 |

GIỮ GÌN VÀ NGHIÊN CỨU DI SẢN HÁN NÔM (*)
TRẦN NGHĨA
I. KHO SÁCH HÁN NÔM VIỆT NAM
1. Chữ Hán
Chữ Hán có lẽ được đưa vào Việt Nam khá sớm, ít ra là từ thời Triệu Đà (207 - 137 TCN), khi ông ta sáp nhập nước cổ Âu Lạc của Việt Nam vào bản đồ Nam Việt của họ Triệu (179 TCN). Khoảng 31 chữ triện khác nhau xuất hiện ở 55 chỗ trên 24 di vật có mang văn tự trong ngôi mộ Triệu Văn Đế (136 - 124 TCN) vừa được khai quật tại thành phố Quảng Châu (Trung Quốc) cuối năm 1983 là một gợi ý dẫn tới nhận định ấy(2).
Tuy nhiên, chữ Hán chỉ thực sự trở thành phương tiện học tập và ghi chép trong tay người Việt kể từ đầu Công nguyên trở về sau. Sách Cổ kim thiện ngôn có nhắc tới trường hợp Trương Trọng người Nhật Nam (nay thuộc miền giữa Trung bộ Việt Nam) sống vào khoảng thế kỷ I nắm rất vững chữ Hán và nói thạo tiếng Hán(3). Sách Hoằng minh tập còn giữ 3 bức thư bằng chữ Hán do 2 trí thức Việt Nam là Đạo Cao và Pháp Minh sống vào thế kỷ V soạn thảo để tranh luận về một vấn đề liên quan đến đạo Phật cùng Lý Miễu, viên quan Trung Quốc lúc này đang làm Thứ sử Giao Châu(4). Từ thế kỷ VII đến thế kỷ IX, chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng ngày một rộng rãi ở Việt Nam, với một đội ngũ cầm bút trên dưới 20 người, trong đó có những trường hợp còn để lại tác phẩm dưới dạng ngữ lục, hoặc dạng thành văn bằng chữ Hán như Pháp Hiền (? - 626), Đại Thừa Đăng (TK VII), Thanh Biện (? - 685), Khương Công Phụ (TK VIII), Khương Công Phục (TK VIII), Định Không (? - 808), Liêu Hữu Phương (TK VIII - TK IX), Cảm Thành (? - 806), La Quý An (? - 936) v.v... Đặc biệt Khương Công Phụ từng sang thi Tiến sĩ ở Trung Quốc và đã đỗ đầu khoa bằng một bài phú và một bài văn sách chữ Hán(5), điều này nói nên trình độ điêu luyện về mặt vận dụng chữ Hán và tiếng Hán mà người Việt Nam đã có thể đạt tới ở các thế kỷ VIII, IX.
Từ thế kỷ X trở đi, Việt Nam tuy thoát khỏi ách thống trị của phong kiến Trung Quốc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán theo đà của nó, vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để học tập, ghi chép và phát triển văn hóa dân tộc. Khoa thi chữ Hán cuối cùng ở Việt Nam mặc dù được tổ chức vào năm 1919, việc học tập và ghi chép bằng chữ Hán vẫn cứ kéo dài cho đến Cách mạng tháng Tám 1945, đành rằng phạm vi và mức độ có thu hẹp so với trước.
Chữ Hán, tóm lại, đã có hơn 2.000 năm lịch sử trên đất nước Việt Nam, trong đó khoảng 1.000 năm được sử dụng dưới thời Việt Nam độc lập tự chủ.
2. Chữ Nôm
Nhưng dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ, dai dẳng đến đâu chăng nữa, thì cuối cùng, với tư cách là một văn tự ngoại lai, vẫn tỏ ra bất lực trước nguyện vọng trực tiếp diễn đạt và ghi chép tâm tư tình cảm cùng lời ăn tiếng nói ngày một phát triển và biến đổi của bản thân người Việt Nam. Chữ Nôm vì vậy đã ra đời để bù đắp vào cái mà chữ Hán tự nó không thể đảm nhận nổi.
Chữ Nôm, về đại thể, là một loại văn tự xây dựng trên chất liệu chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng nói của người Việt. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia làm hai giai đoạn khác nhau.
Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn “đồng hóa chữ Hán” tức dùng chữ Hán để phiên âm một số từ Việt lẻ tẻ, có thể đã diễn ra trong suốt nghìn năm phong kiến Trung Quốc đô hộ mà sử gọi là thời “Bắc thuộc”. Chữ Hán lúc này vẫn là văn tự chính thức được dùng để học tập, ghi chép v.v... Trong các văn bản chữ Hán, thỉnh thỏa ng có những chữ cần thích nghĩa tiếng Việt, hoặc gặp những tên người, tên đất, tên cây cỏ, chim muông, đồ vật v.v... thuần Việt, không có chữ Hán tương ứng để ghi chép, thì người ta dùng tạm một số chữ Hán nào đấy để giải nghĩa, phiên âm, “đem tiếng Nam dịch bằng tiếng Bắc”(6), ấy là điều hoàn toàn có thể hình dung được.
Giai đoạn thứ hai, tạm gọi là giai đoạn “chế tác hệ thống chữ Nôm” trên cơ sở kinh nghiệm đã tích lũy trong quá trình “đồng hóa chữ Hán” có thể được bắt đầu từ thời kỳ Việt Nam khôi phục nền độc lập tự chủ, đặc biệt là dưới các triều đại Lý - Trần. Dấu tích chữ Nôm xưa nhất hiện còn có thể nhìn tận mắt là khoảng 20 chữ Nôm khác nhau khắc xen kẽ với chữ Hán trên tấm bia chùa Tháp Miếu (Yên Lãng, Hà Sơn Bình) đời Lý Cao Tông (1176 - 1210)(7). Trường hợp văn bản thuần Nôm cổ nhất nay còn thấy được là mấy bài phú bằng chữ Nôm chép trong cuốn Thiền tông bản hạnh, tác phẩm đời Trần(8). Đến thế kỷ XVIII, XIX, chữ Nôm phát triển tới thời kỳ cực thịnh của nó và trên một vài phương diện còn lấn át cả địa vị chữ Hán. Hịch Tây Sơn, Truyện Kiều... là một vài ví dụ.
Chữ Nôm, như vậy, cũng đã có một quá trình sử dụng lâu dài ở Việt Nam.
3. Kho sách Hán Nôm và trách nhiệm của chúng ta
Hơn 20 thế kỷ sử dụng chữ Hán và ngoài 10 thế kỷ sử dụng chữ Nôm, các lớp tiền bối Việt Nam đã để lại cho thế hệ sau một kho thư tịch Hán Nôm khá đồ sộ về mặt khối lượng và khá phong phú về mặt chủng loại.
Ra đời chủ yếu từ 1945 trở về trước, kho thư tịch Hán Nôm Việt Nam bao gồm các sách và tài liệu phần lớn do người Việt Nam soạn thảo(9) bằng chữ Hán, chữ Nôm, hoặc kết hợp cả Hán lẫn Nôm, trên giấy, trên vải, trên gỗ, trên đá, trên đồ đồng, đồ sứ, đồ gốm, gạch, ngói, phim, kính...
Theo số liệu mới nhất qua đợt kiểm kê đầu năm 1987, Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện giữ 4.808 tác phẩm Hán Nôm tính theo đầu sách, tương đương với 16.164 cuốn sách đóng rời, với đủ các loại như Hán (ký hiệu A có 4.063 cuốn; ký hiệu VHb có 356 cuốn; ký hiệu VHv có 5.599 cuốn, trong đó có 635 cuốn mới nhập kho; ký hiệu VHt có 117 cuốn, trong đó có 38 cuốn mới nhập kho); Nôm (ký hiệu AB có 593 cuốn; ký hiệu VNb có 146 cuốn, trong đó có 82 cuốn mới nhập kho; VNv có 634 cuốn, trong đó có 101 cuốn mới nhập kho); sách sao chép hoặc in lại của Trung Quốc (ký hiệu AC có 1.426 cuốn; ký hiệu VHv có 215 cuốn); thần sắc (ký hiệu AD có 404 cuốn); thần tích (ký hiệu AE có 535 cuốn); tục lệ (ký hiệu AF có 732 cuốn); địa bạ (ký hiệu AG có 503 cuốn); xã chí (ký hiệu AH có 16 cuốn); cổ chí (ký hiệu AJ có 96 cuốn). Ngoài số thư tịch trên đây, Viện Nghiên cứu Hán Nôm vừa sưu tầm thêm được 729 cuốn trong đó có cả sách Hán lẫn sách Nôm, đều chưa lên ký hiệu.
Về tài liệu, Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện giữ khoảng 30.000 đơn vị, gồm phim, kính, ảnh, vi phim (số này còn tạm gửi ở Viện Thông tin Khoa học xã hội), bản rập các bài văn khắc trên bia đá, chuông đồng, khánh đá, cột mốc, biển gỗ... Riêng về vi phim, có 2.286 đơn vị, trong đó có 1.047 đơn vị chụp tác phẩm Hán Nôm (ký hiệu A có 448 tác phẩm; ký hiệu AB có 251 tác phẩm; ký hiệu AC có 23 tác phẩm; ký hiệu VHb có 10 tác phẩm; ký hiệu VHv có 315 tác phẩm) và 1.239 đơn vị chụp các mặt văn bia(10). Đây cũng có thể gọi là những thước vi phim chứa đựng các tài liệu thuộc loại quý và hiếm trong kho sách Hán Nôm hiện nay. Thác bản văn bia có khoảng 22.000 đơn vị (trường Viễn đông Bác cổ rập từ 1920 đến 1945 được 20.979 đơn vị, số còn lại là mới rập được từ 1954 trở về sau).
Không những đồ sộ và đa dạng, kho thư tịch Hán Nôm Việt Nam còn đáng được chú ý bởi vị thế và tầm quan trọng của nó.
Chắc chắn nhiều ngành khoa học Việt Nam như triết học, lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội học, pháp luật, quân sự, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, ngôn ngữ, văn tự, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, toán học, địa lý, sinh vật, y dược, vệ sinh, nông nghiệp, kiến trúc v.v... sẽ phải dựa không ít vào kho sách Hán Nôm để dựng lại diện mạo một thời, trong đó có đối tượng nghiên cứu, thậm chí cả bản thân ngành nghiên cứu. Theo thống kê sơ bộ, trong số 4.808 tác phẩm hiện tàng trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, có khoảng 2.500 tác phẩm liên quan tới văn học; 1.000 tác phẩm liên quan tới sử học; 600 tác phẩm liên quan tới tôn giáo; 450 tác phẩm liên quan tới triết học, tư tưởng; 400 tác phẩm liên quan tới văn hóa, giáo dục; 350 tác phẩm thuộc lĩnh vực chính trị xã hội; 300 tác phẩm thuộc lĩnh vực y dược, vệ sinh; 300 tác phẩm thuộc lĩnh vực địa lý; 250 tác phẩm thuộc lĩnh vực pháp luật; 80 tác phẩm thuộc lĩnh vực nghệ thuật; 70 tác phẩm thuộc lĩnh vực kinh tế; 60 tác phẩm thuộc lĩnh vực ngôn ngữ, văn tự; 50 tác phẩm thuộc lĩnh vực toán lý; 40 tác phẩm thuộc lĩnh vực quân sự, quốc phòng; cùng một số lượng ít hơn bàn về kiến trúc, nông nghiệp, thủ công nghiệp, hoặc mang tính tổng hợp(11). Những ẩn số trong quá khứ dân tộc có thể sẽ được giải đáp một phần qua việc tìm đọc kho thư tịch Hán Nôm này.
Là hiện thân của văn hiến mấy nghìn năm, kho sách Hán Nôm trở thành nguồn tư liệu gốc mang tính tổng hợp tiềm tàng đối với việc tìm hiểu nhiều mặt quá khứ của dân tộc Việt Nam.
Chính vì các đặc điểm làm nên giá trị kho sách Hán Nôm trên đây mà Đảng và Nhà nước ta từ lâu đã quan tâm tới việc sưu tầm, bảo vệ sách vở, tài liệu Hán Nôm, loại di vật dễ hư hỏng, dễ mất mát, trong khi không còn được tiếp tục sản xuất ra nữa. Sự quan tâm này thể hiện ngay từ hồi Đảng ta còn hoạt động bí mật. Trong bài Mấy nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hóa mới Việt Nam hiện nay đăng trên báo Đảng năm 1944, đồng chí Trường Chinh viết: “Những công trình và tác phẩm văn hóa của thời đại phong kiến Việt Nam để lại là vốn quý của dân tộc ta, chúng ta cần phải giữ gìn và nghiên cứu để phát huy cái hay, cái đẹp”(12). Sau ngày giành được chính quyền, các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta như Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Phạm Văn Đồng... mỗi khi có dịp, đều nhắc tới nhiệm vụ sưu tầm, bảo vệ, khai thác di sản văn hóa cha ông(13).
Đi đôi với sự chỉ đạo về mặt tư tưởng, là một số biện pháp về mặt tổ chức. Công tác sưu tầm, bảo vệ sách vở, tài liệu Hán Nôm được Nhà nước lần lượt giao cho một số cơ quan chịu trách nhiệm. Khởi đầu là Bộ Văn hóa, với chỉ thị số 117/TTg ngày 13-12-1963 của Thủ tướng Chính phủ. Tiếp đến là Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, với Quyết định số 311/CP ngày 8-9-1979 của Hội đồng Chính phủ. Theo văn kiện thứ hai này, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam có trách nhiệm “thống nhất quản lý việc thu thập và gìn giữ các sách và tài liệu chữ Hán, chữ Nôm trong cả nước”. Cuối năm 1979, theo quyết định số 326/CP ngày 13-9-1979 của Hội đồng Chính phủ, Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam được thành lập và trở thành trung tâm sưu tầm, bảo vệ, chỉnh lý, khai thác các tư liệu chữ Hán, chữ Nôm trong phạm vi cả nước.
Lần đầu tiên kể từ năm 1954, công tác giữ gìn và nghiên cứu di sản Hán Nôm được Nhà nước chính thức giao cho một Viện nghiên cứu chuyên ngành đảm trách.
II. NHỮNG TƯ LIỆU HÁN NÔM QUÝ MỚI PHÁT HIỆN
Từ ngày Viện Nghiên cứu Hán Nôm được thành lập, đặc biệt trong những năm gần đây, do sự phát triển của công tác sưu tầm, sự lớn mạnh của ngành Khảo cổ học, sự mở rộng trong việc trao đổi tư liệu và thông tin quốc tế, Ngành Hán Nôm đã tiếp nhận được nhiều tư liệu quý.
1. Trước hết là những văn bản chữ Hán vào thời kỳ Bắc thuộc
Như trên kia đã nói, cuộc khai quật ngôi mộ Triệu Văn Đế (cháu đích tôn của Triệu Đà, con trai của Trọng Thủy) đã được tiến hành tại Ngọn đồi Tượng Cương nằm về mé phía Tây núi Việt Tú thuộc thành phố Quảng Châu, Trung Quốc từ đầu tháng 10 đến thượng tuần tháng 11 năm 1983, và chính thức công bố kết quả vào cuối năm 1984. Trong số hơn 1000 di vật tìm thấy trong ngôi mộ, có những di vật, theo báo cáo của đội khảo sát, “hoặc không sản xuất từ Trung Quốc, hoặc có chất lượng khác với những thứ sản xuất ở Trung Quốc, hoặc rất khác với truyền thống công nghệ của Trung Quốc”(14), chẳng hạn ngà voi, mã não, kính tấm, đèn có 3 chân đứng, mũi tên đồng, mũi tên sắt, gươm sắt v.v... Có liên quan tới ngành Hán Nôm là các chữ triện còn để lại trên một số di vật(15), chứng tỏ vào thời Triệu Đà, hay chắc chắn hơn là vào thời Triệu Muội(16), chữ Hán đã du nhập vào nước Nam Việt (gồm Quảng Đông cùng Quảng Tây của Trung Quốc ngày nay) và cũng rất có thể chữ Hán đã được đưa vào nước ta hồi bấy giờ đang bị họ Triệu xâm chiếm. Đây là chứng tích xưa nhất về việc chữ Hán du nhập vào miền đất Giao Chỉ có liên quan tới Việt Nam.
Thuộc thế kỷ V, đã tìm thấy một chùm thư tranh luận về đạo Phật gồm 6 bức, trong đó 3 bức do người nước ta soạn thảo. Bức ngắn nhất khoảng 300 chữ; bức dài nhất khoảng 600 chữ. Đây là các văn bản chữ Hán thuộc loại cổ nhất của người Việt Nam còn truyền lại đến ngày nay(17).
Thuộc thế kỷ VII, đã phát hiện một tấm bia tại đền xã Phù Liễn, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Bài văn khắc trên bia là do Nguyễn Nhân Khí, người Việt Nam soạn năm Tùy Đại Nghiệp (605 - 616). Đây là bài văn bia chữ Hán cổ nhất của người Việt Nam còn giữ được đến ngày nay.
Thuộc thế kỷ VIII, đã sưu tầm được bài Đối trực ngôn cực gián sách dài 1500 chữ của Khương Công Phụ. Đây là một bài thi thuộc loại hay nhất của người Việt Nam thời Bắc thuộc mà ngày nay còn có khả năng thấy được(18).
Cũng thuộc thế kỷ VIII, vừa phát hiện một quả chuông đồng được đúc tại Việt Nam vào thời Đường, niên đại xác định ghi trên chuông là 798. Trên chuông có khoảng 1600 chữ Hán phần lớn đều còn đọc được, trong đó có các chữ “Nam xứng cửu thập cân” (chuông nặng 90 cân, tính theo cân Nam), nói lên địa điểm đúc chuông là nước Nam ta. Nơi tìm thấy chuông là bãi Rồng ven sông Đáy, thuộc xã Thanh Mai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Sơn Bình. Trong danh sách những người quyên tiền đúc chuông có cả người Việt Nam lẫn một số người Trung Quốc đang có mặt tại Việt Nam lúc bấy giờ. Trong số người Việt Nam, nhiều nhất vẫn là nữ, như Nguyễn Thị Phiêu, Đỗ Thị Diệu... Trong số quê quán những người quyên tiền đúc chuông gồm cả thảy 20 châu, 1 phủ, 5 huyện, thì có đến 5 châu, 1 phủ, 5 huyện nằm trên địa bàn Việt Nam, như Tự Lãng, Yên Lạc (Lạng Sơn), Văn Chấn, Âm Bình (Lạng Sơn), Tây Bình (Lạng Sơn), Trường Châu (Ninh Bình), Ái Châu (Thanh Hóa), Nhật Nam (Bình Trị Thiên). Đây là quả chuông Việt Nam có mang chữ Hán thuộc loại cổ nhất mà ngày nay còn có khả năng thấy được(19).
2. Sau thời kỳ Bắc thuộc, đến thời kỳ độc lập tự chủ
Thuộc thế kỷ XVII, vừa sưu tầm được một tư liệu quý: cuốn gia phả dòng họ Nguyễn Cảnh ở Nghệ An, mang tiêu đề Hoan Châu ký. Gia phả được soạn vào khoảng cuối thế kỷ XVII, theo dạng tiểu thuyết chương hồi, dày 192 tờ tức 384 trang, gồm 4 hồi, mỗi hồi 4 tiết, cộng 16 tiết. Mỗi khi chuyển ý, gia phả thường dùng các chữ “khước thuyết”, “thả thuyết” (lại nói về). Mỗi khi chuyển đoạn (chương, hồi), thường được báo trước bằng những câu như “dẫn mục hạ văn tiện kiến” (nhìn phần dưới sẽ thấy), hoặc “bất tri triều đình trù vận tiến thảo như hà, thả khán hạ hồi phân giải” (muốn biết triều đình lo đánh dẹp như thế nào, hãy xem hồi sau phân giải). Mỗi khi vào một tiết mới, thường giáo đầu bằng 2 câu thơ. Thí dụ Tiết thứ ba của Hồi một, mở đầu bằng các câu:
Nguyễn Tử Nha binh mã giá thừa dư,
Lê Trang Tông quân thần phá Nguyễn Kính.
(Nguyễn Tử Nha binh mã chặn xe vua,
Lê Trang Tông quân thần phá Nguyễn Kính)
Tiết thứ ba của Hồi hai, mở đầu bằng các câu:
Nguyễn Cảnh Kiên đại phá Thạch Quyện binh,
Mạc Sùng Khang mệnh hoàn Tấn Công cữu.
(Nguyễn Cảnh Kiên phá tan quân Thạch Quyện,
Mạc Sùng Khang sai trả xác Tấn Công)
Có thể nghĩ đây là bộ tiểu thuyết chương hồi thuộc loại cổ nhất của nước ta, trước Hoàng Lê nhất thống chí hàng thế kỷ.
Cũng thuộc thế kỷ XVII, ta còn sưu tầm được một bản in Trùng san Lam Sơn thực lục, sách do Nguyễn Trãi viết, Lê Lợi đề tựa, xuất bản năm 1676. Sách in từ thế kỷ XVII ta còn lại rất ít, riêng về sử lại càng hiếm. Có lẽ bản in Trùng san Lam Sơn thực lục này là bản in mang niên đại sớm độc nhất còn lại tới ngày nay(20).
Thuộc thế kỷ XVIII, chúng ta sưu tầm được một bản Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ in năm 1712, sớm hơn những bản mang tiêu đề “Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bồ giải âm tập chú” mà trong nước hiện có đến nửa thế kỷ. Với bản mới tìm thấy này, ta lần đầu tiên biết được bài tựa ở đầu sách không phải do Nguyễn Đình Lân người Liễu Chàng, sống vào thế kỷ XVIII soạn thảo như trước nay vẫn tưởng, mà là do Hà Thiện Hán người Đại An (Nghĩa Hưng, Hà Nam Ninh) sống cùng thời với Nguyễn Dữ soạn thảo. Về mặt chữ nghĩa, bản này có khác với các bản đang lưu hành, là chỗ dựa rất tốt để nghiên cứu nguyên tác của Nguyễn Dữ và bản dịch Nôm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Thế Nghi(21).
Cũng thuộc thế kỷ XVIII, còn sưu tầm được 2 tác phẩm của Pigneau de Béhaine tức Bá Đa Lộc liên quan đến Hán Nôm. Tác phẩm thứ nhất là cuốn Anamitico - Latinum, một bộ từ điển song ngữ “Việt - La Tinh”, soạn vào năm 1772 - 1773, cung cấp nhiều tư liệu để nghiên cứu chữ Nôm và chữ Quốc ngữ cuối thế kỷ XVIII(22). Tác phẩm thứ hai là cuốn Thánh giáo yếu lý Quốc ngữ soạn bằng chữ Nôm, cũng là một tài liệu quý bổ sung cho kho văn bản Nôm thuộc thế kỷ này.
Ngoài ra, cũng sưu tầm được thuộc thế kỷ XVIII, 24 văn bản chữ Nôm, trong đó có văn bản được chua thêm chữ Thái, do Việt Kiều ta ở Thái Lan còn lưu giữ tại chùa Kiểng Phước, Băng Cốc. Đây cũng là nguồn tư liệu hiếm có, khả dĩ giúp vào việc nghiên cứu chữ Nôm “Đàng Trong” của chúng ta.
Còn có thể kể bức gấm thêu bản kinh Kim cương, có bài tựa bằng chữ Hán của Quang Trung và bài bạt cũng bằng chữ Hán của Quang Toản, do chùa Phúc Lâm ở Huế còn giữ được. Đây là tài liệu quan trọng để tìm hiểu đặc điểm chữ Hán của ta ở thế kỷ XVIII, cũng như biết thêm về triều đại Tây Sơn.
Thuộc thế kỷ XIX trở về sau, số văn bản Hán Nôm sưu tầm được càng nhiều hơn, và cũng đã lần lượt được giới thiệu trên báo Nhân dân, cùng một số tạp chí khoa học. Riêng Viện Nghiên cứu Hán Nôm năm 1980 trở lại đây đã sưu tầm được hàng trăm cuốn sách và hàng nghìn thác bản văn bia thuộc giai đoạn này. Ngoài ra, các ngành khác cũng đã phát hiện được nhiều tư liệu Hán Nôm quý, trong đó có cả những văn bản bằng đồng, bằng đá, và đặc biệt là khoảng 3000 bức tranh vẽ có mang chữ Nôm đầu thế kỷ XX trong bộ sưu tập tranh vẽ gồm 4000 bản, do một Thiếu úy người Pháp thuê các họa sĩ dân gian Việt Nam vẽ, xoay quanh chủ đề “Technique du peuple annamite” (kỹ thuật của dân tộc Việt Nam).
III. THÀNH TỰU DỊCH THUẬT, NGHIÊN CỨU HÁN NÔM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1. Về mặt dịch thuật
Viện Sử học, Viện Văn học, Viện Nghiên cứu Hán Nôm trong khoảng mươi mười lăm năm trở lại đây đã dịch và xuất bản một số tác phẩm Hán Nôm có giá trị như Thơ văn Lý Trần (T1: 1977, 632 tr; T3: 1978, 824 tr), Lê Quý Đôn toàn tập (Phủ biên tập lục, 1977, 348 tr; Kiến văn tiểu lục, 1977, 466 tr; Đại Việt thông sử, 1978, 402 tr), Thơ văn Ngô Thì Nhậm (1978, 319 tr), Thơ văn Phan Huy Ích (1978, T1: 200 tr; T2: 160 tr; T3: 136 tr), Tên làng xã Việt Nam (1981, 653 tr), Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn (1982, 319 tr), Đại Việt sử ký tục biên (1982, T1: 256 tr), Thơ văn Ninh Tốn (1984, 236 tr), Thơ văn Lê Thánh Tông (1986, 330 tr) v.v... Viện Nghiên cứu Hán Nôm gần đây cũng đã đưa in cuốn Dịch từ Hán sang Việt một khoa học một nghệ thuật (1982, 292 tr) nhằm cung cấp lý luận và phương pháp cho công tác dịch thuật chữ Hán trước mắt.
Nhìn chung về mặt biên dịch cho đến nay, chúng ta làm được vẫn chưa nhiều. Mới dịch khoảng từ 300 đến 400 cuốn sách Hán Nôm, trong đó số được đưa in chưa đến một nửa. Số dịch và in được phần nhiều là sách quý, nhưng cũng có những bản chọn chưa phải đã tiêu biểu, và còn để không ít sai sót trong khi dịch và chú thích.
2. Về mặt nghiên cứu chữ Hán và chữ Nôm Việt Nam
Đáng chú ý, có các cuốn Chữ Nôm nguồn gốc cấu tạo diễn biến (1975, 224 tr) của Đào Duy Anh, Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt (1979, 340 tr) của Nguyễn Tài Cẩn. Bên cạnh đó, về mặt chữ Nôm, có một số luận án Phó Tiến sĩ khoa học đã bảo vệ thành công, như Nghiên cứu về chữ Nôm của Lê Văn Quán, đã in thành sách năm 1981, Sơ bộ khảo sát quyển từ điển Chỉ nam Ngọc âm giải nghĩa của Trần Xuân Ngọc Lan (1982), Vấn đề cấu trúc của chữ Nôm của Nguyễn Ngọc San (1983) v.v...
Trên Tập san Nghiên cứu Hán Nôm (NCHN), Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng đã công bố một số kết quả nghiên cứu bước đầu về chữ Hán, chữ Nôm, nhất là chữ Nôm, như Khảo sát quá trình diễn biến của chữ Nôm thông qua mô hình ngữ âm của chữ (NCHN - 1984); Một vài suy nghĩ chung quanh vấn đề đọc Nôm phiên Nôm (NCHN - 1/1985); Mấy suy nghĩ về việc phiên âm chú giải từ cổ trong văn bản Nôm (NCHN - 1/1985); Hiện tượng ghi âm mang tính chất địa phương trong chữ Nôm (NCHN - 1/1985), Tìm hiểu chữ Nôm có dấu phụ trong hệ thống cấu tạo chữ Nôm (NCHN - 2/1985); Thử đọc lại một số chữ trong Truyện Kiều Nôm (NCHN - 2/1985) v.v...
3. Về thư mục, thư tịch Hán Nôm
Thế giới có nhiều người đặc biệt coi trọng và giới thiệu thư tịch Hán Nôm của ta. Đức có Schurhammer, với bản thư mục quan trọng giới thiệu sách viết bằng chữ Nôm, hiện tàng trữ ở Vatican, Ý(23). Nhật có Yamamoto, với các bản thư mục nổi tiếng giới thiệu sách Hán Nôm Việt Nam, hiện tàng trữ tại Thư viện Quốc gia Paris và Thư viện Hiệp hội Châu Á Paris(24). Một bản thư mục khác cũng của người Nhật, giới thiệu sách Hán Nôm Việt Nam hiện có tại Tokyo, Nhật Bản(25). Trung Quốc có Phùng Thừa Quân, cũng đã giới thiệu thư mục sách Hán Nôm của ta với nhân dân Trung Quốc(26). Gần đây, một giáo sư người Nhật tên là Yumio Sakurai, lần đầu tiên phát hiện và giới thiệu danh mục sách Hán Nôm của ta hiện có ở Băng Cốc, Thái Lan(27).
Về mặt trong nước, cũng đã có bài giới thiệu sách Hán Nôm Việt Nam hiện tàng trữ ở nước ngoài. Đây là công trình nghiên cứu tổng hợp và đầy đủ nhất về tình hình sách Hán Nôm ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam(28).
Bên cạnh các bản thư mục, đã có những công trình đi sâu hơn, nghiên cứu về thư tịch Hán Nôm. Đáng kể nhất là bộ Tìm hiểu kho sách Hán Nôm gồm 2 tập của Trần Văn Giáp. Tập 1 của bộ sách đã xuất bản năm 1971, tái bản năm 1984(29).
4. Về văn bản học Hán Nôm
Sách Hán Nôm của ta tam sao thất bản quá nhiều, những người nghiên cứu thận trọng đi vào đây đều cảm thấy bàng hoàng như bước giữa mê cung. Nghiên cứu văn bản học do vậy vô cùng cần thiết. Ý thức rõ điều này, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã tổ chức Hội nghị khoa học về văn bản học (1982), đã mở lớp bồi dưỡng về văn bản học (1984), và cũng đã đưa in cuốn Một số vấn đề văn bản học Hán Nôm (1983, 400 tr), nhằm hướng dẫn công tác văn bản học. Từ đó đến nay, lẻ tẻ đã có những phát hiện lý thú về mặt văn bản học.
Chẳng hạn Gia huấn ca, trước kia cho là tác phẩm của Nguyễn Trãi, sau đó có người ngờ và đã chứng minh không phải của Nguyễn Trãi. Gần đây Hoàng Văn Lâu đã tiến thêm bước nữa, cho thấy Gia huấn ca có gần 1/2 nội dung là tác phẩm của Lý Văn Phức đời Nguyễn(30).
Hay như Binh thư yếu lược từ lâu đã được dịch, xuất bản, vẫn yên trí là sách do Trần Quốc Tuấn soạn thảo, đến đầu thế kỷ XIX được sửa chữa, bổ sung... Nhưng vừa rồi, Ngô Đức Thọ bằng những phương pháp đối chiếu và so sánh, đã vạch ra rằng Binh thư yếu lược hiện có là một khối hổ lốn, trong ấy có một phần nội dung trích từ sách Kỷ sự tân biên của Lương Huy Bích, người sống vào thế kỷ XIX, cộng với một phần nội dung trích từ sách Kim thang thập nhị trù của Trung Quốc và một vài thứ sách khác nữa(31).
Bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt gồm 4 câu lâu nay ai cũng thuộc và tưởng không còn gì phải bàn, ngoài vụ tranh luận về cách hiểu câu cuối của bài thơ. Nhưng gần đây, qua việc kiểm tra lại các nguồn tư liệu, thấy bài thơ có cả thảy 24 dị bản, trong đó có những dị bản thậm chí không dùng câu “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” từng gây tranh cãi, để kết thúc bài thơ. Văn bản Nam quốc sơn hà được xác lập do vậy có khác với văn bản hiện hành(32).
Trên tập san Nghiên cứu Hán Nôm mấy năm gần đây cũng lần lượt công bố những thành tựu nghiên cứu khác về văn bản học, như các bài Bước đầu tìm hiểu thời điểm ra đời và tác giả của sách Lê triều ngự chế Quốc âm thi (NCHN - 1/1985); Về hai nhóm văn bản Quân trung từ mệnh tập hiện còn (NCHN - 2/1985); Đính chính niên đại giả trên một số thác bản bia tại kho bia của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (NCHN - 2/1985); Bước đầu nghiên cứu chữ húy đời Trần (NCHN - 1/1986); Thử tìm hiểu phương pháp sưu tầm chỉnh lý thư tịch của Lê Qúy Đôn (NCHN - 1/1986); Về văn bản bài thơ Gởi Nê Ru trong tập Nhật ký trong tù của chủ tịch Hồ Chí Minh (NCHN - 1/1986) v.v...
5. Về sách công cụ tra cứu Hán Nôm:
Làm Hán Nôm mà không có sách tra cứu, cũng giống như người sinh ra mà thiếu đi một số cơ quan chức năng bẩm sinh. Khốn nỗi là sách tra cứu thuộc ngành Hán Nôm hiện nay có thể nói rất nghèo nàn, cũ kỹ và lạc hậu. Đây là điều khá nhức nhối trong thời buổi mà trên thế giới tin học đang phát triển mạnh.
Những năm gần đây, Viện Nghiên cứu Hán Nôm trên cơ sở thành tựu của những người đi trước, đã tổ chức biên soạn lại một bộ Thư mục Hán Nôm và một bộ Thư mục văn bia hoàn chỉnh hơn, thiết dụng hơn so với những gì đã có. Bộ Thư mục Hán Nôm gồm nhiều tập, bao quát số thư tịch, tài liệu Hán Nôm hiện có ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm và ở một số kho sách nước ngoài. Bộ Thư mục văn bia gồm nhiều tập, giới thiệu một cách súc tích các bản rập văn bia Việt Nam hiện tàng trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Cả hai bộ thư mục đều đã hoàn thành bản thảo, riêng bộ Thư mục văn bia đã được nghiệm thu.
Một bộ sách công cụ khác đang trong quá trình thực hiện: bộ Từ điển Nôm.
6. Về văn hiến cổ Việt Nam và văn hiến cổ các nước trong vùng
Trên lĩnh vực này, chúng ta chưa đầu tư nhiều suy nghĩ cũng như chưa xác lập được hệ thống các vấn đề cần đi sâu. Tuy nhiên, qua một đôi bài viết, cũng thấy đây là một lĩnh vực khá lý thú.
Bài Thử so sánh chữ Nôm Việt Nam với chữ Kana Nhật Bản, chữ Ida Triều Tiên về mặt nguồn gốc và biến diễn, báo cáo khoa học của Trần Nghĩa cho thấy về nguồn gốc cũng như về diễn biến, cả 3 loại chữ có những mặt giống nhau và những mặt khác nhau. Bản báo cáo cũng đã thử giải thích nguyên nhân dẫn tới sự giống nhau và sự khác nhau đó(33).
Bài Quốc âm tân tự một phương án chữ Việt ghi âm thế kỷ XIX của Nguyễn Quang Hồng (Tạp chí Hán Nôm, số 1. 1986) cho thấy ở nước ta, trong lịch sử chữ viết, cũng đã từng xuất hiện một đề án dùng nét bút chữ Hán để ghi âm tiếng Việt, tương tự như lối chữ Kana của Nhật Bản, lối chữ hiện hành của Triều Tiên, khác với chữ Nôm Việt vốn không phải là hệ thống chữ ghi âm Quốc âm tân tự do vậy đã bù lắp vào một mảng còn để trống trong lịch sử chữ viết Việt Nam và khu vực, đóng góp vào việc nghiên cứu lịch sử chữ viết và ngữ âm tiếng Việt, cũng như những vấn đề về tiếp xúc văn hóa khu vực.
IV. NHỮNG VIỆC CẦN LÀM TRONG NHỮNG NĂM TỚI
1. Từ nay đến 1990, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, hay nói rộng ra là Ngành Hán Nôm cố gắng làm sáng tỏ thêm về chức năng nhiệm vụ của ngành, một vấn đề mà hiện nay chưa phải đã giải quyết xong xuôi. Chúng ta đã có thực tiễn hoạt động nhiều mặt của Ban Hán Nôm, rồi Viện Nghiên cứu Hán Nôm từ 1970 tới nay. Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội vừa cho ra cuốn Cơ sở ngữ văn Hán Nôm(34) và trường Đại học Tổng hợp Hà Nội cũng mới đưa in cuốn Chương trình giảng dạy khoa ngữ văn, trong đó có phần liên quan tới Hán Nôm(35). Trên cơ sở các thành quả vừa nêu, cùng với một vài nguồn tư liệu khác, chúng ta có thể làm rõ thêm để đi tới nhất trí hơn nữa về tính khoa học cũng như nội dung học thuật của chuyên ngành Hán Nôm trong giai đoạn ngày nay.
2. Trên cơ sở định nghĩa được “Hán Nôm học” là gì, sẽ tiến tới xác lập mối quan hệ giữa Ngành Hán Nôm và các chuyên ngành khoa học khác, trước hết là các chuyên ngành khoa học xã hội, lấy đây làm cơ sở để mở rộng việc nghiên cứu tổng hợp, liên ngành có liên quan tới Hán Nôm, theo đường hướng phát triển chung của khoa học hiện đại.
3. Sẽ không thể hiểu sâu Hán Nôm, nếu im lặng bước qua văn hiến cổ Việt Nam. Cũng vậy, sẽ không thể hiểu sâu văn hiến cổ Việt Nam, nếu im lặng bước qua văn hiến cổ khu vực. Đấy là mối tương tác giữa cái riêng và cái chung, giữa đơn lập và hệ thống. Làm sao để Ngành Hán Nôm sớm chính thức có một bộ phận nghiên cứu về “hiện tượng Hán Nôm” ở các nước trong vùng, hay gọi theo cách gọi truyền thống, một bộ phận Phương Đông học. Chừng nào chưa tổ chức được mảng nghiên cứu này, công tác Hán Nôm sẽ mất đi một thế mạnh, một cửa ngõ giao tiếp với thế giới bên ngoài.
Đấy là những vấn đề mà nếu giải quyết tốt, Ngành Hán Nôm sẽ phát triển nhanh hơn nữa.
CHÚ THÍCH
(1) Bài viết nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam (1967 - 1987).
(2) Tây Hán Nam Việt Vương mộ phát quật sơ bộ báo cáo, Khảo cổ số 3/1984, Bắc Kinh, Trung Quốc, tr.220-230; Lĩnh Nam khảo cổ đích trọng đại phát hiện, Báo ảnh Trung Quốc 8-1984, tr.32-35.
(3) Cổ kim thiện ngôn, dẫn theo Thủy kinh chú, Ôn Thủy.
(4) Toàn Thượng cổ Am đại Tần Hán Tam quốc Lục triều văn, phần Toàn Tống văn, Q.63, Trung Hoa thư cục, Bắc Kinh 1958.
(5) Toàn Đường Văn, Q.446.
(6) Đại Nam Quốc ngữ, phần Đại Nam Quốc ngữ tự, của Văn Đa Cư Sĩ tức Nguyễn Văn San (TK XIX).
(7) Đào Duy Anh: Chứng tích xưa nhất về chữ Nôm: một tấm bia đời Lý Cao Tông, Nghiên cứu lịch sử số 134, 1973.
(8) Thiền tông bản hạnh, bản in năm Cảnh Hưng thứ sáu (1745) từ tr.28a - tr.29b. Sách của cụ Hoàng Xuân Hãn tặng Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
(9) Có một số tác phẩm trong kho sách Hán Nôm do người nước ngoài soạn thảo, sở dĩ đưa vào kho sách vì ít nhiều chúng có liên quan tới Việt Nam hoặc về mặt văn tự, hoặc về mặt nội dung. Liên quan về văn tự như Thánh giáo yếu lý Quốc ngữ do Pigneau de Béhaine soạn bằng chữ Nôm, in tại Quảng Đông, Trung Quốc, năm 1774. Liên quan về nội dung như An Nam chí, A.1733, do Cao Hùng Trưng, người Trung Quốc soạn vào đời Minh. Liên quan cả về văn tự lẫn nội dung như Quan chế Bắc kỳ sửa đổi lại bằng chữ Nôm, VNv.11, do Thống chế Bắc Kỳ René Robin soạn.
(10) Trần Khang: Vài nét về thư tịch Hán Nôm lưu trữ tại Viện thông tin Khoa học xã hội, in trong Thư tịch cổ và nhiệm vụ mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1979, tr.42.
(11) Trong các thống kê trên, một tác phẩm có thể được tính ở nhiều chỗ, nếu tác phẩm ấy có liên quan tới nhiều ngành khác nhau.
(12) Về văn hóa văn nghệ, Nxb. Văn hóa, H. 1976, tr.141.
(13) Lê Duẩn: Toàn dân đoàn kết xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất xã hội chủ nghĩa, Báo Nhân dân, 26-6-1976; Phạm Văn Đồng: Xây dựng nền văn hóa văn nghệ ngang tầm với dân tộc ta, thời đại ta, Nxb Sự thật, H. 1976, các tr.39, 40.
(14) Tây Hán Nam Việt Vương mộ phát quật sơ bộ báo cáo, Tài liệu đã dẫn, tr.230.
(15) Theo thống kê của chúng tôi, đó là các chữ: “Cảnh Hạng lệnh ấn”, “Văn Đế cửu niên Nhạc phủ công tạo”, “Tư quan”, “Văn Đế hành tỷ”, “Thái tử” (xuất hiện 2 lần), “Triệu muội”, “đế ấn”, “Thái quan”, “Hữu phu nhân tỷ”, “Tả phu nhân ấn”, “Thái phu nhân ấn”, “(...) phu nhân ấn”, “Trù thừa chi ấn”, “Trường lạc cung khí”, “Sơn”. Riêng chữ “Sơn” không viết theo lối triện, mà viết theo lối chữ khải, trạm trên một chiếc gương đồng, gồm 6 chữ tất cả.
(16) Các bộ sử của Việt Nam cũng như Trung Quốc trước nay đều chép là Triệu Hồ (cổ + nguyệt). Nhưng theo tài liệu vừa khai quật, thì Triệu Văn Đế tên thực là Triệu Muội (mục + vị).
(17), (18) Xem Trần Nghĩa: Một số tác phẩm mới phát hiện có liên quan tới dòng văn học viết bằng chữ Hán của người Việt thời Bắc thuộc, Tạp chí văn học, số 4. 1975.
(19) Đinh Khắc Thuân và Đặng Kim Ngọc: Chuông đồng cổ nhất ở nước ta, Báo Nhân dân, 25-6-1986.
(20) Xem Vũ Thanh Hằng: Về bản Trùng san Lam Sơn thực lục do cụ Hoàng Xuân Hãn gửi tặng, Tập san Nghiên cứu Hán Nôm số 2, 1985.
(21) Xem Trần Nghĩa: “Một bản Truyền kỳ mạn lục in năm 1712 vừa tìm thấy”, Tập san Nghiên cứu Hán Nôm, số 2, 1985.
(22) Xem Trần Nghĩa: Một bộ từ điển Việt - La Tinh viết tay vào cuối thế kỷ XVIII vừa sưu tầm được, tập san Nghiên cứu Hán Nôm, 1984.
(23) Schurhammer: Annamitishe Xaverius Litératur, in trên tạp chí tiếng Đức Missionswssensc - haftliche Studien, 1951.
(24) Xem bài Quốc dân đồ thư quán sở tàng An Nam bản thư mục, Đông Dương học báo số 1, tập 36, Tokyo, 1953; và bài Á Tế Á Hiệp hội sở tàng An Nam bản thư mục, Đông Dương văn hóa nghiên cứu sở kỷ yếu, số 5, Tokyo, 1954.
(25) Xem bài Đông Dương văn khố An Nam bản mục lục, in kèm theo sau cuốn Đông Dương văn khố Triều Tiên bản phân loại mục lục 1939.
(26) Xem bài An Nam thư lục, trong Tây Vực Nam Hải sử địa khảo chứng luận trứ vựng tập, Trung Hoa thư cục xuất bản, Bắc Kinh, 1932.
(27) Xem bài Tại Thái kinh Việt Nam tự viện Kiểng Phước tự sở tàng Hán tịch chữ Nôm bản mục lục, Đông Nam Á lịch sử và văn hóa, số 8, Tokyo, 1979, tr.73-117.
(28) Trần Nghĩa: Sách Hán Nôm tại nước ngoài, Nghiên cứu Hán Nôm số 1, 1985.
(29) Trong lần tái bản năm 1984, có bài Trần Văn Giáp và công trình biên khảo tìm hiểu kho sách Hán Nôm của Trần Nghĩa giới thiệu một cách khái quát những đóng góp và hạn chế của công trình này.
(30) Xem bài Ai viết Gia huấn ca, NCHN, 1984.
(31) Xem bài “Đi tìm nguồn gốc và năm xuất hiện của văn bản Binh thư yếu lược hiện có”, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986.
(32) Trần Nghĩa: “Thử xác lập văn bản bài thơ Nam quốc sơn hà”, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986.
(33) Xem Sưu tập báo cáo khoa học về Nôm, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 1985.
(34) Cơ sở ngữ văn Hán Nôm, Nxb. Giáo dục, H. 1984.
(35) Chương trình giảng dạy khoa Ngữ văn, phần Chương trình giảng dạy về Hán Nôm, 1986./.
|