ “mỹ”.

Trong bài thơ chùa Pháp Vũ, chữ “vẹn” trong bản khắc mượn chữ “viện 院” còn trong sách thì cũng dùng chữ “viện”, nhưng có thêm dấu cá; chữ “lanh” trong bản khắc là chữ “linh 令” còn trong sách cũng thêm dấu cá.

Từ sự so sánh trên cho thấy văn bản trong sách được chép muộn hơn mà cụ thể là vào thời Nguyễn, nên hầu hết những chữ đọc chệch âm, đều có thêm dấu cá để phân biệt âm đọc, trái lại văn bản khắc gỗ là văn bản đích thực thời Lê thế kỷ XVII, chưa có đầy đủ bộ phận chỉ âm và chỉ nghĩa.

Phân tích kỹ một số mã chữ Nôm trong các giai đoạn lịch sử, chúng ta không chỉ nhận thấy diễn biến tự dạng chữ Nôm mà còn bóc ra được những lớp ngữ âm qua từng giai đoạn cụ thể. Chẳng hạn quan sát chữ “cửa 舉” ta thấy chữ này trên bia thế kỷ XV, XVI được viết ở dạng mượn âm “cử”, từ cuối thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII mới thêm bộ “môn” ở bên. Đây là sự chuyển đổi từ cách viết đơn (mượn âm) sang cách viết kép (mượn ý). Cùng đi với chữ “cửa” là chữ “đình” và chữ “chùa”. Các địa danh “cửa đình” chỉ mới gặp trên bia từ nửa sau thế kỷ XVI, còn địa danh “cửa chùa” thì đã phổ biến trên bia thế kỷ XVI, và thậm chí đã gặp nhiều trên bia thế kỷ XV. Điều đó hoàn toàn phù hợp với việc xuất hiện của ngôi đình muộn hơn nhiều so với ngôi chùa. Ngoài ra còn có một số chữ Nôm khác được mượn âm đọc cổ hơn, như “trong” mượn âm “công”, “sâu” mượn âm “lâu 婁”, “sông” mượn “long” v.v... Chữ “một” được ghi bằng “miệt 蔑”, chữ “sau” ghi bằng (cư + lâu). Đây là dấu tích âm đọc thường gặp ở thế kỷ XVII về trước.

Những nhận xét trên gợi mở đôi điều khi nghiên cứu chữ Nôm trên bia thời Lí - Trần và trên các sách chữ Nôm từ thế kỷ XVII về trước. Trong số khoảng 60 văn bia thời Lí - Trần hiện biết, có khá nhiều bia có chữ Nôm, song lại là chữ Nôm được khắc lại về sau vì không ít văn bia Lí - Trần bị mờ mòn đã được khắc lại. Trong một số sưu tập thơ Nôm chép trong sách cũng vậy, trong đó tiêu biểu là Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông và một số người khác, hoặc như sách Khâm định thăng bình bách vịnh của chúa Trịnh vừa nêu trên được sao chép muộn hơn (vào thời Nguyễn, thế kỷ XIX), nên có những tự dạng chữ Nôm mượn ý như chữ “cửa” (cử + môn) vừa trình bày.

Tóm lại, chữ Nôm trên bia thế kỷ XV-XVIII khá xác thực bởi hầu hết văn bia này còn giữ nguyên dấu tích ban đầu tạo tác, không bị khắc lại về sau như bia thời Lí - Trần. Chữ Nôm được sử dụng vẫn chủ yếu ở dạng tên người, tên đất, song lại xuất hiện trên một khối lượng văn bia đồ sộ, phân bố ở hầu khắp các địa phương miền Bắc và ở miền Trung (thế kỷ XVII - XVIII). Nếu sưu tập đầy đủ chữ Nôm trên bia không chỉ bổ sung một khối lượng không nhỏ chữ Nôm vào kho tàng chữ Nôm được sáng tác qua tác phẩm văn học, mà còn giúp định hình nét đặc trưng, diễn biến chữ Nôm về tự dạng, cũng như ngữ nghĩa. Qua đó bổ sung và góp phần đính chính một số văn bản Nôm cổ được sao chép về sau.

Đ.K.T

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH:

1. Đinh Khắc Thuân: Hai bài thơ Quốc âm ở chùa Đậu, Nghiên cứu Hán Nôm, 2/1986, tr.80-84.

2. Nguyễn Tá Nhí: Lối đánh dấu cá trong chữ Nôm, Tạp chí Hán Nôm, số 1+2/1987, tr.35-38.

3. Trịnh Khắc Mạnh, Trương Đức Quả: Về những thác bản văn khắc chữ Nôm ở thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Tạp chí Hán Nôm, số 2/1994, tr.15-21.

4. Trương Đức Quả: Về diễn biến cấu trúc của chữ “cửa” Nôm trong một số văn bia Hán, Tạp chí Hán Nôm, số 4/1995, tr.14-16.

5. Đinh Khắc Thuân: Văn bia thời Mạc và đóng góp của nó trong nghiên cứu lịch sử thời Mạc, Luận án Phó Tiến sĩ Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 1996.

Bảng chữ Nôm trên bia thời Lê (thế kỷ XV - XVIII)
(Trong đó chủ yếu là thế kỷ XV và thế kỷ XVI)

STT Âm đọc Mã chữ Ngữ cảnh Năm Số bia
1
Nhất sở Mộ ả xứ điền
Quận chúa Ả
1593
1567
2196
5802
2 Ai Dựng dợ chào ai tiếng pháp chung 1487 11765
3 Ao
Nhất sở Ao Cá xứ điền
Nhất sở Mả Ao điền
1540
1569
8294
7852
4 Ăn Nhất sở Ăn Khách xứ điền 1544 1854
5 Ba Ngã ba trung đoạn điền 1569 7852
6 Bà Chào, bà Hỏi Cả, bà Lễ Nghi, bà Ty 1569 5802
Bãi
Nhất sở Bãi La xứ
Nhất sở Bãi Ná xứ
1575
1540
892-3
8294
7 Bên Nhất sở Bên Đình trì 1583 8534
8 Bến Bến Xoan xứ 1587 4368
9 Bốn Nhất sở Mả Bốn xứ điền tam mẫu 1584 43024
10 Buồm Trong thủa tỉnh phương buồm thuận tới 1717 1959
11 Bước Đùn đùn đạo ngạn bước thênh thênh 1717 1959
12
-
Tây cận Cá Đê xứ
Nhất sở Ao Cá xứ điền
1473
1540
4486
8294
13 Cả

-
Đốc Hành xã Mả Cả xứ
Ông Cả
Dịch Cả xứ
1572
1569
1587
9869
5802
4368
14 Cạn
-
Nhất sở Cạn xứ
Nhất sở Bãi Cạn xứ điền
1570
1540
12813
8294
15 Càng Đức thịnh càng ngày càng hiển ứng 1698 7881
16 Cát Toạ lạc Bến Cát xứ điền 1579 10286
17 Cầu
Nhất sở Cầu Chằm điền
Nhất sở Cầu Quẩy xứ điền
1565
1540
16926
8294
18 Cây Nhất sở Cây Gạo xứ 1589 10499
19 Chào
Líu lo chào khách vẹt thay đồng
Bà Chào
1487
1569
11765
5802
20 Chằm Nhất sở Chằm Sâu xứ 1589 10499
21 Chân Nhất sở Chân Cờ xứ 1562 10067
22 Chim Nhất sở Con Chim xứ điền 1591 2697
23 Chiêm Nhất sở Đống Chiêm thu điền 1583 8534
24 Cho
-
Cho biết cơ mầu mãnh chẳng vong
Đem tám bạc cho chúng tôi
1487
1657
11765
1939
25 Chợ Nhất sở Cầu Chợ xứ điền 1572 2703
26 Chùa Nhất sở Cửa Chùa điền 1593 2196
27 Chúng Chúng tôi 1657 1939
28 Con Nhất sở Con Chim xứ điền 1591 2697
29 Còn Còn Phật còn làng còn tượng đấy 1731 5249
30 Cờ Nhất sở Chân Cờ xứ 1562 10067
31 Cụ Xã thôn trưởng cụ Bá cập Lê Đức Giáo 1539 31711
32 Cúi Nhất sở Nội Tổ Cúi xứ điền 1562 10067
33 Cửa
-
-
-
-
Tây cận Cửa Miếu điền
Nhất sở Cửa Miếu xứ
Nhất sở Cửa Chùa điền
Cửa quán xứ
Cửa đình xứ
Trời xuân vằng vặc hoa kề cửa
1473
1570
1593
1583
-
1717
4486
12813
2196
8534
-
1959
34 Da Nhất sở Bãi Da xứ điền 1540 8294
35 Dấu Đành thay đành lạnh dấu đăng hương 1698 7881
36 Bà Dĩ 1567 5802
37 Dòng Ngang đây suất lộ trịnh bên dòng 1487 11765
38 Duối Nhất sở Cây Duối xứ điền 1540 8294
39 Dựng Nhất sở Dựng Đình xứ 1531 9139
40 Dưới Dưới trần lòng thấy lòng thêm hậu 1731 5249
41 Đa Nhất sở Cây Đa xứ 1589 10499
42 Đành Đành thay đành lạnh dấu đăng hương 1698 7881
43 Đất Toạ lạc Đường Đất xứ điền 1579 10286
44 Đầu Mả đầu xứ điền 1544 1854
45 Đây Ngang đây suất lộ trịnh bên dòng 1487 11765
46 Đình Nhất sở Đình Cả xứ 1591 2697
47 Đem Đem tám bạc đến cho chúng tôi 1657 1939
48 Đê Tây cận Cá Đê xứ 1473 4486
49 Đo Bà Đo 1567 5802
50 Đổ Nhất sở Cầu Đổ xứ điền 1591 2696
51 Đồng
Ông Đồng tam mẫu, Già Đồng thập tam mẫu
Đồng ách xứ
1513
1547
3675
27009
52 Đống

Nhất sở Đống Nước xứ
Nhất sở Đống Nhụy xứ điền
Đống Mộ xứ
1531
1540
1583
9139
8294
8534
53 Đùn Đùn đùn đạo ngạn bước thênh thênh 1717 1959
54 Đưa Sực nức đưa hoa hương mượn gió 1487 11765
55 Đường Tọa lạc Đường Đất xứ điền 1579 10286
56 Em Nam tử em Thụ Thành 1567 5802
57 Gạo
-
Nhất sở Cây Gạo xứ
Nhất sở Cây Gạo xứ điền
1589
1562
10499
10067
58 Già Ông Đồng tam mẫu, Già Đồng thập tam mẫu 1513 3675
59 Giãi Gió thụy hiu hiu nguyệt giãi mành 1717 1959
60 Gió Gió thụy hiu hiu nguyệt giãi mành 1717 1959
61 Giờ Tháng Hai giờ Thân 1657 1939
62 Gồm Vẹn gồm khoa lục lục kim cương 1698 7881
63 Hay Nguyễn Thị Hay 1586 7963
64 Hỏi Bà Hỏi Cả
Hỏi rằng
1583
1657
8534
1939
65 Kề Trời xuân vằng vặc hoa kề cửa 1717 1959
66 Kho Nhất sở Kho Đồng xứ điền 1562 10067
67 Khuyên Đã khuyên Sơn Lộ xã nhân 1657 1939
68 Làn Nhất sở Ngoài Làn xứ điền 1540 8294
69 Làng Đầu Làng xứ 1583 8534
70 Láu Tứ Kỳ xã danh Láu san 1578 8518
71 Líu Líu lo chào khách vẹt thay đồng 1487 11765
72 Lo Líu lo chào khách vẹt thay đồng 1487 11765
73 Lục Nhất sở Lục Dục xứ 1589 10499
73 Ma
-
Tha Ma xứ
Tha Ma xứ
1473
1583
4486
8534
74 Mà thôi 1657 1939
75 Mả
Nhất sở Mả Bốn xứ điền tam mẫu
Nhất sở Mả Niệm xứ
1584
1593
43024
2196
76 Mạn Bà Mạn 1567 5802
77 Mảng Mảng vui Thiên Phúc cảnh thiên thành 1717 1959
78 Mành Gió thuỵ hiu hiu nguyệt giãi mành 1717 1959
79 Mấy Gấp mấy trần gian mấy thế thường 1698 7881
80 Mòng Nhất sở Mòng xứ 1589 10499
81 Mở Cả mở tượng đồ đồ tuệ chiếu 1698 7881
82 Một Kẻ Sơn Lộ đem một tráp bạc đến 1657 1939
83 Mụ Nhất sở Mả Mụ xứ 1570 12813
84 Muống Nhất sở Muống xứ 1589 4092
85 Mượn Sực nức đưa hoa hương mượn gió 1487 11765
86 Này Năm này 1657 1939
87 Nào Ngày nào 1657 1939
88 Ngã
-
Ngã ba trung đoạn điền
Tọa lạc Ngã Ba xứ
1569
1579
7852
10286
89 Ngày Đức thịnh càng ngày càng hiển ứng 1698 7881
90 Ngâm Nhất sở Ngâm Thuyền hạ điền 1569 7852
91 Ngõ
-
Nhất sở Ngõ Sau xứ
Nhất sở Ngõ Đình xứ
1544
1591
1864
2696
92 Ngòi Nhất sở Cửa Ngòi xứ 1544 1864
93 Ngợi Tiệc vầy ngâm ngợi khúc long bình 1717 1959
94 Người Người phủ lại Văn Trạch nam 1657 1939
95 Nhà Nhất sở Nhà Lượng xứ 1589 10499
96 Nhủ Nhủ đoàn tự đắc mời du đến 1487 11765
97 Nùi Nhất sở Nùi Làng xứ điền 1587 4368
98 Nức Sực nức đưa hoa hương mượn gió 1487 11765
99 Nước Nhất sở Đống Nước xứ 1531 9139
100 Quai Nhất sở Quai Vạc xứ 1537 9139
101 Quan Cửa quan xứ điền 1583 8534
102 Quẩy Nhất sở Quẩy xứ điền 1540 8294
103 Rày Theo rày mà thôi 1657 1939
104 Ràng Sắc ánh từ vân sắc rỡ ràng 1698 7881
105 Rằng Người phủ lại Văn Trạch nam khẩu vị rằng 1657 1939
106 Rỡ Sắc ánh từ vân sắc rỡ ràng 1698 7881
107 Rộc Rộc rục xứ 1589 4092
108 Sãi
Sãi vãi
Thiện sãi
1564 13320
109 Sau
Nhất sở Ngõ Sau xứ
Chúng tôi chẳng biết đến ngày sau
1544
1657
1864
1939
110 Săm Bà Săm 1567 5802
111 Sâu Nhất sở Chằm Sâu xứ 1589 10499
112 Sông
-
Nhất sở Sông Vĩ xứ
Tọa lạc Ngoại Sông xứ
1589
1579
10499
10286
113 Suối Nhất sở Lày Suối 1587 3179
114 Sực Sực nức đưa hoa hương mượn gió 1487 11765
115 Tai Nhất sở Ông Tai xứ 1591 2696
116 Tay Nhất sở Tay Voi điền 1593 2196
117 Tám Nguyễn Thị Tám 1586 7963
118 Tẩy Tọa lạc Tẩy Anh xứ 1579 27009
119 Tiệc Tiệc vầy ngâm ngợi khúc long bình 1717 1959
120 Tiếng Dặng hỏi chào ai tiếng pháp chung 1487 11765
121 Tha
-
Tha Ma xứ
Tha Ma xứ
1473
1562
4485
10067
122 Tháng Tháng Hai giờ Thân 1657 1939
123 Thay Líu lo chào khách vẹt thay đồng 1487 11765
124 Thênh Đùn đùn đạo ngạn bước thênh thênh 1717 1959
125 Thôi 退 Mà thôi 1657 1939
126 Thủa Trong thủa tỉnh phương buồm thuận tới 1717 1959
127 Tới Trong thủa tỉnh phương buồm thuận tới 1717 1959
128 Trải Trải xem tự cổ ai đành lanh 1729 24388
129 Trong Trong thủa tỉnh phương buồm thuận tới 1717 1959
130 Trời Trời xuân vằng vặc hoa kề cửa 1717 1959
131 Trông Than thán nhân cơ trông vời vợi 1717 1959
132 Trùm Trùm trưởng 1531 9139
133 Vạc Quai Vạc xứ 1537 9139
134 Vãi Hội hữu vãi, Thiện vãi 1564 13320
135 Vặc Trời xuân vằng vặc hoa kề cửa 1717 1959
136 Vẫn Bàng nhân thận vẫn thuyết tam sinh 1465 11766
137 Vầy Tiệc vầy ngâm ngợi khúc long bình 1717 1959
138 Vẹn Vẹn gồm khoa lục lục kim cương 1698 7881
139 Vẹt Líu lo chào khách vẹt thay đồng 1487 11765
140 Voi Nhất sở Tay Voi điền 1593 2196
141 Vời Than thán nhân cơ trông vời vợi 1717 1959
142 Vợi Than thán nhân cơ trông vời vợi 1717 1959
143 Vui Mảng vui Thiên Phúc cảnh thiên thành 1717 1959
144 Vườn Xứ Vườn Bến 1544 1854

TB

TÀI LIỆU ĐỊA CHÍ CỔ VIẾT VỀ TỈNH
HẢI DƯƠNG

NGUYỄN THUÝ NGA

Trong mảng tài liệu địa chí cổ, số sách viết về địa chí Hải Dương tương đối nhiều. Có loại là địa chí toàn quốc trong đó một phần ghi về Hải Dương, có loại ghi riêng về tỉnh hoặc các huyện mà ta thường gọi là địa phương chí, có loại được ghi lẫn vào địa chí một vài địa phương khác. Những tài liệu này phản ánh các mặt theo quan niệm địa chí xưa, gồm cương vực, diên cách, núi sông, nhân vật, phong tục, thổ sản v.v... Đó chính là nguồn tài liệu rất quý để tìm hiểu địa lý lịch sử của một địa phương lớn bao gồm cả tỉnh Hải Dương, Hải Phòng và một phần tỉnh Quảng Ninh ngày nay.

Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu số tư liệu địa chí Hán Nôm chủ yếu hiện còn viết về tỉnh Hải Dương xưa với 2 nội dung chính: nguồn tư liệu và giá trị.

I. NGUỒN TƯ LIỆU:

Ở các thư viện lớn tại Hà Nội, chúng tôi đã kê được 14 cuốn. Có thể chia làm 2 loại là quốc chí và địa phương chí. Quốc chí là sách viết chung về địa chí cả nước, trong đó có Hải Dương, còn địa phương chí hay phương chí là tài liệu viết riêng về Hải Dương hoặc một số phủ, huyện.

Sau đây chúng tôi xin trình bày tình hình văn bản và nội dung sách theo từng loại, được sắp xếp theo trình tự thời gian biên soạn(1).

1. Quốc chí

1. Đại Việt địa dư toàn biên: còn gọi là Phương Đình dư địa chí, do 2 nhà sử học danh tiếng đời Nguyễn là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) và Hữu Trúc Bùi Ngọc Quỹ (1796-1861) soạn. Sách soạn xong năm Tự Đức thứ 15 (1862), in năm Thành Thái thứ 12 (1900).

Sách hiện được lưu giữ với 2 tên gọi:

- Đại Việt địa dư toàn biên: 3 bản: 1 bản: VHv.1709/1-3; 1 bản: R.236/1, R.259/1, R.260/2, R.261/2, R.239/3, R.247/4; 1 bản: Hv.42/1-3.

- Phương Đình địa chí loại: 4 bản: A.72/1-2, VHv.1711/1-3, VHv.1593/1-2, VHv.849/2.

Nội dung gồm 5 quyển, Q.1, Q.2, Q.4 viết về địa lý nước ta trong lịch sử và các nước láng giềng. Q.3 và Q.5 viết về 29 tỉnh của nước ta vào thời Nguyễn, phần địa chí tỉnh Hải Dương nằm trong Q.5(2).

Tỉnh Hải Dương đời Tự Đức gồm 5 phủ, 19 huyện:

- Phủ Bình Giang, 4 huyện: Đường An, Đường Hào, Cẩm Giàng, Thanh Miện.

- Phủ Ninh Giang, 4 huyện: Vĩnh Lại, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Vĩnh Bảo.

- Phủ Nam Sách, 4 huyện: Chí Linh, Thanh Hà, Thanh Lâm, Tiên Minh.

- Phủ Kinh Môn, 3 huyện: Giáp Sơn, Thủy Đường, Đông Triều.

- Phủ Kiến Thụy, 4 huyện: Nghi Dương, Kim Thành, An Dương, An Lão.

2. Đại Nam nhất thống chí: Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn đời Tự Đức(3).

Sách hiện còn khá nhiều: Viện Nghiên cứu Hán Nôm: 15 bản, Viện Sử học: 27 ký hiệu(4), tất cả đều là sách chép tay, không có năm tháng biên soạn, không có Tựa, Bạt. Qua tìm hiểu, chúng tôi xác định bản Hv.140 và bản A.69 là những bản tốt nhất(5).

Về nội dung, sách cung cấp cho chúng ta những tài liệu vô cùng quý giá về địa lý, lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa v.v..., đặc biệt là về địa lý lịch sử của từng tỉnh, xuyên suốt từ thời cổ đến tận thời điểm biên soạn sách là đời Tự Đức. Quyển 17 thuộc tập 4 viết về tỉnh Hải Dương.

Lúc này tỉnh Hải Dương cũng gồm 5 phủ, 19 huyện như kê ở sách Đại Việt địa dư toàn biên.

3. Đồng Khánh địa dư chí lục: Sách chép tay, không có Tựa, Bạt, không có niên đại, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn và hoàn thành vào đời Đồng Khánh. Qua tìm hiểu, chúng tôi xác định bộ sách này được hoàn thành trước năm 1888. Hiện nay, tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ được một bản, ký hiệu A.537 và một bản tại Viện Sử học Hv.525.

Đây là một bộ địa chí đồ sộ gồm 25 tập, mỗi tập ghi chép riêng về một tỉnh. Ở mỗi tập từ tỉnh đến phủ, huyện đều ghi đủ các mục: cương giới; danh sách xã, thôn; thành trì; binh ngạch; dân đinh; ruộng đất; thuế; đền miếu; phong tục; sản vật v.v...(6).

Nội dung ghi chép của sách này khá chi tiết, nhất là ở mục phong tục, nghề thủ công v.v... Nhưng giá trị đặc sắc nhất là ở phần kê danh sách của từng tỉnh. Đây là một trong số ít tài liệu hiện còn có kê lớp địa danh làng xã, với quy mô rộng lớn nhất. Quyển 7 (gồm Thượng, Hạ) viết về tỉnh Hải Dương.

Lúc này tỉnh Hải Dương vẫn gồm 5 phủ, 19 huyện.

2. Địa phương chí

Địa chí một miền, trong đó có Hải Dương:

1/ Các trấn tổng xã danh bị lãm: Sách chữ Hán, có lẫn chữ Nôm, viết chân, ký hiệu A.570/1-2. Nguyên bản chữ Hán vốn không có tên, không có năm tháng biên soạn, cũng không có Tựa, Bạt. Tên sách hiện viết bằng bút mực xanh, có lẽ là để tiện đăng ký thư viện. Căn cứ vào một số yếu tố nội tại trong văn bản như địa danh, diên cách hành chính, có thể xác định sách được biên soạn trong khoảng từ năm 1810 đến năm 1813 đời Gia Long(7).

Tài liệu đề cập đến cấp xã thôn của các tỉnh Trung và Bắc bộ cổ nhất hiện còn, nhờ vào đó chúng ta có thể nghiên cứu lớp địa danh đầu triều Nguyễn, và từ đó, nghiên cứu diên cách địa danh đến cấp xã thôn của cả một miền rộng lớn.

Trấn Hải Dương được đặt ngay đầu quyển 1, gồm 4 phủ, 16 huyện, 186 tổng, 1832 xã, thôn, phường.

- Phủ Thượng Hồng, 3 huyện: Đường Hào, Đường An, Cẩm Giàng.

- Phủ Hạ Hồng, 4 huyện: Gia Lộc, Tứ Kỳ, Vĩnh Lại, Thanh Miện.

- Phủ Nam Sách, 4 huyện: Thanh Lâm, Thanh Hà, Tiên Minh, Chí Linh.

- Phủ Kinh Môn, 7 huyện: Kim Thành, Giáp Sơn, Đông Triều, An Dương, An Lão, Nghi Dương, Thủy Đường.

2/ Bắc Thành địa dư chí lục: là tác phẩm địa phương chí có quy mô lớn nhất được biên soạn vào đầu đời Nguyễn. Sách do Lê Chất(8) soạn trong khoảng năm 1818 - 1821 đời Minh Mệnh, Nguyễn Văn Lý(9) hiệu chỉnh và đề Tựa năm Thiệu Trị thứ 5 (1845).

Sách hiện còn 3 bản: A.1565/1-2, A.1758/1-2 và A.81/1-2, đều là sách chép tay. A.1565/1-2 là bản đầy đủ nhất: gồm bài Tựa và 12 quyển, nhưng trong văn bản đã xuất hiện một vài địa danh thay đổi đời Thiệu Trị, Tự Đức nên nó phải được sao chép từ đời Tự Đức về sau. Hai văn bản còn lại đều tàn khuyết.

Nội dung ghi chép về 12 trấn thuộc Bắc Thành. Trong mỗi trấn đều ghi đủ 12 mục: trấn thành, hành cung và các doanh trấn thủ, cương vực, danh sơn, danh xuyên v.v... Tác phẩm có kê được lớp địa danh thôn xã. Vì vậy, ngoài những giá trị thông thường của loại sách địa chí, lớp địa danh đời Minh Mệnh trong Bắc Thành địa dư chí lục là một tư liệu hết sức quý giá dùng để nghiên cứu địa danh lịch sử của 12 tỉnh miền Bắc đầu đời Nguyễn.

Quyển 2 ghi về trấn Hải Dương, gồm 4 phủ, 18 huyện như ghi trong Các trấn tổng xã danh bị lãm.

2. Địa chí riêng về Hải Dương

1/ Hải Dương chí lược: còn có 1 tên khác là Hải Đông chí lược. Sách chép tay, hiện còn bản ký hiệu A.103 và một bản chép trong Phượng Sơn từ chí lược VHv.1740. Ở bản A.103 không có trang tên sách, không có Tựa, Bạt. Dòng đầu sách chỉ ghi “Hải Đông chí lược. Ngô tộc tàng bản” rồi đến ngay phần Nhân vật chí. Bản chép trong Phượng Sơn từ chí lược không có dòng ghi “Ngô tộc tàng bản” và cũng chỉ chép được phần Nhân vật chí. Sách do Ngô Thì Nhậm soạn trước năm 1772(10).

Trong Lịch triều hiến chương loại chí, quyển Văn tịch chí Phan Huy Chú ghi rõ: “Hải Dương chí lược, 4 quyển. Tiến sĩ Ngô Thì Nhậm soạn. Chép về núi sông, phong tục, nhân vật, thuế lệ, đinh số của xứ Hải Dương. Chép khá rõ ràng, đầy đủ”(11). Như vậy có thể biết nguyên tác vốn có 4 quyển, nhưng 2 bản chép hiện còn đều chỉ ghi được một quyển Nhân vật chí mà thôi.

Nội dung phần này chia làm 2 mục: Liệt truyện tướng văn tướng võ (ghi 6 người nổi tiếng như Phạm Công Trứ, Đinh Văn Tả, Phạm Đình Trọng v.v...) và Liệt truyện Nho học (cũng ghi 6 nhân vật nổi tiếng như Hàn Thuyên, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Toàn An v.v...)(12).

2/ Hải Dương địa dư: hiện chỉ còn 1 bản, sách chép tay, chữ chân, ký hiệu A.568. Đầu sách có tờ trình của Tổng đốc Hải Dương họ Nguyễn nói rõ việc làm sách này là do đáp ứng yêu cầu của Quốc sử quán tư cho các tỉnh hạt giao cho các vị Cử nhân, Tú tài ở địa phương căn cứ vào bản thảo bộ Đại Nam nhất thống chí tra cứu tại địa phương để bổ sung và đính chính cho bản thảo đó.

Nội dung chép lại nguyên thư phần viết về tỉnh Hải Dương, phần bổ sung hoặc đính chính ghi ngay sau nguyên thư. Tập thể tác giả đã bổ sung được tư liệu rất quý về Tuệ Tĩnh, nguyên thư chỉ ghi: “người huyện Cẩm Giàng, họ tên không rõ, tinh thông y dược, chuyên dùng thuốc Nam chữa bệnh, rất hiệu nghiệm”, bổ sung: “Người xã Nghĩa Phú huyện Cẩm Giàng, họ Nguyễn, tên Bá Tĩnh, trú cư ở chùa Hộ Xá huyện Giao Thủy, hiệu Tuệ Tĩnh thiền sư”.

3/ Hải Dương phong vật chí:

Sách do Trần Huy Phác hiệu Đạm Trai(13) biên soạn và viết bài Tựa ngày thượng tuần tháng trọng thu năm Tân Mùi niên hiệu Gia Long thứ 10 (1811), Bùi Dã Sĩ(14) đề Bạt ngày thượng tuần tháng quý hạ năm Nhâm Thân (1812), Ân Quang hầu Trần Công Hiến(15) trông coi việc khắc in, có dấu triện vuông.

Sách hiện còn 7 bản, trong đó có 1 bản in và 6 bản chép tay: A.882 (in), AB.88, VHv.168, A.2878, VHv.1367, Hv.51, R.42. Tờ đầu bản in ghi dòng chữ “Trần thị gia tàng”. Qua tìm hiểu, chúng tôi xác định bản A.882 là bản in có niên đại sớm nhất và đầy đủ hơn cả, sau đó đến bản AB.88, các bản còn lại đều sao chép không đầy đủ từ bản gốc nói trên(16).

Nội dung gồm các mục: Q.Thượng: Núi sông, nhân vật (chia ra: đế vương, mẫu hậu, quốc mẫu, đại thần. Quyển Hạ: võ tướng, lại tư, thiền sư, danh y, đạo sĩ, trí mẫu, tài nữ, trinh tiết phụ, phú gia phụ), phong tục, thổ nghi, tứ dân kỹ nghệ. Sau đó ghi bài Hải Dương phong vật khúc Hải Dương thủy trình lược ký nói về các đường biển, đường sông của tỉnh này. Trong tác phẩm, tác giả sưu tập được khá nhiều thơ ca và câu đối của các danh nhân địa phương. Những tư liệu này sẽ góp phần vào việc nghiên cứu tác gia Hán Nôm Hải Dương nói riêng và cả nước nói chung.

4/ Hải Dương tỉnh địa dư chí : sách vốn không có tên chung, tên hiện nay do người sau đặt ra để tiện đăng ký thư viện.

Sách gồm 6 tập kê khai của huyện quan 6 huyện là Cẩm Giàng, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Vĩnh Bảo, Chí Linh, Đông Triều thuộc phủ Bình Giang theo yêu cầu của viên Kinh lược đại thần. Các tờ giấy đều có dấu vuông đóng giáp lai, ký hiệu A.1940. Căn cứ vào ngày tháng ghi trong từng tờ bẩm, chúng ta biết sách có niên đại từ năm Tự Đức thứ 4 (1851) đến năm Thánh Thái thứ 8 (1896).

Ngoài các mục kê khai theo một mẫu thống nhất, gồm: thành trì, sơn xuyên, miếu vũ, lý lộ, diên cách, nhân vật, phong tục, cổ tích, kỹ nghệ, thổ sản còn ghi chép một số văn bia (phần khai của huyện Tứ Kỳ). Đặc biệt, ở mục Diên cách các huyện đều có kê tên các xã thôn. Huyện Cẩm Giàng còn kê tên Nôm của từng thôn và tên cũ của một số thôn xã. Phần kê của huyện Đông Triều có chua rõ diên cách của huyện qua các đời, giá trị nhất là ghi rõ được lý do đổi tên của một số xã thôn, ví dụ: Mễ Xá tên cũ là Nguyễn Xá, đổi tên năm Gia Long thứ 1 (1802), thôn Mỹ Cụ trước là thôn Ưu Đà, xưa vua Trần du sơn, tiều phu thôn ấy dâng thức ăn ngon nên vua cho đổi tên này. Lại ban cho một khu đất ở đầu núi Lộc Đầu là Hương Lạt và Dương Đường, năm Thành Thái thứ 1 (1889) đổi là Quế Lạt và Dương Đê v.v...

3. Địa chí từng huyện

1/ Chí Linh phong cảnh: Sách vốn không có tên, nhưng có các chữ Chí Linh phong cảnh viết bằng bút chì đỏ, chép tay, chữ đá thảo, không có Tựa, Bạt, không ghi tên tác giả và năm tháng biên soạn, ký hiệu VHv.167.

Tờ đầu sách có dòng nói việc đem sơn xuyên, phong cảnh, nhân vật tài danh của Hải Dương tập thành một thiên ca vận. Trong nội dung, ở từng mục có lời dẫn, sau đó đều diễn đạt bằng một bài thơ chữ Hán, thể thất ngôn 12 câu. Núi sông được giới thiệu ở đây đều là những núi nổi tiếng như: Côn Sơn, Phượng Hoàng, Cổ Phao, Nhạn Loan v.v... Nhân vật đều là những nhà khoa bảng nổi tiếng như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Doãn Khâm, Nguyễn Quang Trạch, Đồng Hãng v.v... Ở cuối sách có ghi chuyện về bà Nguyễn Thị Toàn, người xã Kiệt Đặc, giỏi thơ văn, trí tuệ hơn người, giả trai đi thi, đỗ Tiến sĩ triều Mạc, được ban tên là Sao Sa, được vời vào triều dạy cung nữ(17).

Sách ghi liên tục, không có đề mục riêng nên khó phân biệt.

2/ Chí Linh huyện tiên hiền sự tích:

Sách chữ Nôm và Hán, chép tay, soạn năm Bảo Đại thứ 11 (1936), sách do Đào Ngọc Gia sao lục năm Bảo Đại Bính Tý 11 (1936), ký hiệu R.2241.

Sách có nhiều nội dung: Bài thơ Nôm ca ngợi cảnh đẹp Chí Linh; ghi các xã có người đỗ Tiến sĩ; phong cảnh núi non và 8 di tích cổ của Chí Linh, họ tên các nhân vật đỗ đạt, bài tổng luận về thổ sản trong huyện và bài văn bia về núi Phượng Hoàng.

Tiếp đến là những đoạn ghi chép về huyện Thanh Liêm như tiên hiền, phong vật, chủ yếu là ghi về các nhân vật đỗ đạt của các xã trong huyện; sưu tập thơ văn của các tác giả người huyện này.

Cuối sách có bài Ca trù viết bằng chữ Nôm, sau đó sao chép văn chương của tiền nhân; cuối cùng là bài Khuyến thế ca viết bằng chữ Nôm.

Như vậy, đây là một sưu tập có nội dung phong phú, trong đó có phần địa chí chủ yếu viết về huyện Chí Linh.

3/ Tứ Kỳ địa dư phong vật chí: Sách do Nguyễn Năng Tấu(18) biên soạn. Đầu sách có bài Tựa, không ghi năm tháng. Sách chép tay, ký hiệu VHv.166.

Nội dung sách ghi 11 mục: thành trì, sơn xuyên, lý lộ, diên cách, nhân vật, cổ tích, phong tục, phương ngôn, kỹ nghệ, thổ sản. Ở mục Diên cách có kê đủ 88 xã thuộc 8 tổng, ở từng xã lại kê tên thôn. Ngoài ra còn có thơ ca đề vịnh di tích và một số bài văn bia, trong đó có bài văn bia do Thám hoa Nguyễn Quý Đức soạn. Phần đặc sắc của sách là ghi được một số phương ngôn, đó là nguồn tư liệu quý góp phần vào việc nghiên cứu văn học dân gian.

4. Đông Triều huyện chí: sách chép tay, chữ Hán, không có Tựa, Bạt, không ghi năm tháng soạn, không có tên tác giả, ký hiệu A.1942.

Nội dung gồm các mục: kiến trí diên cách, hình thế, khí hậu, phong tục, thổ sản, sơn sản, khoáng sản, cương vực hiệp cận, sơn xuyên, tân thứ, thị triền, cổ tự. Đặc điểm của sách là ghi được phong tục của vùng Đông Triều, như tết Đoan ngọ lấy hạt đào, hạt mận làm bánh cúng, uống rượu hùng hoàng gọi là “tỵ trùng”; lấy rau ngải bó thành hình các con hổ, rắn, mèo, chó treo ngoài cổng. Đặc biệt mục Sơn sản cho chúng ta biết vỏ cây dó sản ở các xã Thanh Luận, Bồng Am, Tuấn Mậu thường bán cho phường Yên Thái tỉnh Hà Nội làm giấy dó. Các xã Hổ Lao, Đông Triều, Hương Lạt, Mạo Khê sản loại đất trắng, chất mềm, dẻo, người dân xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm thường mua làm đồ sứ. Xã Chí Linh sản loại đất vàng, người xã Kệ Giản, huyện Đường An mua để làm nồi đất.

5. Đông Triều huyện phong thổ ký: sách chữ Hán, chép tay trên loại giấy bản mới, chân phương, không có Tựa, Bạt, không có tác giả, không ghi năm tháng, ký hiệu A.1637.

Nội dung sách ghi chép về diên cách, sông núi, phong tục v.v... huyện Đông Triều, nhưng thay vì ghi tên mục thì tác giả lại làm 2 câu thơ thể ngũ ngôn, ví dụ: “Viêm bang văn Tượng Quận, Lạc thổ hiệu An Sinh” (Cõi nam nghe tiếng Tượng Quận, Lạc thổ là đất An Sinh), tức là mục khảo về diên cách; “Thôn ổ phong tồn chất, Giai mai tục hảo tranh” là nói về phong tục; “Hùng bang lâm hải quốc, Phúc địa chứng nam kinh” là nói về địa thế, núi sông. Ở mục này viết rất kỹ về núi Yên Tử và chùa Hoa Yên v.v...

6/ Phượng Sơn từ chí lược: sách không có trang tên sách, không ghi năm tháng, chép tay trên loại giấy có kẻ sẵn dòng để in sách. Mép sách có dòng chữ “Long Cương tàng bản” tức là giấy của nhà Long Cương (thư viện của gia đình Cao Xuân Dục) dùng để in sách. Những tờ lót không liên quan đến nội dung sách, ký hiệu VHv.1740.

Sách ghi nhiều nội dung khác nhau:

Phượng Sơn từ chí lược: ghi hành trạng và thơ ca của Chu Văn Trinh(19).

Giáp Sơn phong thổ ký: bài thơ ngũ ngôn trường thiên viết về sông núi, đền miếu của huyện này, có chùm thơ Đồ Sơn bát vịnh.

Hải Đông chí lược: cũng chỉ có riêng phần Nhân vật chí giống ký hiệu A.103 đã nói ở trên nhưng không có dòng chữ “Ngô gia tàng bản”. Có lẽ phần này đã được chép lại từ bản A.103.

Hải Dương phong vật chí : do Ngô Công Hiến soạn, không có niên đại và Tựa, Bạt. Sách ghi cương giới, phong tục, khoa mục, nhân vật v.v... của từng phủ. Sách này hoàn toàn khác với sách cùng tên của Trần Công Hiến, ký hiệu A.882.

Phần Phụ lục kê tên 4 phủ và 18 huyện, là danh sách các phủ huyện của trấn Hải Dương trước cuộc cải cách hành chính năm Minh Mệnh 12 (1831).

Thanh Hóa dư đồ sự tích ký do Cổ Đằng [Lê] Cao Lãng soạn, viết về địa chí xứ Thanh.

Có thể nhận định tài liệu này được gia đình họ Cao tổng hợp từ nhiều sách khác nhau để biên soạn một cuốn địa chí, trong đó phần chính là về địa chí tỉnh Hải Dương, sau đó đặt tên theo quyển ở đầu sách.

Ngoài những sách trên còn có một quyển cũng mang nội dung địa chí nhưng viết bằng chữ Nôm theo thể thơ song thất lục bát là Hải Dương phong vật khúc, ký hiệu R.1890, chúng tôi tạm thời chưa giới thiệu ở đây(20).

II. GIÁ TRỊ:

Từ những tài liệu gốc khá phong phú này, người nghiên cứu có thể tìm hiểu tỉnh Hải Dương xưa về nhiều vấn đề.

1. Diên cách

Các tài liệu đều ghi rõ rằng Hải Dương thời Hùng Vương là lộ Dương Tuyền; đời Tần thuộc Tượng Quận; Hán thuộc bộ Giao Chỉ; Trần là Hồng Lạc, lại là lộ Hải Đông(21), sau chia làm các phủ lộ Hồng Châu và Nam Sách; đời thuộc Minh là đất 2 phủ Lạng Giang và Tân An. Năm Thuận Thiên đời Lê (1010 -1028) gọi là Đông đạo; năm Diên Ninh (1454-1459) chia làm Nam Sách Thượng lộ, Nam Sách Hạ lộ; đời Quang Thuận (1460-1469) đặt làm Nam Sách thừa tuyên; năm thứ 10 (1469) định bản đồ, gọi là Hải Dương thừa tuyên, lĩnh 4 phủ, 14 huyện; năm Hồng Đức thứ 21 (1490) định bản đồ, đổi xứ Hải Dương làm trấn. Nhà Mạc lấy Nghi Dương làm Dương Kinh, cho phủ Thuận An của Kinh Bắc, Khoái Châu của Sơn Nam và các phủ Tân Hưng, Kiến Xương, Thái Bình lệ vào. Trong đời Lê Quang Hưng (1578-1599) lại đổi theo trấn cũ; năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741) chia làm 4 đạo: Thượng Hồng, Hạ Hồng, Đông Triều và An Lão; đời Tây Sơn lấy phủ Kinh Môn đổi lệ vào Quảng Yên. Năm Gia Long thứ 9 (1810) lại lấy phủ Kinh Môn lệ vào trấn như cũ, lĩnh 4 đạo, 18 huyện. Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) đổi phủ Thượng Hồng làm phủ Bình Giang, Hạ Hồng làm Ninh Giang. Năm thứ 12 (1831) chia tỉnh hạt, gọi là tỉnh Hải Dương, có tên khác là tỉnh Đông. Năm thứ 13 (1832) đặt thêm 2 phân phủ Ninh Giang, Nam Sách; năm thứ 14 (1833) đặt phân phủ Kinh Môn, đặt phủ Kiến Thụy và phân phủ Kiến Thụy. Năm thứ 19 (1838) đặt thêm huyện Vĩnh Bảo và phân phủ Bình Giang. Năm Tự Đức thứ 5 (1852) bỏ hết phân phủ; lấy phủ Bình Giang kiêm gộp huyện Thanh Miện; phủ Ninh Giang kiêm gộp huyện Vĩnh Bảo; phủ Nam Sách kiêm gộp huyện Thanh Lâm; huyện Thanh Hà kiêm gộp huyện Tiên Minh, phủ Kinh Môn kiêm gộp huyện Đông Triều, phủ Kiến Thụy kiêm gộp huyện An Dương, huyện Kim Thành kiêm gộp huyện An Lão, gồm 5 phủ, 19 huyện.

Căn cứ vào lịch đại của các tài liệu hiện còn, chúng ta có thể chia diên cách của Hải Dương chia làm 2 giai đoạn:

a/ Giai đoạn trước cải cách hành chính năm Minh Mệnh thứ 12 (1831): sách Các trấn tổng xã danh bị lãm, Bắc Thành địa dư chí lục, Phượng Sơn từ chí lược ghi trấn Hải Dương gồm 4 phủ, 18 huyện:

- Phủ Thượng Hồng, 3 huyện: Đường Hào, Đường An, Cẩm Giàng.

- Phủ Hạ Hồng, 4 huyện: Gia Lộc, Tứ Kỳ, Vĩnh Lại, Thanh Miện.

- Phủ Nam Sách, 4 huyện: Thanh Lâm, Thanh Hà, Tiên Minh, Chí Linh.

- Phủ Kinh Môn, 7 huyện: Kim Thành, Giáp Sơn, Đông Triều, An Dương, An Lão, Nghi Dương, Thủy Đường.

b/ Giai đoạn sau khi chia đặt tỉnh cho đến tận cuối thời Nguyễn, các sách Đại Việt địa dư toàn biên, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí lục ghi Hải Dương gồm 5 phủ, 19 huyện, trong đó 1 phủ mới là phủ Kiến Thụy đặt năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) trên cơ sở đất của 4 huyện Nghi Dương, Kim Thành, An Dương và An Lão thuộc phủ Kinh Môn tách ra và thêm huyện Vĩnh Bảo đặt mới năm Minh Mệnh thứ 19 (1838).

2. Địa danh làng xã

Giá trị nhất của các tài liệu địa chí kể trên là lớp địa danh làng xã mà chúng cung cấp. Loại tài liệu có nội dung như vậy liên quan đến Hải Dương hiện còn không nhiều, đầu đời Nguyễn có Các trấn tổng xã danh bị lãm (đời Gia Long), Bắc Thành địa dư chí lục (đời Minh Mệnh), rồi đến Đồng Khánh địa dư chí lục (đời Đồng Khánh). Sách địa phương chí: quyển Hải Dương tỉnh địa chí có 5 huyện kê được tên xã thôn là Cẩm Giàng, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Chí Linh, Đông Triều và sách Tứ Kỳ địa dư phong vật chí ghi được đủ tên 88 xã thôn của 8 tổng trong toàn huyện.

Lập một bảng kê toàn bộ địa danh cấp thôn xã theo lịch đại của tài liệu, chúng ta được 2 kết quả sau:

- Có thể nghiên cứu diên cách từng địa danh thôn xã của tỉnh Hải Dương từ đầu triều Nguyễn cho đến đời Đồng Khánh.

- Xác định được tên địa danh phủ, huyện, tổng, xã, thôn thay đổi qua từng đời, sự thay đổi này có nhiều lý do, trong đó có lý do kiêng huý gây ra(22).

Điều đó rất có ý nghĩa trong việc nghiên cứu địa danh lịch sử Hải Dương nói riêng và góp phần vào việc nghiên cứu địa danh lịch sử cả nước nói chung.

3. Nhân vật:

Những ghi chép về các nhân vật đều là những tư liệu rất quý để bổ sung và nghiên cứu tiểu sử nhân vật, như trường hợp Tuệ Tĩnh ở sách Hải Dương địa dư và các danh nhân lịch sử, danh nhân văn hóa khác, nhất là các nhà khoa bảng.

4. Sản vật:

Sách Đông Triều huyện chí cho chúng ta biết vỏ cây dó ở đây là nguồn cung cấp nguyên liệu chính cho phường Yên Thái làm loại giấy dó nổi tiếng cả nước; loại đất sét trắng mềm, dẻo thì cung cấp cho người dân xã Bát Tràng sản xuất đồ sứ truyền thống; đất sét vàng được người xã Kệ Giản dùng làm nồi đất v.v... Đó là những nguyên liệu đặc biệt, chúng ta không dễ biết nếu không có ghi chép từ nguồn địa chí này.

5. Thơ văn, bi ký:

Rất nhiều thơ vịnh di tích, vịnh nhân vật trong Hải Dương phong vật chí, Chí Linh huyện tiên hiền sự tích là nguồn tư liệu bổ sung cho mảng thơ đề vịnh di tích, thơ vịnh sử. Bài văn bia trong Tứ Kỳ địa dư phong vật chí do Thám hoa Nguyễn Quý Đức soạn có thể bổ sung cho trước tác của danh nhân văn hóa này v.v...

5. Một giá trị không liên quan đến nội dung tác phẩm nhưng lại cung cấp cho chúng ta thông tin về quá trình biên soạn bộ Đại Nam thực lục (23). Đó là các tờ bẩm một số viên Tri phủ, Tri huyện theo tờ sức của viên Khâm sai đại thần, đem bộ Đại Nam thực lục, phần ghi về địa phương mình khảo cứu thực địa để bổ sung, đính chính sai sót rồi trình lên. Như vậy, đây là những tài liệu độc đáo để góp phần tìm hiểu quá trình hoàn thiện bộ sử lớn nhất thời Nguyễn này.

Dù một số huyện nay đã thuộc về tỉnh khác(25), nhưng 14 cuốn địa chí hiện còn là những tài liệu rất quý để nghiên cứu nhiều mặt của đất Hải Dương xưa. Hy vọng đây là những thông tin hữu ích cho các nhà nghiên cứu quan tâm đến mảng đề tài địa chí.

N.T.N

CHÚ THÍCH:

(1) Ký hiệu A, AB, VHv: sách chữ Hán của Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Ký hiệu D: Sách dịch của Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Ký hiệu Hv: sách của Viện Sử học

R. Sách của Thư viện Quốc gia, mỗi ký hiệu tương đương 1 tập sách rời.

(2) Sách đã được ông Ngô Mạnh Nghinh dịch, Cơ sở báo chí và xuất bản Tự do xuất bản năm 1959 tại Sài Gòn. Năm 1997, Viện Sử học và Nhà xuất bản Văn hoá kết hợp xuất bản, bản dịch và hiệu đính của Tổ biên dịch Viện Sử học.

(3) Phân biệt với bản soạn đời Duy Tân do Cao Xuân Dục làm Tổng tài là bản rút gọn.

(4) Mỗi ký hiệu tương đương với 1 tập sách rời, không phải cả bộ.

(5) Sách đã được cụ Phạm Trọng Điềm dịch, cụ Đào Duy Anh hiệu đính, Nhà xuất bản Sử học xuất bản. Năm 1992, Nhà xuất bản Thuận Hóa - Huế tái bản.

(6) Nhóm dịch giả: Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin, Phan Văn Các, Lê Việt Nga, Dương Thị The, Viện Viễn Đông bác cổ tài trợ, Nxb. Thế giới, H. 2002.

(7) Xem thêm bài giới thiệu của ông Lê Hiệu ở đầu sách. Dương Thị The - Phạm Thị Thoa dịch và biên soạn, Nxb. KHXH, H. 1981.

(8) Lê Chất: có sách ghi tên là Lê Văn Chất, Lê Công Chất, Lê Đại Cương. Ông người làng Phú Mỹ tỉnh Bình Định. Trước làm quan võ với nhà Tây Sơn, sau ra làm quan với nhà Nguyễn. Năm Gia Long 8 (1810), ông làm Hiệp tổng trấn Bắc Thành. Năm Gia Long thứ 17 (1818) được bổ làm Tổng trấn Bắc Thành. Trong khi làm Tổng trấn Bắc Thành, ông tập hợp nhiều học giả, soạn sách Bắc Thành địa dư chí lục.

(9) Nguyễn Văn Lý: tự Chí Am và Tuần Phủ, hiệu Chí Hiên và Đông Khê, người phường Đông Tác huyện Thọ Xương, nay thuộc nội thành Hà Nội, đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn năm Minh Mệnh thứ 13 (1832).

(10) Dẫn theo Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Nxb. Văn Hóa, H.1984, T.1, tr.385.

(11) Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Tổ phiên dịch Viện sử học Việt Nam dịch và chú giải, Nxb. KHXH, H. 1992, T.3, tr.175.

(12) Sách được Nguyễn Huy Thức dịch, Nguyễn Hữu Chế hiệu đình, ký hiệu bản dịch D 240.

(13) Trần Huy Phác (1754-1834): người làng Bình Vọng huyện Thường Tín, nay là xã Văn Bình huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây. Ông thi đỗ Hương cống năm Cảnh Hưng Đinh Dậu (1777). Năm Gia Long thứ 3 (1804) được mời ra làm Trợ giáo Hải Dương và Quảng Yên; năm Gia Long thứ 11 (1812) thăng Đốc học Thanh Hóa, tước Phác Ngọc bá.

(14) Ông người xã Phong Cốc, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương.

(15) Trần Công Hiến (?-1816): người làng Trương Nghĩa tỉnh Quãng Ngãi, làm quan trải các chức: Tổng nhung cai cơ, Trấn thủ Hải Dương. Bình sinh trước tác nhiều, mở nhà Hải Học đường ở Hải Dương, tổ chức in nhiều sách. Cuốn Hải Dương phong vật chí do ông in tại nhà in này.

(16) Xem thêm Nguyễn Thị Lâm: Về các văn bản của tác phẩm Hải Dương phong vật chí, Tạp chí Hán Nôm, số 3/2004, tr.13

(17) Việc bà Nguyễn Thị Toàn (có người đọc là Duệ, vì 2 chữ này gần tự dạng) đỗ Tiến sĩ, còn có vấn đề sau:

- Thứ nhất: nói bà đỗ đời Mạc, có người còn ghi rõ bà đỗ năm 1616, điều này là sai, vì triều Mạc tổ chức được 22 khoa thi, khoa cuối cùng là năm Hồng Ninh thứ 2 (1592).

- Thứ 2: họ tên, quê quán, sự nghiệp của 485 người đỗ trong 22 khoa thi đời Mạc, đương thời đã được ghi rất đầy đủ, chính xác; các sách đăng khoa lục và sử sách không ghi việc bà đỗ Tiến sĩ.

Có lẽ đây là nhân vật có thật, nhưng không phải thi đỗ Tiến sĩ. Gần đây một vài bài báo theo nhau tán dương bà là vị nữ Tiến sĩ đầu tiên của nước ta là hoàn toàn không có cơ sở.

(18) Nguyễn Năng Tấu: người xã Thượng Cốc, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, đỗ Cử nhân, lĩnh Tri phủ phủ Tiên Hưng, thăng Đốc học Hà Nam.

(19) Tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn 2 bản in ký hiệu A.195 và VHv.1287 cũng có tên Phượng Sơn từ chí lược, nội dung gồm 3 quyển: Q.1: ghi hành trạng, thi tập của Chu Văn Trinh, Q.2: Chư gia thi tập. Q.3: Tân từ tự sự. Phần Phượng Sơn từ chí lược của bản VHv.1740 là sao chép lại từ sách này.

(20) Bài này còn có trong sách Hải Dương phong vật chí, ký hiệu A.882 đã giới thiệu ở trên. Sách đã được Trần Văn Giáp phiên âm và khảo, ký hiệu D.1003.

(21) Vì vậy sách Hải Dương chí lược còn có tên là Hải Đông chí lược.

(22) Theo thống kê của PGS.TS. Ngô Đức Thọ tỉnh Hải Dương có 115 tên xã thôn thay đổi, trong đó có 72 trường hợp do kiêng húy. Xem Đồng Khánh địa dư và việc bóc tách các lớp địa danh triều Nguyễn, trong Thông báo Hán Nôm học năm 1998, tr.399.

(23) Đại Nam thực lục: Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn từ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đến năm Duy Tân thứ 3 (1909), viết lịch sử nước ta từ thời các chúa Nguyễn đến năm Đồng Khánh thứ 3 (1888). Sách đã được Tổ phiên dịch Viện Sử học dịch, Nxb. KHXH.

(24) Huyện Đông Triều sau thuộc tỉnh Quảng Ninh; 5 huyện Vĩnh Bảo, An Dương, An Lão, Nghi Dương, Thủy Đường thuộc Tp. Hải Phòng.

TB

TÂM SỰ CỦA PHẠM QUÍ THÍCH QUA CÁC BÀI THƠ VỀ THĂNG LONG

VƯƠNG THỊ HƯỜNG

Phạm Quí Thích, tự Dữ Đạo, hiệu Lập Trai, biệt hiệu là Thảo Đường Cư sĩ. Ông sinh ngày 19 tháng 11 năm Canh Thân (1760), người xã Hoa Đường, huyện Đường An (nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Sau ông dời lên sống ở kinh đô, ngụ tại phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương (nay thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội).

Thời đại ông sống có nhiều biến cố xã hội. Thời Lê ông đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa thi Kỉ Hợi năm Cảnh Hưng thứ 40 (1779) lúc mới 20 tuổi, được bổ chức quan Đông các Hiệu thư rồi tới chức Thiêm sai tri công phiên. Nhà Lê suy nhược khiến ông và nhiều kẻ sĩ phải đau lòng, thất vọng. Khi quân Tây Sơn ra Bắc, mặc dù được vời gọi nhiều lần nhưng ông vẫn từ chối, không cộng tác. Vua Nguyễn Gia Long lên ngôi, ông được gọi ra làm quan, sau nhiều lần lấy cớ đau yếu để từ chối nhưng không thành ông đành phải nhận và giữ chức Thị trung học sĩ, tước Thích An hầu. Năm 1811 ông bị triệu vào kinh thành Huế làm quan chép sử, năm 1813 làm Giám thị trường thi Sơn Nam, sau ông lại cáo quan về. Sau đó vua Minh Mạng cũng vời ông nhiều lần nhưng ông đều từ chối. Chính sự nhiễu nhương đã ảnh hưởng nhiều đến ông, đến chí khí và tâm trạng của một kẻ sĩ có tài mà đành bó tay đứng nhìn. Ông từng tâm sự:

“Nhân sinh nhược định đẳng nhàn quá
Bách tuế năng yêu thị diệc dư.”
(Đời người nếu chỉ định tầm thường nhàn nhã trôi qua
Thì có sống trăm năm cũng là đời bỏ đi).
(Nhuận chính nguyệt sóc tự di)

Ông thấy mình như người lữ khách cô đơn trên đường đời trần thế - già yếu, bệnh tật, bất lực, buông xuôi phận sự kẻ sĩ:

“Cố quốc sơn hà dĩ đại thù
Cố viên tùng cúc bán hoang vu
Mang mang thiên địa hoàn bô khách
Nhiễu nhiễu phong trần tự hủ nho
Bệnh cốt bình phân thu lĩnh sấu
Thần tâm những bạn nguyệt luân cô
Hữu nhân khuyến ngã bôi trung thú
Vi vấn Tam Lư khẳng túy vô.”
(Cố quốc sơn hà đã khác nhiều
Vườn cũ tùng cúc gần thành hoang vu
Mênh mông trời đất cuối cùng mình vẫn là khách
Cuồn cuộn phong trần mình chính là hủ nho
Xương cốt bệnh tật đã ổn, thu tới lại gầy mòn
Lòng kẻ làm tôi chỉ làm bạn với trăng đơn côi
Có người khuyên ta tìm thú vui trong chén rượu
Vậy nhờ hỏi giúp rằng ông Tam Lư có dám say ?)
(Tư sảnh tạp vịnh, kì thập cửu)

Thực ra trong cuộc đời làm quan, ông được nhà Lê và nhà Nguyễn khá trọng dụng nhưng thơ ông vẫn buồn. Tiếng buồn ấy không hoàn toàn do triều đình trọng dụng hay không trọng dụng; ông buồn bởi chính cảnh tranh giành, giành giật nhau giữa những thế lực thống trị trong nước để dân thường phải nếm cảnh lầm than, đất nước rơi vào cảnh binh đao máu lửa. Là người gốc Hải Dương nhưng cuộc đời ông đã gắn liền với kinh thành Thăng Long. Và vì thế ông đã gửi gắm không ít tâm sự của mình vào những trang thơ viết về cảnh sắc Thăng Long. Đứng ở phía tây ngóng dòng sông Nhị ông tự thẹn với mình thật nhỏ nhoi, chỉ là kiếp sống thừa sống gửi. Ông đau lòng trước vượng khí của Thăng Long nay đã bị mây mờ che phủ :

“Dư sinh cửu hỹ thác phi bồng,
Thử địa kinh qua ức cựu tung.
Vạn lý giang thanh lưu ngọc nhị,
Thiên niên vượng khí ảm Thăng Long.
Sở tù dĩ quí bi phong cảnh,
Chu khách na kham oán giảo đồng.
Ký thủ thái bình khai thạc nhật,
Hoành sơn nhất đái tận đề phong.”
(Sống thừa bấy lâu nay gửi theo cỏ bồng bay,
Đi qua đất này lại nhớ đến dấu xưa.
Tiếng sông muôn dặm còn trôi đi như vòng ngọc,
Vượng khí ngàn năm đã sầm tối ở Thăng Long.
Thẹn rằng thân mình như Sở tù(1) buồn với phong cảnh,
Chịu sao được làm người Chu khách oán giận tên giảo đồng(2).
Hãy nhớ rằng hồi thái bình mở mang đất nước,
Một dải Hoành sơn đều liền cõi bờ).
(Nhị Hà tây vọng)

Bên bến đò sông Nhị, nhìn dòng nước trôi, nhìn chiếc thuyền con giữa mùa đông… ông đều liên tưởng tới mình, liên tưởng thấy sự cô đơn và một lần nữa ông lại cảm thấy sự bất lực của mình- sự bất lực trước thời thế:

“Nhất thủy lưu chung cổ,
Biên châu thiệp đại đông.
Quan tân thông viễn hạc,
Phường thị tính cao dung.
Cử mục tình vô hạn,
Môn tâm lực bất tòng.
Dĩ vi ngư phủ vấn,
Phiêu đãng nhậm hành tung.”
(Một dòng nước chảy mãi suốt đời,
Chiếc thuyền vượt qua giữa mùa đông.
Cửa và bến giao nhau thông với thuyền xa,
Phường và chợ đều xây tường cao.
Ngước mắt trông, tình thương vô hạn,
Chạm vào lòng, thì sức lại chẳng theo.
Đã trái với lời ngư phủ hỏi(3),
Mặc cho bước đường trôi dạt đến đâu).
(Độ Nhị hà)

Ở Thăng Long, vẫn nỗi buồn trong đáy lòng ông tâm sự với bạn bè:

“Trường An phiến nguyệt quá tam thu
Diến diến phù vân trở tái lâu
Thiên lý uổng quân lao thủ trát
Nhất quan bệnh ngã chuyết thân mưu.”
(Mảnh trăng kinh thành đã quá ba tháng mùa thu
Mây nổi mịt mùng cách trở lầu gác nơi quan ải
Làm phiền cho ông chịu khó viết thư từ ngàn dặm đến
Buồn cho tôi có chút quan chức mà vụng về trong việc mưu lo cho mình).
(Thù Hiếu Đức Hoan châu kiến ký)

Ông muốn trốn mình vào cảnh đẹp, tự an ủi mình nên nghỉ ngơi không lo lắng về thời thế:

“Thừa hứng xuất tây quách
Bất tri thiên dĩ thu
Địa thiên cảnh tự biệt
Thân bệnh nhân nghi hưu
Hồ ảnh chiếu cổ phạn
Hà hương đình cao lâu
Thanh phong vô cựu thức
Nhật vãn cố tương hưu.”
(Nhân có hứng đi ra phía tây thành chơi,
Không biết trời đã vào thu.
Đất chốn này hẻo lánh nên cảnh vật cũng khác,
Người ốm yếu thì cũng nên nghỉ ngơi.
Chùa cổ soi bóng nước mặt hồ,
Hương sen đọng lại lên lầu cao.
Gió mát vốn chẳng quen biết gì,
Ngày muộn rồi mà vẫn cố tình giữ chân khách).
(Du Tây Hồ)

Song sự tự an ủi ấy cũng chỉ làm vơi đi phần nào cảm giác bất lực, cảm giác người thừa của ông. Lần khác dạo bước đến Hồ Tây chơi ở chùa Trấn Quốc, giữa sóng nước mênh mông ông lại nghĩ vẩn vơ:

“Tây Hồ hồ thượng hà niên tự
Cổ thụ âm âm trúc thạch tùng
Trần đế quan ngư không thử địa
Tiên vương lạc thủy hữu danh cung
Nhất hoằng băng kính khai tình nhật
Thập lý hà hương tống vãn phong.”
(Trên Hồ Tây, chùa có tự bao giờ
Cây cổ thụ rợp bóng bụi trúc đá
Nơi nhà Quan ngư của vua Trần nay chỉ còn lại mảnh đất trống
Dấu vết cung Lạc Thủy của tiên vương(4) giờ vẫn còn vết
Gương thu leo lẻo soi ngày sáng
Mười dặm hương sen tiễn gió chiều).
(Du Tây Hồ Trấn Quốc tự)

Nhưng rồi khi đến cảnh đẹp của chùa, của ngày thu, của hương sen thơm ngát và nhất là đến với đạo Phật, đến với chữ “giác”- ông thấy lòng mình có nhẹ nhõm đi đôi phần. Ông lại cố an ủi chỉ cần tấm lòng trong sáng, tấm lòng vì dân vì nước của ông có trời Phật chứng giám là đủ:

“Bất dụng qui y cầu đốn ngộ
Lai lâm nhất vị phủ cô tùng.”
(Chẳng cần tới qui y cầu đốn ngộ(5).
Đến đây một lòng vỗ thân tùng cô đơn)(6).
(Du Tây Hồ Trấn Quốc tự)

Trong đêm thu ở Trường An cùng với hoa sen, tiếng quạ kêu, hàng cây cổ thụ, giọt sương lạnh, đám mây trôi lững lờ trong lúc đi dạo, nỗi mong muốn có được một ngày một ai đó làm được việc lớn, ổn định đất nước vẫn luôn đeo bám ông, khiến ông cất tiếng thở than:

“Đại miếu ô đề dạ dạ thanh
Trường An nhất bán nguyệt hoa minh
Liên hồ thủy đái hoa biên tự
Cổ thụ sương thâm trúc ngoại thành
Cố lý vân phù không cực mục
Cao lâu họa giác tối quan tình
Thuỳ năng nhất vãn thiên hà thủy
Tảo vị càn khôn tẩy giáp binh.”
(Đêm đêm tiếng chim quạ kêu ở miếu lớn,
Bóng trăng dọi sáng một nửa kinh thành.
Nước hồ sen sát cạnh ngôi chùa kề bên hoa,
Sương cây cao phủ dày lũy tre ngoài thành.
Quê cũ mây che, uổng tầm mắt trông,
Tiếng còi trên lầu cao rất là quan thiết đến tâm tình.
Ai hay kéo nước sông trời,
Sớm vì càn khôn mà rửa sạch giáp binh ?)
(Thu dạ bộ nguyệt hữu hoài)

Song chuyện đó đâu có dễ dàng. Vì giữa thế sự bộn bề chánh - ngụy của xã hội lúc đó ông lo rằng gặp được bậc cao nhân đâu có dễ:

“Cao nhân vị dị phùng”
(Vì bậc cao nhân đâu có dễ gặp).
(Du Tây Hồ)

Ông còn gửi lòng mình vào nhiều bài thơ khác về Thăng Long(7) nhưng vẫn một tâm trạng giằng xé giữa hành hay tàng và một nỗi buồn không vơi. Nỗi buồn ấy cứ giăng giăng trong lòng, giăng mãi tới bên sông có tiếng ve kêu, gợi ông nhớ tới niềm u uẩn tưởng như tiếng kêu đau thương của đất nước trong cảnh binh đao. Nghe tiếng dế kêu sau mưa, hay tiếng đỗ quyên gọi hè ông cũng giật mình thảng thốt ngỡ tiếng gọi của non sông. Tấm lòng ấy, tâm sự ấy của ông có trời biết, đất biết và ngỡ rằng như thế cũng là đủ với một kiếp người.

V.T.H

CHÚ THÍCH:

1. Sách Tả truyện chép: Vua nhà Tấn hỏi tả hữu rằng, người đội mũ kiểu phương nam mà bị trói đó là ai, tả hữu thưa rằng, đó là tù binh người nước Sở do người nước Trịnh mới nộp. Người sau bèn dùng hai chữ “Sở tù” để chỉ người bị giam, hoặc bị mất nước.

2. Vi Tử, anh của vua Trụ nhà Ân, sau khi nhà Ân mất nước được nhà Chu phong chức Thượng công và đãi làm bực khách. Một hôm đi qua kinh đô cũ của nhà Ân thấy cảnh thay đổi, ông ta làm bài thơ cảm hoài , trong đó có câu: “bỉ giảo đồng hề, bất dữ hảo hề”. Nghĩa là: Kìa tên giảo đồng kia, không hòa hợp với ta. Tác giả dùng theo ý câu ấy.

3. Nhà thơ Khuất Nguyên đời Chiến Quốc trong Sở từ có bài Ngư phủ từ ghi lời đối đáp giữa Khuất Nguyên với người ngư phủ. Tác giả nhắc lại điển này.

4. Tiên vương: chỉ các bậc vua đời trước, đây chỉ vua nhà Lê.

5. Qui y: cắt tóc đi tu; đốn ngộ: thấu hiểu đạo lý nhà Phật.

6. Nguyên văn: “phủ cô tùng” tức là vỗ vào cây tùng: ý chỉ đến tận nơi đây một lần, ngồi tĩnh lặng dưới gốc tùng thì chẳng cần qui y cũng thấu tỏ được Phật pháp.

7. Ông có tập Hà Thành tam thập thủ rất nổi tiếng./.

TB

NÊN TÌM HIỂU CHO CHÍNH XÁC BÀI THƠ CHIỀU TỐI (MỘ) TRONG TẬP NHẬT KÝ TRONG TÙ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN QUẢNG TUÂN

Trong sách Văn học lớp 12, tập I (1), của Nhà xuất bản Giáo dục có bài thơ Mộ (Chiều tối) của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nguyên văn bài thơ đã được phiên âm như sau:

“Quyện điểu qui lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không.
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.”

Đã được dịch xuôi là:

Chim mỏi về rừng tìm cây ngủ,
Chòm mây lẻ trôi lững lờ trên tầng không.
Thiếu nữ xóm núi xay ngô,
Ngô xay vừa xong lò than đã đỏ.

Và đã được Nam Trân dịch thơ là:

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không.
Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết, lò than đã rực hồng.

Bài thơ trích giảng này chỉ ghi phần phiên âm chứ không in kèm nguyên văn bằng chữ Hán nên người đọc đã không rõ được nghĩa của chữ “hồng” vì chữ này có hai tự dạng khác nhau:

- Nếu viết (烘) (bộ “hỏa”) thì có nghĩa là đốt lò, nhóm lửa.

- Nếu viết (紅) (bộ “mịch”) thì có nghĩa là màu hồng.

Chúng tôi đã xem lại hai quyển sách cũng của Nhà xuất bản Giáo dục:

- Quyển Giáo trình Hán Nôm của PGS. Phan Văn Các(2) chủ biên.

- Quyển Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù của GS. Nguyễn Huệ Chi chủ biên(3) thì thấy ở bài Mộ (Chiều tối) chữ hồng đã được viết là (紅).

Viết như vậy thì sai với nguyên bản vì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết là (烘).

Chính vì không xem lại nguyên bản mà chỉ căn cứ vào bản dịch của Nam Trân nên GS. Hoàng Như Mai đã hướng dẫn các học sinh tìm hiểu bài Mộ (Chiều tối) như sau:

1. Tác giả dùng những hình ảnh gì để tả cảnh chiều tối? Những hình ảnh ấy gợi lên trong tâm trí anh (chị) những cảm tưởng gì?

2. Trong bức tranh chiều tối này, nổi bật lên một màu rực rỡ (là màu than hồng), màu ấy gây cho anh (chị) ấn tượng gì ? Tác giả đưa màu sắc ấy vào có hợp lý không? Vì sao?

3. Theo lẽ thường, tâm trạng một người ở vào hoàn cảnh của tác giả (người tù bị giải đi trên đường gặp lúc chiều tối) như thế nào? Quang cảnh chiều tối miêu tả trong bài thơ có phù hợp với tâm trạng ấy không ? Qua sự đối chiếu ấy, anh (chị) hãy tìm hiểu nét đẹp trong tâm hồn Hồ Chí Minh".

Qua sự hướng dẫn ấy của GS. Hoàng Như Mai chúng tôi nhận thấy có những điều chưa hợp lý, nên xem xét lại vì bài thơ dịch không đúng hẳn với nguyên văn bằng chữ Hán như sau:


倦 鳥 歸 林 尋 宿 樹
孤 雲 慢 慢 度 天 空
山 村 少 女 磨 包 粟
包 粟 磨 完 爐 已 烘

Chúng ta nhận thấy chữ “hồng” ở cuối bài thơ đã được viết với bộ “hỏa” (烘) chứ không phải với bộ “mịch” (紅).

Chữ (烘) (hồng) có nghĩa là nhóm bếp, đốt lò còn chữ (紅) (hồng) mới có nghĩa là màu hồng.

Câu "Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng" diễn tả hai công việc làm nối tiếp nhau của người con gái xóm núi: vừa xay ngô xong là đã đốt lò (nhóm bếp) để nấu bữa ăn chiều tối.

Người dịch dùng chữ (紅) (hồng) là màu hồng để thay cho chữ (烘) (hồng) là nhóm bếp, đốt lò than thì đã làm sai hẳn ý câu thơ.

Sự sai lầm khá tế nhị vì chữ Quốc ngữ chỉ có một cách viết là "hồng" để ghi âm hai chữ Hán khác nhau: (烘) và (紅).

Có thể vì không xem nguyên bản chữ Hán mà chỉ căn cứ vào bài dịch của Nam Trân nên Hoàng Trung Thông đã bình giảng câu cuối bài thơ như sau:

"Với một chữ "hồng", Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mệt mỏi, sự uể oải, sự vội vã và sự nặng nề đã diễn tả trong ba câu thơ đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô em sau khi xay xong ngô tối. Chữ "hồng" trong nghệ thuật đời Đường người ta gọi là con mắt nhà thơ hoặc là "nhãn tự" (chữ mắt), nó sáng bừng lên, nó cân lại, chỉ một chữ thôi, với hai mươi bảy chữ khác dầu nặng đến mấy đi chăng nữa"(4).

Nhà thơ Hoàng Trung Thông như vậy đã nhầm chữ (烘) (hồng: đốt lò, nhóm bếp) với chữ (紅) (hồng: màu hồng).

Khi soạn sách giáo khoa, GS. Hoàng Như Mai cũng không xem lại nguyên tác bằng chữ Hán do chính tác giả viết ra mà chỉ căn cứ vào bản dịch của Nam Trân nên đã gợi ý cho các học sinh rằng: "Trong bức tranh chiều tối này, nổi bật lên một màu rực rỡ (là màu than hồng)..."

Khi viết sách tham khảo, hai soạn giả Nguyễn Hữu Quang và Phan Thị Huỳnh Yến trong quyển Giảng văn. Văn học 12 (5) đã có nhận xét rằng: "Bài thơ kết thúc bằng chữ "hồng", đó chính là chỗ đẹp nhất của bài thơ. Ở đây không phải là hình ảnh leo lét của ngọn đèn dầu giữa đêm khuya... mà là ánh lửa hồng đầm ấm reo vui, hạnh phúc cuộc sống trong gia đình của con người lao động, ánh lửa hồng của sự sống, niềm lạc quan".

Các soạn giả Thái Bảo Hạo Nhiên, Lê Lương Tâm và Thái Thúy Vân trong quyển Để học tốt Văn 12 (6) cũng có nhận xét rằng: "Đây là ... một bức tranh mới: bức tranh bình dị, đời thường của cuộc sống sinh hoạt con người xóm núi đã bừng lên một cuộc sống đơn sơ mà đẹp đẽ vô cùng".

Nhà giáo Nguyễn Thị Phi Hồng (Tổ trưởng tổ Văn trường PTTH Nguyễn Thị Minh Khai) trong bài Giải đáp đề thi Tuyển sinh Đại học môn Văn, khối C, năm 2004 (7), về bài Chiều tối (Mộ) đã hướng dẫn phân tích hai câu cuối như sau:

"Hai câu cuối: cảnh sinh hoạt của nhân dân xóm núi cũng được miêu tả bằng hai hình ảnh: cô gái xay ngô tối và lò than rực hồng.

Phân tích hai hình ảnh ấy sẽ thấy được cảnh ấm no bình dị của nhân dân với tấm lòng nhân ái bao la và niềm lạc quan tin tưởng của Bác".

Qua các đoạn văn trích dẫn trên, chúng tôi nhận thấy các lời bình giảng ấy đều không đúng vì người dân Trung Quốc sống dưới thời Tưởng Giới Thạch và trong giai đoạn kháng chiến chống Nhật Bản xâm lược đều rất khổ sở, thiếu ăn thiếu mặc, phải xay ngô để ăn thay gạo thì làm sao lại có thể "ấm no hạnh phúc" cho được.

Chính tác giả Ngục trung nhật ký trong bài Long An - Đồng chính đã cho biết hồi đó nhân dân Trung Quốc thật vô cùng đói khổ:

“Thử gian thổ địa quảng nhi bần,
Sở dĩ nhân dân kiệm thả cần.
Thính thuyết kim xuân phùng đại hạn,
Thập phân thu hoạch lưỡng tam phân.”

Nam Trân đã dịch là:

Vùng này tuy rộng đất khô cằn,
Vì thế nhân dân kiệm lại cần.
Nghe nói xuân nay trời đại hạn,
Mười phân thu hoạch chỉ vài phân.

Vậy để tìm hiểu cho chính xác bài Chiều tối (Mộ) chúng ta nên đặt lại vấn đề xem tác giả đã viết bài thơ ấy trong thực cảnh nào? (trên đường bị giải đi hay lúc ngồi trong nhà giam). Tác giả đã tả cảnh chiều tối ấy bằng giác quan nào ?

Trong tập thơ Nhật ký trong tù có bài tác giả đã tả bằng thị giác (Nhà lao Thiên Giang, Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh), có bài tác giả tả bằng thính giác (Nghe tiếng giã gạo, Nghe bạn tù thổi sáo) và cũng có bài tác giả đã tả bằng khứu giác (cảnh chiều hôm) khi hương thơm của bông hoa bay thấu vào trong ngục.

Bài Mộ (Chiều tối) tác giả đã tả bằng thị giác ở hai câu đầu khi ngồi ở trong phòng giam nhìn ra ngoài trời qua cửa ngục (lung môn) thấy những con chim mệt mỏi bay về tổ và chòm mây lẻ chầm chậm trôi qua.

Tác giả cho biết đã từng làm cả trăm bài thơ trong tù mà làm xong mỗi bài thường gác bút trông qua cửa phòng giam, ngóng trời tự do.

“Ngã tố tù thi bách kỷ thiên.
Tố liễu nhất thiên thường các bút,
Tòng lung môn vọng tự do thiên”.

Ba câu thơ trích trong bài Dạ bất miên (Đêm không ngủ) đã cho chúng ta biết được tác giả thường chỉ ngồi ghi lại những bài thơ đã "tức cảnh" hay "cảm tác" khi đã về nghỉ ở trong phòng giam(8).

Bài thơ Mộ (Chiều tối) chắc cũng vậy.

Tác giả ngồi ở trong phòng giam đã tả bằng thính giác hai câu dưới khi nghe tiếng xay ngô (cũng như trong bài Nghe tiếng giã gạo) và đã liên tưởng đến hình ảnh cô gái xóm núi đang xay ngô (còn nếu đang đi trên đường lúc chiều tối thì làm sao mà nhìn thấy được cô con gái ở trong xóm núi xay ngô và cũng không thể nhìn thấy được lò than hồng).

Đến khi tiếng xay ngô ngưng hẳn, tác giả mới đoán là người con gái ấy đã quay ra nhóm lửa, đốt lò than để nấu bữa cơm chiều.

Đây thực ra chỉ là hai công việc nối tiếp nhau thôi mà người con gái xóm núi phải đảm đương vất vả hàng ngày.

Vậy để kết luận cho bài viết này chúng tôi xin được minh xác lại rằng chữ "hồng" trong bài Chiều tối (Mộ) chính là chữ (烘) (có nghĩa là đốt lò, nhóm bếp) chứ không phải chữ (紅) (có nghĩa là màu hồng).

Còn khi phân tích bài thơ ấy chúng ta có thể thấy được:

- Tinh thần kiên cường của tác giả, tuy bị bắt giải đi từ nhà tù này sang nhà tù khác, ở trong phòng giam vẫn bình thản ung dung ngồi ngắm cảnh ngoài trời qua cửa ngục (lung môn) mà làm thơ.

- Lòng nhân ái bao la của tác giả thương cho những người dân xóm núi phải sống cực khổ trong cảnh đói kém cũng như tác giả đã thương cho người bạn tù thổi sáo, vợ người bạn tù đến thăm chồng, người vợ khóc chồng lúc nửa đêm, cháu bé đã phải vào tù cùng mẹ ở Tân Dương, người tù muốn trốn bị bắt lại và người bạn tù bị mắc bệnh lao v.v...

Theo các nhận xét ấy, chúng ta thấy rõ lòng nhân ái của tác giả thật bao la.

Đó mới là ý nghĩa đích thực của bài thơ, nó đã cho ta thấy được nét đẹp trong tâm hồn Chủ tịch Hồ Chí Minh vậy.

N.Q.T

CHÚ THÍCH

(1) Văn học lớp 12 : Tập I. Hoàng Như Mai - Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), Hà Minh Đức, Nguyễn Văn Long, Trần Hữu Tá, Nxb. Giáo dục.

(2) Giáo trình Hán Nôm - Sách Cao đẳng Sư phạm: GS. Phan Văn Các (chủ biên), GS. Trương Đình Nguyên, GS. Nguyễn Đức Sâm, Hồ Hoàng Biên và Lê Văn Tầm, Nxb. Giáo dục, H. 1985.

(3) Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù: Tái bản, có bổ sung, chỉnh lý, Nguyễn Huệ Chi (chủ biên), Nxb. Giáo dục, H. 1993.

(4) Giảng văn. Văn học lớp 12 : Nguyễn Hữu Quang - Phạm Thị Huỳnh Yến, tr.49.

(5) Nxb. Đại học Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh, 2000.

(6) Nxb. Đại học Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh.

(7) Tuổi trẻ, số ra ngày 10-7-2004.

(8) Lúc này chắc tác giả không còn bị giải đi trên đường nữa vì bọn lính cũng cần nghỉ chân để ăn uống như có lần tác giả đã tả qua bài Ăn thịt chó ở Bào Hương một cách mỉa mai rằng:

“Qua Bảo Đức thì chén cá tươi,
Qua Bào Hương thì ăn thịt chó.
Cho hay bọn giải tù nhân này,
Cách sống đôi khi cũng sành đó.”
Đỗ Văn Hỷ dịch.

TB

VỀ HAI BẢN KIỀU THÁI BÌNH

NGUYỄN TÀI CẨN

1/ Trung tâm nghiên cứu Quốc học (do GS. Mai Quốc Liên làm Giám đốc) có gửi tặng chúng tôi hai bản Kiều Nôm mới phát hiện được ở Thái Bình: - Một bản ngoài bìa đề: “Minh Mệnh lục niên ngũ nguyệt, ngũ nhật - Nguyễn Du phóng tác - Cảo thơm tình sử thành Nam âm vận văn.”

Bản này chúng tôi tạm gọi tắt là Bản Minh Mệnh lục niên. Và một bản ngoài bìa không đề gì cả, nhưng gần cuối truyện có chú thích "Ông Trần Văn Tất sao theo bản tại từ đường họ Đoàn". Bản này chúng tôi tạm gọi tắt là Bản họ Đoàn.

2/ Hai bản này đều chép tay chắc vào khoảng đầu thế kỷ XX:

- Bản Minh Mệnh lục niên có rất nhiều chỗ không giống bản nào khác mà chỉ chép theo đúng bản Kiều Oánh Mậu;

- Bản họ Đoàn thì đã ghi chép cả bài tựa chữ Hán cả một số bài thơ Nôm của Chu Mạnh Trinh.

Nhưng chắc trong khi sao chép lại như vậy, hai gia đình đang còn nhớ nhiều đoạn hay đang còn sót lại một số tờ của hai bản cổ xưa kia, nên chúng ta không lạ gì trước một điều tưởng chừng như mâu thuẫn: cả hai bản đều đang bảo lưu được một số vết tích quí hiếm, chỉ giống một mình bản gốc bản Duy Minh Thị (DMT) mà thôi.

Ví dụ ở Bản Minh Mệnh lục niên, những câu sau đây đều ăn khớp với DMT, khác tất cả mọi bản, nhất là các bản của Huế và miền Bắc(1): - câu 216: Hương thừa NHƯỜNG hãy ra vào đâu đây (các bản khác: DƯỜNG);

- câu 288: Tuần trăng thấm thoắt nay đà TRÒN hai (các bản khác: THÈM hai, ĐẦY hai):

- câu 315: BẤY lâu mới được một ngày (các bản khác: MẤY lâu);

- câu 566: TIẾNG CÂY quên nhặt, BÀNG trời nhạn thưa (các bản khác: ĐẦU CÀNH quên nhặt, CUỐI trời nhạn thưa);

- câu 754: Đã đành nước chảy, BÈO trôi lỡ đường / lỡ làng (các bản khác: HOA trôi);

- câu 799: Trên yên NHÁC THẤY THANH dao (các bản khác: SẴN CÓ CON dao);

- câu 802: Dao này thì liệu với thân PHẬN này (các bản khác: với thân SAU này).

- câu 892: Tiếng oan đã muốn RẠCH trời kêu lên (các bản khác; VẠCH trời);

- câu 895: Xót con lòng nặng BÌ BÌ (các bản khác: CHỀ CHỀ);

- câu 1292: Lại vừa gặp khoảng NGHIÊM đường lại quê (các bản khác: XUÂN đường).

- câu 1311: RÕ RÀNG trong ngọc trắng ngà (các bản khác RÕ MÀU);

- câu 1351: Cúi đầu LUỒN dưới mái nhà (các bản khác: luồn XUỐNG);

- câu 1390: SỐT LÒNG ƠI HỠI / E HÃY tính bài phân chia (các bản khác: NẶNG LÒNG E ẤP tính bài phân chia);

- câu 1524: Kẻ đi muôn dặm một mình PHA PHÔI (các bản khác: XA XÔI);

- câu 1548: Kiến trong miệng chén CÁ bò đi đâu (các bản khác: LẠI bò);

- câu 1605: VẢ câu vừa gióng dặm trường (các bản khác: ROI câu);

- câu 1667: Di hài nhặt GÃI về nhà (các bản khác: nhặt SẮP; nhặt NHẠNH);

- câu 1669: Lễ thường đã VẸN một hai (các bản khác: đã ĐỦ);

- câu 1873: ĐẾN NAY mới BIẾT ĐẦU ĐUÔI (các bản khác: BÂY GIỜ mới RÕ TĂM HƠI);

- câu 1945: RẰNG cam chịu bạc với tình (các bản khác: ĐÃ cam...);

- câu 2425: CHẠM xương chép dạ xiết chi (các bản khác: KHẮC xương);

- câu 2665: Ma GỬI lối, quỉ đưa đường (các bản khác: ĐƯA / DẮT / DẪN);

- câu 2849: Có khi vắng vẻ HƯƠNG phòng (các bản khác: THƯ phòng);

3/ Bản họ Đoàn cũng có khoảng mười câu chữ giống DMT như vậy. Ví dụ:

- câu 169: Dưới cầu DẢI NƯỚC trong veo (các bản khác: NƯỚC CHẢY).

- câu 775: THỐT CHI thân phận tôi đòi (các bản khác: SÁ CHI);

- câu 325: Xương mai tính đã RÒN mòn (các bản khác: RŨ mòn, THÂU mòn);

- câu 1266: Giấc hương quan luống NHỮNG mơ canh dài (các bản khác: luống LẦN mơ canh dài);

Điều đáng chú ý là có một số câu cả 3 bản DMT, Bản họ Đoàn Bản Minh Mệnh lục niên tạo thành một khối thống nhất, cùng đi theo một dị bản, trong lúc các bản còn lại đều đi theo một dị bản khác hẳn, ví dụ:

- câu 588: Phải tên xung xuất LÀ thằng bán tơ (các bản khác: TẠI);

- câu 937: Đổi hoa lót DƯỚI chiếu nằm (các bản khác: lót XUỐNG);

- câu 1695: MỆNH cung đang mắc nạn to (các bản khác: BỘT cung)

Hơn nữa sự giống nhau tay đôi tay ba nhiều khi còn thể hiện ra ở cả cách viết với tự dạng đặc biệt, ví dụ:

- câu 681: Cũng đừng TÍNH / 1 quẩn TÍNH / 2 quanh: cả bản DMT cả Bản Minh Mệnh lục niên đều viết TÍNH / 1 đủ nét, TÍNH / 2 thiếu nét trong lúc các bản khác đều thay TÍNH / 2 bằng TOAN).

- câu 331: NGẦN NGỪ nàng mới thưa rằng (ở cả 3 bản, trong lúc các bản khác tuy đọc “ngần ngừ” (Nguyễn Quảng Tuân) hay đọc “ngẩn ngơ” (Nguyễn Bá Triệu) nhưng lại đều chép là NGẨN NGƠ);

- câu 3020: Bèo trôi sóng vỗ chốc mười NĂM năm (ở cả 3 bản, LĂM đều chép thành NĂM);

- câu 3070: Mười NĂM năm ấy biết bao nhiêu tình (LĂM cũng đổi thành NĂM ở trong cả 3 bản);

Về mặt kị húy, cả hai bản Thái Bình đều không kiêng tên Thiệu Trị, Tự Đức và đều xử lí theo lối Liễu Văn Đường: vừa có cách tân, vừa có bảo lưu một số lối kiêng kị của DMT. Về mặt vết tích cách viết Nôm theo phương ngữ Nghệ Tĩnh hai bản cũng đều còn giữ lại được khoảng gần một nửa.

Tất cả những cứ liệu trên đây cho thấy: giữa ba bản có một sự giống nhau chắc không phải do ngẫu nhiên đưa lại.

4/ Chúng ta càng tin chắc điều đó khi thấy sự giống nhau xảy ra không chỉ ở các trường hợp có từ ngữ cổ, từ ngữ đúng, từ ngữ hay, (ví dụ: Ma gửI lối chứ không phải ĐƯA, DẪN, DẮT: Xương mai tính đã RÒN MÒN chứ không phải RŨ MÒN, THÂU MÒN v.v.); mà còn xẩy ra ở cả những khi văn bản DMT bị sai hay chưa được nhuận sắc. Ví dụ Bản Minh Mệnh lục niên sai như bản DMT ở những câu;

- câu 555: Đã nguyền ĐÔI CHỮ đồng tâm (lẽ ra là HAI CHỮ);

- câu 956: Ngây thơ chẳng biết VỚI danh phận gì (lẽ ra là LÀ);

- câu 1206: Người ta ai CÃ tiền hoài đến đây (lẽ ra là MẤT);

- câu 1449: Sinh rằng: XÁT phận bọt bèo (lẽ ra là CHÚT PHẬN);

Ví dụ Bản họ Đoàn sai như bản DMT:

- ở câu 1958: PHÙ TRẦM cũng mặc lúc nào rủi may (lẽ ra là NỔI CHÌM);

Sai như DMT, điều đó càng ủng hộ cho các điểm trên, cùng tạo thành một hệ thống chứng cớ chứng tỏ rằng: quả mối quan hệ giữa 3 bản chắc là một mối quan hệ có lí do sâu xa trong lịch sử.

5/ Bên cạnh những điều vừa nói trên đây trong hai bản này lại đang còn mấy chi tiết cực kì quan trọng nữa:

- Cả hai bản có vết tích cổ đều tìm được ở Thái Bình, quê hương bên vợ của cụ Nguyễn Du.

- Bản họ Đoàn chính là bản chép lại từ bản từ đường gia đình Đoàn Nguyễn Tuấn, anh vợ đồng thời là bạn thân cụ Nguyễn Du.

- Và trong Bản Minh Mệnh lục niên lại còn có chú thích thêm một câu thật bất ngờ (ở mặt phía sau bìa): “bản này chép lại từ bản có niên biểu Cảnh Hưng thứ 40” (tức năm Quý Hợi 1779, năm cụ Nguyễn Du mới lên 14 tuổi).

6/ Cả Bản Minh Mệnh lục niên cả Bản họ Đoàn đều có vết tích rất cổ lại đều có những chi tiết đáng lưu ý như trên, nên chúng tôi xin thử đưa ra một giả thuyết để gắng giải thích. Giả thuyết này nhà Kiều học Nguyễn Thạch Giang đã từng phát biểu trước đây(2), tuy nó chưa được đồng tình(3). Nhưng nay chúng tôi xin mạnh dạn nhắc lại để ủng hộ, với hi vọng may gì về sau còn có người thu thập thêm chứng cứ và củng cố tiếp. GS. Thạch Giang đã đưa ra một tài liệu quan trọng của Huế: bản sao bản Vương Thúy Kiều truyện - Cổ Hoan Nghi Tiên Nguyễn gia tàng bản - chép tay vào năm Quý Hợi, Cảnh Hưng thứ 40 (1779). Thì Bản Minh Mệnh lục niên ở Thái Bình cũng đưa ra một chú thích chép lại từ bản Kiều đúng năm đó!

Khó nghĩ đến một sự trùng hợp ngẫu nhiên ! Vậy xin xuất phát từ ý chính của GS. Thạch Giang và tạm suy rộng ra như sau:

* Năm 1771 cụ Nguyễn Du cùng mẹ theo cha về trí sĩ ở Tiên Điền rồi lại bị tang cha (1775) tang mẹ (1778) liên tiếp, nên đành phải lưu lại quê nhà, theo tục lệ thì ít nhất cũng phải ở đến năm 1781: đó là thời gian cụ vừa học hành, vừa cư tang, vừa sang Thư viện Phúc Giang sưu tầm sách quí. Cụ may mắn gặp được truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, và cụ mê. Năm 1779 cụ đã tóm được xong toàn bộ để cương. Và chắc thỉnh thoảng Cụ cũng đã có thử diễn Nôm, phác qua đây đó một số hồi, một số đoạn: chỉ mới dám phác qua, bởi vì tuổi thì đang trẻ, cuộc sống thì đang bận bịu, chuyện học hành thi cử đang còn được gia đình, dòng họ coi là chuyện chính, phải để ngay lên hàng đầu, đặt cao hơn hẳn chuyện thơ chuyện văn.

* Sau khi ra kinh đô thi đỗ Tam trường rồi gặp phong trào Tây Sơn, Cụ về quê vợ ở. Chính trong thời gian ở tại gia đình họ Đoàn này Cụ mới quay trở lại bản đề cương và bản phác thảo đem từ quê hương ra. Cụ đã trổ hết tài năng. Và cuối cùng Cụ cũng đã: nhuận sắc lại được thành một bản Kiều Nôm khả dĩ cho là hoàn chỉnh, với 3254 câu, văn chương chữ nghĩa đã được khá định hình. Việc đồn tin đến tai bạn bè rồi đến tai cụ Phạm Quý Thích chắc xẩy ra ở giai đoạn này. Và việc các bản Kiều ở Bắc chỉ có vết tích Nghệ, không có vết tích Huế chắc cũng là do sao lại từ bản gốc có ở gia đình họ Đoàn thời gian này.

* Cuối cùng đến đợt trở về lại Tiên Điền sau năm 30 tuổi. Chắc hẳn thời gian này Truyện Kiều đã có tiếng vang lớn: việc sao chép, truyền bá đã bắt đầu rộ lên, tuy thời gian này và thời gian vào làm quan ở Huế chắc Cụ cũng đang còn có thể có chuyện tiếp thu, hay tự nhuận sắc thêm ở câu này câu nọ.

7/ Lai lịch Truyện Kiều hiện đang còn là một điều bí ẩn. Cứ liệu thu thập được vẫn đang còn quá ít ỏi. Những gì chúng tôi nêu trên đây - nhân đọc 2 bản Kiều Thái Bình - cũng đều mới chỉ là một sự hình dung đại khái, khá liều lĩnh. Liều lĩnh nhưng cần thiết. Liều lĩnh vì chỉ nói theo suy luận chủ quan, không có nhiều chứng cớ đầy đủ trọng lượng. Nhưng cần thiết vì dầu sao cũng phải nói ra để có người có thể theo đó tiếp tục tìm tòi, cân nhắc, và giải quyết tiếp.

N.T.C

CHÚ THÍCH:

(1) Khi nói đến các bản khác, không giống DMT, chúng tôi lưu ý nhiều đến các bản miền Bắc và miền Trung (Huế). Hai bản T.V. Kí và D.Michels chúng tôi không tính đến vì ai cũng biết là chúng chịu ảnh hưởng bản DMT quá nặng.

(2/ Thạch Giang: Thơ Quốc âm Nguyễn Du, Nxb. Giáo dục, H. 1996.

(3) Đào Thái Tôn: Văn bản Truyện Kiều, Nxb. Hội Nhà văn, H. 2001.

TB

HỘI THẢO QUỐC TẾ VỀ CHỮ NÔM

Trong 2 ngày (từ 12/11 -13/11/2004) tại Thư viện Quốc gia Việt Nam (số 31, Tràng Thi, Hà Nội) đã diễn ra Hội thảo quốc tế về chữ Nôm do Viện Nghiên cứu Hán Nôm (thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam) và Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm (Hoa Kỳ) đồng tổ chức. Ban tổ chức Hội thảo đã nhận được 48 tham luận của các nhà khoa học thuộc các các quốc gia, như: Mỹ, Pháp, Nhật Bản và Việt Nam. Các tham luận khoa học đã tập trung vào các vấn đề chính sau đây:

1/ Nghiên cứu cơ bản về chữ Nôm, thuộc các lĩnh vực, như: lịch sử chữ Nôm, cấu tạo và đặc điểm của chữ Nôm, chữ Nôm của các dân tộc ít người ở Việt Nam, quan hệ giữa chữ Nôm Việt Nam với hệ thống văn tự khác trong khu vực các nước sử dụng chữ ô vuông.

2/ Vấn đề phiên âm và chú giải các văn bản Nôm.

3/ Nghiên cứu văn bản Nôm.

4/ Vai trò của chữ Nôm trong đời sống văn hóa xã hội Việt Nam trải ngàn năm lịch sử.

5/ Vai trò của công nghệ thông tin với việc bảo tồn và ứng dụng các văn bản Nôm.

Tham gia Hội thảo có 150 đại biểu. Căn cứ vào nội dung các bản tham luận, Hội thảo chia thành 6 phiên họp, có đề tài từng được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm nên đã được dành hẳn một phiên họp, như: Truyện Kiều - văn bản và chữ nghĩa.

Hội thảo lần này, đã ghi nhận những thành quả đạt được trong nghiên cứu và giảng dạy chữ Nôm thời gian qua; đồng thời nêu ra phương hướng nghiên cứu, khai thác, phát huy và hội nhập quốc tế của chữ Nôm Việt Nam trong thời gian tới.

Nhân dịp này, Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam và Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm Hoa Kỳ, với sự giúp đỡ của Thư viện Quốc gia Việt Nam đã tổ chức triển lãm Di sản chữ Nôm Việt Nam tại sảnh lớn của Thư viện Quốc gia Việt Nam. Triển lãm giới thiệu nguyên bản các tài liệu chữ Nôm tiểu biểu (sách cổ và bản rập văn bia), các công trình phiên âm chú giải các tác phẩm Nôm, các công trình nghiên cứu về chữ Nôm và văn học chữ Nôm, các giáo trình và tự điển chữ Nôm, v.v… Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm Hoa Kỳ còn tổ chức trưng bày các tác phẩm thư pháp và trình diễn thư pháp tại Viện Goethe (Hà Nội ).

Hội thảo quốc tế về chữ Nôm đã nhận được sự giúp đỡ tài trợ của tổ chức UNESCO (Hà Nội), quỹ FORD (Hà Nội) và quan tâm đưa tin của các đài truyền hình, các báo trung ương và địa phương

TB

HỘI THẢO QUỐC TẾ VỀ NHO GIÁO Ở VIỆT NAM

Với mục đích góp phần nghiên cứu Nho giáo ở Việt Nam trong lịch sử và hiện tại, cũng như đẩy mạnh việc nghiên cứu khai thác các tư liệu Hán Nôm có nội dung Nho giáo và Nho học trong kho tàng di sản văn hóa thành văn của dân tộc Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam cùng với Viện Harvard Yenching Hoa Kỳ đồng tổ chức Hội thảo quốc tế về Nho giáo ở Việt Nam tại trụ sở của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (số 183, Đặng Tiến Đông, Hà Nội) từ ngày 17/12-18/12/2004.

Nội dung chính của Hội thảo được Ban tổ chức nêu ra gồm các chủ đề sau:

1/ Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về Nho giáo và Nho học ở Việt Nam.

2/ Khảo sát, nghiên cứu giá trị của các tư liệu Hán Nôm hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, các tàng thư trong và ngoài nước đối với Nho giáo và Nho học ở Việt Nam.

3/ Đề xuất những ý kiến về việc khai thác, nghiên cứu những tư liệu Nho giáo và Nho học phục vụ cho công tác tư tưởng và văn hóa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Ban tổ chức Hội thảo đã nhận được 37 tham luận của các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ và các nhà khoa học thuộc các các quốc gia và khu vực, như: Mỹ, Singapore, Đài Loan và Việt Nam. Các tham luận khoa học đã tập trung vào các vấn đề chính sau đây:

1/ Ảnh hưởng của Nho giáo trong đời sống hiện nay có 04 tham luận.

2/ Quá trình du nhập Nho giáo ở Việt Nam có 06 tham luận.

3/ Thư tịch Hán Nôm Việt Nam nghiên cứu kinh điển Nho gia có 07 tham luận.

4/ Tư liệu Hán Nôm Việt Nam về Nho giáo có 03 tham luận.

5/ Ảnh hưởng của Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam thời phong kiến có 07 tham luận.

6/ Tư tưởng Nho gia trong văn học và sử học thời phong kiến có 10 tham luận.

Hội thảo đã thu hút gần 100 đại biểu tham dự và thực sự có giá trị khoa học, ý nghĩa thực tiễn trong nghiên cứu về Nho giáo và Nho học ở Việt Nam.

Nhân dịp này, Hội thảo còn trưng bày hơn 60 bức thư pháp, thư họa của Trung Quốc và của các hội viên Câu lạc bộ thư pháp UNESCO Việt Nam.

Hội thảo quốc tế về Nho giáo ở Việt Nam đã khẳng định mối quan hệ hợp tác khoa học giữa Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Việt Nam) và Viện Harvard Yenching (Hoa Kỳ) ngày càng phát triển.

TB

DANH MỤC TÁC GIẢ, BÀI VIẾT ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ HÁN NÔM NĂM 2004

ĐÀO PHƯƠNG CHI

STT Tác giả Số thứ tự xếp theo
bài viết
1 Thế Anh 38
2 Trần Thị Kim Anh 1
3 Việt Anh 73
4 Nguyễn Khắc Bảo 58
5 Hoàng Hồng Cẩm 7
6 Nguyễn Tài Cẩn 75
7 Bùi Văn Chất 9
8 Đào Phương Chi 39
9 Trần Bá Chí 27, 42
10 Nguyễn Tuấn Cường 14
11 Nguyễn Xuân Diện 72
12 Trần Trọng Dương 8
13 Lê Tiến Đạt 21
14 Bùi Xuân Đính 78
15 Phạm Hoàng Giang 6
16 Golưgina K. I. 53
17 Nguyễn Thị Bích Hải 44
18 Lã Minh Hằng 67
19 Đỗ Thị Hảo 40
20 Đỗ Thu Hiền 28
21 Trần Thị Giáng Hoa 4, 71
22 Kiều Thu Hoạch 17
23 Nguyễn Quang Hồng 36
24 Trần Quang Huy 50
25 Trần Thu Hường 55
26 Vương Thị Hường 49
27 John Balaban 22
28 Nguyễn Thế Khang 29
29 Trần Xuân Ngọc Lan 45
30 Đỗ Phương Lâm 68
31 Nguyễn Thị Lâm 47, 74
33 Hoàng văn Lâu 31
34 Phong Lê 12, 64
35 Đặng Văn Lộc 54
36 Nguyễn Công Lý 34
37 Trịnh Khắc Mạnh 11, 69
38 Đinh Văn Minh 23
39 Đỗ Hoài Nam 66
40 Nguyễn Thúy Nga 48
41 Trần Nghĩa 76
42 Vũ Nhân 81
43 Nguyễn Tá Nhí 16, 20, 60
44 Hà Thiên Niên 32
45 Cung Diên Ninh 43
46 Duy Phi 51
47 Hồng Phi - Hương Nao 33
48 Nguyễn Đình Phức 62
49 Nguyễn Cảnh Phức 37
50 Tôn Diễn Phong 46
51 P.V 26, 65, 77, 82, 24, 25
52 Trương Đức Quả 79
53 Lê Văn Quán 5, 30
54 Tạp chí Hán Nôm 13
55 Trần Thị Băng Thanh 52
56 Nguyễn Hoàng Thân 57
57 Phương Lập Thiên 70
58 Nguyễn Phương Thoan 3
59 Đinh Khắc Thuân 10, 59
60 Lê Toan 15
61 Nguyễn Đức Toàn 61
62 Đào Thái Tôn 35
63 Nguyễn Minh Tuân 80
64 Nguyễn Quảng Tuân 41
65 Đàm Chí Từ 56
66 Nguyễn Minh Tường 63
67 Lê Quốc Việt - Nguyễn Đạt Thức 18
68 Nguyễn Công Việt 19
69 Phạm Thùy Vinh 2
TT Tên bài Tác giả Số /năm
1 Bia Hậu ở Việt Nam Trần Thị Kim Anh 3/04
2 Bia Trăn Tân từ lệ và lệ tế thần dưới thời Hồng Đức Phạm Thùy Vinh 5/04
3 Bức trướng mừng Tiến sĩ Nguyễn Hữu Điển vinh quy Nguyễn Phương Thoan 1/04
4 Bước đầu tìm hiểu cách dịch cấu trúc bị động trong Truyền kỳ mạn lục giải âm Trần Trọng Dương 3/04
5 Bước đầu tìm hiểu chữ Nôm trong các bản văn khắc thời Lý - Trần Trần Thị Giáng Hoa 6/04
6 Bước đầu tìm hiểu luân lý đạo đức trong truyền thống văn hóa Nho gia Lê Văn Quán 2/04
7 Bước đầu tìm hiểu văn bản Lượn Slương của dân tộc Tày - Nùng Phạm Hoàng Giang 4/04
8 Bước đầu tìm hiểu vấn đề “môtíp” bát cảnh trong thơ chữ Hán Việt Nam Hoàng Hồng cẩm 2/04
9 Chữ Hán trên tráp gỗ ở Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh Bùi Văn Chất 5/04
10 Chữ Nôm trên văn bia thời Lê (thế kỷ XV - XVIII) Đinh Khắc Thuân 6/04
11 Chữ Nôm và văn học chữ Nôm Trịnh Khắc Mạnh 6/04
12 Chữ viết và yêu cầu xây dựng một nền quốc văn mới ở Việt Nam vào nửa đầu thế kỷ XX Phong Lê 5/04
13 Cùng Cộng tác viên Tạp chí Hán Nôm Tạp chí Hán Nôm 1/04
14 Đi tìm Lâm Nọa Phu (Người san cải nên bản Kiều Nôm 1870) Nguyễn Tuấn Cường 3/04
15 Đọc ức Trai thi tập của Lê Cao Phan Lê Toan 2/04
16 Giá trị đích thực của sử liệu trong văn bản Nôm Nguyễn Tá Nhí 6/04
17 Góp ý về hai bài trâm uống trà ở chùa Một Cột Kiều Thu Hoạch 5/04
18 Hai bài châm uống trà ở chùa Một Cột Lê Quốc Việt
Nguyễn Đạt Thức
3/04
19 Hình dấu Tỷ ấn trên các lệnh chỉ của bảy chúa Trịnh thời Lê Trung hưng Nguyễn Công Việt 3/04
20 Họ Lê Trung ở Hoằng Hóa, một dòng họ giàu truyền thống văn hóa yêu nước Nguyễn Tá Nhí 5/04
21 Họ Tạ ngõ Ô Y Lê Tiến Đạt 5/04
22 Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm John Balaban 6/04
23 Hội thảo khoa học quốc tế về giao lưu văn hóa Trung - Việt Đinh Văn Minh 1/04
24 Hội thảo quốc tế về chữ Nôm P.V 6/04
25 Hội thảo quốc tế về Nho giáo ở Việt Nam P.V 6/04
26 Hội thảo Việt Nam học lần thứ 2 P.V 4/04
27 Hoa hồng trong tâm hồn hai nhà thơ vĩ đại Trần Bá Chí 2/04
28 Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (Tập Một) - Sách mới với tư liệu Hán Nôm nguyên gốc - cập nhật Đỗ Thu Hiền 5/04
29 Khảo sát sơ bộ kho sách chữ Nôm ở Thư viện Quốc gia Việt Nam Phạm Thế Khang 6/04
30 Lại bàn về “Tam giáo đồng nguyên” Lê Văn Quán 5/04
31 Lê Khắc Cẩn, một tâm hồn thơ một tấm lòng yêu nước Hoàng văn Lâu 2/04
32 Lược khảo về thư tịch cổ Việt Nam du nhập vào Trung Quốc Hà Thiên Niên 1/04
33 Mấy bài thơ chữ Hán đề ở Động Kính Chủ (xã Phạm Mạnh, huyện Kinh Môn, Hải Dương) Hồng Phi - Hương Nao 2/04
34 Mấy nét đặc sắc về nghệ thuật của văn học Phật giáo Nguyễn Công Lý 2/04
35 Một băn khoăn về văn bản Duy Minh Thị 1872 Đào Thái Tôn 4/04
36 Một số vấn đề và khía cạnh nghiên cứu chữ Nôm Nguyễn Quang Hồng 6/04
37 Một cách tiếp cận bài thơ Phong kiều dạ bạc Nguyễn Cảnh Phức 5/04
38 Một vài ý kiến về cuốn 300 bài thơ Việt chữ Hán Thế Anh 1/04
39 Mục lục tác giả, bài viết đăng trên Tạp chí Hán Nôm năm 2004 Đào Phương Chi 6/04
40 Nét đẹp lệ làng - vùng chiêm trũng Phú Xuyên Đỗ Thị Hảo 3/04
41 Nên tìm hiểu cho chính xác bài thơ Chiều tối (Mộ) trong tập Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh Nguyễn Quảng Tuân 6/04
42 Ngọc phả các vua triều Lê Trần Bá Chí 5/04
43 Nguồn gốc cách gọi Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa Cung Diên Ninh 2/04
44 Những nét tương đồng và dị biệt của ba thể thơ tuyệt cú, haikư và lục bát Nguyễn Thị Bích Hải 5/04
45 Sách Đường thi tuyệt cú diễn ca Trần Xuân Ngọc Lan 3/04
46 Sự truyền bá, phát triển và biến đổi của tư tưởng Nho gia ở Việt Nam Tôn Diễn Phong 4/04
47 Tác giả Trịnh Doanh và Càn nguyên ngự chế thi tập Nguyễn Thị Lâm 5/04
48 Tài liệu địa chí cổ viết về tỉnh Hải Dương Nguyễn Thúy Nga 6/04
49 Tâm sự của Phạm Quí Thích qua các bài thơ về Thăng Long Vương Thị Hường 6/04
50 Thể tài “thần quái” trong truyện Nôm Việt Nam Trần Quang Huy 4/04
51 Thơ chữ Hán Hoàng Văn Hòe Duy Phi 1/04
52 Thơ Lê Khắc Cẩn những năm tám mươi của thế kỷ XIX Trần T. Băng Thanh 4/04
53 Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục K. I. Golưgina 3/04
54 Tìm hiểu bài thơ Giang bạn độc bộ tầm hoa của Đỗ Phủ Đặng Văn Lộc 1/04
55 Tìm hiểu đôi nét truyện thơ Nôm Tày - Nùng Toọng Tương Trần Thu Hường 3/04
56 Tìm hiểu những cống hiến của người Việt và văn hóa Việt Nam đối với văn hóa Hán qua tư liệu Hán Nôm và sử liệu Trung Quốc Đàm Chí Từ 1/04
57 Tìm hiểu về chữ “sở” ) trong tiếng Hán cổ Nguyễn Hoàng Thân 2/04
58 Tìm hiểu về quả chuông cổ nhất xứ Kinh Bắc ở chùa Diên Phúc. Nguyễn Khắc Bảo 1/04
59 Tục lệ ở phố chợ Kim Ngân Đinh Khắc Thuân 4/04
60 Tục lệ phường Long Đằng xã Đông Ngạc Nguyễn Tá Nhí 2/04
61 Từ một bản dịch đến vấn đề văn bản của Hoàng Việt địa dư chí. Nguyễn Đức Toàn 4/04
62 Từ "Thi ngôn chí" đến thuyết "Mỹ thứ" đời Hán Nguyễn Đình Phức 1/04
63 Trao đổi góp vài ý kiến với bài Về bài thơ gửi vợ thứ ba của Trần Thiện Chánh của Cao Tự Thanh Nguyễn Minh Tường 5/04
64 Trở lại hành trình của nguyên tác Ngục trung nhật ký Phong Lê 3/04
65 Triển lãm bản in cổ nhất thế giới P.V 3/04
66 Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia 50 năm xây dựng và phát triển Đỗ Hoài Nam 1/04
67 Văn bản Đại Nam quốc sử diễn ca hiện lưu giữ tại các Thư viện ở Hà Nội Lã Minh Hằng 4/04
68 Văn hóa Hán Nôm - đôi điều suy ngẫm Đỗ Phương Lâm 1/04
69 Viện Nghiên cứu Hán Nôm trong quá trình xây dựng và phát triển của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia Trịnh Khắc Mạnh 1/04
70 Về ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc đối với Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam Phương Lập Thiên 2/04
71 Về bài biểu văn bằng chữ Nôm đầu đời Nguyễn Trần Thị Giáng Hoa 5/04
72 Về bài Ngự chế Quốc âm từ khúc của Trịnh Sâm trong sách Bình Ninh thực lục Nguyễn Xuân Diện 1/04
73 Về bản tấu: X ử trí Nam Kỳ lục tỉnh tấu nghĩ của Trần Sơn Lập Việt Anh 4/04
74 Về các văn bản Hải Dương phong vật chí Nguyễn Thị Lâm 3/04
75 Về hai bản Kiều Thái Bình Nguyễn Tài Cẩn 6/04
76 Về hai cuốn sách mới xuất bản ở Trung Quốc trong thời gian gần đây: Việt Nam thông sử và Việt Nam văn học sử Trần Nghĩa 2/04
77 Về Hoàng Thành Thăng Long P.V 4/04
78 Về số lượng ‘’Tiên công’’ ở khu Hà Nam (huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh) qua một số tài liệu Hán Nôm Bùi Xuân Đính 5/04
79 Về sự khác biệt của một số mã chữ Nôm giữa hai bản in sách Thiền tông bản hạnh Trương Đức Quả 4/04
80 Về tác phẩm truyện thơ Tày - Nùng Lưu Đài - Hán Xuân Nguyễn Minh Tuân 3/04
81 Vua Khang Hi với việc biên soạn bộ Khang Hi tự điển Vũ Nhân 1/04
82 Vĩnh biệt nhà thơ, nhà nghiên cứu Ngô Linh Ngọc P.V 2/04

Đ.P.C