 |

Cũng có những mục chỉ thấy chữ Nôm và chữ Quốc ngữ,mà không thấy phần dịch nghĩa La Tinh tương ứng, chắc vì chưa tìm được từ tương đương (đối đẳng), hoặc còn chờ cân nhắc thêm. Thí dụ các mục từ: ai (trong Ai ôi, Ai cha) tr.69; Mào (trong Chim chốc mào) tr.359; Tưa (trong Tưa lưỡi) tr.667;…
Dưới mỗi mục từ Việt thường có một hoặc nhiều hạng nghĩa, gồm từ kép (từ phức hợp), cụm từ hoặc câu dẫn trích, có phần dịch nghĩa tương ứng bằng tiếng La Tinh. Chẳng hạn dưới mục từ , Bú, Sugere lac (tr.95), có hạng nghĩa sau:
咘 Bú mớm, Lactare
咘 Bú sữa, Sugere lac
Dưới mục từ Xui, Insligare (tr.728). có các hạng nghĩa sau:
吹 逐 Xui giục, Insgare
吹 遣 Xui khiến, Id
吹 弄 Xui lòng, Id
吹 謨 Xui mưu, ad malum aliquem stimulare.
3. Về nội dung, bộ từ điển có cả thảy 5.943 mục từ, nếu kể cả các từ kép hoặc cụm từ trong phần hạng nghĩa, số từ vựng (từ ngữ) dễ chừng lên tới bốn năm vạn. Nếu so với từ điển Việt - Bồ - La của Alexandre de Rhodes, số từ vựng ở từ điển Pigneau tăng lên rõ rệt. Hãy nêu một ví dụ. Dưới mục từ Làm, từ điển Alexandre de Rhodes có cả thảy 12 từ vựng là: Làm dí gì, làm biếng, làm chi, làm chi được, Làm sao, Khỏi làm sao được, Làm thuê, Làm tiền, Làm quí, Làm dáng, Làm bua, Làm quan. Trong khi đó cũng dưới mục từ làm, từ điển Pigneau lại có tới 87 từ vựng, là: Làm lụng, Làm việc, Làm ăn, Làm cách, Làm lành, Làm hoà, Làm lễ, Làm phép, Làm dấu, Làm chứng, Làm cớ, Làm bằng, Làm tang, Làm ruộng, Làm cỏ, Làm rể, Làm dâu, Làm vua, Làm quan, Làm thầy, Làm tôi, Làm lớn, Làm láo, Làm biếng, Làm dò, Làm hình, Làm dạng, Làm sao, Làm vậy, Làm chi, Làm mặt, Làm gan, Làm dạn, Làm vui, Làm khuây, Làm mướn, Làm thuê, Làm giúp, Làm nghề, Lấy làm quí, Lấy làm trọng, Làm thuốc, Làm lời, Làm tờ, Làm khế, Làm chữ, Làm thịt, Làm cá, Làm cho, Làm đi, Làm hại, Làm khốn, Làm hư, Làm nguỵ, Làm loạn, Làm rầu, Làm người, Làm đầu, Làm tuần, Làm tiệc, Làm bữa, Làm quen, Làm quơ, Làm lông, Làm thơ, Làm thư, Làm bài, Làm tuồng, Làm nhà, Làm nũng, Làm kế, Làm rối, Làm tội, Làm nản lòng, Làm tốt, Làm không, Làm ơn, Làm giàu, Làm thinh.
Từ tiếng Việt trong từ điển Pigneau bao gồm từ phổ thông, phương ngữ miền Nam và một số tiếng Việt cổ. Từ phổ thông như: anh em (tr.72, dưới mục từ Anh); chăn loan(tr.114, dưới mục từ Chăn); chẳng được (tr.205, dưới mục từ được); làm việc (tr.302, dưới mục từ Làm); thuốc đắngđã tật, nói thật mất lòng (tr.180, dưới mục từ Đắng); Thấy người làm được ăn, mình xé chăn làm rớ (tr. 114, dưới mục chăn),vv…Phương ngữ miền Nam như: bậu bạn, qua bậu (tr.83, dưới mục từ Bậu), trong khi đã có tiếng phổ thông tương đương là anh em (tr.72, dưới mục từ Anh), bạn hữu (tr.77, dưới mục từ Bạn); hoặc như mền trong mền chiếu, đắp mền (tr.365, dưới mục từ Mền), trong khi đã có tiếng phổ thông tương đương là chăn, trong chăn loan (tr. 114, duới mục từ chăn); hoặc như chi đặng, chẳng được (tr.179, dưới mục từ Đặng), trong khi đã có tiếng phổ thông tương đương là chẳng được, chi được (tr.205, dưới mục từ Được); hoặc mần việc, mần răng, mần rứa (tr.356, dưới mục từ Mần), trong khi đã có tiếng phổ thông tương đương là làm việc, làm sao, làm vậy (tr. 302 và tr. 303, dưới mục từ Làm) vv… Tiếng Việt cổ như: con đòi (tr. 196, dưới mục từ Đòi); màng bao (tr.375, dưới mục từ Màng); tua giữ (tr.667, dưới mục từ Tua); làn đan (tr.137, dưới mục từ Làn), vv…
4. Về kỹ thuật biên soạn, bộ từ điển vừa mang tính kế tục, vừa có nét đổi mới. Kế tục là ở chỗ, cũng như nhiều bộ từ điển song ngữ trước đó của ta, từ điển Việt - La Tinh của Pigneau ngay đầu sách có bảng tra cứu theo bộ thủ và bảng tra cứu theo nét chữ, có sự đối chiếu giữa hình, âm, nghĩa của các từ. Đổi mới là ở chỗ các mục từ được sắp xếp theo thứ tự a, b, c…, tra vừa nhanh chóng vừa giản tiện.
Tuy vậy, tập bản thảo vẫn còn một số mặt chưa hoàn chỉnh. Sách không có Lời nói đầu hoặc Phàm lệ trình bày rõ yêu cầu và quy cách biên soạn. Các hạng nghĩa không sắp xếp theo trật tự vần chữ cái, cũng không sắp xếp theo quá trình diễn biến về nghĩa theo đối tượng, chẳng hạn từ nghĩa đen đến nghĩa bóng, từ nghĩa gốc đến nghĩa dẫn thân cấp 1 đến nghĩa dẫn thân cấp 2… Hình như các hạng nghĩa được tập hợp lại một cách khá ngẫu nhiên, đúng ra là chưa có sự sắp xếp nào cả. Thí dụ các hạng nghĩa thuộc mục từ Đánh được liệt kê như sau: Đánh giặc, Đánh tội, Đánh đập, Đánh khảo, Đánh đòn, Đánh dấu, Đánh thuế, Đánh giá, Đánh cờ, Đánh bạc, Đánh quần, Đánh lưới, Đánh vỡ, Đánh dao, Đánh cá, Đánh trống, Đánh mõ, Đánh tranh, Đánh dây, đánh bẫy, Đánh đu, Đánh sứa, Đánh dát, Đánh nghề, Đánh sáp, Đánh tóc con, Đánh tiếng, Đánh đàng xa, Đánh bóng, Đánh vảy, Trời đánh, Sét đánh, Đánh lửa, Đánh buồm, Voi đánh, Đánh hơi (tr.180 và tr.181). Ngoài ra, trong từ điển còn có những chữ Nôm viết nhầm như út viết thành ít (tr.1); những chữ Nôm viết sót nét, như Mâu 矛 viết thành Dư 予 (tr.880; những lối viết khác nhau của cùng một chữ đáng lẽ nên tập trung về một chỗ, thì lại tản ra làm nhiều chỗ, như trường hợp chữ Xuất 出 viết đủ nét và chữ Xuất viết giảm nét (tr.15), chữ Đức 德 viết đủ nét và chữ Đức viết giảm nét (tr,18),… Cũng có những chữ Quốc ngữ viết sai chính tả, hoặc phiên theo âm đọc miền Nam, như Đíu 弔 (tr.7) lẽ ra phải viết đúng là Điếu; Đàng chim 唐 (tr.179) lẽ ra phải viết đúng là Đàn chim(15); Thắt khuiếc 紩 鈌 lẽ ra phải viết đúng là Thắt khuyết, vv..
Trước hết, đây là một kho tư liệu quý để nghiên cứu tiếng Việt cổ. Cùng với các cuốn từ điển song ngữ Hán - Nôm hoặc Nôm - Hán cổ do người nước ta biên soạn như Chỉ Nam dã đàm, VHv.201; Dương Tiết diễn nghĩa, VHv.1259; Bùi gia huấn hài, VHv.1245/1-2; Tự loại diễn nghĩa, AB. 593; Nhân sự thường đàm ngạn ngữ tập, Vn.70; Nam nhã dân chí khảo A.3175; Nam phong ngữ ngạn thi, AB.343… và các cuốn từ điển đối chiếu hai hoặc ba thứ tiếng liên quan do người nước ngoài soạn thảo như Việt - Bồ - La của Alexandre de Rhodes, An - Nam -La tinh của Pigneau chắc chắn sẽ góp phần không nhỏ vào việc giúp ta tìm hiểu lịch sử tiếng Việt, từ vấn đề ngữ âm đến vấn đề ngữ nghĩa, từ vấn đề ngữ pháp đến vấn đề tu từ…
Đồng thời, bộ từ điển Việt - La Tinh của Pigneau cũng sẽ cung cấp cho chúng ta nhiều cứ liệu chắc chắn để nghiên cứu chữ Nôm thế kỉ XVIII, một mảng vẫn còn quá trống về mặt tư liệu cho đến nay.Trước đó, thế kỉ XVII, đã có khoảng 20 tác phẩm chữ Nôm viết tay mỗi tác phẩm dày năm, sáu trăm trang, do Girolamo Maorica cùng một số người biên soạn(16). Từ thế kỉ XIX trở về sau, tài liệu chữ Nôm sưu tầm được càng phong phú hơn. Bộ từ điển Việt - La Tinh của Pigneau do vậy sẽ là một bổ sung cần thiết về mặt tư liệu để nghiên cứu chữ Nôm thế kỷ XVIII, và sau nữa, lịch sử chữ Nôm trong sự phát triển liên tục của nó từ khởi thuỷ đến 1945. Khác với bộ từ điển thế kỉ XIX, chữ Nôm trong sách Pigneau được ghi chép duới nhiều dạng khác nhau. Thí dụ chữ Đãy có hai cách viết là và (tr.175). chữ Vô có hai cách viết là và (tr.170); chữ Vua có hai cách viết là và (tr.707); chữ Trời có 3 cách viết là , và (652); chữ Trốn có ba cách viết là 遁, 遯 và 迍 (tr.654); chữ Vè có 3 cách viết là 圍, và (tr.692); chữ Aong (Ong) có 4 cách viết là 蜂, , và (tr.73), vv… Dựa vào đây, có thể nghiên cứu cách viết chữ Nôm đủ nét với cách viết chữ Nôm giảm nét; cách viết chữ Nôm “hay”, chữ Nôm “bác học”, với cách viết chữ Nôm “tục”, chữ Nôm “bình dân”; các viết chữ Nôm chung của cả nước ta với cách viết chữ Nôm riêng của Nam bộ…
Cuối cùng, giá trị bộ từ điển Việt - La tinh của Pigneau còn nằm ở chỗ cho ta thấy tình trạng chữ Quốc ngữ cách đây vài trăm năm, khi nó đang trong thời kì xây dựng. Cách viết hồi bấy giờ so với ngày nay nhìn chung là nhất quán, nhưng không phảii không có những nét khác lạ. Về cách phiên âm, trong sách Pigneau, óng có thể viết là Aóng (tr.73); Kệch có thể viết là Cặch (tr.171); Màu có thể viết Mằu (tr.352),vv…
Về kiểu đặt dấu Né, Nẽ có thể viết gộp lại thành Nễ (tr.2); Biết, Biệt có thể viết gộp lại thành Biết (tr.4); Lả, Lã có thể viết gộp lại thành Lả (tr.7)… ở đây có sự kế thừa cách viết chữ quốc ngữ thuộc giai đoạn trước đó, như trong từ điển Việt - Bồ - La chẳng hạn. Ở từ điển Việt - Bồ - La, dặt viết là dèat (ăn dè ăn dèat); ai dấu viết là deấu (deấu tích), tuất viết là tiiết; thuở viết là thỏở; thoắt chốc viết là thoắt choúc… Mặt khác, Báo và Bão cũng viết gộp thành Báo; Bão và Bạo cũng viết gộp lại thành Bão … Từ điển Pigneau đồng thời lại có những lại có những đổi mới quan trọng, đặt cơ sở cho lối viết cho lối viết chữ Quốc ngữ trong các thời kì sau. Nghiên cứu kỹ những đổi thay về cách viết chữ Quốc ngữ qua các giai đoạn, trong đó có từ điển Việt - La Tinh của Pigneau là một cái mốc, có thể rút ra những bài học bổ ích cho công tác cải tiến chữ Quốc ngữ trước mắt.
Sau đây, xin trích giới thiệu một số trang của bộ từ điển Việt - LaTinh (Dictionarium Anamitico- Latinum) của Pigneau de Béhaine, để bạn đọc có một ý niệm.
CHÚ THÍCH
(*) Nguyên tên bộ từ điển là Dictionarium Anamitico-latinum, đáng lẽ phải dịch là từ điển An Nam-La Tinh, ở đây dịch là “Việt-La Tinh” cốt để phân biệt với bộ từ điển cùng tên của Ravier Taberd được dịch là “An Nam-La Tinh” trong bài viết này.
(1) Đoạn trích này do ông Dương Bá Cần dịch từ tiếng La Tinh.
(2) Bộ từ điển được sao chụp lại và chuyển tới Viện Nghiên cứu Hán Nôm với sự giúp đỡ của ông Paul Schneider (tức Xuân Phúc) và ông Pierre Richard Féray ở Trường Đại học Nice; bà C. Rageau ở Trường Viễn Đông bác cổ Pháp; ông Vérnand, nhân viên lưu trữ ở Chủng viện Hội truyền giáo nước ngaòi ở Paris.
(3) Nguyên văn tiếng La Tinh là: “Vocabularium Anamitico-Latinum authore III. R.D. Petro Josepho Georgio Pigneau episcopo Adranensi vicario apostolico Cocincinae. Cambodiae, qui obiit 9 Octobris 1799”. Người ghi những dòng chữ trên là Boinet.
(4) Nguyên văn tiếng Pháp là: “G.52 Dictionnaire annamite composé par Mgr Pigneau de Béhaine, évêque titulaire d’Adran, vicaire apostolique de Cochinchine (1741 - 1799). Ce dictionnaire, demeuré manuscrít, est à la base des dictionnaires imprimés depuis 1838 par Mgr Taberd, J.F. Génibrel, etc...”
(5) Bá Đa Lộc sắc văn tịnh tạp văn thi sao lục, A. 2189.
(6) Bi Nhu Quận công hành trạng di lục, A. 969.
(7) Chính biên liệt truyện q.15
(8) Chính biên liệt truyện q.15
(9) Giám mục Quận công phương tích lục c của Trương Sĩ Tái, soạn năm 1897, xem Đại Nam Hoàng triều Bi Nhu Quận công phương tích lục, in tại Hương Cảng năm 1897, A. 1178, tr. 8a.
(10)Phụng sao giám mục Quận công thạch điện bi minh tự khoản. Xem Đại Nam Hoàng triều... Sđd, tr. 11a.
(11) Xem Lời giới thiệu cuốn từ điển An Nam - La Tinh của Taberd.
(12) Đại Nam Hoàng triều... Sđd, tr. 5b.
(13) Nguyên văn tiếng La Tinh là: “Huic operi septempri mense anni millesimi septine entesimi septuagesimi secundi extrema accessit manus mense junio insequenti annt”.
(14) Chính biên liệt truyện, Sđd.
(15) Ngay như cuốn từ điển An Nam - La Tinh của Taberd, Điếu vẫn còn viết là Đíu; Đàn chim vẫn còn viết là Đàng chim.
(16) Theo tài liệu Thanh Lãng.
|