 |

GIỚI THIỆU TÁC GIẢ TÁC PHẨM HOA TRÌNH TẠP VỊNH
NGUYỄN THỊ HOÀNG QUÍ
Hoa trình tạp vịnh là tác phẩm chữ Hán của Phan Huy Thực, người dòng họ Phan Huy nổi tiếng ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Tập sách gồm 116 bài thơ đi sứ của ông, là nguồn sử liệu quí cần được nghiên cứu và giới thiệu.
Tiểu sử tác giả
Phan Huy Thực tự Vị Chỉ, hiệu Xuân Khanh, tước Khuê Nhạc hầu, thụy Trang Lượng; sinh giờ Tị ngày 5 tháng 10 năm Mậu Tuất, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 39 (1778); mất ngày 20 tháng 2 niên hiệu Thiệu Trị 6 (1846) tại làng Thụy Khuê, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (nay là xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây). Họ Phan Huy ở Sài Sơn, vốn ở thôn Chi Bông, xã Thu Hoạch, tổng Canh Hoạch; sau chuyển đến thôn Gia Mỹ, xã Thu Hoạch cùng tổng. Địa danh này cuối đời Lê đầu đời Nguyễn thuộc huyện Gia Mỹ, trấn Nghệ An. Phan Huy Thực là cháu nội của Tiến sĩ Phan Huy Cận (1722-1789), người được coi là vị Tổ khai khoa của dòng họ; từng giữ nhiều chức vụ cao trong chính quyền Lê-Trịnh, tước Phong Khuê hầu. Năm 1787, Phan Huy Cận nghỉ hưu về sinh sống ở làng Thụy Khuê và là Tổ đầu tiên của dòng họ Phan Huy ở đây.
Cha Phan Huy Thực là Phan Huy ích (1751-1822), thi đỗ Giải nguyên năm 1771, rồi lại đỗ đầu thi Hội cùng năm. Phan Huy ích làm quan cho nhà Lê; sau theo Tây Sơn, được Quang Trung tin dùng, phong giữ nhiều chức vụ cao. Mẹ Phan Huy Thực là bà Ngô Thị Thục (1750-1792), vốn là con gái Ngô Thì Sĩ (1726-1780) và là em gái Ngô Thì Nhậm (1746-1803). Họ Ngô cũng là một dòng họ khoa bảng lớn và là một văn phái có tiếng ở làng Tả Thanh Oai (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội).
Phan Huy Thực sinh ra và lớn lên vào nửa cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, một thời kỳ khủng hoảng, đây cũng là thời kỳ bùng nổ các cuộc nổi dậy chống áp bức, mà đỉnh cao là phong trào Tây Sơn. Triều đại Tây Sơn tồn tại không lâu thì nhà Nguyễn giành lại ngôi vị. Từ đó xây dựng nên một triều đại kéo dài hơn trăm năm; sống trong triều đại đó, gia tộc Phan Huy và bản thân Phan Huy Thực không tránh khỏi sự chao đảo biến động. Chính điều kiện cuộc sống đó đã tác động không nhỏ đến đời sống, tâm tư và chí hướng của ông. Có thể nói rằng Phan Huy Thực đã thật may mắn được nuôi dưỡng trong cái nôi văn hóa của hai dòng họ: dòng họ Phan Huy ở Sài Sơn và dòng họ Ngô Thì ở Tả Thanh Oai. Với những tên tuổi lớn như Phan Huy Cận (ông nội), Ngô Thì Sĩ (ông ngoại), Phan Huy ích (cha), Ngô Thì Nhậm (bác), Phan Huy Ôn (chú); một nhà ba cha con họ Phan cùng đỗ đại khoa, cùng làm quan một triều, cũng là trường hợp hiếm thấy trong trường khoa hoạn.
Trong 30 năm làm quan triều Nguyễn, trải ba triều vua: Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị; Phan Huy Thực được giao trọng trách ở nhiều lĩnh vực khác nhau: Quản lý Khâm thiên giám Ty Lý thiên, làm Tổng tài bộ Thực lục; ông còn góp nhiều công sức vào việc chế tác nhạc khúc, định ra điển lễ triều đình đương thời. Ngoài ra, Phan Huy Thực còn tham gia ban giám khảo các kỳ thi Hương, thi Hội. Nói chung ông là người hiểu sâu, biết rộng nhiều lĩnh vực văn hóa: thiên văn, lịch pháp, âm nhạc, giáo dục, văn học... Về đức hạnh, Phan Huy Thực là người thẳng thắn, giản dị và thanh liêm; dù làm quan đến chức Thượng thư nhưng ông vẫn là người khiêm nhường, đức độ và tiết tháo. Vì thế, ông được bạn bè đồng liêu như Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Hà Tông Quyền kính nể và khâm phục. Năm Tân Sửu, niên hiệu Thiệu Trị nguyên niên (1841), vì tuổi già ốm đau luôn nên được nghỉ đặc cách. Năm Thiệu Trị 2 (1842), nhà vua tuần du Bắc Hà, Phan Huy Thực đến hành tại chúc mừng, được nhà vua úy dụ ban cấp bạc lụa và tặng bài thơ Ngự đề(1) để tỏ lòng hậu đãi đối với người bề tôi cao tuổi. Bài thơ được ông đem khắc lên vách núi Sài Sơn (nay hiện vẫn còn).
Phan Huy Thực sáng tác nhiều thơ văn, tiếc rằng đến nay không ít tác phẩm của ông đã bị thất truyền, chỉ còn lại tên sách trong thư tịch.
Các tác phẩm hiện còn:
Tác phẩm chữ Nôm: Tỳ bà hành diễn âm khúc, VNv.100, A.443, AB.1148; Nhân ảnh vấn đáp, VNv.288; Nhân nguyệt vấn đáp AB.1150, AB.146; Bần nữ thán, VNb.69.
Tác phẩm chữ Hán: Hoa trình tạp vịnh, VHv.80; Sứ trình tạp vịnh, A.2791, v.v... Và một số bài văn tế, câu đối, thơ đề vịnh, bi văn... còn nằm tản mạn trong kho sách Hán Nôm.
Văn bản tác phẩm
Sứ trình tạp vịnh, A.2791; là cuốn gia thư, chép tay trên giấy bản mỏng khổ 27,3x15,4cm, chữ viết theo lối đá thảo, đẹp nhưng nhiều chữ viết tắt khó đọc. Văn bản gồm 21 tờ, đóng bìa màu vàng bằng giấy bản bồi, gáy phết sơn ta, bên trong chép chữ Hán trên giấy đã bị ố vàng nhiều chỗ, mép giấy sờn rách. Trang đầu mé bên phải ghi 2 dòng chữ Hán bằng loại son nhạt khá lớn giống như chữ viết nháp: “Gia Long Đinh Sửu thập lục niên trọng xuân cốc đán, nhạc chi mệnh mệnh xuân hạ thu đông” (đông là chữ “đông” (東) chỉ phương hướng, chứ không phải là chữ “đông” ( 冬 ) là mùa đông). Tiếp dòng thứ 3 chữ viết khá đẹp rõ ràng bằng mực tàu: “Gia Long Đinh Sửu thập lục niên trọng xuân cốc đán. Phó sứ Khuê Nhạc Phan hầu ngâm lục. Bào đệ Lâm Khanh Hạo, đường đệ Huyền Đồng tử tiếm bình” (Ngày lành tháng giữa xuân năm Đinh Sửu niên hiệu Gia Long thứ 16 (1817). Tập thơ của Phó sứ họ Phan, tước Khuê Nhạc hầu. Em trai tự Lâm Khanh, tên Hạo và em họ Huyền Đồng tử cùng tiếm bình); tên tác phẩm Sứ trình tạp vịnh, giữa trang đầu được đóng dấu hình bầu dục mực đen của Trường Viễn đông Bác cổ Pháp (EFEO).
Sách chia làm 2 phần:
- Phần một: từ tờ 1a đến 5a chép 21 bài thơ của Phan Huy Thực trong đó có 7 bài đầu làm trong khi đi sứ Trung Quốc năm 1817, và 14 bài thơ cảm hoài đề vịnh làm trong nước. Tờ 6, chép bài bạt của Phan Huy Chú cho tập Sứ trình tạp vịnh.
- Phần hai: từ tờ 7a đến 15b phụ chép thơ của tác giả Trần Tử Ông. Tờ 16b đến 21a chép các bài văn tế, câu đối... Theo nội dung của từng bài thơ ở phần một, chúng tôi tạm chia tập thơ thành 2 phần: Thơ đi sứ và thơ tạp vịnh trong nước.
Tác phẩm Hoa trình tạp vịnh, VHv.80. Đây là một văn bản chép tay trên loại giấy bản dày, khổ 29x17cm; bìa sách bên ngoài màu đen sơn ta còn mới do Viện Nghiên cứu Hán Nôm tu bổ lại; trang đầu bên trong là loại giấy bản mỏng mịn dai như giấy ở văn bản Sứ trình tạp vịnh, trên có đề dòng chữ Việt “Hoa trình tạp vịnh của Phan Huy Thực” và dòng chữ Hán “Phan Huy Thực Sơn Tây Yên Sơn Thụy Khuê nhân” (Phan Huy Thực người xã Thụy Khuê, huyện Yên Sơn, tỉnh Sơn Tây) bằng mực Cửu Long xanh, bên cạnh là con dấu vuông có dòng chữ: “Thư viện Khoa học Trung ương”; trang 2 (từ tờ 1a đến 37b) lại là loại giấy bản dày, có ghi tên sách: Hoa trình tạp vịnh Lễ bộ Thượng thư trí sự Khuê Nhạc hầu Phan đại nhân (Tập thơ đi sứ của đại nhân họ Phan, tước Khuê Nhạc hầu, chức Thượng thư bộ Lễ đã nghỉ hưu); chữ viết trong văn bản này đẹp, hơi đá thảo; trên dưới hai mép sách có ghi dòng chữ Phan sứ trình ngâm lục (Thơ đi sứ họ Phan). Cả tập thơ gồm 116 bài, trong đó có 7 bài thơ đầu giống hệt 7 bài thơ đầu trong tập Sứ trình tạp vịnh như đã nói trên. Nếu so sánh hai văn bản Hoa trình tạp vịnh và Sứ trình tạp vịnh, chúng ta có thể nhận thấy:
Điểm giống nhau: Cả hai văn bản đều là sách chép tay trên giấy bản, chữ viết đẹp đá thảo. Từ bài số 1 đến bài số 7 của cả hai tập thơ đều trùng nhau, ngoại trừ một vài chữ dùng khác nhau.
Điểm khác nhau: Về hình thức khác nhau về kích cỡ, chất giấy. Nếu Hoa trình tạp vịnh viết trên giấy bản thô, thì Sứ trình tạp vịnh được viết trên giấy bản mỏng mịn. Về nội dung: Bài thơ thứ 7 ở tập Sứ trình tạp vịnh là Hoa Sơn binh mã chỉ chép được 3 câu thơ đầu, thì ở tập Hoa trình tạp vịnh chép đủ cả 8 câu thơ. Từ bài thứ 8 trong tập Sứ trình tạp vịnh đến bài 21 là phần thơ tạp vịnh với nội dung không liên quan trực tiếp đến chuyến đi sứ của Phan Huy Thực. Từ bài thứ 8 đến bài thứ 116 trong Hoa trình tạp vịnh có nội dung đi sứ với phần nguyên dẫn tỉ mỉ, chính xác đến từng ngày giờ và các hoạt động của sứ bộ. Từ đó chúng tôi đi đến nhận xét rằng:
- Văn bản Sứ trình tạp vịnh cung cấp cho chúng ta thông tin về thời gian đi sứ của Phan Huy Thực là “Ngày lành, tháng trọng xuân năm Đinh Sửu niên hiệu Gia Long 16 (1817)”, và số lượng tập thơ là 150 bài. Đây là hai thông tin quan trọng về thời gian đi sứ và số lượng tập thơ; đó cũng chính là những dữ kiện chính xác về sự kiện và thời gian đi sứ của Phan Huy Thực được ghi rõ trong các sách Phan gia công phả, Đại Nam liệt truyện và cũng được Trần Văn Giáp chép trong Lược truyện các tác gia Việt Nam, Nguyễn Văn Siêu khẳng định trong minh văn Thượng thư Phan Khuê Nhạc thần đạo minh, soạn năm Tự Đức 18 (1865). Về số lượng thơ đi sứ chép trong Sứ trình tạp vịnh quá ít so với số bài thơ Phan Huy Thực làm khi đi sứ; nhưng văn bản này lại có lời bạt của Phan Huy Chú khẳng định giá trị tập thơ mà văn bản Hoa trình tạp vịnh không có. Văn bản Sứ trình tạp vịnh viết nhiều chữ kiêng húy đời Nguyễn, nhưng không tuân thủ qui cách nhất quán; như các chữ “Hoa” ( ) viết thiếu nét trong các bài thơ Bái mệnh cung kỉ, Mạc phủ đạo trung, Đông dạ ki hoài; chữ “Miên” ( ), chữ “Thời” ( ) viết đổi vị trí bộ thủ, hay viết thành chữ “Thì” (辰). Hai chữ “Hoa, Miên” qui định kiêng húy thời Thiệu Trị (1841-1847), trong đó chữ “Hoa” kiêng húy tên mẹ vua Thiệu Trị là Thuận Đức Nhân Hoàng Hậu, còn chữ “Miên” là chữ kị húy vua Thiệu Trị. Chữ “Thời, Thì” kiêng húy tên vua Tự Đức. Lại có bài thơ không viết kị húy chữ “Hoa” (花) như trong bài thơ Hoa Sơn binh mã; chứng tỏ văn bản được chép sau khi Phan Huy Thực đã mất (1846), tức sau năm Thiệu Trị và Tự Đức khá xa.
Qua đối chiếu so sánh giữa hai văn bản Hoa trình tạp vịnh và Sứ trình tạp vịnh, chúng ta thấy hai văn bản này có mối liên quan với nhau chặt chẽ, bổ sung thông tin cho nhau để tạo nên dung mạo gần sát thực với tập thơ Hoa thiều tạp vịnh mà cả hai văn bản Sứ trình tạp vịnh và Hoa trình tạp vịnh đều là dị bản của nó. Vậy văn bản Hoa trình tạp vịnh có số bài thơ tương đối khớp với số bài thơ đi sứ của Phan Huy Thực; lại còn mang đầy đủ đặc điểm: kỉ sự, tả cảnh, tả tình, vịnh sử... của các nhà thơ đi sứ khác trong dòng họ Phan Huy. Chính vì thế, chúng tôi chọn Hoa trình tạp vịnh để dịch và giới thiệu. Tính từ Phan Huy ích với tập Tinh sà kỉ hành, Phan Huy Chú với tập Hoa Thiều ngâm lục; Phan Huy Vịnh với tập Như Thanh sứ trình đến Phan Huy Thực với tập Hoa trình tạp vịnh thì dòng họ Phan Huy đã làm nên một dòng thơ kỉ sự tiêu biểu trong thể loại thơ đi sứ Việt Nam. Đọc các tập thơ đó, người ta có thể hình dung được từng chi tiết của các chuyến đi sứ, các nghi lễ ngoại giao, phong cảnh thiên nhiên, những con người đã gặp, những di tích lịch sử, nhân vật lịch sử cùng tâm sự của các tác giả về tình cảm nhớ nước thương nhà, niềm tự hào dân tộc, tinh thần hòa hiếu với các dân tộc láng giềng.
Giá trị của tập thơ Hoa trình tạp vịnh
Hoa trình tạp vịnh, có nghĩa là những bài thơ vịnh trên đường đi sứ sang Trung Hoa. Các sứ giả nước ta thời xưa khi đi sứ, ngoài việc gánh nặng sứ mệnh của đất nước, còn phải vượt qua bao khó khăn vất vả trên đường đi. Khi đọc tập Hoa trình tạp vịnh, chúng ta sẽ bị cuốn hút không những bởi lời thơ hay ý đẹp, những câu thơ chắt lọc, trau chuốt; mà còn vì những chi tiết trong chuyến đi sứ, với những cảnh sắc trên đường, những diễn biến tư tưởng trong nhận thức về cuộc đời và con người được phản ánh qua từng bài thơ.
Thơ tả cảnh chiếm vị trí chủ yếu trong toàn bộ tập Hoa trình tạp vịnh. Đó là những bài thơ miêu tả cảnh vật, những điều “kiến văn” trên đường đi, để vừa làm công việc ghi chép của một cây bút ký sự, vừa làm công việc của một thi nhân; việc ghi chép có tính chất bút ký thông qua cảm quan của nhà thơ nên không hề giảm chất thơ. Khi đi đường bộ, vượt qua bao nhiêu suối khe, vách núi gian lao vất vả qua bài Mạc phủ đạo trung:
“Miên mạo khê nham hành lộ nan,
Nham vân khê thảo tống chinh an...
... Dục bằng thắng thưởng tiêu ly tứ,
Vị kiến phồn hoa chỉ kiến san.”
(Suối khe vách núi dằng dặc, đường đi khó khăn,
Mây núi cỏ khe đưa tiễn người khách đi xa...
... Muốn ngắm nhìn phong cảnh để tiêu bớt nỗi niềm ly biệt,
[Đi mãi] chẳng thấy cảnh phồn hoa, chỉ thấy toàn là núi non).
Lúc đi đường thủy, vượt qua ghềnh thác hiểm trở, tính mạng luôn bị đe dọa trong bài Kinh ngũ hiểm than:
“Liên lạc giang tâm trĩ thạch căn,
Tiêu sam chướng khí thổ hoàn thôn...
... Chinh khả loạn tụy phong thế cấp,
ám ki nộ kích lãng hoa phiên...”
(Đá dựng dăng dăng liên tiếp giữa lòng sông,
Hơi nước mịt mù, khi tan khi tụ...
... Thuyền trôi ngoắt ngéo theo chiều gió mạnh,
Đá ngầm giận dữ tung lên những đợt sóng hoa...)
Qua sông Hoàng Hà, ghé lầu Hoàng Hạc, lầu Nhạc Dương; dong thuyền trên hồ Động Đình, đến Kinh đô nước người làm công việc bang giao. Tiếp xúc với ai, tác giả đều làm thơ và ghi thêm những dòng nguyên dẫn khá tỉ mỉ; điều đó đã giúp cho người đọc khi xem nguyên bản cảm thấy hào hứng thú vị như đang thưởng thức một áng văn du kí. Với bài Phiếm Động Đình hồ (Bơi thuyền chơi trên hồ Động Đình) như sau:
“Tứ cố xuyên nguyên tổng nạp tàng,
Uông hàm hải lượng nhất mang mang.
Thu trừng bích thủy liên thanh thảo,
Ngạn dũng thương ba hám Nhạc Dương.
Chí chính đại phu nhàn thác hứng, (a)
Lãng ngâm tiên tử khoái phi tường. (b)
ỷ bồng biến lãm Kinh Ngô giới,
Phú vịnh không tàm lão Đỗ chương.
(Nguyên dẫn: Khoảng giờ Thìn ngày 16, Sứ bộ đến yết cáo ở miếu thờ thần hồ Động Đình; chèo thuyền đi qua bãi Thanh Thảo vào Động Đình. Sau giờ Mùi đến đình Hồi Phong, buộc thuyền bên cạnh bãi trong hồ. Sáng sớm ngày hôm sau, dong buồm thuận gió. Giờ Tị thì đến bến Nhạc Châu.
Nguyên chú:
(a) Đại phu thời Ngô Việt là Phạm Lãi bơi thuyền chơi Ngũ Hồ; nay trong hồ còn có trạm dịch Lộc Giác, tương truyền là di tích ngôi nhà cũ của Đào Chu công (tức Phạm Lãi).
(b) Lã Thuần Dương(2) ba lần say, người Nhạc Dương không biết câu thơ: “Ngâm vang lên khi bay qua hồ Động Đình”.
(Nhìn bốn phía, nơi này như chứa nước của mọi nguồn sông,
Sông nước mênh mông, vô tận như biển cả.
Nước biếc trong veo, trời thu tiếp liền với cỏ xanh,
Sóng xanh vỗ bờ, như lay động Nhạc Dương.
Xong hết việc nước, vị đại phu nhàn nhã mặc cho cảm hứng đến.
Người tiên ngâm vang lên, để thuyền lướt đi như bay.
Tựa mái thuyền nhìn khắp cõi Kinh Ngô,
Làm thơ vịnh cũng chỉ thẹn với ông già họ Đỗ(3).)
Cũng thuộc loại thơ miêu tả cảnh vật nhưng chân thực mà chất lượng, không hề thua kém những bài thơ tả tình sâu lắng; trên đường đi sứ qua Lạng Sơn, những người trong dòng họ Phan Huy không ai là không vào thăm động Nhị Thanh, nơi Ngô Thì Sĩ từng làm Hiệp trấn tại đây. Phan Huy Thực cũng vậy, tự hào với truyền thống thi thư của dòng họ, trong bài Yết Nhị Thanh động, ông viết:
“Trùng sơn liễu nhiễu ủng thanh phiên,
Thập cấp sơn yêu kiến động môn.
Đại tạo hà niên chung lệ cảnh,
Chí nhân thử địa thực linh căn,
Thiên thu hất hưởng chân dung tại,
Nhất mạch văn chương thế ấm tồn...”
(Núi lớp lớp bao quanh như nâng rào xanh che chắn,
Leo lên mười bậc thang nơi sườn núi là nhìn thấy cửa động.
Tạo hóa từ bao giờ đã chung đúc nên cảnh đẹp này,
Bậc chí nhân đã đến nơi đây trồng cây linh phúc.
Nghìn năm hương khói nghi ngút, dáng người còn mãi,
Một mạch văn chương còn để lại cho đời...)
Động Nhị Thanh, một thắng cảnh gây nhiều cảm xúc sâu sắc đối với con cháu dòng họ Phan Huy; một cảnh đẹp thiên nhiên có bàn tay gia công tu tạo của Ngô Thì Sĩ. Thăm cảnh nhớ người, dải núi có dấu tích của ông ngoại như không còn là ngọn núi bình thường nữa mà trở thành nơi “trồng cây linh phúc” cho đời.
Đi sứ, trong cảnh ngựa xe dập dìu, giao tiếp ồn ã. Tuy thế, con người Phan Huy Thực trong những ngày công cán ấy; phần nhà ngoại giao không hề lấn phần nhà thơ, ông vẫn dành nhiều thời gian tĩnh lặng để chiêm nghiệm những biến đổi của ngoại cảnh, khơi gợi thế giới tình hoài sâu sắc. Cái tình hoài da diết bộc lộ trong “Hoa trình” là tình yêu nỗi nhớ nước nhớ nhà. Tâm sự đó được thể hiện qua nhiều bài thơ có các từ “Dạ” (đêm), “Vãn” (chiều). Thống kê lại, ta thấy trong cả tập thơ đi sứ của Phan Huy Thực có đến 8 bài thơ nói về cảnh chiều và đêm. Khi màn đêm buông xuống, cảnh náo nhiệt ban ngày dường như đã lùi xa; chỉ còn lại một mình đối diện với chính mình. Đây là lúc bộc lộ những tâm sự thầm kín, là dịp nói lên những tình cảm chân thành, không bị gò bó, khuôn sáo. Bài Dạ tọa (Ngồi trong đêm) có đoạn viết:
“... Đường tốt châu đăng hành phát pháo,
Thi nhân minh nguyệt tọa văn chiêm.
Phong ai vũ mấn tha hương khách,
Đao xích không khuê thử dạ tâm...”
(... Lúc lên đèn, quân lính bắn pháo hiệu,
Dưới ánh trăng, nhà thơ ngồi nghe tiếng chày giặt áo.
Gió mưa bụi trần bám đầy tóc mai người khách xa quê,
Dao cắt bấc, thước may nơi khuê phòng trống trải như thấu nỗi lòng đêm nay...)
Hay trong bài Tiêu Tương giang vãn phiếm (Buổi chiều buông thuyền trên sông Tiêu Tương), cũng có đoạn:
“...Tam kỳ hảo diểu hợp Tiêu Tương,
Thái xúc lăng ba phiếm tịch dương.
Tà ỷ bồng song ngưng viện cửu,
Thiên biên qui cách điểm văn chương.”
(... Ngã ba sông mênh mông là nơi hợp dòng của sông Tiêu sông Tương,
Những màu sắc rực rỡ dỡn đùa sóng nước dập dờn lúc hoàng hôn,
Bên trời loáng thoáng những cánh chim bay về, gợi hứng văn chương.)
Âm thanh huyên náo của các nghi thức tiếp đón, tiễn đưa trên đường đi sứ không làm khuây khỏa được nỗi u trầm nhớ thương trong lòng người sứ giả xa nhà khi chiều buông, những lúc đêm dài thanh vắng đối diện với chính mình. Mặc dù cảnh sắc nơi ngã ba sông Tiêu Tương lúc hoàng hôn thật êm đềm, nhưng vẫn không ngăn được tâm hồn tác giả mong được làm cánh chim bay về nơi chân trời xa thẳm, nơi có quê hương xứ sở thân yêu của mình. Tuy mang trọng trách của quốc gia, dù vướng bận nhiều công việc thù đáp với nước người, Phan Huy Thực vẫn giành thời gian và tình cảm cho những người thân và gia đình. Đây là tình cảm đặc biệt của tác giả, và chính vì tình cảm ấy đã khơi dậy thi hứng trong con người ông. Nhớ đến ngày giỗ mẹ, ông giãi bày trong bài thơ Tiên tỷ húy thời dạ tọa cảm tác (Cảm tác trong đêm giỗ mẹ), một nỗi cảm hoài man mác:
“... Từ vĩ gian lao thập thất phiên,
Chỉ kim huyết lạc ngũ chi tồn.
Tổng chi thù đáp vô trần trích,
Thẩn thị khuê ly trướng tảo phiền...
... Gia sơn hồi diến nam vân diểu,
Độc ỷ thuyền song thức lệ ngân.”
(... Người mẹ từng sinh nở mười bảy lần vất vả,
Đến nay chỉ còn lại năm anh em.
Tất cả các con muốn báo đền ơn mẹ, nhưng chẳng được mảy may,
Huống chi trong cảnh xa cách, không chút rau dưa dâng lên.
... Quay về ngóng nhìn ngọn núi quê nhà, chỉ thấy mây phương nam xa tắp,
Một mình tựa cửa bên thuyền, thầm gạt dấu lệ rơi).
Lúc này, những thủ tục bang giao, những đón chào thù ứng nơi đất khách quê người như mờ đi hết, chỉ còn lại một con thuyền, một người con xa nhà, xa quê ngồi thao thức suốt đêm trong ngày giỗ mẹ. Hình bóng người mẹ xa xôi, nhập vào làm một với hình bóng “Gia sơn” (Núi nhà) tức núi Thầy, phủ Quốc. Tấm lòng hiếu thảo đối với cha mẹ của Phan Huy Thực cũng chính là nếp gia phong của dòng họ Phan Huy. Phan Huy Chú trong tập Hoa Thiều ngâm lục cũng có bài thơ Tiên tỷ húy nhật cảm hoài (Cảm hoài ngày giỗ mẹ). Với một tình cảm hết sức đằm thắm thiết tha:
“... Đâu suối sông quê mà khóc mẹ,
Đây sương gió lạ lạnh ghê người.
Thuyền đêm một nén hương cô độc,
Buồn ngóng non nhà cách dặm khơi….(4)”
Ngoài đề tài tả cảnh, tả tình; trong tập Hoa trình tạp vịnh còn có một đề tài chiếm số lượng lớn trong cả tập thơ là đề tài vịnh sử. Có đến hơn 30 nhân vật lịch sử được đề cập đến trong tập thơ đi sứ này. Họ đều là những nhân vật nổi tiếng, những người tài năng về chính trị, giỏi về học thuật; không chỉ vậy số phận của họ phần lớn đều kết thúc thật bi kịch. Phan Huy Thực đã viết về họ với một mối cảm thương sâu xa.
Qua núi Hoa Sơn, gợi nhớ Hoàng Sào, vị đầu lĩnh của quân khởi nghĩa thời Đường Hy Tông, tác giả viết:
“Tuấn bích lăng tằng vạn nhẫn cao,
Thiên thu di tích thuyết Hoàng Sào.
... Kim Thống thị phi đương sử bút,
Thạch đồ nghi tín nhận lâm sao.
Du du vãng sự bằng thùy hội,
Sơn tự vô ngôn phong tự hào.”
(Vách núi chót vót cao vạn nhẫn,
Di tích ngàn năm như kể về chuyện Hoàng Sào.
... Triều đại Kim Thống đúng sai, đã có sử gia đương thời ghi chép,
Bức tranh đá nửa tin nửa ngờ nhận qua ngọn cây rừng.
Chuyện cũ đã qua lâu rồi, biết hỏi ai cho rõ được,
Núi vẫn lặng im, chỉ có tiếng gió gào mà thôi.)
Đến Ngô Châu, Viếng ba liệt nữ nhà họ Lưu; ca ngợi khí tiết của họ, khiến bao kẻ mày râu đi qua đều tự thấy xấu hổ:
“Băng ngọc trinh tâm nghĩa tự trì,
Nhất môn tam liệt tối hy kì...
Chung cổ tinh linh lưu thủy quốc,
Bách niên tính tự phó đài bi...
... Vãng lai vô hạn tu mi khách,
Đa thiểu môn tâm quí nữ nhi.”
(Tấm lòng trinh tiết trong trắng, tự giữ tiết nghĩa,
Một nhà có ba liệt nữ thì thật hiếm có lạ lùng...
... Tinh thần từ xưa vẫn lưu lại nơi sông nước,
Tên tuổi mãi còn phó thác cho tấm bia rêu.
Biết bao khách mày râu qua lại nơi đây,
Liệu có mấy người tự thấy xấu hổ với mấy nàng nhi nữ ?).
Qua đất Quế Lâm, nơi có nhiều cảnh đẹp gắn liền với biết bao tên tuổi các vị tướng tài ba nổi tiếng như Gia Cát, Việt Vương, Phục Ba... ông cũng viết nên những dòng thơ cảm khái, thể hiện trong bài Việt Vương thành:
“Hà địa cung thành ấn lục đài,
Tương truyền Việt đại cựu di lai.
Viên dung lưu củng phiên đài tráng,
Cơ chỉ giao thành thí viện khai...
... Suy di nhân sự hoàn như thử,
Phù thế du du nhất trướng hoài.”
(Thành quách cung thất ở nơi nào, chỉ thấy in ngấn rêu xanh,
Tương truyền đó là di chỉ cũ của vua Việt Vương.
Tường thành còn lưu lại, có đài canh làm phên dậu hùng tráng bao quanh,
Nơi nền cũ đã trở thành viện sở để mở khoa thi....
... Suy ra, việc người cũng giống như vậy,
Đời người phù du, dằng dặc một nỗi buồn).
Qua đất Hứa thăm miếu Quan Thánh, nơi trước đây Quan Vân Trường từng bị bắt giam cùng hai phu nhân của Lưu Bị, (đây là mưu kế thử thách lòng trung trinh của Quan Vũ đối với Lưu Bị của Tào Tháo. Không những Quan Vũ không theo mà vượt qua năm cửa ải, chém đầu sáu tướng giặc về với Lưu Bị). Trong bài Hứa thành Quan Thánh miếu (Miếu thờ Quan Thánh ở thành Hứa), Phan Huy Thực cũng không ngớt thán phục, ngợi ca:
“... Bỉnh chúc bất phương song tẩu tại,
Phong kim thùy cấm ngũ quan hành.
Vĩ nhân tâm sự chân vô quí,
Lão tặc gian mưu ám tự ki.
Thiên tải Hứa đô di tích diểu,
Dương dương miếu tự úc linh thanh.”
(... Việc cầm đuốc là cốt để không làm phương hại đến sự có mặt của hai chị dâu,
Gói vàng lại, ai cấm nổi cuộc đi qua năm cửa ải.
Việc làm và tấm lòng của bậc vĩ nhân thật không hổ thẹn,
Mưu mô gian trá của tên giặc già tự mình cảm thấy ghê sợ.
Di tích Hứa đô trải ngàn năm đã mờ mịt,
Riêng ngôi miếu thờ vẫn rờ rỡ tiếng linh thiêng).
Rồi qua đất Vĩnh Xuyên, nhớ Liễu Tử Hậu tức Liễu Tông Nguyên. Đến Lỗi Dương nhớ Đỗ Phủ. Thăm đền thờ Tam Lư đại phu Khuất Nguyên...
Một đề tài mới mẻ trong thơ đi sứ của Phan Huy Thực là tình hòa hiếu dân
tộc. Để củng cố quan hệ với triều đình phương Bắc, sau khi lên ngôi Gia Long có cử đoàn sứ bộ sang Thanh để cống nạp và chúc thọ Thanh Nhân Tông. Đây là công việc hết sức trọng yếu, quan hệ tới việc duy trì và phát triển tình hòa hiếu, giao lưu hữu hảo giữa hai nước, tạo điều kiện củng cố và bảo vệ nền độc lập tự chủ của đất nước. Vì thế, trong nhiều bài thơ Phan Huy Thực còn gửi gắm cảm xúc của mình vào việc xướng họa, thù đáp với những nhân vật quan trọng ở đất Trung Nguyên, như khi ông làm thơ Thù biệt Lễ bộ Tự ban Lý Duy Thuần (Thơ từ biệt ông Tự ban Lý Duy Thuần ở bộ Lễ):
“... Minh đường tảo phụng chỉ Nam xa,
Luyến khách như quân diệc khổng gia.
Trân trọng văn tài cần chỉ lệ,
Vân cù thản bộ xuyết xuân hoa.”
(... Nơi minh đường một sớm phụng mệnh trở về phương Nam,
Mến khách như ông thật là quí hóa.
Chút văn tài được trân trọng, là do gắng công học tập,
Thanh thản bước trên đường mây hứng nhặt lấy hoa xuân).
Hay trong bài Họa đáp văn nhân Đường Tổ Hướng (Thơ đáp lại nhà thơ Đường Tổ Hướng), có những câu thơ hay, khiến người đọc thấy được cái tình của tác giả:
“... Tương kỳ hậu hội ngư đa viễn,
Xuân đáo trùng yêu Nam quốc nhân.”
(... Kỳ hẹn nhau sau chuyến hội ngộ đã xa cách,
Mùa xuân đến lại mời tiếp người khách phương Nam).
Kết luận
Tập thơ Hoa trình tạp vịnh được Phan Huy Thực sáng tác bằng các chủ đề quen thuộc, như cảnh sắc trên đường đi sứ, vịnh đề các di tích lịch sử, nhân vật lịch sử; nhưng những bài thơ của ông lại tràn đầy cảm xúc trong sáng, tươi mới khác lạ về tình yêu nước thương nhà, cùng những âm hưởng tự hào trong sáng, thanh cao mà hồn hậu rất riêng của mình. Người đọc cảm thấy hào hứng như được đồng hành cùng ông trên con đường vạn dặm đó. Có thể nói Hoa trình tạp vịnh của Phan Huy Thực là những vần thơ hay, mang tính thẩm mĩ cao, nội dung lại khá phong phú, giầu lòng vị tha “lời thơ đã không bỏ qua cái cốt cách của người xưa, mà ý tứ lại phiêu dật, cách điệu ôn nhã. So với các nhà thơ danh tiếng cũng đâu có chịu kém” (Phan Huy Chú - Sứ trình tạp vịnh bạt). Thơ đi sứ của Phan Huy Thực nói riêng và của nhiều sứ giả - nhà thơ Việt Nam khác trong lịch sử bang giao với phương Bắc nói chung, mãi mãi là tấm lòng nhân ái, tâm hồn và trí tuệ Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh và bảo vệ đất nước của dân tộc.
H.T.Q
CHÚ THÍCH
(1) Thơ Ngự đề: Xem Luận án Thạc sĩ khoa học ngữ văn: Phan Huy Thực, con người và sự nghiệp thơ văn. Viện Nghiên cứu Hán Nôm, H. 1998, tr.24.
(2) Lã Thuần Dương: tức Lã Động Tân, một đạo sĩ nổi tiếng cuối thời Đường.
(3) Ông già họ Đỗ: tức Đỗ Phủ, nhà thơ nổi tiếng thời Đường.
(4) Xem Phan Huy Chú và dòng văn Phan Huy. Sở VHTT. Hà Sơn Bình, 1983./.
|