|
|
| TT | Trang/ Dòng |
Thứ tự chữ | Đặc điểm so sánh | Bản Vĩnh Thịnh 1714 | VNv.637 | Bản Quang Trung 1792 |
| 1 | 2a11 | 7 &8â | 擜昆 trắng con | Bị mờ một nửa bên phải 2 chữ | Bị mờ một nửa bên phải 2 chữ | Không bị mờ |
| 2 | 2b9 | 2á | 勜 người (có hai nét ngang ở giữa) | Nét ngang trên dài hơn nét ngang dưới | Nét ngang trên dài hơn nét ngang dưới | Nét ngang trên ngắn hơn nét ngang dưới |
| 3 | 3b9 | 6á | 蒸 chưng | Bốn chấm hỏa tách rời (灬 ) | Bốn chấm hỏa tách rời (灬 ) | Bốn chấm hỏa thành một nét ngang gập ( ) |
| 4 | 5a | Thứ tự câu chữ bị đảo lộn xộn. | Có | Có | Không (Thứ tự câu chữ vẫn đúng) | |
| 5 | 15a12 | 5á | Bị một vết đen 1 cm2 che mất(8) | Có | Có | Không (nửa trái là 去 khứ, nửa phải bị mất) |
| 6 | 16a11 | 9â | 醜 xú | Không bị che | Không bị che | Bị phủ bởi một vết đen |
| 7 | 32b3 | 9 á | 贑 lắm | Không bị che | Không bị che | Bị phủ bởi một vết đen |
| 8 | 50b15 | 7â | 拱 cũng | Thẳng đứng 拱 | Thẳng đứng 拱 | Đổ về bên trái |
| 9 | Tờ 9, 12, 14, 21, 23, 27, 31, 44, 45, 49 | Bị nhòe | Bình thường | Bình thường | Bị nhòe | |
| Kết luận | Giống nhau | Khác | ||||
| Vị trí các chữ bị phủ đen trong hai bản 1714 & 1792 | |||
| Bản 1714 | Bản 1792 | ||
| Vị trí | Số chữ bị phủ đen | Vị trí | Số chữ bị phủ đen |
| I14b | 2 | III6a | 1 (*) |
| II18b | 1 | III40a | 1 |
| II33b | 1 (*) | V22a | 1 |
| II48b | 2 | VI10a | 2 (*) |
| III23b | 2 | VI10b | 2 |
| III51a | 2 | VI16a | 1 |
| V16a | 16 | VI32b | 1 (*) |
| V16b | 2 (*) 1 | VIII7b | 2 |
| VI15a | 1 | VIII33a | 2 |
| VII14a | 1 | VIII33b | 1 (*) |
| Tổng số | 31 | 14 | |
| Nhận xét: Những vị trí chữ bị phủ đen ở bản 1714 thì còn nguyên ở bản 1792, và ngược lại, những vị trí chữ bị phủ đen ở bản 1792 thì còn nguyên vẹn ở bản 1714. | |||
| Ghi chú: 1. Kí hiệu (*): thuộc phần văn Nôm. 2. Những vị trí bị phủ đen trong phần Hán văn có chỗ không tương ứng với nội dung trong bản Thi kinh tập truyện 詩 經 集 傳 của Chu Hi. | |||
|
d. Một số đặc điểm khác Đầu tiên là một số trường hợp khi viết các từ láy song tiết, nếu như ở bản Vĩnh Thịnh viết lặp lại hoàn toàn hai chữ, thì ở bản Quang Trung chỉ khắc một chữ, còn chữ thứ hai thì nhắc lại bằng một “dấu láy” (“<” hoặc “匕”) lại mà thôi. Chẳng hạn, trên trang 16a (xin xem phụ lục H4) và tờ 27 quyển V ta thấy có sự khác nhau như sau:
|
| Vị trí (Quyển/trang/dòng) | Bản Vĩnh Thịnh 1714 | Bản Quang Trung 1792 |
| V16a1 | 派 派 (*) | 派 < (*) |
| V16a2 | 蕩 蕩 (*) | 蕩 < (*) |
| V16a15 | 遲(14)遲 | 遲 < |
| V27a4 | 爽 爽(*) | 爽匕(*) |
| V27a11 | 潭 潭(*) | 潭 < (*) |
| V27a13 | 鑍 鑍(*) | 鑍 < (*) |
| V27a15 | 湛 湛 | 湛 < |
| V27b1 | 湛 湛 | 湛 < |
| V27b5 | 潭 潭(*) | 潭 < (*) |
| V27b5 | 鑍 鑍(*) | 鑍 < (*) |
| V27b11 | 潭 潭(*) | 潭 < (*) |
| Kí hiệu (*) : thuộc phần văn Nôm. | ||
|
Những chữ viết tắt bằng “dấu láy” (tạm thể hiện bằng kí hiệu “ < ” và “匕”) như ở bản Quang Trung 1792 đã góp phần khẳng định về sự tồn tại thực của hai hệ ván khắc khác nhau, chứ hoàn toàn không phải người ta đã dùng lại một bộ ván cũ đã mòn, bởi dù có mòn đến đâu chăng nữa thì các chữ “派, 蕩, 遲, 爽, 潭, 鑍 ” cũng không thể mòn thành dấu “ < ” và “匕”được (xin xem phụ lục H4). Từ đây ta thấy bản Quang Trung 1792 có thiên hướng viết giản lược (bằng cách dùng “dấu láy”), thậm chí có chỗ còn dùng cách ghi tương ứng với chữ giản hóa đang dùng trong tiếng Hán, chẳng hạn ở dòng 5 trang 30a quyển IV, chữ 聲 thanh ở bản Vĩnh Thịnh đã được bản Quang Trung thay bằng 声 viết theo lối giản hóa. Hơn nữa, trang 5a quyển VI của hai bản cũng khác nhau rõ rệt về bố cục và nội dung câu chữ. Trong bản Vĩnh Thịnh 1714 (kể cả bản in VNv.637), không rõ vì nguyên nhân nào mà trang này thấy có những yếu tố bất thường: đang là trang 5a lại bỗng xuất hiện dòng tiêu đề 詩 經 解 音 卷 之 六 ( Thi kinh giải âm quyển chi lục); phần còn lại thì có câu thiếu chữ, vị trí các chữ (cả Hán và Nôm) lẫn lộn không ra lề lối gì. Tình hình này không xảy ra ở bản Quang Trung 1792 (xin xem phụ lục H5). Lại thêm ở trang 21a quyển IV ở cả hai bản đều để chừa ra một khoảng trống 3x12cm2, duy có điều trong bản Vĩnh Thịnh 1714, khoảng trống này ở phía dưới cùng, còn trong bản Quang Trung 1792 thì khoảng trống này lại ở bên trên cùng của khuôn khổ trang. Những đặc điểm trình bày trong phần (d) tuy không mang tính phổ biến, nhưng nó lại là những chứng cớ rất thuyết phục để khẳng định việc trùng thuyên, ít nhất là trùng thuyên những tờ / trang chứa các đặc điểm ấy. 3. Mấy nhận xét bổ sung 3.1. Về người giải âm. Trước hết, chúng tôi xin dành đôi dòng để kể đến những văn bản Thi kinh bằng chữ Nôm hiện chúng ta chỉ biết qua ghi chép của cổ nhân, chứ không còn văn bản để chứng thực, đó là các bản giải âm của Hồ Quý Li, Nguyễn Quý Kính và Miên Thẩm. Theo Đại Việt sử kí toàn thư (bản Chính Hòa): “Tháng 11 [năm Quang Thái thứ 9 (1396)], [Hồ] Quý Ly làm sách Quốc ngữ Thi nghĩa và bài tựa, sai nữ sư dạy hậu phi và cung nhân học tập. Bài tựa phần nhiều theo ý mình, không theo tập truyện của Chu Tử”(15). Theo ghi chú của người dịch bộ sử kí này, thì đây có lẽ là một bản “giải thích Kinh Thi bằng quốc ngữ hay dịch Kinh Thi ra quốc ngữ (chữ Nôm)”. Nhưng tư liệu này hiện không còn giữ được. Theo gia phả dòng họ Nguyễn Quý ở Đại Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội, Quốc sư công vị Đại vương Nguyễn Quý Kính (hay Cảnh (憼),1693 - 1766, đích tôn của Nguyễn Quý Đức) “tuy tham gia chính sự, có nhiều trọng trách song vẫn ham mê trước thuật. Ông đã bỏ công phu thích nghĩa bộ Tứ thư, Ngũ kinh ra quốc âm và soạn bộ Trung hiếu kinh chú giải để giảng dạy”(16). Tư liệu này hiện cũng không có gì đủ chứng thực, ngoài những ghi chép trong gia phả. Đại Nam liệt truyện 大 南 列 傳 liệt kê trước tác của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (1819-1870), trong đó có Thi kinh quốc âm ca 詩 經 國 音 歌(17), đây hẳn phải là một bản diễn ca Thi kinh, phải chăng nó là một trong những bản diễn ca Thi kinh hiện còn ? Chúng tôi hi vọng sẽ trở lại với câu hỏi này trong một dịp khác. Theo suy luận của chúng tôi, người giải âm bản Vĩnh Thịnh 1714 không thể là Hồ Quý Ly, bởi bản 1714 hoàn toàn theo Chu Hi; cũng không thể là Nguyễn Quý Kính, bởi cho tới khi bản 1714 được khắc in thì Nguyễn Quý Kính mới có 22 tuổi, đó là độ tuổi quá trẻ, ở tuổi ấy người xưa thường để chí vào lập thân trên khoa trường và quan trường hơn là đi giải âm một kinh điển Nho gia; và hiển nhiên không thể là Miên Thẩm, bởi ông sinh sau thời điểm 1714, hơn nữa bản của Miên Thẩm lại là một bản diễn ca ( Thi kinh quốc âm ca ), không phải bản giải âm theo văn xuôi. Vậy phải chăng vấn đề người giải âm bản Thi kinh giải âm 1714 là bất khả khảo? Chúng tôi nghĩ đến một giả thiết, có phần hơi mạo hiểm, nhưng nếu không mạo hiểm một chút, thì chẳng gợi mở được gì. Vả lại giả thiết của chúng tôi cũng không phải hoàn toàn vô lí. Có một sự tương đồng đặc biệt giữa bản Thi kinh giải âm 1714 và bản Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú 傳 奇 漫 錄 增 補 解 音 集 註 (cũng khắc ván in năm Vĩnh Thịnh 1714, hiện lưu trữ tại Nhật Bản) khiến chúng tôi nghĩ đến giả thiết này. Theo những thông tin ghi nhận được từ công trình nghiên cứu của một học giả Nhật Bản về bản Truyền kì mạn lục giải âm Vĩnh Thịnh 1714(18), chúng tôi thấy giữa hai bộ sách giải âm này quả thật có rất nhiều điểm tương đồng: thời điểm khắc in (1714), nhà tàng bản (Kế Thiện đường 繼 善 堂(19)), cách thức để thành thư (tập thành 輯 成 ), hình thức trình bày văn bản (nét khắc, bố cục từng phần) v.v. Vậy còn một vấn đề duy nhất hiện chưa thể làm sáng tỏ, mà ở đây chúng tôi chỉ tạm đặt giả thiết, rằng người phiên Nôm của hai văn bản này phải chăng cũng là một người, tức theo ghi chép trong Công dư tiệp kí 公 餘 捷 記 thì có thể là Nguyễn (Thế) Nghi (?). Đi sâu khảo sát phong cách dịch thuật (dịch Hán sang Nôm) của hai văn bản này, chúng ta sẽ hi vọng có thể làm sáng tỏ vấn đề dịch giả, nếu không phải thực sự là Nguyễn Thế Nghi, thì chí ít ta cũng có thể biết được người giải âm hai văn bản Thi kinh và Truyền kì mạn lục là một người hay hai người khác nhau. Nhưng công việc này đòi hỏi khá nhiều thời gian và tâm sức, hiện chúng tôi chưa có điều kiện thực hiện trọn vẹn được. 3.2. Về thời điểm ra đời. Thời Lê Vĩnh Thịnh (1705-1719), theo một số tư liệu cho biết, là thời điểm chín muồi cho bản Thi kinh giải âm ra đời. Khẳng định điều này, chúng tôi căn cứ vào những ghi chép trong sử sách. Nhưng chính sử ít ghi nhận về những vấn đề liên quan đến chữ Nôm văn Nôm, chúng tôi chuyển hướng đi tìm tư liệu trong dã sử, đó là cuốn Lịch triều tạp kỉ 曆 朝 雜 紀 do Ngô Cao Lãng biên soạn, Xiển Trai bổ sung. Lịch triều tạp kỉ đã gián tiếp cho biết, trong những năm Vĩnh Thịnh (1705-1719) thời Lê Dụ Tông đã có một số yếu tố mang tính điều kiện để bản Thi kinh giải âm được khắc in và lưu hành phổ biến. Những ghi chép ấy là về các khía cạnh sau đây: Thái độ với chữ Nôm của nhà cầm quyền là khá mềm dẻo, chữ Nôm thậm chí còn được đưa vào khoa cử: ngày 4 tháng 7 mùa thu năm 1715, thi Sĩ vọng, trong đề thi có một bài cho phép: “Bài này cho làm bằng Nôm”(20). Năm 1718, Phủ liêu vâng mệnh truyền cho cả nước: “Phàm các sách vở gì có quan hệ đến việc giáo hóa ở đời thì mới nên khắc in và lưu hành. Gần đây, những kẻ hiếu sự lượm lặt càn bậy những truyện tạp nhạp và lời quê kệnh bằng quốc âm, không biết phân biệt nên hay chăng, cứ khắc vào ván gỗ, in ra để buôn bán. Việc đó đáng nên cấm. Từ nay về sau, hễ nhà nào có chứa chấp các ván in sách và các sách in nói trên thì cho phép viên quan đi ốp làm, việc ấy được lục soát, tịch thu, rồi tiêu hủy hết cả”(21) (những phần gạch chân là do chúng tôi nhấn mạnh - NQH & NTC). Như vậy là nhà cầm quyền dù cấm ngặt việc khắc in văn Nôm (quốc âm) những truyện tạp nhạp, nhưng lại có chủ trương khuyến khích “sách vở gì có quan hệ đến việc giáo hóa ở đời thì mới nên khắc in và lưu hành”. Ta cũng nhận thấy rằng sử liệu ghi “Gần đây, những kẻ hiếu sự lượm lặt càn bậy những truyện tạp nhạp và lời quê kệnh bằng quốc âm, không biết phân biệt nên hay chăng, cứ khắc vào ván gỗ, in ra để buôn bán” thì chứng tỏ cho đến năm 1718, ở lãnh thổ Việt Nam chắc chắn đã có rất nhiều văn bản Nôm khắc in được lưu hành, đáng tiếc là trong số ấy hiện chẳng còn bao nhiêu, nhưng chúng ta đã lưu giữ được hai văn bản cực kì quý giá: đó là các bản giải âm Truyền kì mạn lục và Thi kinh cùng khắc in năm 1714 ở Kế Thiện đường. Nhà cầm quyền đương thời mà cụ thể là chúa Trịnh Cương yêu thích thơ Nôm, ông làm nhiều thơ Nôm, không chỉ được ghi lại trong Lịch triều tạp kỉ mà còn ở nhiều nơi khác. Các chúa Trịnh làm rất nhiều thơ Nôm: Trịnh Căn (cụ nội của Trịnh Cương), Trịnh Doanh (con), Trịnh Sâm (cháu nội) đều có nhiều thơ Nôm truyền lại đến ngày nay(22). Thêm nữa, năm 1728, “chúa Trịnh [Cương] vời các triều sĩ vào phủ đường, sai làm bài Biểu chương ngũ kinh tự văn 表 章 五 經 序 文 (Bài tựa biểu dương năm kinh). Bài văn của Thám hoa Phạm Khiêm ích, Lại bộ Thị lang, được lấy vào bậc nhất, hạng trúng cách, trong đó có những đoạn: “[...] thời thường đưa ngòi bút thánh phê vào kinh văn, ngày ngồi trong tòa kinh diên giảng sách, dò tìm cho ra những nghĩa sâu sắc; giẫm trên đất chắc, sở đắc ở trong tâm mà thi thố ra thực hành, vùng vẫy trong bầu trời như diều bay cá nhảy tự do. Cái công biểu dương Ngũ kinh chúa thượng [chỉ Trịnh Cương] thực đủ hơn hẳn Hán, Đường và vượt cả Tống, Minh [...]”(23). Trịnh Cương yêu thích Ngũ kinh, lại thích làm thơ Nôm, vậy hẳn phải yêu thích Thi kinh, nhất là bản Thi kinh giải âm này, và dù vô tình hay hữu ý thì hẳn nhiên ông đã là người bật đèn xanh cho nó được khắc in và lưu hành. Với những điều kiện hết sức thuận lợi như trên, thời điểm ra đời của bản Thi kinh giải âm ở những năm Vĩnh Thịnh là vô cùng hợp lí, nếu sớm hơn thì chỉ có thể là thời Lê Hồng Đức (nhưng hiện không có chứng cứ để khẳng định điều này), mà cũng chẳng cần phải đợi đến những năm Quang Trung cuối thế kỉ XVIII mới vấn thế. 3.3. Về quá trình lưu truyền. Một vấn đề cũng cần phải quan tâm tìm hiểu là hai bản 1714 và 1792 đã tồn tại và lưu truyền như thế nào trong lịch sử ? Trong các công trình thư mục học nổi tiếng của mình, hai nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) và Phan Huy Chú (1782-1840) đều không ghi hai bản này(24). Họ đã bỏ qua ? Hay là bởi cả hai bản trên đều rất hiếm nên không đến được tay họ? Chúng ta cũng cần chú ý là họ Lê và họ Phan không hẳn đã thống kê đủ số sách vở đương thời, trong điều kiện tư liệu thời bấy giờ thì khả năng bỏ sót của hai ông là rất lớn. Nhưng một số thư tịch đã có những ghi chép về sự tồn tại của hai bản này. Theo Hoàng Việt văn tuyển 皇 越 文 選 của Bùi Huy Bích, trong bài Chu Dịch ca quyết tự 周 易 歌 訣 序 (bài tựa cuốn Chu Dịch quốc âm ca quyết của Đặng Thái Phương (hay Bàng 滂, 1674 - ?) đề năm Gia Long thứ 12 (1813), Phạm Quý Thích (1759-1825) đã nhắc đến một bản Thi kinh giải nghĩa “vốn đã lưu hành trên đời” (固 已 行 於 世 矣)(25). Như đã dẫn ở phần trước, Nội các thư mục (1908) có ghi rằng: “Thi kinh giải âm, 1 bộ 10 cuốn (bản)”(26). Ở thời điểm năm 1813 khi Phạm Quý Thích đặt tựa, hệ bản Thi kinh diễn nghĩa chưa có (mà phải đến các năm 1836, 1837 thời Minh Mệnh, hệ bản này chúng tôi sẽ giới thiệu cụ thể trong một dịp khác), cộng thêm chủ trương hủy diệt di văn Tây Sơn của chính quyền Gia Long, khiến chúng tôi ngờ rằng, bản Thi kinh giải âm (nghĩa) mà Phạm Quý Thích và Nội các thư mục nhắc đến có nhiều khả năng sẽ là bản giải âm Vĩnh Thịnh 1714, chứ khó có thể là một bản Thi kinh giải âm khắc in rất rõ hai dòng niên đại Quang Trung (như đã trình bày ở phần trước của bài viết này), mà lại “vốn đã lưu hành trên đời” ngay ở thời Gia Long. Tiểu kết Qua bài khảo cứu này, chúng tôi đi đến một số kết luận chủ yếu như sau: Bản Thi kinh giải âm sớm nhất hiện còn là bản khắc năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) nhà Lê, vốn đủ 10 quyển, nhưng nay chỉ còn giữ được 8 quyển đầu, thiếu 2 quyển cuối (quyển IX và quyển X), hiện lưu trữ tại Thư viện Viện Văn học, Hà Nội. Bản Thi kinh giải âm đời Quang Trung 5 (1792) có thể là sản phẩm của Sùng Chính viện, nhưng Sùng Chính viện chỉ có vai trò khắc lại (có sửa chữa không đáng kể) bản khắc in năm Vĩnh Thịnh 1714, chứ tuyệt đối không phải là người (đơn vị) thực hiện công việc giải âm. Chỉ cần như vậy thôi, vua Quang Trung và bề tôi của ông cũng đã xứng đáng được tôn vinh là những người coi trọng việc học hành và biết kế thừa di sản văn hóa của tiền nhân. Hai bản Thi kinh giải âm Vĩnh Thịnh 1714 và Quang Trung 1792 thuộc hai bộ ván khắc khác nhau, tức là bản Quang Trung đã trùng thuyên bản Vĩnh Thịnh, trên nguyên tắc là khắc lại gần như nguyên vẹn bố cục và kích cỡ từ một bản in theo ván khắc Vĩnh Thịnh (có sửa chữa nhưng không đáng kể). Mặc dù được khắc in trước, nhưng không thể nói chắc rằng bản Vĩnh Thịnh là hoàn thiện hơn bản Quang Trung. Không kể sự vắng thiếu quyển IX và quyển X ở bản Vĩnh Thịnh hiện chưa tìm thấy được, thì trong bản Vĩnh Thịnh 1714 vẫn có những chỗ cần được đối chiếu với bản Quang Trung 1792 để bổ cứu cho được chính xác và hoàn chỉnh hơn. Phát hiện bản in theo ván khắc năm Vĩnh Thịnh 1714 là rất có ý nghĩa không những cho việc nghiên cứu tác phẩm Thi kinh giải âm, mà còn góp thêm cứ liệu đáng tin cậy cho việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển văn chương dịch thuật từ Hán sang Nôm ở thời trung đại. Chúng tôi mong rằng sẽ có dịp trở lại với những vấn đề có liên quan tới các truyền bản Thi kinh giải âm khác nhau, cũng như mối liên quan giữa chúng với các văn bản giải âm khác trong kho tàng văn chương chữ Nôm của nước ta. N.Q.H - N.T.C CHÚ THÍCH: (1) Xin xem: Hoàng Xuân Hãn, La Sơn phu tử, Nxb. Minh Tân, 1952; dẫn theo lần tái bản trong bộ La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập II, Hữu Ngọc & Nguyễn Đức Hiền sưu tập biên soạn, Nxb. Giáo dục, 1998, tr.1072. (2) La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr.1073. (3) Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập II, Nxb. KHXH, H. 1990, tr.121. (4) Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Sđd, tr.121. (5) Ngô Đức Thọ. Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Nxb. Văn hóa, 1997, tr.110. (6) Trong hộp phích ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm giới thiệu sách Hán Nôm tại các thư viện khác tại Hà Nội có hai phích ghi tên sách Thi kinh giải âm ở Viện Văn học với kí hiệu sách HN.524 và HN.525, chúng tôi đã kiểm tra lại hai kí hiệu sách này ở Viện Văn học thì thấy đây là hai cuốn Thi vận tập yếu 詩 韻 集 要 chứ không phải Thi kinh giải âm (7) Vương Tiểu Thuẫn, Việt Nam phỏng thư trát kí, trích dịch phần 5: Diễn âm, diễn nghĩa, diễn ca và diễn tự. Tạp chí Hán Nôm, số 4 , 2000, tr. 94-99. (8) Chữ bị che vốn thuộc phần chú thích bằng Hán văn, nhưng đối chiếu với bản chú giải của Chu Hi thì không có chữ này. (9) Ví dụ xin xem Thập tam kinh chú sớ 十 三 經 注 疏 (tập thượng), Chiết Giang cổ tịch xuất bản xã, 1998, tr.498, thiên Miên man 綿 蛮, các chữ “miên” đều là chứ không viết là 綿. (10) Nội các thư mục, kí hiệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm A.113, phần Kinh bộ, tờ 6a. Chúng tôi hiểu khái niệm “本 bản” trong Nội các thư mục nghĩa là “số quyển”, so sánh với việc ghi chép các sách khác trong Nội các thư mục thì đúng như vậy. (11) Xin xem: Nguyễn Quang Hồng: “ Vấn đề niên đại của văn bản Đại Việt sử kí toàn thư (Nội các quan bản)”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5 + 6, 1988, tr.40-45; cũng xem: Vũ Minh Giang “ Về niên đại bản Nội các quan bản của sách Đại Việt sử kí toàn thư”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5 + 6, 1988, tr.58-62. (12) Loại b3 có thể chia làm nhiều tiểu loại, theo sự khác nhau về bố cục các phần trắng và đen bên trong vòng tròn, như: trong vòng tròn có hình dấu cộng (+) trắng; có dấu nhân (x) màu trắng; trên trắng dưới đen; trên đen dưới trắng; bốn chấm trắng cách đều như hình hoa... chia như thế quá phức tạp, chúng tôi gộp chung vào một loại b3 để tiện trình bày. (13) Cụ thể số tờ có khác nhau về dấu ngăn cách trong từng quyển: quyển I có 4 tờ khác nhau trong số 27 tờ của quyển I, qII 21/51, qIII 19/57, qIV 18/46, qV 19/44, qVI 11/55, qVII 10/47, qVIII 14/56. (14) 遲 遲: Chữ 遲 thứ nhất vốn trong nguyên bản Vĩnh Thịnh 1714 là một vết phủ đen (do ván khắc), chúng tôi khôi phục lại thành nguyên dạng (遲) để tiện so sánh. (15) Đại Việt sử kí toàn thư, Nội các quan bản, bản dịch tập II, Hoàng Văn Lâu dịch, Nxb. KHXH, H., tr.190. Nguyên văn: 十 一 月, 季 犛 作 國 语 诗 义 并 序, 令 女 師 教 厚 妃 及 宫 人 學 習. 序 中 多 出 己 意, 不 從 朱 子 集 傳.( Bản kỉ toàn thư, quyển VIII, tờ 27b). (16) Dẫn theo: Yến Trang: Dòng họ Nguyễn Quý với sự nghiệp giáo dục, đào tạo nhân tài ở thế kỉ XVIII, in trong: Danh nhân Nguyễn Quý Đức- nhà chính trị văn hóa lớn thế kỉ XVII - XVIII (Kỉ yếu hội thảo Danh nhân văn hóa Nguyễn Quý Đức (1648 - 1720) tổ chức tại Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội ngày 23/12/2000), Viện Sử học & Ban liên lạc dòng họ Nguyễn Quý xuất bản, H. 2000, tr.150-160; cũng xem thêm: Nguyễn Thanh Tùng: Đóng góp của dòng họ Nguyễn Quý đối với lịch sử văn hóa dân tộc, in trong cùng cuốn kỉ yếu trên, tr.130-149. (17) Xin xem: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, bản dịch của Viện Sử học, tập III, Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr.105. (18) Kawamoto Kuniye (川 本 邦 衛), 傳 奇 漫 錄 刊 本 攷 (Truyền kì mạn lục san bản khảo). Khánh Hưng nghĩa thục Đại học xuất bản. Tokyo, 1998. (19) Kế thiện đường 繼 善 堂: hiện chúng ta mới chỉ biết đến nhà tàng bản Kế thiện đường qua việc khắc in hai bản giải âm Thi kinh và Truyền kì mạn lục vào năm 1714, ngoài ra không có thông tin gì thêm. Trong công trình Di sản Hán Nôm - Thư mục đề yếu (Trần Nghĩa & Franỗois Gros đồng chủ biên, bộ ba tập, Nxb. KHXH, 1993) ghi nhận bản Văn đế bách hạnh thiên 文 帝 百 行 篇 kí hiệu AC.238 trong kho sách Hán Nôm là sản phẩm của Kế Thiện đường. Điều này e rằng không đúng, bởi chúng tôi kiểm tra lại nguyên bản Văn đế bách hạnh thiên AC.238 thì nhà tàng bản là Kế Thiện đàn (繼 善 壇) ở huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương cũ (nay thuộc Hải Phòng), chứ không phải Kế Thiện đường. Còn Kế Thiện đường và Kế Thiện đàn có liên quan gì với nhau hay không là vấn đề đòi hỏi phải được tiếp tục xem xét. Riêng trong danh sách các nhà tàng bản do Mai Hồng và Nguyễn Hữu Mùi lập cũng không có tên nhà tàng bản Kế Thiện đường hay Kế Thiện đàn (xin xem Mai Hồng & Nguyễn Hữu Mùi, Tìm hiểu nghề in của ta qua kho sách Hán Nôm, Tạp chí Hán Nôm, số 1-1986, tr.43-55). (20) Ngô Cao Lãng biên soạn, Xiển Trai bổ sung, Lịch triều tạp kỉ, Hoa Bằng & Hoàng Văn Lâu dịch, Nxb. KHXH, H. 1995, tr.202. (21) Lịch triều tạp kỉ, sđd, tr.269. (22) Xin liệt cử một số thơ Nôm của các chúa Trịnh: Trịnh Căn: Thiên hòa doanh bách vịnh (88 bài thơ Nôm); Trịnh Doanh: Càn nguyên ngự chế thi (240 bài thơ Nôm); Trịnh Sâm: rất nhiều thơ Nôm trên các bia đá và ma nhai hiện vẫn còn tại chùa Hương và nhiều di tích khác. Ông và bố Trịnh Cương đều mất sớm, không làm chúa, cũng không thấy có thơ văn truyền lại. (23) Lịch triều tạp kỉ, sđd, tr.433-434. (24) Xin xem: - Lê Quý Đôn, Nghệ văn chí 藝 文 誌, in trong Lê Quý Đôn toàn tập, tập III: Đại Việt thông sử, Ngô Thế Long dịch, Nxb. KHXH, H. 1978, tr.98-113. Tất nhiên, Lê Quý Đôn mất năm 1784 thì không thể biết tới bản Thi kinh giải âm khắc in năm Quang Trung 1792. - Phan Huy Chú, Văn tịch chí 文 籍 誌, in trong Lịch triều hiến chương loại chí, Tổ phiên dịch Viện Sử học Việt Nam phiên dịch và chú giải, tập IV, Nxb. Sử học, 1961, tr.41-133; hoặc in trong Lịch triều hiến chương loại chí, Tố Nguyên Nguyễn Thọ Dực dịch, tập IX, Tủ sách cổ văn - ủy ban dịch thuật, Bộ Văn hóa Giáo dục và thanh niên, 1974. (25) Xin xem: Bùi Huy Bích, Hoàng Việt văn tuyển, bản dịch của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm, tập II, Tủ sách cổ văn - ủy ban dịch thuật, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, 1972, phần nguyên bản Hán văn quyển VII, tờ 18a; phần dịch văn trang 291. Nguyên văn: “越 之 與 諸 華, 學 同 而 音 異,老 儒 先 生 往 往 演 為 國 音, 取 其 便 初 學, 詩 經 解 義,固 已 行 於 世 矣”. Dịch văn: “Nước Việt ta đối với các nước Hoa Hạ, cùng học một sách mà phát âm khác nhau, nên các bậc lão nho thường diễn ra quốc âm để tiện cho người [mới] học, như bộ Thi Kinh giải nghĩa, đã được truyền bá ở đời”. (26) Nội các thư mục, tài liệu đã dẫn./. PHỤ LỤC
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|