TB

VẤN ĐỀ SƯU TẦM VÀ BẢO QUẢN
DI SẢN HÁN NÔM

VŨ KHIÊU

Lịch sử đang đặt lên vai chúng ta một trách nhiệm thiêng liêng mà chúng ta phải gánh chịu trước tổ tiên từ hàng ngàn năm, trước đồng bào cả nước hôm nay, trước con cháu mãi mãi sau này. Đó là vấn đề làm thế nào gìn giữ, khai thác và giới thiệu di sản cực kì quý báu của dân tộc ta trong kho sách Hán Nôm. Đây không chỉ là những cổ vật bằng giấy mực, mà là bằng huyết hãn của cha ông, là nỗi lòng mà cha ông gửi gắm, là lối sống mà cha ông dặn dò, là kinh nghiệm xương máu từ bao đời dựng nước và giữ nước. Dù kẻ địch đã bao lần cướp phá, và thiên tai đã bao lần huỷ hoại, những báu vật này vẫn được nhân dân ta từ bao đời quý trọng như máu thịt của mình để trân trọng đời trước, giữ lại đời sau. Ngày nay, nếu như những báu vt ấy đến thời đại chúng ta lại bị rẻ rúng và thất tán, thì đó là một thất tán, thì đó là một thiếu xót to lớn mà lịch sử không thể không lên án. Ta nghĩ rằng đó là nỗi lo âu mà đông đảo đồng bào đang cùng chia sẻ với chúng ta. Hơn ba năm thi hành Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng, Viện nghiên cứu Hán Nôm đã sưu tầm và thu thập được khá nhiều tư liệu. Tuy nhiên tài sản quý báu này vẫn còn nằm rải rách trong dân gian, trong các đoàn thể, cơ quan Nhà nước và cả nước ngoài nữa.

Tình trạng tư liệu Hán Nôm còn phân tán trên mọi miền như thế đã tạo ra sự chia cắt giữa tư liệu và người nghiên cứu. Người có tư liệu không có điều kiện khai thác đã để sức sống của dân tộc hàng ngàn năm trong các tư liệu đó trở thành một mớ giấy vụn trong tủ. Ngược lại, cán bộ nghiên cứu vì thiếu tư liệu đã bị hạn chế rất nhiều khi đánh giá lịch sử và luận chứng khoa học. Cho nên vấn đề sưu tầm và tập trung tư liệu vào Viện Nghiên cứu Hán Nôm không chỉ đơn giản là chuyển tư liệu ấy từ nơi này sang nơi khác, mà chính là tổ chức việc bảo quản và khai thác tư liệu ấy.

Chúng ta đang chứng kiến những hiện tượng rất đáng đau lòng là nhiều tư liệu vẫn bị đem làm giấy quạt, phất diều, làm đồ tuỳ táng, làm khuôn đúc nồi, làm trần nhà; khá nhiều bia đá bị đem làm cối, làm cái kê cột nhà, làm vật liệu lát đường… Tài sản vô giá này của đất nước đang tiếp tục bị tan biến đi trước con mắt của chính chúng ta.

Hiện nay có rất nhiều người nắm giữ tư liệu Hán Nôm, song không muốn trao cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm những tư liệu ấy. Có người sợ chúng ta không bảo quản nổi để mất mát những di vật quý báu của họ. Có người cần nghiên cứu nên giữ sách lại làm của riêng mình. Có người giữ sách chỉ để trang trí. Cũng có một số người coi tư liệu Hán Nôm như giá trị hàng hoá có thể đem buôn bán kiếm lời.

Tình hình nói trên đòi hỏi chúng ta bàn bạc để có những chính sách, biện pháp và hình thức thích hợp để sưu tầm đầy đủ các sách Hán Nôm cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Sưu tầm không phải là mục đích tự thân. Song sưu tầm chỉ có ý nghĩa khi nó phục vụ cho một mục đích cao hơn. Sưu tầm chỉ là điều kiện đầu tiên cho việc sử lý, nghiên cứu và khai thác những di sản ấy. Có sưu tầm và tập trung lại các sách cũ của cha ông, chúng ta, chúng ta mới có thể đối chiếu, cân nhắc chọn lựa và mới xác định được tính chính xác của từng câu, từng chữ, để từ đó giới thiệu với độc giả những văn bản đáng tin cậy nhất.

Đây là công việc quan trọng bậc nhất mà Viện Nghiên cứu Hán Nôm đang gánh vác với một đôi ngũ cộng tác viên ở rải ra trên toàn quốc. Hầu hết các học giả uyên thâm về cổ học đã cộng tác với Viện Nghiên cứu Hán Nôm và có những đóng góp to lớn vào việc khai thác và nghiên cứu di sản văn hoá của dân tộc. Mới đây, một học giả uyên bác cụ Cao Xuân Huy qua đời đã để lại một tổn thất lớn cho công tác nghiên cứu khoa học. Một sự thật đau xót là vốn quý này của dân tộc cứ ngày một hao mòn. Điều đó càng nhắc nhở đội ngũ trẻ tuổi của chúng ta càng phải nhanh chóng vươn lên và càng nhắc nhở việc sưu tầm cần được tiến hành gấp rút hơn nữa.

Viện Nghiên cứu Hán Nôm sưu tầm sách cũ không phải như sưu tầm những đổ cổ để triển lãm và thưởng ngoạn, mà chính là phát huy sức mạnh tinh thần và văn hoá của cha ông để trực tiếp phục vụ cho sự nghiệp cách mạng ngày nay.

Chính với ý nghĩa đó, tôi xin chúc cho công tác sưu tầm của chúng ta nhanh chóng đạt được những kết quả tốt đẹp.

TB

SƯU TẦM BẢO VỆ THƯ TỊCH HÁN NÔM

TRẦN NGHĨA

1. Kho sách Hán Nôm của ta.

Trong những di sản do tổ tiên để lại, kho thư tịch Hán Nôm có một bộ mặt riêng, một vị thế riêng, một tầm quan trọng riêng.

Ra đời chủ yếu từ 1945 trở về trước, kho thư tịch Hán Nôm bao gồm các sánh và tài liệu ghi bằng chữ Hán, Chữ Nôm, hoặc kết hợp cả Hán lẫn Nôm, trên giấy, trên vải,trên gỗ, trên đá, trên đồ đồng, đồ sứ, đồ gốm, gạch, ngói, phim, kính… Sách, khoảng 15000 cuốn, chia ra làm các loại: Hán, Nôm Hán - Nôm (Nếu lấy mặt chữ làm tiêu chuẩn); kinh, sử, tử, tập, phật, đạo, thần sắc, thần tích, thần phả, tộc phả, gia phả, tục lệ, địa bạ, địa chí, cổ chí, xã chí… (Nếu lấy nội dung làm tiêu chuẩn). Tài liệu còn nhiều hơn thế nữa, với trên 30.000 đơn vị, gồm phim, kính, ảnh, vi phim, bản rập lại các bài văn bản bản khắc trên bia đá, chuông đồng, khánh đá, cột mốc, biến gỗ…

Số sách và tài liệu này đến tay chúng ta thật không dễ. Nó đã qua nhiều lần hao hớt, mất mát do bảo vệ, cất giữ chưa tốt cũng có, do chiến tranh huỷ hoại cũng có, đặc biệt là do kẻ thù tìm mọi cách đốt sạch, cướp sạch, phá sạch, nhằm phục vụ cho các ý đồ chính trị, văn hoá thâm hiểm của chúng. Lấy việc phong kiến Trung Quốc phá hoại sách vở của chúng ta làm thí dụ. Mọi người còn nhớ, hồi đầu thế kỉ XV, lúc Chu Năng, một viên tướng viễn chinh của Trung Quốc sắp mang quân vào xâm lược nước ta, chính quyền nhà Minh trong một mật dụ đề ngày 21- 8- 1406 từng ra lệnh: “Khi quân vào nước họ, trừ số ván khắc và sách in về đạo Phật, đạo lão ra, còn thì tất thảy sách vở, văn tự, kể cả những sách học thông thường kiểu “Thượng đại nhân, Khâu Ất Kỷ”(1) đều phải đốt sạch, dù là một mẩu giấy, một chữ viết. Trong nước họ, phàm những di tích lịch sử nào mà Trung Quốc có lập bia thì hãy giữ lại, còn nếu là bia do An Nam dựng lên thì phải phá huỷ cho kì hết, không để lại một mảnh nào”(2). ít lâu sau, nhận thấy mệnh lệnh trên đây chưa được chấp hành ráo riết, chính quyền nhà Minh lại gửi tiếp cho chân tay họ tại Đông Quan (Hà Nội) một mật dụ nữa đề ngày 16-5-1407, lời lẽ như sau: “Nhiều lần đã bảo các ngươi rằng tất thảy sách vở văn tự của An Nam, kể cả những sách học thông thường của trẻ con kiểu “Thượng đại nhân, Khâu ất Kỷ”, dù là một mẩu giấy, một chữ viết cùng những tấm bia do người địa phương dựng lên, hễ thấy thì phải phá hủy ngay, đừng để lại. Nay nghe nói trong quân đội mỗi khi thu được sách vở không những không ra lệnh đốt ngay, mà còn chọn để xem mà còn chọn để xem rồi sau đó mới đốt. Vả, quân lính phần đông không biết chữ, nếu ai ai cũng làm như vậy thì việc chuyển từ người này sang người khác sẽ để thất lạc đi nhiều. Các ngươi nay phải theo đúng tinh thần sắc dụ trước, ra lệnh cho quân lính bên ấy hễ gặp sách vở là đem đốt ngay không được lưu giữ”(3). Cần phải nói thêm là những chỉ thị thuộc loại tuyệt mật này về sau được lệnh thu hồi và trao lại cho Minh Thành Tổ, vì sợ nếu để rơi vào tay người bản xứ sẽ“ bất tiện” biết bao! Những sách vở, tài liệu nào còn sống sót qua cơn huỷ diệt này, lại tiếp tục bị một viên tướng viễn chinh khác của nhà Minh là Trương Phụ thu vét đưa về Kim Lăng (Nam Kinh)(4), thực hiện đến cùng điều mà bọn theo địa chủ bành trướng phương Bắc hằng tâm niệm: xoá cho bằng hết nền văn hiến của dân tộc ta.

Cũng may mà sau những lần sách vở gặp tai ách như vậy, nhân dân ta đã tìm mọi cách phục hồi. Lê Thánh Tông, đầu năm Quang Thuận (1460- 1469), với cương vị một người đứng đầu một nước, đã ra lệnh tìm kiếm các cuốn sử tư nhân và các truyện kí cổ kim còn sót lại nộp lên cho ông xem. Khoảng đến năm Hồng đức (1470-1497), ông một lần nữa xuống chiếu sưu tầm những sách còn cất giữ trong dân gian đưa về kho Nhà nước. Vào dịp này, có người đem dâng những sách lạ, sách “bí truyền”, được ông hậu thưởng. Ngoài Lê Thánh Tông, một số nhà bác học, hiếu cổ khác như Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Phan Phu Tiên, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Dương Bá Cung, Cao Xuân Dục… đều là những điển hình đáng ca ngợi về sự nỗ lực bảo vệ sưu tầm di sản thư tịch của ông cha. Nếu không có những khối óc lớn, những con tim nhiệt thành, những tầm nhìn xa rộng như thế thì ngày nay chúng ta biết lấy gì làm bằng chứng cho nền văn minh lâu đời của dân tộc, lấy gì để thuyết minh cho mấy nghìn năm văn hiến của dân tộc ta? Cái công chắt chiu, tích góp, gìn giữ sách Hán Nôm của người xưa từ đời này qua đời khác trước khi trao lại cho thế hệ chúng ta ở đây thật lớn lắm, sâu nặng lắm, nói sao cho hết được.

Bên cạnh công lao đóng góp của các cá nhân, sự đồ sộ về khối lượng và phong phú về chủng loại của di sản Hán Nôm còn gắn liền với sự có mặt của nhiều kho sách, nhiều công việc công cũng như tư trên đất nước ta từ thời Lý - Trần cho đến cuối triều Nguyễn. Chỉ riêng vài thế kỉ gần đây thôi, đã có những kho sách, thư viện công nổi tiếng như Tụ Khuê thư viện (thư viện Hoàng gia, lập đời Minh Mệnh), sử quán thủ sách (lập vào đời Thiệu Trị), Tập Hiền viện (lập vào đời Tự Đức), Tàng thư lâu (lập vào đời Thành Thái), Nội các thủ sách, Tân thư thủ sách (lập vào đời Duy Tân), Cổ học viện thư tịch thủ sách (lập vào thời Khải Định), Thư viện Bảo Đại (1933- 1945). Thư viện tư nhân được nhiều người nhắc đến có Hoàng Lê tứ khố, Hoàng Nguyễn tứ khố, thư viện gia đình Lê Quý Đôn (Thái Bình), thư viện gia đình Nguyễn Mậu Kiến (Thái Bình), thư viện gia đình Cao Xuân Dục (Nghệ An)… Mỗi thư viện thực sự là một trung tâm thu hút và bảo quản sách vở Hán Nôm thời trước.

Không những đồ sộ về khối lượng và phong phú về chủng loại, kho thư tịch Hán Nôm của ta còn đáng được chú ý bởi vị trí và tầm quan trọng của nó.

Chắc chắn nhiều ngành khoa học như triết học, lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội học, pháp luật, quân sự, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, ngôn ngữ, văn tự, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, toán học, địa lí, sinh vật, y dược, vệ sinh, nông nghiệp, kiến trúc vv… sẽ phải dựa vào không ít vào kho sách Hán Nôm để dựng lại diện mạo một thời, trong đó có đối tượng nghiên cứu, thậm trí cả bản thân nghành nghiên cứu. Những ẩn số trong quá khứ dân tộc có thể sẽ được giải đáp một phần qua việc tìm đọc kho thư tịch Hán Nôm. Gần đây sảy ra đôi chuyện bất ngờ. Một số cuốn kinh Phật tưởng như ngày càng thu hẹp phạm vi sử dụng, thì nay, với phần “chú âm” và “thích nghĩa” của chúng, chúng đã trở thành cứ liệu quan trọng để nghiên cứu về chữ Nôm, về ngữ âm lịch sử… Một số sách phong thuỷ, bói toán mà dư luận yên trí đã quá thời, thì nay bỗng nhiên nhiều người lại tìm đọc, vì trong đó có những chỉ bảo thú vị cho công tác địa chất học, dân tộc học..Kho thư tịch Hán Nôm là nguồn tư liệu gốc mang tính tổng hợp đối với việc tìm hiểu lịch sử các mặt của dân tộc Việt Nam.

Chẳng những vậy, là hiện thân của văn hiến mấy nghìn năm, kho thư tịch Hán Nôm còn tàng trữ nhiều truyền thống tốt đẹp cân nhắc, với phương châm “kế thừa có chọn lọc, có phê phán, có sáng tạo”, nhằm phục vụ cho việc xây dựng nền văn minh tinh thần Việt Nam, xây dựng tư tưởng mới, văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Tình hình sưu tầm, bảo vệ di sản Hán Nôm từ 1945 đến nay.

Chính vì các đặc điểm làm nên giá trị kho sách Hán Nôm trên đây, mà đảng và nhà nước từ lâu đã quan tâm tới việc sưu tầm bảo vệ sách vở, tài liệu Hán Nôm, loại di vật dễ hư hỏng, dễ mất mát, trong khi không còn được sản xuất ra nữa. Sự quan tâm này thể hiện ngay từ hồi Đảng ta còn hoạt động bí mật. Trong bài Mấy nguyên tắc của cuộc vận động văn hoá mới Việt Nam hiện nay đăng trên báo Đảng năm 1944, đồng chí Trường Chinh viết: “những công trình và tác phẩm văn hóa của thời phong kiến Việt Nam để lại là vốn quý của dân tộc ta, chúng ta cần phải giữ gìn và nghiên cứu, để phát huy cái hay cái đẹp…”(5). Sau ngay giành được chính quyền, các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước ta như Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Phạm Văn Đồng… mỗi khi có dịp, đều nhắc tới nhiệm vụ sưu tầm, bảo vệ di sản văn hoá cha ông. Đồng chí Phạm Văn Đồng từng nói như sau trong Hội nghị văn hóa và thông tin vùng các dân tộc ít người năm 1977: “Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay hết sức coi trọng việc sưu tầm và phát huy truyền thống quý báu của nền văn hoá các dân tộc. Truyền thống và khả năng sáng tạo văn hóa của các đồng bào dân tộc về các mặt văn học, nghệ thuật, kiến trúc, mỹ thuật, âm nhạc, ngôn ngữ… không ngừng được sưu tầm, gìn giữ và phát huy đã góp phần làm cho nền văn hoá chung của cả nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng phong phú, tươi sáng và đẹp đẽ…”(6).

Đi đôi với sự chỉ đạo về mặt tư tưởng, là một số biện pháp về mặt tổ chức. Công tác sưu tầm, bảo vệ sách vở, tài liệu Hán Nôm được nhà nước lần lượt giao cho một số cơ quan chịu trách nhiệm. Khởi đầu là Bộ Văn hoá, với Chỉ thị số 117/TTg ngày 13-12-1963 của thủ tướng Chính phủ. Theo văn kiện thứ hai này, Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam có trách nhiệm “thống nhất quản lý việc thu thập và giữ gìn các sách và tài liệu chữ Hán, chữ Nôm trong cả nước”. Riêng về mặt sưu tầm, “Uỷ ban Khoa học xã hội có nhiệm vụ tổ chức thu thập về kho tất cả các tư liệu chữ Hán, chữ Nôm hiện có trong các thư viện, các kho lưu trữ, các cơ quan vv… thuộc các nghành, các cấp, đồng thời kế hoặch từng bước sao chụp nguyên bản để cung cấp cho các cơ quan, thư viện có nhu cầu về tư liệu chữ Hán, chữ Nôm”. Đối với những tư liệu Hán Nôm còn rải rác trong nhân dân, Uỷ ban Khoa học xã hội với sự giúp đỡ tích cực của Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tiếp tục sưu tầm, thu thập và quản lý”. Có thể “vận động nhân dân tặng hoặc bán các tư liệu đó cho Nhà nước, hoặc để Nhà nước sao chụp lại ”. Đối với số sách Hán Nôm hiện tản lạc ở ngoài, “Uỷ ban Khoa học xã hội cần có kế hoạch sưu tầm và thu thập” bằng cách “trao đổi hoặc sao chụp” những gì cần thiết cho ta…Cuối 1979 theo quyết định số 326/CP ngày 13-9-1979 của Hội đồng Chính phủ, Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam được thành lập, và trở thành trung tâm sưu tầm, bảo vệ, chỉnh lý, khai thác các tư liệu chữ Hán, chữ Nôm trong phạm vi cả nước. Lần đầu tiên kể từ sau 1945, công tác sưu tầm, bảo vệ thư tịch Hán Nôm được nhà nước chính thức giao cho một Viện Nghiên cứu chuyên ngành đảm trách.

Cho đến nay, qua nỗ lực nhiều năm của các cơ quan có trách nhiệm, công tác sưu tầm, bảo vệ thư tịch Hán Nôm đã thu được kết quả bước đầu.

Về mặt sưu tầm, chỉ tính riêng trong phạm vi Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, ngoài số sách Hán Nôm ngót nghét.10.000 cuốn do trường Viễn Đông bác cổ Pháp để lại, Viện Thông tin khoa học xã hội và Viện Nghiên cứu Hán Nôm bằng nhiều nguồn khác nhau- biếu, tặng, nhượng, mua, trao đổi, sao chép lại- đã bổ sung thêm được khoảng 5.000 cuốn nữa. Đóng góp nhiều nhất cho kho sách Hán Nôm trước đây thuộc Viện Thông tin khoa học xã hội và nay thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm, là thư viện Văn Miếu, Vụ bảo tồn bảo tàng,Sở Xuất nhập khẩu ngoại văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Ty Văn hóa Hà Đông… Một số nhà Hán Nôm học như cụ Nguyễn Văn Tố, cụ Đặng Thai Mai, cụ Hoàng Xuân Hãn và một số người yêu ngành Hán Nôm, trong đó có gia đình và các nhà khoa bảng cũ, như cụ Vũ Văn đối, cụ Trần Phương Tri, cụ Lê Hồng Thuận, cụ Vũ Tất Trực, cụ song tùng…đã hiến vào kho sách Hán Nôm không ít sách. Những năm gần đây, một số kiều bào ta ở nước ngoài thỉnh thoảng cũng gửi về tặng Viện Nghiên cứu Hán Nôm nhiều tài liệu cổ có giá trị.

Di sản Hán Nôm còn sót lại trong nhân dân từng bước quy tụ về các kho Nhà nước, rồi lại từ các kho Nhà nước từng bước quy tụ về Viện Nghiên cứu Hán Nôm, được xem như trung tâm thống nhất quản lí hiện nay, đó là một sự di chuyển hợp lý, đáng khích lệ.

Về mặt gìn giữ, bảo quản, cũng đã có những cố gắng không nhỏ. Sách Hán Nôm ở Viện Thông tin Khoa học trước kia và Viện Nghiên cứu Hán Nôm nay đều được đặt ở nơi cao ráo nhất, thoáng đãng nhất trong cơ quan. Việc chống bụi, chống ẩm, chống mốc, chống mối mọt thường xuyên được coi trọng. Vào những ngày máy bay Mỹ đánh phá trên miền Bắc nước ta, số sách Hán Nôm này được xếp vào hòm tôn hoặc túi nhựa để đưa đi sơ tán sớm nhất, trước nhất… Chưa bao giờ trong khâu bảo vệ, những người được giao nhiệm vụ không dành sự quan tâm nhiều nhất cho kho sách Hán Nôm.

Tuy nhiên, nhìn trên một phạm vi rộng rãi hơn, chưa kể nói công tác sưu tầm, bảo vệ thư tịch cổ những năm qua không có gì phải uốn nắn.

Sách không chân mà chạy. Mới thấy sách ở một địa phương nào đó, ít lâu sau trở lại đã thấy không còn. Sách mạnh ai nấy“sưu tầm”, dù họ không phải là người hoặc cơ quan có trách nhiệm.Sơn Tây một dạo thu thập được một số tài liệu về thời kì Hùng Vương, đã có cán bộ lấy danh nghĩa cơ quan Nhà nước đến mang về làm của riêng, một đơn vị quân đội, sau ngày miền Nam giải phóng (1975), đã trở toàn bộ số sách ở Hội Cổ học Huế ra Bắc, nay vẫn chưa rõ số phận mảng thư tịch này như thế nào(7). Tư tưởng địa phương cục bộ, tuỳ tiện đã gây trở ngại thực sự cho việc tập trung và công hữu hóa di sản Hán Nôm của toàn dân tộc. Và biết đâu đấy lại chẳng có những tác phẩm Hán Nôm thuộc loại quý Hiếm “quỷ dẫn đường ma đưa lối” đang tìm cách chạy ra nước ngoài…

Cũng có trường hợp tài liệu Hán Nôm bị mất mát, huỷ hoại bởi gia đình người có sách không ai đọc được và do đó rẻ rúng. Có kẻ dùng thậm chí còn đem sách Hán Nôm chôn theo người chết, hoặc dùng để phất quạt giấy, quạt thóc, trộn vôi vữa vv… ở vùng tây bắc, một số cơ quan văn hóa tịch thu các sách gọi là “mê tín dị đoan” viết bằng chữ Hán, chữ Nôm của các thầy cúng. Do thiếu ý thức bảo quản, hay đúng hơn, thiếu người có trình độ đọc được sách này, tài liệu thu về rốt cục để hỏng đi, thậm chí còn lôi ra đốt. Một số di vật “kim thạch” mang chữ Hán, chữ Nôm cũng chẳng may mắn gì hơn, khi người ta chỉ nhìn vào giá trị “kim thạch” trần trụi của chúng mà không quan tâm gì tới chữ nghĩa.

Phần lớn sách vở, tài liệu Hán Nôm của tư nhân, kể cả của các đền chùa, các nhà thờ họ, các hội tư văn cũ, do không có điều kiện bảo quản tốt, đã hư hao dần năm này qua năm khác do lũ lụt, ẩm mốc, mối mọt,và nhiều nguyên nhân khác.

3. Công việc trước mắt.

Để khắc phục tình trạng trên, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo vệ và sưu tầm theo tinh thần Quyết định số 311/CP của Hội đồng Chính phủ.

Số thư tịch hiện còn có tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm cố nhiên không ít, và đây là phần cơ bản nhất, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong toàn bộ di sản Hán Nôm của ta. Thế nhưng, theo điều tra sơ bộ của chúng tôi, số sách và tài liệu Hán Nôm hiện chưa được sưu tầm vẫn còn nhiều.

Trong đồng bào kinh (đặc biệt ở các vùng Hà Nội, Thái Bình, Hà Nam Ninh, Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Huế), số còn sót lại chủ yếu là thuộc loại văn bia, thần sắc, thần tích, thần phả, hương biên, hương phả, khế ước, gia phả, tộc phả, kinh phật…

Trong đồng bào dân tộc ít người (đáng chú ý là ở đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Mường, Dao. Cao Lan, Sán Chỉ, Sán Dìu ở Việt Bắc, Tây Bắc), Số sách và tài liệu Hán Nôm còn sót lại chủ yếu thuộc các loại sử biên niên, truyện nôm khuyết danh, tình ca (sli, lượn, phong slư), nghi lễ (quan lang, cò lẩu, văn than, ca cúng bái). Có nơi thậm trí còn giữ được cả “nửa bồ sách”, nhất là những gia đình trước có người từng là Thầy mo, thầy cúng, ông tào, ông bụt, ông then…

Ở một số cơ quan Nhà nước (Cục,Vụ, Viện, Sở, Phòng, Thư viện), số tài liệu còn giữ gồm châu bản, công văn, địa bạ, mộc bản, cùng một số bản chụp hoặc bản sao các sách đã có tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, thỉnh thoảng ở đây cũng có những bản sách quý.

Ở nước ngoài như Pháp, Trung Quốc, Nhật bản, Thái Lan…cũng tàng trữ một số sách Hán Nôm của ta hoặc liên quan với ta. Riêng tại Pháp, Thư viện Quốc gia Paris hiện giữ 64 sách Hán (có người nói 65 hoặc 120), 108 sách Nôm; Hiệp hội Châu á với tủ sách Henri Maspero để lại có 159 tên sách cả Hán lẫn Nôm chưa phân loại; trường Viễn Đông bác cổ Paris có hơn 100 tên sách Hán Nôm chưa lên kí hiệu; một phân hiệu Trường Đại học Dauphin có 19 tên sách toàn Nôm(8). Một số nơi khác cũng tại Pháp, như thư viện của Maurice Durand, nguyên Giám đốc trường Viễn Đông bác cổ Pháp tại Hà Nội; Bảo tàng Thiên chúa giáo, với tủ sách của linh mục L. Cadiere để lại; Trường Quốc gia sinh ngữ Phương Đông; Kho lưu trữ; thư viện Bộ Ngoại giao; Thư viện Đại học Nice; Tủ sách cụ Hoàng Xuân Hãn; Tủ sách ông Xuân Phúc…, trên những chừng mực khác nhau, đều có sách Hán Nôm quý.

Đối với số sách và tài liệu Hán Nôm còn xót lại trong nhân dân, Viện Nghiên cứu Hán Nôm có thể, trên cơ sở tôn trọng quyền sở hữu tư nhân, đặt vấn đề xin sao chụp lại. Nếu chủ sách vui lòng biếu, nhượng hoặc bán, thì tuỳ trường hợp cụ thể mà có thể đền đáp thoả đáng. Cố nhiên, dù là sách tư nhân, vẫn nên quan niệm đây thuộc loại tài sản chung của toàn dân tộc, cần được bảo vệ tốt nhất và sử dụng một cách có ý nghĩa nhất. Để thúc đẩy công việc, cũng có thể tổ chức mạng lưới cộng tác viên ở các địa phương, gồm những cụ có trình độ Hán Nôm kết hợp với những cán bộ thông tin văn hoá trẻ, nhiệt tình. Họ sẽ là “tai mắt” quan trọng của chúng ta, là cộng tác viên đắc lực của chúng ta. Ai sưu tầm được sách lạ, sách quý, sẽ hậu thưởng. Ai tổ chức được các việc thống kê, hiến biếu, bán nhượng, sao chép… sẽ có thù lao cẩn thận. Họ cũng sẽ là lực lượng nòng cốt trong việc phát hiện các tấm bia còn sót lại, cùng với chính quyền địa phương tổ chức việc bảo vệ tốt các bia đó và tiến hành dập lại các bài văn khắc trên bia, nếu có điều kiện. Tên tuổi người sở hữu, kể cả người phát hiện, sưu tầm, cần được ghi lại để lưu truyền cùng di vật. Quyền sưu tầm nên ưu tiên dành cho cơ quan được dành cho cơ quan được Nhà nước giao trách nhiệm, hoặc các người được cơ quan này được uỷ thác, chấm dứt tình trạng cá nhân mượn danh nghĩa cơ quan đi sưu tầm sách về làm của riêng cho mình.

Đối với số sách và tài liệu Hán Nôm hiện nằm rải rác trong cơ quan, Viện Nghiên cứu Hán Nôm có thể, trên cơ sở tôn trọng nhu cầu nghiên cứu của cơ quan đó, đặt vấn đề xin tiếp nhận loại bản gốc, và cung cấp lại các bản chụp tương ứng, nếu phía trao sách thấy cần. Dù sao thì cũng không nên kéo dài hiện tượng cất giữ các nguyên bản Hán Nôm một cách tuỳ tiện, không theo chế độ quy định chung của nhà nước.

Đối với số sách Hán Nôm hiện tản lạc ở nước ngoài, cái chính là tìm cách để có được bản chụp. Trong điều kiện cho phép, thông qua con đường trao đổi tư liệu hoặc nhiều con đường khác, cũng có khả năng mang về được bản gốc.

Tóm lại, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động sâu rộng trong cán bộ và nhân dân về nhiệm vụ sưu tầm, bảo vệ thư tịch Hán Nôm, và bằng mọi biện pháp, sớm đưa di sản Hán Nôm về một mối, vì lợi ích nghiên cứu, cũng như để có thể bảo quản được dài lâu. Đây là một công việc đầy khó khăn, tốn kém, nhưng nếu hiểu sự cấp thiết và tầm quan trọng của nó, nhất định chúng ta sẽ làm được.

CHÚ THÍCH

(1) Chỉ loại sách Tam tự kinh

(2) Việt kiệu thư, quyển II. Sách này do Lý Văn Phượng, người đời Minh soạn. Bài tựa sách đề năm 1540.

(3) Việt kiệu thư, Sđd.

(4) Nghệ văn chí tự. Xem Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn.

(5) Về văn hóa văn nghệ, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1976, tr. 141.

(6) Báo Nhân dân, số ra ngày 6-12-1977.

(7) Xem Thư tịch cổ và nhiệm vụ mới, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1979, các trang 36, 49, 66.

(8) Theo tài liệu do Phạm Văn Thắm cung cấp.

TB

VÌ SAO CÁC CỤ PHỤ LÃO UỶ THÁC TÔI TẶNG LẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM GIA PHẢ CỦA DÒNG HỌ MÌNH

NGUYỄN SONG TÙNG

Dòng họ Nguyễn Cảnh chúng tôi còn giữ được cuốn gia phả viết cách đây hơn 300 năm, được đời đời tôn trọng như một di sản tinh thần thiêng liêng của cả họ. Còn nhớ, 50 năm trước, ông nội tôi lúc sắp mất đã trao cho cha tôi một cuốn sách và dặn dò: “Đây là gia báu của nhà mình, là lịch sử ba trăm năm tham gia đánh giặc giữ nước của dòng họ Nguyễn Cảnh”. Cha tôi trước khi mất trao lại cho tôi cuốn sách đó, đinh ninh dặn tôi phải giữ gìn cuốn sách cẩn thận và xứng đáng với cha ông. Những năm tháng chiến tranh ác liệt, có hi sinh mất mát, gia đình tôi, dòng họ Nguyễn Cảnh chúng tôi đã động viên nhau giữ vững truyền thống yêu nước, giữ nước của họ mình, góp một phần máu xương, công sức làm nên chiến thắng chung của cả dân tộc. Sau khi cả nước hoàn toàn giải phóng, các vị phụ lão trong họ lại bàn cách khai thác món di sản tinh thần vô giá này, nhằm động viên lớp con cháu tiếp tục giữ vững truyền thống cách mạng, khắc phục khó khăn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cuốn gia phả có tên là Thiên Nam liệt truyện Nguyễn thị Hoan Châu kí, biên soạn năm Nhâm Tý, niên hiệu Dương Đức năm thứ nhất (1672), ghi chép thế thứ bảy đời của họ Nguyễn Cảnh từ năm 1403 đến năm 1626. Nội dung cuốn sách không chỉ là sự tích của một dòng họ Nguyễn Cảnh, mà còn chứa đựng khá nhiều tư liệu lịch sử ở một giai đoạn xã hội đầy biến động suốt ba thế kỉ XV, XVI, XVII của nước ta, từ tội ác man rợ của quân xâm lược phong kiến tàu, đến cơ cấu xã hội nước ta đương thời, cuộc đấu tranh quyết liệt, phức tạp giữa hai tập đoàn phong kiến Tàu, đến cơ cấu xã hội nước ta đương thời, cuộc đấu tranh quyết liệt, phức tạp giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Mạc, và các văn kiện trao đổi giữa các tướng lĩnh của hai tập đoàn đó, và cuộc đấu tranh ngoại giao căng thẳng, mà một biểu hiện là cuộc đối thoại giữa Thái Bảo Thư quận công Nguyễn Cảnh Kiên, với sử Tàu… Có thể nói đó, cuốn sách này là một phần của bộ sử dân tộc kéo dài ba thế kỉ, từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII, trên các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, văn hoá, xã hội…

Ý thức được rằng, cuốn gia phả này là di sản tinh thần của họ, đồng thời cũng là tài sản quốc gia, các vị phụ lão đã uỷ thác tôi đưa tập tài liệu này kính tặng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, một trung tâm có chức năng bảo tồn, sưu tầm và khai thác các thư tịch và tư liệu Hán Nôm. Chúng tôi rất vui mừng vì từ nay, cuốn gia phả họ Nguyễn Cảnh sẽ trở thành đối tượng bảo tàng lâu bền, mặt khác qua các bản in chụp, cuốn sách sẽ được tiếp xúc rộng rãi với giới nghiên cứu, và được khai thác một cách có hiệu quả nhất…

TB

PHÁT ĐỘNG MỘT CUỘC VẬN ĐỘNG KHẨN TRƯƠNG VÀ KHÔNG THỜI HẠN NHẰM SƯU TẦM TƯ LIỆU HÁN NÔM

PHẠM HUY THÔNG

Công tác sưu tầm văn bản quan trọng đến mức nào thì kể ra là phải nói với ai khác, chứ không phải là nói với người làm công tác Hán Nôm. Ai là người thấm thía tầm quan trọng của công tác này, quan tâm đến công tác này hơn là những nhà nghiên cứu Hán Nôm được! Vì văn bản cổ quý như thế nào, tản mát thế nào, mất mát thế nào, có nguy cơ bị mất mát thêm thế nào, các bạn là những người nhận thức rõ hơn cả.

Tuy vậy, tôi nghĩ cũng cần thiết nhắc lại và nhấn mạnh. Đó là vì những băn khoăn và uớc vọng của chúng ta, được thoả mãn. Ban Hán Nôm những năm trước đây đã được Chính phủ chấp nhận một kiến nghị liên tịch của Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam và Bộ Văn hoá, nâng lên thành Viện, chúng tôi không chỉ nghĩ đến sưu tầm, mà nghĩ đến trách nhiệm nói chung đối với một di sản này của ông cha ta. Nghĩa là, cùng với việc sưu tầm, còn việc bảo quản, sắp xếp, nhân bản, nghiên cứu, khai thác vv… Chính vì vậy mà ban Hán Nôm được nâng thành Viện cũng đã đồng thời được kí cho dùng một bộ phận của Văn Miếu cổ xưa làm trung tâm hoạt động.

Song nội dung trung tâm hiện nay có nhiệm vụ giữ gì vốn Hán Nôm, không phải chỉ là giữ gìn cho khỏi hư hại những văn bản đã có, mà còn giữ gìn cho khỏi mai một đi những văn bản chưa thu được về kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Như vậy, điểm đầu tiên tôi muốn lưu ý, trong công tác sưu tầm Hán Nôm mà chúng ta hiện bàn, là thu về một mối trách nhiệm đối những văn bản Hán Nôm đang tản mác trong một số cơ quan ở rải rác trong các nước. Thu về một mối, không nhất thiết có nghĩa là phải tập trung ngay vào một kho sách duy nhất, Nhưng hiện nay đã cần rồi và trong khuôn khổ một Viện Hàn lâm khoa học tương lai thì càng cần. Viện Hán Nôm cần hoặc ít ra nắm vững vốn Hán Nôm có ở những đơn vị khác hoặc Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, như Viện Sử học, Viện Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh, hoặc cả ở những cơ quan khác không thuộc diện quản lí của Uỷ ban, đặc biệt ở những Sở Văn hóa thuộc bộ văn hóa ở từng tỉnh. Trên cơ sở nắm vững vốn đó, Viện, theo tôi nghĩ, cần đề ra chủ trương, cùng chính sách và biện pháp thích đối với những kho sách nhỏ và kho sách trong kho.

Việc thứ hai mà chúng ta phải nghĩ đến là vốn sách, có thể là không nhiều, song lại có thể khá quý và đã mang ra ngoài nước(chính vì quý mà bị mang đi). Khi nói ở nước ngoài, chúng ta nghĩ đến, trước hết ở Pháp và ở Trung Quốc. Lâu lâu, một phát hiện cho phép khẳng định hai điều ấy: một là, đó là những tài liệu quý, và hai là những nơi cần tìm hiểu trước hết là mấy nơi đó.

Cần làm gì, có thể làm gì ? hiện nay có một trào lưu trên thế giới, trong một số trường hợp cụ thể vì những lí do nhất định, có nước trả lại nước khác những tác phẩm nghệ thuật cổ, những văn bản cổ nào đó, Liên hợp quốc có nghiên cứu vấn đề này; chúng ta có thể suy nghĩ về phần chúng ta. Trong lúc chưa có khả năng mới, chung rộng hay đóng khung cụ thể, Viện đã có trách nhiệm, theo tôi nghĩ điều tra và lên bảng những tài liệu có thể biết là có thể có ở những kho nhất định, thuộc hay không thuộc Nhà nước, một ngày nào đó chúng ta có thể đòi về ta.

Phương hướng sưu tầm thứ ba, đây mới là công tác chúng ta thường quen gọi là sưu tầm, là tìm kiếm trong dân gian và ra sức thu thập về.

Cứ lấy lý mà xét suy, công tác sưu tầm văn bản Hán Nôm, cũng như sưu tầm dân tộc học, sưu tầm văn hoá dân gian, là những công việc cần xúc tiến khẩn trương, vì nó gắn liền với sự tồn tại của lớp người già, đặc biệt ở nông thôn, hoặc cũng có thể nói thêm ở miền núi. Cuộc sống biến chuyển mau chóng là một điều đáng mừng, song cũng dễ lôi cuốn đi mất không những phong tục tập quán, những biểu hiện của văn nghệ quần chúng cổ truyền, mà cả những sách vở Hán Nôm cũ mới,…Vậy việc làm là cần.

Thế nhưng, việc cần đó có thiết thực hay không, có những bạn có lý do, để nói lên như thế. Chính bởi, từ tình hình trên, có thể e trong dân gian không còn gì mấy để dò la hay sục sạo tìm kiếm… Hình như muộn quá rồi : những tủ sách ra đình, những kho sách nhà thờ họ hoặc đình chùa, cho đến những câu đối, hoành phi, đều khó còn được giữ dù chỉ một bộ phận. Lâu lâu lại có hiện tượng giả mạo vì những động cơ khác nhau, vừa kêu gọi chúng ta cảnh giác, vừa làm chúng ta nản lòng.

ý kiến của tôi là sự thật, có như thế đấy. Khó lòng chờ đón những vụ gặt phong thu. Song chính vì thế mà ta lại càng phải chắt chiu, không để thất lạc thêm, và biết được tài liệu ở chỗ nào, ở đâu có khả năng rồi sẽ mất mát thì cần sớm lấy thu về, nếu có thể.

Tôi đề nghị chúng ta hãy phát động một cuộc vận động khẩn trương và không thời hạn nhằm sưu tầm tư liệu Hán Nôm, dĩ nhiên không phải chỉ bao gồm sách vở cùng chiếu sắc mà cả chữ trên bia, chuông, khánh,vv…

Viện Nghiên cứu Hán Nôm kêu gọi, vì là chức năng, nhiệm vụ của mình, và một ngày nào đó, tôi nghĩ rằng, với tinh thần phục vụ ngành đã bước đầu thể hiện trong những năm qua, các nhà nghiên cứu, các cơ sở nghiên cứu, đều tín nhiệm Viện để giao cho trọng trách quản lý vốn chung rất quý này của dân tộc. Nhưng trước mắt, tôi nghĩ, mỗi người quan tâm, mỗi cơ quan có trách nhiệm đều hãy ra sức thăm dò, tìm kiếm, thu thập! Hãy cứu lấy những cuốn sách, những tấm bia đang có thể bị mất!

Điều này không phải dễ trong điều kiện hiện nay, khi chúng ta chưa có luật lệ chính thức, lại cũng không có phương tiện, tiền nong dồi dào. Hơn nữa, chúng ta lại vừa tiến hành những ngày qua một việc trưng mua, trưng thu khá tuỳ tiện, không khuyến khích việc phát hiện và thu thập tốt tư liệu Hán Nôm còn lại trong nhân dân.

Song chúng ta có nhiệt tình. Chúng ta ý thức được rằng thế hệ chúng ta ở vào buổi giao thời cũ - mới này, có trách nhịêm giữa thế hệ tương lai về công việc này. Việc sưu tầm, đứng về mặt này, lại còn quan trọng gấp bội so với công tác nghiên cứu khoa học. Với nhiệt tình đó, với tinh thần bắt tay nhau giữa các cơ quan khác nhau mà ra sức phát huy truyền thống dân tộc, với tạp chí chuyên đề mà nay mai ngành ta sẽ có, khả dĩ được sử dụng như một công cụ liên lạc, phục vụ khoa học, tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ đạt được điều mong muốn của chúng ta…

TB

VÀI NÉT VỀ CÔNG VIỆC SƯU TẦM
THƯ TỊCH HÁN NÔM TRONG LỊCH SỬ

HOÀNG LÊ

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ kho tàng văn hoá thành văn của dân tộc ta gắn liền với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Nước ta vốn là một nước văn hiến. Cha ông ta có truyền thống trước thuật rất lâu đời. Trước khi rơi vào đêm dài nô lệ của phong kiến phương Bắc, chúng ta có nền văn hoá Đông Sơn nổi tiếng. Có nhiều dấu hiệu cho thấy từ thời ấy, đã có chữ viết, một nhân tố quan trọng tạo nên các văn bản, để truyền lại cho đời sau. Hơn một ngàn năm Bắc thuộc, mảnh đất Giao Chỉ vẫn là quê hương của nhiều anh hùng, của những nhà văn hóa, những người trước tác. Mặc dầu trải bao thăng trầm của lịch sử, chúng ta vẫn còn tìm được chút bóng dáng của họ qua các nguồn thư tịch trong và ngoài nước.

Cuộc phục hưng vĩ đại của dân tộc bắt đầu từ thế kỷ X với chiến thắng Bạch Đằng vang dội đã thực sự mở đầu một nền văn hiến Đại Việt mà đỉnh cao của nó là thời đại Lý - Trần; sự nở rộ của nhiều tác phẩm thuộc loại hình văn hoá, học thuật… Ngày nay chúng ta được biết chắc chắn là đến đời Trần đã có nhiều loại hình sáng tác bằng chữ Hán và bằng chữ Nôm, chúng ta đã có những bộ sử lớn, những bộ điển chương, chế độ của cả một thời, những sáng tác bằng văn học, những công trình biên soạn, những tổ chức trước thuật và lưu giữ các nguồn thư tịch và tài liệu văn hoá đương thời…

Biến động lịch sử dữ dội cuối đời Trần, nhất là cuộc xâm lược và đồng hoá của nhà Minh đầu thế kỉ XV, là một tai hoạ lớn đối với dân tộc ta, đối với toàn bộ nền văn hoá của nước ta hồi ấy.

Ra khỏi cuộc chiến tranh này, chúng ta giành được độc lập, chủ quyền dân tộc trên đống tro tàn: “Giáo mác đây đường, đâu chẳng đánh giặc Minh cường bạo, sách vở cả nước đều trở thành một đống tro tàn” (Ngô Sỹ Liên). Đây là một tổn thất nặng nề nhất đối với kho tàng thư tịch cổ, trong lịch sử dân tộc. Hầu hết các công trình sáng tác, khảo cứu, biên tập, sưu tầm mà cha ông chúng ta đã kiên trì, say sưa đến hàng ngàn, hàng trăm năm trước đó đều đã bị thiêu huỷ và cướp đoạt trong giai đoạn này.

Nhà Lê xây dựng một quốc gia phong kiến cường thịnh nhất trong lịch sử Việt Nam, cũng là triều đại có nhiều công lao trong việc khôi phục, xây dựng nền văn hiến dân tộc. Công việc tìm kiếm các tác phẩm của những triều đại trước, được triều đình chú ý từ sớm. Các ông vua Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông … đã ra lệnh sưu tầm mọi nguồn sáng tác, dã sử, truyện kí được chứa giữ ở các tư gia… Công việc sưu tầm sách vở còn được các nhà văn hoá, nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, biên soạn, những người làm quan, những người lưu ẩn, các trí thức thôn quê … tiến hành kiên trì và liên tục. Một tấm gương tiêu biểu về mặt này là vị anh hùng, nhà văn hóa lớn dân tộc Nguyễn Trãi đã sưu tầm được những sáng tác của Hồ Quý Ly và rất nhiều những tư liệu khác đủ viết nhiều công trình biên khảo có giá trị. Ngày nay, chúng ta

Còn được đọc những tác phẩm, dù chỉ là một, hai phần, trong trăm ngàn phần giữ lại được của các triều đại trước đó, thì đó chính là công lao của những nhà sưu tầm đời Lê, mà tên tuổi thường được gắn liền với thành quả sưu tầm, biên tập của họ như Phan Phu Tiên, Chu Xa với Việt âm thi tập, Dương Đức Nhan với Tinh tuyển chư gia luật thi, Hoàng Đức Lương với Trích diễm thi tập…

Có một điều đáng nói về công việc sưu tầm thời này là: chính nhân dân, do lòng yêu nước nồng nàn, do lòng ham mê văn hóa, nghệ thuật, đã bảo vệ có hiệu quả di sản văn hóa thành văn của dân tộc trước mọi âm mưu và hành động đồng hoá thâm hiểm, ác độc của kẻ thù. Hầu như toàn bộ nguồn thư tịch, tài liệu của triều đình và các cơ quan địa phương đều bị cướp, bị đốt hết. Những gì còn giữ lại được là từ trong lòng nhân dân. Những sưu tầm thành công cũng chính là do biết đi vào “căn cứ địa thần thánh này”. “Phu tiên tôi không lượng xét mình nông cạn hẹp hòi, dựa vào những bài thơ được nghe trước đây và được thấy ngày nay…”( Phan Phu Tiên: Tân san Việt âm thi tập tự). Không ngại gian khổ, kiên trì tìm kiếm lâu dài ở khắp mọi nơi…đã trở thành những nét truyền thống của các nhà sưu tầm, biên soạn từ Phan Phu Tiên, Hoàng Đức Lương qua Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú… tới Dương Bá cung …sau này.

Một nét khác: các ngôi chùa ẩn hiện sau luỹ tre xanh thường là những trung tâm văn hoá ở làng quê, và khi có chiến sự, thì đó là những pháo đài cố thủ, gìn giữ tài sản văn hoá của dân tộc. Từ những bài phú Nôm đời Trần đến các tác phẩm cửa Thiền như Khoá Hư lục, Thiền uyển tập anh… đều được giữ theo con đường này.

Chế độ phong kiến Việt Nam trên con đường suy vi của nó đã tàn phá, huỷ hoại, nhiều giá trị văn hóa của dân tộc. Những cuộc nội chiến liên miên giữa các tập đoàn Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn, cuộc xâm lược của 50 vạn quân thanh… đã làm mất mát nghiêm trọng thư tịch dân tộc do bao công lao sáng tạo, góp nhặt, sưu tầm của nhiều thế hệ mới tạo dựng được. Ván khắc của bộ lịch sử nổi tiếng Đại Việt sử ký toàn thư khắc năm Chính Hoà thứ mười tám (1697) đã bị mất trước khi triều Tây Sơn cho khắc in bộ Đại Việt sử ký tiền biên vào năm Cảnh Thịnh thứ tám (1800). Một điều đáng suy nghĩ là, cho tới nay, trên Tổ quốc của bộ sử nổi tiếng này, vẫn chưa tìm được bản in năm những trước tác không được may mắn khắc in sẽ chịu số phận rỉu ro như thế nào!

Bộ sử Thực lục của nhà Nguyễn có ghi lại những lần dâng sách lên triều đình của các danh nhân đương thời. Bộ Châu bả của triều Nguyễn, phần công văn giấy tờ thời Tự Đức cho biết, trong vòng 26 năm, từ năm 1857 đến năm 1883, hằng năm đều có sách dâng như:Quốc sử tập yếu, Thiên Nam trung nghĩa bảo lục, An Nam chí nguyên, Sử ký quốc ngữ, Lĩnh Nam minh giám, Huấn nông sử ca, Châu Phong thi tập, Châu Phong văn tập, Thoái thực ký văn, Thách chế thi văn …Công việc lưu trữ, tìm kiếm thư tịch, không những có các cơ quan của triều đình và các địa phương đảm nhận, mà còn do các nhà tàng thư, nhà in riêng tiến hành. Có nhà tổ chức in những tập vựng lớn, hay sưu tầm tập sách có giá trị như Hải học đường ở Hải Dương,Chiêm bái đường của Thái Bình, Thư viện Long Cương ở Nghêi An… Đây cũng là thời kì phát triển của gia phả, thần tích, hương ước,… mà chủ nhân của chúng là các dòng họ, là tập thể làng xã… cho đến nay, vẫn còn số lượng ít các văn bản loại này chưa tập trung lại được.

Tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp, sự đầu hàng và sụp đổ mau chóng của triều đình nhà Nguyễn, tiếp đó, tiếng Pháp rồi chữ Quốc ngữ được truyền bá, đã phá vỡ thế “độc tôn ” của chữ Hán. Phạm vi ảnh hưởng của thư tịch chữ Hán, chữ Nôm. Thư tịch Hán Nôm rút hẹp dần, và khoa thi “ông nghè” cuối cùng của lịch sử 1918 như một cái mốc có ý nghĩa: từ đây, về cơ bản đã chấm dứt lịch sử sáng tạo và tái tạo các văn bản chữ Hán, chữ Nôm. Thư tịch Hán Nôm từ đây được coi như một thứ đồ cổ. Cũng từ đây, nhiệm vụ, tính chất và mục đích của công việc sưu tầm thư tịch Hán Nôm đã khác trước. Cả một thế hệ gắn liền với chữ Hán, chữ Nôm với các giá trị văn hoá cổ đã vơi dần. Lớp người mới gắn với văn hoá phương Tây, với chữ Quốc ngữ cảm thấy xa lạ với thứ của cải tinh thần do chính cha ông mình sáng tạo, đi tới sùng Pháp, theo Pháp. Vì thế, công việc bảo vệ, tìm kiếm thư tịch Hán Nôm không chỉ đơn thuần là công việc học thuật, nó mang ý nghĩa lớn hơn thế, khi bằng kết quả của công việc tìm kiếm, nghiên cứu nguồn thư tịch cổ, ta khẳng định được nền văn minh tinh thần Việt Nam giàu bản sắc...

TB

VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH KHO SÁCH HÁN NÔM HIỆN NAY

DƯƠNG THÁI MINH

Khối lượng thư tịch và tư liệu Hán Nôm lớn nhất của cả nước, hiện nay do Viện Nghiên cứu Hán Nôm quản lý, do nhiều nguồn hợp thành. Trong đó tiêu biểu nhất là phân kho mang kí hiệu A (A, AB, AC…) của Thư viện Trường Viễn Đông bác cổ của Pháp (L’ Extrêmen- Oirent, viết tắt là EFEO ) và phân kho mang kí hiệu V(VH, VN, HV…) của Thư viện Khoa học xã hội(1). Quá trình tập trung hai kho sách này gồm hai bước, với những nét riêng, có thể nói tóm tắt bằng vài nét dưới đây:

EFEO chính thức thành lập năm 1901. Năm 1951, nhân dịp kỉ niệm năm mươi năm thành lập EFEO, Giám đốc của nó là Louis Malleret đã công bố số sách vở, tư liệu Hán Nôm hiện có của thư viện , gồm 3.500 sách Hán Nôm, 25.000 bản rập văn bia, 1.800 bản điều tra truyện cổ tích, địa bạ, phong tục, 457 tập thần phả, 132 thần sắc...(2). Nếu tìm hiểu cách thức sưu tầm, bổ sung của kho A này thì phức tạp nhất và tiêu biểu hơn cả là thư tịch mang kí hiệu A này thì phức tạp nhất và tiêu biểu hơn cả là những thư tịch mang kí hiệu A và AB gồm hai hình thức mua, tặng và sao chép.

Sao chép là do mượn được văn bản. Số sách này thường theo một quy cách chung: khổ giấy cao trên dưới 31cm và rộng khoảng 21cm. Mỗi trang có 8 dòng, mỗi dòng chép 20 chữ. Chữ chân phương, đều đặn, có chấm son và gạch son, ở cửa sách mỗi tờ đều có dòng tên sách, Việc làm này là bắt trước sách in, nhằm mục đích tránh sự lẫn lộn. Theo các cụ làm việc hồi đó cho biết, thì Thư viện thường xuyên có từ 10 đến 20 người ký lục sao chép suốt năm, suốt tháng. Sách cùng một khổ giấy, một quy định chung, sơ ý là có thể làm cho văn bản này lẫn sang văn bản khác. Sách viết xong được chuyển sang các cụ có trình độ cao hơn đọc soát và chấm son từng câu, từng ý, gạch son bên cạnh chữ tên riêng. Đối với bản gốc viết thảo thì người sao chép kiểm nghiệm cả việc chân hoá. Loại này có khoảng 1.000 tên sách.

Ngoài những văn bản kể trên là những sách do Thư viện EFEO mua hoặc được biếu tặng , trong đó, ấn phẩm có hơn 600 tên sách, chiếm khoảng một phần sáu tổng số sách trong kho.

Qua việc tìm hiểu kho sách, chúng tôi nhận thấy một vài khía cạnh về chủ trương, chế độ và cách thức tổ chức việc sưu tầm bổ sung kho sách của thư viện này.

Tiền thân của EFEO là các hội, các nhóm nghiên cứu sử học, khảo cổ học, bi kí học, cho nên họ chỉ thu thập những tư liệu cần thiết cho kho sách phản ánh đúng những mục đích nghiên cứu của họ. Chẳng hạn như những tập tục lệ, những bản rập văn bia. Đối với sách lại càng ghi rõ: hàng trăm số đầu của bản đăng kí nhập kho đều thuộc về môn sử. Về sau nhà trường phát triển thêm nhiều bộ môn, đặc biệt là ngữ văn học, thì đối tượng sưu tầm bổ sung mới phong phú hơn.

Kho sách có khá nhiều độc bản, ít trùng bản, dị bản. Cách đây hơn nửa thế kỷ, sách in Quốc triều hương khoa lục hoặc Quốc triều khoa bảng lục ở nước ta có khá sẵn, ấy thế mà kho sách của EFEO chỉ có một bản.

Văn bản sao cũng ít khi ghi đầy đủ những chi tiết đơn giản, dưới khía cạnh văn bản học, như ngày tháng, họ tên người viết, địa điểm và người chủ quản bản gốc… Về sau, nhà trường xuất hiện những học giả tài ba về thư mục học, về văn bản học, thì kho sách mới có thêm nhiều dị bản. Emiler Gaspar-donne nghiên cứu cuốn An Nam chí đã tìm được tám dị bản, và cuốn Thư mục An Nam (Bibiographie anamite) của ông vẫn còn giá trị tham khảo về nguồn thư tịch Hán Nôm.

Chủ trương bổ sung thêm dị bản còn biểu hiện ở những bản sao. Sách Ô châu cận lục và Lĩnh Nam chích quái…đã có bản đối chiếu và văn bản (trong số 11 bản)(3). Ô châu cận lục chép toàn văn “đại bản”, “khảo chính bản” của Cadiere và bản của Phạm Gia Lý.

Có thể nói một chút về chế độ thu mua sách cổ của Thư viện đã dẫn tới một số hiện tượng tiêu cực, như :vì có một bảng giá cao hơn cho những sách và bản rập văn bia quý hiếm, dẫn đến việc làm giả niên đại, như bia thời Tự Đức chữa thành bia đời Long Đức; ghi Trần Quốc Toản, Trần Nhật Duật, Trương Hán Siêu là tác giả sách Lĩnh Nam dật sử , một tác phẩm nguyên là của Trung Quốc, Chế độ thu mua đó còn có thể dẫn đến những đối phó khác của người sưu tầm, như thay đổi tên sách hoặc sao chép linh tinh để sách thêm dày, thêm lạ. Thu mua trả theo giá trị tư liệu là đúng, nhưng người thực hiện thiếu kinh nghiệm, thiếu trách nhiệm thì khó loại trừ hết tình trạng giả mạo, lộn xộn, rối loạn trước khi vào kho.

Đọc những bản khai thần tích, thấy khá rõ yêu cầu khai thần tích của nhà trường đối với địa phương có sức mạnh như một pháp lệnh. Những bản khai có đấu làng xã, có chữ ký lý trưởng, trình lên huyện, lên tỉnh và về Thư viện nhà trường hiện còn nhiều. Tất nhiên cũng có nơi khai man, thổi phồng thần tích, nhưng đây là một biện pháp đạt hiệu quả cao nhất và kinh tế nhất trong giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám 1945, mà nay vẫn còn ý nghĩa tham khảo.

Nếu đặc điểm của Thư viện EFEO là tập trung văn bản bằng hình thức sao chép, thì Thư viện Khoa học xã hội sau này lại nổi bật trong vấn đề tiếp nhận sách vở Hán Nôm từ các nơi đưa về.

Năm 1958, Thư Viện EFEO do Bộ Giáo dục tiếp quản. Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên kí nhận toàn bộ cơ sở này. Đó là lần giao nhận thứ nhất. Với tư cách là Thư viện của Bộ Giáo dục, Thư tịch Hán Nôm của trường Đại học Tổng hợp (trong đó có khá nhiều sách của Thư viện Long Cương và Thư viện Ty Văn hóa Hà Đông) đã được chuyển về đây. Kho sách của Hoàng Xuân Hãn tặng biếu (trong đó có một số sách của Thư viện Hội Khai trí tiến đức) cũng được chuyển đến thư viện này. Đó là lần giao nhận thứ hai và thứ ba.

Thư viện Khoa học trung ương tiếp đó tách thành hai thư viện của hai Uỷ ban: Uỷ ban khoa học kĩ thuât Nhà nước, và Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, kho sách Hán Nôm lại trải qua việc giao nhận. Và sau cùng, năm 1979, đến Viện Nghiên cứu Hán Nôm là lần tiếp nhận thứ năm.

Tử sau khi tiếp nhận kho A của Thư viện Trường Viễn Đông bác cổ Pháp, Thư viện Khoa học xã hội, bằng nhiều đường, đã tập trung được một khối thư tịch cổ đáng kể nữa. Khối thư tịch cổ này có sự đóng góp của Thư viện Đại học tổng hợp, Thư viện Long Cương, Thư viện Ty văn hóa Hà Đông, Thư viện Hoàng Xuân Hãn, Thư viện Hội Khai trí tiến đức, Thư viện khoa học trung ương… gồm trên 2.000 tên sách, đã làm nên kho sách mới mang kí hiệu đầu là V (VHt, VHv, VHb, VNv, VNb). Tất cả những kí hiệu của các Thư viện trước đó, trừ sách của Thư viện EFEO, đều bị xoá bỏ. (Đây là một biện pháp thường thấy của Thư Viện. Trong tương lai, nên chăng giữ lại số đăng kí của bên giao, làm riêng những kho nhỏ? Việc làm này vừa tôn trọng, động viên bên giao, vừa giúp cho bên giao theo dõi, giám sát việc quản lý của bên nhận, quan trọng hơn cả là có thể góp phần thuận lợi cho việc nghiên cứu lịch sử văn bản).

Kho V đã đóng góp thêm nhiều giá trị so với kho A (chỉ kí hiệu A, AB). Theo bản thống kê tên sách của bộ Thư mục Hán Nôm(4), trong tổng số của cả hai kho là hơn 5.500 tên sách, thì kho V có trên 1.600 tên sách mà kho A không có.

Thiếu sót lớn nhất của kho V là có nhiều trùng bản đến mức không cần thiết và có những nhầm lẫn không đáng có. Như trên đã dẫn chứng, bộ sách in Quốc triều hương khoa lục và Quốc triều khoa bảng lục ở kho A chỉ có một bản thì kho V có tới chín, mười bản, nhiều bản không đầy đủ. Tác phẩm Điện Biên Phủ của đại tướng Võ Nguyên Giáp, dịch ra tiếng Hán hiện đại, cũng xếp vào kho V!

Công tác bảo quản cho đến nay đã có nhiều cố gắng. Kho bản rập văn bia đã được bồi và lại hoàn toàn. Nhiều sách không dùng hồ bột gạo, mà dùng sơn ta làm chất kết dính các tờ ruột với nhau cùng các tờ bìa, dùng quang dầu quét bìa và diềm sách để chống lại nhịêt độ ẩm thấp và mối mọt. Muốn giữ được bản gốc dài lâu, Thư viện Khoa học xã hội trước đây đã chọn chụp hàng nghìn bản dập văn bia, chụp mi- crô- phim hàng chục vạn trang sách để phục vụ bạn đọc, nhưng vì phương tiện phục vụ không thuận lợi, thành ra cái định giữ vẫn phải đem ra dùng, cái định để dùng thì lại nằm chết trong kho.

Gần đây, Viện Nghiên cứu Hán Nôm có trang bị các máy in chụp và thiết bị bảo quản hiện đại, nhằm một mặt tăng nhanh các bản sao chụp phục vụ bạn đọc, hạn chế đến mức thấp nhất việc tiếp xúc trực tiếp đến những văn bản gốc, mặt khác cố gắng đưa các nguyên bản vào diện bảo tàng lâu dài với những thiết bị tối ưu. Chúng tôi tin là, bằng nhiều biện pháp có hiệu quả, kho sách Hán Nôm, di sản tinh thần quý báu của dân tộc ta đã được bao đời trân trọng giữ gìn, sẽ được chúng ta tiếp tục bảo tồn nguyên vẹn và lâu dài.

CHÚ THÍCH

(1) Phân kho này còn có 95 sách mang kí hiệu HV.

(2) Tạp chí Asie, số 67, năm 1951.

(3) Bản đối chiếu mang kí hiệu A. 750, kho sách Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(4) Thư mục Hán Nôm, bản in rô- nê - ô, Thư viện Khoa học xã hội, Hà Nội, 1969 - 1972.

TB

TỔ CHỨC BẢO QUẢN SƯU TẦM
THƯ TỊCH VÀ TƯ LIỆU HÁN NÔM CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

MAI NGỌC HỒNG

Với tư cách “vừa là trung tâm bảo tồn các nguyên bản chữ Hán, chữ Nôm, vừa là trung tâm khai thác các thư tịch và tư liệu chữ Hán, chữ Nôm” như văn bản của Nhà nước đã quy định, Viện Nghiên cứu Hán Nôm ngày nay đang bảo quản kho sách vở và tài liệu Hán Nôm lớn nhất, tiêu biểu nhất của cả nước, Nhưng công tác bảo vệ, sưu tầm tư liệu Hán Nôm thì đã được chú ý ngay từ khi tiền thân của tổ chức này - ban Hán Nôm - ra đời năm 1970. Phòng tư liệu của Ban Hán Nôm hồi ấy, trong khi xây dựng kho tư liệu phục vụ công tác nghiên cứu, đã chú ý sưu tầm được hàng trăm văn bản Hán Nôm ở khắp mọi miền đất nước. Đặc biệt là từ sau khi có Quyết định của Hội đồng chính phủ số 311/CP ngày 13-9-1979 nâng ban Hán Nôm lên thành Viện nghiên cứu Hán Nôm và quy định trách nhiệm cho Viện về việc bảo quản, sưu tầm và tổ chức khai thác tư liệu Hán Nôm trong phạm vi cả nước, thì công tác bảo vệ, sưu tầm, thư tịch Hán Nôm mới thực sự có điều kiện để đẩy mạnh.

Là những người được Viện giao trách nhiệm trực tiếp làm công tác bảo quản và sưu tầm thư tịch và tư liệu Hán Nôm, chúng tôi xin nêu kết quả bước đầu của công tác đó.

Về công tác bảo quản: Tháng 2 năm 1982, Viện Nghiên cứu Hán Nôm tiếp nhận kho thư tịch và tư liệu Hán Nôm từ Thư viện Viện Thông tin khoa học xã hội gồm 11.167 cuốn sách, trong đó kí hiệu A có: 3.231 cuốn, AB: 652 cuốn, AC: 700 cuốn, kí hiệu AD (thần sắc): 454 cuốn, AE (thần tích): 556 cuốn, AF (tục lệ): 748 cuốn, AG (địa bạ): 500 cuốn, AH (xã chí):200 cuốn, AJ (cổ chí): 252 cuốn; và 20.979 thác bản văn bia.

Mặc dù phải đưa các nguyên bản ra phục vụ người đọc, nhưng cho đến nay, sau gần năm tiếp nhận. Chúng tôi vẫn bảo quản tốt số sách và tư liệu nói trên. Để bảo vệ các văn bản gốc, Phòng kỹ thuật (in chụp) của Viện đang khẩn trương sao chụp văn bản, trước hết la những văn bản quý hiếm. Trong tương lai, toàn bộ kho sach sẽ được sao chụp, các văn bản gốc sẽ được dưa vào bảo tàng để giữ gìn lâu dài. Số sách vở Hán Nôm, trải nhiều năm tháng, qua bao lớp đọc, đang cần được bồi vá, sửa sang lại. Chúng tôi đang tiến hành công việc này một cách khẩn trương. Mặt khác, được sự giúp đỡ của Tổng cục Hoá chất, chúng tôi tiến hành định kỳ 3 tháng 1 lần dùng hoá chất bốc hơi diệt trừ mối mọt, vi khuẩn thay bột DDT trước đay rất ảnh hưởng tới người bảo quản và bạn đọc. Gần đây, chúng tôi đã nghiên cứu cho lắp đạt các thiết bị hiện đại như máy điều hoà nhiệt độ, máy hút bụivà áp dụng kỹ thuật vi khí hậu vào khâu bảo quản kho sách.Trước mắt, chúng tôi đang nghiên cứu áp dụng những kinh nghiệm boả quản tư liệu cổ của các đồng nghiệp Liên Xô sau chuyến đi khảo sát công tác bảo quản, sưu tầm ở Liên Xô.

Hướng cố gắng của Viện nghiên cứu Hán Nôm hiện nay về công tác này là tích cực liên hệ với các cơ quan hữu quan để sớm có địa điểm, có nguyên liệu, thiết bị xây dựng Nhà Bảo tàng Hán Nôm. Chúng tôi tin là, sự nghiệp chung bảo vệ và khai thác di sản văn hoá dân tộc,vì “trách nhiệm cha ông tổ tiên và muôn đời con cháu sau này”, mọi người sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho mọt Nhà Bảo tàng Hán Nôm ra đời.

Về công tác sưu tầm: Hiện nay, ngoài kho sách vở và tư liệu Hán Nôm do Viện nghiên cứu Hán Nôm quản ký, còn có một khối lượng đáng kể các văn bản Hán Nôm còn nằm trong một số đoàn thể,cơ quan Nhà nước,trong nhân dân và một ít ở nước ngoài. Đẻ giữ gìn cho tốt số văn bản này, cũng như vì lợi ích của sự nghiệp nghiên cứu, khai thác, số sách vở, tư liệu Hán Nôm này cần được tập trung về một mối, càng sớm càng tốt.

Trong nhiều năm qua, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã tiến hành một phần công tác điều tra cơ bản những tư liệu Hán Nôm hiện nay còn tại cơ quan ở Hà Nội và các địa phương. Riêng tại Hà Nội,Viện đã lập được danh mục chỉ báo các tư liệu Hán Nôm lưu giữ ở một số Viện nghiên cứu, một số Trường đại học, một số cơ sở lưu trữ của cơ quan văn hóa. Đối với một số tỉnh trọng điểm, Viện đã lần lượt cử người tới tận nơi cùng hợp tác với các đồng chí làm công tác văn hoá, bảo tàng, thư viện để lập danh mục tư liệu Hán Nôm ở nơi đó. Ví như chúng tôi đã có được danh mục sách vở và tư liệu Hán Nôm của Thái Bình: 7.500 bản, Vĩnh Phú: 564 bản, Hà Sơn Bình: 920 bản… Viện cũng đã, qua nhiều đường, có được một số bản chụp những sách quý, và một số danh mục sách Hán Nôm ở nước ngoài như bản Thư mục Hán Nôm của Thư viện Quốc gia Pháp ở Paris do nhà nghiên cứu lão thành Hoàng Xuân Hãn sao chép.

Công việc thu thập, sưu tầm tư liệu Hán Nôm được Viện tiến hành qua nhiều con đường, bằng nhiều biện pháp.

Nhiều nhà nghiên cứu lão thành, nhiều vị có nhiệt tâm với nền văn hiến của nước nhà đã tặng lại Viện những sách quý. Viện Nghiên cứu Hán Nôm mãi mãi ghi nhớ nhà nghiên cứu Hán Nôm đã quá cố Trần Duy Vôn đã trao lại cho Viện nhiều công trình biên khảo Hán Nôm của mình, nhiều sách vở Hán Nôm có giá trị, tring đó có tập 7 của bộ Ức trai thi tập, tức là tập thơ chữ Nôm Quốc âm thi tập nổi tiếng của Nguyễn Trãi in 1868 mà hiện nay đã rất hiếm. Giáo sư Đặng Thai Mai quan tâm từng bước đi lên của nghành Hán Nôm, đã trao cho Viện một số sách quý, như tập thơ, đã trao cho Viện một số sách quý, như tập thơ Ngâm thiền tạp hưởng của các thi sĩ bị tù đày ngoài Côn Đảo. Từ Ngệ An xa xôi, dòng họ Nguyễn Cảnh đã uỷ thác đồng chí Song Tùng, Thứ trưởng Bộ Lao động, trao tặng Viện bộ gia phả của dòng họ mình ( ghi lại lịch sử 300 năm tham gia đánh giặc giữ nước của dòng họ Nguyễn Cảnh ). Đó là sách Thiên Nam liệt truyện Nguyễn Cảnh thị Hoan Châu ký soạn thảo vào năm Dương Đức thứ nhất (1962). Cụ Đỗ Văn Hới tặng lại Viện 10 bộ sách lịch sử và địa chỉ. Hiện nay, có máy in chụp, Viện có thể trao đổi với cá nhân hoặc đoàn thể, cơ quan để đưa bản gốc về làm di vật bảo tàng. Hướng này đã được nhiều người hưởng ứng, như bộ Hùng đồ thập bát diệp thánh vương ngọc phả cổ truyền ghi chép thế thứ 18 đời vua Hùng do Nguyễn Sĩ Cố soạn năm Hồng Đức thứ nhất (1471), Lê Đình Hoan sao lại năm Hoằng Định thứ nhất (1600), được chao đổi băng con đường này.

Viện cũng đã bắt đầu tổ chức mạng lưới cộng tác viên làm công việc thu thập, sưu tầm tu liệu Hán Nôm ở một số nơi. Có những tấm gương thật cảm động; cụ Hoàng Văn Cồng ở Hà Sơn Bình, với đôi quang gánh, đi bộ khắp mấy tỉnh Hải Hưng, Thái Bình, Thanh Hoá… thu mua cho Viện hàng trăm bộ sách có giá trị; cụ Vũ Đình Ngạn ở Thái Bình đã tập hợp vị túc nho ở địa phương để tìm kiếm, thu thập sách Hán Nôm gửi về Viện…

Các Phòng nghiên cứu của Viện hằng năm vẫn cử cán bộ của mình đi sưu tầm, thu thập tư liệu Hán Nôm ở các nơi. Chăng hạn, tổ Bia của Phòng nghiên cứu các thư tịch chữ Hán đã rập được hàng chục bản văn bia mới, tổ Nôm Tày của Phòng nghiên cứu các thư tịch chữ Nôm nhiều năm liền đi về các tỉnh Bắc Thái, Cao Bằng, Lạng Sơn để sưu tầm các văn bản Nôm Tày. Hơn 200 bộ sách Nôm Tày đã lên danh mục, làm nên sắc thái mới của kho Hán Nôm, là kết quả bước đầu của những chuyến đi đó. Với những biện pháp trên đây, những năm qua Viện đã thu thập được hơn 5.000 cuốn sách Hán Nôm, rập được hơn 30 thác bản bia mới, và một số tư liệu Hán Nôm khác như 4.000 tấm ván khắc gồm kinh Phật và một vài cuốn sách, truyện khác nữa với sự giúp đỡ của nhà khảo cổ học Phạm Huy Thông…

TB

THƯ VIỆN THÁI BÌNH VỚI CÔNG TÁC SƯU TẦM TÀI LIỆU VÀ THƯ TỊCH
HÁN NÔM

PHẠM HỒNG TOÀN

Cách đây 17 năm, sau khi Uỷ ban Hành chính tỉnh Thái Bình có Thông tri số 171/ VX ngày 12-3-1966, Thư viện tỉnh Thái Bình đã thành lập nhóm “Hán Nôm”, tiến hành việc điều tra, sưu tầm, thu thập tài liệu Hán Nôm trong tỉnh. Trong thời gian từ 4-1966 đến 8-1969, nhóm đã tiến hành khảo sát, sưu tầm tài liệu trong 19 xã thuộc các huyện Kiến Xương, Thái Thuỵ, Đông Hưng và Quỳnh Phụ. Cách làm như sau:

Trên cơ sở Thông tri Uỷ ban hành chính tỉnh về bảo vệ tải liệu Hán Nôm.

Những người đi sưu tầm đã tổ chức:

a) Phát động quần chúng đăng kí thống kê tài liệu Hán Nôm mà gia đình có.

b) Giáo dục ý thức bảo vệ tài liệu Hán Nôm.

c) Vận động quần chúng hiến sách cho Thư viện.

d) Mua lại, sao chép những sách thật quý, hiếm.

Ngoài sách, các loại thư tịch, tài liệu khác cũng được thống kê. Sau hơn 3 năm cần mẫn làm việc, kết quả đã thu được như sau:

- Thống kê và giao lai gia đình người có sách nhận bảo quản được 7.755 cuốn sách gồm nhiều môn loại.

- Sưu tầm và thống kê một số câu đối, hoành phi, đại tự, ngọc phả, thần sắc, bia đá, văn tự…

- Sao chép và dịch một số sách Hán Nôm phục vụ việc nghiên cứu về tỉnh và sản xuất nông nghiệp.

- Nhận tặng biếu hoặc sao chép, mua về cho Thư viện tỉnh tổng cộng 41 tên sách gồm 75 cuốn, một số văn tự, biên lai …

Sau đợt công tác này, nhóm “Hán Nôm” đã tổng kết, rút kinh nghiệm và kiện toàn hồ sơ, địa chỉ tài liệu Hán Nôm, bao gồm một bộ mục lục ghi rõ tên tài liệu, số lượng, tình trạng sách, nội dung, địa chỉ người bảo quản, ngoài ra còn để lại các bản thống kê gồm có 7 cột mục ghi tên tài liệu, tác giả, niên đại, tình trạng sách, nơi người giữ.

Từ sau đợt đó đến nay, công tác sưu tầm và khai thác vốn tài liệu quý báu đó do một số cơ quan tiến hành :

- Phòng bảo tồn bảo tàng.

- Bộ phận nghiên cứu xuất bản thuộc Sở Văn hoá Thông tin.

- Thư viện khoa học tổng hợp tỉnh.

- Ban nghiên cứu lịch sử đảng tỉnh.

Xu hướng chung là ai cần gì thì đi tìm nấy, độc lập với nhau, nên số tài liệu phát hiện được có khi bị chồng chéo, giằng co, hoặc còn nhiều tư liệu quý để sót.

Ngoài ra, còn tình trạng một số cá nhân ở trong và ngoài tỉnh lẻ, sưu tầm lấy tài liệu làm của riêng, nên cũng bị mất mát, hoặc những gia đình nhận bảo quản trước đây không bảo quản tốt nên tài liệu bị mất mát, hư hỏng nhiều.

Chúng tôi có một số nhận xét về vốn sách Hán Nôm ở Thái Bình như sau:

1. Thái Bình là một trong những tỉnh có nhiều tài liệu Hán Nôm lưu truyền trong nhân dân. Số liệu điều tra của Thư viện năm trước đó cho thấy:

Huyện Kiến Xương: xã Quang Trung có 779 cuốn, xã Bình Minh có 542 cuốn, xã An Bồi có 334 cuốn, xã Đình Phùng có 67 cuốn.

Huyện Thái Thuỵ: xã Thái Thịnh có 440 cuốn, xã Thái Hồng có 345 cuốn, xã Thái Hưng có 245 cuốn, xã Thái Xuyên có 145 cuốn, xã Thái Phúc có 112 cuốn.

Huyện Quỳnh Phụ: xã Đông Hảo có 899 cuốn, xã An Vinh có 513 cuốn, xã An Bài có 310 cuốn, xã An Tràng có 257 cuốn, xã An Dục có 115 cuốn.

Huyện Đông Hưng: xã Đông La có 573 cuốn, xã Đông Hà có 510 cuốn, xã Đông Kinh có 444 cuốn, xã Đông Hoàng có 419 cuốn.

Huyện Tiền Hải : xã Vũ Lăng có 689 cuốn.

Kết quả sưu tầm cũng cho thấy nhiều gia đình còn khá nhiều sách Hán Nôm và việc bảo quản cũng khá tốt. Ví dụ gia đình các ông:

- Đặng Lê Kỳ, xã Bình Minh (Kiến Xương) có 217 cuốn sách, 16 bản khắc gỗ.

- Trần Đình Sước, xã Vũ Lăng (Tiền Hải) có180 cuốn.

- Nguyễn Phơn, xã Quang Trung (Kiến Xương) có 147 cuốn.

- Bùi văn Thiệu, thôn Vị Dương, xã Thái Hồng có 51 bản, 77 cuốn.

- Hà Văn Điệng, thôn Đoài Năm, xã Thái Thịnh có 53 bản, 133 cuốn.

ước tính số sách Hán Nôm trong nông thôn Thái Bình hiện còn khoảng mười ngàn cuốn. Nếu việc sưu tầm, thống kê hiện hành đầy đủ, thường xuyên và bảo quản tốt thì ta có được vốn sách Hán Nôm khá phong phú.

2. Sách Hán Nôm còn trong nhân dân Thái Bình có chất lượng khá tốt, nhiều bộ sách quý được phát hiện như bộ Nam cốc tập lãm toát yếu do gia đình ông Đoài Văn Cống, xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, giữ sách Nam dược thần hiệu (Theo Tạ Trọng Hiệp thì bản của Thái Bình cổ hơn bản đã dịch và phát hành hai năm)

Ngoài ra, còn có những văn bia có giá trị như bia đá ghi: 27 vị đỗ thủ khoa của huyện Phủ Dực trước kia, bia ghi tên những người có công xây dựng 12 gian cầu “thượng gia thiết kiều, hạ mộc trạch trụ” ở thôn An Phú, xã Quỳnh Hải, từ năm Chính Hoà 2, bài thơ Ngọc đình ca của Kì Đồng Nguyên Văn Cẩm…

Một số gia phả, hương ước, có giá trị như Phương Ngải đoài giao ước từ, Địa phương sự tích , hương ước làng Võ Lăng, thần tích đình Lãm Khê (Đông Kinh),…vv

3. Việc bảo quản, giữ gìn tài liệu Hán Nôm càng ngày càng ít được chú ý, nhiều sách nay không còn nữa vì quá nhiều lí do.

Sách Hán Nôm hiện nay là tài sản chung của quốc gia, song để bảo vệ và khai thác tiềm năng tri thức này, cần có chế độ, chính sách, nguyên tắc cụ thể, kể cả đối với người sưu tầm và người có công bảo quản trong hàng bao đời nay.

TB

SƯU TẦM BẢO VỆ VÀ KHAI THÁC NGUỒN TƯ LIỆU VĂN BẢN HÁN NÔM Ở HẢI HƯNG

TĂNG BÁ HOÀNH

Hải Hưng xưa nay là đất Hồng Châu, là trấn thứ nhất trong bốn kinh trấn, đứng đầu phên giậu phía đông của cả nước, nơi xảy ra nhiều sự kiện lịch sử. Đất xứ Đông trù phú đã nuôi sống một lượng dân số đông đúc, tạo điều kiện cho các sỹ tử theo đòi ăn học đến thành đạt. Khoa tiến sỹ năm Đại Bảo thứ ba (1442) lấy đỗ 19 người, trong đó 8 người ở xứ Đông, khoa thi năm Thịnh Đức thứ tư (1656) lấy đỗ sáu người, riêng anh em họ Vũ ở Mộ Trạch giành ba tiến sĩ. Số người biết chữ nhiều, ông nghè, ông cử cũng lắm, đây là điều kiện quan trọng để sản sinh ra các loại hình văn bản Hán Nôm có nội dung phong phú, đồng thời là lực lượng lưu trữ những văn bản có giá trị.

Cũng do điều kiện lịch sử này, các làng xã xứ Đông đều có miếu, đình chùa, từ đường. Miền Đông Bắc tuy gọi là miền núi, nhưng được khai thác sớm, phong cảnh hữu tình, có thế chiến lược về quân sự, nên ngay từ từ thời Lý - Trần, ở đây đã có nhiều công trình văn hoá huy hoàng mà một số còn được bảo lưu cho đến nay. Mỗi di tích lịch sử, mỗi công trình kiến trúc cổ nói trên thường kèm theo nhiều bi kí sắc phong, thần tích, kinh kệ, gia phả, hương ước, câu đối, đại tự… Riêng Hải Dương cũ có trên một nghìn làng, nếu chỉ tính mỗi làng 10 tấm bia thì cũng có trên một vạn văn bản loại này.

Ở Dương Nhan có nghề đục đá, khắc bia lâu đời, cạnh có núi đá vôi cho nguyên liệu thích hợp để làm bia. Điều này giải thích vì sao Hải Hưng có rất nhiều bia. Chi riêng động Kinh Chủ đã có 42 tấm.

Ở Liễu Tràng lại có nghề khắc ván in cổ truyền. Có thể nói, đây là trung tâm khắc và in Hán Nôm của đất nước từ những thế kỉ trước. Người Liễu Tràng khắc cho nhà nước, cho nhà chùa, cho các nhà xuất bản và cũng tự khắc các loại sách cần thiết cho nhu cầu văn hóa của nhân dân. ở Liễu Tràng nay còn ngôi quán cổ gọi là Tam Dương quán hay quán Sừu, nơi mà các bà, các chị in sách xong mang ra quán bán luôn hay bán lẻ cho các thầy đồ mỗi khi có dịp ra tỉnh. Đây cũng là điều kiện tạo cho xứ Đông có nhiều sách Hán Nôm.

Nhưng Hải Hưng lại là vùng thường xảy ra lũ lụt và chíên tranh ác liệt, nên nguồn văn bản Hán Nôm đã bị phá hủy khá nhiều. Từ khi thành lập ngành bảo tàng, cơ quan văn hoá Hải Hưng đã lưu ý sưu tầm, bảo vệ các loại văn bản này.

Từ năm 1960, Bảo tàng Hải Hưng đã tiến hành kiểm kê di tích lịch sử, đã phát hiện và sưu tầm nhiều văn bản Hán Nôm viết hoặc in trên giấy, khắc trên đồng, trên đá, trên gỗ hoặc viết trên đồ gốm. Dưới đây là một vài văn bản có giá trị:

Văn bia thời Lý-Trần

1 . Cổ Liêu hương chúc thánh Báo Ân tự bi là một tấm bia thời Lý do Đỗ Thế Diên, trạng nguyên khoa ất tỵ (1185), soạn. Bia dựng trước Triệu Nghị cổ miếu, nay thuộc xã Nghĩa Hiệp, huyện Mỹ Văn. Bia môn nghiêm trọng,chỉ có thể đọc từng đoạn. Sinh thời Lê Quý Đôn đã nghiên cứu tấm bia này.

2. Đại Bi Liên Minh tự bi dựng năm 1328 tại chùa Đại Bi, xã Lạc Đạo. Bia đã có thác bản ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, số hiệu 5303. Nhưng hiện vật đã bị lãng quên từ lâu. Gần đây, chúng tôi mới tim thấy ở góc phòng làm việc của trường phổ thông cơ sở Lạc Đạo. Bia bị quét nhiều lớp vôi đến mức không nhìn thấy chữ hoa văn. Hiện vật nay đã được bảo quantrong nhà truyền thống xã.

3. Sùng Thiện tự bi là tấm bia nhiều người đã biết và gọi lầm là “Thị Đức từ bi”. Bia có văn bản viết vào đời vua thứ bảy triều Trần. Ngoài giá trị văn bản, bia còn có giá trị về điêu khắc. Bia dựng trước chùa Sùng Thiện, giữa cánh đồng thôn Thị Đức, xã Nhật Tân, huyện Tứ Lộc.

4. Bia Phạm Sư Mạnh ở Động Kinh Chủ, khắc năm 1369. Văn bia đã được dịch và in đi in lại nhiều lần. Bia ở trước động Kinh Chủ, huyện Kinh Môn.

5. Văn bia trên bệ đá Trà Dương tại chùa Trà Dương, xã Tống Trân, huyện Phù Tiên. Văn bản mới phát hiện này xác định niên đại tuyệt đối cho một bệ đá hoa sen dựng năm Quang Thái thứ bảy (1391) và có giá trị như một cột mốc cho Khoái Lộ hạ bán thời Trần.

6. Bia Thanh Hư động ở Côn Sơn dựng vào thời Long Khánh (1373-1377). Bia biết đến từ lâu, nhưng gần đây mới được nghiên cứu nghiêm túc, vì nó quan hệ mật thiết đến động Thanh Hư và Trần Nguyên Đán.

7. Bia Viên Thông Thanh Mai tháp dựng năm Đại Trị thứ năm (1362) tại chùa Thanh Mai, xã Hoang Hoa Thám, huyện Chí Linh. Bia do Trung Minh biên tập, Huyền Quang hiệu đính, Trí Nhu xuất tiền mua bia,Thiệu Tuệ viết chữ. Bia có khoảng 5000 chữ.Đây là tấm bia có giá trị bậc nhất về tư liệu của địa phương thời Lý - Trần, phát hiện năm 1979.

Văn bia thời Lê và Nguyễn đã được làm thác bản lưu ở Bảo tàng tỉnh khoảng 200 bản và ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm trên 1.500 bản. Đây mới là một phần quan trọng, chứ chưa phải toàn bộ số bia ở Hải Hưng.

Về Sách

Trong số gần một ngàn cuốn sách Hán Nôm thu về Bảo tàng tỉnh, co những bộ có giá trị như:

- Trọn bộ sách của Hải Thượng Lãn Ông gồm 66 cuốn;

- Bản đồ Việt Nam thơi Hồng Đức có sơ đồ các thừa tuyên và danh sách các trang, trại, thuộc xã của một vài thừa tuyên.

- Nhiều thơ Nôm như Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương…

Ngoài ra còn nhiều tư liệu quan trọng khác về lịch sử, văn hoá của địa phương.

Hơn hai mươi năm qua, ngành bảo tàng và nghiên cứu lịch sử ở Hải Hưng đã làm được một số việc hữu ích về sưu tầm, bảo vệ và phát huy tác dụng nguồn di sản Hán Nôm. Thành tích đạt được chưa đáng kể so với công việc cần làm. Biết bao hành động phá hoại nghiêm trọng nguồn văn bản này chưa có biện pháp ngăn chặn: Sùng Nghiêm là ngôi chùa lớn thời Lý - Trần chỉ còn một tấm bia cũng đã bị đập đem nung vôi. Bia Phạm Sư Mạnh bị hư hại nặng… Hàng trăm tấm bia đang bị lát đường, bắc cầu hoặc đưa vào lò nung vôi. Nhiều sách Hán Nôm, thần tích sắc phong đang bị đe doạ thiêu huỷ. Khoảng nửa thế kỉ nay, nguồn văn bản này không được tái tạo mà tốc độ huỷ hoại ngày càng tăng. Nếu không có biện pháp tích cực và cụ thể bảo vệ, khai thác thì không chỉ nguồn văn bản này bị mất mát mà, mà di sản văn hoá nói chung sẽ bị huỷ hoại nghiêm trọng.

Về phía địa phương, chúng tôi chủ trương trong những năm tới sẽ tiếp tục sưu tầm và làm thác bản, chụp ảnh những văn bia có giá trị; thu hồi, đăng ký hoặc sao lại những tài liệu Hán Nôm xét thấy có nội dung tốt; tiến hành phân loại và làm thư mục sách và văn bia đã biết, vận động nhân dân phát hiện và bảo vệ loại văn bản này. Về mặt nghiên cứu và khai thác chúng tôi sẽ tập hợp lực lượng hiểu biết Hán Nôm ở địa phương, kết hợp với cơ quan ở Trung ương, để lần lượt giới thiệu những văn bản có giá trị và tiến tới xuất bản Tuyển tập văn bia Hải Hưng. Trước mắt, chúng tôi thấy công việc sưu tầm, bảo vệ vẫn cần phải làm trước. Mong rằng chương trình công tác của chúng tôi được Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các cơ quan ở trung ương cộng tác và giúp đỡ.

Về phía trung ương, chúng tôi đề nghị Viện Nghiên cứu Hán Nôm thường xuyên thông báo kết quả sưu tầm, nghiên cứu Hán Nôm; xuất bản bộ Thư mục các thư tịch và tư liệu Hán Nôm tổ chức các hội nghị chuyên đề về Hán Nôm… nhằm đẩy mạnh công tác sưu tầm, bảo vệ, khai thác, nghiên cứu kho tàng văn bản Hán Nôm, góp phần đắc lực vào sự nghiệp nghiên cứu lịch sử và văn hóa dân tộc.

TB

KHO SÁCH HÁN NÔM CỦA SỞ VĂN HÓA VÀ THÔNG TIN HÀ SƠN BÌNH

NGUYỄN THANH PHÚC
ĐINH KHẮC THUÂN

Nhiều năm qua, bằng mọi biện pháp tích cực, ngành Văn hoá Thông tin Hà Sơn Bình đã bảo vệ được một số thư tịch và tư liệu Hán Nôm đáng kể thu góp từ các địa phương trong tỉnh, Gần đây, hợp tác chặt chẽ với Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi đã tiến hành thống kê, phân loại và làm thư mục cho kho sách này. Đối với số sách quý hiếm, chúng tôi đã lược thuật nội dung và có kế hoạch khai thác ở các mức độ khác nhau.

Toàn bộ kho sách gồm 920 bản và hơn 200 đạo sắc, công văn, lệnh từ, chưa kể hơn 800 bản đã trao cho Thư viện Quốc gia từ 1967. Trong số gần 1.000 văn bản trên, có 853 bản viết bằng chữ Hán, 30 bản viết bằng chữ Nôm, 20 bản vừa Hán vừa Nôm. Số thư tịch và tài liệu này chủ yếu là do người Việt biên soạn, đặc biệt có khá nhiều tác phẩm do người mường viết. Sách do người Trung Quốc biên tập cũng có, nhưng số lượng không nhiều, tập trung ở một số sách kinh điển Nho gia, sách y dược, bói toán…Sơ bộ phân loại có: sách lịch sử, tiểu sử, gia phả: 32 bản; đinh bạ, điền bạ: 30 bản; y dược học: 150 bản; sách Nho, Phật, Lão; 140 bản; thơ văn: 20 bản; giáo dục, luân lý: 50 bản; thần tích, ngọc phả: 10 bản; địa chí: 12 bản; khoa học - kĩ thuật lịch sử (lý số- địa lý): 60 bản; và một số sách mang tính tổng hợp khác.

Nếu đối chiếu với kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, một kho thư tịch và tư liệu Hán Nôm lớn nhất, tiêu biểu nhất của cả nước, thì kho sách của chúng tôi rất ít ỏi về số lượng. Song nó vẫn có những nét đặc sắc riêng. ở kho sách của chúng tôi còn giữ được nhiều đinh bạ, điền bạ, gia phả của người Mường, có thể cung cấp nhiều tư liệu để nghiên cứu lịch sử mọi mặt của người Mường và của địa phương. ngoài ra cũng có vài sách quý, chưa thấy có trong thư mục sách Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Dưới đây là một và dẫn chứng:

1. Nam dược chính bản: in năm Vĩnh Thịnh thứ mười ba (1717), 208 trang. Sách còn nguyên vẹn, chữ rõ. Lời tựa của sách có nhắc đến Tuệ Tĩnh, người xã Nghĩa Phúc, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, là một thầy thuốc có viết sách. Sách do các quan trong nội phủ khảo đính và các quan trong y viện duyệt lại. Sách diễn Nôm các phương thuốc hay của nước ta, có bài phú Nam dược quốc ngữ

2. Sài Sơn tập: 40 trang chép taym không có niên đại. Phần đầu chép bài văn bia.

3. Thần hoá lục: 22 trang chép tay, sao lại năm Tự Đức thứ 8(1855) theo bản của Nguyễn Hiền sao của Nguyễn Bính, viết thần tích của Linh Lang đại vương triều Lý.

4. Quách Thị gia phả: 18 trang, có tựa đề, chép lại năm Quý Mão đời Thành Thái(1903). Thuỷ tổ là Quách Hữu chiệc ở xã Thạch Bi, đến đời thứ 24 là Quách Hữu Thuận vào năm Thành Thái thứ mười lăm (1903). ở đời 12 có Quách Nhân Thọ phù Lê diệt Mạc, được phong “Khai Quốc công thần” và hầu như đời nào cũng có người hoặc làm quan, lại hoặc giữ chức sắc trong bản.

5. Đình tộc gia phả: 12 trang, các quan lại, chức sắc xã Mông hoá, huyện Kỳ Sơn, sửa lại tộc phả và địa bạ của họ Đinh mà thủy tổ là Đinh Công Vệ.

Tại gia đình ông Sang ở xã Tu Lý, huyện Đài Bắc, hiện đang giữ một bản chúc thư viết trên lụa vào thời Lê niên hiệu Hồng Đức. Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng của Tỉnh ủy vừa sưu tầm được trên 20 tên sách, hầu hết là gia phả, thần phả.

ở chùa Đậu (xã Gia Phúc, huyện Thường Tín) cũng còn một số sách, đặc biệt là hai quyển sách bằng đồng. Một bản còn lại gồm 10 tờ, khắc hai mặt, xung quanh trang trí hoa dây lá lật. Đầu đề của sách là Pháp Vũ tự thực lục. Nội dung sách nói về Man Nương và sự tích thần “Tứ Pháp”. Sách không có niên đại, song qua phong cách trang trí có thể đoán định sách được khắc vào thời Hậu Lê. Thư viện Nghiên cứu Hán Nôm có bản sao vào thời Thành Thái (1889- 1907), sách ghi rõ “sao lại sách đồng chùa Pháp Vũ”.

TB

THANH HÓA VỚI VIỆC PHÁT HIỆN SƯU TẦM BẢO QUẢN TƯ LIỆU HÁN NÔM

BÙI XUÂN VỸ

Ngành văn hoá Thanh Hoá từ lâu đã chú ý sưu tầm, bảo quản vốn thư tịch và tư liệu Hán Nôm trong tỉnh. Đợt sau sưu tầm có sự giúp đỡ của Thư viện Quốc gia từ năm 1964, thu được một ô tô sách vở tài liệu, đều gửi về Trung ương, là một ví dụ tiêu biểu.

Những năm gần đây, công tác này được trao lại cho Thư viện Tổng hợp tỉnh. Nhưng thực ra, phải nói toàn ngành văn hoá tỉnh, ngành giáo dục, xã hội, Hội Y học dân tộc tỉnh, đã tham gia sưu tầm, bảo vệ thư tịch và tư liệu Hán Nôm. Mỗi đợt sưu tầm, chúng tôi đều có chuẩn bị chu đáo, và chia làm hai bước. Bước một là mở lớp tập huấn ở huyện, mỗi xã cử một cụ biết chữ Hán, chữ Nôm tham gia, các cụ đều được hướng dẫn cách ghi, cách lập bảng. Bước hai, qua biểu mẫu thống kê phát hiện, chúng tôi mua sách mới tiếng Việt đổi lấy sách Hán Nôm. Ai không muốn biếu tặng mà cũng không muốn đổi, bán, thì chúng tôi xin sao chép rồi trả lại. Dưới đây là một vài con số thể hiện công tác sưu tầm của chúng tôi:

STT Thời gian Đơn vị Đại tự câu đối Thơ ca Phú Văn tế Sắc phong Văn bia Sách Bị chú
Đã thu Số biết
1 1976/12 Nông Cống 100 30 10 15 50 20 100 210 Có hai sách tiếng Pháp
2 1977/6 Thiệu Hoá 186 27 6 3 74 18 30 124
3 1977/8 Vĩnh Lộc 304 38 12 28 56 31 22 71 Có 30 sách tiếng Pháp
4 1977/12 Hoằng Hoá 950 200 35 20 48 32 200 300
5 1977 Hậu Lộc 150 48 6 2 20 8 180
6 1977-1978 Yên Định 11
7 1976 Trường cấp 3 Hàm Rồng 10 20
8 1976 Trường cấp 3 Lam Sơn 20 5
9 1977 Đông Sơn 20
1720 343 69 68 248 109 408 885

Trong số tư liệu mới sưu tầm, chúng tôi đã dịch 250 câu đối, 50 bài thơ ca, phú, 15 bài văn bia, 12 sắc phong và 5 văn tế. Đáng chú ý về văn bia là tấm bia cổ Trường Xuân nổi tiếng dựng năm 618; bia mộ Lê Văn Hưu, nhà sử học đời Trần. Về truyện, có sự tích Bà Triều gồm trên 300 câu thơ bằng chữ Nôm, do Trần Trung lập soạn, có truyện Bà Triệu do Nhữ Bá Sĩ viết, bổ sung nhiều tư liệu về Bà Triệu do Nhữ Bá sỹ viết, bổ sung nhiều tài liệu về Bà Triệu mà sử sách còn để trống…Ngoài ra còn có gia phả công thần Nguyễn Chích gồm 17 đời, có sưu tập cả bài chế văn soạn năm Thái Hòa thứ bảy (1499) và bài văn bia do Trình Thuấn Du viết năm 1450...

Những thư tịch và tài liệu Hán Nôm mới sưu tầm trên đây đã cung cấp tư liệu để hiểu biết thêm về lịch sử và văn hoá của Thanh Hoá, và trong một chừng mực nhất định đã bổ sung nguồn sử liệu của đất nước.

Để kết luận, chúng tôi xin trích dẫn lời đồng chí Tố Hữu, nguyên là Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Thanh Hoá hồi trước Tổng khởi nghĩa, trong bài Vài suy nghĩ về nghiên cứu văn học mà chúng tôi cho là rất có ý nghĩa đối với công tác sưu tầm, bảo quản : “Chúng ta là một dân tộc văn hiến, nhưng công trình để lại bị mất mát quá nhiều. Cho nên phải cố gắng rất lớn để thu thập, gìn giữ giúp cho việc nghiên cứu của thế hệ chúng ta hôm nay và những thế hệ mai sau…”.

TB

TÌNH HÌNH SƯU TẦM SÁCH HÁN NÔM Ở BẮC THÁI

BẾ SĨ UÔNG

Bắc Thái chúng tôi có nhiều dân tộc anh em như Tày, Nùng, Kinh, Dao, Cao Lan, Sán Chỉ, Sán Dù, Hoa, Hmông… Mỗi dân tộc đều có vốn văn hoá đặc sắc riêng của mình.

Công tác sưu tầm vốn văn hoá này được Tỉnh uỷ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh rất coi trọng. Năm 1980, bộ phận nghiên cứu sưu tầm văn hóa truyền thống của tỉnh được thành lập, có nhiệm vụ phát hiện, sưu tầm, khảo sát, nghiên cứu và giới thiệu từng bước vốn văn hoá của các dân tộc. Nhưng hiện nay, các thư tịch và tư liệu Hán Nôm hầu như là đối tượng duy nhất của công tác sưu tầm, khảo cổ, nghiên cứu và giới thiệu từng bước vốn văn hoá của dân tộc. Nhưng hiện nay, các thư tịch và tư liệu Hán Nôm hầu như là đối tượng duy nhất của công tác sưu tầm vốn văn hoá truyền thống. Vì đông đảo lớp người trẻ hiện nay ít biết các truyền thuyết truyền miệng. Các cụ già cao tuổi thì cũng không còn đủ tỉnh táo để nhớ cho rành mạch từ đầu đến cuối các câu chuyện, bài thơ hay bài lượn nữa. Vốn văn hoá truyền thống này chỉ còn giữ được trong các thư tịch và tài liệu Hán Nôm. Thực tế, có những bộ truyện dài tới vài trăm trang hoặc nghìn trang sách, có bộ sưu tập các bài hát mà trai gái hát đến vài đêm ngày không hết…

Nhưng trải qua nhiều năm chiến tranh ác liệt, các tư liệu Hán Nôm mất mát, không còn được là bao nhiêu; số còn lại, mấy chục năm nay cũng bị mất dần, vì sách Hán Nôm gắn liền với lớp người già, khi người chết, theo tuc lệ phải đốt vài quyển… Nếu gia đình không còn ai biết nữa thì đốt hết, đốt sạch. Đến nay vẫn còn tình trạng này. Vừa tháng hai năm nay, tôi xuống xã Thanh Vận - Thanh Mai, huyện Bạch Thông, được xã giới thiệu vào nhà cụ Hà Văn Sôi, 83 tuổi, cụ bảo tôi: “Sách gì tôi cũng có, không chỉ riêng sách làm thầy cúng, nhưng cả nhà không còn ai biết đọc, các sách truyện cổ tích, sách thơ, lượn nhiều lắm, nhưng năm ngoái tôi mới đốt đi khoảng một gánh hai sọt đầy”…

Do tình hình trên, bộ phận nghiên cứu, sưu tầm chúng tôi phải có kế hoặch và biện pháp mới, với tinh thần cấp bách hơn. Mỗi năm đi hai đợt sưu tầm, mỗi đợt đi ba tháng và đi hai huyện. Bộ phận tuy ít người, nhưng vẫn phân công nhau đi sưu tầm liên tục. Người ở nhà thường xuyên tập hợp, phân loại và sao chép lại sạch sẽ, để tranh thủ sự chỉ bảo, giúp đỡ của các cụ có hiểu biết, có kinh nghiêm về mặt này.

Chúng tôi thường đi sưu tầm vào mùa xuân và mùa thu là mùa ít nắng ít mưa, đi lại dễ dàng, việc đồng áng tương đối rỗi rãi, để dễ tiếp xúc với nhân dân.

Qua ba năm sưu tầm, chúng tôi đã thu được một số lượng đáng kể các sách truyện, thơ đám cưới, bài hát lượn… ghi bằng chữ Hán, chữ Nôm, và những tư liệu Hán Nôm khác. Các tư liệu Hán Nôm có cuốn thì mục nát, có cuốn mất đầu mất đuôi, mất giữa, không còn được trọn vẹn, nhiều cuốn chỉ còn tên sách, ba năm nay không còn tìm được ở đâu cho đủ cuốn truyện, như : Lưu Tương, Hán Trương, Tổng đôn, Trọng Trương, Nhân Lăng,… Về các thể loại dân ca như lượn, thơ đám cưới,… hàng ba bốn chục cuốn sách đều ở tình trạng tàn khuyết vẫn chưa chỉnh lý được.

Mặt khác, nhân dân chưa hoàn toàn thông suốt chủ trương sưu tầm vốn sách Hán Nôm, của chúng ta, cho nên không nói thật, không muốn cho, sợ Nhà nước thu mất không còn để cho đời con cháu mai sau.

Ngoài ra, Bắc Thái chúng tôi do kinh phí có hạn, chưa đặt vấn đề mua các tư liệu Hán Nôm đó, nên chúng tôi không có kho riêng để cất giữ thư tịch và tài liệu Hán Nôm, chúng tôi chỉ mượn về nghiên cứu khi cần thiết, xong việc, lại đem trả cho người có sách. Như vậy cũng khó mà bảo vệ tốt vốn sách Hán Nôm của địa phương.

Vì vậy, chúng tôi rất tán thành chủ trương phối hợp cố gắng giữa Trung ương và địa phương, giữa các ngành để đẩy mạnh sưu tầm tài liệu Hán Nôm do Viện Nghiên cứu Hán Nôm đề xuất. Nhân đây chúng tôi có hai đề nghị:

1. Viện Nghiên cứu Hán Nôm cần kiến nghị với Nhà nước ra một tờ tạp chí riêng để giới thiệu, công bố tư liệu Hán Nôm quý của các địa phương, có thể dịch ra hai thứ tiếng (tiếng Việt và tiếng các dân tộc ít người).

2. Khen thưởng các cá nhân, tập thể có nhiều thành tích về công tác sưu tầm và bảo vệ sách Hán Nôm.

TB

VĨNH PHÚ VỚI CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU VÀ SƯU TẦM BẢO QUẢN TƯ LIỆU HÁN NÔM

NGÔ QUANG NAM

Về công tác nghiên cứu: Ngay những năm đầu hoạt động của bảo tàng Vĩnh

Phúc, các tư liệu Hán Nôm đã được coi trọng và đã được mang về Bảo tàng cùng với những hiện vật lịch sử văn hóa khác.

Các bia đá, chuông, khánh được dịch làm tư liệu nghiên cứu. Số sách Hán Nôm đã được chọn dịch 15 cuốn như: Thần tích xã Sơn Nga, Sơn Vi địa chí, Ngọc phả triều Hùng, Thần tích Trần Khắc Chung ,vv… Nhiều tư liệu có giá trị quý trong công tác nghiên cứu, chẳng hạn như bản chúc thư bằng đồng của thổ lang Đinh Thế Thọ tìm thấy ở Thanh Sơn, gồm ba lá với sáu trang chữ Hán, đã giúp nhà nghiên cứu thấy được quyền sở hữu ruộng đất của giai cấp, sự bóc lột theo các tầng lớp của tầng lớp lang đạo với đồng bào Mường…

Một số tư liệu Hán Nôm đã được đưa vào kho làm hiện vật bảo tàng, chẳng hạn như hiện vật số 1357 là một cuốn thư sơn son thếp vàng có ghi chữ Hán, cuốn thư này được coi như một “viên ngọc Lam Điền” đối với người được tăng.

Loại hiện vật đáng kể mang tư liệu chữ Hán nữa là tiền cổ. Hiện nay trong kho bảo tàng Vĩnh Phú có 50 loại tiền đồng, kẽm có khắc chữ Hán thường là ghi niên hiệu các đời vua chúa; căn cứ vào đó, ta có thể đoán định một cách tương đối thời gian xuất hiện của nó và các hiện vật khác cùng thời hoặc cùng tầng văn hoá.

Về công tác bảo quản: Như đã nêu ở trên, tư liệu Hán Nôm tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, nên việc bảo quản cũng gặp phải những khó khăn. Trong những năm qua, Vĩnh Phú đã chú ý đến công tác này. Uỷ ban nhân dân tỉnh đã có Chỉ thị 73-CT về việc bảo vệ và quản lý tài liệu Hán Nôm. Các loại sách đã được sưu tầm về kho dự trữ, đã được kiểm kê bước đầu và làm thư mục. Đối với các loại bia, chuông, khánh, câu đối, đại tự, hoành phi thì được bảo quản tại chỗ theo của nội quy của di tích. Loại để ở Bảo tàng thì được bảo quản như các loại hình hiện vật. Tuy vậy, do điều kiện thực tế của địa phương nên việc nghiên cứu, sử dụng và bảo quản các tư liệu Hán Nôm còn nhiều hạn chế. Phần vì do năng lực của cán bộ(đều không biết chữ Hán), lại thiếu sự hỗ trợ của các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành, nên tư liệu Hán Nôm còn rải rác trong nhân dân mà chưa được thu thập hết. Vả lại, loại đã thu về cũng chưa phát huy được tác dụng vì việc dịch thuật để phục vụ cho nghiên cứu còn chậm và ít.

Trong những năm tới, Vĩnh Phú sẽ có những phương hướng tích cực và cụ thể hơn nhằm:

- Chủ động sưu tầm và có biện pháp cụ thể để bảo vệ những tư liệu Hán Nôm còn lưu giữ trong nhân dân.

- Dịch những tư liệu Hán Nôm để phục vụ cho công tác nghiên cứu lịch sử và văn hóa.

Những việc này cần có cán bộ chuyên nghiên cứu Hán Nôm, Chúng tôi mong rằng, được sự quan tâm của Uỷ ban Nhân dân tỉnh và Viện Nghiên cứu Hán Nôm, công tác bảo vệ và nghiên cứu các tài liệu Hán Nôm của tỉnh Vĩnh Phú sẽ thu được những kết quả có chất lượng cao hơn.

Nhân đây, chúng tôi cũng mong muốn các tỉnh bạn hãy giới thiệu với Vĩnh Phú chúng tôi những tài liệu Hán Nôm có liên quan đến lịch sư của tỉnh chúng tôi và cho phép chúng tôi cùng hợp tác nghiên cứu.

TB

THỬ ĐỀ NGHỊ MỘT HƯỚNG SƯU TẦM BẢO QUẢN SÁCH VỞ TÀI LIỆU
HÁN NÔM HIỆN NAY

NGUYỄN ĐỔNG CHI

Như đã phát biểu trong một hội nghị Hán Nôm cách đây năm năm, chúng tôi xin phép nhắc lại mấy ý kiến chính sau đây:

A. Đối với sách vở, giấy tờ đã thu thập được tại các cơ quan:

1. Cơ quan nào bảo quản phải có sổ sách, hồ sơ đầy đủ về những gì đã sưu tầm được, và có trách nhiệm bảo vệ thật tốt chúng. Nghiêm trị những hành động để hư hỏng, mất mát hoặc “rút ruột”. Những sách vở, giấy tờ thấy không cần thiết giữ lại thì đề nghị chuyển giao cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

2. Có nhiệm vụ phải thông báo khối lượng sách vở tài liệu Hán Nôm đã giữ, hoặc mỗi lần nhập vào, cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm biết.

3. Sẵn sàng cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm sao chụp, hay có thể thay đổi bản sao chụp lấy nguyên bản về để bảo vệ tốt hơn.

B. Đối với sách vở, giấy tờ của tư nhân:

1. Đề nghị được thương lượng mua hoặc sao chụp.

2. Nếu người có sách vui lòng tặng cho Viện nghiên cứu Hán Nôm, thì Viện sẽ cũng có những hình thức đền đáp tương xứng. Tên và địa chỉ người tặng phải được ghi vào sổ đăng kí.

3. Viện Nghiên cứu Hán Nôm phải có một bộ phận chuyên trách sưu tầm, trong đó nên có chuyên gia thư tịch cổ để tránh nhầm lẫn trong việc nhận định, đánh giá.

4. Nên khuyến khích một số người đi mua sách cũ tiếp tục hành nghề, nhưng dưới sự kiểm soát của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

C. Đối với các bia cổ:

1. Viện Nghiên cứu Hán Nôm nên có một bộ phận chuyên môn nám vững kĩ thuật rập bia. Viện nên khuyến khích các địa phương và hướng dẫn việc sưu tầm cùng kĩ thuật dập bia. Thác bản đưa về phải bồi để bảo vệ lâu dài.

2. Bia nên có hồ sơ và rập làm nhiều bản. Mỗi bản sẽ để tại một kho riêng. Những bia nào mới có một thác bản cũng nên dập thêm.

3. Nên ngăn cản những hành động huỷ hoại bia.

D. Đối với công tác bảo quản sách Hán Nôm:

1. Cố gắng tiến tới coi nguyên bản hiện có của thư tịch Hán Nôm là đối tượng cất giữ của bảo tàng chứ không phải là đối tượng sử dụng của thư viện.

Nên xúc tiến sao chụp(hoặc làm vi phim) sách Hán Nôm. Những sách đã được sao chụp thì nguyên bản phải được sớm giao cho bộ phận bảo tàng nghiêm chỉnh cất giữ. Thư viện của Viện lần lượt chỉ dùng những bản sao chụp hoặc vi phim để phục vụ người đọc mà thôi.

2. Vì nước ta địa thế dài, nếu thư tịch Hán Nôm chỉ tập trung cả ở thủ đô, sẽ không có lợi cho người nghiên cứu tại miền Nam. Vì vậy, trong tương lai, tại thư viện ở mỗi một trung tâm nên có bộ phận sách Hán Nôm(bản sao chụp hoặc vi phim), ít nhất bộ phận này phải sớm có tại thành phố Hồ Chí Minh

3. Kĩ thuật sao chụp cũng như kĩ thuật dập bia phải làm tốt (không để mờ hoặc mất chữ).

Đ. Đối với công tác dịch và công bố sách Hán Nôm:

1. Theo tôi thư tịch Hán Nôm nên chia làm 3 loại:

Loại A dịch và xuất bản công bố rộng rãi. Nếu nguyên bản được giám định là tốt, thì nên in luôn cả nguyên bản chữ Hán kèm theo với bản dịch, đó cũng là một phương diện nhân bản.

Loại B dịch và công bố hạn chế trong giới nghiên cứu. Nhưng từ khâu giám định, dịch, chú thích đến khâu in không nên làm một cách bôi bác, tạm bợ, mà phải tiến hành có trách nhiệm(dịch chính xác, chú ý kĩ lưỡng, in bằng tyPo,vv…).

Loại C không dịch, chỉ sao chụp cho người nghiên cứu dùng.

2. Ngoài ra, nên chấn chỉnh việc dịch và việc sử dụng những bản dịch sách vở, tài liệu Hán Nôm của một số cơ quan để đỡ lãng phí(ví dụ đã dịch, phải giám định, phải dịch tốt, và cho sao truyền để phổ biến việc sử dụng…)

3. Nên có sự khiển trách thích đáng đối với những cán bộ găm tài liệu hoặc làm khó dễ cho người đọc sách Hán Nôm.

Trở lên là một số ý kiến chủ quan của chúng tôi. Mong rằng nó sẽ có ích phần nào trong kế hoạch sưu tầm và bảo vệ di sản văn hóa quá khứ của Viện nói riêng và của toàn quốc nói chung.

TB

NHỮNG CHUYẾN ĐI SƯU TẦM ĐIỀN DÃ THƯ TỊCH TÀI LIỆU HÁN NÔM BỔ ÍCH LÝ THÚ

BÙI VĂN NGUYÊN

1. Quá trình sưu tầm điền dã của tôi trong 10 năm (1959 - 1969)

Chúng tôi xin gác lại việc sưu tầm văn học dân gian, mà chỉ nói đến việc sưu tầm văn học viết. Sưu tầm văn học viết có tính chất đặc thù của nó. Những người đi làm việc này phải ít nhiều biết Hán Nôm, để có thể xem bia, xem phả, câu đối, thần tích,… nên khó chọn trong hàng ngũ của tổ cũng như trong hàng ngũ sinh viên. Tuy nhiên, năm 1963, khi tôi cử một đoàn sưu tầm đi Chi Nê, Hoà Bình, tôi cũng cử một tổ sinh viên 5 người đi về quê hương Chu An ở xã Đại Từ, huyện Thanh Trì, Hà Nội, để tìm về di tích vị giáo sư nổi tiếng đời Trần này. ở đây, tôi có nhờ ông Tảo Trang Vũ Tuấn Sán, lúc bấy giờ công tác ở Sở Văn hoá Hà Nội, giúp đỡ, ông này người cùng quê với Chu An. Đây là một cuộc khảo sát ngắn trong mười ngày, riêng chúng tôi không sưu tầm được tài liệu gì quan trọng, vì về thực tế, đã có ông Vũ Tuấn Sán năm vững rồi, nhưng lại thu hoạch được một phương pháp khoa học về việc điều tra phổ thông một tác giả nhất định: nhà thơ kiêm nhà giáo Chu An. Sau chuyến đi này, tôi liên hệ trước với cụ Nguyễn Thịnh, cháu xa đời của Nguyễn Trãi và nay đã quá cố, để tổ chức đưa cán bộ và sinh viên đi thăm Côn Sơn, nhân dịp về ăn giỗ Nguyễn Phi Khanh ở làng Ngái (Chi Ngãi nay thuộc xã Cộng Hoà, huyện Chí Linh, Hải Hưng). Đoàn chúng tôi gồm 5 cán bộ, 5 sinh viên năm thứ ba bổ túc, tương đương như năm thứ tư hiện nay, ở lại Chi Ngãi một đêm và có tổ chức một cuộc toạ đàm với con cháu bên nội và bên ngoại của Nguyễn Phi Khanh, nhân đó tôi biết được một vài chi tiết bí mật về chi họ Trần Nguyên Đán. Chuyến đi này bao gồm hai ý nghĩa: ý nghĩa tham quan phong cảnh Côn Sơn và thăm con cháu dòng họ Nguyễn Trãi là ý nghĩa bao trùm chung cho đoàn, còn có ý nghĩa tìm hiểu chuyên sâu về dòng dõi Nguyễn Trãi, thật ra, chỉ là ý nghĩa thu hẹp cho riêng tôi. Trên cơ sở nhận định trong thực tế như vậy cho nên sau đó đoàn chủ trương giải tán để khỏi mất thời giờ nhiều người. Trong khi mọi người trở về Hà Nội, thì riêng tôi cùng hai đồng chí trong tổ tự nguyện đi với tôi bằng xe đạp, tiến ra phía Đông Triều (Quảng Ninh) về quê hương Nguyễn Húc, rồi lại xuôi ra Vĩnh Bảo (Hải Phòng) về quê hương Nguyễn Bỉnh Khiêm, vv... Chúng tôi còn đi rất nhiều qua Thái Bình, Hà Nam Ninh, Hải Hưng, rồi mới về Hà Nội. Một chuyến sưu tầm điền dã gồm nhiều điểm như vậy, không thể tự phát tuỳ tiện được, mà phải qua một thời kì chuẩn bị chu đáo của bản thân tôi. Thí dụ, định về quê Nguyễn Húc, Nguyễn Bỉnh Khiêm, thì trước khi lên đường, tôi đã đọc kĩ thư tịch ở các thư viện, nhất là Thư viện Khoa học xã hội, ghi rõ vào sổ tay những chi tiết cần điều tra, tìm hiểu, đối chiếu, .v.v. Đương nhiên, trọng tâm khảo sát của tôi qua chuyến đi thực tế điền dã là Nguyễn Trãi, nhưng chúng tôi phải có nhiền điểm khảo sát phụ như: Nguyễn Húc, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Thánh Tông, .v.v. Như vậy có khi điểm chính không đạt, thì đạt điểm phụ, rồi có khi từ điểm phụ lại dắt dẫn đến điểm chính. Không nên buồn bực, nóng vội, mà nên vui vẻ, thú vị khi thấy cuộc sưu tầm điền dã đôi khi diễn ra có tính chất điều tra phổ thông, không trúng mấy với yêu cầu của mình. Trên cơ sở đó, hễ đến địa phương nào, có gì có thể khảo sát được, là chúng tôi khảo sát, bất cứ đền chùa, bi kí, lăng tẩm. Ngôi chùa cao nhất mà chúng tôi đã tới là chùa Hoa Yên trên dãy Yên Tử (Uông Bí, Quảng Ninh), ngôi chùa cao thứ hai là chùa Hương Tích trên dãy Hồng Lĩnh (Can Lộc, Nghệ Tĩnh..). Di tích mà riêng tôi ghi được có một độ dày không đáng kể, tài liệu mới mà tôi chép được có một số có giá trị khoa học bổ sung cho kho tàng vốn cổ dân tộc ta, và đính chính được một số sai lầm lâu nay. Địa điểm mà tôi trở đi trở lại nhiều lần là Nhị Khê, Côn Sơn, Lam Sơn, tức là những địa điểm có liên quan đến Nguyễn Trãi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

2. Kết quả đạt được trong 10 năm tiến hành sưu tầm điền dã. Một số kinh nghiệm có thể được tham khảo về sau:

Điểm thu hoạch thú vị nhất đối với bản thân tôi, cũng như đối với các anh chị em cán bộ và sinh viên cùng đi với tôi, là: qua các chuyến đi, mỗi người chúng tôi học tập được nhiều trong đời sống, kể cả học tập về kiến thức trong phạm vi chuyên môn hẹp của mình. Không cần phải nói ra nhiều, mọi người tự thấy yêu nước, thương dân gấp bội, vì tự mình chan hoà trong khung cảnh đất nước, trong đời sống nhân dân. Còn cái chuyện ai chưa thấy núi thì đã thấy núi, ai chưa biết biển thì đã thấy biển, rồi ai chưa biết núi Pa Tém, hang Đầu Gỗ, tháp sư Huyền Quang, mộ vua Trần Nhân Tông.vv… thì trong đời mình đã có một lần mình thấy cảnh đó… Những chuyện như vậy thì không thể kể xiết, vô cùng vô tận… Điểm thu hoạch thú vị nói trên dẫn đến điểm thu hoạch thú vị khác, có tính chất hệ quả, là: qua một chuyến đi, mọi người thấy được mối quan hệ giữa nhà trường và cuộc sống, giữa sách vở trong thư viện và sách vở trong cuộc đời, giữa việc giảng dạy, học tập với việc nghiên cứu khoa học, rồi từ đó mọi người đều thấm thía câu nói của cha ông truyền lại: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Và: “Đi cho biết đó biết đây, ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”. Quả vậy, muốn khôn thì phải biết, và muốn biết thì phải “rộng thấy, rộng nghe” (quảng kiến văn). Cũng cần phải nói thêm là: qua những chuyến đi như vậy, mỗi người có dịp thử thách sức chịu đựng gian khổ của mình, tính gan dạ nhạy bén của mình, cũng như tính đồng cảm thương yêu mọi người của mình,…

Riêng kết quả học thuật mà chúng tôi đạt được, thì chúng tôi đã sử dụng từng bước, đưa vào các sách giáo khoa do Nhà xuất bản Giáo dục in như Lịch sử văn học Việt Nam (phần văn học dân gian và văn học phong kiến thượng kỳ), như Tư liệu tham khảo văn học Việt Nam (phần văn học dân gian và văn học phong kiến thượng kỳ). Riêng bản thân tôi, thì tôi lựa chọn một số vấn đề viết cho các tập san và tạp chí như Tập san văn hoá, Tạp chí Văn học, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Tạp chí Khảo cổ học, Tạp chí Ngôn ngữ,…

Mốt số vấn đề cụ thể mà tôi phát hiện qua các chuyến đi là:

1. Dấu vết Hùng Vương và An Dương Vương ở Nghệ Tĩnh qua các thư tịch và thực tiễn.

2. Tên thật bà huyện Thanh Quan là Nguyễn Thị Hinh.

3. Có hai bà Điểm khác nhau, sống đồng thời, hay chữ như nhau, có khả năng đều tham ra dịch Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn là Đoàn Thị Điểm, mất sớm ở nửa đầu thế kỉ XVIII, và Nguyễn Thị Điểm, sống đến nửa sau thế kỷ XVIII, đồng thời với Phan Huy ích.

4. Về văn bản thơ văn Hán Nôm, tôi ghi chép được một số, trong đó đã công bố từng phần hay toàn bộ các bản như sau:

- Bài thơ Nôm Đào nguyên hành của Phùng Khắc Khoan;

- Bài thơ Nôm nói về Vũ Mộng Nguyên ở Hà Bắc;

- Văn thề bằng Nôm ở hội thề Chí Linh (Lang Chánh, Thanh Hoá) tiếp sau Hội thề Lũng Nhai (Trường Xuân, Thanh Hoá), v.v…

Đặc biệt, tôi may mắn được phép đọc tài liệu gia phả mật của dòng họ Nguyễn Trãi từ Nguyễn Phi Khanh ngược lên cho đến Nguyễn Bặc, mà tôi đã công bố lần đầu trong quyển Tác giả Nguyễn Trãi trong nhà trường đại học sư phạm do nhà trường in năm 1980, và quyển Nguyễn Trãi danh nhân truyện kí do Nhà xuất bản Văn hoá in cùng 1980. Thắc mắc của tôi từ mấy chục năm nay đã được giải đáp. Thắc mắc đó là: tại sao những Tiến sĩ có tiếng như Nguyễn Phi Khanh, đã từng viết Thanh hư động ký để ca ngợi nhạc phụ mình, lại không hề nhắc đến tên thân phụ mình? Và cũng vậy, như Nguyễn Trãi đã từng viết Côn Sơn ca để ca ngợi ông ngoại mình, lại không hề nhắc đến tên ông nội mình, và tất cả các loại gia phả công khai (trừ quyển gia phả giả mạo để đánh lạc hướng ở Thư viện Khoa học xã hội) đều cắt từ đời thân phụ Nguyễn Phi Khanh về trước.

Ngoài ra, các chi tiết về thơ văn Hám Nôm tôi thu hoạch được trong hàng mấy chục chuyến đi như vậy có khi chỉ một mình một “Ngựa sắt”(1) mà thôi, thì không thể kể xiết được.

Tóm lại, nếu cần rút một số kinh nghiệm để có thể được tham khảo về sau, tôi xin mạo muội đưa ra mấy điểm sau:

1. Chúng ta đừng nghĩ rằng, cho đến nay, tài liệu, thư tịch như thư tịch Hán Nôm, đã được công bố hết. Kho tàng văn hóa Liễu Đôi (Hà Nam Ninh) cho chúng ta biết còn nhiều điều chúng ta chưa khai thác hết. Rồi đây, chắc chắn còn nhiều kho tàng như Liễu Đôi nữa. Cái ngạc nhiên này dẫn đến cái ngạc nhiên khác. Kinh nghiệm bản thân cho thấy rằng: đừng tưởng chỉ mới “sơ giao” mà đã được người ta trao “vật báu gia đình” cho mình, mà phải có quá trình. Cái khó là ở khâu này, vì người ta có lý: “Chọn mặt gửi vàng”. Cho nên, tôi thường tự trách, chứ không dám trách người.

2. Tổ chức một chuyến đi phải công phu, phải có mục đích rõ ràng, có kế hoạch cụ thể, các khâu tiến hành vững chắc, với nhiều phương án khác nhau. Thành viên của đoàn phải tinh tuyển những người có tinh thần tự nguyện, có chí khí kiên cường, không sợ thất bại, không sợ gian khổ.

3. Người phụ trách đoàn phải quán xuyến về mặt học thuật cũng như về mặt tổ chức đời sống cho đoàn, vì vậy nếu khâu đời sống không được đảm bảo, thì dễ thất bại, mà đáng lẽ không thất bại. Người lãnh đạo đoàn là một người gương mẫu mọi mặt, thì mới làm cho đoàn phấn khởi để đi tới cùng. Đến khi về, nếu có kết quả, thì người lãnh đạo đoàn phải biết phát huy kết quả, để đoàn đi trước làm gương cho đoàn đi sau.

CHÚ THÍCH

(1) Xe đạp

TB

CÔNG TÁC SƯU TẦM TƯ LIỆU HÁN NÔM VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU

LÊ HIỆU

Chúng tôi không không muốn nối thêm lời vào “bản trường ca mất mát” tư liệu Hán Nôm. Nhưng vẫn phải thừa nhận rằng việc mất mát vẫn còn tiếp diễn, dưới một vài hình thức mới.

Không kể thiên tai hai năm nay, những trận lụt lớn, những cơn lốc kì lạ đã ập vào những huyện có truyền thống văn hoá cổ ở Nghệ Tĩnh, Thái Bình, Hà Nam Ninh, không kể những âm mưu mới của kẻ thù mua sách cao ở biên giới, việc mất sách cổ vẫn không ngừng. Gần đây lại có hiện tượng “hoá sách”(đốt sách sau khi bố mẹ ông bà đã chết) nữa. Có nên bàn làm gì về hiện tượng này không, khi những quyển sách mà chúng ta đoán là rất quý đã ra đi cùng những lời nói chí hiếu của cha ông, chí kính với sách vở?

Xin trở lại vấn đề: Trong tình hình mất mát còn kéo dài, tư liệu thư tịch Hán Nôm có còn không? Từ trước tới nay chưa hề có một cuộc điều tra thống kê nghiêm túc nào về tư liệu Hán Nôm, cho nên khó có thể có một câu trả lời chính xác. Vậy chỉ có thể dựa vào những điều nghe thấy ở một vùng nhỏ hẹp mà nói rằng: ngày nay, khối lượng tư liệu Hán Nôm nói chung kém sút rất nhiều so với tình hình cách đây 10, 15 năm nhưng sách vở Hán Nôm hiện nay vẫn còn, và còn nhiều tư liệu quý về nhiều mặt. Nhân thể chúng tôi xin giới thiệu một vài tư liệu mà chúng tôi có dịp được tiếp xúc rất gần đây mà kho sách Hán Nôm ta chưa có. Hầu hết các tư liệu này có nhiều chi tiết có thể bổ sung một lượng thông tin khoa học đáng chú ý.

Gia phả họ Nguyễn Cảnh ở huyện Đô Lương, Nghệ Tĩnh, nổi tiếng là họ có 18 quận công, bắt đầu là Nguyễn Cảnh Mô chống Mạc ở Nghệ An, Gia phả còn có một bài diễn ca chữ Nôm dài mấy trăm câu.

Gia phả họ Nguyễn ở Thanh Liêm, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, nguyên là họ Trần, thuỷ tổ họ này là một vị thượng tướng quân đời Trần, đến đời Lê đổi ra họ Nguyễn vì kiêng huý chữ Trần.

Gia phả họ Đinh của một chi khai quốc công thần đời Lê là Đinh Liệt, ghi chép việc họ này đã cùng Nguyễn Trãi che chở đưa bà Ngô Thị Ngọc Dao về Thái Bình sinh vua Lê Thánh Tông. Chi tiết này bác bỏ một số sách in bấy lâu nay nói nơi sinh của Lê Thánh Tông là ở một ngôi chùa ở Hà Nội.

Gia phả họ Đinh Nho ở huyện Hương Sơn ghi lại lịch sử của họ này có bốn anh em từ Ninh Bình vào Nghệ Tĩnh, chia nhau ở bốn huyện, từ thế kỉ XVI. Đây cũng là một vọng tộc ở Nghệ Tĩnh đã sản sinh ra nhiều Hoàng giáp, tiến sĩ. Gia phả chép lại nhiều thơ văn.

Chông chùa Hà ở xã dịch vọng, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, là một quả chuông lớn đúc đời Cảnh Thịnh thứ bảy(1799), có nhiều chi tiết giá trị để nghiên cứu chữ Hán, chữ Nôm, văn học, giáo dục, hội hoạ đời Tây Sơn. Lạc khoản ghi chức vụ của người soạn bia là “xã giáo” (người chịu trách nhiệm về giáo dục trong xã ), chứng tỏ sự nghiệp giáo dục thời Tây Sơn đã có tổ chức ở cấp xã là điều hiếm có trong lịch sử giáo dục hàng nghìn năm đất nước.

Ngoài ra, còn có một số tập thơ ca:

Kiều Dương thi tập của Nguyễn Danh Dương(1724_1763), em con chú và là bạn thân của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp. Tập thơ gồm 80 bài tứ tuyệt, phần lớn là thất ngôn, vừa nêu rõ tâm hồn thanh cao của một số ẩn sĩ, vừa phản ánh một số tình hình xã hội thời cuối Lê.

Sứ trình ca của Đậu Khuê thụât lại đường đi sứ Thanh đời Tự Đức qua mấy trăm câu thơ lục bát thanh nhã và kì thú. Tác giả là một văn nhân tín cẩn của Phan Đình Phùng trong cuộc chống Pháp ở Nghệ Tĩnh và là người bên ngoại của Nguyễn Thị Minh Khai.

Còn có những kho ván khắc in. Kho ván khắc in lớn nhất là kho Liên Phái, phố Bạch Mai, Hà Nội. Ván khắc xếp chật trên hàng chục giá, đầy mấy gian nhà. Chùa Liên phái thời Lê do nhà sư Trịnh Thập, em chúa Trịnh Cương, dựng lên. Dòng sư này trước tác rất nhiều bắt đầu từ Trịnh Thập. Về sau, có hoà thượng Phúc Điền dịch nhiều kinh phật ra chữ Nôm. Một số sách khắc ở đây có cả tranh minh họa. Trong mấy lần vãn cảnh, tôi được nhà sư trụ trì cho biết có một số ván khắc của đền Ngọc Sơn cũng chuyển về đây(nhiều bài thơ ca bằng chữ Nôm cổ động lòng yêu nước thời thuộc pháp, dưới bề ngoài là thơ giáng bút).