TB

KHÁNH THÀNH TRỤ SỞ MỚI, KỶ NIỆM 20 NĂM THÀNH LẬP BAN HÁN NÔM, NAY LÀ VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM *

PHAN VĂN CÁC **

I

Hôm nay, với tâm tình vui mừng và xúc động đặc biệt, chúng ta họp mặt tại đây kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Ban Hán Nôm, ngày nay là Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, đồng thời làm lễ khánh thành trụ sở mới của Viện.

Công trình kiến trúc khang trang, xinh xắn, được bố trí khá hài hòa trong một cảnh quan thiên nhiên khoáng đãng và yên tĩnh cạnh khu vực Gò Đống Đa lịch sử, cách không xa tượng đài Quang Trung Nguyễn Huệ vị anh hùng dân tộc đã có vai trò lớn lao trong lịch sử dân tộc này, gồm một hệ thống kho có thiết bị điều hòa độ nóng và độ ẩm, cải thiện được một bước điều kiện tàng trữ và bảo quản thư tịch để có thể giữ gìn lâu dài kho tàng văn hiến cổ của dân tộc chủ yếu viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, và một hệ thống các phòng làm việc rộng rãi thoáng mát đủ chỗ cho toàn thể cán bộ nhân viên làm việc nghiên cứu và phục vụ, với tổng diện tích sử dụng 1930 mét vuông đã được hoàn thành và nghiệm thu với tổng quyết toán vốn đầu tư trên 1.252 triệu đồng.

Quy mô xây dựng, kinh phí đầu tư đều không lớn, nhưng tòa lâu đài Hán Nôm này là biểu hiện sinh động tư tưởng nhất quán của Đảng ta phấn đấu kế thừa và phát huy cao độ truyền thống đẹp đẽ của dân tộc.

Một dân tộc từng gan góc và sáng suốt quan tâm đến sự nghiệp giữ gìn và phát huy tính trong sáng của tiếng Việt ngay trong những ngày phải chống trả B52 của đế quốc Mỹ, một dân tộc dẫu còn nghèo túng thiếu thốn trong đời sống vật chất vẫn chắt chiu dành dụm vốn liếng hàng tỉ đồng ưu tiên cho công việc bảo tồn và khai thác các giá trị văn hóa cổ truyền của cha ông, dân tộc ấy nhất định sẽ chiến thắng nghèo nàn và lạc hậu để tiến tới văn minh giàu có, tự khẳng định một cách xứng đáng trong cộng đồng nhân loại.

Trong những ngày toàn Đảng toàn dân đang hướng về Đại hội VII của Đảng với quyết tâm tiếp tục sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ và giàu mạnh này, chúng ta đầy lòng tin tưởng và phấn khởi báo tin vui này - tin vui khánh thành tòa lâu đài Hán Nôm đến đồng bào đồng chí trong cả nước, đến những bà con người Việt sống ở nước ngoài luôn hướng về cội nguồn, hướng về Tổ quốc, đến các bạn bè xa gần trên thế giới.

Có được công trình kiến trúc này, chúng ta vô cùng cảm kích và biết ơn nhân dân anh hùng sau chiến tranh vẫn còn thắt lưng buộc bụng chịu nhiều thiếu thốn, dành cho chúng ta những điều kiện ưu tiên đặc biệt. Cám ơn Đảng ta, Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập từ trong đêm đen nô lệ đã sáng suốt đề ra phương hướng đúng đắn về văn hóa và ngay trong khói lửa chiến tranh đã có viễn kiến đề ra chủ trương chính xác thành lập Ban Hán Nôm về sau phát triển thành Viện Nghiên cứu Hán Nôm, và ban hành nghị quyết xây dựng kho sách Hán Nôm (HĐBT kí ngày 17/5/1983).

Chúng ta cũng một lần nữa cảm ơn các nhà thiết kế kiến trúc, các anh chị em công nhân xây lắp, các cơ quan và đơn vị chỉ đạo và thực hiện việc xây dựng công trình, các cơ quan kế hoạch, tài chính, vật tư, ngân hàng đã đóng góp công sức cho công trình.

Chúng ta cảm ơn ban lãnh đạo ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, nay là Viện khoa học xã hội Việt Nam quan tâm chỉ đạo sát sao và giúp đỡ thiết thực để công trình được hoàn thành và đưa vào sử dụng đúng thời hạn.

Viện chúng ta cũng không quên ghi công các cán bộ và nhân viên của Viện trong ban thiết kế đã trong nhiều năm liền bám sát công trình hoàn thành nhiệm vụ.

Nhân ngày vui mừng hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại lịch sử 20 năm hình thành và phát triển của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Tiền thân của Viện Hán Nôm là Ban Hán Nôm được thành lập từ năm 1970, trực thuộc UBKHXHVN do Giáo sư Phạm Thiều phụ trách với khoảng non hai chục cán bộ công nhân viên, đại bộ phận là những sinh viên tốt nghiệp lớp đại học Hán văn do UBKHXHVN cho phép Viện Văn học mở (1965-1967), được sắp xếp thành những tổ chuyên đề Văn, Sử, Tư tưởng…

Sau 9 năm hoạt động của Ban Hán Nôm (1970 - 1979), cuối năm 1979 Viện Nghiên cứu Hán Nôm được thành lập theo quyết định số 311/CP của Hội đồng Chính phủ với 4 nhiệm vụ được quy định rõ là:

a) Bảo tồn và giám định các nguyên bản chữ Hán, chữ Nôm, sao các bản gốc thành nhiều bản để sử dụng hoặc cung cấp cho các thư viện và các cơ quan có nhu cầu.

b) Tổ chức biên dịch (gồm cả chú giải) và chính thức công bố các tư liệu chữ Hán, chữ Nôm; duyệt lại những bản dịch Hán - Nôm đã được công bố.

c) Nghiên cứu văn bản học, biên soạn những sách công cụ cần thiết cho công tác biên dịch và nghiên cứu tư liệu chữ Hán, chữ Nôm.

d) Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chữ Hán, chữ Nôm (phối hợp với các trường đại học).

Có thể nói từ đó, Viện Nghiên cứu Hán Nôm được giao một chức năng kép: tàng thư, nghiên cứu và đào tạo cán bộ.

Về phương diện tổ chức, các thế hệ cán bộ trong Viện dưới sự lãnh đạo của:

Cố GS. Phạm Thiều: Trưởng ban Hán Nôm (1970 - 1973).

GS. Phạm Huy Châu: Trưởng ban Hán Nôm (1973-1978).

Cố GS. Nguyễn Đổng Chi: Q. Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1978-1980).

PGS. Trần Nghĩa: Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1980-1990), đã nhiều năm trăn trở, thử nghiệm nhiều mô hình khác nhau, từ “mô hình 1” gồm khối nghiên cứu với 3 Ban (Ban Lí Luận, Ban Nôm, Ban Hán) và khối nghiệp vụ với 4 Phòng (Phòng sưu tầm - Bảo quản - Phục vụ bạn đọc; Phòng Thông tin - Tư liệu - Thư viện; Phòng In; Phòng Hành chính - Tổ chức), đến “mô hình 2” hiện nay theo quyết định số 63/KHXH-QĐ của chủ nhiệm UBKHXHVN kí ngày 3/2/1988 với hai chức năng cơ bản là thống nhất quản lí các văn bản và tư liệu Hán Nôm và nghiên cứu khai thác kho tàng di sản thành văn đó, một mô hình 4 Phòng nghiên cứu (Phòng Văn tự Hán Nôm; Phòng Văn bản học Hán Nôm; Phòng Văn tịch Hán Nôm; Phòng Hán Nôm dân tộc và khu vực) và 5 phòng kĩ thuật nghiệp vụ (Phòng Sưu tầm; Phòng Bảo quản; Phòng Thông tin - Tư liệu - Thư viện; Phòng Phục chế - Nhân bản; Phòng Hành chính-Tài vụ-Tổ chức). Tạp chí Hán Nôm cũng được tổ chức thành một Phòng.

Trong 20 năm qua, Viện đã triển khai các mặt hoạt động sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu khoa học, đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật và đã thu được một số thành tích nhất định.

Sau Hội thảo về Sưu tầm năm 1983, bộ phận Sưu tầm đã tổ chức được nhiều chuyến đi về các địa phương, đến nay đã thu thập được ngót 2316 bản sách, trong đó có 496 bản Nôm (có cả Nôm Tày Nùng). Nhiều bản rập Bia - chuông - khánh, nhiều bản gốc và bản sao Thần phả, ngọc phả, thần sắc cũng đã được bổ sung vào kho. Một số danh mục các sách Hán Nôm của ta tản lạc ra nước ngoài và một vài bản sách trong số đó đã được sao chụp về bổ sung vào kho sách cơ bản nhận từ Viện Thông tin Khoa học xã hội.

Trong điều kiện hết sức khó khăn về cơ sở vật chất và kỹ thuật những năm qua, việc bảo quản sách được duy trì ở mức bình thường, đảm bảo vừa giữ được sách vừa đáp ứng yêu cầu sử dụng sách của giới nghiên cứu. Chúng ta ý thức được rằng đây là một công tác hết sức quan trọng, bởi vì những văn vật cổ này không chỉ là giấy tờ chữ nghĩa mà là trí tuệ và tâm hồn của cha ông, là huyết hãn của nhiều thế hệ, và vì thế công tác bảo quản dù có cải tiến bao nhiêu cũng không thừa.

Phát huy kết quả của hội thảo về dịch thuật năm 1981 được đánh dấu bằng tập kỉ yếu Dịch từ Hán sang Việt - một khoa học, một nghệ thuật, Hội thảo văn học năm 1982 với kỉ yếu Một số vấn đề văn bản học Hán Nôm, và Hội thảo về Nôm năm 1985, Viện đã tổ chức nghiên cứu một loạt đề tài trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu lịch sử văn hóa - văn minh Việt Nam, trong đó có thể kể một số đề tài chính đã được công bố:

Quốc âm thi tập, Thơ văn Lê Thánh Tông, Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn, Thơ văn Ninh Tốn, Tên làng xã Việt Nam, Lê Quí dật sử, Lượn cọi, Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam, Đại Việt sử ký tục biên, v.v…

Hai công trình điều tra cơ bản là bộ Thư mục sách Hán Nôm 10 tập (công trình hợp tác với OEFEO, Cộng hòa Pháp) và bộ Thư mục văn khắc Hán Nôm (công trình tiến hành với tài trợ của Toyota Foundation, Nhật Bản) đến nay đã cơ bản hoàn thành bản thảo và đang đi vào giai đoạn chót để có thể ra mắt bạn đọc vào thời gian tới.

Một bộ sách công cụ quan trọng là Tự điển chữ Nôm đang được khẩn trương biên soạn trên cơ sở giải tích các văn bản Nôm tiêu biẻu trong lịch sử.

Từ tháng 5/1984, tập san Nghiên cứu Hán Nôm ra mắt bạn đọc, và từ năm 1986, được nâng lên thành Tạp chí Hán Nôm, đến nay đã ra được 10 số, trong đó có một số bài có giá trị học thuật khá, và công bố thêm được một số tư liệu mới.

Về phương diện đào tạo cán bộ, Viện Nghiên cứu Hán Nôm chưa làm được nhiều. Việc bảo vệ luận án Phó tiến sĩ trong nước của các cán bộ Viện còn trong vào tương lai. Ba Phó giáo sư của Viện hiện nay cũng chủ yếu trưởng thành ở môi trường cơ quan cũ của các đồng chí ấy. Để thỏa mãn được nguyện vọng của cán bộ trong Viện và đáp ứng được yêu cầu của xã hội, rõ ràng là trong thời gian tới Viện còn phải nỗ lực rất nhiều trong lĩnh vực này.

II

Nhằm mục tiêu tạo ra được số lượng sản phẩm có giá trị hơn, nâng cao rõ rệt trình độ cán bộ, xây dựng Viện thành một trung tâm đào tạo Hán Nôm sau đại học và trên đại học, trong thập kỷ 90 - thập kỷ của văn hóa và phát triển này - Viện Nghiên cứu Hán Nôm chủ trương đổi mới mọi mặt hoạt động. Hội thảo “Hán Nôm trong đổi mới” đã gợi mở nhiều hướng làm ăn mới. Một mặt đề nghị Nhà nước cho phép mở rộng chức năng của Viện để không chỉ bảo quản và nghiên cứu khối thư tịch chữ vuông mà vươn tới cả mảng thư tịch viết bằng các thứ chữ cổ khác có mặt trên đất nước ta: văn bản bằng chữ Khơ-me, chữ Thái, chữ Cham-pa… Mặt khác, gắn nghiên cứu chuyên môn với thực tiễn xã hội, Viện sẽ mở ra các hoạt động dịch vụ Hán Nôm, nhận làm mọi công việc tra cứu, giải mã văn bản gia phả, thần phả, thần tích, giúp làm luận chứng di tích lịch sử, phối hợp với các Sở Văn hóa, Nhà bảo tàng của các địa phương trong cả nước khai thác các di sản Hán Nôm ở địa phương, mở lớp dạy Hán Nôm và dạy tiếng Trung Quốc ở các trình độ phổ cập, đại học và sau đại học, nhận giúp các cơ sở các địa phương mở lớp.

Về nghiên cứu khoa học, các đề tài lớn như Tự điển văn hóa Hán Việt, ứng dụng tin học vào tàng thư và giải mã văn bản Hán Nôm sẽ thu hút nhiều cộng tác viên ngoài viện cùng phối hợp triển khai.

Trên cơ sở chuyên môn hóa cán bộ, Viện đẩy mạnh công tác đào tạo và bồi dưỡng, liên kết với các trường đại học, phấn đấu nâng cấp học hàm, học vị cho một số cán bộ có đủ điều kiện.

Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu và đào tạo cán bộ Viện, sẵn sàng mở cửa hướng tới tất cả các tỉnh thành trong cả nước, hướng tới bà con người Việt sống ở nước ngoài luôn luôn nhớ về cội nguồn muốn gìn giữ bản sắc dân tộc và kế thừa truyền thống văn hóa của tổ tiên, hướng tới đông đảo bạn bè quốc tế đang có mối quan tâm ngày càng lớn đối với nền văn hóa lâu đời của phương Đông nói chung và của Việt Nam nói riêng.

Triển vọng và tiền đồ nghiên cứu của Viện Hán Nôm rất rộng lớn vì nó gắn liền với việc gìn giữ và phát huy truyền thống ngàn năm văn hiến của nhân dân ta, với việc khám phá và khẳng định bản sắc của dân tộc ta trong quan hệ giao lưu văn hóa ngày càng rộng rãi. Công cuộc “đổi mới” do Đảng ta lãnh đạo đòi hỏi chúng ta nhận thức đầy đủ hơn những ưu điểm nổi trội cũng như những nhược điểm, yếu kém của con người Việt Nam trong quá khứ. Nhận thức ấy phải được đặt vững chắc trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ các giá trị tinh thần của 54 dân tộc anh em được lưu giữ phần lớn trong di sản viết bằng chữ Hán, chữ Nôm và các thứ cổ tự khác từng có mặt trên đất nước này.

Bảy mươi giáo sư, nghiên cứu viên và cán bộ công nhân viên của Viện đang kề vai sát cánh nguyện cống hiến tài năng và sức lực cho sự nghiệp bảo tồn và kế thừa tinh hoa quốc học ấy.

CHÚ THÍCH

* Diễn văn học tại lễ kỷ niệm 20 năm thành lập cơ sở nghiên cứu Hán Nôm (1970-1990) và khánh thành trụ sở mới Viện Nghiên cứu Hán Nôm (9-4-1991).

** Phó Giáo sư, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm./.

TB

VÌ SỰ NGHIỆP BẢO TỒN
VỐN VĂN HOÁ QUÝ CỦA DÂN TỘC(1)

LÊ HỮU TẦNG(2)

Viện Nghiên cứu Hán Nôm mà hôm nay chúng ta cùng nhau vui mừng tập hợp tại đây để kỷ niệm 20 năm ngày thành lập là một trong những đơn vị nghiên cứu quan trọng thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Bản thân quyết định thành lập Ban Hán Nôm, tiền thân của Viện Nghiên cứu Hán Nôm ngày nay, ngay giữa lúc cuộc chiến đấu vì sự tồn vong của Tổ quốc đang diễn ra ác liệt, cũng như quyết định đầu tư một số kinh phí lớn để xây dựng một công trình khang trang với những thiết bị hiện đại đảm bảo giữ gìn lâu dài kho tàng văn hiến cổ của dân tộc giữa lúc đất nước ta còn rất nghèo, nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn đã chứng tỏ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đặc biệt quan tâm đến việc bảo tồn và khai thác giá trị văn hóa cổ truyền của cha ông. Những điều đó cũng đồng thời nói lên tầm quan trọng của Viện Nghiên cứu Hán Nôm nói riêng, của công tác nghiên cứu Hán Nôm nói chung trong toàn bộ hệ thống các cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội ở nước ta. Trong tình hình hiện nay, khi số bậc túc nho do tuổi tác ngày càng cao nên ngày càng buộc phải xa dần lĩnh vực nghiên cứu Hán Nôm thì Viện với đội ngũ cán bộ được đào tạo có hệ thống thuộc lĩnh vực này càng có tầm quan trọng đặc biệt.

Với 20 năm tồn tại và phát triển, Viện đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tiếp nối công việc của các thế hệ cha anh: đó là không chỉ không để cho kho tàng văn hóa quý giá mà cha ông ta để lại bị mai một, mà còn góp phần đưa được các giá trị văn hóa ấy đến với con người Việt Nam hôm nay, góp phần vào việc xây dựng cuộc sống mới.

Với việc khánh thành và đưa trụ sở mới của Viện vào sử dụng, Viện càng có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để thực hiện chức năng cơ bản của mình là sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, khai thác di sản Hán Nôm, cũng như đào tạo cán bộ nghiên cứu Hán Nôm cho đất nước. Thay mặt cho tập thể cán bộ công nhân viên của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, chúng tôi xin chia sẻ niềm vui này với các đồng chí.

Cùng với những thành tựu đã đạt được, như trong báo cáo của đồng chí Viện trưởng đã nêu rõ, chúng ta cũng còn có những điều chưa vừa lòng khi nhìn lại chặng đường 20 năm đã qua của mình, đặc biệt là trong mấy năm cuối cùng của chặng đường ấy. Để khắc phục những điều chưa được vừa lòng đó, chúng tôi vui mừng nhận thấy tập thể cán bộ công nhân viên của Viện đã xem xét thực trạng của Viện một cách thẳng thắn, nghiêm túc, trên cơ sở đó đã đề ra được những mục tiêu, phương hướng và mười biện pháp lớn nhằm đưa Viện tiến lên. Xin chúc các đồng chí thành công trong việc thực hiện những chủ trương mới ấy.

Hôm nay chúng ta cùng nhau rất vui mừng chào đón cơ sở khang trang của Viện, có lẽ là khang trang nhất trong các cơ sở làm việc hiện nay của Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Nhưng thường thì sự vật bao giờ cũng có hai mặt: cùng với những thuận lợi là những khó khăn. Việc đưa trụ sở mới của Viện vào sử dụng đòi hỏi phải sử dụng một số kinh phí lớn. Trong tình hình hiện nay đấy là một việc rất khó. Tuy nhiên, vì sự nghiệp bảo tồn vốn văn hóa quý giá của dân tộc, dù khó khăn chúng tôi cũng cố gắng chắt chiu để đảm bảo cho hệ thống thiết bị hiện đại của Viện làm việc bình thường. Song cũng do tình hình đó nên đề nghị các đồng chí quan tâm vừa tiết kiệm, vừa có kế hoạch gìn giữ cơ sở vật chất đẹp đẽ này, đừng để nó bị xuống cấp, thậm chí xuống cấp nhanh chóng như thường xảy ra ở nhiều nơi.

Xin chúc các đồng chí sức khỏe và thành công trong tất cả các mặt hoạt động đa dạng của mình. Chúc Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện thắng lợi khẩu hiệu “ổn định - đoàn kết - đổi mới” mà lãnh đạo Viện đã đề ra.

Xin chúc sức khoẻ tất cả các đồng chí và các bạn có mặt ở đây hôm nay để chia vui với Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Lời cám ơn

Chân thành cám ơn Công ty Gen - Pacific (Trụ sở: 358B Lê Văn Sĩ, Q.3, thành phố Hồ Chí Minh; Văn phòng đại diện: số 1, Hàn Thuyên, Hà Nội) do GSTS Nguyễn Quang A làm tổng giám đốc, đã nhiệt tình ủng hộ nhiều mặt cho “Chương trình ứng dụng tin học vào nghiên cứu, quản lí các văn bản Hán Nôm” của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và đã tặng Viện 5 hệ máy tính BM - 45V.

Chúc Gen - Pacific thu được nhiều thắng lợi mới.

Viện trưởng
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
GS. Phan văn các

CHÚ THÍCH

(1) Bài phát biểu trong lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập cơ sở nghiên cứu Hán Nôm (1970-1990) và khánh thành trụ sở mới Viện Nghiên cứu Hán Nôm (9-4-1991).

(2) Giáo sư, Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Việt Nam./.

TB

DI SẢN VĂN HOÁ HÁN NÔM VÀ
VĂN HỌC SO SÁNH

PHẠM TÚ CHÂU

Trong kho tàng thư tịch và tư liệu viết bằng chữ Hán, chữ Nôm của nước ta, di sản văn học chiếm một số lượng không nhỏ, bởi văn học là một bộ phận góp phần làm nên sự nghiệp dựng nước và cứu nước.

Nghiên cứu số di sản văn học này, lâu nay chúng ta thường vận dụng phương pháp lịch sử. Cùng với trình độ tri thức và kinh nghiệm nghiên cứu ngày càng được bồi bổ và nâng cao, nhiều thế hệ nghiên cứu đã nối bước trên con đường khai thác di sản Hán Nôm đầy khó khăn vất vả để đạt được nhiều thành tựu khoa học đáng mừng, có tiếng vang trong và ngoài nước. Các bộ Thơ văn Lý - Trần, Nguyễn Trãi toàn tập, Lê Quý Đôn toàn tập, các tác gia thuộc dòng văn học Tây Sơn, các tác gia yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ v.v… cùng một loạt truyện Nôm tiêu biểu như Truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc, Hoa Tiên, Lục Vân Tiên, Song Tinh Bất Dạ v.v… là những cái mốc đáng ghi nhớ trên con đường đó.

Bằng phương pháp nghiên cứu theo quan điểm lịch sử, trên cơ sở làm rõ bối cảnh thời đại và hoàn cảnh sinh sống của tác giả, các nhà nghiên cứu đã giúp bạn đọc thấy được “lý lịch” của tác phẩm, từ gốc gác, ảnh hưởng tiếp thu, các giai đoạn hình thành tác phẩm; nội dung gồm cốt truyện, tư tưởng tình cảm; nghệ thuật gồm cách kết cấu, phong cách, nhịp điệu; tác phẩm với bạn đọc đương thời và đời sau, ở trong nước và ngoài nước v.v…

Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập và phân tích ảnh hưởng qua lại giữa hai nền văn học trên cơ sở mối quan hệ lâu đời và gắn bó giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam, làm rõ yếu tố ngoại lai và bản sắc dân tộc cũng như sự tiếp thu và sáng tạo của các nhà văn tiền bối.

Tuy nhiên do hoàn cảnh đặc thù nào đó, trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc, do quan hệ Việt Nam và Trung Quốc có lúc không bình thường, một số khâu nghiên cứu nào đó có khi bị coi nhẹ, bị bỏ qua hoặc không có điều kiện để tìm hiểu. Lại có khi do người nghiên cứu “yếu bóng vía”, sợ làm rõ nguồn gốc và ảnh hưởng của văn học Trung Quốc đối với tác gia, tác phẩm Việt Nam, có cái gì đó động chạm đến lập trường tư tưởng, tình cảm, ý thức dân tộc… chăng.

Thật ra những sản phẩm trí tuệ và tình cảm của con người nói chung không bao giờ cô lập, bao giờ chúng cũng cùng với, thậm chí có khi vượt lên trước, sự giao lưu về ngoại giao, chính trị kinh tế, văn hóa… giữa hai hoặc nhiều nước mà gặp gỡ, giao hòa, đan xen vào nhau, làm phong phú, bổ sung cho nhau. Nếu chỉ nghiên cứu trong phạm vi một tác phẩm, tác giả, chúng ta sẽ không thể thấy và thấy rõ sự gặp gỡ, giao hòa, đan xen làm phong phú cho nhau giữa tác gia tác phẩm khác quốc gia, dân tộc. Cho nên thế giới từ thế kỷ XVIII đã có những nhà nghiên cứu chuyên theo đuổi môn văn học so sánh, sau đó đã hình thành lý luận và phương pháp luận về bộ môn này. Môn văn học so sánh theo đà phát triển, giao lưu về khoa hhọc kỹ thuật cũng ngày một lớn mạnh, có những hội nghị quốc tế chuyên bàn về những vấn đề của văn học so sánh.

Yếu tố quan trọng tạo tiền đề cho văn học so sánh là “người chuyển dịch”, có thể là một hoặc nhiều người, có thể là dịch nguyên văn tác phẩm nước này sang nước khác, có thể là mô phỏng, chuyển thể một tác phẩm nào đó. Các tác gia Hán Nôm của chúng ta chính là những người chuyển dịch, đồng thời là người tiếp thu sâu sắc và sáng tạo tài tình. Bởi vì cái khó đối với người chuyển dịch trên thế giới là ngôn ngữ, văn hóa của nước sản sinh ra tác phẩm thì các cụ chúng ta chẳng những đủ mà còn thừa. Cho nên tiền đề của văn học so sánh và bản thân văn học so sánh của nước ta có từ rất sớm, từ nhiều triều đại trước đây; còn nghiên cứu văn học vượt qua phạm vi một nước, các nhà nghiên cứu như thế ở ta từ lâu cũng không phải là không có, chẳng hạn nghiên cứu về thơ văn cổ Trung Hoa, chúng ta có các tác giả Văn thơ Lý - Trần v.v…; Về truyền kỳ, ta biết chắc có Nguyễn Dữ (chuyển dịch và tham khảo Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu để viết nên Truyền kỳ mạn lục giàu cảm hứng lịch sử dân tộc); về truyện thơ và tiểu thuyết chương hồi có Nguyễn Huy Tự (chuyển Hoa Tiên Ký thành Truyện Hoa Tiên), Nguyễn Hữu Hào (chuyển Đinh tình nhân thành Song Tinh Bất Dạ), Nguyễn Du (chuyển Kim Vân Kiều truyện thành Truyện Kiều), Lý Văn Phức (chuyển Ngọc Kiều Lê thành Ngọc Kiều Lê truyện thơ Nôm) v.v…; về nghiên cứu có thể nói là Lê Quý Đôn (những đoạn nhận xét về Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử)… Sau này các nhà nho, các nhà nghiên cứu lão thành, các bậc thầy của chúng ta và cả chúng ta nữa chính là đã bước vào, đã thực thi vai trò của người chuyển dịch và người nghiên cứu văn học so sánh.

Tuy nhiên về cả hai mặt trên đây, chúng ta chưa tiến được bao nhiêu so với yêu cầu thực tế. Chúng ta làm nhưng còn tự phát, lẻ tẻ, sơ sài, chưa triệt để. Mặt khác nghiên cứu văn học, cũng như nhiều bộ môn khoa học xã hội khác, là một hệ thống mở, mỗi thời, mỗi thế hệ có thể có nhận thức khác và cách tiếp cận riêng, khó có ai tự cho là mình đã đi đến tận cùng của vấn đề. Chẳng hạn Truyện Hoa Tiên đến nhà nghiên cứu Lại Ngọc Cang đã được xem xét, đánh giá một cách cơ bản về văn bản, nhưng nếu chúng ta nghiên cứu so sánh giữa Hoa Tiên ký của Trung Quốc với Truyện Hoa Tiên chúng ta sẽ thấy nhiều vấn đề lý thú về người chuyển dịch và sáng tạo là Nguyễn Huy Tự cũng như người nhuận chính là Nguyễn Thiện. Chương một trong nguyên văn ca bản nói rõ “Hoa Tiên đại ý” (đại ý truyện Hoa Tiên) như sau:

Khởi bằng nguy lan nạp vãn lương,
Thu phong xuy tống bạch liên hương;
Chỉ kiến nhất câu tâm nguyệt quang như Thủy,
Nhân thoại thiên tôn kim dạ hội Ngưu Lang.
Tế tưởng thiên thượng giải kỳ hoàn hữu hội,
Nhân sinh hà khổ ai thê lương?
Đắc khoái lạc thì tu khoái lạc.
Hà phương thiết ngọc hựu thâu hương.
Đãn năng lưỡng hạ toàn chung thủy,
Tư tình mật ước dã hà phương?
Tự cổ hữu tình đính toại tâm đầu nguyện,
Chỉ yếu kiên tâm nhẫn nại đẳng thành song.

(Trở dậy tựa lan can cao hóng gió tối, gió thu thổi đưa hương hoa sen trắng; chỉ thấy một vành trăng non ánh sáng như nước, người ta kể đêm nay Chức Nữ gặp Ngưu Lang. Nghĩ kỹ thấy tuổi xuân tươi đẹp ở trên trời còn được gặp nhau, đời người sao khổ chịu lạnh lùng buồn bã ? Được thời khoái lạc hãy cứ khoái lạc, dù có thỏ ngọc trộm hương cũng chẳng hề gì. Chỉ cần hai bên vẹn toàn chung thủy, tư tình mật ước nào có hại chi ? Từ xưa đã có việc đính ước mà toại nguyện, chỉ cần kiên tâm nhẫn nại để thành đôi)

Nguyễn Huy Tự diễn Nôm thành:

Nương lơn nhẹ bóng mát chiều,
Vàng pha gió quế trăng dìu hương sen
Gác rèm câu nguyệt xiên xiên,
Này hôm ả Chức chàng Khiên họp vầy.
Hẹn lành năm một đêm nay,
Trên kia còn vậy dưới này khiến sao.
Từng nghe trăng gió duyên nào,
Bể sâu là nghĩa non cao là tình.

Dễ thấy nhà thơ họ Nguyễn diễn Nôm khá sát, song cái “đại ý” chủ chốt hay nhất của câu chuyện thì rõ ràng ông né tránh, chỉ tóm gọn một cách mờ mờ trong hai câu. Song cũng có thể nói đây là một sự lựa chọn có chủ ý của Nguyễn Huy Tự. Tuyên ngôn “Đắc khoái lạc thì tu khoái lạc” mà trước đó khá lâu là “Hoa khai kham chiết trực tu chiết” trong bài Kim lũ y của Đỗ Thu Nương đời Đường có gì đó gần gũi với triết lý hiện sinh, mà tới nay nhiều người trong chúng ta còn chưa dám nghĩ đến! Còn bản nhuận chính của Nguyễn Thiện thì càng làm mờ nhạt hơn nữa ý đó để kéo cốt truyện ngả về đạo đức Nho gia. Có thể vì thế mà bản này lại được phổ biến.

Xem như thế thì văn học so sánh chưa phát triển, chưa được coi trọng đúng mức có nguyên nhân là sự trói buộc hoặc tự trói buộc về mặt quan niệm. Song nhiều hơn có lẽ là thiếu thông tin. Không có gì đau khổ và tai hại cho người nghiên cứu (mà cũng chẳng chỉ riêng người nghiên cứu) bằng thiếu thông tin. Người làm công tác khai thác sách Hán Nôm không biết gì hơn ngoài số đầu sách còn lại trong kho, và ngay cả thông tin về số sách này cũng chưa nắm được trọn vẹn. Chỉ nghe một tiếng chuông, chỉ nhìn qua một góc và chỉ đứng một chỗ mà nhìn thì chúng ta làm sao có được nhận thức đầy đủ và xa rộng được? Trong khi đó thế giới đã hội tụ tri thức để kết luận hoặc bước đầu kết luận được về nhiều vấn đề và đã chuyển sang nhiều vấn đề khác. Chẳng hạn Hội nghị quốc tế thảo luận về “Đạo Nho và văn hóa Trung Quốc” (Hồng Kông, 12-1987), về Khổng Tử (1988), có những cuốn sách bàn về lý luận văn học cổ của Trung Quốc hay quan niệm văn học từ Khổng Tử đến Lương Khải Siêu (Tiến sĩ triết học Donal Hozman, Pháp, viết) v.v… Hẹp hơn nữa gần đây chúng ta mới biết rằng có nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc đã đánh giá lại Nguyễn Du và Truyện Kiều. Theo ông, về tình cảm Nguyễn Du lạnh nhạt với số phận bi kịch của người phụ nữ; về tư tưởng, Nguyễn Du tô vẽ cho quan quân triều đình, cho bọn quý tộc phong kiến tàn ác, hạ thấp anh hùng khởi nghĩa nông dân. Nguyễn Du chỉ mượn Truyện Kiều để trút mối hận có tài mà không gặp thời. Tóm lại, về nội dung và nghệ thuật, Truyện Kiều của Việt Nam không hơn được nguyên tác, không hiểu sao người Trung Quốc lại chê truyện của chính mình (xem Đổng Văn Thành: So sánh truyện Kim Vân Kiều của Trung Quốc và Việt Nam. Nxb. Xuân phong văn nghệ, 1987).

Thiếu thông tin, không những chỉ thiếu tư liệu, mà còn là thiếu tiếp xúc với nước có tác phẩm đối tượng của nghiên cứu để hiểu về văn hóa, con người nước này, và nhất là nắm vững ngôn ngữ nước đó đến độ sâu sắc, tinh tế. Đau khổ và tai hại cho người nghiên cứu văn học so sánh không gì bằng thiếu ngoại ngữ, kém ngoại ngữ ! Những kết luận của ông Đổng Văn Thành về Truyện Kiều như vừa nêu là do ông không biết, không am hiểu tiếng Việt, cho nên ông đã so sánh Kim Vân Kiều với bản dịch Trung văn Truyện Kiều! ấy là chưa kể có khi người nghiên cứu văn học so sánh cần biết vài ngoại ngữ vì có không ít tác phẩm văn học đã chu du nhiều nước và ở nước nào nó đến, tác phẩm đều được tiếp thu và mô phỏng (chẳng hạn Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu được Việt Nam, Triều Tiên, và Nhật Bản đón nhận).

Qua những điểm trình bày trên đây, chúng tôi thấy rằng bên cạnh phương pháp nghiên cứu theo quan điểm lịch sử, người khai thác, nghiên cứu di sản Hán Nôm cần vận dụng phương pháp của bộ môn văn học so sánh, không kể những phương pháp khác của bộ môn ngôn ngữ, văn bản học, để đẩy công tác nghiên cứu này lên một tầng thứ cao hơn, có hiệu quả thực tế hơn, rút ra được những khái quát, lý luận xác đáng, thực sự cầu thị về tiếp thu và sáng tạo, truyền thống và hiện đại, dân tộc và thế giới mà nghiên cứu Hán Nôm có phần trách nhiệm phải giải đáp. Cũng chỉ trên cơ sở so sánh một cách khoa học, giới nghiên cứu mới có thể tiến tới khái quát những vấn đề lớn hơn, trong phạm vi lớn hơn một vài quốc gia./.

TB

BỐN VẤN ĐỀ VĂN BẢN HỌC CỦA
HOA TIÊN
(*)

SÀI PHI THƯ TRANG

Cho đến nay chúng ta có được 14 bản Hoa Tiên, bản đầu sớm nhất là bản Nôm Hoa Tiên nhuận chính do Đỗ Hạ Xuyên khắc ván in vào năm Đinh Hợi đời Tự Đức (1875). Bản sau cùng là bản Quốc ngữ phiên âm Hoa Tiên nhuận chính qua vifilm của Thư viện Quốc gia Pháp công bố trong tiểu luận văn học văn chương của cô Bùi Âu Lăng đệ trình tại Viện Đại học Đà Lạt năm 1974. Và, tiếp đó là bản phiên âm Hoa Tiên nhuận chính do cụ Đào Duy Anh khảo đính, chú thích và giới thiệu. Nxb. Văn học in năm 1979. Như vậy, bản đầu là bản Nôm, còn lại là các bản Quốc ngữ, trong đó hai bản sau là hai bản phiên âm bản Nôm đầu, tức bản Hoa Tiên nhuận chính.

Qua nghiên cứu các bản Hoa Tiên hiện có, chúng tôi thấy có 4 vấn đề cần được xem xét về mặt văn bản học:

Vấn đề I: Chữ Nôm, phiên Nôm với văn bản Hoa Tiên.

Hiện nay chưa có dấu vết gì báo cho ta biết dân tộc Việt có chữ viết riêng của mình, trong khi các dân tộc khác đều có. Đó là một điều hết sức bất bình thường. Song, trước mắt nó vẫn là một sự thực đầy thách thức(2).

Nhìn lại lịch sử, người Việt chúng ta từ thế kỷ thứ II đã có người học hành đỗ đạt được bổ làm quan ở ta và ở cả bên Trung Quốc. Và, Sĩ Nhiếp, Thái thú quận Giao Chỉ chăm sự dạy bảo dân, lo mở mang việc học hành, hay giúp đỡ những người có chữ nghĩa, cho nên về sau mới được tiếng làm “học tổ” ở nước ta… Những sự thực lịch sử đó buộc chúng ta phải nghĩ ngay tới việc vay mượn tiếng qua lại để ghi âm lời nói trong khi giao tiếp, trong cả công văn giấy tờ được phản ánh trong thư tịch của ta và của cả Trung Hoa. Mà sự thực cũng là như vậy. Đây là chứng cứ:

Trong Nhật Bản quốc kiến hiện tại thư mục lục do

Đằng Nguyên Tá Thế soạn vào năm 889 - 890 do lệnh của Vũ Điền Thiên Hoàng, nhằm ghi lại những bộ sách Trung Quốc còn sót lại trong thư viện Hoàng Gia, có tên sách Tá Âm của Đạo Cao pháp sư, được liệt vào loại tiểu học gia, và cứ định nghĩa của Tùy thư Kinh tịch chí, thì đó là một tác phẩm về ngôn ngữ(3). Trong Tùy thư Kinh tịch chí khảo chứng tác giả đã lợi dụng những tư liệu Nhật Bản, đặc biệt cuốn Nhật Bản Quốc kiến tại thư mục lục mà xác nhận là có tên sách Tá Âm của Đạo Cao sống giữa những năm 370-360 và đã viết hai lá thư trả lời cho những câu hỏi của người đệ tử Lý Miễu là những lá thư xưa nhất của lịch sử tiếng quốc âm và Phật giáo nước ta. Ta có thể nói rằng Tá Âm chắc phải là một cuốn sách về cách mượn âm Trung Quốc của tiếng ta, là một cuốn về chữ mượn của tiếng quốc âm. Và cuốn đó do Pháp sư Đạo Cao soạn.

Vào thời Đạo Cao, tiếng quốc âm tương đối đã có một lịch sử lâu dài, và đã có một tính phổ quát đáng kể. Ngày nay, mỗi khi nói đến nguồn gốc và lịch sử tiếng quốc âm, người ta không bao giờ đẩy quá thời Sĩ Nhiếp (137-226) được. Và, giá như có đẩy tới được thời Sĩ Nhiếp kiểu của Nguyễn Văn San và Lê Dư, thì đấy cũng chỉ là phỏng đoán vô bằng, chứ không có những chứng cứ gì chính xác khách quan. Cho nên nhiều người chỉ coi tiếng quốc âm bắt đầu với danh hiệu Bố Cái Đại Vương hay gần hơn, với thơ đuổi cá sấu của Hàn Thuyên. Họ đâu biết rằng nguồn gốc và lịch sử quốc âm có thể truy về một cách chính xác tới năm 17 trước Tây Lịch. Rồi tiếp đến Sĩ Nhiếp đã mượn âm của chữ da 耶 của tiếng Trung Quốc để ghi lại cái tên một món đồ cống Sĩ Nhiếp gửi cho Tôn Quyền trong những năm 210-226 mà sau này các nhà chú giải Trung Hoa đã không ngần ngại đồng nhất với chữ da là dừa. Như vậy, có thể nói Nhiếp là người tá âm đầu tiên được biết một cách minh bạch trong lịch sử tiếng quốc âm. Cũng vào thời Sĩ Nhiếp hay trước đó không lâu, một quật liệu tìm thấy ở Bắc Ninh đã mang một dòng chữ gồm cả chữ Hán với những chữ viết theo lối chữ Hán, người Trung Quốc đọc không ra. Từ Sĩ Nhiếp chết đi, với sự ra đời của Bản thảo tập chú do Đào Hoàng Cảnh soạn (502-587), chúng ta lại có những chữ tá âm mới của tiếng quốc âm.

Đến giữa những năm 901-922, lúc đang còn giữ chức Đại thần Bác sĩ, Thâm Căn Phụ Nhân đã viết khoảng năm 918 một bộ sách thường được biết như Bản thảo hòa danh, hay Phụ Nhân Bản thảo, trong đó dưới mục về ý dĩ tử, Phụ Nhân đã viết: Trái cây ý dĩ Giao Chỉ là to nhất, xứ đó gọi là cán châu. Hạt nó nặng, để lâu ngày càng tốt. Trẻ con có bệnh sán, lấy gốc nó nấu với nước cơm, ăn thì trừ được bệnh. Cán châu, chỉ nhìn mặt chữ, chúng ta cũng có thể thấy chúng là một phiên âm của chữ cơm châu. Ở miền Trung, thay vì gọi cây mít, cây xoài, người ta nói cơn mít, cơn xoài. Và phiên âm cơn châu đây rõ ràng là một tá âm, mượn âm hai chữ Trung Quốc để ghi lại một danh từ Việt Nam. Danh từ ấy, do đó phải đến tay Đào Hoàng Cảnh qua trung gian cuốn Tá âm. Ngoài ra, tại Viện Bảo tàng Anh có một thủ bản mang số 5731 nhan đề Thời yếu tự dạng mang niên đại ngày 10 tháng 12 năm Càn + Phủ thứ 6 (tức ngày 25 tháng Giêng năm 880). Phải chăng nó là một tác phẩm chữ Nôm hiện còn ? Phải chăng nó là một tên gọi khác của Tá Âm của Thích Đạo Cao?

Vì vậy, tìm dấu vết chữ Nôm xưa nhất, sách vở ta không còn, thì tìm ở các nước lân cận Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên. Song, điều đó không quan trọng, vì trước hết tính vững bền của tiếng Nôm và cách ghi chữ Nôm hầu hết là thống nhất. Điều quan trọng hơn cả, có tính chất nền tảng là tác phong nghiên cứu khoa học đến nơi đến chốn từng vấn đề đặt ra, là nghiên cứu khôi phục lại một cách có hệ thống cả khuôn mặt ngữ âm lịch sử của tiếng ta. Song, điều đó, thì ta, do truyền thống, không có mấy thành tích. Nhìn vào thực trạng ngôn ngữ học hiện nay, tình hình nghiên cứu chữ Nôm, thì điều đó vẫn đúng.

Thật không mấy phấn khởi khi nhìn lại toàn cảnh ngôn ngữ học Việt Nam: mọi chuyện đều dở dang, không có một vấn đề gì được nghiên cứu đến nơi đến chốn. Vấn đề chỉ được xới lên rồi bỏ đó. Trong lĩnh vực chữ Nôm thì vẫn theo kết quả của H. Maspéro công bố từ 1912, nghĩa là gần non thế kỷ nay, về ngữ âm học lịch sử, ta không một do dự nào hết đối với nhà học giả người Pháp này. Các thế hệ trước làm như vậy còn có thể thông cảm và hiểu được. Chúng ta trong cuối thế kỷ XX này mà còn làm như vậy là một điều không thể chấp nhận. Phải chăng điều này cũng nói lên một truyền thống dân tộc cần khắc phục.

Không có óc nghiên cứu đến cùng trong im lặng cho khoa học, để con cháu sau chỉ tiếp tục đẩy khoa học phát triển chứ không làm lại nữa. ở ta, tôi có cảm giác cái gì cũng mới bắt đầu…

Về phương pháp nghiên cứu, thì hoàn toàn áp dụng - nếu không muốn nói là bắt chước, phương pháp nghiên cứu của GS. Vương Lực, lấy cả kết quả nghiên cứu của họ làm của mình. Chính bản thân tôi cũng đã phải làm như vậy từ những năm 1959 - 1960 khi tình thế bắt buộc phải giảng một Giáo trình bằng chữ Nôm cho nghiên cứu sinh Liên Xô và Trung Quốc mà không có ai đảm nhận.

Những công trình nghiên cứu chữ Nôm xuất bản về sau, trong căn bản vẫn là cách đi bất đắc dĩ ban đầu đó, không có gì mới mẻ, để rồi cùng đi đến những kết luận như tôi đã làm về thời kỳ xuất hiện chữ Nôm, hay như H. Maspéro đã chú trong bài viết của mình từ năm 1912 trong BEFEO. Đáng buồn hơn nữa là ngay những vấn đề về chữ Nôm, chúng ta cũng chưa vượt hơn Ô. Maspéro trong những chú thích đó của bài viết của ông. Vì sao vậy? Vì một trong những truyền thống cần khắc phục nó là thích cái gì cũng chung chung vậy thôi, thích lý luận đại khái. Cái đó luôn luôn là một thời thượng, mà không hiểu rằng mọi lý luận đều xuất phát từ thực tế cụ thể, nghĩa là từ sự kiện và sự kiện. Song, điều này đòi hỏi lắm công phu, và chỉ có được trong phương hướng nghiên cứu quan sát. Mà phương hướng này, ở nước ta không có truyền thống, hay ta chưa có ý thức đầy đủ về nó, trong khi ở châu Âu, ở các nước tiên tiến của thế giới, người ta đặt nó lên hàng đầu. Đây là một cố tật cần khắc phục.

Như vậy, trong khi chưa có những thành tựu đáng kể về mặt ngữ âm học lịch sử, mà cứ nói chắc rằng chữ này phải đọc như thế này, chữ kia phải đọc như thế kia là một điều sai lầm. Có người đã làm như vậy trong khi phiên âm Quốc âm thi tập, và cả trong khi phiên âm Hoa Tiên nhuận chính. Cụ Đào Duy Anh khẳng định câu 824 Hoa Tiên phải phiên “Sớm đưa mái đẩy, hôm kề bến neo” thay vì “Sớm đưa bến Dĩ, hôm kề sông Dâu”; câu 463 phải phiên “Hiếm nơi ngòi bảng duyềnh khơi” để rồi kết luận rằng: “Đó là hai thí dụ điển hình đủ cho chúng ta thấy rằng với các bản truyện Hoa Tiên đã xuất bản rồi, chúng ta chưa có thể có văn bản đúng đắn”. Đó là một kết luận vội vàng. Vì một lẽ đơn giản: trong tay cụ Đào chỉ có một bản Hoa Tiên nhuận chính, không có bản Hoa Tiên ký diễn âm là bản Nôm viết tay của trường Viễn đông Bác cổ (AB.269): Hoa Tiên ký diễn âm (Đệ bát tài tử) - Nguyễn Huy Tự soạn, Cao Chu thần hậu tự - Thiệu Trị - Quý Mão (1843). Bản này đã mất.

Ở đây cần nhấn mạnh một điều là: đối với những giá trị văn hóa quá khứ, đứng trước một sự kiện nào đó mà chúng ta cho là chưa ổn, hay phi lý, thì trước hết chúng ta nên tìm lý do tồn tại của những sự kiện đó, chứ không nên bằng vào chủ quan của ta cho là sai lầm, không ổn để rồi sửa chữa lại tất cả.

Trở lại văn bản Hoa Tiên nhuận chính, Nxb. Văn học xuất bản năm 1979. Theo cụ Đào - người khảo đính, chú thích, giới thiệu - thì các bản Hoa Tiên đã xuất bản còn chưa đúng đắn, cần có một bản Hoa Tiên tương đối chính xác về văn bản cũng như về phiên âm và chú giải, để cho người đọc và người dạy tác phẩm có căn cứ tương đối chắc chắn, nên cụ mới làm lại, cho Hoa Tiên nhuận chính ra đời. Đó là ý muốn của cụ Đào và của người đọc. Song, khi cầm bản Văn học trong tay, thì ta thấy cụ đã làm ngược lại. Chỉ tính riêng mặt phiên âm Hoa Tiên nhuận chính 1766 câu, bản Văn học đã có sự nhầm lẫn rõ ràng, không chối cãi được là 130 câu. Trong số này, có chỗ do cụ đoán thế này thế khác rồi sửa lại văn bản. Đó là một việc làm cần kịp thời loại bỏ. Cả truyền thống đồ sộ về khảo chứng học Trung Hoa, và cả truyền thống phân tích văn bản học châu Âu không có cho phép ta làm như vậy. Do đó, chúng tôi nghĩ rằng các Nxb. Giáo dục và Đại học cần có kế hoạch ấn hành lại tác phẩm Hoa Tiên để dùng trong nhà trường.

Một mặt khác, cũng dễ dàng nhận thấy, chính bản Văn học cho ta có một cảm nhận rõ nét rằng có nhiều bản Hoa Tiên khác nhau, có bản của Nguyễn Thiện, có bản của Nguyễn Huy Tự. Điều này không phù hợp với lịch sử hình thành truyện Hoa Tiên. Theo kết quả nghiên cứu của nhiều người, thì Nguyễn Huy Tự đã viết tập truyện khoảng giữa thế kỷ XVIII, từ năm 1759 (năm ông tới Thăng Long) đến năm 1768 (năm ông được bổ nhiệm làm quan ở Sơn Tây), lúc này, ông vào khoảng 17-26 tuổi. Truyện Hoa Tiên ra đời là một thành công lớn của văn học cổ điển. Nhưng tác phẩm mà chúng ta quen biết đã qua nhiều tay nhuận sắc. Về sau năm 1829 Vũ Đãi Vấn cho rằng vì Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện còn có những chỗ yếu kém nên ông đã không quản tài thiển lậu mà thêm bớt, mà sửa chữa từng chữ, từng câu. Nhưng trong bài tựa viết năm 1843, Cao Bá Quát lại cũng nói rằng chính ông đã vì lòng yêu Hoa Tiên mà sửa lại cho đúng những chỗ sai lầm hoặc lạ lùng, tạp nhạp của tác phẩm. Cho nên,

Vấn đề II: Vấn đề nhuận sắc Hoa Tiên. Đâu là chứng cứ xác thực?

Nguyễn Thiện nhuận sắc Hoa Tiên, chúng ta biết vậy chỉ qua lời của Vũ Đài Vấn trong bài tựa của ông được ghi lại trong một bản chép tay của người đời sau ngoài ra không có một bằng chứng nào khác Vũ Đài Vấn cũng nhuận sắc Hoa Tiên chúng ta cũng chỉ biết qua bài tựa đó. Còn Vũ Đài Vấn? Không có tài liệu nào cho ta biết cả. Chỉ được biết ông đã nhuận sắc Hoa Tiên, theo lời Tựa của người đời sau chép có ghi tên Vũ Đài Vấn. Nghĩa là họ Vũ là ai, ta còn chưa biết. Chỉ với bản chép tay nhan đề Hoa Tiên quốc ngữ, tháng 8 năm Khải Định thứ ba (1918), Tựa của Vũ Đài Vấn viết vào năm Minh Mệnh thứ 10 (1829) và bài Tựa của Cao Bá Quát đề vào năm Thiệu Trị Quý Mão (1843).

Trước sau Hoa Tiên đã hai lần nhuận sắc, một lần đính chính trong khoảng trên dưới 80 năm (1760 - 1843). Tuy vậy, so sánh bản Hoa Tiên nguyên tác với các bản hiện có ta thấy:

1. Về mặt nội dung tư tưởng, căn bản như nhau (đứng trên quan điểm đạo đức và tự cho mình cái nhiệm vụ bảo vệ truyền thống đạo đức đó).

2. Về hình thức nghệ thuật, các bản nhuận sắc càng về sau càng có giá trị hơn.

Như vậy, về mặt văn bản học vấn đề được đặt ra là cần phải khôi phục lại văn bản của Nguyễn Huy Tự, vì nó là thứ thiệt của tác giả, phản ánh những thôi thúc của thời đại - một giá trị mà mọi người phải bảo vệ và tôn trọng, vì những văn bản sau là không thuần nhất, không nói lên được một cái gì hết một cách đích thực của Hoa Tiên.

Bản nguyên tác Hoa Tiên, về mặt nội dung tư tưởng có hay hơn, tiến bộ hơn các bản đã qua sự nhuận sắc. Về nghệ thuật, nó như một áng văn ngôn của Trung Hoa, các bản Hoa Tiên đã qua nhuận sắc là những áng văn bạch thoại. Xu thế chung là trở về lại những cái đã được thử thách và đã ổn định.

Ở đây cần nói rõ một điều: trước đây, trong khi chưa tìm ra nguyên tác Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, các người đi trước đã căn cứ vào các bản chép tay dễ tính, cứ cho là như vậy thì cũng có thể hiểu được. Bây giờ thì đã có Hoa Tiên nguyên tác trong tay mà vẫn làm thế là điều không ổn. Đó là chưa nói đến việc các thế hệ kế tiếp rút kinh nghiệm: Hà Nội - Trường Lưu không xa là bao, bấy giờ ở đây còn biết bao thắng tích. Thế mà các cụ chỉ quẩn quanh Hà Nội, rồi viết, rồi khảo cứu… chỉ một truyện bản Nôm Hoa Tiên nhuận chính (1875), bản đã qua tay Nguyễn Thiện nhuận sắc, ta không có, vì nó đã ngự sang nằm tại Thư viện Quốc gia Pháp, mang ký hiệu B.98, và chỉ gần đây, chúng ta có bản vifilm. Bản Văn hóa là bản Hoa Tiên nhuận chính của cụ Đào Duy Anh đã mượn được. Bản này hiện nay, Thư viện Hán Nôm đã có một bản. Lẽ ra trước đây, cũng như hiện nay những vấn đề thiết thân cho Văn hóa dân tộc phải được mọi người quan tâm hàng đầu, với thái độ thực sự cầu thị như Thư viện của BEFEO trước đây ở 26 Lý Thường Kiệt của Hà Nội.

Trong những người có công hình thành và nhào nặn lên tác phẩm, ngoài tác giả, phải kể đến Nguyễn Thiện, người đã có những đóng góp đáng kể về cả hai mặt nội dung và hình thức nghệ thuật. Lại nữa, bản đó đã được Đỗ Hạ Xuyên khắc in từ rất sớm, năm 1875, là bản Nôm xưa nhất còn lại mà ta chưa được biết. Thêm vào đó, về quan hệ huyết thống, Nguyễn Thiện là em con chú của hai bà vợ Nguyễn Huy Tự, con của Điền Nhạc hầu Nguyễn Điều, là cháu Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, cháu gọi Toản quận công Nguyễn Khản - bố vợ Nguyễn Huy Tự bằng bác, gọi đại thi hào Nguyễn Du bằng chú.

Hai làng Trường Lưu và Tiên Điền chắc đã quen biết Hoa Tiên nguyên tác từ lâu. Trong những ngày ở quê hương, có thể Nguyễn Du và Nguyễn Thiện nhiều lần cùng nhau sống lại với những rung cảm của Nguyễn Huy Tự khi còn tuổi hoa niên. Cho nên sau này khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của Nguyễn Huy Tự. Nguyễn Du viết truyện Kiều từ trước năm 1802, Nguyễn Thiện đã đọc tác phẩm ấy, và chính nó đã tạo ra cho ông cái cảm hứng nhuận sắc Hoa Tiên, cuốn truyện mà ông đã biết và chắc cũng đã say mê từ hàng mấy chục năm về trước. Thời gian nhuận sắc nằm vào khoảng trong ngoài 1810 vài năm.

Vì những lẽ đó, Hoa Tiên nhuận chính cần phải được nghiên cứu, phiên âm chú giải một cách nghiêm túc mang tính khoa học cao, là sản phẩm chung của tác giả Nguyễn Huy Tự, và của cả người nhuận sắc Nguyễn Thiện. Các cụ ta trước đây đã làm đúng như vậy. Bản này sẽ là bản được đem ra phổ biến và được dùng giảng dạy trong nhà trường.

Vấn đề III: Hoa Tiên nhuận chính 1875 là quyển như thế nào, và bản thân nó có những vấn đề gì về mặt văn bản học ?

Hoa Tiên nhuận chính có những đặc điểm: 1. Đây là bản Nôm xưa nhất được khắc in (1875), chỉ sau nguyên tác của Nguyễn Huy Tự, và là bản của Nguyễn Thiện nhuận sắc. 2. Đây là bản Nôm Hoa Tiên duy nhất còn lại trong khi nguyên tác không lưu hành từ thế kỷ XIX. 3. Điều đáng chú ý là về chữ Nôm, về lối hành văn, về dàn ý, về luân lý và tâm lý có những nét riêng biệt:

A. Về chữ Nôm, ta có thể nhận thấy:

- Nhiều chữ cổ, như xắm nắm (35), chán (102), dù (172), vầy (114), thày lay (146), no (243), nhẫn (340), diễn (352), nhòng (512), lét, vầy, ngừng (726), sương siu (736)…

- Lối ghép chữ đặc biệt: Lẻ nhăng (207), bận bòng (974), vi hiu (991), cháo thang (1099), sợ sùng (1306), thấm thương (1719)…

- Cách cấu tạo có nhiều chữ được cấu tạo theo lối giả tá như: Gián (332), đến (769), xa (350), lả lơi (791), sắt (803), giao (844), vợi (1089), vi (490), trước (905), mắng (109)…

- Thiếu thống nhất trong cách viết, ở hai khía cạnh: về bộ, một chữ mà bộ khác nhau: Đêm (1087 挒) (1324 涖), nhẹ (14 珥) (25 弭), về chữ: trong (68 冲) (289 瑉), vòng (1205 妄) (1133 珤), đến (746 旦) (466 典), xa (350 車) (350 賒), trông (436 矡) (1015 鐭), trước (934 訳) (905 ), sau (654 罒) (604 畱).

B. Về lối hành văn:

- Bỏ bớt những từ ngữ quá thô sơ, nặng nề, Nguyễn Thiện đã thay những chữ như: Gùn ghè, xấm xỉnh, biết nỏm, chập chành, ghé xiên, bước sà, đứng nãm bằng những chữ bóng bẩy, chải chuốt. Do đó câu thơ trở nên nhẹ nhàng thanh thoát hơn.

- Đem chất thơ tế nhị vào tác phẩm, như trong đoạn gặp gỡ giữa Lương Câu và Dao Tiên, nguyên tác có vẻ khá ngộ nghĩnh, vụng về. Nguyễn Thiện đã nhuận sắc lại, làm cho ta thấy hết vẻ tình tứ e thẹn của người trong cuộc.

- Nguyễn Thiện thường dùng lối đàm thoại trực tiếp thay cho những đoạn tự thuật trong nguyên tác, khiến mạch văn trở nên linh động hơn, như ở những đoạn 831 - 846, 879-883, 1657-1680…, và cũng hay sử dụng lối viết bỏ lửng, khiến người đọc phải ngẫm nghĩ mới thấm thía, chẳng hạn “Thấy cờ mà tưởng những ngày… càng thêm… (972), Lõi duyên ai nghĩ tự chàng mà thôi… (1222)”.

C. Về dàn ý:

- Trước hết, Nguyễn Thiện đã viết lại cả đoạn mở đầu, bỏ bớt hai bài vịnh liễu, sắp xếp thứ tự của hồi “Lương Sinh nghị kế”, thay vì để hồi này xen vào giữa đoạn Ngọc Khanh bị ép duyên và dự tính huỷ mình của nàng như trong nguyên tác, Nguyễn Thiện đã đưa 6 câu thơ này xuống đoạn nói đến Lương Sinh ở trong trùng vây. Thay đổi thứ tự như vậy, ông đã làm cho câu chuyện liên tục và hợp lý hơn.

- Riêng đoạn 504-600, không hiểu vì người chép ghi nhầm thứ tự, hay vì có sự lộn xộn ngay trong bản nhuận sắc của Nguyễn Thiện, chúng tôi nhận thấy có sự thiếu liên tục về ý và mất vần điệu về văn.

D) Về luân lý:

- Đoạn 1562-1602, nếu Lương Sinh của Nguyễn Huy Tự tỏ ra vô tình với Ngọc Khanh, chàng hân hoan cử hành hôn lễ với Dao Tiên, thì Lương Sinh của Nguyễn Thiện lại tỏ ra là một người có nghĩa. Đoạn 1567-1680 thuật lại việc Lương Sinh vào xin phép Dao Tiên để được cưới Ngọc Khanh cho trọn nghĩa là đoạn thêm vào, không có trong nguyên tác, cho ta thấy ông muốn tô đậm trung, hiếu, tiết, nghĩa cho Hoa Tiên.

E. Về tâm lý:

Trong Hoa Tiên nhuận chính, Nguyễn Thiện đã viết thêm nhiều đoạn, nhờ đó tâm lý nhân vật trở nên sâu sắc và tinh tế hẳn lên. Đoạn 987-1002 tả 8 cảnh Tiêu Tương rất phù hợp với tâm trạng thất tình của Dao Tiên.; đoạn 1177-1196 Nguyễn Thiện sửa soạn thật chu đáo cho cuộc tái ngộ Phương Châu - Dao Tiên. Ngoài ra Nguyễn Thiện, cũng đã cắt xén nhiều đoạn rườm rà có hại cho tâm lý nhân vật, hoặc không phù hợp với quan niệm riêng của ông.

Tóm lại, Nguyễn Thiện đã thực sự đóng góp thêm cho Hoa Tiên rất nhiều ưu điểm cả về phương diện hình thức lẫn nội dung. Thực trạng văn bản Hoa Tiên nhuận chính đòi hỏi chúng ta phải khảo đính để cho tác phẩm không còn những chỗ không hợp lý trên cơ sở tiếp thu những thành công của những bản Hoa Tiên đã xuất bản theo những nguyên tắc và phương pháp thích hợp.

Vấn đề IV: Hoa Tiên nguyễn tác của Nguyễn Huy Tự:

Theo cụ Đào Duy Anh, Hoa Tiên ký của Nguyễn Huy Tự là một bản cụ mượn của họ nhà Nguyễn ở Trường Lưu trước Cách mạng Tháng 8. Cụ đã thuê chép một bản mới đổi lại cho gia đình, còn bản gia đình họ Nguyễn cụ đã biếu Viện Bảo tàng Lịch sử, sau khi thuê chép lại một bản nữa để ở Thư viện Viện Sử học. Bản này không phải là nguyên bản của Nguyễn Huy Tự mà là bản do con cháu chép lại ở một bản xưa đã mục nát. Bản ấy trước kia cụ cùng cụ Đoàn Thăng phiên âm lần đầu tiên. Bản phiên âm ấy được in phụ lục trong sách của ông Lại Ngọc Cang năm 1961, còn có một số khuyết điểm, nay cụ phiên âm lại cẩn thận hơn. Đó là điều cụ Đào cho chúng ta biết trong Lời đầu sách của truyện Hoa Tiên, Nxb. Văn học in năm 1979. Ông Lại Ngọc Cang trong truyện Hoa Tiên do ông khảo đính, Nxb. Văn học in năm 1961 cho ta biết rõ hơn: Ngày 1-2-1943, trong khi nghiên cứu truyện Hoa Tiên, ông Đào Duy Anh đã vào tận làng Trường Lưu tiếp xúc với ông Nguyễn Huy Cừ, thuộc ngành trưởng họ Nguyễn Huy. Ông Cừ có đưa ra một bản Hoa Tiên nguyên tác của Nguyễn Huy Tự do ông chép từ một bản gốc đã hư nát. Ông Anh đã chép lại và đã phiên âm ra chữ quốc ngữ bản của ông Cừ. Bản nguyên tác ấy rách mất một vài tờ cuối, còn 1450 câu, trong có hai câu không trọn vẹn: Câu 13 còn một chữ và câu 1539 còn hai chữ đầu. Số hồi so với các bản Hoa Tiên ký, đã đến hồi thứ 59, số câu thiếu chắc chắn không quá vài chục câu.

Như vậy, Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự từ khi soạn xong, tập truyện vẫn nằm trong vòng bản thảo trao đổi truyền tay trong số bạn bè cùng xem mà chưa qua khắc ván in lần nào. Tập Hoa Tiên do cụ Đào Duy Anh mượn từ gia đình họ Nguyễn Huy cũng chỉ là bản chép lại từ một bản cũ, và hơn 20 năm sau mới được phiên âm công bố phụ lục vào tập truyện Hoa Tiên của Nxb. Văn học 1961. Thêm vào đó tập nguyên tác không còn nguyên vẹn. Thế là rõ ràng Hoa Tiên nguyên tác là một áng văn cổ, không được phổ biến rộng rãi, nên chỉ dùng làm tài liệu nghiên cứu phụ lục vào các bản Hoa Tiên dùng phổ biến trong nhân dân và trong trường học. Bản Hoa Tiên nhuận chính, bản đã qua tay Nguyễn Thiện nhuận sắc nói trên đây.

Cũng cần nói thêm rằng với phương tiện ngày nay, cả hai bản Nôm nguyên tắc và nhuận chính cần được sao chụp, nhân bản bán rộng rãi cho người nghiên cứu.

Bốn vấn đề về văn học Hoa Tiên tóm lược trình bày trên đây để nhằm đi đến một phương hướng giải quyết đại cương là: Cần nghiên cứu lại văn bản Hoa Tiên một cách khoa học đầy đủ hơn để rồi trên cơ sở của thực trạng văn bản đó mà đề ra những biện pháp xử lý thích hợp để chúng ta sớm có một bản Hoa Tiên tốt hơn những bản đã xuất bản trước đây.

Trong lịch sử văn học nước ta, truyện Nôm là một hiện tượng đặc biệt có ý nghĩa văn học sâu sắc. Cũng như Hoa Tiên, các tập truyện này cần được chỉnh lý, khảo đính trên cơ sở tìm hiểu đầy đủ tình hình văn bản cụ thể, vì đây là những giá trị văn hóa quá khứ của dân tộc mà hiện nay vẫn có tác dụng tích cực góp phần vào việc bồi dưỡng đạo đức truyền thống cho nhân dân ta.

CHÚ THÍCH

(1) Bài viết nhân kỷ niệm lần thứ 200 ngày mất Nguyễn Huy Tự.

(2) Tôi đã đọc chuyên đề nghiên cứu của Ô. Lê Trọng Khánh: Sự hình thành và phát triển chữ Việt cổ. Viện Văn hóa xuất bản. Tôi nghĩ rằng tất cả mọi chuyện Ô. Khánh đưa ra chỉ còn nằm trong giả thiết. Chưa có thể đi đến một kết luận có hệ thống nào. Vấn đề còn cần tiếp tục nghiên cứu. Vì một lẽ duy nhất: yếu tố quốc tế trong chữ viết Trung Hoa lớn quá, có khả năng chinh phục những nền chữ viết chưa thật hoàn chỉnh, như chữ Việt cổ chẳng hạn, nếu đã có.

(3) Những thư tịch tiếp theo, như Cựu Đường thư, Tân Đường thư không còn nói đến tác phẩm này nữa, kể cả những từ điển bách khoa kiểu Bắc Đường thư sao, nghệ văn loại tụ, sơ học ký, Thái Bình ngự lãm, Ngọc Thiên…

TB

DƯƠNG TRỰC NGUYÊN (1458-1509) CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM

LÂM GIANG

Dương Trực Nguyên người xã Thượng Phúc, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông (nay là xã Quốc Tuấn, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Sơn Bình), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490), lúc 33 tuổi(1). Khoa ấy, có 54 người đỗ, trong đó có Ngô Hoán, Lưu Thư Ngạn, Lưu Dịch, Phạm Đạo Phú, Đàm Thận Huy, sau tham gia Hội Tao Đàn. Dương Trực Nguyên làm quan trải bốn triều vua: Lê Thánh Tông, Hiến Tông, Túc Tông, Uy Mục, gồm 19 năm với nhiều chức quan khác nhau. Riêng thời Cảnh Thống, chỉ trong vòng hơn năm năm, thay đổi tới 9 chức vụ, có thể nói Dương Trực Nguyên là một Hội viên Hội Tao Đàn nắm giữ nhiều chức vụ nhất. Nhưng cho đến nay, chưa một công trình nghiên cứu nào giới thiệu một cách có hệ thống và đầy đủ. Bài viết này cung cấp thêm một số tư liệu về cuộc đời và tác phẩm Dương Trực Nguyên để bạn đọc tham khảo.

Trước hết là về cuộc đời dưới thời Hồng Đức, sau khi đỗ Đồng tiến sĩ ít lâu, vào ngày 9 tháng 2 năm Tân Hợi, Hồng Đức thứ 22 (1491), Dương Trực Nguyên theo hầu Lê Thánh Tông về thăm Lam Sơn, họa thơ vua bài Truy hoài Thánh Tổ huân nghiệp (Nhớ lại cơ nghiệp lớn lao của Thánh Tổ), được Lê Thánh Tông khen ngợi “có khí phách cao rộng”. Có lẽ, đây là một cơ sở để sau này Lê Thánh Tông chọn ông tham gia Hội Tao Đàn.

Năm sau, Nhâm Tý, Hồng Đức thứ 23 (1492), Dương Trực Nguiyên được bổ chức Hàn lâm viện hiệu lý. Dương Trực Nguyên đã làm việc hết sức xứng đáng với chức vị đó, cho nên, chỉ ít lâu sau, khoảng giữa năm Hồng Đức thứ 23 (1492) lại được thăng Hiến sát sứ ty hiến sát sứ thừa tuyên Hải Dương. Nhưng không được bao lâu, vì tâu trái ý vua nên bị giáng xuống chức cũ: Hàn lâm viện hiệu lý. Sự việc đó xảy ra vào khoảng năm Quý Sửu Hồng Đức thứ 24 (1493). Ông giữ mãi chức đó cho đến khi tham gia Hội Tao Đàn là năm Hồng Đức thứ 25 (1494) và đến hết thời Hồng Đức.

Năm Đinh Tỵ, Hồng Đức thứ 28 (1497), Lê Thánh Tông qua đời, thái tử Chanh lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Cảnh Thống. Và ngay sau đó, Cảnh Thống cho Dương Trực Nguyên giữ chức Đông các hiệu thư. Năm ấy đại hạn, ông xin với vua nên tu sửa đức chính, Cảnh Thống nghe theo nên ngay năm sau, Cảnh Thống nguyên niên (1498), Dương Trực Nguyên được thăng Lại khoa cấp sự trung, lại vì liêm khiết mà được vua ban thêm bổng lộc. Năm Cảnh Thống thứ 3 (1500), vì Dương Trực Nguyên có công trấn trị phủ Phụng Thiên như dẹp được những hành vi chèn ép người dân lương thiện của bọn cường hào và bọn quyền quý, nên được thăng chức Đô đình úy.

Năm Cảnh Thống thứ 4 (1501), Dương Trực Nguyên giữ chức Hữu thị lang bộ Công. ít lâu sau, lại giữ chức Hữu thị lang bộ Hình. Năm Cảnh Thống thứ 5 (1502), lại giữ chức Tả thị lang bộ Binh. Tháng 2 năm ấy, triều đình tổ chức thi Hội, Dương Trực Nguyên được cử làm giám thị, tháng 11 năm ấy lại được cử giữ chức Tả thị lang bộ Lễ.

Năm Cảnh Thống thứ 6 (1503), Tả thị lang bộ Lễ Dương Trực Nguyên tâu xin đắp đê bên sông Tô Lịch, trên từ xã Trát Kiều xuống đến xã Cống Xuyên, đề phòng lụt, hạn, lợi cho việc nhà nông, và khai con cừ từ An Phúc xuống đến Thượng Phúc(2) để tưới nước vào ruộng cho dân. Mùa đông tháng 12 năm ấy Dương Trực Nguyên kiêm quản Hàn lâm viện sự.

Tháng 5 năm Cảnh Thống thứ 7 (1504), vì quá ham mê tửu sắc mà Cảnh Thống mắc bệnh nặng qua đời, Thái tử Thuần nối ngôi, miếu hiệu là Túc Tông. Tháng 12 năm ấy, Túc Tông lại ốm nặng rồi mất. Uy Mục đế nối ngôi, lấy niên hiệu là Đoan Khánh thứ 2 (1507), Dương Trực Nguyên làm chánh sứ đi sang nhà Minh, tháng 6 năm sau (1508) trở về, được vua ban cho hốt ngọc và đai bạc. Đến năm Đoan Khánh thứ 5 (1509) Uy Mục lại bổ Dương Trực Nguyên chức Đô ngự sử đài. Đây cũng là chức quan cao nhất trong đời làm quan của ông. Nhưng tháng 11 năm ấy, Lê Tương Dực khởi binh từ Thanh Hoa, tiên sát thành Đông Kinh, ép Uy Mục phải nhường ngôi. Uy Mục cho Dương Trực Nguyên làm tán lý(3) cùng với phó tướng là Lê Vũ thống lĩnh cầm quân ra chống lại, không thắng. Dương Trực Nguyên tử trận tại Châu Cầu, khi ấy 53 tuổi(4). Ba năm sau, năm Hồng Thận thứ 4 (1512) Lê Tương Dực truy tặng Dương Trực Nguyên làm Ngự sử đài trung đô ngự sử. Tương truyền, ông chết rất linh thiêng, được dân địa phương lập đền thờ. Các triều vua đều phong “Thượng đẳng phúc thần”(5).

Về mặt thơ văn Dương Trực Nguyên để lại tác phẩm không nhiều. Bước đầu tập hợp được một số sáng tác sau đây:

- Quỳnh uyển cửu ca, đồng tác giả, gồm 9 bài “Phụng họa ngự chế” (họa thơ Lê Thánh Tông)(6).

- Văn minh cổ xúy, đồng tác giả, gồm 6 bài “Phụng họa ngự chế (họa thơ Lê Thánh Tông).

Những sáng tác vừa nêu đều được ông viết dưới thời Hồng Đức với tư cách là Hội viên Hội Tao Đàn. Sau đây xin tuyển dịch 4 bài thơ của Dương Trực Nguyên trích từ hai tập sách trên để bạn đọc tham khảo.

Phụng họa Ngự chế: Bách cốc phong đăng
Trung hòa mậu kiến thánh nhân năng,
Thiên ứng hưu trưng bách cốc đăng.
Bát cực càn khôn quang ngọc chúc;
Cửu quan hổ báo tráng kim thằng.
Thỉ trương Văn, Vũ phong thanh viễn;
Thôi trọng Ngu, Chu chế độ hoằng.

Dịch nghĩa: Vâng họa bài: Trăm thứ lúa được mùa của Đức vua

Đạo Trung dung hòa thuận, bậc thánh nhân mới gây dựng được nhiều.

Nên trời báo điềm lành trăm thứ lúa được mùa.

Tám phương trời đất (lúa) như đuốc ngọc tỏa sáng;

Chín cửa ải (lúa) tựa hổ báo bị buộc bằng sợi thừng vàng.

Cai trị tựa Vua Văn, Vua Vũ, tiếng tăm còn mãi;

Cất nhắc như Ngu Thuấn, Chu Công nên chế độ mở mang.

Dân giàu của lắm, muôn phúc tụ tập,

Vạn việc phải lo, không lúc nào ngơi.

Dịch thơ:

Thánh nhân gây dựng đạo Trung dung.
Đã báo điềm vui, lúa nặng bông.
Trời đất tám phương ngời đuốc ngọc;
Hổ lang bốn ải vững thừng đồng.
Ngu, Chu mở rộng dân coi trọng;
Văn, Vũ trương khai, tiếng đẹp lòng.
Của lắm dân giàu muôn phúc họp.
Ngày ngày vạn việc phải ra công.
Tường Luận (dịch)

Phụng họa Ngự chế: Bái yết sơn lăng cảm thành.
Vũ quá phương tùng cẩm tú nghiên,
Tình lam ngưng thúy liễm vân yên.
Thiều dao kha lạm thương ba lý;
Phiếu diểu tinh kỳ tịch chiếu biên
Cảo thượng sơn hà thanh ái ái;
Bái trung viên tẩm nhật huyền huyền,
Thanh phong văn vật kim hạnh đổ,
Tứ hải đồng quy hiếu trị thiên.
(Văn minh cổ xúy).

Dịch nghĩa:

Vâng họa bài: Lễ ở sơn lăng xúc cảm thành thơ của Đức Vua

Mưa tưới bụi cây thơm, đẹp như gấm vóc,

Non tạnh, đọng mầu xanh, khói mây gom lại.

Thuyền chiến xa xa, trong khói biếc;

Cờ xí phới phới, dưới nắng chiều.

Non nước cảo kinh xanh ngăn ngắt;

Lăng tẩm quê vua, mặt trời vời vợi.

Nay từng thấy văn vật trong gió mát,

Bốn biển đều quay về với bầu trời hiếu trị.

Dịch thơ:

Mưa gội khóm hoa gấm vóc tươi,
Sương ngưng cây biếc khói xa vời.
Xa xa thuyền Ngự mờ sông nước;
Phấp phới tinh kỳ rực nắng trời,
Kinh cũ non sông xanh biếc biếc;
Quê vua lăng tẩm chói ngời ngời.
Huy hoàng văn vật nay mừng thấy,
Bốn biển về đây đạo hiếu soi.
Mai Hải (dịch)

Phụng họa Ngự chế: Chu chí Lam Sơn truy hoài Thánh Tổ huân nghiệp.
Khải địch anh minh tập đại huân,
Tảo trừ hung ác tế chưng dân.
Nguy nguy Hán nghiệp tồn thư khoán;
Đãng đãng Nghiêu thiên vọng nhật vân.
Vạn cổ sơn hà chung thuỵ khí;
Cửu cai hoa thảo áng dương xuân.
Thánh thần kế thuật dương tiền liệt,
Tứ tái phong trừng tuyệt phụ thân.
(Văn minh cổ xúy).

Dịch nghĩa:

Vâng họa bài: Thuyền đến Lam Sơn nhớ công lao Thánh Tổ của Đức vua

Sáng suốt mở lối, lập nên huân nghiệp lớn,

Quét sạch bọn hung tàn, cứu vớt sinh dân.

Sừng sững như cơ nhgiệp nhà Hán lưu trong sử sách;

Dạt dào tựa bầu trời vua Nghiêu, thấy ở mây trời.

Non sông muôn thuở chung đúc nên khí lành;

Cỏ hoa chín cõi tràn đầy nắng xuân.

Tiếp nối đấng thánh thần, nêu cao tiền liệt,

Để cho bốn cõi gió lặng, rứt khí yêu ma.

Dịch thơ:

Lập nên nghiệp lớn tỏ anh minh,
Quét bọn hung tàn cứu chúng sinh.
Sừng sững nghiệp nhà lưu sử sách;
Vững vàng thế nước ở mây xanh.
Cỏ hoa chín cõi tràn xuân ấm;
Sông núi muôn nơi tụ khí lành.
Tiền liệt nêu cao noi bậc thánh,
Bốn phương phẳng lặng hưởng thanh bình.
Lâm Giang (dịch)

Phụng họa Ngự chế: Quang Đức điện thượng cảm thành.
Bách chuyển lưu oanh liễu ngoại âm,
Vân xu tiên trượng chính xâm xâm.
Huân cao tại thượng thần minh khác;
Động thuộc do trung hiếu cảm thâm.
Sáp hán lâu đài xuân diễm lệ;
ỷ nham tùng bách lục âm sâm.
Quốc gia bàn thái bản chi mậu.
Bách thế hoằng khôi hiếu đức tâm.
(Văn minh cổ xúy).

Dịch nghĩa:

Vâng họa bài: Trên điện Quang Đức cảm xúc thành thơ của Đức vua

Chim oanh thoăn thoắt chuyền ngoài rặng liễu râm mát,

Mây dồn lại như ông tiên đang xăm xăm đi.

Nghi ngút ở trên, thần minh tôn kính;

Động lút vào trong, cảm lòng hiếu sâu xa.

Sừng sững lâu đài, mùa xuân diễm lệ;

Tùng bách dựa vách núi, rừng xanh bóng mát.

Đất nước vững như bàn thạch, giống nòi đông đúc,

Trăm đời rộng mở tấm lòng hiếu đức(7).

Dịch thơ:

Thoăn thoắt oanh chuyền rặng liễu râm,
Mây dồn thành đám chạy xăm xăm.
Điện trên nghi ngút thần minh kính;
Động dưới mênh mang hiếu cảm thâm.
Sừng sững lâu đài xuân diễm lệ;
Vút cao tùng bách núi muôn tầm.
Quốc gia bàn thạch nòi đông đúc,
Rộng mở trăm đời hiếu đức tâm.
Lâm Giang (dịch)

CHÚ THÍCH

(1) Theo Đại Việt lịch đại khoa Tiến sĩ A.2040, tờ 36a, Dương Trực Nguyên đỗ Tiến sĩ năm Hồng Đức thứ 21 (1490) lúc 33 tuổi, suy ra năm sinh là 1450. Thiên Nam lịch đại đăng khoa lục bị khảo, tờ 22a và một số sách khác chép, Dương Trực Nguyên đỗ năm 22 tuổi, suy ra năm sinh là 1468. ở đây chúng tôi theo Đại Việt lịch đại khoa Tiến sĩ.

(2) Theo Cương mục, các xã Trát Kiều, Cống Xuyên, các cừ An Phúc, Thượng Phúc đều thuộc huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Nội (nay là huyện Thường Tín, tỉnh Hà Sơn Bình).

(3) Toàn thư chép “ký lục”

(4) Lịch triều hiến chương loại chí chép: “Dương Trực Nguyên 22 tuổi đỗ Tiến sĩ, 42 tuổi tử trận tại Châu Cầu (?)

(5) Những tư liệu trên đây theo Toàn thư và Thiên Nam lịch đại đăng khoa lục bị khảo.

(6) Xem: Quỳnh uyển cửu ca chép trong Cúc đường bách vịnh A.1168, có chép đủ 9 bài.

(7) Những bài thơ tuyển dịch trên đây đều do Nguyễn Thị Nguyệt dịch nghĩa./.

TB

VÀI NÉT VỀ CỤM VĂN BIA Ở VĂN CHỈ LÀNG NGUYỆT ÁNG

NGUYỄN THỊ TRANG

Văn chỉ làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (nay là làng Nguyệt Áng, xã Đại áng, huyện Thanh Trì, Hà Nội) hiện có sáu tấm bia đá khắc bằng chữ Hán, Văn bia ghi về Văn chỉ và các vị khoa bảng của làng. Nội dung văn bia cung cấp nhiều tư liệu mới về các vị khoa bảng ở địa phương này, đặc biệt là dòng họ Nguyễn và họ Lưu mà tiêu biểu là Trạng nguyên Nguyễn Quốc Trinh.

Bài viết này xin giới thiệu tóm tắt nội dung và giá trị tư liệu cụm văn bia nói trên.

1. Từ vũ bia ký: bia hai mặt, khổ 112x60cm, chữ khắc chân phương, rõ đẹp. Bia dựng ngày 1 tháng 6 năm Cảnh Trị thứ 5 (1667), không ghi tên người soạn. Bia ghi: “Bồi tụng hữu thị lang bộ hình Nguyễn Quốc Khôi cùng em trai là Tiến sĩ Đình Trụ và Hội tư văn hàng giáp dựng Văn chỉ để làm nơi tế lễ các vị tiên hiền ở bản xã và biểu thị lòng tôn trọng đạo Nho cũng như sự chấn hưng văn phong vậy”. Cuối bài văn bia có bài minh ca ngợi công đức và việc học hành đỗ đạt của dòng họ Nguyễn.

2. Đăng khoa thực lục: bia một mặt, khổ 120x60cm, chữ đẹp. Bia không ghi năm dựng và tác giả. Văn bia ghi tóm tắt lai lịch của hai vị Tiến sĩ là Nguyễn Danh Thọ đỗ khoa Tân Mùi niên hiệu Đức Long thứ 3 (1631), năm ấy ông 29 tuổi và Nguyễn Đình Trụ đỗ khoa Bính Thân niên hiệu Thịnh Đức thứ 4 (1656), năm ông 30 tuổi. Bia này cho biết Nguyễn Danh Thọ là người đỗ đạt cao đầu tiên của dòng họ Nguyễn ở Nguyệt Áng và Nguyễn Đình Trụ là người tiếp theo phát huy được truyền thống của dòng họ này.

3. Khôi nguyên huân nghiệp: bia hai mặt, khổ 60x134cm. Văn bia ghi việc học hành và đỗ đạt của ba vị: Nguyễn Quốc Trinh, Nguyễn Đình Bách và Nguyễn Xuân Đài. Về Nguyễn Đình Bách và Nguyễn Xuân Đài(1) văn bia không có gì khác với các tài liệu đăng khoa lục, nhưng về Nguyễn Quốc Trinh thì có nhiều chi tiết đáng chú ý khi tìm hiểu vị Trạng nguyên này(2). Văn bia ghi rõ “Nguyễn Quốc Trinh đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh khoa Kỷ Hợi (1659). Trước kia ông tên là Đắc Lộc, ban đầu đổi tên là Quốc Trinh, lại vâng mệnh vua đổi tên là Quốc Cơ, sau khi được mệnh vua lấy tên là Quốc Khôi. Ông là anh của Đình Trụ. Năm 18 tuổi ông thi đỗ sinh đồ. Năm 20 tuổi thi đỗ Hương cống, thi phú liệt vào bậc nhất, chiếm được giải nguyên. Năm 26 tuổi thi Hội đỗ Tam Trường. Năm 30 tuổi nhậm chức Nho học huấn đạo ở phủ Khoái Châu. Năm 35 tuổi thi đỗ Trạng nguyên, kính nhận chức Hàn lâm Viện thị thư. Năm 40 tuổi được thăng chức Hình bộ Hữu thị lang, phụng sự trong triều đình. Năm 43 tuổi vâng mệnh đi sứ. Năm 45 tuổi trở về nước có công được ban chức Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu kiêm Bộ tả thị lang, tước Ngọc Trì Tử. Năm 46 tuổi được thăng chức Hộ bộ tả thị lang. Năm 50 tuổi được thăng chức lại Bộ tả thị lang, đổi chữ Ngọc (chữ trong tước Ngọc Trì Tử) thành chữ Liên (tức tước Liên Trì Tử). Ngày 9 tháng 5 năm Giáp Dần, bấy giờ gặp thời binh biến, Nguyễn Quốc Trinh hết lòng vì nghĩa không trốn đi nên đã chết. Đến ngày tháng 10 được vua sai làm lễ huyết tế (lễ dùng máu của súc vật để tế thần), lại được vua ban cho tiền điếu 1000 quan. Ngày tháng 11 được vua ban sắc phong tặng chức Binh bộ thượng thư Trì quận công, được ban tên thụy là Cương Trung. Chiếu lệ sai quan làm tế lễ.

Qua các tư liệu trong bia ta có thể biết một cách chi tiết và cụ thể về con người và sự nghiệp của vị Trạng nguyên này. Đặc biệt ta có thể xác định được năm sinh năm mất của ông mà từ trước đến nay các tài liệu ghi chép về ông vẫn để dấu hỏi.

Cụ thể là Nguyễn Quốc Trinh sinh năm 1624, đỗ Trạng nguyên năm 1659, mất năm Giáp Dần tức năm 1674, thọ 50 tuổi.

4. Đại khoa bi ký: Bia hai mặt, khổ 95x57cm không ghi năm dựng và tác giả. Chữ khắc tương đối đẹp. Bia ghi lại lai lịch của sáu vị Tiến sĩ là: Nguyễn Đình ý đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, khoa Canh Thìn (1700); Nguyễn Đình Quý đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa ất Mùi (1715); Lưu Tiệp đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn (1772); Lưu Định đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa ất Mùi (1775), Lê Xuân Lương đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Mùi (1787) và Lưu Quỹ đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa ất Mùi (1835).

Văn bia còn cho thấy mối quan hệ giữa các vị đăng khoa như Nguyễn Đình Quý là cháu họ (quan hệ thúc bá) với thám hoa Nguyễn Đình ý. Lưu Tiệp là anh ruột của Lưu Quỹ và Lưu Định.

5. Trung khoa bi ký: bia hai mặt, khổ 132x55cm, không ghi năm dựng và tác giả, chữ khắc đẹp. Bia ghi lại tiểu sử cha con, anh em, bác, cháu… thế khoa của dòng họ Nguyễn và họ Lưu. Bia có hai phần:

Phần chính ghi lại 16 vị đỗ Hương Cống và sĩ vọng từ Nguyễn Công Thụ đến Nguyễn Đình Đạt.

Phần phụ ghi tên bảy người đỗ tiểu khoa của họ Nguyễn Đình; phụ chép thêm 2 người đỗ trung khoa của họ Lưu. Tấm bia có liệt kê 15 người đỗ Hương Cống và Sĩ Vọng của họ Nguyễn và họ Lưu từ Lưu Điền đến Nguyễn Công Hoành.

Qua tấm bia này giúp ta có thể lập được một sơ đồ chi tiết về thế thứ và quan chức của dòng họ Nguyễn và dòng họ Lưu ở bậc tiểu và trung khoa.

6. Hưng công bi kí: bia hai mặt, khổ 130x55cm, dựng ngày 4 tháng 2 năm Bính Tý, niên hiệu Tự Đức thứ 29 (1876). Mặt trước là bài văn của Nguyễn Đình Xuân soạn, nội dung ca ngợi cảnh đẹp của làng Nguyệt Áng, cùng các bậc thông minh anh tuấn nối gót nhau xuất hiện; công lao của các bậc tổ tiên đã lập Văn chỉ, nơi tế lễ các vị danh thần nay phải được tu sửa lại.

Mặt sau tấm bia có đầu đề là Công đức bi ký, nội dung: liệt kê số tiền của từng người góp vào việc tu sửa Văn chỉ. Phần liệt kê chia làm 3 loại: loại 1 là: công đức của những bậc quan chức, quân tử ở bản hương từ Cai tổng, Lý trưởng đến Tri huyện gồm 16 vị. Loại 2 là công đức của các bậc quan chức làm rể ở bản hương gồm 11 vị. Loại 3 là công đức của các bậc quan chức, công tử quý trọng nhân nghĩa, thầy thuốc, các sĩ nhân xã bạn và thông lại huyện Thanh Trì gồm 5 vị.

Tóm lại 6 văn bản bia trong cụm bia này là những tư liệu góp phần làm sáng tỏ tiểu sử Trạng nguyên Nguyễn Quốc Trinh; đồng thời góp phần tìm hiểu lai lịch thế thứ của dòng họ Nguyễn và họ Lưu ở làng Nguyệt Áng, những dòng họ có truyền thống học giỏi và đỗ cao trong lịch sử.

Cụm bia ở Văn chỉ này hẳn là một trong những minh chứng rằng: đất Thanh Trì không chỉ là đất của những võ công mà còn là mảnh đất có bề dày văn học, góp phần tạo nên nền văn hiến của dân tộc.

N.T.T

CHÚ THÍCH

(1) Nguyễn Đình Bách người xã Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Hợi, Chính Hòa 4 (1683). Năm ấy ông 25 tuổi, làm đến quyền Tham chính. Là con ông Đình Trụ, anh ông Đình ý, cháu đường điệt ông Nguyễn Quốc Trinh (Đặng khoa lục, sách in, ký hiệu A.2452, Q.2, tờ 32b). Nguyễn Xuân Đài người xã Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Sửu, Chính Hòa 18 (1697), trúng giải nguyên năm ông 28 tuổi, làm đến Tự Khanh, sau tặng Công bộ hữu thị lang (Đăng khoa lục Sđd, Q.2, tờ 37A).

(2) Nguyễn Quốc Trinh người xã Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, thi Hương 4 trường đều đỗ đầu, có đi sứ, làm đến Lại bộ Tả thị lang, sau tặng Binh bộ Thượng thư, tước Quận công, truy phong Phúc thần (Đăng khoa lục, Sđd, Q.2, tờ 19a)./.

TB

VỀ NHỮNG VĂN BẢN VĂN BIA KHUYẾN KHÍCH VIỆC HỌC TẬP TRONG NỀN GIÁO DỤC KHOA CỬ THỜI PHONG KIẾN Ở NƯỚC TA

NGUYỄN HỮU MÙI

Trong kho thư tịch Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện đang lưu giữ một số các văn bản bia đề cập tới việc khích lệ học tập trong nền giáo dục khoa cử ở nước ta dưới thời kỳ phong kiến. Bài viết này chúng tôi xin đề cập tới vấn đề này.

1. Tình hình phân bố:

Loại bia này, chúng tôi tạm gọi là Bia nhà học, hiện có 19 văn bản đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và 1 văn bản chúng tôi vừa in rập được(1). Các bia được phân bố như sau: huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (nay thuộc Vĩnh Phú) 5 bia; huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Yên 4 bia; huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên 2 bia; huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Yên 1 bia; huyện Quỳnh Côi tỉnh Thái Bình 1 bia; huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Sơn Bình) 1 bia; huyện Từ Liêm (nay thuộc Hà Nội) 2 bia; huyện Thạch Thất (nay thuộc Hà Nội) 1 bia; huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay thuộc Hải Hưng) 1 bia; huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương 1 bia; huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc Hải Hưng) 1 bia. Như vậy, nếu như căn cứ vào số thác bản Văn bia hiện có(2) thì thấy rằng loại bia này chỉ phân bố trên một địa bàn hẹp, thuộc vùng “tứ trấn” xưa, vùng đồng bằng Bắc Bộ ngày nay, nơi có nhiều người đỗ đạt trong thời kỳ phong kiến ở nước ta(3).

2. Về hình thức bia:

Đây là những bia có kích thước đa dạng và được trang trí như các bia khác: Chạm rồng, mặt trời, hoa lá… Tiêu đề của bia thường là Học điền bi ký (Bia ghi về ruộng học); Học xá điền thổ bi ký (Bia ghi ruộng học bản xã) Bồ Điền điều ước bi ký (Bia ghi về các điều ước xã Bồ Điền) v.v. Bia phổ biến là hai mặt. Mặt trước ghi lý do công việc, mặt sau ghi vị trí, diện tích các thửa ruộng được cấp và những điều ước (nếu có). Bia được khắc bằng chữ Hán. Có bia khắc bài minh ca ngợi việc làm này, đó là các bia Học điền bi ký(4) Học điền bi ký(5) và Tiền hiền bi ký(6). Có 1 bia khắc chữ húy thời Lê(7) dựng năm Chính Hòa 23 (1702). Bia được đặt ở Văn chỉ, Từ chỉ, đình và chùa.

3. Về niên đại lập bia:

Toàn bộ 20 bia của loại này đều có khắc niên đại, trong đó có 6 bia mang niên đại thời Lê, đó là các bia Học xá điền thổ bi ký, dựng năm Chính Hòa 23 (1702)(8); Tế điền học điền tu trí bi giả, dựng năm Vĩnh Hựu 4 (1738)(9); Tiên hiền bi ký, dựng năm Cảnh Hưng 17 (1756)(10); Học điền bi ký, dựng năm Cảnh Hưng 46 (1785)(11) và Học tế điền ký, dựng năm Chiêu Thống 1 (1787)(12); 1 bia mang niên đại thời Tây Sơn, đó là bia Học điền bi ký(13) dựng năm Quang Trung 5 (1792). Số còn lại là bia thời Nguyễn.

Căn cứ vào niên đại của số văn bia hiện có thì bia có niên đại sớm nhất cho loại này mà chúng tôi được biết là bia Học xá điền thổ bi ký, dựng năm Chính hòa 23 (1702)(14) ở xã Văn Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên và bia có niên đại muộn nhất là bia Khương Hạ học trường kỷ niệm bi ký, dựng năm Bảo Đại 8 (1933) ở xã Khương Hạ, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì(16).

Như vậy, loại bia nhà học xuất hiện trong suốt hơn hai thế kỷ, bắt đầu từ đầu thế kỷ XVIII đến những năm ba mươi của thế kỷ này. Nó đã ra đời trước hai mươi năm khi nhà nước ban hành chế độ về học điền cho quốc học và phủ học(17).

Ruộng quốc học qui định là 60 mẫu, phủ học (phủ lớn) 20 mẫu, phủ vừa 18 mẫu, phủ nhỏ 16 mẫu.

4. Về nội dung văn bia:

Chúng ta biết, trong bối cảnh của nền sản xuất nông nghiệp còn chưa phát triển thì cơ sở kinh tế của các quan hệ xã hội ở nông thôn là ruộng đất. Do vậy, ruộng đất cũng được dùng vào việc khích lệ học tập. Các văn bia cho thấy rằng tùy vào khả năng của mỗi địa phương mà có những hình thức đóng góp ruộng đất khác nhau. Chẳng hạn như bia Học điền bi ký, dựng năm Cảnh Hưng 45 (1785) cho thấy các quan viên, hương lão cùng toàn dân xã Trạch Lộ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đã quyết định để ra 5 mẫu ruộng công đặt làm học điền (18). Bia Học điền bi ký, dựng năm Tự Đức 5 (1855) ở xã Phù Lập, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên cho biết việc huy động ruông tư của mọi người dùng vào học điền cả thảy 8 mẫu ruộng(19).

Ngoài ra còn phải kể đến vai trò của những người đặc biệt quan tâm tới vấn đề học điền, như ông Giáo thụ họ Hoàng ở xã Sơn Bình, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên đề xướng ra việc cấp ruộng đất làm học điền ở bản xã, ghi ở bia Học điền bi ký, dựng năm Tự Đức 7 (1854) (20); Trị sự Nguyễn Trọng Điển ở thôn Đông, xã Vĩnh Mỗ, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Yên đã vận động mọi người trong xã góp được 10 mẫu ruộng ghi ở bia Học điền bi ký, dựng năm Tự Đức 9 (1856)(21).

Đáng chú ý là bia Từ đường học điền bi, dựng năm Cảnh Hưng 17 (1736) ở xã Đại Định, huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên cho biết vợ chồng bà Nguyễn Thị Thanh, người bản xã, tự nguyện cúng cho xã 3 mẫu đất, gồm ruộng, ao và vườn(22) để xã chi phí cho việc học tập. Còn bia Học điền bi chí, dựng năm Tự Đức 20 (1867) ở xã Phù Chính, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên cho biết xã này có cả một phong trào “quyên góp” học điền: người này thì cúng tiến 3 sào ruộng; kẻ khác thì góp tiền; người nhiều tiền thì góp 10 quan, người ít tiền thì góp 1 quan(23). Ngay cả việc xây dựng trường lớp cũng được ghi khá cụ thể trong các bài văn bia. Ví dụ như: bia Tăng tập hưởng học bi ký(24) dựng năm Tự Đức 4 (1851) ở xã Văn Trưng, huyện Vĩnh Tường đã cho biết khoảng niên hiệu Chính Hòa (1680-1705) xã này đã có trường học. Đến nay liên kết với xã Vĩnh Trưng góp ruộng công, ruộng tư và gỗ để tu bổ ngôi trường cũ đồng thời xây dựng thêm 10 gian nhà mới khang trang cho con em hai xã học tập. Tương tự như vậy, bia Học xá điền thổ bi ký(25) ghi rằng: hai xã Văn Trưng và Lăng Trưng huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên muốn có nơi giáo dục nhân tài, đã cùng nhau góp ruộng, tổng cộng được 4 mẫu 5 thước, trong đó giành riêng 3 sào để làm trường học.

Đáng chú ý bài văn bia ghi rằng muốn đạt tới trình độ văn minh theo bước người Âu thì nhu cầu bức xúc là phải có trường lớp để đào tạo ra những con người có trí thức mới, cách tân với lối học cũ. Vì vậy mà ông Nguyễn Quang quân tử cùng Chính thất Đỗ Thị Chí đã bỏ ra 2600 đồng để kiến thiết xây dựng ngôi trường mới.

Vấn đề nuôi dưỡng thầy giáo là vấn đề cũng được các làng xã hết sức chú trọng và coi đây là điều không thể thiếu được. Với số điền thổ làng xã và mộ người chu cấp, người thầy được hưởng phần hoa lợi trên những mảnh đất này, bằng cách người nào đó nhận canh tác thì phải nộp thóc cho thầy. Đây thực chất là trả lương cho thầy, dù có phải trang trải cho nhiều khoản phí học tập thì người thầy vẫn được hưởng một phần xứng đáng để yên tâm dạy học. Bia Hương học bi ký(26) dựng năm Tự Đức 8 (1855) đã ghi cụ thể: Hoặc như ruộng hương học được 4 giáp luân canh, mỗi mẫu mỗi năm phải nộp đủ 450 đấu thóc, một phần trong số này giao cho thầy, số còn lại được dùng cho các chi phí khác của việc học tập. Bia Bản xã học điền bi ký(27) dựng năm Tự Đức 20 (1867) ghi định kỳ nộp thóc của người nhận canh tác ruộng hương học: Có thể nộp thóc làm 2 kỳ trong một năm.

Số hoa lợi của học điền còn được trích ra để trợ giúp cho người đi học, bởi vì với chế độ khoa cử xưa, người đi học phải mất nhiều năm đèn sách, thậm chí “đầu tư” vào đó cả một đời người. Các xã như Phù Chính, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên; Lại Thượng, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây và Khang Ninh, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình còn miễn binh dịch cho người đi học(28). Đặc biệt ở xã Khang Ninh dành hẳn 7 sào ruộng làm phần thưởng cho con em mình học ở trường huyện: ai trúng khảo khoá kỳ 1 thưởng 3 sào, ai trúng khóa khoá kỳ 2 thưởng 2 sào 7 thước 5 tấc. Xã Phù Chính còn “treo giải thưởng” cho người đỗ đạt như trúng tú tài mừng 24 quan tiền, 1 áo gấm, 1 đôi câu đối; trúng cử nhân mừng 40 quan, 1 áo gấm, 1 bức trướng; trúng phó bảng mừng 80 quan…

Để học điền được dùng đúng mục đích khích lệ học tập, một số văn bản còn có các điều lệ qui định cụ thể. Bia Hương học bi ký(29) dựng năm Tự Đức 8 (1855) ở xã Lại Thượng, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây có 14 điều lệ. Bia Bản xã học điền bi chí(30) dựng năm Tự Đức 24 (1871) ở xã Bồ Điền, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên có 6 điều lệ… Trong đó có một số điều ước như học tập; người nhận học điền để canh tác phải có trách nhiệm trông nom, bồi bổ. Nếu ai xâm chiếm thì báo ngay cho lý trưởng biết; việc đón thầy dậy học phải là những người khoa bảng có tiếng tăm, không phân biệt người đó trong xã hay ngoài xã; người theo học (sĩ nhân) phải thật sự say mê học tập thì được miễn binh dịch; xung quanh trường lớp phải cách ly những người có hành vi xấu như hay rượu chè, trêu ghẹo phụ nữ, nói bậy, làm càn.

Trên đây là những văn bia nhà học hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Tìm hiểu về những văn bản này không chỉ giúp ta hiểu thêm về nền giáo dục khoa cử thời kỳ phong kiến mà nó còn là những tư liệu quí để chúng ta tìm hiểu về chế độ ruộng đất thế kỷ XVIII, XIX ở nước ta.

CHÚ THÍCH

(1) Đó là bia “Khương Hạ học trường kỷ niệm bi ký”, hiện còn ở đình xã Khương Đình, huyện Từ Liêm, Hà Nội.

(2) Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện lưu giữ 20.979 thác bản Văn khắc do Trường Viễn đông Bác cổ in rập. So với thực tế đã được khảo sát thì số lượng này mới chỉ chiếm 50%. Xem Hoàng Lê: “Về hệ thư mục bia giản lược vừa biên soạn xong”, Tạp chí Hán Nôm, số 2 - 1988.

(3) Theo Lịch triều liệt huyện đăng khoa bị khảo A.485/1-5, do Phan Huy Ôn biên tập, thì số người đỗ đạt được tác giả thống kê như sau: Kinh Bắc: 593 người; Hải Dương: 572 người, Sơn Nam Thượng: 349 người; Sơn Nam Hạ: 134 người; Sơn Tây: 282 người; Thanh Hóa: 177 người; Nghệ An: 145 người.

(4) Thác bản số 14359. Từ đây trở xuống, số ký hiệu thác bản văn bia dùng trong bài viết này là của Kho văn bia Viện nghiên cứu Hán Nôm.

(5) Thác bản số 19615.

(6) Thác bản số 4147.

(7) Chữ Đề 提 được viết là Thác bản số 14252.

(8) Thác bản số 14252.

(9) Thác bản số 14548

(10) Thác bản số 4149

(11) Thác bản số 13933

(12) Thác bản số 13293

(13) Thác bản số 9766

(14) Thác bản số 19615

(15) Chú thích số 8

(16) Chú thích 1

(17) Lịch triều tập kỷ A15/3, tờ 24 a

(18) Thác bản số 13292

(19) Thác bản số 14348

(20) Thác bản số 15508

(21) Thác bản số 14907

(22) Chú thích số 11

(23) Thác bản số 14360

(24) Thác bản số 14251

(25) Xem lại chú thích số 8

(26) Thác bản số 17979/ab

(27) Chú thích số 4

(28) Các thác bản số 14359; 4147 và 17979/ab

(29) Thác bản số 17979 ab, mục điều lệ

(30) Thác bản số 14359, mục điều lệ./.

TB

TÌM HIỂU VIỆC SƯU TẦM VÀ BÌNH LUẬN SỬ SÁCH TRONG QUẦN THƯ KHẢO BIỆN CỦA
LÊ QUÝ ĐÔN

ĐINH CÔNG VĨ

Quần thư khảo biện (QTKB) là tác phẩm nổi tiếng nhất trong số những sách bình luận về lịch sử nước ngoài của Lê Quý Đôn. Quan Bộ lễ Trung Hoa đời Thanh là Tần Triều Vũ từng ca ngợi: “Tôi thấy QTKB từ Hạ Thương đến Đường Tống đều được bình luận và viết thành sách tới vài trăm điều, thường thường nắm được cái khe hở của sách xưa…”

Lê Quý Đôn cũng nêu lý do viết cuốn sách ấy ở lời tựa: “Các sử sách từ đời tam đại trở xuống đến Tống Nguyên… ghi chép lại nhiều… Các học giả phần nhiều cho sử là mối thừa… chú thích qua loa, lời bàn cũng không gợi ý cho người đọc được mấy… Những bậc quân tử đời sau muốn khảo cứu những việc thịnh suy trị loạn để nêu gương điều hay, răn đe điều dở theo đâu mà phân biệt được? Tôi thuở nhỏ học ở nhà, sau được học các bậc danh nho, nên sách vở các đời trước nay cũng nắm được chỗ trọng yếu. Thời gian vừa qua độc sử truyện xưa nay và có chí về mặt này. Mỗi khi xem đến tài đức của các bậc tướng võ tướng văn thì đem lòng kính mộ, tưởng tượng đến đức nghiệp lớn lao của họ mà phấn chấn… Lại mỗi khi xem đến những dấu vết cùng những việc gian tà ở đời suy loạn thì lòng không khỏi buồn rầu, than tiếc. Bèn đem ý nông cạn của mình, tưởng tượng tình cảnh, nêu những nét chủ yếu, rồi đánh bạo bàn bạc, tùy bút chép ra”.

Như thế hẳn Lê Quý Đôn là người “nắm được khe hở”, là người dồn hết tâm huyết để “bàn bạc”, để “bình luận” sử sách thời xưa. Tấm gương của ông với những việc sưu tầm, bình luận đó hẳn có nhiều điều tâm đắc, gợi mở để chúng ta đi sâu tìm hiểu.

Về sưu tầm sử sách, trong lời tựa QTKB, Chu Bội Liên, Đề đốc học chính Quảng Tây ghi: “Nếu không nghiên cứu các chính sử, tham khảo các dật sử rồi xem rộng ra những lời bàn bạc về các sử sách của các tiên nho thì lấy đâu mà khảo biện, để châm chước, đi đến chỗ đúng đắn nhất ? Tôi xem lại sách này (chỉ QTKB) từ Hạ Thương Chu tới hai đời Tống thấy ông xem xét sự thay đổi các triều đại thật sâu lắm”.

Có thể thấy tư liệu Lê Quý Đôn sưu tầm trong sử sách Trung Hoa để “khảo biện” là khá toàn diện, không bỏ sót từ sử chính thống cung đình tới sử dân gian, từ chính văn tới lời bàn v.v…

Chính sử gồm những gì ở sách này? Trong lời tựa QTKB Tần Triều Vũ chỉ rõ: “Sách Thượng Thư là ông thủy tổ của các sử, sách Xuân thu là ông tông của các sử, sách Tả truyện, sách Quốc ngữ, sử họ Ban, họ Mã trở xuống là con cháu, dòng dõi của các sử vậy”. Lê Quý Đôn bổ xung thêm: “Nói về sách kỷ truyện thì coi trọng Sử ký, Hán thư; nói về biên niên thì coi trọng Thông giám cương mục”. Có thể thấy những chính sử sưu tầm cho QTKB gồm Thượng thư, Xuân thu, Tả truyện, Quốc ngữ, Hán thư, Sử ký, Tư trị thông giám của Tư Mã Quang, Cương mục của Chu Hy. Ngoài ra, trong QTKB còn nói đến Thục chí của Trần Thọ ghi chép chủ yếu về nước Thục đời Tam Quốc. ở QTKB, Lê Quý Đôn bàn nhiều về các đời Tam Quốc, Tấn, Lục Triều, Đường, Tống nên dù ông nói hay không nói đến tên sách thì ông vẫn cứ phải tìm đến các pho chính sử in đời Minh rất phổ biến nằm trong Nhị thập nhất sử như Hậu Hán thư, Tam quốc chí, Tấn thư, Tống thư, Bắc sử, Đường thư Ngũ đại sử

Còn “Dật sử” là loại sử lưu truyền trong dân gian, do dân gian tự viết, như tản mát không đủ, cũng có khi do một tác giả cụ thể ghi lại những việc mà chính sử bỏ sót. Như sách Bắc mông toả ngôn của Tôn Quang Hiến đời Tống ghi dật sử từ cuối Đường đến Ngũ đại. Hẳn sách này cũng là một trong những đối tượng sưu tầm cho QTKB.

Ở QTKB còn nói tới sách Nhan môn dã thuyết của Thiệu Tử. Đó cũng là một loại dật sử bổ sung cho truyền thuyết về việc Tào Bân đánh Giang Nam mà chính sử “quá khen”, không nói đủ sự thực về sự tàn phá của đội quân do viên tướng đời Triệu Tống gọi là “nhân hậu” này chỉ huy. Lê Quý Đôn đã sáng suốt và mạnh bạo tìm ra mặt trái đó bổ sung cho sử truyền thống phương Bắc.

Phương pháp sưu tầm thận trọng và sâu rộng của Lê Quý Đôn còn thể hiện ở chỗ khi sưu tầm sử sách, ông không chỉ chú ý tới các sự kiện của chính sử, mà còn chú ý tới các lời bàn liên quan tới sự kiện đó. Trong lời tựa QTKB, ông viết: “Các nhà nho, các học giả thời này thường thích lời lẽ hay… Các lời bình luận cũng không làm cho người sáng tác. Trừ các sách Quảng kiến của Trí Đường, Đường giám của Thuần Phu, Thư pháp của Hữu Ích, Phát minh của Khởi Sầm, còn thì phần nhiều khô khan hủ bại cả”.

Về việc bình luận sử sách, tuy Lê Quý Đôn có nói: “tùy bút chép ra”, nhưng trên thực tế, những lời bình luận của ông không hề tỏ ra dễ dãi. Bởi vì tất cả các sự kiện, dẫn chứng, phân tích của Lê Quý Đôn trong QTKB đều xoay quanh sự kết hợp giữa “lý” và “thế” , một sự kết hợp mà ông đã vận dụng khi phẩm bình con người và sự việc lịch sử. Tư tưởng chủ đạo đó xuất phát từ chính những nhận thức của Lê Quý Đôn thể hiện ở bài bạt QTKB: “Trong thiên hạ không ngoài ‘lý’ và ‘thế’ ”. Hai việc ấy vẫn thường nương tựa nhau. Biết “lý” mà không biết “thế” thì không đủ làm nên việc. Biết rõ “thế” mà không biết “lý” thì không thể xây dựng được công việc”. Ông còn nói: “Khi biên duyệt sử truyện, các việc yên, nguy, thành, bại, lành, dữ, khéo, vụng, dấu tích cũ rất phức tạp. Các việc xử trí của người xưa, có khi hoạn nạn xẩy ra ở chỗ không biết làm cho kịp thời, có khi sinh ra tai vạ vì cái thời chưa đáng làm mà đã làm. Sở dĩ xẩy ra như thế chỉ vì không xác định được cái “lý” và cái “thế” ở ngay trước mặt vậy”.

Đề học Quảng Tây Chu Bội Liên cũng từng có nhận xét về phương pháp bình luận lịch sử của tác giả QTKB: “Lê Tử Khiêm cả “lý” và “thế” để bình luận sự việc lịch sử và Lê Tử” xem xét thế biến rất sâu sắc.

Vậy “lý” là gì? “thế” là gì ?

Trong lời giới thiệu Vân đài loại ngữ (VĐLN), Giáo sư Cao Xuân Huy cho rằng: Lê Quý Đôn sát nhập “lý” vào trong “khí”, đem “lý” làm một thuộc tính của “khí”. Cái thuộc tính ấy là gì? Nếu dùng thuật ngữ ngày nay thì đó là tính quy luật. “Lý” là tính quy luật của “khí”, của vật chất. Lê Quý Đôn không dùng những danh từ quy luật, định luật, nhưng trong tư tưởng của Lê Quý Đôn đã có những khái niệm ấy... Trong VĐLN ông dùng tiếng “thường độ” chỉ quy luật. Như ở “Lý khế” điều 21 trong sách đó, ông viết: “Nhật thực có thường độ”. Tức là “nhật thực” có “quy luật”. Điều này cũng tương đương với cái mà Descartes gọi là “lẽ phải”. Trong QTKB, Lê Quý Đôn gọi nó là “thiên lý”, “Chính lý”, “thiên vận”, “thiên đạo”. Còn “thế” nằm trong ba quan điểm cơ bản của phái Pháp gia: “Pháp”, “thuật”, “thế” mà Nho học đã dung nạp vào bản thân nó. ở Lê Quý Đôn “thế” có nội dung bao quát hơn cái nghĩa “quyền thế” theo cách hiểu của Pháp gia. Qua QTKB, “thế” chủ yếu thể hiện ở mặt cơ bản như chủ trương xây dựng thực lực tạo thành thế mạnh. “Thế” ở đây là xu hướng, xu thế phát triển của sự vật, của xã hội. Người ta căn cứ vào xu hướng, xu thế ấy, ở những thời điểm, thời cơ nhất định, chuyển bại thành thắng, chuyển yếu thành mạnh. Đó là những việc “tìm thế”, “lập thế”, “giành thế” hay là xây dựng thực lực. Mỗi quan hệ hay là “sự kết hợp” giữa “lý” và “thế” của Lê Quý Đôn trong QTKB như thế có nghĩa là con người trên cơ sở nắm được quy luật, hiểu được “thiên lý” “thiên đạo”, “thiên vận” phải hoạt động sao cho hợp với thời thế, với xu thế phát triển của sự vật, của xã hội, nắm lấy thời cơ thuận lợi mà hoạt động. Việc phẩm bình các nhân vật lịch sử, sự kiện, việc xem xét các thế biến trong QTKB từ nội dung đến hình thức đều xoay quanh tư tưởng chủ đạo đó.

Sáng suốt nhìn thấy và tuân theo xu thế diễn biến tất yếu của sự vật, nên trong việc bình luận sử sách, Lê Quý Đôn hay chú ý tới tính khách quan vượt lên trên chủ quan. Như ông nói: “Nghị luận là cốt lợi cho nước, bất tất phải hợp ý mình”.

Không những vậy, nhà bình luận cũng cần có tầm mắt sáng suốt để nhìn ra “then chốt” của vấn đề nữa. Chuyện Ngụy Trưng can ngăn Đường Thái Tông “điểm binh” mà Lê Quý Đôn diễn tả trong QTKB đã thể hiện điều đó: “Tát nước sông để lấy cá dẫu rằng được nhiều cá nhưng sang năm không còn cá nữa; đốt rừng để săn bắn, dẫu rằng được nhiều thú, nhưng sang năm không còn loài thú nữa. Nay con trai dù chưa đến 18 tuổi cũng điểm vào ngạch quân thì thuế dung thuế điệu sang năm còn thu vào đâu được”. Chính Ngụy Trưng đã xuất phát từ xu thế phát triển của sự vật, chứ không phải chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt, nói về cái lợi trước mắt như vua Đường. Mặt khác, với một đối tượng chí tôn, đầy kiêu hãnh như vua Đường, Ngụy Trưng phải có lối nghị luận cụ thể như thế nào để thuyết phục. Đây là vấn đề rất tế nhị. Lê Quý Đôn đã phân tích cụ thể lối nghị luận của con người nhìn xa thấy rộng mà lại tế nhị này: “Xuất từ bản ý, Ngụy Trưng chỉ cốt tính cho nước đủ dùng, không biện bạch đến điều gian dân dối trá. Do đó, trước đã động đến lòng Thái Tông, sau đập vào chỗ thất tín để mở dần manh mối, rồi kể rõ sự thực, lời lẽ ôn hòa, rõ ràng, phân tích làm cho người làm vua phải vui lòng nghe theo”.

Đi vào nghệ thuật thuyết phục đối tượng, Lê Quý Đôn chú ý đến các thủ pháp nghị luận quan trọng như:

Lối liên hệ so sánh: QTKB cho thấy các nhà nho đời sau thường lên án việc Đường Thái Tông chấn chỉnh binh nhung để đánh địch. Để chứng minh việc làm của vua Đường là đúng, Lê Quý Đôn đã dẫn các sự kiện đời Tam đại ra liên hệ: “Xưa kia Chu Công bảo Thành Vương: “Chỉnh bị nhung phục, binh khí để tới các nơi có dấu tích của Hạ Vũ, đi khắp thiên hạ, đến tận ngoài bể”. Thiện Công bảo Khang Vương: “Chấn chỉnh các quân”. Kinh Thư khen: “Chu Công biết vỗ về muôn nước, đi tuần các chư hầu, đánh các nước không đến chầu”. Từ những tấm gương lặp đi lặp lại của quá khứ ấy, một chân lý dường như thật hiển nhiên: Muốn giữ được thế nước vững phải xây dựng thực lực. Tức là phải chấn chỉnh binh nhung để đánh địch, tự bảo vệ mình.

Cùng với lối so sánh hành động với hành động, Lê Quý Đôn còn chú ý tới lối so sánh lời nói với lời nói. ở QTKB, ông từng đối chiếu hai loại lời nói: một bên là lời nói đầy “khí tượng to lớn” của Đường Thái Tông “Trẫm nay đang định quét sạch nơi sa mạc, lý nào lại bắt dân khó nhọc để ra nơi biên ải đắp thành” và một bên là lời nói dùng dằng không quả quyết, thể hiện trong nhiều dự kiến mà không đi đến đâu của bọn vua tôi nhà Tống: “Nào Linh Châu nên bỏ hay nên giữ ? Nào ba trấn nên cho hàng hay không? Nào bên hòa với nước Kim hay không nên hòa? “Hai cách nói mang hai xu hướng đối lập nhau ấy sẽ dẫn tới hai hệ quả, hai hành động và kết thúc khác nhau: Nhà Đường thì xây cái thành thu hàng để tiếp thu kẻ địch hàng, còn nhà Tống như kẻ “làm nhà bên đường, ba năm không xong”.

Phù hợp với lối nghị luận bằng liên hệ so sánh đó, Lê Quý Đôn chú ý hơn trong việc sử dụng loại văn cô đúc, mạch lạc, thể hiện rõ nhất ở cách vào đề của ông. Như ở QTKB khi bàn về quyền lực nhà Chu, ông viết: “Đời cho rằng nhà Chu suy yếu vì các nước chư hầu”. Để phân tích vấn đề quyền lực nhà nước, ông đặt câu hỏi: “Cái cội gốc của nhà nước cốt ở đâu”. Và ông trả lời ngay: “Cái cội gốc của nhà nước là ở dân, cái mệnh mạch của nhà vua là ở dân”. Để góp phần khẳng định, làm nổi bật cái gốc ấy, Lê Quý Đôn so sánh thêm: “Còn như bầy tôi cường quyền nổi loạn trong nước, cừu địch lo ở ngoài đều chưa đáng sợ lắm”. Theo ông thì các cuộc khởi nghĩa nông dân ở Trung Hoa (như khởi nghĩa của Địch Nhương, Hoàng Sào...) đã cho thấy thế nào là sức mạnh “chở thuyền” và “lật thuyền” của dân, và chính điều này có ý nghĩa quyết định “mệnh mạch” của vua. Lối nghị luận khúc chiết, mạch lạc ấy của ông bắt nguồn từ sự nhận thức minh bạch, chính xác, luôn luôn nhìn thấy xu hướng phát triển tất yếu của sự vật. Chẳng hạn, Lê Quý Đôn đã nhìn thấy một cách chính xác cái thế “đất lở” làm bùng lên các cuộc vùng dậy của nông dân Trung Hoa. Nhìn thấy căn nguyên “đất lở” là do sự bất bình phổ biến của dân chúng, đã được Lê Quý Đôn diễn tả, cô đọng trong đoạn văn sinh động sau: “Một người đứng dậy, trăm người hùa theo, nơi nơi bùng nổ không ai ngăn cấm được. Do đó mà cái thế “đất lở” dần dần hiện ra”. Lê Quý Đôn còn sử dụng lối văn tranh luận linh hoạt. Có khi ông lật đi lật lại vấn đề, phân tích nêu giả thiết, đưa ra những trường hợp ngoại lệ, từ đó bác bỏ dần dần từng lý lẽ của đối phương. Như ở QTKB (phần Xưa nay muốn làm nên nghiệp vương bá), để bác bỏ lý lẽ của “tiên nho”, những kẻ tự thuật theo ý mình về mưu lấy thiên hạ, chê Đường Cao tổ và Đường Văn Hoàng là không biết dùng mưu lược ấy, Lê Quý Đôn viết: “Theo ý tôi thì sự qui hoạch của người anh hùng và kiến thức của họ Hồ chính là cái mà Đường Văn Hoàng không thèm đếm xỉa đến. Vì rằng cứ giữ lại bến Tầm Dương, đó tức là thuyết của Bùi Tịch, bảo đem binh về nơi căn bản, thuyết ấy Văn Hoàng đã hết sức bác bỏ. Vả lại, việc chia quân thành hai kinh thì lại càng tỏ ra không biết binh pháp. Việc dùng binh tốt nhất là hợp binh lại mà điều kỵ nhất là chia quân ra đánh một thành có phải là việc dễ đâu. Bức thành chót vót muôn đợt không thể nào hạ ngay trong chốc lát được. Huống chi đô thành nhà tùy về số quân có yếu ớt. Sở dĩ Văn Hoàng quyết ý đem quân sang phía Tây chỉ vì dựng Đế tuần du lâu ở ngoài, ủy lệnh không tiếp đến được, những người lưu thủ mỗi người một ý, không ai đứng ra chủ trương, cho nên nắm lấy chỗ sơ hở mà đánh. Nếu đem quân vào khoảng giữa hai kinh, chia ra đông tây hai mặt thì cả đầu đuôi bị khiên chế, cả đằng lưng và đằng bụng đều bị đánh dồn lại. Đó chính là nơi mà Tôn Tử gọi là nơi giao nhau, xung yếu, tất bị thất bại. Khi ấy, Lý Mật thanh thế cũng đã thịnh lắm, chỉ vì không đem binh đến Lạc Dương, để binh đóng lâu nơi khách địa, không có căn bản đáng tin cậy, cho nên kết cục bị bại vong, khi nào Văn Hoàng chịu dùng kế sách ấy. Về thuyết đem quân thẳng đến đất Dương Châu lại càng không thực hành được. Dựng Đế dù đại ác, nhiều tội lỗi, nhưng đã cầm quyền thiên hạ 13 năm, không phải là hạng yếu hèn dễ đánh đổ ngay được, nếu hắn nghe quân Đường kéo xuống phía Nam, nhất định không bó tay chịu chết”...

Trái lại, cũng có khi Lê Quý Đôn nêu trực diện quan điểm của đối phương mà không cần quanh co. Trở lại thí dụ ở phần “Đời cho nhà Chu suy yếu” mà trên kia chúng ta đã đề cập, Lê Quý Đôn viết: “Đời cho rằng nhà Chu suy yếu vì các nước chư hầu, nhà Đường mất nước vì phiên trấn”. Nêu lên như vậy là để rồi tiếp đó, ông tấn công dồn dập đối phương bằng những ý kiến đối ngược lại: “Nhưng không biết rằng nhà Chu mà lâu dài được chính là nhờ phiên trấn giúp đỡ. Nhà Đường Trung hưng được chính là nhờ phiên trấn duy trì vậy”. Để thêm sức nặng cho lập luận của mình, Lê Quý Đôn đặt giả thiết ngược lại bằng những điển tích đầy hình tượng: “Nếu không có chư hầu thì cái nạn Trệ ấp, Ly Sơn, cái nạn Thúc Đái, Tử Triệu, nhà Chu đã mất nước rồi; nếu không có phiên trấn thì cái loạn An Sử, Chu Tỷ, cái giặc Thổ Phồn, Hoàng Sào, nhà Đường đã mất thiên hạ rồi”.

Trong thông sử, Lê Quý Đôn không hay dùng thán từ, nhưng ở đây, trong QTKB ông lại hay dùng thán từ, những từ vừa mang sắc thái biểu cảm vừa đầy ý nghĩa như: “Than ôi, cứ theo thời ấy nên có sự đổ nát, thế nước suy yếu là không sao nâng lên được...”. Một thán từ “than ôi” này vừa là sự đả kích, vừa là thái độ, cảm khái của nhà sử học với sự việc trong sử đời Tống...

Chẳng những thán từ, các câu hỏi Lê Quý Đôn đặt ra cũng góp phần bộc bạch nội tâm, tỏ thái độ. Chẳng hạn để phê phán quan niệm của các nhà Nho về việc đánh kẻ có tội: “Tiếng tăm lừng lẫy thì mọi quân giặc tự nhiên phải phục”, ông nêu câu hỏi: “Đâu có lẽ chỉ cần nêu cái danh mà đánh kẻ có tội để cứu dân thì cứ việc ung dung chỉ trỏ là tự nhiên giặc đầu hàng?” Hay để phê phán tư tưởng “dùng binh lâu thì có lợi”, Lê Quý Đôn hỏi đáp ngay: “Đó chẳng phải là cái tai hại cùng binh lâu ngày đó ư ?”.

Không cứ gì câu hỏi hay thán từ, một hình tượng liên hệ sinh động cũng có tác dụng thuyết phục như vậy. Khi chế riễu Vương An Thạch “giúp Tống Thần Tông tính việc mưu đánh nước Liêu để khôi phục đất cũ ở Châu Yên, Châu Vân..., Lê Quý Đôn vẽ lên trước mắt ta hình tượng “mặt trời đúng ngọ rồi thì sẽ xế bóng, mặt trăng đã tròn rồi thì phải khuyết” và ông nói “Đó là Đạo trời vậy”. Theo ông, nhà Tống “thái bình đã hơn 100 năm rồi, thế là rất thịnh. Thịnh thế dần dần lại suy yếu. Đó là quy luật tự nhiên... Nay Vương An Thạch “lại khuấy động lên...”

Ngọn bút của Lê Quý Đôn có lúc tung hoành, mở ra trước mắt chúng ta một không gian và một thời gian rất rộng: khi thì ông hướng chúng ta vào hàng trăm chủ đề lịch sử trên nước Trung Hoa bao la, khi thì ông vượt ra ngoài nước này, nói tới những vùng đất Hung Nô, Triều Tiên... Đang nói về phép “trận thường”, về “binh nhung vạn toàn” đời Tống, bỗng ông liên hệ ngay với “An Nam hành quân pháp” đời Lý ở nước ta.

Cho nên, với lối văn tranh luận linh hoạt trên, dù QTKB không đi ra ngoài sự “kết hợp lý - thế”, dù nó phản ảnh thực tiễn không tô vẽ, văn phong của nó vẫn tràn đầy hào khí, lối biện luận của nó vần mang sắc thái của văn hùng biện.

Đến đây, thì chúng ta có thêm những cơ sở để hiểu được vì sao Hồng Khải Hy, sứ giả Triều Tiên, khi nói về QTKB đã phải khâm phục thốt lên: “Thực là kiến thức rất mực vượt lên nghìn đời”. Họ Hồng coi QTKB là “áng văn tuyệt kỳ trong vũ trụ”.

TB

CHỮ VIẾT HÁN NÔM QUA NHẬN ĐỊNH CỦA LÊ QUÝ ĐÔN VÀ PHẠM ĐÌNH HỔ

PHAN ĐÌNH ỨNG

Ngoài giá trị truyền tải thông tin, chữ viết Hán Nôm còn mang giá trị nghệ thuật. Các thế hệ trước đều chú trọng viết chữ đẹp. Mỗi chữ là một tiểu phẩm sinh động, thậm chí là một sáng tạo của người viết. Người viết chữ đẹp được đánh giá cao, các bản chữ viết đẹp được người đời truyền tụng mà Bách thọ triện tự Tam Hy Đường pháp thiếp(1) là những dẫn chứng cụ thể.

Sau đây là những ghi chép và nhận định của Lê Quý Đôn và Phạm Đình Hổ về chữ viết Hán Nôm, rất đáng để chúng ta tham khảo.

1) Nhận định của Lê Quý Đôn (1726-1783)

Về chữ viết Hán Nôm: sách Vân đài loại ngữ nói: “Văn tự là biểu hiện của thanh âm, mà thanh âm là biểu hiện của tính. Đạo kiền biến hóa, muôn vật nhờ đó mà điều chỉnh tính mệnh, có tính mệnh mới có hình thể... Thánh nhân đặt ra văn tự để mô tả thanh âm”. Sách đó nói tiếp: “Dựa vào Lục thư để đặt ra chữ, gồm: chỉ sự, tượng hình, hài thanh, hội ý, chuyển chú và giả tá; nhưng cốt yếu chỉ là tượng hình và hội ý...”. Về cách viết chữ Hán Nôm: Lê Quý Đôn tập hợp rất nhiều tư liệu cổ kim nói về cách viết chữ Hán Nôm có tính chất tổng hợp. Cũng theo Vân đài loại ngữ: “Cách dùng bút phải làm cho cổ tay nhẹ bỗng; bút dài không quá sáu tấc;(2) cầm bút không quá ba tấc; viết chữ chân thì cách một tấc, chữ hành thì cách hai tấc ngón tay cầm vào cho chắc, mà cổ tay thì lỏng, đó là cách viết của Ngu Thế Nam”. “Viết lối chân cách cầm quản bút, tay cách ngòi hai tấc, viết lối hành và lối thảo tay cách ngòi bốn tấc. Khi viết kéo bút 3 phân mà 3 phân dính giấy thì gân yếu. Ngón tay cái nên nghiêng sang bên, mà chỗ thịt móng tay giáp vào cạnh quản bút thì hơn”. “Cầm giữ quản bút, dùng ngón tay giữa để đẩy bút, dùng toàn sức ở ngón tay ấy”. “Viết thảo thì xoay ngọn bút, đề biển ngạch (hoành phi) thì kéo dài ngọn bút”. Sau khi dẫn ra các cách viết nói trên Lê Quý Đôn nhận định: “Các thuyết ấy, tuy không giống nhau nhưng đại ý cũng là một”. Theo ông khi “cầm bút đúng cách, gân, xương, huyết, cơ bắp hợp lý; ngang thẳng, vuông tròn hợp lý; trình bày bố trí hợp lý thì mới gọi là khải thư (lối chữ chân phương). “Thông thường có tám lối chữ viết: Triện, trứu, bát phân, lệ, chân, thảo, phi bạch và hành thư”. “Biến đổi lối khải một ít, gọi là hành thư, hành mà đá chân gọi là chân hành; hành mà đá thảo gọi là thảo hành”. (Lưu Bá Thăng). Nếu như “cầm bút không có phép nhất định, chỉ nên cầm lỏng lẻo mà khoan thai” (Tô Đông Pha).

Muốn nâng cao nghệ thuật viết chữ, thì “trước hết phải định tinh thần, lặng nghĩ, tưởng tượng xem viết chữ lớn hay chữ nhỏ, ngả nghiêng hay ngay thẳng; cử động cho gân với mạch gần nhau; để ý vào ngọn bút, rồi hãy viết. Nếu cứ ngang bằng sổ thẳng như nhau, hình như con toán, thì chỉ là vẽ vạch ra nét, chứ không phải là viết (Vương Hữu Quân)”. Mà “Viết chữ khéo ở chỗ đưa ngọn bút cho tròn trặn, đừng co quắp; thứ đến biết phép viết, chớ phóng bút quá, bố trí cho hợp lý, bút giấy cho tinh sạch, biến pháp cho vừa ý, phóng bút cho quy củ. Dùng bút viết lối chân hay thảo như vạch xuống bùn, xuống cát, như thế là thần diệu (Trương Sử)”. “Học lối ấy năm năm mới thành nghề, vậy phép viết có phải dễ đâu (Lỗ Công)”.

Cũng theo Lê Quý Đôn thì: “Năm Đinh Tỵ niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 2 (1077), triều Lý Nhân Tông, dùng phép viết, phép tính và hình luật thi lại viên. Đây là bắt đầu việc thi viết ở nước ta. Hồi đầu niên hiệu Kiến Trung (1228), triều Trần Thái Tông, dùng thể thức thảo thiện công văn để thi lại viên gọi là Ba đầu , người nào trúng cách sẽ bổ làm thuộc viên ở sảnh, ở viện; hồi đầu niên hiệu Thiệu Long (1261), triều Lý Thánh Tông, thi lại viên bằng phép viết và phép tính, người trúng cách được bổ nhiệm là duyên lại ở nội lệnh sử. Bản triều, hồi đầu niên hiệu Thiệu Bình (1434), Triều Thái Tông dùng phép ám tả cổ văn để ghi lại viên, người trúng tuyển bậc nhất được bổ vào Quốc tử giám, bậc nhì được bổ làm sinh đồ và thuộc viên; năm thứ 4 (1437) thi phép viết và phép tính; kỳ đệ nhất ám tả, cổ văn, đệ nhị thi viết chữ chân phương và chữ thảo. Năm Hồng Đức thứ 13 (1482), thi cháu trai các quan bằng phép làm văn, phép viết và phép tính. Năm thứ 19 (1488), thải bớt lại điển ở các nha môn... đến năm sau thi các hạng quân và dân bằng phép viết, phép tính để sung điền. Phép thi có một kỳ ám tả, một kỳ thi viết và tính. Đến đời Uy Mục Đế năm Đoan Khánh thứ hai (1506), thi khảo quân và dân bằng phép viết, phép tính ở sân điện Giảng Võ, số dự thi hơn ba vạn người, lấy 1519 người...”

“Từ lúc Trung Hưng trở đi, năm Nhâm Thìn (1652) niên hiệu Khánh Đức, năm Tân Sửu (1661) niên hiệu Vĩnh Thọ, năm ất Mão (1675) niên hiệu Đức Nguyên và năm Bính Dần (1686) niên hiệu Chính hòa không mở khoa thi... ban lệnh chỉ truyền cho các quan Hai Ty các xứ sát hạch... người nào chữ tốt thì thi ba thể chữ lớn, chữ nhỏ và chữ lệnh... Năm ất Tỵ niên hiệu Bảo Thái thứ 6 (1725) lại thi...”

2. Phạm Đình Hổ (1768-1839):

Sách Vũ Trung tùy bút viết: “... ở tấm bia núi Dũng Thúy và bài minh khắc vào chuông chùa Thiên Phúc núi Phật Tích, cùng bài bia ở dinh cơ quan Tam Sương là Châu Công ở làng Châu Khê, huyện Đường An, bút pháp đều rất cổ kính. Còn như cái biển ba chữ Đông Hoa môn thì chính là ngự bút vua nhà Lý, bút pháp hùng tú tự nhiên, khác hẳn người tầm thường, những nét phẩy, móc, sổ, mác đã phôi thai ra một lối chữ nước Nam ta. Còn ba chữ Đại Hưng môn thì là chữ hoành biển, chế ra từ đời Lê Hồng Đức, nét bút lẫn cả lối chân, lối khải; chữ cổ đến đời ấy đã có một bước biến cải. Khoảng năm Diên Thành (niên hiệu Mạc Mậu Hợp (1566-1577) đời nhà Mạc, con gái Đà Quốc Công là Mạc Thị có dựng ra chùa Bối An, mái đá khắc một bài minh, nét chữ đầu cong chân quẹo hơi giống chữ viết bây giờ nhưng bên tả vênh lên bên hữu vẹo xuống, có hơi khác, thực là quái lạ! Dễ thường về đời Lê sơ và đời Mạc, lối chữ viết đại lược như thế cả. Gần đây, lối chữ ở trong Thuận Quảng cũng gần giống như vậy, cũng là còn giữ lối chữ cũ. Từ đời Lê Trung hưng trở về sau, những người đi học theo nghề khoa cử viết theo lối chữ khải đời cổ, lại ngoa ngoắt thêm bớt, làm sai đi đến nửa phần, gọi là lối chữ Nho... Bốn lối chữ chân, thảo, triện, lệ lâu nay không ai truyền dạy. Cũng có người tập các lối chữ ấy, nhưng chỉ là tự ý phỏng chừng. Trong khoảng năm Cảnh Hưng, chúa Trịnh Thịnh Vương (miếu hiệu Trịnh Sâm) lại thích lối chữ Trung Hoa, kẻ học giả đua theo, mới hơi thay đổi lối chữ Nam đi để cầu cho được người ưa thích... Không cứ là thể chữ nào, chữ viết cho thẳng, cho vuông, cho cứng, để cầu cho hợp mắt người bây giờ; Có khi viết một chữ mà nét chấm là lối chữ triện, móc là lối chữ lệ, phẩy móc là lối chữ chân, nếu gặp phải chữ rậm nét, thì lại đá thảo, để viết cho thông hoạt, gọi là lối viết chữ câu đối. Lối chữ thảo thì bắt chước múa kiếm mà quằn quèo, không có vẻ thanh tao, gọi là lối đề thơ. Lại còn lối viết chữ chân phương, chân hành, lảo thảo, nộn thảo, đại triện, tiểu triện, cổ lệ, cổ lựu trứu, tiểu kỷ, tiểu khải đều tùy ý mô phỏng để khoe khoang nổi tiếng ở đời... Ôi! kẻ nho lại đi học chữ để chiều đời kiếm ăn, không trách làm gì, ta chỉ thương cho những kẻ sĩ phu đời nay không ai còn lưu ý đến các lối chữ. Đời xưa trong nhà trường có dạy cả 6 nghề: lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số... Nước ta đã có tiếng là văn hiến không khác gì nước Trung Hoa, thế mà về một việc học viết chữ lại là của kẻ thư lại, không ai thèm lưu ý học đến, không biết tại sao? Cũng sách ấy nói tiếp: “Nước Việt ta lối chữ viết từ đời Đinh Lê trở về trước thì không trông thấy được nữa, còn lối chữ từ đời Lý đời Trần trở về sau thì bắt chước đời nhà Tống... Còn những giấy tờ ở chốn cửa công thì dùng riêng một lối chữ Việc quan. Ai học theo lối chữ ấy, thì sáu năm một lần, thi trúng tuyển được sung vào làm chân thư tả ở trong các nha môn...”

CHÚ THÍCH

(1) Bách thọ triện tự: gồm 100 cách viết khác nhau về chữ “Thọ” theo kểu chữ triện.

Tam Hy Đường pháp thiếp: bản mẫu chữ “chân” và chữ “thảo” viết trên các tờ thiếp của những tay bút nổi tiếng như Vương Hy Chi, Tô Thức v.v...”

(2) Tấc (thốn) đơn vị đo chiều dài thời cổ; cứ 10 tấc thì bằng 1 thước (xích) tương đương ví 0,33m; vậy 1 tấc tương đương 3,3cm./.

TB

TRẠNG NGUYÊN ĐẶNG CÔNG CHẤT VÀ DÒNG HỌ ĐẶNG CỦA ÔNG

ĐỖ THỈNH

Đặng Công Chất đỗ Trạng nguyên khoa Tân Sửu, Vĩnh Thọ thứ tư (1661), ông là đồng tác giả Trùng san Lam Sơn thực lục Đại Việt sử ký tục biên, ông còn có nhiều công lao về nội trị, ngoại giao đối với đất nước. Nhưng từ trước đến nay một số sách chép về ông và dòng họ Đặng còn sơ sài, có những điểm chưa đúng. Qua sưu tầm, khảo cứu, nhất là được các cụ trong dòng họ Đặng cho xem cuốn Đặng gia thế phả (gọi tắt là Thế phả) do Đặng Công Cơ (con trai thứ ba của Đặng Công Chất) viết năm Bính Ngọ (1726), tôi xin trình bày một số tư liệu mới để bạn đọc tham khảo.

Đặng Công Chất sinh ngày 28 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1622)(1) ở làng Phù Đổng huyện Tiên Du (nay là xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội). Ông vốn họ Trần, dòng dõi Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, đến đầu đời Lê sơ có ông Trần Văn Huy hiệu là Đặng Hiên (1410-1475) đỗ nhị giáp Tiến sĩ đình nguyên năm Đại Bảo thứ ba (1442), làm quan tới Thượng thư bộ Hình di cư đến ở làng Quang Bị, huyện Bất Bạt, phủ Thao Giang, trấn Sơn Tây (nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội). Đến đời thứ ba có Trần Tuân (là cháu nội Trần Văn Huy) nổi dậy khởi nghĩa chống lại vua Lê Tương Dực (1509-1516). Nhưng cuộc khởi nghĩa bị thất bại, Trần Tuân bị tướng của triều đình là Trinh Duy Sản giết, quân tan vỡ. Vì sợ triều đình bắt tội nên “dòng dõi của Trần Tuân dời đến xã Yên Quyết Thượng, huyện Từ Liêm (nay là xã Yên Hòa, huyện Từ Liêm, Hà Nội), đổi họ đi để tỏ ra là khác biệt”(2).

Theo Thế phả thì người chạy ra Thượng Yên Quyết là Trần Công Du gọi Trần Tuân bằng chú. Đến đời con ông Du chính thức đổi thành họ Đặng (vì ông tổ Trần Văn Huy có hiệu là Đặng Hiên) nên gọi là “Đặng Công Toản”. Đặng Công Toản (1487-1547) đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1520), làm quan Tham Chính xứ Kinh Bắc, đóng trụ sở ở làng Phù Đổng; sinh người con trai thứ bảy là Đặng Công Khuê (1538-1600) ở đấy. Sau ông cho Khuê ở lại trú cư ở Phù Đổng, nên Công Khuê là người được suy tôn là tổ chi họ Đặng ở Phù Đổng(3).

Đặng Công Khuê thi đỗ thủ khoa Hương cống, làm quan tới chức Viên ngoại lang Bộ Lại, con trưởng ông Khuê là Đặng Công Sắt cũng đỗ giải nguyên Hương cống khoa Tân Sửu (1603), làm quan tới chức Tham chính xứ. Ông Sắt có 4 người con trai là Đặng Công Toại, Đặng Công Nghi (đều là nho sinh), con thứ ba là Đặng Công Chất, con thứ tư là Đặng Công Trác đỗ giải nguyên Hương cống khoa Tân Mão (1699).

Đặng Công Chất là người có tài kiêm văn võ, nội trị, ngoại giao và cũng là người có đạo đức, trung trực, liêm khiết. Theo Thế phả thì sau khi đỗ Trạng nguyên, có khả năng lấy công chúa, nhưng ông Chất cố chối từ vì ở quê đã có vợ. Việc này làm cho vua chúa không hài lòng nên tuy biết ông có tài văn học nhưng năm sau (1662) chúa liền bổ ông vào chức quan võ đi dẹp loạn ở Nghệ An rồi được cử làm Đốc thị xứ ấy. Sau đó ông được triệu về kinh cử làm Hàn Lâm Viện thị giảng, chính trong thời gian này ông tham gia biên soạn Đại Việt sử ký tục biên do Tham tụng Phạm Công Trứ chủ biên(4). Tháng ba năm ất Tỵ (1665) ông được thăng chức Hữu thị lang Bộ Công, có lẽ từ năm này ông cùng các ông Hồ Sĩ Dương và Đào Công Chính biên tập cuốn Trùng san Lam Sơn thực lục.

Tháng 5 năm Nhâm Tý (1672), Đặng Công Chất về quê làng Phù Đổng chịu tang mẹ, bất ngờ có việc Kiêu binh nổi loạn giết chết Bồi tụng (phó Tể tướng) Trạng nguyên Nguyễn Quốc Trinh, triều đình liền sai Tuyển Quận Công đến nhà triệu Đặng Công Chất về Thăng Long dẹp loạn. Ông Chất về kinh đô phủ dụ Kiêu binh, quân lính đều phục tùng. Sau đó tháng 7 năm ất Mão (1675), ông được thăng Tả thị lang bộ Lại, rồi được cử làm Bồi tụng nhập thị kinh diên. Năm Đinh Tỵ (1677), được cử làm trấn thủ Cao Bằng đánh dẹp Mạc Kính Vũ ở biên giới, sau đó lại được triệu về Kinh “quản thống 5 viên đại tướng”(5).

Năm Tân Dậu (1681), Đặng Công Chất được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc đàm phán với nhà Thanh. Quan hệ giữa hai nước lúc này rất thân thiện nên vua Thanh đã cử quan đại thần là Đàm Bất Miện ra đón và tiễn đoàn sứ bộ của ta rất chu đáo. Khi đoàn sứ bộ ta ra về, Đàm Bất Miện tiễn đến bến sông Hoàng Hà cùng Đặng Công Chất làm thơ xướng họa quyến luyến không rời nhau(6).

Tháng 6 năm Nhâm Tuất (1682) đoàn sứ bộ về đến Thăng Long, Đặng Công Chất được vua chúa khen ngợi, thăng Binh bộ Thượng thư, tước Khánh Xuyên Tử, ba ngày sau gia tăng Tham tụng (tể tướng). Nhưng chưa được bao lâu, ngày 7 tháng 2 năm Quý Hợi (1683), ông mất, vua lấy làm thương tiếc, đặt tên hiệu là Trung Túc, tặng chức Lại bộ Thượng thư, Thiếu Bảo và tước Khánh Xuyên Bá. Thế phả cho biết “ông khẳng khái có chí lớn, không làm dinh thự và để của. Làm quan chẳng thiết lợi lộc, bao nhiêu bổng lộc đem cấp cho người thân thuộc, nhà không có của thừa... Lúc bé thường ăn canh mướp đến khi phú quý vẫn ăn canh mướp”(7).

Đặng Công Chất còn có công đứng ra trùng tu đền thờ Phù Đổng Thiên Vương ở quê nhà. Dòng họ của ông sau này có nhiều người khoa bảng: cháu nội ông (con Đặng Công Cơ) là Đặng Công Diễn (1709-1769) đỗ Hội nguyên Tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1728) làm quan tới chức Tế tửu (Hiệu trưởng) trường Quốc Tử Giám, thăng công bộ hữu thị lang, Bồi tụng (phó tể tướng) Thư Vũ Hầu.

CHÚ THÍCH

(1) Sách Tìm hiểu kho sách Hán Nôm của Trần Văn Giáp (tập 1) chép ông sinh năm 1621 (?)

(2) Lê Quý Đôn trong Đại Việt thông sử Nxb, KHXH, Hà Nội, 1978, chép nhầm là “dòng dõi Trần Tuân”. Theo thế phả, Trần Tuân là con nuôi, nên theo bậc thì là em bố Công Du.

(3) Sách các trạng Nguyên nước ta của Mai Hồng Nxb. Giáo dục, Hà Nội (1989) tr.93 chép về dòng họ Đặng có nhiều nhầm lẫn, lộn xộn, do không theo dõi kỹ 5 dòng lớn, 19 chi nhỏ ở nhiều vùng.

(4) Tìm hiểu kho sách Hán Nôm Tập 1 Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1984 tr.80.

(5) Đây là theo Thế Phả. Các bộ sử cũ đều ghi ông có khuyết điểm nên được gọi về triều. Sách Lịch Triều tạp kỷ (Tập 1) của Ngô Cao Lãng còn cho biết khoa thi Hội năm Bính Thìn (1676) Bồi tụng Đặng Công Chất được cử làm Phó chủ khảo, khoa này đứng đầu bảng là Thám hoa Nguyễn Quý Đức.

(6) Thế phả có chép một bài thơ của Đặng Công Chất và một bài thơ của Đàm Bất Miện.

(7) Lịch triều tạp kỷ, Sđd, chép Đặng Công Chất về nước được thăng Hình bộ Thượng thư. Đây theo Thế phả./.

TB

HƯƠNG ƯỚC CỦA MỘT LÀNG VEN ĐÔ

BÙI XUÂN ĐÍNH
ĐINH KHẮC THUÂN

Trong kho tàng văn bản chữ Hán của người Việt, hương ước là nguồn tài liệu quý, có giá trị nghiên cứu về nhiều mặt: văn bản học, sử học, dân tộc học và luật học; đặc biệt có giá trị trong việc tìm hiểu các làng xã người Việt trước Cách mạng tháng Tám 1945. Trong chương trình nghiên cứu về hương ước nói chung(1), chúng tôi đang hướng tới một sưu tập hương ước của nhiều loại hình làng xã, qua các giai đoạn của lịch sử đất nước. Bài viết này lần đầu tiên chúng tôi giới thiệu hương ước của một làng ven nội thành Hà Nội. Đó là phường Hồ Khẩu, nay là khối 74 thuộc phường Bưởi, quận Ba Đình (Hà Nội).

I. Văn bản và nội dung hương ước:

Hương ước phường Hồ Khẩu có tên là “Hồ Khẩu phường điều lệ”. Điều lệ cùng thần tích vị Thánh Cả vị thánh có công giúp nước dẹp loạn phương Nam vào thời Lý, được lưu giữ tại đền Dực Thánh (Thánh Cả) phường Hồ Khẩu. Điều lệ cũng có trong kho sách Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AF a2/25. Cả hai đều là bản sao. Văn bản viết bằng chữ Hán, có một số chữ Nôm. Chữ viết chân phương; khổ 32x22cm, gồm 26 trang. Điều lệ không ghi năm tháng biên soạn. Song qua nội dung văn bản, biết được: điều lệ được khởi thảo vào thời Lê (thế kỷ XVII), sửa chữa, bổ sung nhiều lần và hoàn thiện vào cuối thời Nguyễn.

“Hồ Khẩu phường điều lệ” (HKPĐL) gồm 41 điều, dưới đây là nội dung sơ lược của từng điều khoản:

Điều 1: Khẳng định sự cần thiết phải soạn thảo điều lệ để giữ gìn “khuôn phép kỷ cương làng xóm”.

Điều 2: Quy định mọi người phải chỉnh tề khi tế lễ.

Điều 3: Quy định vị trí của các bô lão trong tế lễ.

Điều 4 và 5: Quy định về nghi thức tế văn, phạt những ai không theo đúng nghi thức.

Điều 6, 7, 8: Quy định về việc biện lễ thờ thần.

Điều 9: Quy định về áo quần khi tế lễ.

Điều 10, 11, 12: Quy định về trách nhiệm của phường đối với các nhà có tang và ngược lại.

Điều 13, 16: Quy định về tôn ty trật tự khi hội họp ở đình.

Điều 14: Quy định trật tự thứ bậc khi tế lễ.

Điều 15: Quy định tế lễ của giới lão.

Điều 17: Khuyến khích mọi người ăn ở hòa thuận.

Điều 18: Phạt những ai gây mất trật tự trong làng.

Điều 19: Quy định lễ mừng của những người đỗ đạt.

Điều 20: Chế độ của làng đối với người cúng tiền đồ thờ phụng trong làng.

Điều 21, 22: Phạt những người trong làng trộm cướp và mắc tội gian dâm.

Điều 23: Ngăn cấm mọi người trong làng tổ chức các trò hài trong lễ cầu an. Ngay cả phường diễn hí của sở tại cũng cấm.

Điều 24: Quy định các chức dịch phải tận tâm lo việc chung.

Điều 25: Quy định mỗi năm vào dịp đầu xuân, mỗi người trong làng phải nộp 100 tờ giấy lệnh cho quan điển lễ để viết văn.

Điều 26: Quy định việc sử dụng tiền phạt thu được trong phường.

Điều 27: Quy định nghĩa vụ của người xin vào hội ẩm và lên lão.

Điều 28: Quy định thành phần dự lễ ở chùa Tết Nguyên đán.

Điều 29: Cấm đánh bạc.

Điều 30: Không được đào giếng vì sợ “chạm long mạch”.

Điều 31: Quy định về cải táng.

Điều 32: Khuyên những người có chức quyền không nên lộng quyền mà đè nén dân chúng.

Điều 33: Quy định chia biếu lễ vật các tiết ở đình.

Điều 34: Quy định chia biếu lễ vật các tiết ở chùa.

Điều 35: Quy định thành phần dự lễ và việc chia biếu lễ vật trong ngày giỗ hậu thần.

Điều 36, 37: Quy định việc chia biếu tiền, cau trầu.

Điều 38: Quy định lễ chia biếu trong lễ hung táng và cát táng.

Điều 39: Quy định việc biếu đãi việc tang.

Điều 40: Quy định việc biếu lễ tiên sư.

Điều 41: Quy định lệ biếu tư văn của người có công việc phải nhờ tư văn tế lễ.

Điều 42: Quy định việc bảo quản hương ước.

II. Một vài nhận xét:

1. Các điều khoản liên quan tới tín ngưỡng, tôn giáo (chủ yếu là những quy định về biện lễ và tế lễ thành hoàng) chiếm tỷ lệ lớn trong hương ước 18/42 điều. Đây là hiện tượng phổ biến. Trong nhiều bản hương ước mà chúng tôi đã tham khảo, chỉ có hương ước làng Yên Sở (Hoài Đức, Hà Nội) và làng Cổ Ninh (Nam Ninh, Hà Nam Ninh) các điều khoản liên quan tới hội hè tế lễ mới chiếm tỷ lệ lớn.

2. Đi kèm với các điều khoản trên là 10 điều về việc chia biếu lễ vật và trật tự ngôi thứ trong các dịp cầu cúng, tế lễ đó. Đây là hệ quả tất yếu của sinh hoạt làng xã trước Cách mạng tháng Tám.

3. Trong HKPĐL, không có điều khoản về sản xuất nông nghiệp và ruộng đất. Điều này xuất phát từ đặc điểm lớn nhất của làng: là làng ven nội thành, không có ruộng, chỉ có một dải hồ, làng cho đấu thầu để trồng sen. Cư dân ở trong phường sống chủ yếu bằng nghề làm giấy và buôn bán. Tuy nhiên, trong hương ước lại không có điều khoản nào về hai nghề đó; ngoại trừ điều 25 quy định mọi người trong phường phải nộp 100 tờ giấy vào dịp đầu xuân hàng năm.

4. Trong HKPĐL cũng không có điều khoản về cơ cấu tổ chức của phường, nhưng qua một số điều khoản quy định về việc biện lễ và tế lễ, chúng tôi thấy, cơ cấu tổ chức của phường Hồ Khẩu vẫn áp dụng cơ cấu của làng xã nông thôn (có 8 xóm, 2 giáp, hội đồng kỳ mục, lý dịch, tư văn, giới lão…)

5. Trong HKPĐL có 6 điều quy định việc bảo vệ trật tự an ninh trong phường, chủ yếu là quy định về giữ yên tĩnh ngăn chặn tệ cờ bạc, rượu chè, quan hệ trai gái bất chính, trộm cắp… Đây là yêu cầu tất yếu, bức thiết của mọi cộng đồng. Tuy nhiên, lại không có điều khoản nào về quy chế và nhiệm vụ của các đội tuần phiên trong phường.

6. Trong HKPĐL cũng không có điều khoản quy định về việc đóng góp nghĩa vụ sưu thuế, phu lính của phường đối với nhà nước phong kiến, phải chăng điều này xuất phát từ đặc điểm của phường: là phường ven đô, không có ruộng, cư dân sống chủ yếu bằng nghề thủ công và buôn bán.

7. HKPĐL không có điều khoản quy định khen thưởng người có công trong việc thực thi lệ làng, chỉ có điều khoản phạt người vi phạm. Các hình thức phạt như sau:

- Phạt hiện vật: chủ yếu bằng cau trầu, rượu, mức nhẹ là một phong trầu (20 miếng), mức nặng số trầu cau đó trị giá ba mạch tiền.

- Đánh đập chủ yếu bằng roi, mức nhẹ 20 roi, nặng 40 roi.

- Phạt tiền: mức thấp nhất là 3 mạch, mức cao nhất tới 10 quan (mức áp dụng với người đi kiện cáo lên trên nhưng không thông qua phường).

- Hạ ngôi thứ: chỉ áp dụng với người có “hương ẩm” đi ăn trộm vặt: hạ ba bàn (điều 21).

- Cấm tham dự sinh hoạt cộng đồng (đuổi khỏi hương ẩm) trong một thời điểm nhất định (chẳng hạn: người trong hội tư văn, khi tế lễ áo quần không nghiêm chỉnh, bị đuổi khỏi buổi tế đó) hoặc vĩnh viễn (người có chân trong hương ẩm đi ăn trộm cướp bị bắt quả tang.

- Đuổi khỏi phường: đây là hình phạt cao nhất, áp dụng với hai hành vi vi phạm: người chưa có chân trong “hương ẩm” đi trộm cướp bị bắt quả tang và người đi kiện cáo không thông qua phường sau đó “ương ngạnh” không chịu nộp phạt.

- Cũng như nhiều làng xã ở vùng nông thôn, ở phường Hồ Khẩu áp dụng kết hợp các hình thức phạt tiền, đánh đập và đuổi khỏi phường. Chẳng hạn, với người chưa có “hương ẩm” đi trộm “lớn”, thì đánh 40 roi rồi đuổi khỏi phường, thậm chí giải lên quan trên trị tội, hay trường hợp tự ý kiện cáo không thông qua phường như vừa nêu ở trên.

- Nói chung, phường Hồ Khẩu áp dụng chế độ xử phạt trực tiếp (ai vi phạm thì phạt người đó), nhưng trong một số trường hợp, áp dụng chế độ liên đới. Chẳng hạn, điều 21, khi có người đi ăn trộm lớn gia trưởng bị trách cứ, phải nộp trầu cau để tạ tội. Hoặc ở điều 22, có người gian dâm, cha anh kẻ đó bị trách cứ, nếu không còn cha anh thì trách cứ cả thân tộc (rất tiếc văn bản không ghi rõ nội dung và mức độ cụ thể của biện pháp “trách cứ” đó).

III. Những mặt tích cực và tiêu cực của làng ven đô qua “Hồ Khẩu phường điều lệ”:

Như hương ước của nhiều xã khác, trong HKPĐL ta thấy được những mặt tích cực, những nét đẹp của một làng ven kinh thành Thăng Long “ngàn năm văn vật”. Mở đầu HKPĐL khẳng định: “Định sự lệ hương thần để chiếu xét trong làng xóm, có ân nghĩa để cùng thương yêu nhau, có văn phép để cùng giao tiếp với nhau”. Hoặc ở điều 1: “luân thường phong hóa được vâng Thánh dụ ban hành, gắng gỏi tu tình… tuân thủ mãi mãi, làm cho phường ta thành một hương lễ nghĩa, cùng hưởng phúc thái bình. Coi đó là khuôn phép kỷ cương làng xóm”. Nhiều điều khoản đề cao những mặt hay trong nếp sống ở một làng ven đô. Điều 2 ghi: ai đi đứng kênh kiệu, cản trở đường đi, phạt 20 khẩu trầu. Điều 16: ai nói năng bừa bãi ở đình, phạt trầu rượu giá 3 mạch. Điều 17: tình làng xóm hòa mục, không được gây hiềm khích, giành giật của nhau, mượn rượu lăng mạ người khác. Điều 18: trong làng cần yên tĩnh, nhà nào có người cãi cọ, hát xướng hô hoán to tiếng, không kể ngày đêm, phạt cau trầu giá 3 mạch. Điều 10: quy định mọi người đi theo đám tang, quần áo phải nghiêm chỉnh để tỏ lòng thành kính, ai không nghiêm chỉnh phạt trầu cau giá 3 mạch. Các điều 20, 22, và 28 ngăn chặn tệ cờ bạc, trộm cắp, gian dâm. Ai đi trộm vặt trong phường bị bắt quả tang thì truất 3 bậc trong hội hương ẩm, nếu không có hương ẩm thì đánh 20 roi, tương tự với người đi trộm “lớn” thì đuổi khỏi hương ẩm hoặc đánh 40 roi rồi đuổi khỏi phường (điều 20). Ai phạm tội gian dâm thì trách cứ cha anh nếu không còn cha anh thì trách cứ gia tộc (điều 22). Về cờ bạc điều 28 ghi rõ: “cờ bạc khuynh gia bại sản, từ nay về sau, từ ngày mồng một đến ngày mồng bảy đầu năm, vui chơi thưởng xuân có thể không cấm, nhưng từ mồng 8 trở đi, có ai cố ý vi phạm thì đánh 42 roi”.

Mặt tích cực khác, một nét đẹp khác của phường Hồ Khẩu qua hương ước là sự giản dị, tiết kiệm trong các sinh hoạt cộng đồng. Các nghi lễ ma chay, lên lão, khao vọng nhìn chung đều không phiền phức, tốn kém như ở làng quê khác; đặc biệt luôn có sự “chiếu cố” những gia đình nghèo khó. Một vài ví dụ: muốn vào hội Hương ẩm chỉ cần nộp một phong trầu (20 khẩu) cho lý lịch, một phong cho quan điển lễ; người lên lão chỉ cần sửa lễ xôi gà giá một quan, ai nghèo có thể miễn (điều 26). Người đỗ đạt từ cử nhân trở lên, vào các ngày mồng một, mồng hai Tết và ngày giỗ (chưa rõ giỗ nào? có lẽ là giỗ họ) làm lễ ở từ đường; bản phường biện lễ rượu 3 mạch, gia chủ thù tạ lại, lễ vật có hoặc không, hậu hay bạc không kể đến; nhà nào nghèo không định lệ ăn uống cũng được (điều 19). Các tiết hàng năm, hương lão có lệ biếu xôi gà, xôi 10 bát quan gạo nếp, gà một con giá 3 mạch, người nghèo miễn (điều 15). Các điều 11 và 12 còn quy định tư văn giúp tang chủ làm lễ tế chỉ được giữ lại một thủ (lợn hoặc bò tùy tang chủ, không ai được đòi hỏi, sách nhiễu.

Tuy nhiên, trong bối cảnh của làng xã phong kiến, nhiều mặt của đời sống ở phường Hồ Khẩu đã bị “phong kiến hoá” sâu sắc, trở thành tiêu cực. Trật tự phong kiến đã được xác lập và được quy định tỉ mỉ, nghiêm ngặt theo hướng ưu đãi những người có bằng sắc, chức tước: từ quyền tham dự đến chỗ ngồi, quyền ăn, quyền nói tại đình trung trong các dịp hội họp, tế lễ. Có thể nêu một vài ví dụ: điều 14 quy định rõ: khi lễ thần, các vị có mũ áo lễ xong, những người không có mũ áo mới được vào lễ; tại các nhà có việc hiếu, dân phu không được ngồi với quan viên, ai vi phạm bị mời ra, bị phạt một phong trầu (12 miếng) và phải chịu tội với gia chủ. Điều 28 ghi rõ Tết Nguyên đán chỉ những quan viên sắc mục, hương lão, lý dịch mới được dự lễ cúng ở chùa. Điều 13 khẳng định “tôn ty của hương đảng” là khi toàn dân đang ngồi, hễ thấy quan viên kỳ lão đến thì lập tức phải đứng dậy để tôn kính “phong hóa lễ nghĩa”, hoặc hơn nữa ở điều 16 “trong làng hội bàn việc hễ quan viên sắc mục khởi xướng thì các giáp trên dưới cùng lắng nghe; bàn chưa hết, bàn lão có điều muốn nói thì báo với lý dịch chuyển lời đến, còn từ bàn ba trở xuống có điều muốn nói thì đích thân đến trình. Một lần không được thì đến lần khác, không được nói năng bừa bãi, ai vi phạm phạt trầu cau, rượu giá 3 mạch.

Vị trí quyền ăn nói, phán xét trong hội họp, tế lễ của các tầng lớp chức sắc gắn chặt đến quyền lợi của họ, thể hiện qua lệ chia biếu. Có tới 10 điều khoản cơ bản. Điều 32 lệ biếu các tiết tại đình và miếu: “Từ cử nhân trở lên khoa trường chính thức quan viên: thịt má một miếng, cỗ mỗi người một mâm; tế chủ hai giáp cỗ mỗi người một mâm. Nếu có tế thì thêm thịt luộc mỗi người một miếng, cau trầu mỗi người một phong. Đương vụ lý trưởng cỗ mỗi người một mâm, hương mục cũng vậy”. Điều 34 “ngày giỗ hậu thần, tế chủ là đương vụ lý dịch, tham dự còn có các vị trong hội tư văn trên 18 tuổi; trừ những người có tang ra, còn lại đều được nghe tế. Thụ lộc quan điển lễ một Khoanh cỗ, cau trầu 6 miếng, người tế được thịt một miếng. Tạp vật chia đều các vị áo mũ. Cử nhân tú tài, quan viên thịt tế mỗi người một miếng, cau trầu hai miếng. Số còn lại chia đều cho các viên áo mũ. Quan viên tử, các vị mười năm ứng vụ, các vị sắc mục, cỗ mỗi người một phần. Thịt tế mỗi người một miếng. Tế chủ hai giáp, cỗ mỗi vị một miếng. Từ trụ thượng lão cũng như vậy. Đương vụ lý trưởng thịt luộc một miếng”. Điều 35 lệ chia biếu tiền hàng năm “viên sắc lý dịch cùng cử nhân trở lên mỗi vị 3 mạch, cau trầu 6 miếng. Tú tài mỗi vị một mạch rưỡi, cau trầu 6 miếng”.

Sự phong kiến hóa sâu sắc của phường Hồ Khẩu còn thể hiện ở nhiều điều khoản khác. Tinh thần và ý tưởng của Nho giáo thấm nhuần trong “mạch văn” của nhiều điều khoản. Chẳng hạn “luân thường phong hóa được vâng Thánh dụ ban hành, gắng được tu tỉnh” (Điều 1). Hoặc điều 31, khuyên các chức dịch “không vì ít mà thu vén, không tham tư lợi mà khinh mạn quỷ thần, không cậy cường hào mà hoành hành hương lý, không nên coi mình là đúng mà lấn át chúng sinh, không nên vì thời thế mà xu nịnh để mất thể diện” để “mọi việc được tốt lành dân được an ninh, không phụ thánh triều đó là đức lớn huấn thị, tác giả nhấn mạnh). Đặc biệt điều 23 cấm dân làng diễn hí có tính “tà dâm”. Giở lại chính sử ta thấy thời Lê Thánh Tông đã có chỉ dụ ngăn cấm các làng xã tổ chức các trò diễn này. Đồng thời cũng có chỉ dụ trong năm đó ngăn cản các làng xã soạn thảo hương ước và làng nào có những tục khác lạ thì có thể cho lập hương ước nhưng phải đặt ra những lệ cấm. Theo nhà dân tộc học Trần Từ, với nội dung này, Nhà nước phong kiến một mặt ngờ vực sự khác biệt của từng làng xã mà hương ước đã phản ánh và chính thức hóa, do đó tìm mọi cách để hạn chế hương ước, nhưng mặt khác, khi buộc phải chấp nhận sự khác biệt nói trên, nghĩa là phải chấp nhận hương ước thì thông qua hương ước mà áp đặt mô hình phong kiến và từng làng Việt, dùng tư tưởng Nho giáo để lấn át cổ tục(2).

Sau cùng, cũng như nhiều hương ước của nhiều làng quê ở nông thôn, trong HKPĐL có điều khoản ngăn cản các thành viên trong phường đi kiện cáo lên trên mà không thông qua phường. Mức hình phạt cho người có hành vi “vi phạm” này là cao nhất 10 quan, nếu ngang ngạnh thì đưa ra khỏi bạ tịch (đuổi khỏi phường) để “giảm bớt đơn từ kiện tụng”. Với điều khoản này, thiết chế phường khẳng định độc quyền xét xử của tầng lớp chức dịch phường, biến họ thành tầng lớp “cường hào phố phường” để đè nén và áp bức các thành viên trong phường, tước bỏ quyền của các thành viên trước pháp luật. Tinh thần của các làng xã phong kiến đậm nét trong các sinh hoạt, trong nếp sống của phường ven đô này.

CHÚ THÍCH

(1) Xem Bùi Xuân Đính: Lệ làng phép nước, Nxb. Pháp lý, H. 1985.

(2) Trần Từ: Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ. Nxb. KHXH, H. 1984.

TB

HAI VĂN BẢN CHỮ PHẠN GÓP PHẦN ĐỌC NHỮNG VĂN BẢN CHỮ PHẠN Ở VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ NGÂN

Trong mảng tư liệu văn khắc Hán Nôm, bên cạnh những văn bản chữ Hán, chúng tôi đã bắt gặp những văn bản chữ Phạn một nguồn tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu Phật giáo và ngữ âm lịch sử tiếng Việt.

Sau một thời gian tìm tòi nghiên cứu, qua bài viết này chúng tôi xin được giới thiệu với bạn đọc hai văn bản chữ Phạn mà chúng tôi đã gặp đồng thời đóng góp một số ý kiến của mình vào việc đọc những văn bản chữ Phạn ở Việt Nam.

Văn bản thứ nhất: bài văn khắc chữ Phạn trên chuông chùa Quang Minh(1).

Do chưa có điều kiện đến tận chùa Quang Minh nơi tàng giữ chiếc chuông này nên chúng tôi chỉ làm việc trên bản rập chuông. Bản rập chuông hiện có ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mang ký hiệu: 21133, gồm bốn mặt, mỗi mặt (phần vai chuông) mang một chữ trong tên chuông, ghép lại là Quang Minh tự chung. Trên bốn mặt chuông ở mặt mang chữ Quang và chữ Minh, chữ Phạn được khắc kín cả phần thân chuông và chân chuông, còn ở mặt Tự và mặt Chung, chữ Phạn chỉ được khắc ở phần chân chuông, phần thân chuông bỏ trống. Cụ thể số chữ Phạn trên các mặt chuông như sau:

- Bốn mặt chân chuông khắc 20 chữ.

- Thân mặt mang chữ Quang khắc 7 dòng, mỗi dòng 9 chữ.

- Thân mặt mang chữ Minh khắc 3 dòng, mỗi dòng 8 chữ.

Tổng cộng số chữ Phạn có trên chuông là 107 chữ.

Văn bản thứ hai: Sách Hiển mật viên thông

Sách này hiện có ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm mang ký hiệu AC.159 và AC.625.

Đây là loại sách Trung Quốc được in khắc ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1615 và được in lại lần thứ hai vào năm Tự Đức 13 (1860)(2). Sách gồm hai quyển: quyển thượng và quyển hạ. Quyển thượng có 38 tờ x 2 = 76 trang, quyển hạ có 31 tờ x 2 = 62 trang, chủ yếu là chữ Hán. Phần chữ Phạn không nhiều, chỉ có ở một số trang và được in xen kẽ với chữ Hán. Bên cạnh những dòng, những chữ Phạn đó đều có chua âm đọc bằng chữ Hán. Nội dung phần chữ Hán nói về chú Chuẩn đề trong kinh Đà la. Niệm Chú Chuẩn đề để được sáng suốt, công đức thành tự, mọi ác nghiệp, chứng nghiệp đều được tiêu trừ, cuộc đời an lạc.

Khảo sát phần chữ Phạn chúng tôi nhận thấy: những chữ Phạn trên chuông Quang Minh Tự chung trùng khớp với một số chữ Phạn được ghi trong sách Hiển mật viên thông. Sự trùng khớp như sau:

- Phần chữ Phạn ở chân chuông trùng với các dòng chữ Phạn có trong sách ở các trang: 19b, 20a, 20b, 22a (quyển Thượng).

- Phần chữ Phạn ở thân chuông trùng với các dòng chữ Phạn trong sách ở các trang: 25a, 28a (quyển hạ).

Tìm hiểu về những chữ mà chúng ta gọi là chữ Phạn (Sanskrit) trong Bách khoa toàn thư Anh(3) chúng tôi thấy chữ Phạn Nagari (hay Deranagari) có hệ thống chữ viết giống với những chữ Phạn trên các văn bản khắc chữ Phạn ở Việt Nam. Một điều thật may mắn là chúng tôi đã được đọc hai bài viết của Giáo sư Hà Văn Tấn và Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn về vấn đề chữ Phạn đăng trên tạp chí Khảo cổ học số 1 năm 1989. Bài viết của Giáo sư Hà Văn Tấn mang tựa đề: Thử đọc một kiểu chữ Phạn trong các chùa miền Bắc Việt Nam. Trong bài viết tác giả đã nêu ra 20 ký hiệu ghi các phụ âm : ka, ga, ja, ta, tha, da, na, ta tha, da dha, na, pa, pha, ma, ra, la, va, sa, ha. 9 ký hiệu ghi các tổ hợp âm: Jva, ddha, dma, dva, pva, mbha, mya, sva, stha và ký hiệu về quy tắc ghi các nguyên âm à, i, ì, u, e, o; âm mũi m.

Trong bài viết của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn: Bàn thêm về vấn đề chữ Phạn trong các chùa miền Bắc Việt Nam. Tác giả đã chứng minh và đi đến nhận định: lối ghi chữ Phạn ở Việt Nam bắt nguồn từ giai đoạn Nagari, một chi nhánh hình thành từ thế kỷ VII trên cơ sở diễn biến của văn tự. Giúp ta về sau biến đổi do nhiều nguyên nhân khác nhau và nhất là do tiếp thu ảnh hưởng của cách viết các giai đoạn Nandinagari (thế kỷ XI), giai đoạn De Vanagari (thế kỷ XIII). Nhờ vào kết quả nghiên cứu của hai tác giả trên, việc khảo sát văn bản Quang Minh tự chung của chúng tôi được dễ dàng hơn.

Sau đây là âm đọc chữ Phạn trên chuông Quang Minh tự chung, phiên âm qua âm đọc Hán Việt, đối chiếu với âm Hán trung cổ vốn là nguồn gốc của âm đọc Hán Việt, đồng thời đối chiếu với bản chữ cái De Vanagari (hay Nagari được ghi trong Bách khoa toàn thư Anh và những kết quả nghiên cứu mà Giáo sư Hà Văn Tấn đã đưa ra. Số chữ trong bảng được đọc lần lượt từ chân mặt Tự - chân mặt Minh - chân mặt Chung - chân mặt Quang, từ phải sang trái.

CHÚ THÍCH

(1) Do trên bản rập không thấy có tên địa phương nên chúng tôi chưa biết chùa này ở đâu.

(2) Bản ở Thư viện Viện Hán Nôm là bản in năm Tự Đức 13 (1860).

(3) The new Encyclopsedia. Britannica - 15 th Edition 1988, The university of Chicago - printed in USA.











TB

ĐỂ NẮM ĐÚNG TƯ TƯỞNG NGƯỜI XƯA (Suy nghĩ nhân đọc Thơ văn Phạm Văn Nghị)(1)

ĐINH XUÂN LÂM

Phạm Văn Nghị là một nhà giáo dục danh vọng, một chiến sĩ chống xâm lược kiên cường, một nhà thơ yêu nước xuất sắc của nhân dân ta vào nửa sau thế kỷ XIX.

Với công trình nghiên cứu của mình, trên cơ sở các nguồn tư liệu phong phú (Tự, ký, các toàn tập thơ văn, tập vận trích yếu của Phạm Văn Nghị, sử sách của triều Nguyễn và của Pháp; di tích, truyện kể trong nhân dân…) thu thập trên nhiều địa bàn (ở quê hương Phạm Văn Nghị, cũng như ở các địa phương ông đã từng hoạt động trong buổi sinh thời), tác giả Nguyễn Văn Huyền đã có điều kiện vạch ra những nét cơ bản về chân dung lịch sử của Phạm Văn Nghị. Qua ngòi bút của tác giả, con người và sự nghiệp Phạm Văn Nghị - đặc biệt là sự nghiệp chống xâm lược Pháp - đã hiện lên rõ nét, với những sự kiện tiêu biểu: lời Trà Sơn kháng sứ vang lên mùa thu năm 1859 khi giặp Pháp trắng trợn nổ súng xâm phạm bán đảo Sơn Trà; đoàn nghĩa dũng Nam Hà ngày 29 tháng 2 năm 1860 cấp tốc hành quân vào kinh thành Huế xin được góp phần diệt giặc trên chiến trường Đà Nẵng và Gia Định; trận phục kích tàu chiến Pháp ngày 10 tháng 12 năm 1873 ở ngã ba Độc Bộ khi chúng tiến đánh thành Nam Định; ngọn cờ nghĩa phấp phới tung bay trên đỉnh núi An Hòa (huyện ý Yên) cuối năm 1873 làm khiếp đảm giặc Pháp và ngụy quyền tay sai trong vùng. Với phần sưu tập thơ văn, chân dung văn học của Phạm Văn Nghị cũng được bộc lộ cụ thể bằng những nét riêng biệt, độc đáo. Tác giả đã tỏ ra chừng mực khi tiến hành chọn lựa những bài tiêu biểu nhất của Phạm Văn Nghị về các thể loại, riêng về thơ chữ Hán chỉ giới thiệu 81 bài trong số gần 300 bài. Một dẫn chứng về thái độ thận trọng khi xác minh tài liệu: tác giả đã căn cứ vào tình trạng tài liệu mơ hồ khi sưu tầm được, vào mức độ nắm được hiện nay các tác phẩm Nôm của Phạm Văn Nghị, vào tính cách và phong thái của ông để “nghi ngờ một cách khoa học” rằng bài Phú kể lại việc Pháp đánh Bắc Kỳ lần đầu là không phải do Phạm Văn Nghị sáng tác, rồi quyết định không đưa bài đó vào công trình nghiên cứu của mình, mặc dù ông đánh giá đó là “một bài rất hay, cách sử dụng ngôn từ khá đạt, có câu gần đạt tới mức hùng văn” (tr.16).

Với phần Phụ lục cuốn sách, bạn đọc có thêm tư liệu để hiểu tư tưởng, tình cảm của người đương thời đối với Phạm Văn Nghị, cũng như vô cùng sung sướng được gặp lại những nhân vật yêu nước chống Pháp tiêu biểu cho cả một thời kỳ lịch sử đau thương nhưng anh dũng của dân tộc, như Nguyễn Quang Bích, Tống Duy Tân, Hồ Bá Ôn.

Đối với các thơ văn được chọn lựa đưa vào sách, tác giả đều xếp theo thứ tự thể loại, chữ Hán trước, chữ Nôm sau, đánh số theo thứ tự thời gian sáng tác, có ghi rõ xuất xứ, rất tiện cho người đọc theo dõi, tra cứu. Việc dịch cũng như việc chú thích đều bảo đảm những yêu cầu cần có cho một công trình nghiên cứu giới thiệu; dịch xuôi cố gắng sát nguyên văn, gọn, dễ hiểu, bảo đảm một phần âm điệu; dịch thơ cố gắng giữ niêm luật sát ý; chú thích tinh giản nhưng không quá sơ lược, đối với những trường hợp chưa rõ đều có ghi lại để tiếp tục nghiên cứu thêm.

Sẽ là một thiếu sót nếu không nhắc tới Lời Bạt đầu sách do Chu Văn viết, dưới một hình thức ngắn gọn đã đề cập tới những vấn đề cơ bản gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Văn Nghị, cũng như bước đầu đã phát biểu những suy nghĩ tâm đắc của người viết đối với các vấn đề cơ bản đó.

Trên đây là những ưu điểm nổi bật của công trình Thơ văn Phạm Văn Nghị. Tuy nhiên, đúng như Lời Bạt đã nhấn mạnh, đây chỉ “mới đi một bước đầu mở rộng sự trao đổi với các bạn xa gần, tạo điều kiện thuận lợi để hoàn chỉnh những tư liệu nghiên cứu về Phạm Văn Nghị” (tr.8). Vì vậy, về cả hai mặt nội dung và hình thức, sách Thơ văn Phạm Văn Nghị theo chúng tôi còn có một số điểm cần được trao đổi thêm để đi tới một nhận định đánh giá thống nhất.

Trước tiên cần xác định động lực nào đã thúc đẩy các chí sĩ Việt Nam - trong đó có Phạm Văn Nghị - không cúi nhận đầu hàng thực dân Pháp xâm lược. Có thực là “niềm tin vào chính nghĩa, vào sức mạnh của nhân dân là động lực thúc đẩy họ hoạt động, khiến kẻ thù phải gờm nể” như Lời Bạt đã khẳng định hay không? (tr.5).

Chúng tôi nghĩ rằng đúng là niềm tin vào chính nghĩa đã thúc đẩy các sĩ phu yêu nước đứng dậy khi thực dân Pháp xâm phạm Tổ quốc thân yêu. Nhưng chúng tôi cũng cho rằng trong khi đứng lên làm việc nghĩa thì các sĩ phu yêu nước đó lại thiếu một niềm tin cần thiết vào sức mạnh của nhân dân, của quần chúng, và đó chính là điều hạn chế thể hiện qua tâm sự bi đát của bộ phận sĩ phu yêu nước chống xâm lược Pháp của Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX. ở họ, điều mà chúng ta nâng niu trân trọng là lòng yêu nước thương nòi, yêu chính nghĩa, ghét gian tà. Chính những tư tưởng, tình cảm cao quí đó đã thúc đẩy họ hăng hái đứng lên lãnh đạo nhân dân các địa phương tiến hành một cuộc đấu tranh vũ trang quyết liệt, không cân sức, một mất một còn, với thực dân Pháp. Nhưng mặt khác cũng phải thấy rằng do họ xuất thân từ giai cấp phong kiến mà giai cấp này thì từ những năm đầu thế kỷ XIX đã đối lập sâu sắc với nhân dân cả nước - sự đối lập này được biểu lộ ra ngoài bằng một loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân ngày càng rộng lớn và mạnh mẽ - và đang tiến dần tới chỗ mất vai trò lịch sử với hành động ô nhục hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp. Do hạn chế ngặt nghèo của giai cấp xuất thân - mà lúc này giai cấp đó lại đang trên đường suy đốn - nên họ không có điều kiện nhận thức được đầy đủ sức mạnh của nhân dân, của quần chúng yêu nước. Đã xa rồi thời kỳ chế độ phong kiến Việt Nam trên đà phát triển đi lên, cái thời kỳ mà người đại biểu ưu tú cho giới nho sĩ yêu nước Việt Nam đã khẳng định sức mạnh của nhân dân vô cùng vĩ đại cho đó là sức mạnh “như nước” có thể “chở thuyền” và cũng có thể “lật thuyền”(2). Cho nên ngay từ lúc bắt đầu giương cao ngọn cờ nghĩa cho tới lúc hy sinh cho sự nghiệp cứu nước, các văn thân sĩ phu yêu nước chống Pháp nửa sau thế kỷ XIX chưa bao giờ dám tin vào thực lực của mình, vào kết quả của công việc mình làm; họ hành động vì việc nghĩa đòi hỏi, vì ý thức nghĩa vụ, vì tinh thần trách nhiệm với vua, với nước, theo tinh thần của người xưa:

Kiến nghĩa ninh cam dũng bất vi,
Toàn bằng trung hiếu tác nam nhi (3).

(Thấy việc nghĩa lẽ nào không dũng cảm ra làm,
Phải giữ trọng điều trung hiếu để xứng đáng là trang nam nhi).

Và như vậy thì làm sao có thể khẳng định rằng “nét đặc sắc khác trong tư tưởng yêu nước Phạm Văn Nghị là niềm lạc quan, tin tưởng ở thắng lợi của công cuộc chống giặc cứu nước” (Bài giới thiệu tr.25). Đứng lên làm việc nghĩa, Phạm Văn Nghị tin tưởng rằng “tự nhiên vẫn được non sông phù trì” (Thơ số 56), nhưng “non sông” ở đây không thể hiểu được là “một sức mạnh cụ thể được chứng thực bằng hành động hưởng ứng nhiệt liệt của nhân dân, trên ba trăm con em tham gia đội nghĩa dũng, bảy nghìn người đến ứng mộ trong vòng ba ngày khi ông dấy nghĩa ở An Hòa” (tr.25), mà chỉ là một sức mạnh tinh thần đặt cơ sở một cách mơ hồ, có tính chất thần bí, duy tâm chủ quan vào “gươm trời”, “oai trời”, vào lẽ “thuận nghịch”, vào thuyết “chính tà”. Chính vì lòng tin của ông dựa trên những cơ sở không vững chắc như vậy nên lời ông khẳng định “Người có nhân tính không ai không thấy giặc Tây ắt sẽ thua” (Thư hiểu dụ dân Gia Tô) đã không được thực hiện như ông mong muốn, và do đó ý kiến cho lời khẳng định của Phạm Văn Nghị rằng giặc Pháp nhất định sẽ thua là “hết sức sáng suốt” (tr.25) quả là có tính chất khiên cưỡng, thiếu cơ sở thực tế. Chúng tôi cho rằng có đi vào các đặc điểm tính cách và tâm lý gắn liền với các chí sĩ Việt Nam hồi nửa sau thế kỷ XIX nói chung và Phạm Văn Nghị nói riêng mới có thể giải thích được ở Phạm Văn Nghị “cái gì dường như trái ngược nhau, giữa hai chí hướng, giữa hai thái độ sống: nhàn tản, tiêu cực, lánh đời và hăng hái, tận tụy vào đời” (tr.36), thậm chí có thể giải thích được tại sao ông đã hai lần gieo mình xuống sông tự tử trong những lúc thất vọng cực độ, may đều được cứu thoát.

Một vấn đề khác là làm sao tìm hiểu, đánh giá thật đúng tư tưởng yêu nước của Phạm Văn Nghị. “Lời Bạt cũng như bài Giới thiệu đã dành những lời trang trọng khi nói tới tư tưởng yêu nước của Phạm Văn Nghị, đồng thời cũng vạch ra những hạn chế giai cấp và thời đại của nhân vật. Nhưng từ đó khẳng định rằng ông “có chí tạo thời thế” (Lời Bạt, tr.7) theo đúng nghĩa của từ này thì chúng tôi nghĩ rằng chưa thỏa đáng. Phạm Văn Nghị yêu nước sâu sắc, chống xâm lược quyết liệt, nhưng trong tư tưởng và hành động đã tỏ ra thiếu sáng suốt thức thời. Chế độ phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX đang lao sâu vào thế suy yếu trầm trọng, lực lượng vật chất và tinh thần của nhân dân ta bị sự thống trị của phong kiến triều Nguyễn hủy hoại đến mức cùng cực. Đúng vào lúc đó thì tư bản Pháp nổ súng đánh chiếm Việt Nam. Tình thế cực kỳ nghiêm trọng đó chỉ có thể cứu vãn nếu nhà cầm quyền sớm biết mở đường cho xã hội tiến lên, tăng cường lực lượng vật chất và tinh thần của nhân dân để có đủ khả năng bảo vệ đất nước. Thế nhưng một triều đại tối phản động, ngay từ những ngày đầu cầm quyền đã đối lập kịch liệt với nhân dân cả nước, không những đã hoàn toàn bất lực trước yêu cầu lịch sử bức thiết đó, mà còn là một trở ngại kìm hãm xã hội Việt Nam trên bước đường tiến lên. Khả năng tích cực nhất có thể xảy ra có lợi cho dân tộc trong những điều kiện cụ thể của Việt Nam lúc đó là triều Nguyễn bị quật đổ bởi một phong trào quần chúng rộng lớn, và thay thế vào đó là một triều đại khác tiến theo hướng mới của chủ nghĩa tư bản mạnh dạn duy tân đất nước cho phú quốc cường binh, trên cơ sở đó mới bảo vệ được độc lập dân tộc.

Trong những điều kiện lịch sử cụ thể như vậy, Phạm Văn Nghị lại “không đủ sáng suốt để hiểu rõ thời thế”, “tấm cô trung của một nho thần mà ông ôm ấp buộc ông cứ phải đội lên đầu tất cả những bất công ngu muội của đám vua tôi triều Nguyễn” (Lời Bạt, tr.7). Ông lại còn đứng về phía triều đình sâu mọt để lớn tiếng lên án, những thủ lĩnh của phong trào nông dân khởi nghĩa hồi bấy giờ, kể cả nhà nho bất khuất Cao Bá Quát. Và một khi đã không thức thời, thiếu sáng suốt, trong tư tưởng và hành động đã tỏ ra bảo thủ thì làm sao có thể nói là “có chí tạo thời thế” được? Vì dù có đánh bại được thực dân Pháp xâm lược để khôi phục chế độ phong kiến độc lập thì chế độ đó cũng đã lỗi thời, không còn thích hợp với sự phát triển của xã hội Việt Nam hồi đó nữa!

Vấn đề thứ ba cần được trao đổi thêm là tìm hiểu xem trong hoàn cảnh Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX, trước sự tấn công hung bạo của tư bản Pháp, thế nào là một thái độ thực sự yêu nước? Lời giới thiệu viết: “Lúc ấy có không ít người thực sự yêu nước, nhưng vẫn đang lưỡng lự chiến hay hòa, đang lo ngại cho thực lực của ta còn quá yếu kém” (tr.24).

Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng một khi tiếng súng xâm lược của tư bản Pháp vang nổ (1858) thì giai cấp phong kiến đã nhanh chóng phân hóa thành hai phái chủ chiến và chủ hòa; phải chủ hòa bao gồm phần lớn bọn đại phong kiến quý tộc và quan lại cao cấp trong triều, ngoài địa phương với vua Tự Đức đứng đầu sẽ nhanh chóng đi từ nhượng bộ này tới nhượng bộ khác để cuối cùng câu kết làm tay sai cho giặc trong việc đàn áp bóc lột nhân dân cả nước. Xu hướng chủ hòa tai hại lúc đó được bộc lộ ra ngoài bằng nhiều luồng tư tưởng, như “chiến không bằng hòa”, “thử hòa”, “duy thủ”… đều phản ánh một thực tế chua xót là tinh thần thất bại chủ nghĩa, sợ súng ống của chủ nghĩa tư bản phương Tây rất nặng nề trong giai cấp phong kiến cầm quyền. Thái độ duy nhất đúng, thái độ thực sự yêu nước bấy giờ của người Việt Nam chỉ có thể là kịp thời đứng dậy chống giặc bảo vệ độc lập dân tộc đang bị kẻ thù uy hiếp nghiêm trọng. Há chẳng phải một nho sĩ - cũng là học trò của Phạm Văn Nghị - vừa ốm dậy nghe tin thầy học và các bạn bè vào Đà Nẵng chặn giặc - đã vô cùng xúc động và tiếc rằng mình không được chung vinh dự đó hay sao?

Văn đạo tiên sinh xuất đổng nhung,
Bệnh lại khan kiếm độc xung xung(4)

(Nghe nói tiên sinh đã ra gánh vác việc quân,
Tôi mới ốm dậy, nhìn thanh gươm, một mình trong dạ thổn thức)

Cuối cùng xin góp một số ý kiến vào việc chú thích thơ văn. Nói chung việc chú thích làm tốt, bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, tinh giản. Nhưng cũng có những trường hợp nhân vật hay địa danh có thể chú thích đầy đủ hơn để giúp bạn đọc ngày nay có điều kiện hiểu sâu sắc hơn nội dung thơ văn Phạm Văn Nghị. Như bài Thần Đầu song miếu (Đề hai ngôi miếu ở cửa biển Thần Đầu, tr.71) với chú thích 2, chỉ mới giới thiệu được người anh là Lê Quảng Chí, còn người em là Lê Quảng ý thì chưa. Nên căn cứ vào Đại Nam nhất thống chí (Hà Tĩnh) để ghi thêm Lê Quảng ý đỗ đồng Tiến sĩ đời Cảnh Thống, làm Hàn lâm viện kiêm lãnh tứ thành binh mã, tước Bảng quận công, sau khi mất được phong làm Phúc thần. Trường hợp bài Tiễn Thiên Trường thái thú Nguyễn Trọng Hợp lại kinh (Tiễn Thái thú Thiên Trường Nguyễn Trọng Hợp vào Kinh, tr.141), lẽ ra nên giới thiệu tiểu sử Nguyễn Trọng Hợp để người đọc thấy rõ ông ta có thời kỳ giữ chức Tổng đốc Định - An (Nam Định và Hưng Yên), và mấy chữ Thái thú Thiên Trường dùng ở đây để chỉ chức vụ đó. Cũng như đối với trường hợp Lê Tuấn trong bài Nguyên đán nhật tiếp Khâm sai đại thần huệ tiên thi dĩ đáp chi (Ngày nguyên đán, tiếp thư của quan Khâm sai đại thần, làm thơ đáp lại, tr.129), nên nói rõ Lê Tuấn quán xã Hà Trung, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh, sung chức Bắc Kỳ thị sứ đại thần thì người đọc mới nắm được bối cảnh, cũng như hiểu được các ý của bài thơ:

Sơn hà ngẫu đa cố,
Ngô quân chính huyền huyền.
Đại nhân đề sứ tiết,
Sơn tu phục hải nhiên.
Chủ ưu nghi thần lao,
Hà nhật dương khải hoàn.

(Non sông bỗng lắm việc rắc rối,
Vua ta cũng đương lo lắng.
Ngài mang cờ sứ tiết ra đây,
Từ miền núi đến miền bể.
Vua lo bầy tôi tất phải nhọc,
Ngày nào hát khúc khải hoàn?)

Về địa danh, có trường hợp cần được chú thích kỹ hơn, nhất là nên cố gắng nói rõ cả tên hiện nay để người đọc dễ theo dõi. Như chú thích 2 bài Bính Ngọ xuân,, Thiệu Trị lục niên…, xuất thành dữ chủ sinh biệt (Ngày 9 tháng 2 năm Bính Ngọ, Thiệu Trị thứ sáu…, ra khỏi thành, cùng học trò từ biệt, tr.65), là nói tới bến Đông Gia, một nơi buôn bán sầm uất, thuyền bè tấp nập trên sông Hương, trước khi muốn đi đường thủy ra Bắc thì xuống thuyền ở đây. Với bài An Dương vương miếu (Đền thờ An Dương vương, tr.72), sau nguyên chú của Phạm Văn Nghị thiết tưởng nên thêm đền An Dương vương nay thuộc xã Diễn An, huyện Diễn Châu (Nghệ Tĩnh), tục gọi đền Công. Bài Ninh Du trạm (Trạm Ninh Du, tr.72), nên xác định cụ thể địa điểm Ninh Du nay thuộc xã Ninh Giang, huyện Hoa Lư, tỉnh Hà Nam Ninh. Đó là chưa nói tới địa điểm Trường Yên khi thì chú thích ở huyện Hoàn Long (tr.22), khi lại chú thích ở huyện Hoa Lư (tr.144), trong tình hình có nhiều biến đổi về địa danh hiện nay, người đọc thật khó theo dõi.

*
**

Trên đây là một số suy nghĩ bước đầu của chúng tôi nhân đọc sách Thơ văn Phạm Văn Nghị và cũng là một vài ý kiến góp phần nhận định đánh giá nhân vật Phạm Văn Nghị, qua đó mở rộng ra nắm bắt tư tưởng và tình cảm của bộ phận văn thân sĩ phu yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX một cách đúng đắn, sát hợp hơn, tránh mọi sự suy diễn, áp đặt.

CHÚ THÍCH

(1) Nguyễn Văn Huyền - Nxb. KHXH, H. 1979. Sách này ra mắt bạn đọc đã lâu, nhưng cho tới nay vẫn có thể khẳng định là công trình đầu tiên giới thiệu hoàn chỉnh sự nghiệp và thơ văn Phạm Văn Nghị.

(2) Nguyễn Trãi: Bài thơ Quan hải.

(3) Hai câu thơ, của Hồ Huân Nghiệp một sĩ phu chống Pháp lỗi lạc của miền Nam trong những ngày đầu chống xâm lược Pháp, đọc trước giờ bị hành hình.

(4) Bình Hồ Nguyễn thái thú - Văn Nam Định Đốc học Phạm Nghĩa Trai Phụng chiếu bình tặc (Phụ lục, số 1)./.

TB

VỀ BÀI "DI CHÚC" CỦA
NGUYỄN KHUYẾN

NGUYỄN QUẢNG TUÂN

Trong Tạp chí Hán Nôm số 2 (9) - 1990, ông Tảo Trang có viết Về những bài thơ Hán Nôm tự dịch của Nguyễn Khuyến và có nêu ra sự nghi ngờ về bài Di chúc mà ông cho rằng “không chắc do chính tác giả tự dịch”.

Lời nhận xét trên của ông Tảo Trang là rất đúng. Chúng tôi xin bàn thêm về hai điểm: Nguyễn Khuyến đã viết bài Di chúc(1) năm bao nhiêu tuổi và ai là dịch giả bài Di chúc ấy.

1. Nguyễn Khuyến đã viết bài “Di chúc” năm bao nhiêu tuổi ?

Mở đầu bài di chúc, Nguyễn Khuyến đã viết:

Ngã niên cập bát bát,
Ngã số phùng cửu cửu.
Hai câu ấy có thể dịch là:
Tuổi ta vừa tám tám,
Số ta gặp vận dương cửu.

Vậy “tám tám” là bao nhiêu tuổi? Có phải là tám mươi tám tuổi hay là tám lần tám tức sáu mươi tư tuổi?

Đọc lại các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến chúng ta còn thấy có bài Thư thị chư nhi cũng có hai chữ “bát bát” trong câu mở đầu.

Bài ấy nguyên văn như sau:

Ngã niên vị bát bát,
Nha xỉ nhất dĩ thoát.
Lưỡng nhãn tiệm hôn hoa,
Đầu thượng bán bạch phát.
Phù sinh nhất túc diểu,
Quân ân thương hải khoát.
Tư dục hiệu quyên ai,
Bất năng tự chấn bạt.
Nhật vọng nhĩ bối thành,
Vi sơn thủy nhất loát.
Lập tâm yếu khiêm hòa,
Nhất ngôn thẩm cơ quát.
Thận vật sự kiêu xa,
Thận vật mộ diêu thát.
Đương niệm nhĩ phụ tâm,
Viễn tư lao đát đát.
Đương niệm nhĩ tổ đức,
Bách niên kim thủy phát.
Miễn chi hựu miễn chi,
Vô phụ thử y bát.

Diễn quốc âm:

Răn bảo các con
Tuổi ta chưa tám tám,
Một chiếc răng đã rơi.
Cặp mắt mờ dần mãi,
Mái đầu bạc nửa rồi.
Tấm thân nhỏ hạt thóc,
ỏn nước rộng duềnh khơi.
Những muốn lo đền lại,
Kém tài chịu lép thôi.
Ngày mong các con khá,
Vì xứ sở tranh hơi.
Khiêm tốn nên giữ nếp,
Nói năng phải lựa lời.
Chớ kiêu xa học thói,
Chớ phiếm lãng như ai.
Nên nghĩ lòng cha đó,
Xa lo, dạ rối bời.
Nên nhớ công đức tổ,
Tích lũy hàng đời người.
Phải ra công gắng sức,
Nếp cũ chớ bỏ hoài.

Bài thơ này được chép trong quyển Tam nguyên Yên Đổ của Hoàng ý Viên, xuất bản năm 1957 ở Sài Gòn.

Trong phần chú thích soạn giả có ghi chú: “Vị bát bát: tuổi chưa đầy tám tám, tức là chưa đầy sáu mươi tư tuổi”.

Lời chú thích ấy kể như là đúng vì các cụ ta xưa thường tính tuổi theo lối nhân như đôi tám (2 x 8 = 16), đôi mươi (2 x 10 = 20), ba bảy (3 x 7 = 21), thất cửu (7 x 9 = 63) bát bát (8 x 8 = 64), ngũ tuần (5 x 10 = 50), bát tuần (8 x 10 = 80) v.v… Hơn nữa một người chưa “bát bát” (64 tuổi) thì cũng rất đúng với chi tiết “Nha xỉ nhất dĩ thoát” (một chiếc răng đã rơi) và “Đầu thượng bán bạch phát” (Mái đầu bạc nửa rồi). Nếu là một người đã bát thập bát (88 tuổi) thì phải như ông già ở Tân Phong mà Bạch Cư Dị đã tả:

Tân phong lão ông bát thập bát,
Đầu mấn tu mi giải tự tuyết.

Nghĩa là:

Ông già ở Tân Phong tuổi tám mươi tám,
Đầu tóc mày râu đều trắng như tuyết.

Thế thì 88 tuổi phải nói là “bát thập bát” chứ không thể nói là “bát bát” được.

Bát bát, nếu theo lối tính tuổi xưa, là 64 tuổi hoặc cũng có thể hiểu là “tuổi đã già” như Từ nguyên đã chú thích “lão thành giả hô bát bát”.

Như vậy năm Nguyễn Khuyến viết bài thơ Di chúc có thể là năm cụ vừa 64 tuổi.

Năm ấy, 1898 (năm Mậu Tuất) là năm Dương Khuê mất.

Khi nghe tin bạn qua đời, cụ có làm bài thơ Khóc bạn(2) nguyên văn bằng chữ Hán và sau đó cụ có tự diễn Nôm.

Trong bài thơ Nôm chúng ta đọc thấy có đoạn như sau:

Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày.
Làm sao bác vội về ngay,
Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời…

Thấy bạn chết, nghĩ đến mình cũng đương đau bệnh, chưa biết sống chết ra sao, nên năm ấy cụ đã viết bài Di chúc để dặn lại con cháu. Nhưng rồi cụ lại qua khỏi cơn bệnh và sống mãi tới năm 1909, thọ 75 tuổi.

Ngã niên cập bát bát

Phải dịch lại là

Kém sáu tuổi xuân đầy bảy chục

cho đúng với tuổi thực của cụ (64 tuổi) khi viết bài thơ Di chúc .

2. Ai là dịch giả bài thơ ”Di chúc”:

Theo quyển Thơ văn Nguyễn Khuyến(3) thì: “các sách chép thơ của Nguyễn Khuyến” còn lưu trữ ở thư viện Khoa học xã hội đều ghi là tác giả diễn âm, nhưng theo ý kiến một số cụ già ở địa phương nhà thơ, thì bài này do cụ Trần Tán Bình dịch trong buổi lễ đưa ma cụ Nguyễn Khuyến.

Về lời chú thích trên, ông Tảo Trang đã có nhận xét:

a. Nếu là tác giả tự dịch thì không khi nào có sự nhầm lẫn thô bạo đến như thế về tuổi thọ của mình.

b. Nếu là của Trần Tán Bình dịch ngay trong khi đưa đám cụ Nguyễn Khuyến thì cũng là điều đáng ngờ vì “là môn sinh và dịch ngay trong tang lễ” thì không thể nào lại không biết rõ tuổi thầy để đến nỗi dịch sai đi tới 10 tuổi. Điều nhận xét ấy rất xác đáng vì sự thực thì dịch giả bài Di chúc không phải là Nguyễn Khuyến (tác giả tự dịch) hoặc Trần Tán Bình, một môn sinh của tác giả.

Theo quyển Tam nguyên Yên Đổ của Hoàng ý Viên thì bài Di chúc đã có hai người diễn ra quốc âm là Vũ Huy Chiểu (Tú tài Hán học) và Đào Vũ Môn (Cử nhân Hán học).

Vũ Huy Chiểu đã dịch theo thể ngũ ngôn:

Ngã niên cập bát bát,
Ngã số phùng cửu cửu.
Ta tai ngã đức lương,
Thọ kỷ mại tiên khảo.
Ta tai ngã học thiển,
Khôi nguyên chiếm long thủ!
Khởi phi tiên khảo linh,
Lưu dĩ tích nhĩ phụ?
Khởi phi tiên khảo danh,
Bất tố dĩ di hậu?
Bình nhật vô thốn công,
Phủ ngưỡng dĩ tạm phụ.
Tử hạnh đắc toàn quy,
Táng hạnh đắc thân phụ,
Túc hĩ phục hà cầu,
Tử táng vật yêm cửu.
Quan khâm bất khả mỹ,
Chỉ dĩ liệm thủ túc.
Cụ soạn bất khả phong,
Chỉ dĩ đáp bôn tẩu.
Bất khả tả chúc văn,
Bất khả vi đối cú.
Bất khả thiết minh tinh,
Bất khả đề thần chủ.
Bất khả đạt môn sinh,
Bất khả phó liêu hữu.
Tân bằng bất khả chiêu,
Phúng điếu bất khả thụ.
Thử giai lụy ư sinh,
Tử giả diệc ô hữu.
Chỉ dĩ trọng ngô quá,
Tương lai cánh đa khẩu.
Duy ư táng chi nhật,
Kỳ biển dẫn tiền đạo.
Ca công bát cửu nhân,
Suy tống liệt tả hữu.
Thảo thảo táng ngã hoàn,
Chước ngã dĩ đẩu tửu.
Sở đắc tân sắc, bằng,
Phong hoàn nạp súy phủ.
Viên đề mộ thạch bi,
Hoàng Nguyễn mỗ hưu tẩu.

Dịch nghĩa:

Tuổi tám tám vừa tới,
Số cửu cửu trùng phùng.
Than ôi! Đức thầy mỏng,
Mà thọ hơn tiên công.
Than ôi! Học thầy kém,
Mà đỗ đầu bảng rồng!
Chả phải đức tiên khảo,
Để cho thầy đất không
Chả phả tiếng tiên khóc
Để cho thầy làm xong?
Công lao chưa một tấc,
Ngửa cúi luống thẹn thùng.
Nay về được toàn vẹn,
Táng gần mộ tổ tông.
Đủ rồi, cần chi nữa,
Ma chay chớ dài dòng.
Khâm liệm không hoa mỹ,
Đủ gói ghém là cùng.
Cỗ bàn không bày vẽ,
Đủ đãi người hộ tùng.
Văn tế không nên viết,
Câu đối không nên dùng.
Không minh tinh ngất ngưởng,
Không đề chủ viển vông.
Môn sinh không đạt giấy,
Liêu hữu không báo chung.
Phúng viếng không được nhận,
Bè bạn không mời đông.
Chỉ lụy cho kẻ sống,
Người chết đâu còn mong.
Chẳng những thầy mang tiếng,
Chỉ nghị thêm bận lòng.
Chỉ riêng ngày cất đám,
Cờ biển đi trước vong.
Đôi bên dàn kèn trống,
Bảy tám người nhạc công.
Thành phần xong đâu đấy,
Khấn thầy chén rượu nồng.
Còn bằng, sắc mới được,
Nộp súy phủ nguyên phong.
Đề bia dựng trước mộ,
Hoàng Nguyễn mỗ hưu ông.

*
**

Đào Vũ Môn đã dịch theo thể song thất lục bát:

Kém sáu tuổi xuân đầy bảy chục(4),
Số sinh ra gặp lúc dương cùng.
Đức thầy đã mỏng mòng mong,
Tuổi già so với tiên công lại nhiều!
Học cũng chẳng cao siêu chi cả,
Chiếm bảng vàng may đã ba phen.
Tuổi này tuổi của gia tiên,
Để cho thầy được hưởng niên lâu dài.
Nhờ phúc trạch các ngài để lại,
Công việc nhà nay mới tạm xong.
Ơn trên chưa chút đền công,
Cúi nom hổ đất, ngửa trông thẹn trời.
Sống để tiếng trên đời trọn vẹn,
Chết lại gần quê quán hương thôn.
Mới hay trăm sự vuông tròn,
Cam trân đã trải, chết chôn chớ nề.
Đồ khâm niệm chớ hề xấu tốt,
Kín chân tay đầu gót thì thôi.
Cỗ bàn con chớ vẽ vời,
Hễ ai chạy đến khuyên mời người ăn.
Tế đừng có viết văn mà đọc,
Đối trướng đừng gấm vóc mà chi.
Minh tinh con cũng bỏ đi,
Mời quan đề chủ, con thì chớ nên.
Môn sinh chớ tốn tiền đạt giấy,
Bạn với thầy cũng vậy mà thôi.
Khách quen con chớ nên mời,
Những đồ phúng viếng con thời chớ thu.
Chẳng qua chỉ lụy cho người sống,
Chết đi rồi còn ngóng vào đâu.
Lại mang cái tiếng to đầu,
Khi nay bày biện, khi sau chê bàn.
Cờ biển được tặng ban ngày trước,
Lúc đưa thầy con trước đầu tiên.
Có chăng một bọn thợ kèn,
Đi theo linh cữu, mỗi bên dăm người
Cuộc tống táng sơ sài qua quít,
Chuốc cho thầy một ít rượu nồng.
Sắc bằng mới được tặng phong,
Các con tức khắc niêm phong trả về.
Việc ghi nhớ dựng bia trước mộ,
Để ngàn sau được rõ dấu xưa.
Bia đề mấy chữ đơn sơ,
Rằng: “Quan triều Nguyễn, tuổi già cáo hưu”.
Đ.V.M dịch

Như vậy bài Di chúc đã rõ ràng không phải do tác giả tự dịch.

*
**

Qua hai phần trình bày ở trên, chúng ta có thể biết được Nguyễn Khuyến đã viết bài Di chúc vào năm 1898, khi cụ mới có 64 tuổi và bài di chúc ấy đã được Vũ Huy Chiểu và Đào Vũ Môn diễn ra quốc âm(5). Trong khi bản diễn quốc âm ấy, bản của Đào Vũ Môn được phổ thông hơn nhưng đã dịch sai câu đầu khiến cho có sự nghi ngờ về tuổi thọ của tác giả.

CHÚ THÍCH

(1) Bài này có nhan đề nữa là Tri mệnh. “Tri mệnh” là lời dặn lại khi còn tỉnh táo trước khi chết.

(2) Chính nhan đề là Vãn đồng niên vân Đình Tiến sĩ Dương Thượng thư (Viếng bạn đồng niên là Vân Đình Tiến sĩ Thượng thư họ Dương).

(3) Thơ văn Nguyễn Khuyến, Nxb. Văn học, In lần thứ hai, H.1979.

(4) Nguyên văn bản dịch của Đào Vũ Môn là “Kém hai tuổi xuân đầy chín chục”.

(5) Trong quyển Nguyễn Khuyến - tác phẩm của Nguyễn Văn Huyền sưu tầm (Nxb. Khoa học xã hội) còn có bài dịch của Ngô Linh Ngọc.

TB

MỘT CÁCH HIỂU BÀI THƠ "SINH LÃO BỆNH TỬ" CỦA NI SƯ DIỆU NHÂN

PHAN HỮU NGHỆ

Ni sư Diệu Nhân (1041-1113) tức Lý Ngọc Kiều, người hương Phù Đổng, huyện Tiên Du, Bắc Ninh, con gái đầu của Phụng Càn Vương Lý Nhật Trung (con Lý Thái Tông).

Sau khi chồng chết, bà không tái giá mà đi tu, là học trò của thiền sư Chân Không và là người đứng đầu thế hệ thứ 17 của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi thời Lý.

Bài thơ Sinh lão bệnh tử của bà là lời phát biểu khá độc đáo về lẽ “sinh” “tử” - một vấn đề nhân sinh được nhiều thiền sư thuộc phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi quan tâm xem xét.

Nguyên văn bài thơ như sau:

Sinh lão bệnh tử,
Tự cổ thường nhiên.
Dục cầu xuất ly,
Giải phọc thiêm triền.
Mê chi cầu Phật,
Hoặc chi cầu Thiền.
Thiền Phật bất cầu,
Đỗ khẩu vô ngôn.

Dịch nghĩa:

Sinh già bệnh chết,
Từ xưa thường vậy.
Muốn tìm thoát ra,
Cởi trói quấn vào.
Mê mà cầu Phật,
Hoặc mà cầu Thiền.
Thiền Phật không cầu,
Ngậm miệng không nói.

Bài thơ Sinh lão bệnh tử của Ni sư Diệu Nhân đã nói tới những điều rất phổ thông bình thường, tưởng như đã nhàm chán, không còn được ai chú ý tới nữa. Thế mà khi được tác giả khơi dậy thì lại trở thành vấn đề mới mẻ, như chưa từng được ai quan tâm giải quyết rành mạch cả. Có phải hàng ngày, người ta vẫn nghĩ về sức khoẻ của mình, tìm cách thoát khỏi nỗi khổ “sinh lão bệnh tử”? Tuy là sự lo lắng của muôn đời, nhưng đã có ai chỉ ra nguyên nhân của nỗi khổ đó một cách rành rẽ như trong bài thơ này?

Bài thơ có hình thức rất giản dị nhưng đã chứa đựng một nội hàm thật sâu sắc. Nói được việc Thiền nhưng cũng sáng tỏ cả việc đời. Đọc thơ, người ta có thể nhận ra ở trong đó đã thể hiện một bản lĩnh tuyệt vời và một tấm lòng từ bi bác ái sâu sắc của Ni sư dành cho chúng sinh “mê hoặc”.

Vào bài bằng hai câu thơ rất tự nhiên: “Sinh lão bệnh tử, tự cổ thường nhiên” (Sinh ra già bệnh và chết, từ xưa thường vậy). Đúng là thế! Nhưng lại chưa đủ! Đời người trải qua, còn phải thêm thời kỳ “trưởng thành” (lớn lên và sung mãn) mới đầy đủ. Sao thơ lại rút vào bốn thời kỳ? Đó là sự lựa chọn của thơ ! Thơ không phải là liệt kê đầy đủ tất cả, để rồi không nói được gì. Thơ cần sự cô đúc lời để tạo ra ý. Nếu thơ nói đầy đủ “sinh (ra), lớn lên, sung mãn, già yếu, bệnh tật và chết” như nó đã có trong đời người thì ai chẳng biết, cần gì phải đưa vào thơ? Nhưng chỉ nêu bốn giai đoạn là có lý riêng của thơ. Có phải “sinh” là điểm khởi đầu của đời người, không có nó thì có chuyện gì mà bàn ? Với thơ cũng vậy! Lại cũng không vì thế mà đã thành chuyện cần bàn. Nó chỉ là điểm xuất phát tự nhiên của thời kỳ vô thức, như các sinh vật khác. Cho nên có nó rồi, cũng không có chuyện gì để bàn. Nhưng phải có nó mới có thể chuyển sang giai đoạn khác cần bàn. Nó (sinh ra) như là có thì thừa, không có thì thiếu (giữ tính trung hòa) nên vẫn phải có. Đó là cách lựa chọn từ “sinh” của thơ (trong thơ không có từ nào là không có lý do tồn tại của nó). Về thời kỳ “trưởng thành” là thời kỳ cực thịnh của đời người. Thời kỳ này “dục vọng” cũng phát triển viên mãn. Như vậy, dục vọng và quy luật phát triển song song đồng hành, không có gì mâu thuẫn cả (không có chuyện gì để nói). Vì vậy thơ loại ra không nói là cái lý ấy. Đến thời kỳ “già, bệnh và chết” là thời kỳ thể lực suy sụp, nhưng dục vọng vẫn còn cường thịnh. Con đường của “dục vọng” với quy luật “sống” không còn song hành đi lên nữa, mà đến chỗ phân chia đôi ngả trái ngược nhau. Do đó mới tạo nên thế mâu thuẫn giữa “dục vọng” và quy luật. Tác giả chọn giai đoạn mâu thuẫn để bộc lộ ý thơ là rất đẹp. Giải quyết mâu thuẫn này sẽ lộ ngay ra người thông minh sáng suốt, kẻ tối tăm ngu muội. ở đó sẽ phơi bày ra hai lối sống, hai cách nhìn khác nhau - cách của bậc chân tu đắc đạo và cách của người bình thường. Cho nên “Sinh lão bệnh tử” thể hiện ý thơ là như vậy.

Câu hai bổ sung cho một câu, làm rõ hơn cách “đốn ngộ “ (hiểu) về “Sinh lão bệnh tử” của bậc chân tu. “Tự cổ thường nhiên (Từ xưa thường vậy). Đây là quy trình của một quy luật tồn tại khách quan, ngoài ý muốn của cong người. Hiểu như vậy có nghĩa là tự giác không can thiệp, không cản trở sự vận động hành của quy luật. Hiểu ra được điều này không dễ dàng một chút nào. Những người lòng đầy ắp dục vọng, dục vọng lấn át trí tuệ, đâu còn dễ dàng chấp nhận “sinh lão bệnh tử” là Thường niên” nữa?

Câu thơ trên đã diễn tả một cách nhìn xuất phát từ một bản lĩnh siêu việt và một cái tâm ổn định. Bản lĩnh không bị vật dục chi phối. Còn cái tâm cũng vững vàng không bị ngoại cảnh tác động, “bất biến” trước “vạn biến” của các hiện tượng, kể cả những hiện tượng biến đổi trên cơ thể mình (như sự già yếu bệnh tật). Đối lập với cách nhìn này là một cách nhìn lệ thuộc hoàn toàn vào “dục vọng”. Cho nên hai câu thơ trên, nhà thơ không trực tiếp nói đến dục vọng là yếu tố chính, chi phối mọi hoạt động của đời thường và là nguyên nhân chính gây nên nỗi đau “truyền kiếp” của con người (tự nhiên). Nhưng qua cách trình bày, người đọc cũng nhận ra điều đó.

Từ cách nhìn “đốn ngộ” của nhà sư được thể hiện trong hai câu thơ trên, đã làm rõ ra được bản lĩnh tu hành vững vàng để đạt tới cái tâm ổn định trước ngoại cảnh luôn luôn biến đổi. Dù cho cái thân ở thời điểm nào - thịnh hay suy, thì cái tâm cũng không vì thế mà chao đảo nghiêng ngả. Đó là cái tâm “tồn tại độc lập với ngoại cảnh”.

Nhưng với đời thường lại hoàn toàn có cái nhìn khác, mà hai câu ba và bốn đã thể hiện: “Dục cầu thoát ly, giải phọc thiêm triền” (mong muốn thoát khỏi {sinh lão bệnh tử], [nên bụng nghĩ] cởi trói [mà tay lại] quấn thêm vào. Câu thơ đã phơi bày rõ mồn một cái “đích thực” của dục vọng. Mong muốn của con người là thoát khỏi “sinh lão bệnh tử” để trở thành trẻ mãi không già trường sinh bất tử. Tức là muốn thành loài khác, không phải là loài người; muốn như “thần tiên” trường tồn với vũ trụ! Thật là một cuồng vọng! Phật cũng mang cái thân “giới hạn” thì làm sao thỏa mãn cuồng vọng này của họ? Đó là một dục vọng quá lớn, một tham vọng quá nhiều. Mà dục vọng là đòi hỏi của bản năng, chỉ có sự hiểu biết, sự thức tỉnh mới là sản phẩm của trí tuệ. Dục vọng càng lớn thì trí tuệ càng cạn. Dục vọng vô độ thì trí tuệ không còn. Dục vọng được thể hiện trong câu thơ này, còn được coi là cái mốc cuối cùng phân chia hai ngả đường phát triển của con người. Một ngả phát triển theo dục vọng để giữ nguyên con người bản năng (những người hoạt động theo nhu cầu của bản năng). Một ngả thứ hai phát triển trí tuệ, thành con người “đốn ngộ” (mọi hoạt động đều theo cách của “đốn ngộ”). Cho nên, dục vọng vô độ, tất nhiên là không đủ thông minh để nhận ra lẽ phải, mà ở đây nhà thơ đã diễn tả bằng việc cởi trói: “giải phọc thiêm triền” (cởi trói [mà tay] lại quấn thêm vào). Cởi trói là việc đơn giản nhất, nhưng tại sao bụng nghĩ cởi ra, mà tay lại quấn vào? Đó là để diễn tả một tâm trạng rối bời. Cái tâm không yên tĩnh, nên cái trí rối bời. Rối trí mà đến mức không điều khiển nổi cái tay của mình, thì nói gì đến việc làm ngoài tầm tay? Việc cởi trói không khó, không phụ thuộc vào bên ngoài, chỉ cần một cái tâm yên tĩnh là có thể gỡ ra được mối. Câu thơ miêu tả cử động của cái tay nhưng để nói về cái tâm. Cái tâm xáo động, nên không còn có thể điều khiển nổi cái tay!

Những người lao vào con đường này, được nhà thơ gọi đúng tên là “kẻ mê hoặc”. “Mê chi cầu Phật, hoặc chi cầu Thiền” (Mê mà cầu Phật, hoặc mà cầu Thiền)(1). Lời thơ rút gọn như vậy, nhưng ý thơ lại diễn giải một chân lý thật rõ ràng. Khi đã mê hoặc (tâm rối bời) thì cầu Thiền Phật phỏng có ích gì? Người đã mê hoặc, tâm trí rối loạn, đến cái tay không còn điều khiển nổi, thì làm gì còn cái tâm yên tĩnh để tiếp nhận lời dạy chân thành? Họ chỉ còn một mong muốn duy nhất là tìm cách thoát ra khỏi “sinh lão bệnh tử”. Cho nên chỉ những lời nói hợp với ý muốn ấy, mới lọt tai họ. Còn những lời nói khác đều trở nên “nghịch nhĩ” cả. Họ cần Thiền Phật là muốn Thiền Phật “làm theo” điều họ mong muốn; chứ đâu phải coi Thiền Phật là đấng khai quang tâm nhãn cho họ? Hơn nữa, Thiền Phật thừa nhận “sinh lão bệnh tử” là thường niên (quy luật). Thiền Phật không có phép lạ nào ngoài sự “đốn ngộ” để hiểu ra quy luật. Người nào giữ được cái “thường nhiên” này sẽ là Phật. Ai đánh mất bảo bối này, tức là lạc vào bến mê hoặc, sẽ trở về gốc cũ là con người thường. Vì vậy, việc cầu Thiền Phật “làm theo” dục vọng của mình là việc làm vô ích và vô vọng!

Chỉ bằng hai câu thơ mà tác giả đã gạt bỏ được sự mê hoặc về Phật, gạt bỏ được sự ngộ nhận về Phật có phép lạ; đồng thời làm sáng tỏ được giá trị đích thực của Phật là “đốn ngộ” về cái “thường niên”.

Đến hai câu kết, câu bảy và tám. “Thiền Phật bất cầu, đỗ khẩu vô ngôn! (Không cầu Thiền Phật, ngậm miệng không nói)(2). Khi chúng sinh còn đang ngụp lặn trong “biển tối u minh” đang hoang mang đến cực độ, lại bị mê hoặc về Phật có phép lạ, có thể giúp họ giải thoát mọi nỗi khổ, thì câu thơ “không cầu Thiền Phật” là một lời cảnh tỉnh mạnh mẽ, có thể gây nên cơn “sốc” mạnh cho kẻ mê hoặc chăng? Đời thường xưa nay vẫn tưởng đi tu, hay tìm đến cửa Phật là nhờ sự che chở, sự cứu giúp của Phật (tức là mê hoặc Phật có phép lạ). Nay nhà thơ lại nói “không cầu Thiền Phật”, tức là khẳng định Phật chẳng có phép lạ, có thể thỏa mãn dục vọng của người đời (Đừng làm chuyện uổng công vô ích ấy). Sự phủ nhận này rất quan trọng. Nó khẳng định rằng Thiền tông không mang thứ men say tôn giáo, không có phép lạ, không mê hoặc ai. Thiền tông chỉ là sự thức tỉnh, sự “đốn ngộ” - một sự lao động trí tuệ thuần túy để nhận ra và hiểu rõ những cái “thường nhiên” ấy, tiến đến tự giải thoát mình khỏi mọi đau khổ do ngu muội gây nên. Đó mới thực sự là công việc lao động trí tuệ tìm ra giá trị tinh thần của con người. Một lĩnh vực, với chúng ta vẫn còn là mới mẻ. Đó là sự cống hiến lớn nhất cho nền văn hóa cổ dân tộc của Ni sư Diệu Nhân chăng? Người đời còn tối mặt tối mày với đời sống vật chất, với những hiện tượng xã hội, nên không có điều kiện đi sâu tìm hiểu lĩnh vực này. Cũng có thể do chúng ta quan niệm thơ Thiền là thơ tôn giáo. Hoặc cho nó là những bài thơ siêu thực, nên không để tâm tìm hiểu, vì thế mà lãng quên một vốn quý văn hóa của dân tộc !

Khi Ni sư đóng cửa “cầu Thiền Phật”, thì đồng thời lại mở ra con đường tu luyện đi đến “đốn ngộ” để tự giải thoát mình: “Đỗ khẩu vô ngôn” (ngậm miệng không nói). “Không nói” hàm ngụ ý nghĩa không hướng ngoại, phát biểu bằng ngôn ngữ hữu thanh, những tìm tòi suy nghĩ, những hiểu biết của mình. Không nói nhưng vẫn suy nghĩ. “Ngậm miệng” là vẫn tư duy, vẫn hoạt động suy nghĩ hướng nội bằng ngôn ngữ vô thanh. Như vậy là không cầu xin Thiền Phật, nhưng vẫn suy nghĩ để tìm ra con đường đến Phật cho mình. Đó là cách giữ cái tâm ổn định, lặng lẽ mà suy ngẫm để đạt tới mực “đốn ngộ”, nhìn rõ Phật trong lòng mình và tạo nên cho mình một Phật tâm vững vàng. Đó mới là cách tự giải thoát, là con đường tu hành đi đến đốn ngộ và trở thành Phật của Thiền. Vậy là, tác giả đã chỉ ra cho ta thấy chỉ có Phật trong lòng mình mới cứu giúp mình được; còn Phật “ngoài mình” không có phép lạ nào để giải thoát mình khỏi những nỗi khổ cả ! Sự phối hợp hai câu bảy và tám - câu bảy phủ định con đường tìm Phật ở ngoài mình, thì câu tám lại khẳng định chỉ có con đường duy nhất đến với Phật trong lòng mình, đã làm sáng tỏ tinh thần Thiền của bài thơ, góp thêm ánh sáng cho nền văn hóa của dân tộc. Nếu bài thơ chưa đủ độ cuốn hút chúng sinh vào con đường tu hành, thì cũng có một phần đóng góp làm thức tỉnh sự mê hoặc của chúng sinh để cho họ nhận ra rằng sẽ chẳng có một lực lượng nào ngoài ta cho ta điều thiện, và con đường này ai cũng có thể làm được, chỉ cần lòng mình muốn làm hay không?

Đến đây có thể khép lại ý nghĩa Thiền của bài thơ. Nhưng vẫn có thể mở ra ý nghĩa đời của nó. Nếu ta trìu tượng hóa những từ ngữ cụ thể nói về Thiền và Phật, thì ta có thể nhận ra tinh thần của thơ, như nói về cách tìm sức mạnh để vươn tới những đỉnh cao. Những cách thức mà nhà thơ nói cho Thiền, thì đồng thời cũng mang ý nghĩa khái quát lớn cho con đường vươn tới đỉnh cao trong đời thường.

CHÚ THÍCH

(1) Hai từ “chi” trong hai câu thơ chữ Hán là từ đệm để phân rõ hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ. Trong trường hợp này có thể dịch bằng liên từ “mà”.

(2) Đầu câu tám có từ “đỗ”, nhiều sách viết là “uổng”. Về tự dạng, chữ “uổng” gần giống chữ “đỗ”, nhưng xét ý thơ thì nếu dùng từ “uổng” sẽ lặp ý (đã cho là uổng phí lời, tất nhiên sẽ không nói nữa), còn dùng từ “đỗ” sẽ làm cho ý câu rõ hơn. “Ngậm miệng không nói” là ngầm chỉ sự suy nghĩ./.

TB

BIỆT LỆ - ĐIỀU ĐÁNG LƯU Ý TRONG KHI ĐỌC VÀ PHIÊN ÂM CHỮ NÔM

LÊ ANH TUẤN

Qua chặng đường nghiên cứu chữ Nôm, đến nay nhiều vấn đề đã được soi tỏ. Những “mặc cảm” dĩ vãng về chữ Nôm tự mất đi nhường lại sự cảm hứng cách mạng cho những ai quan tâm tới hệ thống văn tự cổ, mà bao đời cha ông ta dày công vun trồng. Kết cục, khoa học tự nó đã trả lại vị trí xứng đáng của chữ Nôm trong truyền thống văn hiến của dân tộc ta.

Bài viết này, chúng tôi hy vọng góp một phần nhỏ để tìm đến cái “chân”, cái “chuẩn mực”, khơi trong dòng chảy cho những văn bản Nôm hoặc đã phiên âm, hoặc còn ẩn tàng trong kho di sản chưa được khai thác.

Đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu hệ thống văn tự Nôm, công việc đầu tiên có tính huyết mạch là Xác lập cho được hệ thống cấu trúc chữ Nôm. Vấn đề này, qua nhiều công trình nghiên cứu cho thấy chữ Nôm được cấu tạo theo những qui luật nhất định(1). Sự biến thể của chữ Nôm gắn liền với quá trình biến đổi, phát triển của ngữ âm tiếng Việt; bởi vì chữ Nôm là thứ chữ ghi âm tiết. Yếu tố “bền” trong cấu trúc chữ Nôm “là nền tảng vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của chữ Nôm gần một ngàn năm(2). Ngoài yếu tố “bền” trong cấu tạo chữ Nôm, còn có những hiện tượng “biệt lệ” do chưa được điển chế hóa cao độ, dẫn đến tình trạng lỏng lẻo trong cách viết hiện còn ghi lại ở các văn bản khác nhau, tùy thuộc không gian, trình độ cao, thấp của người viết khác nhau. Sau đây, chúng tôi trình bày bước đầu một số hiện tượng đặc biệt nằm ngoài những phương thức cấu trúc thông thường của chữ Nôm, liên quan trực tiếp đến cách đọc và phiên âm Nôm.

1) Khi nói đến tính đa dạng của chữ Nôm, nghĩa là phải kể đến nhiều dị thể trong cách viết chữ Nôm. Mỗi chữ Nôm ra đời cùng một âm đọc như nhau là sản phẩm của trình độ người viết khác nhau. Người viết kiểu này, người viết kiểu nọ; vùng viết thế này, vùng viết thế khác, tức là có sự dao động rộng trong cách viết, ví dụ:

- Ghi âm “lạ” (xa lạ, lạ lùng) có ít nhất 9 cách viết khác nhau, như dùng: la (Hán) (6 kiểu), dùng la (Hán) + kỳ (Hán) dùng lã (Hán) + dị1(Hán), dùng lã (Hán) + dị2 (Hán).

- Ghi âm “ấy” (cái ấy, ấy) dùng: ý (Hán), ý (Hán) + dấu nháy, y (Hán), (Hán).

- Ghi âm “trở” (trở lại) dùng: (Hán), trở (Hán), (Hán) + phản (Hán), túc (Hán) + phản (Hán), xước (Hán) + giả (Hán), đỗ (Hán), thủ (Hán) + giả (Hán).

Cách ghi một âm Nôm, có thể dùng nhiều chữ Hán, nhiều kiểu cấu trúc để ghi là hiện tượng khá phổ biến trong cấu trúc chữ Nôm.

2) Kết quả khi khảo sát các văn bản Nôm cho thấy lối ảnh hưởng hai chiều của những cặp từ láy âm, cặp từ đối nghĩa, có thể chữ trước ảnh hưởng chữ đứng sau, hoặc ngược lại, ví dụ: “bơ vơ”, “ngẩn ngơ”, “gần xa”, “vuông tròn”, “cao thấp” v.v…

2.1 Từ láy “bơ vơ” 巴 為 chữ bỏ dùng ba (Hán) đọc bơ, “vơ” dùng vi (Hán) đọc “vơ” hoặc để ghi “vơ” (động từ chỉ hoạt động của tay) có thêm bộ thủ (Hán) chỉ ý + vi (Hán) chỉ âm. Ngoài cách phổ cập ấy, trong một số văn bản viết “bơ vơ” = ba (Hán) + tam (Hán) đọc “bơ”, ba (Hán) đọc “vơ”. Như vậy, rõ ràng chữ ba (trong vơ) do ảnh hưởng của ba (trong bơ) tạo sự cân đối trong từ láy chứ không có giá trị gì về âm hoặc nghĩa của chữ “vơ”.

- Từ “ngẩn ngơ”: 唁 口 魚 ghi âm “ngẩn” thường dùng cẩn (Hán), cận (Hán), ngân (Hán), cấn (Hán) đọc chệch, ghi âm “ngơ” dùng ngư (Hán) đọc chệch(3). Trong câu thơ:

Đành rằng đã ngẩn ngơ lòng(4).

“ngẩn ngơ” = nghiễn (Hán) đọc chệch thành “ngẩn”, khẩu (Hán) + ngư (Hán) đọc “ngơ”. Vậy bộ “Khẩu” (Hán) trong chữ “ngơ” là do ảnh hưởng từ Khẩu (nghiễn (Hán) nghĩa là hỏi thăm) chứ không có ý nghĩa gì trong cấu thành chữ “ngơ”.

2.2. Ở các cặp từ đối nghĩa (nghĩa đối chọi nhau), ảnh hưởng qua lại giữa các chữ là hiện tượng hay gặp. Ví dụ: cặp “gần xa”. Chữ “gần” dùng bối (Hán) + cân (Hán), chữ “xa” dùng xa (Hán) đọc chính âm. Bộ bối (Hán) trong chữ “gần” do ảnh hưởng của chữ xa. (chữ Hán - xa có nghĩa là mua chịu nên có bộ bối chỉ ý nghĩa của cải), ví dụ trong các câu:

Gần xa nô nức yến anh….

Vương quan mới dẫn gần xa ….

(Truyện Kiều)

Trong cặp “vuông tròn” nếu tách riêng chữ “vuông”, xét tự dạng chữ “tròn” gồm: Phương (Hán) + luân (Hán). Nhìn từ dạng chữ “tròn” giữa hai thành tố phương + luận không có mối liên hệ chặt chẽ về âm và ý gì cả, khiến người đọc khó xác định âm đọc. Khác với lối ảnh hưởng đó, bình thường “tròn” được cấu tạo bởi: viên (Hán) nghĩa là tròn + luân (Hán) chỉ âm thì khi xác định âm đọc không có gì khó khăn cả.

Bộ phận phương (Hán) trong cấu tạo chữ “tròn” là do ảnh hưởng từ chữ phương (nghĩa Hán là vuông) trong cấu tạo chữ Nôm “vuông”.

Vuông tròn ai nắn mặc ai(5).

3. Khi tìm hiểu phương thức cấu trúc chữ Nôm, nhìn đại thể mỗi chữ đều nằm trong một kiểu cấu trúc nhất định, ngoài ra còn thấy có mô hình: ý + âm + dấu phụ. Ví dụ:

Sống cũng hai miền rồng con lạc(6) chữ “sống” ở câu thơ trên gồm 3 yếu tố tạo thành: Sinh (Hán) chỉ ý + Sính (Hán) chỉ âm + dấu nháy (ký hiệu phụ). Nhiều nhà nghiên cứu chữ Nôm thường đề cập đến chữ “sống” làm cứ liệu minh họa khi tìm hiểu diễn tiến của chữ Nôm qua các thời kỳ: dùng lộng (Hán) + Sinh (Hán) (sau TK XV).

Lối viết theo mô hình ý + âm + dấu phụ, xuất hiện rải rác trong các văn bản Nôm bình dân.

4. Một dạng chữ Nôm khác khá đặc biệt do ảnh hưởng của lối chữ “chỉ sự” trong phép cấu tạo chữ Hán, vượt ra ngoài tính hệ thống của cấu trúc chữ Nôm, không kém phần rắc rối khi đọc và phiên âm Nôm. Tìm hiểu trong Bảng tra chữ Nôm, thấy xuất hiện chữ Nôm “đĩ”丩gồm: nữ (Hán) + dấu chấm. Phép thông thường để cấu tạo chữ “đĩ”, dùng Nữ (Hán) + chí (Hán), dùng Nữ (Hán) + để (Hán).

Trường hợp ghi âm Nôm “cụt” dùng mộc (Hán) + cục (Hán) hoặc “cụt” (trong xương cụt) dùng cốt (Hán) + đoạn (Hán). Cũng theo lối tự do như “đĩ”, “cụt” được viết (chữ mộc (Hán) có nghĩa là cây bỏ phần trên nét ngang chỉ cây cụt (mất phần ngọn, còn phần gốc).

5. Ngoài tính phổ biến dùng âm Hán Việt làm thành tố ghi âm, đôi khi còn dùng ngay âm Nôm (tương đương là chữ Nôm đã tạo) để ghi âm Nôm mới. Đó là các trường hợp: dùng “trời” đọc “lời”, dùng “mười” đọc “mời”, dùng “bốn” đọc “bón”, dùng “tai” đọc “tơi”… và dạng dùng “nở” (hoa nở) đọc nở (nức nở), dùng “cháy” (lửa cháy) đọc “y” (cá cháy)…

Chữ Nôm “lời” gồm khẩu (Hán) + trời (Nôm) chỉ âm, ví dụ:

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung…

Vâng lời khuyên giải thấp cao…

(Truyện Kiều)

Lòng người phóng đãng lời nói hoang đường…

(Thanh Hóa quan phong)

Các văn bản từ TK XVII về trước phổ biến dùng khẩu (Hán) + lợi, lị (Hán) để ghi âm “lời”.

- Chữ Nôm “mời” gồm khẩu (Hán) + mười (Nôm) chỉ âm. (“mười” gồm: mại (Hán tắt) + thập (Hán), ví dụ:

Thoắt đưa đến trước vội mời lên trên

(Truyện Kiều)

- Để ghi âm “bón” (chăm bón), lệ thường dùng thủ (Hán) + bản (Hán), dùng phẩn (Hán) + báu (Hán), trong đó thủ phẩn là thành tố chỉ ý, bản, bán là thành tố chỉ âm, song trong câu:

Nỗi mừng chăm bón bấy lâu(7)

Chữ “bón” được cấu tạo bởi bộ thủ (Hán) + bốn (Nôm) chỉ âm. “Bốn” chỉ số thứ tự gồm tứ (Hán) + bản (Hán).

- Chữ Nôm “nở” (nức nở) được cấu tạo do 2 thành tố: Khẩu (Hán) + Nở (Nôm). “Nở” là hệ quả khi cấu tạo từ “nở” (hoa nở, nở nang) gồm nữ (Hán) + thảo (Hán). Nguyễn Du viết:

Xem thư nức nở khen thầm…

Kiều càng nức nở nói không ra lời…

Xét về mặt lôgíc hình thức, kiểu loại chữ Nôm do hai thành tố Hán + Nôm1 = Nôm2, có lẽ xuất hiện chậm nhất so với các dạng khác, và có thể khái quát bằng công thức A + B1 = B2.

6. Trong chữ Nôm còn có hiện tượng chuyển bậc âm (thuật ngữ chúng tôi tạm gọi), nghĩa là từ âm Hán Việt chuyển đọc âm Nôm1, từ âm Nôm1, chuyển đọc âm Nôm2 (Hán Việt > Nôm1 > Nôm2). Thường lệ, mỗi âm Hán Việt ứng với nó ít nhất có một âm đọc Nôm, có âm đọc chệch ra nhiều âm Nôm, chẳng hạn dùng Nữ, (Hán) có thể đọc: “nữ”, “nợ”, “nở”, “nỡ”, “nữa”, “nớ”, “nứa”, “nựa”… Khác với thông lệ đó (theo quy luật biến âm), trong trường hợp này âm Nôm thứ 2 được đọc chệch từ âm Nôm thứ nhất chứ không phải từ âm Hán Việt, ví dụ:

Dùng chữ huyễn 眩 (Hán) đọc sang âm Nôm là “nhèm” là lối chữ Nôm đọc theo nghĩa (huyễn nghĩa Hán chỉ mắt kém nhèm), rồi từ “nhèm” chuyển đọc thành “nhoèn”. Đành rằng mối quan hệ giữa “nhèm” và “nhoèn” gần nhau, nhưng từ đầu không thể viết huyễn (Hán) đọc thành “nhoèn” được mà phải qua “nhèm” mới sang “nhoèn”.

Chữ “bốn” đọc “bón” (nói ở mục 5) là xét về phương diện cấu tạo chữ, còn xét về chuyển âm cũng thuộc dạng này, tức là đọc “bón” là từ âm “bốn” chứ không phải từ âm “bản”.

7. Chữ Nôm là chữ ghi âm tiết đọc theo âm Hán Việt. Bao giờ mỗi chữ Hán khi chuyển sang âm Nôm đều có âm tương xứng của nó. Đó là kiểu chữ Nôm đọc chính xác âm như: “tài”, “mệnh”, “thiện”, “ác”, “nguyệt”, “lão”, “hoa”, “nhạc” v.v… Còn khi vốn văn tự Hán không đủ để ghi âm thuần Việt như: “gái”, “gặm”, “gọng”, “rung” = thủ (Hán) + dung (Hán); “rông” = đổng (Hán) đọc chệch = lộng (Hán) + không (Hán).

Chiều thuận là như vậy, còn có những nghịch lý mà trong thực tế được ghi lại trong các văn bản Nôm là không dùng âm chính xác (âm Hán Việt) để đọc mà lại dùng một âm Hán Việt khác không tương ứng để đọc chệch, hoặc dựa vào phép cấu trúc khác để tạo chữ mới, chẳng hạn: dùng miệt (Hán) đọc “một” (Nôm) trong khi chữ Hán có chữ một:

Góc thành Nam lều một (miệt) gian (Nguyễn Trãi)

Theo thống kê, các tác phẩm Nôm từ thế kỷ XVII về trước đều dùng miệt (Hán) ghi “một”, thế kỷ XVIII, XIX chuyển sang dùng: một (Hán) ghi “một”, chứ không dùng miệt (Hán) ghi “một”.

Một (một) ngọn đông phong sẽ thổi phào (Nguyễn Khuyến)

Trong khi vốn văn tự Hán có chữ chả nghĩa là cá hộp, không dùng để ghi âm “chả” (chả nướng, chả làm, chim chả) mà lại dùng: nhục (Hán) + giả (Hán); trư (Hán) đọc chệch; điểu (Hán) + giả (Hán).

Trên đây, chúng tôi bước đầu liệt kê bảy hiện tượng có thể nói không bình thường ngoài ý muốn của những người muốn tìm hiểu, đọc và phiên âm Nôm. Bảy hiện tượng có tính khái quát chưa thể phanh phui đầy đủ tính chất phức tạp trong cấu trúc chữ Nôm, hy vọng chúng ta sẽ tìm đến cách đánh giá đúng đắn, chuẩn mực, giá trị của những văn bản Nôm, thông qua cách phân định để đọc và phiên âm một cách chính xác nhất.

CHÚ THÍCH

(1) Có thể chia cấu trúc chữ Nôm ra các kiểu dạng như sau:

1) Dấu phụ. 2) Âm + âm. 3) Nghĩa + nghĩa. 4) Âm + Nghĩa. 5) Giản thể. 6) Ghi tiếng Hán Việt. 7) Ghi âm Hán cổ. 8) Ghi âm Việt cổ. 9) Mượn nghĩa. 10) Mượn âm chính xác. 11) Mượn âm đọc chệch.

(2) Thời gian tính chữ Nôm với tư cách là hệ thống văn tự.

(3) Xem Bảng tra chữ Nôm, Nxb. KHXH, H. 1976.

(4) (5) (6) Trong cuốn chữ Nôm chép tay mà chúng tôi sưu tầm được trong đợt đi thực tế tại Hà Sơn Bình.

(7) Sách sưu tầm đã dẫn.

TB

CÂU ĐỐI, HOÀNH PHI VÀ ĐỀ TỰ BẰNG CHỮ HÁN Ở ĐỀN NGỌC SƠN

TUẤN NGHI
TẢO TRANG

Đền Ngọc Sơn, một di tích nổi tiếng ngay tại trung tâm thủ đô Hà Nội, có một giá trị đặc biệt do nằm trong Hồ Gươm, một danh thắng đồng thời là di tích lịch sử.

Hồ xưa rất rộng, là một khúc sông Nhị còn lưu lại trên đất liền, sau khi sông đổi dòng, và có những con đê đắp lên để ngăn chặn lụt lội, bảo vệ cuộc sống cùng tài sản con người ở ven sông.

Theo sách La Thành cổ tích vịnh của Trần Bá Lãm (1757 - 1815), hồ từng là nơi tập thủy quân dưới triều Trần, nên có tên là Đầm Thủy Quân. Lại theo sách Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú (1782 - 1840), Lê Thái Tổ một hôm dạo chơi trên hồ, có con rùa lớn nổi lên, vua cầm gươm chỉ, rùa liền đớp lấy gươm lặn xuống nước, nên có tên là Hồ Hoàn Kiếm (Hồ trả lại thanh gươm vua được thần trao cho để đánh đuổi quân Minh xâm lược), gọi tắt là Kiếm Hồ (Hồ Gươm).

Sang thời Lê Trung Hưng, sau khi Chúa Trịnh lập phủ chúa ở phía Nam Tháp Báo Thiên (khu vực phố Nhà Chung hiện nay), một con đường đã được đắp từ Cửa Nam thành tới lầu Ngũ Long (khoảng Viện Bảo tàng lịch sử hiện nay), chia hồ thành 2 phần: nửa bên trái là Tả Vọng, nửa bên phải là Hữu Vọng (“Vọng” ở đây có nghĩa là nhìn về phủ chúa). Hồ Hữu Vọng về sau bị lấp dần, dấu vết còn lại là phố Vọng Đức (tên một thôn của thế kỷ XIX, do 2 thôn Hữu Vọng và Đức Bác hợp nhất mà thành). Còn Hồ Tả Vọng tức phần Hồ Gươm còn lại đến ngày nay.

Phía tây bắc Hồ Tả Vọng có một gò đất tên là Tượng Nhĩ Sơn (núi tai voi). Lý Thái Tổ sau khi định đô ở Thăng Long (1010) đổi tên gò là Ngọc Tượng Sơn (núi Voi Ngọc), và tới đời Trần, gọi tắt là Ngọc Sơn (núi Ngọc). Lúc này trên gò đảo đã có một ngôi chùa nhỏ, nhưng lâu ngày thành xiêu vẹo. Đến đời Lê Vĩnh Hựu (1735 - 1739), chúa Trịnh Giang dựng lên cung Khánh Thụy ở đây và đắp hai quả núi phía đông, đối diện với Ngọc Sơn, gọi là Ngọc Bội và Đào Tai để kỷ niệm chiến thắng năm 1751 của Trịnh Doanh bắt được Nguyễn Danh Phương, một lãnh tụ nông dân khởi nghĩa.

Cuối đời Lê, cung Khánh Thụy bị Lê Chiêu Thống đốt trụi. Một nhà từ thiện người làng Nhị Khê tên là Tín Trai nhân nền cung cũ, lập ra một ngôi chùa gọi là Ngọc Sơn tự (chùa Ngọc Sơn). Chùa lúc này có cả tam quan và gác chuông.

Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), con ông Tín Trai đem chùa nhường cho Hội Hướng Thiện để trùng tu, dỡ bỏ gác chuông, xây lại các gian đền chính và các dãy phòng hai bên, quy mô to lớn. Chùa đã thành đền, mới đầu thờ thần Văn Xương, sau thành đền “Tam thánh”, thờ 3 vị: Văn Xương, Quan Vũ và Lã Động Tân. Một thời gian sau thờ thêm Trần Hưng Đạo. Năm Tự Đức 18 (1865), Nguyễn Văn Siêu đứng ra tổ chức quyên góp để tu tạo di tích Ngọc Sơn, xây đình Trấn Ba, cầu Thê Húc, Tháp bút, Đài nghiên… Từ đó đến nay, đền cơ bản vẫn giữ bộ mặt tu tạo thời Nguyễn Văn Siêu, tất nhiên là có bị hư hỏng, mất mát đi một số chi tiết.

Dù sao đền Ngọc Sơn vẫn có một giá trị đặc biệt ở chỗ còn giữ lại rất nhiều câu đối, hoành phi và đề tự bằng chữ Hán được viết khá đẹp, thuộc đủ kiểu chân, thảo, triện, lệ - tuy phần nhiều là chân phương - làm tăng vẻ cổ kính của di tích. Không chỉ thế, chúng còn có ý nghĩa lớn, giúp cho khách tham quan có một tầm nhìn và cảm nghĩ thấu đáo hơn khi vãng cảnh. Có thể nói hầu hết những thắng tích quanh Hồ Gươm, những bộ phận kiến trúc và cả hệ thống thờ tự ở đền Ngọc Sơn đều được nhắc tới qua các tư liệu văn tự này.

Thật hiếm thấy một nơi nào ở giữa trung tâm đô thành phồn náo lại có một di tích danh thắng với bộ mặt khác lạ như ở đây: kết hợp được cảnh đẹp thiên nhiên với nghệ thuật kiến trúc tao nhã của con người, đồng thời thể hiện những truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc: tinh thần thượng võ chống ngoại xâm, tính hiếu học, lòng mến mộ văn chương và đạo lý. Thiên nhiên và con người, văn và võ đã được kết hợp hài hòa trong thắng tích đền Ngọc Sơn - Hồ Gươm… Và tất cả cái hay cái đẹp đó đã được thể hiện qua những tư liệu văn tự nằm trên tường, trên cột, trên gỗ, trên đá nơi đền “Núi Ngọc”, mà lần này chúng tôi cố gắng chuyển từ tiếng Hán sang tiếng Việt, có chú thích các điển khó, để bạn đọc tham khảo.

Để tiện theo dõi, các câu đối, hoành phi, đề tự đều được đánh số thứ tự theo vị trí của chúng trên thực địa (xem bản sơ đồ ở cuối bài viết), bắt đầu từ cổng đền đi dần vào trong.

Trong quá trình sưu tập tư liệu, chúng tôi được đồng chí Nguyễn Doãn Tuân, cán bộ nghiên cứu Viện Hán Nôm cho mượn bản chụp bài minh trên Đài nghiên để dịch. Nhân đây xin có lời cảm ơn.

1. Lâm thủy đăng sơn nhất lộ tiệm nhập giai cảnh;

2. Tầm nguyên phỏng cổ thử trung vô hạn phong quang.

Ngắm nước, trèo non, một lối lần vào cảnh đẹp;

Tìm nguồn, thăm cội, trong dây biết mấy phong quang.

3. Ngọc ư tư;

Sơn ngưỡng chỉ.

Ngọc ở đây (a);

Ngửa trông núi (b)

(a) Luận ngữ, Tử Hãn: “Hữu mỹ ngọc ư tư = Có ngọc đẹp ở đây”; “ngọc”, chỉ vật quí giá, đây muốn nói về tài đức con người.

(b) Kinh Thi, Tiểu nhã, Xa hạt: “Cao sơn ngưỡng chỉ = Ngửa trông núi cao”, tỏ ý mến mộ người có đạo đức.

Cả 2 vế ba chữ trên vừa nhắc tới di tích “Ngọc Sơn”, vừa gợi cho người vãng cảnh suy ngẫm về đạo trọng nhân tài, từ đó cố gắng trau dồi phẩm chất đạo đức.

5. Phúc (a);

6. Lộc (b).

(a) Phúc: hạnh phúc, niềm vui do âm đức tổ tiên để lại và do sự làm việc tốt của chính mình.

(b) Lộc: quyền lợi được hưởng thụ.

7. Lập nhân tiêu biểu khai nhân kính;

8. Độ thế tân lương giác thế quan.

Vì người dựng cột nêu, dẫn đường văn minh khai hóa;

Cứu đời có cầu bến, mở cửa giác ngộ từ bi.

9. Khánh Thụy nhất phong cao, Ngọc Bội trúc kình truyền thắng tích;

10. Điếu đài song miếu trĩ, linh kim diệu đẩu hộ thần quang.

Một cung Khánh Thụy (a) vươn cao, núi Ngọc Bội (b) ghi chiến công, dấu danh thắng truyền lại;

Hai miếu Điếu đài (c) đối lập, gươm vàng thiêng chiếu sao đẩu, ánh thần diệu chở che.

(a) Cung Khánh Thụy: cung do chúa Trịnh Giang dựng lên trên gò đất cao tức Ngọc Sơn ở phía Tây bắc hồ vào năm Lê Vĩnh Hựu (1735 - 1739).

(b) Ngọc Bội: tên một quả núi nhỏ, do Trịnh Giang cho đắp ở bờ hồ phía Đông để ghi chiến công đàn áp cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương (Quận Hẻo). Chữ “trúc kình” trong nguyên văn câu 9 (vế đối thứ nhất) có thể hiểu là “dựng quán kình” cũng tức là “kình nghệ kinh quán = quán kình nghê”, chỉ những gò đống chốn xác giặc, ghi chiến công (xem câu thơ Ngô Ngọc Du được ghi trong Cổ tích và thắng cảnh Hà Nội của Doãn Kế Thiện, Nxb. Văn hóa, H. 1959, tr.164).

(c) Điếu đài: từ thời Lý Trần, ở phía Tả vọng của hồ Hoàn Kiếm có một gò đảo, trên có ngôi chùa nhỏ, lâu ngày bị đổ nát. Đời Lê thường dùng nơi này (tức chỗ đền Ngọc Sơn hiện nay) làm nơi câu cá, gọi là Điếu đài. Ngoài ra, theo các cụ xưa kể lại, hai quả núi Đào Tai và Ngọc Bội đồng thời cũng là hai nơi có thể đứng để câu cá, dành cho vua chúa, cũng gọi là Điếu đài. “Hai miếu Điếu đài đối lập” rất có thể là chỉ hai nơi câu cá sau cùng này (theo Hà Nội sơn xuyên phong vực, Thăng Long cổ tích khảo và Văn Xương miếu bi của Nguyễn Văn Siêu).

11. Tả thanh thiên.

Viết lên nền trời xanh (a).

(a) Đây là những chữ đề ở Tháp bút. Trong bài Bút tháp chí, Nguyễn Văn Siêu viết: “Trên đỉnh núi Độc Tôn có Tháp bút năm tầng. Tháp nhờ núi mà cao thêm, núi nhờ tháp mà truyền mãi. Vào khoảng năm Vĩnh Hựu nhà Lê, tên nghịch Phương lén chiếm núi Độc Tôn ở huyện Phổ Yên xứ Thái Nguyên. Vương sư đi đánh dẹp, đóng quân ở núi Ngọc Bội, liên tiếp công phá giặc. Ngày thắng lợi trở về, nhân gò đất cao, đắp núi để ghi công, đặt tên là Độc Tôn. Sau cuộc chính biến, núi bị gai góc phủ đầy, không còn ai biết đến nữa. Trong Hồ Hoàn Kiếm có miếu Văn Xương. Vào dịp trùng tu chùa, ngó sang bờ Đông, thấy có núi, bèn phát dọn cây cỏ, xây đá dựng Tháp bút, bên trên đối diện với Đài nghiên. Bấy giờ có người tới hỏi thăm vì đâu lại đặt tên núi là Độc Tôn. ấy, núi là biểu tượng của chiến công, tháp là biểu tượng của văn hóa. Cả hai cái đó dựa vào nhau mà tồn tại, lưu truyền. Nhưng sở dĩ trở thành bất hủ, là bởi trong bản thân chúng sẵn chứa đựng cái bất hủ. (Xem Phương Đình văn loại A.190/1-2).

12. Thái Sơn thạch cảm đương.

Dám sánh ngang đá núi Thái (a)

(a) Núi Thái: núi ở tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, được coi là rất cao, rất tôn quí, bên trên có nhiều ngọc, và là nơi ở của thần tiên.

13. Sơn thần miếu.

Miếu thờ thần núi.

14. Cố điện hồ sơn lưu vượng khí;

15. Tân từ hương hỏa tiếp dư linh.

Hồ núi kinh thành xưa còn lưu khí thịnh;

Khói hương ngôi đền mới tiếp nối dấu thiêng.

16. Nhân gian văn tự vô quyền toàn bằng âm đức;

17. Thiên thượng Chủ tư hữu nhãn đơn khán tâm điền.

Cõi đời chữ nghĩa không quyền, toàn dựa vào âm đức (a);

Thượng giới Chủ tư (b) có mắt, chỉ nhìn xét cõi lòng.

(a) Âm đức: phúc đức từ cõi âm, do tổ tiên để lại.

(b) Chủ tư: Chánh giám khảo của kỳ thi, đây chỉ Văn Xương, vị thần chính được thờ ở di tích Ngọc Sơn. Theo Từ Hải, Văn Xương hay Văn Xương Đế Quân là vị thần trông coi công việc ở phủ Văn Xương, một nơi theo dõi danh sách bổng lộc ở thế gian.

Quan niệm xưa coi việc thi đỗ, ngoài tài học, còn phải dựa vào âm đức của tổ tiên và phẩm chất của chính mình. Thần Văn Xương, Chánh giám khảo trên trời và chủ bổng lộc cõi trần chỉ cho đỗ những người ngoài tài học, còn có đức độ. Nếu không có đức độ thì không đỗ, hoặc dù có đỗ, bổng lộc cũng không bền.

18. Long môn;

19. Hồ Bảng.

Cửa rồng (a);

Bảng Hổ (b).

(a). Cửa rồng: nguyên văn là “Long môn”, cũng gọi là “Vũ môn”, tên một trái núi ở giữa sông Hoàng Hà (chặng Sơn Tây, Trung Quốc), xưa vua Vũ đào kẽm khai sông ở nơi này, nước chảy xiết. Tương truyền con cá nào vượt qua được vũ môn sẽ hóa rồng.

(b). Bảng hổ: tức “Long hổ bảng = bảng rổng hổ”, nơi ghi tên những người thi đỗ.

20. Đậu quế Vương hòe quốc gia trinh cán;

21. Đường khoa Tống bảng sĩ tử thê giai.

Quế hòe họ Đậu, họ Vương (a), cột trụ của nhà nước;

Thi cử đời Đường, đời Tống, thang bậc của học trò.

(a) Quế hòe họ Đậu họ Vương: Đậu Vũ quân sinh năm người con đều đỗ đạt cao, nên có câu thơ: Linh xuân nhất chu lão; Đan quế ngũ chi phương = Linh xuân một gốc già; Đan quế năm cành thơm”. Vương Hựu đời Tống trồng ba cây hòe ở sân, nói con cháu sẽ có người làm Tam công, tức giữ những chức vụ cao nơi triều đình.

22. Hổ bảng Long môn thiện nhân duyên pháp;

23. Nghiễn đài Bút tháp đại khối văn chương.

Bảng hổ, cửa rồng, lối đi (a) người thiện;

Đài nghiên, Tháp bút, văn nghiệp (b) đất trời.

(a) Lối đi cũng có thể hiểu là “nhân duyên”, đỗ đạt là kết quả của cuộc sống lương thiện.

(b) Văn nghiệp cũng có thể hiểu là “vẻ sáng đẹp”.

24. Nghiễn đài.

Đài nghiên

25. Cổ hữu huyệt địa tiến nghiễn chú Đạo đức kinh, chước đại phương nghiễn trứ Hán xuân thu: thạch tư nghiễn giã, phỉ tượng hà tượng, bất phương bất viên, diệu tồn chư dụng, bất cao bất hạ, vị hồ quyết trung, phủ Hoàn Kiếm thủy, ngưỡng Thạch bút phong, ứng Thượng Thai nhi thổ vân vật, hàm nguyên khí nhi ma hư không (Đinh Sửu trùng tu. Phương Đình Tử minh).

Xưa có việc xoi đất làm cái nghiên chú thích sách Đạo đức kinh (a), đẽo nghiên đá viết sử nhà Hán (b): Cái nghiên đá này, nếu không là biểu tượng thì sao thành hình tượng, chẳng vuông chẳng tròn, diệu náu công dụng, chẳng cao chẳng thấp, vị trí trung bình, cúi xuống nước Hồ Gươm, ngẩng lên ngọn Tháp Bút, đáp Thượng Thai (c) mà nhả sắc mây lành, ngậm nguyên khí (d) mà mài vòm trời rộng (e) (Trùng tu năm 1877. Phương Đình làm bài minh).

(a) Đạo đức kinh: tác phẩm của Lão Tử.

(b) Sử nhà Hán: nguyên văn là “Hán xuân thu”, chữ “xuân thu” dùng ở đây như một danh từ chung, có nghĩa là “sử ký” (giống với các trường hợp Ngô Việt xuân thu, Thập lục quốc xuân thu… ), không còn nghĩa ban đầu của nó là tên cuốn sử nước Lỗ nữa.

(c) Thượng Thai: chỉ 2 ngôi sao ở phía Tây chòm sao Tam thai, gần chòm sao Văn Xương. Sao Văn Xương cai quản về văn minh và bổng lộc; sao Thượng Thai cai quản về tuổi thọ.

(d) Nguyên khí: khí tạo nên những biến đổi về mặt sinh lý trong một đời người từ khi sinh ra cho đến lúc chết (liên quan đến tuổi thọ).

(e) Bài minh này còn được chép trong Phương Đình văn loại (ở Tục tập, tờ 53) dưới tiêu đề “Nghiễn đài minh”, lời văn và trật tự câu có khác một số chỗ so với bài ghi ở Đài nghiên, chép luôn ra đây để bạn đọc cùng tham khảo: “Cổ hữu chước đại thạch nghiễn trứ Hán xuân thu, huyệt địa vi nghiễn chú Lão Tử kinh: Thạch tư nghiễn giả, phỉ tượng hà hình, bất phương bất viên, diệu tàng kỳ dụng, bất cao bất hạ, vị hồ quyết trung, phủ Hoàn Kiếm thủy, ngưỡng Thạch bút phong, ứng Thượng Thai nhi thổ vân vật, hàm nguyên khí nhi ma thương khung”. Chúng tôi có tham khảo bản chữ Hán này khi dịch bài minh trên, cốt sao cho dễ hiểu.

26. Bát đảo mặc ngân hồ thủy mãn;

27. Kình thiên bút thế thạch phong cao.

Dấu mực vẩy lên đảo, nước hồ đầy tràn;

Thế bút vươn lưng trời, núi đá cao ngất.

28. Thiện;

29. Ác.

30. Ngọc Sơn từ.

Đền Ngọc Sơn.

31. Ảnh động long xà.

Bóng lay động rồng rắn (a).

(a) Rồng rắn: 1. Như hình con rồng con rắn; 2. Người tài trí hơn đời.

32. Luận sự thường tồn trung hậu tâm, vật đại phân hắc bạch;

33. Vi văn bất tác khinh bạc ngữ , đồ tự sính thư hoàng.

Luận việc thường giữ lòng trung hậu, chớ rạch ròi đen trắng;

Làm văn không dùng lời khinh bạc, chỉ tự chuốc chê bai (a).

(a) Chê bai: dịch thoát chữ “thư hoàng”, còn gọi là “đá mào gà”, sắc đỏ nâu. Thời cổ viết chữ lên giấy vàng, nên thường dùng thư hoàng bôi lên các chữ viết sai để viết lại cho đúng. Nghĩa rộng: sửa chữa, chê bai.

34. Sơn cao;

35. Thủy thanh.

Núi cao;

Nước trong.

36. Tử khí quang hồi thiên chỉ xích;

37. Hồng trần vọng cách thủy đông nam.

Khí tốt rọi về, trời gang tấc; (a)

Bụi hồng cách nẻo, nước đông nam (b).

(a) Trời gang tấc: ý nói Hồ Gươm ở gần phủ chúa Trịnh. Nước đông nam: nước ở phía đông, phía nam, chỉ vị trí Hồ Gươm: phía đông có sông Hồng, phía nam có hồ Hữu Vọng (hồ này nay đã bị lấp, chỉ còn lại dất vết ở cái tên phố Vọng Đức).

38. Dạ nguyệt hoặc qua tiên thị hạc;

39. Hào lương tín lạc tử phi ngư.

Đêm trăng, hoặc bay qua, hạc ấy là tiên (a);

Cầu hào, bao thỏa thích, anh không phải cá (b).

(a) Sách Liệt tiên truyện chép: con của Chu Linh Vương học đạo ở Tung Sơn, sau hơn 30 năm, cưỡi hạc trắng bay lên ngọn núi Hầu Thị Sơn, được vài ngày, không biết đi đâu. Bài phú Hậu Xích Bích của Tô Đông Pha kể lại: đêm trăng rằm cùng bạn chơi sông Xích Bích lần thứ hai. Đang ở thuyền, có một con chim hạc lớn bay qua. Lát sau ngủ, mơ thấy một Đạo sĩ “áo lông phấp phới” (y phục các vị tiên) tới chào. Tô Đông Pha hỏi: “Lúc nãy hạc bay qua thuyền, có phải ông không?” Đạo sĩ ngoảnh mặt cười. Nhà thơ bừng tỉnh giấc.

(b) Sách Trang Tử, thiên Thu thủy chép: Trang Tử cùng Huệ Tử đang chơi trên cầu hào. Trang Tử nói: “Con cá kia lội tung tăng, ý chừng thỏa thích lắm!”. Huệ Tử nói: “Anh không phải cá, làm sao anh biết được cái vui của cá?”. Trang Tử đáp: “Thế anh không phải tôi, làm sao anh biết tôi không biết được cái vui của cá?”.

40. Thê húc kiều.

Cầu đậu ánh ban mai.

41. Đắc nguyệt lâu.

Lầu được ánh trăng (a).

(a) Thơ Lý Bạch: “Khuy nhật úy hàm sơn, thúc tửu hỉ đắc nguyệt = Ngó mặt trời e ngậm núi, giục rượu uống mừng được trăng”.

42. Bất yếm hồ thượng nguyệt;

43. Uyển tại thủy trung ương.

Không chán ngắm trăng trên hồ;

Cứ như ở giữa làn nước (a).

(a) Kinh thi, Tần phong, Khiểm hà: “Tố du tòng chi, uyển tại thủy trung ương = Đi xuôi theo dòng, cứ như ở giữa làn nước”. Vế đối thứ nhất không rõ xuất từ điển nào.

44. Linh Hồ Nhược Thủy tùy duyên độ;

45. Trần cảnh Tiên châu hữu lộ thông.

Linh Hồ, Nhược Thủy (a) tùy duyên tới;

Tiên cảnh, trần gian có lối thông.

(a) Linh Hồ, Nhược Thủy: những nơi tiên ở, theo truyền thuyết.

46. Kiều dẫn trường hồng thê đảo ngạn;

47. Lâu đương minh nguyệt tọa hồ tâm.

Cầu dẫn dải cầu vồng đậu vào bờ đảo;

Gác in vầng trăng sáng nằm dưới lòng hồ.

48. Long mã Hà đồ;

49. Thần quy Lạc thư.

Long mã mang bức vẽ ở sông Hoàng Hà (a);

Rùa thần cõng bản viết ở sông Lạc Thủy (b).

(a) Theo lời giảng giải ở thiên Cố mệnh sách Thượng thư thì khi Phục Hy làm vua thiên hạ, có con vật đầu rồng mình ngựa (long mã) từ sông Hoàng Hà đi lên, trên lưng có một bức vẽ, Phục Hy đã dựa vào đây mà vạch thành tám quẻ (bát quái). Bức vẽ được gọi là “Hà đồ = bức vẽ ở sông Hoàng Hà”.

(b) Tương truyền sau khi vua Vũ trị thủy thành công, ở sông Lạc Thủy có con rùa thần nổi lên, trên lưng có hoa văn, vua Vũ đã theo đó sắp xếp thành chín khoảnh (cửu trù) vẽ chữ số từ 1 đến 9 gọi là “Lạc thư = bản viết ở sông Lạc Thủy”.

Hà đồ và Lạc thư là những phát minh quan trọng về dãy số tự nhiên (1, 2, 3…), đồng thời áp dụng nó vào việc tính toán (8 vạch, 64 quẻ…), mở rộng ra, có thể giải thích nhiều hiện tượng trước mắt và suy đoán những việc sẽ xảy tới trong cõi vũ trụ, nhân gian (tự nhiên, xã hội, con người). Kinh Dịch, Hệ từ hạ có câu: “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi = sông Hoàng Hà xuất hiện bức vẽ, sông Lạc Thủy xuất hiện bản viết, thánh nhân lấy đó làm phép tắc (để cai trị nước, đem lại hạnh phúc cho con người).

50. Thố ô tùy quá vãng;

51. Sơn thủy tự cao thanh.

Nhật (a) nguyệt (b) theo nhau qua lại;

Nước non vốn sẵn thanh cao.

(a) Nhật: nguyên văn là “ô = con quạ = mặt trời”. Theo truyền thuyết, trên mặt trời có con quạ vàng (kim ô) ba chân.

(b) Nguyệt: nguyên văn là “thố = con thỏ = mặt trăng”. Theo truyền thuyết, trên mặt trăng có con thỏ ngọc (ngọc thố).

52. Thiên căn nguyệt quật nhân lai vãng;

53. Thủy sắc sơn quang tương tống nghênh.

Chòm sao (a), vầng nguyệt (b) thường qua lại;

ánh nước, màu non rộn đón đưa.

(a) Nguyên văn là “thiên căn”, tên một chòm sao, một trong “nhị thập bát tú = 28 vì sao”. Từ hải Trung văn đại từ điển đều gọi “Thiên căn” là chòm sao “Đê”.

(b) Nguyên văn là “Nguyệt quật = hang trong trăng”, chỉ mặt trăng nói chung.

54. Lục thanh y cựu sắc;

55. Hoàng bạch bái tân niên.

Nước non (a) vẫn sắc xưa;

Già trẻ (b) mừng năm mới.

(a) Nguyên văn là “lục thanh = lục thủy thanh sơn = nước biếc non xanh”.

(b) Nguyên văn là “hoàng bạch = hoàng đồng bạch tẩu = trẻ thơ như chim non miệng vàng và cụ già tóc bạc”.

56. Nhất trần vô nhiễm sắc;

57. Tứ tự giai thường xuân.

Mảy bụi không chút bợn;

Bốn mùa thảy đều xuân.

58. Bình hồ trương nhật nguyệt;

59. Cố điện tiểu càn khôn.

Hồ phẳng ngày tháng dài;

Cõi xưa trời đất nhỏ.

60. Kính tự đình.

Đình kính trọng chữ viết (a).

(a) Nơi đốt những mẩu giấy có chữ Hán mà ngày trước được xem là chữ của thánh hiền, không thể đối xử như vật rác rưởi.

61. Văn quang xung Đẩu bắc;

62. Đình ảnh lạc hồ trung.

Ánh chữ xông Bắc đẩu;

Bóng đình ngả mặt hồ.

63. Hỏa trạch liên khai kim cổ mộng;

64. Kim môn chung hưởng thảo hoa hàn.

Nơi nhà lửa (a) hoa sen nở, xua tan cơn mê muội từ xưa tới nay;

Chốn nhà vàng (b) tiếng chuông vang, làm giá lạnh cả hoa lẫn cỏ.

(a) Phẩm Thí dụ ở Kinh Pháp hoa chép: “Tam giới không yên ổn, giống như ngôi nhà lửa (hỏa trạch), khổ ải chất đầy, thật đáng lo sợ, trong đó thường xuyên có sinh, lão, bệnh, tử, ưu hoạn, các loại lửa đó cứ thiêu đốt mãi không lúc nào thôi”.

(b) Kim môn: tên một cung điện nhà Hán, tên là “Kim mã môn”, cũng gọi là “Kim môn”.

65. Cô sơn mộc ấm tam thiên giới;

66. Chước thủy ba trừng cửu thập xuân.

Non côi cây rợp ba nghìn cõi (a);

Vốc nước sóng yên chín chục xuân (b).

(a) Ba nghìn cõi: tức “tam thiên giới” hay “tam thiên thế giới”, chữ nhà Phật, chỉ vũ trụ vô cùng rộng lớn.

(b) Chín chục xuân: chín chục ngày của mùa xuân.

67. Cao đê vận tống hoành giang điểu;

68. Hồng tử tần khai cách ngạn hoa.

Ngang nước thấp cao chim bay lượn;

Cách bờ hồng tía hoa nở đầy.

69. Miếu mạo sơn dung tương ẩn ước;

70. Thiên quang vân ảnh cộng bồi hồi.

Dáng miếu, hình non cùng thấp thoáng;

Bóng mây, ánh nắng quyện bồi hồi.

71. Kiếm hữu dư linh quang nhược thủy;

72. Văn tòng đại khối thọ như sơn.

Gươm rớt khí thiêng (a) ngời tựa nước;

Văn hòa trời đất thọ tày non.

(a) Nhắc tích gươm thiêng của Lê Lợi trả lại cho rùa thần ở dưới hồ.

73. Cảm huệ linh phương.

ứng cảm, ban cho cách chữa linh nghiệm (a).

(a) Có ý ca ngợi Lã Tổ (Lã Động Tân), một vị thần cũng được thờ ở đền Ngọc Sơn, được coi như có tài chữa bệnh.

74. Đạo hữu chủ trương Đẩu bắc văn minh chi tượng;

75. Nhân đồng chiêm ngưỡng Giao nam lễ nhạc chi đô.

Đạo có chủ trương, hình tượng sáng đẹp sao Bắc đẩu;

Người cùng chiêm ngưỡng, kinh đô lễ nhạc cõi Nam bang.

76. Khuê quang xạ Đẩu;

77. Văn đức tham thiên.

Ảnh sao Khuê (a) rọi chiếu sao Bắc đẩu (b);

Văn hóa đức giáo ngang với Trời.

(a) Sao Khuê: chủ về văn học

(b) Bắc đẩu: tượng trưng cho quyền lực tối cao, vì mọi sao khác đều chầu về Bắc đẩu.

78. Hồi thiên độ thế.

Xoay chuyển tình thế (a), cứu vớt đời (b).

(a) Nguyên văn là “Hồi thiên = xoay chuyển Trời”, ý nói xoay chuyển một tình thế cực kỳ khó khăn. Đường thư, Trương Huyền Tố truyện chép: “Huyền Tố giữ chức Cấp sự trung, Đường Thái Tông muốn khởi công xây dựng cung Lạc Dương, Huyền Tố lấy lý do tiết kiệm tiền của nới sức cho dân, làm tờ sớ dâng lên can ngăn vua, rốt cục Đường Thái Tông đã đình chỉ việc xây cất. Ngụy Trưng thấy thế tấm tắc khen rằng: “Trương Công luận sự, hữu hồi thiên chi lực = ông Trương bàn luận công việc, có sức mạnh chuyển xoay tình thế cực kỳ khó khăn”. Chữ “hồi thiên” ở đây không hề có nghĩa là “về trời”.

(b) Nguyên văn là “Độ thế = 1. Thoát khỏi cõi trần, thành tiên. 2. Cứu vớt đời (tiếng nhà Phật), đưa người đời qua bể khổ để sang cõi Niết Bàn Cực Lạc. Đây theo nghĩa thứ 2, đi liền với chữ “Hồi thiên”.

79. Sơn danh bất tại cao thủy linh bất tại thâm tự hữu chủ giả;

80. Thiên trụ lại dĩ tôn địa duy lại dĩ lập duy thử hạo nhiên.

Núi nổi tiếng không vì cao, nước linh thiêng không vì sâu (a), chính vì vốn có chủ;

Cột trời (b) nhờ đó mà cao vững, dải đất (c) nhờ đó mà bền chắc, toàn nhờ khí hạo nhiên (d).

(a) Cổ văn có câu: “Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh; thủy bất tại thâm, hữu long tắc linh = núi không cần cao, có tiên ắt nổi tiếng; nước không cần sâu, có rồng ắt linh thiêng”.

(b) Theo sách Thần dị kinh, núi Côn Luân có cột cao chọc trời, gọi là cột trời (cột chống trời).

(c) Nguyên văn là “địa duy”. “Duy” là 4 giềng lớn, 4 dây chính ở 4 mép lưới. Người xưa quan niệm trời hình tròn, đất hình vuông, nên gọi là “địa duy” (đất hình lưới vuông). Dịch là “dải đất” cho dễ hiểu.

(d) Khí hạo nhiên: chữ trong sách Mạnh tử. “Hạo nhiên” là rất rộng lớn. Khí hạo nhiên là khí tốt lành rộng lớn, bao trùm cả vũ trụ và con người. Đó là sức sống của muôn vật. Riêng ở con người, đó là ý chí hướng về điều thiện.

81. Mặc tướng quần sinh;

82. Phồn hi vĩnh tích.

Ngầm giúp chúng sinh;

Mãi ban nhiều phúc.

83. Vị bỉnh đồ thư khai thái vận;

84. Đức lưu hãn mặc xán thiên chương.

Ngôi nắm giữ sách vở bản đồ, mở ra vận đẹp;

Đức thấm nhuần văn thơ từ phú, rạng rỡ nền trời (a).

(a) Nguyên văn là “thiên chương = thiên văn = vẻ sáng đẹp của nền trời”, chỉ những vật thể sáng đẹp trên trời như mặt trời, mặt trăng, sao.

Câu đối này ca ngợi thần Văn Xương thờ ở đền Ngọc Sơn. Văn Xương còn gọi là Tử Đồng Đế Quân.

85. Nhất tâm bạch quán vạn quang đán;

86. Tứ hải lương hồi cửu mộng thiên.

Một lòng trong trắng, xuyên suốt muôn buổi sớm sáng ngời;

Bốn biển yên lành, bừng tỉnh chín khoảng trời mộng mị (a).

(a) Vế trên khích lệ mỗi người giữ tấm lòng trong sạch, vế dưới cầu người trong bốn bể được yên lành, loại trừ mọi thứ mê muội. “Chín khoảng trời” (cửu thiên) gồm: trời ở giữa, 4 phương và 4 góc, tức toàn bộ thế giới.

87. Cửu thiên khai hóa.

Khai hóa khắp nơi (a)

(a) Khắp nơi: dịch thoát chữ “cửu thiên”.

88. Nhật lãng tinh huy bút nghiễn văn quang lưu thắng tích;

89. Loan phi hạc giáng hồ sơn địa tú uất linh thanh.

Sao tổ, trời quang, nghiên bút văn hay lưu thắng tích;

Loan bay, hạc giáng, núi hồ cảnh đẹp đượm linh thiêng.

90. Vạn cổ cương thường.

Phép tắc muôn đời.

91. Duy thánh bất tri duy thần bất trắc;

92. Tại thiên thành tượng tại địa thành hình.

Khó đoán được thần (a), khó hay được thánh;

Ở trời nên tượng (b), ở đất nên hình.

(a) Kinh dịch, Hệ từ thượng 1: “Âm dương bất trắc chi vị thần = điều không đoán được ở âm dương gọi là thần”.

(b) Tượng: vật không có hình dáng nhất định, như gió, nắng, không khí…

93. Trung,

94. Nghĩa.

95. Tiên tắc danh long tắc linh tự hữu chủ giả;

96. Trụ dĩ tôn duy dĩ lập duy thử hạo nhiên.

Tiên thì lừng, rồng thì thiêng, đều do tự có chủ;

Cột được trọng, giềng được lập, toàn nhờ khí hạo nhiên (a).

(a) Câu đối này lặp ý câu đối số 79 - 80.

97. Vạn kim bảo kiếm tàng thu thủy;

98. Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.

Nghìn vàng gươm báu náu dưới nước thu (a);

Một tấm lòng thanh giữ trong bình ngọc (b).

(a) Ý nhắc tới truyền thuyết gươm báu của Lê Lợi trả lại cho rùa thần hẳn còn ẩn náu dưới hồ.

(b) Một tấm lòng thanh: nguyên văn là “băng tâm = bất nhiệt trung = không háo hức làm quan, không mơ màng danh lợi”. Bình ngọc: nguyên văn là “ngọc hồ = cao khiết = thanh cao”. Thơ Vương Xương Linh có câu: “Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ”; thơ Bào Chiếu có câu: “Thanh như ngọc hồ băng”, đều nói về tấm lòng thanh cao không màng danh lợi (theo Từ nguyên).

99. Đại trung dĩ hành hồ đại dũng;

100. Chí nghĩa nãi bản ư chí nhân.

Đại trung để làm việc đại dũng;

Chí nghĩa là gốc ở chí nhân (a).

(a) Trung và dũng, nghĩa và nhân là bốn đức lớn đi liền với nhau để tạo thành nền đạo đức hoàn chỉnh.

101. Hạo khí lăng tiêu.

Hạo khí ngất trời.

102. Xuân thu đại nghĩa;

103. Nhật nguyệt tinh trung.

Nghĩa lớn sách Xuân thu (a);

Lòng trung thuần nhất sáng như mặt trời mặt trăng (b).

(a) Sách Xuân thu: còn gọi là Kinh Xuân thu, tên cuốn sử nước Lỗ do Khổng Tử biên tập, trong đó đánh giá các sự kiện và hành vi lịch sử một cách đúng mực gọi là “bao” (khen) và “biếm” (chê), phân biệt rõ “chính” và “tà”. Đấy là ý nghĩa lớn của sách Xuân thu mà Quan Vũ rất tâm đắc.

(b) Câu này và câu trên đều có ý ca ngợi Quan Vũ, tướng giỏi thời Tam quốc, được gọi là Quan Đế, Võ Đế, thờ ở đền Ngọc Sơn.

104. Vũ lược luyện hùng binh Lục Thủy (a) nghìn thu ghi sử Việt;

105. Văn tài mưu thượng tướng Bạch Đằng một trận thắng quân Nguyên (b)

(a) Lục Thủy: tên Hồ Hoàn Kiếm thời cổ, nơi sắc nước bốn mùa đều xanh (xem Cổ tích và thắng cảnh Hà Nội, sđd. tr.74). Tương truyền đây cũng là chỗ Trần Hưng Đạo dùng để luyện tập thủy quân.

(b) Câu đối này nhắc đến sự nghiệp chống quân Nguyên bảo vệ đất nước của Trần Hưng Đạo, cũng được thờ ở đền Ngọc Sơn.

106. Vị quốc vị nhân dân văn vũ thánh thần lưu hiển hiệu;

107. Tại thượng tại tả hữu thông minh chính trực tán huyền cơ.

Vì đất nước, vì nhân dân, văn võ thánh thần lưu truyền tên hiển hách.

Ở bên trên, ở tả hữu, thẳng ngay sáng suốt giúp đỡ máy huyền vi (a).

(a) Máy huyền vi: qui luật huyền diệu của vũ trụ.

108. Ngọc truyền thố hiện vân vô tụ;

109. Kiếm thủy giao đằng bút hữu ba.

Ngự Xích thố (a) xuất hiện am Ngọc Tuyền (b), mây không hốc núi (c).

Đàn giao long nhảy rỡn hồ Hoàn Kiếm, bút nổi sóng cồn (d).

(a) Xích thố: tên con ngựa của Quan Vũ thời Tam quốc.

(b) Am Ngọc Tuyền: nơi Quan Vũ hiển thánh sau khi thất trận và bị Ngô Tôn Quyền giết.

(c) Bài phú Bạch vân chiếu xuân hải của Khương Công Phụ có câu: “Vân vô tâm dĩ xuất tụ = mây thanh thản bay ra khỏi hốc núi”.

(d) Bút nổi sóng cồn: phải chăng chỉ việc Quan Vũ giáng bút trong các buổi “phụ thơ tiên” ở đền Ngọc Sơn dưới thời phong kiến?

110. Thiên thượng nhân gian đồng trắc giáng;

111. Thánh văn thần vũ hợp thanh linh.

Thiên đình, cõi thế cùng lên xuống (a);

Văn thánh võ thần gộp tiếng thiêng.

(a) Lên xuống: nguyên văn là “trắc giáng”. Đây là chữ ở Kinh thi, Đại nhã: “Văn Vương trắc giáng, tại Đế tả hữu = Văn Vương lên xuống, ở bên phải bên trái Thượng Đế”. Trong câu đối, ý nói các vị thần khi lên trời, khi xuống trần cứu giúp người đời.

112. Thiên cổ vĩ nhân.

Vĩ nhân của muôn đời.

113. Ngọc quang chiếu dạ sơn tâm cổ;

114. Kiếm khí hoành thu thủy sắc thương.

Ánh ngọc đêm soi lòng núi cổ (a)

Hơi gươm thu tỏa sắc hồ xanh (b).

(a) Nhắc tới tên đền “Ngọc Sơn = núi ngọc”.

(b) Nhắc tới tên “Kiếm Thủy = Hồ Gươm”.

115. Nguyệt nhuận;

116. Nhật hoa.

Mặt trăng đằm thắm;

Mặt trời chói chang.

117. Thiên hà ngôn tai hiển đạo phi quan ngã bốc;

118. Thần nhất giả giã âm chất chỉ tại Trung kinh.

Trời có nói chi đâu (a), hiển đạo (b) nào do ta bói;

Thần trước sau nhất quán (c), âm chất (d) chỉ ở Trung kinh (e).

(a) Luận ngữ: “Thiên hà ngôn tai = Trời có nói chi đâu”, nói về quy luật tự nhiên, tự nó vận hành mà không cần ai điều khiển cả, ví như trời có tuyên bố gì đâu mà bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông cứ tuần tự đi rồi lại đến, không sai lẫn chút nào. ở câu đối này, muốn nhấn mạnh cái ý là Trời và Thần (ngày nay ta hiểu như quy luật khách quan) tuy không nói năng, tuyên bố gì cả, nhưng vẫn luôn luôn theo dõi từng hành vi thiện hoặc ác của con người để ban thưởng hoặc trừng phạt một cách thích đáng.

(b) Hiển đạo: chữ ở Kinh thư, Thái thệ hạ, có nghĩa là con đường hiển nhiên.

(c) Tả truyện, Trang Công năm thứ 32: “Thần thông minh chính trực nhi nhất giả giã = Thần sáng suốt ngay thẳng mà chuyên nhất không thiên vị”.

(d) Âm chất: công đức chỉ mình mình biết, nhưng vẫn tác động đến cuộc sống của chính mình, kể cả con cháu mình.

(e) Trung kinh: tên sách, được viết sau Hiếu kinh và nói về lòng trung chính, thành thực, vì người, vì nước./.

TB

TÂN TRUYỀN KỲ LỤC VÀ
PHẠM QUÝ THÍCH

NGUYỄN VĂN HUYỀN

Khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, ở nước ta xuất hiện đồng thời một số tập truyện ký, mỗi tập gồm nhiều tiểu phẩm như Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ, Nguyễn án, Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Lan trì kiến văn lục của Vũ Trinh, Tân truyền kỳ lục của Phạm Quý Thích.

Hai cuốn đầu đã được dịch và công bố trọn vẹn từ lâu. Cuốn thứ ba đã được khai thác ít nhiều trên các tạp chí như Tạp chí Văn học số 3 năm 1983, Tạp chí Hán Nôm số 1 năm 1990. ở đây, chúng tôi xin bước đầu giới thiệu Tân truyền kỳ lục của Phạm Quý Thích.

Ông sinh ngày 25 - 12 - 1760, mất ngày 16 – 5 - 1825. Người xã Hoa Đường, huyện Đường An, nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Hưng. Cùng sinh trưởng vào thời Lê mạt, nhưng khác với ba tác giả trên chỉ đỗ đạt thấp hoặc giữ một chức vị khiêm tốn, Phạm Quý Thích đã đạt học vị Tiến sĩ năm 1779, quan đến Thiêm sai tri Công phiên. Khi Tây Sơn chiếm được Bắc Hà, ông bỏ trốn không chịu cộng tác. Năm 1802, với tư cách là cựu thần nhà Lê, ông và Vũ Trinh cùng được Gia Long gọi ra làm Thị trung học sĩ. Khác với Vũ Trinh tỏ ra tận tụy phục vụ tân triều, đã được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh, quan đến Tham tri Bộ Hình rồi vì vạ lây với cha con Nguyễn Văn Thành mà bị an trí cho đến hết đời ở Quảng Nam, Phạm Quý Thích chỉ nhận chức Đốc học, hai lần làm giám thị trường thi Nghệ An, Sơn Nam rồi tìm mọi cách cáo quan về dạy học ở ngay nơi cư ngụ là phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương, Hà Nội. Ông có nhiều học trò nổi tiếng như Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Văn Lý.

Ông trước tác khá nhiều ở các lĩnh vực thơ, văn, sử. Cảm hứng chủ đạo trong các sáng tác là hoài cổ, tiếc nuối nhà Lê. Tân truyền kỳ lục. (Ghi chép những chuyện lạ mới) mượn chuyện các con vật - như một kiểu chuyện ngụ ngôn để biểu lộ hoàn cảnh, tâm sự của tác giả, kiên quyết giữ vững phẩm cách, trung thành với chúa cũ, không chịu để lợi lộc mua chuộc mà bán rẻ lương tâm, đồng thời phê phán bọn cơ hội táng tận nhân phẩm, mưu cầu danh lợi.

Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện nay còn hai bản Tân truyền kỳ lục chữ Hán, ký hiệu A.2315 và A.2190, đều gồm 2 truyện.

- Bần gia nghĩa khuyển truyện

(Truyện chó nghĩa nhà nghèo)

- Vũ trùng giắc thắng ký (Ve nhặng chọi nhau)

Bản sau mang ký hiệu A.2190, còn có thêm truyện Miêu khẩu đối thoại (chó mèo đấu khẩu) nhưng chưa trọn vẹn.

Dưới đây xin giới thiệu bản dịch của thiên truyện thứ nhất, nơi tác giả gửi gắm tâm sự một cách sâu sắc và thể hiện cũng công phu hơn.

Truyện chó nghĩa nhà nghèo

Triều Lê cũ còn sót lại người họ Đào, tên chữ là Cảnh Long, tên hiệu là Vân Hiên cư sĩ. Vốn dòng thi thư thuần túy, đức độ khoan hòa, tư chất thuần hậu, ít văn vẻ kiểu cách, trọng danh nghĩa, chuộng khí khái ông thực đáng là bậc vĩ nhân đất Bắc. Năm 20 tuổi du học ở Tràng An, ra sức cần cù đọc sách, nghiền ngẫm nghĩa lý tinh vi của thánh hiền. Đọc ngoại sử đến gương các bậc trung thần nghĩa sĩ, hiếu tử liệt phụ thì lại chắp tay thắp hương, kính cẩn như đối với thần minh. Về mặt trước tác, ông lại càng sở trường. Hễ đi qua những nơi danh lam, cổ miếu, đài cao, quán(1) đẹp, nếu gặp ngẫu hứng thì đều có đề vịnh, lời lẽ tinh luyện ngụ ý sâu xa, được người đương thời coi là bậc nhất.

Cuối đời Chiêu Thống, đất nước đại loạn. Quân Nam thừa thắng tiến ra, quân Thanh tan tác bỏ chạy, vua Lê theo lên phương Bắc. Chỉ một thời gian ngắn mà 13 đạo dân binh đã thuộc về Tù trưởng Tây Sơn. Đêm ấy, ông Đào thở ngắn than dài, trằn trọc suốt năm canh không ngủ. Đáng thương một triều đình đại ba trăm năm, từ đây non sông đều thay đổi. Vì thế, ông thả chí giang hồ, không chú ý gì đến sản nghiệp nữa. Lại thêm mấy năm mất mùa liền, liễu sân, hoa vườn chẳng mấy đã thay hình đổi sắc.

Song trong lúc cùng, ông càng vững chí, không vì nghèo quẫn mà bỏ chí tang bồng thuở trước. Ông đề vào bức bình phong ở chỗ nằm một bài tuyệt cú:

Thích thích chung tiêu mấn dục ban,
Tao gia bất tháo quốc đa gian.
Hà thời liễu thử nam như trái,
Tiêu khước u sầu nhất thốn đan

Dịch thơ:

Tao thức thâu đêm tóc trắng đầu,
Nước, nhà chìm đắm biết về đâu.
Bao giờ dứt nợ nam nhi ấy,
Cho tấc son trong dứt khối sầu.

Đề xong, nhìn lên trời thấy đôi chim nhạn chấp chới bay tới, ông lại đề bài Nhạn ngâm:

Vạn lý vân trình nhạn thử phi,

Bằng tha đạo ngã cố quân quy.

Giao Châu thượng hữu anh hùng tại,

Phấn dực trùng lại vị khả tri.

Dịch thơ:

Muôn dặm đường mây nhạn vút đi,
Nhờ tâu vua cũ liệu quay về.
Giao Châu vẫn có anh hùng đó,
Cánh lại tung trời cũng có khi.

Một hôm nhân thư rỗi đi chơi thành Thăng Long, qua Cửa Nam thấy các thắng cảnh triều cũ nhất nhất không còn như trước, trong lòng hoài cảm, nhân bút làm bài thơ:

Bài 1:

Thành trung cửu miếu thử đồi ly,
Cử mục sơn hà lệ mãn y.
Lao lạc kỷ tồn Chu chế độ,
Tinh chiên thậm dị Hán uy nghi.
Quy lai tằng thống Tân Đình ẩm,
Khảng khái không tồn cố quốc bi.
Hà hạnh thương thiên do quyến hựu,
Tảo tương thần kiếm tất thanh Di.

Dịch thơ:

Trong thành chín miếu sụp lung tung,
Khăn áo lệ đầm trạnh núi sông.
Đổ nát, đâu nền xưa chỉnh đốn,
Tanh hôi, khác vẻ trước uy phong.
Trở về nâng rượu Tân Đình khóc(2)
Khảng khái tan hồn cố quốc trông.
Mong mỏi cao xanh còn trợ giúp,
Kiếm thần sớm diệt lũ tàn hung.

Bài 2:

Tam bách niên lai vũ trụ xuân,
Thành trì kim dĩ thuộc tha nhân.
Du du vạn lý quân hà tại,
Trướng vọng Lam Sơn thức lệ tần.

Dịch thơ:

Xuân trải ba trăm đất nước nhà,
Thành trì nay đã thuộc người ta.
Vua đâu, muôn dặm xa đằng đẵng,
Buồn vọng Lam Sơn, gạt lệ sa.

Ông còn làm tiếp hơn một chục bài cùng một giọng điệu tâm tình như thế. Khái quát có thể thấy được cái ý chí sâu xa như trong bài Hạ tuyền, Phỉ phong(3)

Năm Bính Thìn 1796, vì việc chi dùng trong nhà không đủ, ông đi chơi An Phong, nghe địa phương có nhà họ Nguyễn đang cần thầy bảo học, liền vào xin nhận chân ấy. Chủ nhà thấy quần áo xoàng xĩnh y như kiểu người Thái Nguyên, trong lòng đã biết ông chỉ là kẻ hàn nho. Trong tay áo có một tập sử. Trong túi mấy cây bút cùn. Cái nghiên cổ đã cóc gặm, ngấn mực bạch phếch. Mấy tờ sách nát thì mọt ăn, nét chữ khó mà phân biệt. Chủ nhân thấy cung cách kém hèn như vậy cho nên đối xử cũng bạc bẽo, thu xếp cho ở một nhà tuềnh toàng, trả lương có ba quan.

Ông thản nhiên như thường, không vì bị bạc đãi mà xấu hổ. Sớm chiều chỉ ra vào chuyện trò với dăm sáu đứa học trò. Trước sau thường quanh quẩn giảng giải bốn năm quyển sách kim cổ. Hoặc đón gió mà ngâm thơ, đối trăng mà ca hát. ở tình cảnh bức bách thì hứng thơ lại càng khởi động. Ông đề trên vách nhà học một bài thơ luật:

Thập tải thư đăng lệ trác ma,
Hạp tương tảo tuế trạc nguy khoa.
Đại canh sở sự tam mân lộc,
Phủ dục nan dung sổ khẩu gia.
Khởi thị văn nhân kỳ ngộ thiểu,
Ức tương tài tử vãn thành đa.
Đỉnh chung tha nhật bằng thiên cấp,
Thường liễu niên tiền nhất tiểu oa.

Dịch thơ:

Mười năm đèn sách mấy chuyên cần
Khoa bảng sao không sớm lập thân.
Ê a bảo học, ba quan lĩnh,
Dạy dỗ nuôi nhà mấy khẩu ăn.
Văn nhân dường gặp ít may mắn,
Tài tử nên công hoặc muộn mằn.
Trời ví ngày nào trao vạc lớn,
Đền bù năm trước một nồi con.

Phàm những bài thơ tùy hứng hoặc thù tạc, ông đều đưa cả vào thi tập, ở đây khôg cần dẫn ra nữa.

Lại nói khi ông ngồi dạy học ở đó, có nuôi một con chó già để sớm chiều chơi đùa với nó. Đi đâu nó cũng đi theo. Khi ngồi thì nó đứng đợi. Ngay ở chỗ đông người nó cũng không chịu rời ông nửa bước. Ông thấy nó có nghĩa như thế nên lại càng cho ăn uống hậu hĩ và đặt tên cho nó là Hàn Lư. Ông thường đùa bảo nó:

- Ta đã nuôi nấng mày như thế này, mày có chịu vì tao mà dốc sức cho đến chết không?

Chó gật đầu, vẫy đuôi như có ý chấp nhận.

Mấy tháng sau, ông có việc phải về nhà. Nó cứ hùng hục vào vào ra ra trông coi nhà. Ngày thì đuổi gà, đuổi lợn. Đêm thì canh phòng trộm đạo. Lại thêm bọn trẻ cả quên không cho ăn, đến nỗi nó sủa không ra hơi nữa. ấp ấy có người nhà giàu họ Trương thấy thế động lòng thương đem cơm cho ăn. Vừa bước vào cửa bị nó sủa luôn. Người ấy trách:

- Hàn Lư ! Hàn Lư ! Tao thương mày đói lâu nên đem cơm cho mày ăn. Tao có phải là phường bất nhân đâu. Mày tuy là loài vật nhưng còn có chút lòng, sao lại lấy oán báo ân vậy?

Nói chưa dứt, chó đã nhe nanh, giương móng, cất thành tiếng người, đáp lại:

- Ông có phải là chủ tôi đâu, sao lại có thể cho tôi ăn được? Há ông không nghe người ta nói: ban đêm đột nhập vào nhà, không phải trộm đạo cũng là tà dâm. Đúng, ông không phải là phường bất nhân. Nhưng tôi, tôi sủa kẻ không phải là chủ.

Người nhà giàu thấy nó linh dị như vậy thì tóc lông dựng đứng, giả vờ trách nó về tội đã phạm đến mình, để xem ý tứ nó ra sao. Nó đáp:

- Ngày đi, ông chủ ủy cho tôi chuyên trách coi sóc cửa nhà, bảo vệ gia đình, trông nom trẻ nhỏ. Cấm đoán lũ xấu, ngăn chặn kẻ gian, đó là trách nhiệm của tôi. Ông vào nhà đột ngột lúc không có chủ tôi, có lỡ bị cắn thì về lý có hề hấn gì. Sao ông lại kết tội nặng vậy?

Người nhà giàu thấy chó đối đáp có lý, nghĩ bụng đó là con vật kỳ lạ, có ý muốn lôi kéo nó, mới từ từ nói rằng:

- Mày có linh tính ắt biết điều phải trái. Vì thế ta bảo cho mày hay: chủ mày là hàn nho trong làng, lại gặp buổi thời thế không thuận. Cửa Vũ lâu ách tắc, vuốt rồng khôn cách đạt đường mây(4); cung Nguyệt vẫn xa xôi, thiềm thừ vô duyên bẻ cành quế(5). Tự cấy cày sao bằng lão nông kỳ cựu; nói tài lợi đâu được bằng kẻ phú thương. Ngõ hẻm nương thân, sinh nhai đủ nuôi vài khẩu; tính kế dạy học, học trò chỉ được bốn tên. Lương hạn ba quan, cả nhà phải xẻn; gạo dè nửa đấu, chẳng bữa nào thừa. Mèo già lẻn bếp cũng uổng công; chuột chù khoét tường đành tưng hửng. Chủ còn chẳng đủ, huống hồ là mày. Nay tao bày cho mày, chi bằng tránh tối tìm sáng, bỏ nghèo theo giàu, mưu cầu đủ đầy, một đời sung sướng, để thoát khỏi cảnh tự khổ, có hơn không?

Chó đáp:

- Ôi ! Ông cũng là người mà sao lại nói những lời như thế ? Phàm kẻ sĩ trung nghĩa không vì thế cùng mà đổi thay chí khí. Cho nên trời rét mới biết thông cao cứng cỏi, gió mạnh mới hay cỏ đứng vững vàng. Loài vật tuy khác giống người, song cũng có thiên chân(6): năm tính trong lòng, bốn mối đầy đủ(7). Vì vậy Voi của Minh Hoàng chẳng lạy Lộc Sơn, vượn của Đức Tông giận đánh Chu Thử(8). Ngựa Xích Thố của Vân Trường không chịu ràng buộc ở Kiến Nghiệp; ngựa Ô Truy của Tây Sở không vui nuôi dưỡng ở Giang Đông(9). Đó đều là vì chủ thủ tiết, không vì chủ nghèo hay giàu, cùng hay đạt mà hai lòng vậy. Nếu như ông chủ tôi xuân thu thịnh vượng, hạnh nghĩa được thời, thì với đầu óc cao rộng, trí lự thông minh, đem đạo lớn uẩn súc ra thi hành, ắt nên giàu có, đâu mãi chịu nghèo hèn. Lúc ấy việc tuyển hiền, đãi sĩ trở lại như thường thì người có chí có đạo, sẵn nghiệp Thi, Thư há còn phải nhờ vào cày cuốc. Còn bây giờ, theo lời thầy Mạnh, lấy nhân nghĩa trị xử, hà tất nói đến lợi. Cứ yên nghèo vui đạo như Nhan Hồi(10) thì ẩn dật ngõ hẻm có nề chi, hy vọng theo vết nhàn ông Mã(11) thì lấy bút thay cày cũng chẳng hại. Ba quan lương cấp là (xem tiếp theo trang sau) nhiều so với của phi nghĩa. Nửa đấu thanh bần vẫn hơn gạo phải khom lưng(12). Nhân thấu đến rắn, lợn thì mèo kia là vật gì mà dám ăn vụng. Tín xử với gà, cá thì chuột xù tuy da dầy cũng có thể cảm hóa. Lòng giữ được ngay thẳng, thuật chọn được sáng suốt, trung đối với vua, tín đối với bạn, hiếu đối với cha mẹ, hòa thuận với họ hàng, thực sự là người cực tốt thì trời sẽ trao cho trách nhiệm nặng nề, để cho phải chịu đói nghèo là nhằm tôi luyện nên ngọc quý. Vậy sao lại có thể đem điều nông nổi luận bàn? Điều ông nói thật là sai trái, tôi tha thứ cho ông. Nếu không thì miệng tôi đang chịu mệnh, cắn ông lần nữa thì có hề chi ? Ông hãy sớm về đi, kẻo sau lại hối.

Người nhà giàu nghe xong mà sững sờ, hiểu rằng không thể lay chuyển được nghĩa khí con chó, đành mang cơm quay ra, than thở:

- Loài vật cố nhiên không thiêng bằng người. Nhưng lại có người không bằng vật ư ?

Liền làm bài thơ Đường để ghi lại việc ấy:

Thụ ủy chuyên tư trách phỉ khinh,
Nhất môn tỏa thược cảm vong tình.
Nộ xung bạo khách ninh tri tử,
Lực hãn cô thành bất vấn sinh.
Môi nhĩ nan mi tiêu kính tiết,
Trảo nha tài khí tráng uy thanh.
Trượng phu đương quốc năng như thị,
Hà chí Huy(13), Khâm khổ Bắc hành.

Dịch thơ:

Được trao trọng trách dám coi khinh,
Nhà cửa trông nom nguyện hết mình.
Thí mạng thỏa hờn xông trộm đạo,
Liều thân đem sức giữ cô thành.
Tiết danh khôn nhử bằng mồi bả,
Uy vũ lừng vang thử vuốt nanh.
Coi nước, trượng phu mà được thế,
Vua ta chi đến phải lênh đênh.

Mấy ngày sau ông Đào trở lại. Con chó ra cửa đón tiếp, khôn xiết buồn thương. Người hàng xóm thuật lại chuyện đã xảy ra. Ông than thở mãi không thôi khẩu chiếm một bài tứ tuyệt:

Nhân, vật tuy thù loại
Thiên chân nhất lý đồng,
Nhất môn tụy trung nghĩa,
Thiên cổ thực thanh phong.

Dịch thơ:

Người và vật khác giống,
Cũng tính trời như nhau,
Trung nghĩa một nhà trọn,
Rực gương muôn thuở sau.

Ngâm rồi, soát xét lại thư phòng thì then khóa, đồ đạc vẫn y nguyên như cũ. Đó đều là do công sức trông nom, gìn giữ của con chó.

Than ôi! Chó là loài vật có lông, còn biết lấy tình nghĩa thờ chủ. Tuy những lời dụ dỗ mật đường vẫn không chuyển được ruột gan sắt đá. Kẻ ăn lộc vua nếu biết đem lòng dạ ấy để báo nước, để chống địch thì địch nào chẳng tan, thành nào chẳng vững, nước nhà sẽ nhờ đó mà củng cố lâu dài. Như thế thì làm gì có cái hận vua Huy, vua Khâm phải ruổi xe lên Bắc. Than ôi ! Sao mà thói đời đa đoan, lòng người thay đổi. Trong lúc nước nhà yên vui thì xu nịnh để cầu ân sủng, đến khi cảnh đời loạn lạc thì thoắt đã đổi mặt thay lòng. Bán nước cầu sống thừa, theo thời để chiếm lộc, sao mà vô liêm sỉ quá thế! Cho nên ta nói rằng: đời nhiều người không bằng con Hàn Lư vậy!

Nhân đó viết thành chuyện để làm răn.

CHÚ THÍCH

(1) Quán: nơi thờ thần tiên của những người theo Đạo giáo.

(2) Nhà Tấn mất nước, các danh sĩ thường tụ tập nhau ở Tân Đình (còn gọi là Lao Lao Đình) uống rượu thương khóc hoài vọng nhà Tấn.

(3) Xem trang sau.

- Hạ tuyền: tên một bài thơ trong Kinh Thi (Tào phong) nói về việc người đất Tào ghét Cộng Công xâm lược, kẻ hạ dân không nơi nương tựa, vừa lo lắng vừa mong chờ có bậc minh vương, hiền bá cứu đỡ.

- Phỉ phong: tên một bài thơ khác trong Kinh Thi (Cốc phong) nói về các bầy tôi đất Cối thương cho đạo nhà Chu không thể phục hưng được đất nước.

Đây ngụ cái ý của tác giả: ghét Tây Sơn, thương nhà Lê, mong chờ có minh chúa.

(4) Theo điển cá chép vượt cửa Vũ hóa rồng, nói về thi cử thành đạt.

(5) “Thiềm thừ” là con cóc. “Cung Nguyệt” hay “Cung Thiềm” đều chỉ cung trăng. Bẻ cành quế cung Thiềm cũng nói về thi cử đỗ đạt.

Cả hai câu này cùng có ý: ông họ Đào gặp thời buổi loạn lạc, không có điều kiện tiến thân.

(6) Tức Thiên tính, tính do trời phú.

(7) Năm tính: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Bốn mối: hiếu, đễ, trung, tín.

(8) An Lộc Sơn phản lại Đường Minh Hoàng (tức Đường Huyền Tông). Chu thử phản lại Đường Đức Tông. Các con vật cũng không tuân phục, chống lại kẻ phản loạn.

(9) Ngựa Xích Thố của Quan Vân Trường (tức Quan Vũ). Ngựa Ô Truy của Tây Sở bá vương (tức Hạng Vũ). Con thì theo chủ không chấp nhận sự chiêu hàng của Tào Tháo, bỏ Kiến Nghiệp (nơi Tào đóng) về với Lưu Bị; con thì theo chủ rời đất Giang Đông (nơi dấy nghiệp của Hạng Vũ) tung hoành chiến trận khắp nơi. Hai con đều là ngựa hay, tận tuỵ với chủ.

(10) Một học trò giỏi của Khổng Tử.

(11) Chỉ Mã Dung, người thời An Đế, Hoàn Đế nhà Đông Hán (Trung Quốc). Ông nổi tiếng học rộng, tài cao, đã từng giữ chức Hiệp thư lang, Nghị lang, Thái thú Nam quận; chú giải nhiều sách Kinh, Truyện; học trò theo học có đến hàng nghìn.

(12) Nhắc lại ý Đào Tiềm khi cương quyết cáo quan về ở ẩn: ta há lại vì ba đấu gạo lương mà phải khom lưng uốn gối.

(13) Huy, Khâm tức vua Huy Tông, Khâm Tông nhà Tống bị giặc Kim bắt đưa lên phương Bắc. Đây ám chỉ việc Lê Chiêu Thống chạy theo quân Thanh sang Trung Quốc.

TB

"LÝ HOẶC LUẬN", BÔNG HOA ĐẦU MÙA CỦA PHẬT GIÁO LUY LÂU

TRẦN NGHĨA

Lý hoặc luận là tác phẩm của Mâu Bác, người Giao Châu, sống vào khoảng cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III sau Công nguyên.

Mâu Bác từng dắt mẹ rời Thương Ngô (Quảng Tây) chạy sang miền Bắc nước ta tránh loạn. Tại đây, ông để tâm nghiên cứu Phật Giáo Luy Lâu (Thuận Thành, Hà Bắc, trung tâm chính trị văn hóa Việt Nam hồi này), có nhiều khám phá và phát hiện quan trọng. Ông viết Lý hoặc luận để trình bày những mới mẻ mà ông tìm thấy nơi Phật Giáo, đồng thời bảo vệ đạo Phật trước sự tấn công từ nhiều phía của đạo Nho, thuyết Hoàng Lão và thuật tu tiên, luyện thuốc trường sinh đang thịnh hành ở Giao Châu thời bấy giờ.

Lý hoặc luận sau khi ra đời, đã có những tiếng vang nhất định, Nó để lại dấu ấn trong 6 bức thư tranh luận về đạo Phật và Đạo Cao, Pháp Minh, hai trí thức nước ta với Lý Miễu, Thứ sử Giao Châu. Nó còn được Tăng Hựu, người đời Lương dùng làm tác phẩm mở đầu cho Hoằng minh tập, một bộ chuyên luận về đạo Phật. Sách Thiền uyển tập anh của Việt Nam khi nói về Phật giáo Luy Lâu có nhắc tới Mâu Bác (Bd. Thiền uyển tập anh, Nxb. Văn học, H. 1990, tr.88-90). Gần đây, Lý hoặc luận cũng được bàn tới trong cuốn Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Nxb. KHXH, H. 1988, tr.53-64)…

Để có thêm tư liệu nghiên cứu về Việt Nam trước thế kỷ X, nhất là thời kỳ Bắc thuộc, một giai đoạn cực kỳ quan trọng trong việc hình thành bản sắc của dân tộc ta, việc giới thiệu toàn văn Lý hoặc luận đã đến lúc cần thiết. Trước 1975, ông Nguyễn Đăng Thục (?) có dịch tác phẩm này sang tiếng Việt, theo bản in trong Đại tạng kinh. Song đây mới chỉ là một bản phỏng dịch, không những không sát với nguyên văn, mà nhiều chỗ còn phiên âm sai, dịch ngược nghĩa với nguyên tác. Lần này chúng tôi đã dịch lại hoàn toàn, cố gắng bám sát văn bản và có thêm phần chú thích để bạn đọc tiện tham khảo. Văn bản chúng tôi sử dụng là Lý hoặc luận trong Hoằng minh tập, ký hiệu HV.001 T883, T.31 (Sử, Triết), Thư viện Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh.

Để tiện theo dõi, bản dịch của chúng tôi tách thành 37 chương riêng biệt. Đầu tác phẩm có Tựa đề (chữ do chúng tôi đặt, dựa theo gợi ý của sách Từ hải, mục Mâu Tử). Cuối tác phẩm có phần kết thúc của chính tác giả.

LÝ HOẶC LUẬN

Tựa đề

Mâu Tử tôi học khắp Kinh truyện(1), Chư Tử(2). Sách vô luận lớn nhỏ, không loại nào là không ham. Tuy không khoái binh pháp, nhưng vẫn đọc. Đọc cả các sách về thần tiên bất tử, song không tin, vì thấy hoang đường.

Hồi bấy giờ, sau khi Linh Đế mất(3), thiên hạ loạn lạc, chỉ có Giao Châu(4) là còn hơi yên tĩnh. Nhân tài phương Bắc đều lánh về đây ở, phần nhiều theo phép thần tiên tịch cốc(5), trường sinh(6). Đương thời có nhiều học giả. Mâu Tử tôi thường đem Ngũ kinh(7) ra vặn vẹo họ, Đạo gia(8), thuật sĩ(9) không ai dám ứng đối, ví tôi với Mạnh Kha(10) chống Dương Chu, Mặc Địch(11).

Trước đó, Mâu Tử tôi đưa mẹ sang tị nạn ở Giao Chỉ(12). Đến năm 26 tuổivề Thương Ngô(13) lấy vợ. Quan Thái thú bản quận nghe tôi học hành nổi tiếng, mời đến gặp để bổ dụng. Mâu Tử tôi nghĩ mình đang độ sung sức, chí chuyên về học vấn, lại thấy thời buổi đang lộn xộn, không có ý định làm quan nên không đến.

Hồi này các châu quận đang nghi ngờ nhau, giao thông ách tắc. Thái thú thấy tôi học rộng biết nhiều, cử đi sứ Kinh Châu(14). Tôi nghĩ tước lộc dễ nhún nhường, nhưng sứ mệnh khó từ chối, bèn gấp rút lên đường. Đến khi quan Châu mục(15) vốn ưu đãi người có học vời tôi ra giúp việc, nên tôi viện cớ ốm, không tới. Người em quan Châu mục làm Thái thú Dự Chương(16) bị Trung lang tướng Trách Dung giết. Quan Châu mục sai Kỵ đô úy Lưu Ngạn đem quân tới đó, nhưng sợ các quận ngoài đang nghi ngờ nhau, quân không đi được. Quan Châu mục bèn mời Mâu Tử tôi đến nói rằng: “Em ta bị giặc nghịch giết hại, nỗi đau xót về tình cốt nhục đang dày vò tâm can. Ta hiện sai Lưu đô úy đi, nhưng e các châu quận ngoài ngờ vực, người đi không trót lọt. Ông giỏi cả văn lẫn võ, có tài ngoại giao. Nay muốn cậy ông đi thuyết phục Linh Lăng, Quế Dương(17) cho mượn đường để tới nơi có được không? Tôi đáp: “Được ngài hậu đãi(18) bấy lâu, liệt sĩ quên mình, tôi xin ra sức”. Vội vàng chuẩn bị khởi hành. Bỗng mẹ mất, thế là không đi được nữa.

Về sau ngẫm mãi, tôi mới vỡ ra là do mình có khả năng biện thuyết mà được trao sứ mệnh. Nhưng giữa thời buổi nhiễu nhương, không phải lúc hiển danh! Rồi than rằng: “Lão Tử(19) từ bỏ thánh trí, sửa mình để giữ lấy cái chân thực, muôn vật không động chạm đến chí hướng, thiên hạ không xê dịch nổi niềm vui, thiên tử không dùng được làm bầy tôi chư hầu không kéo được làm bè bạn, ấy là điều đáng quý”. Từ đó tôi dốc chí vào đạo Phật, đồng thời nghiên cứu sách Lão Tử gồm 5.000 chữ, lấy lẽ huyền diệu làm rượu nhấm nháp, lấy sách Ngũ kinh làm đàn sáo thưởng ngoạn. Người đời phần nhiều chê bai, cho như vậy là quay lưng lại Ngũ kinh để đến với dị đạo. Muốn tranh luận cùng họ thì e lỗi đạo, mà im lặng thì không thể. Vậy mượn bút mực lược dẫn lời thánh hiền để giải tỏ, đặt tên sách là “Mâu Tử Lý hoặc luận”.

I

Có người hỏi: Phật sinh ra từ đâu? Có tổ tiên làng nước gì không? Đã làm được những gì? Hình dáng như thế nào?

Mâu Tử nói: “Câu hỏi hay lắm. Xin đem những hiểu biết nông cạn trình bày đại yếu như sau. Từng nghe: để hóa thành hình dạng, Phật đã tích góp không biết bao nhiêu nghìn ức năm đạo đức. Tuy vậy, khi sắp thành Phật sinh ra ở Thiên Thúc(20), vẫn phải mượn hình ở bà vợ vua Bạch Tĩnh(21). Trong lúc ngủ trưa, bà chiêm bao thấy cưỡi voi trắng sáu ngà, lấy làm thích thú, liền thụ cảm và có mang. Đến ngày mồng tám tháng tư, Phật sinh ra từ hông bên phải của mẹ. Vừa lọt lòng, Phật liền đi bảy bước và giơ tay phải lên nói: “Trên trời dưới đất, chẳng ai hơn được ta đâu!” Bấy giờ, trời đất rung chuyển mạnh, trong cung rực sáng. Cùng ngày, tỳ nữ của vua lại sinh một người con trai; trong chuồng, ngựa trắng mẹ cũng đang cho ngựa trắng con bú. Đầy tớ tên là Xa Nặc(22), ngựa gọi là Kiên trắc(23), vua thường cho theo hầu Thái tử.

Thái tử có 32 tướng(24) tốt, 80 dáng đẹp. Thân cao trượng sáu, toàn thân đều màu vàng. Trên đỉnh đầu, có khối thịt nhô ra như búi tóc. Hàm giống sư tử, lưỡi che được mặt, tay cầm bánh xe nghìn nan hoa, hào quang ở đỉnh đầu tỏa chiếu muôn dặm. Đây là nói qua về tướng mạo của Phật. Năm 17 tuổi, vua cha cưới cho Thái tử một cô gái nước láng giềng. Thái tử ngồi thì dịch ghế, nằm thì giường riêng, nhưng đạo trời rất sáng suốt, âm dương vẫn tương thông, vợ Thái tử bèn có mang, sau sáu năm sinh ra một người con trai. Vua cha trân trọng Thái tử, dựng cung quán cho ở, hầu non, báu vật la liệt gần kề. Nhưng Thái tử không tham sự khoái lạc ở đời, ý vẫn muốn giữ tròn đạo đức. Năm 19 tuổi, giữa đêm mồng tám tháng hai, Thái tử gọi Xa Nặc đóng yên cương cho con Kiên trắc, rồi Thái tử nhảy lên ngựa, quỷ thần phò vệ bay ra khỏi cung. Sáng hôm sau vắng không, chẳng ai biết Thái tử ở đâu cả. Vua và quan, dân đều sùi sụt chạy đi tìm. Ra đến đồng ruộng thì gặp. Vua nói: “Khi chưa có con, cha cầu xin thần linh. Nay đã có con, cha quý con như ngà như ngọc. Sao con không nối ngôi báu mà lại bỏ đi?” Thái tử đáp: “Muôn vật đều vô thường, đã có thì phải mất. Nay con muốn học đạo để cứu rỗi thập phương”(25). Vua thấy Thái tử càng kiên quyết, bèn đứng dậy trở về. Thái tử băng đồng mà đi. Qua sáu năm suy tư về đạo, Ngài đã thành Phật.

Phật sở dĩ sinh vào tháng đầu mùa hè, vì lúc này trời không nóng không lạnh, cây cỏ nở hoa, cởi áo lông chồn mặc áo thưa mỏng, nhằm tiết trung lã(26) vậy. Phật sở dĩ sinh ở Thiên Trúc, vì nơi này là vùng giữa của trời đất, mang tính trung hòa. Ngài biên soạn được cả thảy 12 bộ kinh gồm tám ức bốn nghìn vạn quyển (tức 840 triệu quyển). Quyển dày thường vạn lời trở xuống, quyển mỏng thường nghìn lời trở lên. Phật dạy đạo cho thiên hạ, giải thoát cho nhân dân. Ngài nhập Nê Viên(27) vào ngày rằm tháng hai. Kinh nghĩa và giới hạnh của Ngài vẫn hãy còn, theo đó mà làm, thì cũng thoát được vòng nhân duyên tạo tác(28), để phúc cho đời sau. Người giữ năm điều răn giới(29), mỗi tháng sáu lần chay. Ngày ăn chay thì một lòng chuyên chú vào việc hối lỗi, tự mình đổi mới. Sa môn(30) giữ 250 điều răn giới(31), ngày nào cũng ăn chay. Những điều răn giới này không thể để cho các Ưu bà tắc(32) biết. Về dung nghi, đi đứng không khác với người vô lễ thời cổ. Suốt ngày đêm giảng đạo, tụng kinh, không tham gia vào việc đời. Lão Tử nói: “Chỉ có lấy cái không làm đức, rồi mới hành động theo đạo được” phải chăng là như vậy?

II

Hỏi rằng: Vì sao mà chính thức gọi là “Phật”? “Phật” là nói về cái gì?

Mâu Tử đáp: “Phật” là thụy hiệu(33), cũng giống như gọi thần “Tam Hoàng”, thánh “Ngũ Đế”(34) vậy. Phật là nguyên tổ của đạo đức, đầu mối của thần minh. Nói về Phật, cũng tức là nói về sự giác(35) vậy. Mơ hồ biến hóa, phân tán thân thể, hoặc còn hoặc mất, có thể nhỏ có thể to, có thể tròn có thể vuông, có thể già có thể trẻ, có thể ẩn có thể hiện, đi vào lửa không bị cháy, giẫm lên dao không bị thương, trong nhớp nhơ không vấy bẩn, trong tai họa không nguy nan, muốn đi thì bay, muốn ngồi thì phát ánh sáng, cho nên gọi là Phật.

III

Hỏi rằng: Sao gọi là đạo? Đạo giống như cái gì?

Mâu Tử đáp: Nói đạo, tức là nói về sự dắt dẫn. Dắt dẫn người ta đi tới chỗ vô vi. Nhưng dắt mà không có gì ở phía trước, dẫn mà không có gì ở phía sau, đưa lên mà không có gì ở phía trên, đè xuống mà không có gì ở phía dưới. Nhìn không thấy hình, nghe không thấy tiếng. Bốn phương là to rộng, mà nó còn bao trùm(36) bên ngoài; tơ hào là bé nhỏ, mà nó còn lọt thỏm(37) vào trong. Cho nên gọi là đạo.

IV

Hỏi rằng: Khổng Tử(38) lấy Ngũ kinh(39) để dạy về đạo, có thể chắp tay mà đọc, đem ra mà thực hành (40). Nay ông nói đạo là hư vô, mơ hồ không nhìn thấy, ý tưởng chẳng nhắm vào sự việc, sao mà xa lạ với lời lẽ của thánh nhân thế.

Mâu Tử đáp: Không thể lấy cái quen thuộc làm trọng, cái ít thấy làm khinh; mù mờ về cái khác, lầm lỡ ở chính mình. Đặt công việc không sai đạo đức, cũng như chỉnh dây đàn không lạc cung thương(41). Đạo trời phỏng theo bốn mùa, đạo người pháng theo ngũ thường(42). Lão Tử nói: “Có vật hồn thành(43), sinh ra trước trời đất, khả dĩ làm mẹ muôn loài trong thiên hạ, ta không biết tên, khiên cưỡng gọi nó là đạo”(44). Bản chất của đạo là ở nhà có thể thờ cha mẹ, làm chủ một nước có thể trị dân. riêng bản thân, có thể sửa mình. Đem ra mà thực hành thì đầy kín cả trời đất, bỏ không dùng thì tiêu tán nhưng chẳng lìa. Ông không hiểu đấy thôi, chứ có gì xa lạ !

V

Hỏi rằng: Kìa thực, lòng thì không cần hoa mỹ, thực lời thì không cần trang sức. Lời gọn mà đủ là hay, việc ít mà đạt là rõ. Cho nên châu ngọc tuy ít mà quý, ngói vụn tuy nhiều mà rẻ. Thánh nhân làm ra Thất kinh(45) chẳng qua 3 vạn lời mà các việc đều đầy đủ. Nay kinh Phật số quyển kể tới hàng vạn, số lời đếm tới hàng ức, sức một người không tài nào đọc xuể, tôi cho là rườm rà không cần thiết.

Mâu Tử đáp: Sông biển sở dĩ khác với nước chảy qua đường là do ở chỗ sâu rộng không giống nhau của nó; ngũ nhạc(46) sở dĩ khác với gò đống là do ở chỗ cao lớn không giống nhau của nó. Nếu cao không vượt gò đồi, thì dê què cũng lấn tới đỉnh; sâu không hơn khe lạch, thì trẻ con cũng tắm được ở giữa dòng. Kỳ lân không ở trong vườn thú, loại cá nuốt thuyền không bơi trong con suối bảy, tám thước nông choèn. Mổ con trai ba tấc tìm hạt châu minh nguyệt, vạch cái tổ trong bưởi gai tìm chim phượng hoàng non, ắt khó thành công.Vì sao vậy? Bởi cái nhỏ không chứa được cái lớn. Kinh Phật báo trước sự việc của hàng vạn vạn năm, nhưng lại toàn là điều cần thiết của muôn đời. Lúc thái tố(47) chưa trỗi dậy, thái thủy(48) chưa nảy sinh, trời đất mới chớm lập, sự vi diệu không thể nắm bắt, sự bé nhỏ không thể vào lọt, thì Phật đã sửa sang mặt ngoài cái to rộng ấy và chẻ tách từ bên trong sự vắng vẻ, thẳm sâu, kỳ diệu của nó, không có gì là không qua sự sắp đặt của Phật. Cho nên kinh mới đến hàng vạn quyển, nói mới đến hàng ức lời. Càng nhiều càng đầy đủ, càng lắm càng dồi dào, sao lại không cần thiết! Tuy một người không thể đọc xuể, nhưng ví như xuống sông uống nước, no bụng là đủ, hơi đâu mà biết đến số nước còn lại!

VI

Hỏi rằng: Kinh Phật quá bề bộn, muốn được phần cốt yếu, bỏ phần dư thừa, nói thẳng vào thực chất, gạt đi những hoa hòe, có được không ?

Mâu Tử đáp: Không được! Kìa mặt trời mặt trăng tuy cùng sáng, nhưng mỗi đằng có chỗ chiếu soi riêng của nó; cũng như 28 vì sao, mỗi vì làm chủ một nơi; trăm vị thuốc cùng sinh ra, mỗi vị có một tác dụng riêng. Áo lông chồn để phòng lạnh, vải đay thô để chống nóng. Thuyền, xe tuy khác đường nhưng đều dùng để đi đây đó. Khổng Tử không cho Ngũ kinh là đầy đủ, nên lại làm ra các sách Xuân thu(49), Hiếu kinh(50) nhằm mở rộng đạo thuật, phát triển ý người đời. Kinh Phật tuy nhiều, đều quy về một mối, giống như Thất điển tuy khác nhau, nhưng đều quý trọng đạo đức, nhân nghĩa. Hiếu sở dĩ được nói tới nhiều, là tùy theo người thực hiện mà giảng cho, như Tử Trương, Tử Du(51) đều nghe về cùng một đạo hiếu, nhưng Trọng Ni trả lời cho họ mỗi người một khác, vì nhằm đánh vào chỗ sở đoản của từng người. Có gì phải bỏ đâu!

VII

Hỏi rằng: Đạo Phật được tôn sùng lắm, vĩ đại lắm, cớ sao Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng(52) không học? Trong Thất kinh chẳng thấy chép một lời? Ông đã mê Thi, Thư, thích Lễ, Nhạc sao lại còn ham đạo Phật, chuộng học thuật khác? Lẽ nào có thể bước qua kinh truyện để ca ngợi nghiệp thánh(53) sao? Thiết tưởng ông sẽ không thu hoạch được gì! Mâu tử đáp: Sách không cứ phải là lời của Khổng Khâu, thuốc không cứ phải cách chữa của Biển Thước(54). Cái gì hợp lý thì theo, cái gì chữa được bệnh thì tốt. Người quân tử rộng đường tiếp thu các cái thiện để trợ giúp cho mình. Tử Cống(55) nói: “Phụ tử(56) đâu có mãi một thầy? “Nghiêu thờ Doãn Thọ, Thuấn thờ Vụ Thành, Đán (57) học Lã Vọng, Khâu học Lão Đam, cũng đều không thấy nói ở Thất kinh. Bốn người thầy trên tuy đều là bậc thánh, nhưng so với Phật, thì cũng giống như hươu trắng so với kỳ lân, chim chóc sợ với phượng hoàng. Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng mà ta còn phải dính dáng, huống chi là Phật có thân tướng hay biến hóa, thần lực chẳng thể lường, sao có thể bỏ mà không học? Sự việc và nghĩa lý Ngũ kinh hoặc giả có chỗ còn thiếu, trách gì không thấy ghi chép về Phật.

VIII

Hỏi rằng: Nói Phật có 32 tướng tốt, 80 dáng đẹp, sao mà khác với người đến thế? Hay chỉ là nói cho vui tai, chứ không có thật ?

Mâu Tử đáp: Ngạn ngữ có câu “Thấy ít, lạ nhiều; nhìn lạc đà bảo là ngựa sưng lưng”. Vua Nghiêu lông mày có 8 màu, vua Thuấn có 2 con ngươi, Cao Dao mõm ngựa, Văn Vương 4 vú, vua Vũ tai có 3 lỗ, Chu Công lưng gù, Phục Hy mũi rồng, Trọng Ni đầu dẹt, Lão Tử trán dô như mặt trời tháng 9 (?), mũi có hai lá mía (?), tay nắm chữ thập (?), chân đạp âm dương ngũ hành (?), như thế chẳng khác người hay sao? Phật tướng tốt thì có gì đáng ngờ !

IX

Hỏi rằng: Sách Hiếu kinh nói: “Thân thể, tóc da được cha mẹ cho, không dám làm thương tổn”(58). Tăng Tử khi sắp mất, có bảo: “Cởi dây buộc tay cho ta, cởi dây buộc chân cho ta”(59). Nay các nhà sư lại cắt tóc, sao lại trái lời thánh nhân, không hợp đạo làm người con có hiếu đến thế? Ông hay thích biện luận về điều phải điều quấy, phẩm bình về việc ngay thẳng, việc quanh co, thế mà lại biểu đồng tình với các nhà sư sao?

Mâu Tử đáp: Ôi! Cười chê thánh hiền thì là bất nhân; phẩm bình không trúng thì là bất trí. Bất nhân, bất trí lấy gì tạo dựng đức? Đức mà không tạo dựng được thì là loại người ương ngu. Lập luận sao mà dễ dãi thế? Xưa kia người nước Tề chèo thuyền qua sông, cha bị ngã xuống nước, con nắm cánh tay kéo đầu cha lật ngược xuống dòng nước từ mồm ộc hết ra, thân phụ nhờ vậy được cứu sống. Kéo đầu lật ngược xuống thật không còn gì bất hiếu hơn nhưng là để bảo toàn tính mệnh cho cha. Nếu cứ chắp tay giữ tròn đạo hiếu, thì cha sẽ bị chết đuối mất. Khổng Tử nói: “mới có khả năng thích nghi với đạo lý, mà chưa có khả năng quyền biến”, tức tuỳ theo từng lúc mà đưa ra biện pháp thích hợp. Vả, Hiếu kinh nói: “Các vua đời trước đạo cao đức cả”. Thế mà Thái Bá phải cắt tóc ngắn, vẽ mình, tự nguyện theo phong tục Ngô Việt(60), trái với cái nghĩa “thân thể, da tóc”. Nhưng Khổng Tử vẫn ca ngợi ông. Có thể nói ông là người chí đức. Trọng Ni không vì chuyện “cắt tóc ngắn” mà báng bổ. Theo đó mà xem xét, hễ có đức lớn, thì không câu nệ ở đức nhỏ. Các nhà sư từ bỏ gia sản, vợ con, không nghe đàn hát, không nhìn sắc đẹp, có thể nói là nhường nhịn hết mức, sao lại bảo là làm trái lời thánh nhân, không hợp đạo hiếu? Dự Nhượng nuốt than, sơn mình(61), Nhiếp Chính rạch mặt tự vẫn(62), Bá Cơ giẫm lửa(73), Cao Hạnh hủy hoại dung nhan(64), người quân tử cho họ là dũng mà có nghĩa, chưa thấy ai chê cười hành động liều thân của họ.Việc nhà sư cắt bỏ râu tóc, so với bốn người trên kia, chẳng phải còn cách xa đấy sao?

X

Hỏi rằng: Kìa hạnh phúc không gì hơn kế tự, bất hiếu không gì hơn tiệt nòi. Các nhà sư từ bỏ vợ con, của cải, có người suốt đời không lấy vợ, sao mà trái với cõi phúc và đạo hiếu như vậy? Tự làm khổ mà không tân kỳ, tự cứu vớt mà không mới lạ gì cả.

Mâu Tử đáp: Hễ giỏi phía nọ thì kém phía kia, được mặt này thì mất mặt khác. Công Xước làm gia thần cho nước Triệu, nước Ngụy thì vào loại xuất sắc, nhưng lại không thể làm quan đại phu cho nước Đằng, nước Tiết. Vợ con, tài sản là vật thừa ở đời; thân trong sạch, vô vi là sự kỳ diệu của đạo. Lão Tử nói: “Danh và thân, cái nào đáng yêu hơn? Thân và của, cái nào đáng trọng hơn?” Lại nói: “Xem di phong của Tam đại(65) nhìn đạo thuật của Nho Mặc, tụng đọc Thi, Thư, sửa sang lễ nhạc, nêu cao nhân nghĩa, nhìn ngắm trong sạch, người trong làng noi theo, tiếng tăm lừng lẫy, ấy là điều mà kẻ sĩ bậc trung đem ra thực hiện, còn người điềm đạm thì chẳng đếm xỉa gì”. Cho nên trước mặt có ngọc châu rơi, sau lưng có tiếng hổ gầm, thì dù thấy ngọc cũng phải bỏ chạy, không dám lấy. Tại sao thế ? Vì lo thân mạng trước đã, sau mới đến lợi. Hứa Do(67) làm tổ trên cây mà ở; Di, Tề(68) chết đói ở núi Thú Dương, đều được thánh Khổng(69) khen là bậc hiền, nói “cầu nhân thì được nhân”, chưa thấy ai chê họ là tiệt hậu, không có của cải. Các nhà sư lấy việc tu dưỡng đạo đức thay cho cái thú rong chơi cõi thế, trở lại với sự hiền hòa, lương thiện, thay cho niềm vui vợ con. Thế mà không tân kỳ, thì gì mới là tân kỳ? Thế mà không mới mẻ, thì gì mới là mới mẻ.

XI

Hỏi rằng: Hoàng Đế(70) rũ áo xiêm, chế ra các kiểu phục sức. Cơ Tử(71) trình bày Hồng phạm, đặt dáng điệu đứng đầu ngũ sự(72). Khổng Tử làm sách Hiếu kinh, lấy “phục” mở đầu tam đức, lại còn nói: “Sửa mũ áo cho ngay ngắn, tôn trọng việc xem nhìn”. Nguyên Hiến(73) tuy nghèo, vẫn không rời chiếc mũ hoa. Tử Lộ(74) gặp nạn vẫn không quên tết giải mũ. Nay các nhà sư cạo trọc đầu, quần vải đỏ; thấy người khác, không làm lễ quỳ xuống đứng dậy; uy nghi, không có động tác săn đón, nhún nhường. Sao mà trái với các quy định về dáng điệu và phục sức đến thế, ngược hẳn với kiểu ăn mặc của giới thượng lưu?

Mâu Tử đáp: Lão Tử nói: “Cái đức cao nhất là bất đức, cho nên có đức, cái đức thấp nhất là không thất đức, cho nên vi đức”. Vào thời Tam Hoàng, ăn thịt sống, mặc da thú, làm tổ mà ở, đào hang mà trú, chuộng sự chất phác, lẽ nào lại chờ đến mũ chương phủ(75), áo hồ cầu(76)? Thế nhưng họ vẫn tự cho là có đức mà đôn hậu, tin cậy mà vô vi. Hành vi của các nhà sư cũng tương tự như vậy.

Hoặc có người rằng: Cứ như lời ông nói, thì những Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Chu Công, Khổng Tử đều vất đi cả, không có gì đáng bắt chước sao?

Mâu Tử đáp: Kìa nhìn rộng thì không mê muội, nghe lọt thì không mù mờ. Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng sửa sang việc đời; Phật và Lão Tử để chỉ vô vị; Trọng Ni long đong lận đận ở hơn 70 nước; Hứa Do nghe chuyện truyền ngôi, đã xuống vực rửa tai. Đạo người quân tử là ra làm quan hoặc lui sống ẩn, im lặng hoặc lên tiếng, không buông thả tính tình. Cho nên đạo quý ở chỗ đem dùng, đâu có chuyện vứt bỏ.

XII

Hỏi rằng: Đạo Phật nói người ta chết rồi sẽ thác sinh trở lại, tôi không tin đấy là lời nói có suy xét.

Mâu Tử nói: Khi có kẻ sắp chết, người nhà trèo lên mái nhà mà gọi. Đã chết, còn gọi ai nữa?

Có người nói: Gọi hồn vía người ấy.

Mâu Tử bảo: Thần hồn trở về thì sống, còn nếu không trở về, thì thần hồn đi đâu?

Đáp: Thành quỷ thần.

Mâu Tử nói: Đúng như vậy. Thần hồn vốn bất diệt, chỉ có thân thể là tự rữa nát thôi. Thân người tỉ như rễ và lá của ngũ cốc, còn thần hồn thì như hạt giống. Rễ, lá có sống thì có chết, nhưng lẽ nào hạt giống cũng tiêu vong? Khi đắc đạo, chỉ có thân thể là mất đi thôi! Lão Tử nói: “Ta sở dĩ có mối lo lớn, là bởi có tấm thân. Nếu thân ta không có, thì còn gì phải lo nữa?” Lại nói: “Công đã thành, danh đã toại thì lui thân về, đạo trời đó”.

Có người nói: Làm theo đạo cũng chết, mà không làm theo đạo cũng chết, có gì khác nhau đâu?

Mâu Tử đáp: Đấy là chuyện không một ngày nào làm điều lành, mà lại đòi tiếng khen suốt đời. Người có đạo tuy chết, thần hồn sẽ về chốn Phật đường. Người làm điều ác chết rồi, thần hồn ắt mang tai họa. Kẻ ngu đần tăm tối mãi cho đến lúc sự việc hoàn thành, người tài trí thấy sự việc khi nó còn mới chớm. Đạo và không đạo như vàng so với cỏ, lành so với dữ, trắng sánh với đen, làm sao không khác biệt, mà lại nói là có gì khác nhau đâu”?

XIII

Hỏi rằng: Khổng Tử nói: “Chưa có khả năng phụng sự người, sao có khả năng thờ phụng quỷ”; “Chưa biết về sự sống, thì sao biết về sự chết?”(77). Ấy là điều thánh nhân dứt khoát không động chạm tới. Nay nhà Phật thuyết về sự sống chết, việc quỷ thần, hầu như đây không phải là lời lẽ của bậc thánh triết. Kìa như người sống đạo nên vô tư, đạm bạc, dốc chí về sự chất phác, chứ sao lại đi nói về sống chết để làm rối chí, hoặc thuyết về quỷ thần, chuyện rỗi hơi?

Mâu Tử đáp: Như lời ông nói, có thể gọi là thấy bên ngoài mà chưa biết bên trong. Khổng Tử ghét Tử Lộ không hỏi những chuyện thiết thực(78), nên nói như thế để vặn lại thôi. Hiếu kinh nói: Dựng tông miếu để cúng hiến quỷ thần, xuân thu tế lễ để luôn luôn tưởng nhớ”. Lại nói: “Đối với sự sống, phải yêu kính; đối với sự chết, phải đau buồn”. Lẽ nào đó không phải là dạy cho người ta thờ quỷ thần, hiểu biết về sinh tử ! Chu Công xin ý kiến Vũ Vương, nói: “Đán này nhiều tài nghệ, có khả năng thờ phụng quỷ thần”, đó là gì vậy? Kinh Phật nói về đường sinh tử, chẳng thuộc về loại đó sao? Lão Tử rằng: “Đã biết được con, lại giữ được mẹ, trọn đời không nguy hại”. Lại rằng: “Theo ánh sáng, khôi phục nguồn sáng, không sợ bỏ mình”. Đó là nói về đường sống chết, nơi lành dữ. Cái quan trọng của đạo cả, là quý trọng sự yên lặng. Nhà Phật có thích nói nhiều đâu? Đến hỏi thì không thể đáp đấy thôi. Chuông trống lẽ nào tự lên tiếng? Dùi đánh vào mới có âm thanh.

XIV

Hỏi rằng: Khổng Tử nói: “Di Địch(79) có vua, chẳng bằng Chư Hạ(80) không vua”. Mạnh Tử chế riễu Trần Tương quay sang học cái thuật của Hứa Hành, nói: “Ta nghe dùng Hoa Hạ để biến cải Man Di, chứ chưa nghe dùng Man Di để biến cải Hoa Hạ”. Ông thuở nhỏ học đạo Nghiêu, Thuấn, Chu. Khổng, mà nay lại bỏ quay sang học cái thuật của Di Địch, chẳng hóa ra mê hoặc rồi sao?

Mâu Tử đáp: Đó là những lời lẽ vu vơ khi ta còn chưa hiểu đạo cả đấy thôi. Như ông đây, có thể gọi là mới thấy cái hoa lễ chế, mà mù mờ về cái quả đạo đức; nhòm ánh sáng bó đuốc, mà chưa thấy mặt trời giữa thiên đình. Lời Khổng Tử nói là nhằm uốn nắn phép đời. Điều Mạnh Kha bảo là ghét cái lối chỉ chuyên vào một thứ thôi. Xưa kia Khổng Tử muốn vào Cửu Di(81) ở, nói: “Người quân tử vào đây ở, có gì là xấu đâu?”. Đến khi Trọng Ni không dung thân được ở nước Lỗ, nước Vệ; Mạnh Kha không được dùng ở nước Tề, nước Lương, lẽ nào lại đi làm quan ở Di Địch? Vũ(82) sinh ra ở Tây Khương(83) mà là thánh triết; Cổ Tẩu(84) sinh ra Thuấn(85) nhưng ngu ngơ; Do Dư(86) đẻ ở nước Địch mà giúp Tần dựng nên nghiệp bá; Quản, Thái(87) từ Hà, Lạc(88) mà phao tin nói xấu. Sách chép: “Sao Bắc đẩu đối với trời là ở giữa, đối với người là ở phía Bắc”. Cứ theo đó mà xét thì đất Hán(89) chưa chắc đã ở giữa trời. Kinh Phật nói các giống vật hàm huyết ở khắp mọi phương đều thuộc về Phật cả, cho nên ta mới tôn sùng và theo học, chứ đâu có bỏ đạo Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng. Vàng, ngọc không tổn thương nhau; tinh hoa, hổ phách không làm hại nhau. Khi bảo người ta là mù mờ, tự mình làm cho mình mù mờ đấy chăng?

XV

Hỏi rằng: Đại phàm lấy của cha để cho người đi đường, không thể gọi là huệ; song thân còn sống mà lại đi liều thân cho người khác, không thể gọi là nhân. Nay kinh Phật bảo Thái tử Tu Đại Nã(90) đem của cha bố thí cho người dưng, lấy voi quí của nước ban cho kẻ thù oán, đem vợ con trao cho người khác. Không kính trọng thân nhân, mà đi kính trọng người khác, thì gọi là bội lễ. Không yêu thân nhân mà yêu người khác, thì gọi là bội đức. Đại Nã bất hiếu, bất nhân mà nhà Phật lại tôn sùng, thế không lạ lùng sao?

Mâu Tử đáp: Theo nghĩa sách Ngũ kinh thì phải lập con trưởng làm đích. Thái Vương(91) thấy Xương(92) có chí, chuyển con thứ làm đích, dựng thành cơ nghiệp nhà Chu, dẫn tới thái bình. Theo nghĩa, khi lấy vợ phải báo cáo với cha mẹ. Thuấn lấy vợ không báo cáo, để nên đạo lớn. Kẻ sĩ kiên trinh đợi được đón mời, bề tôi hiền tài chờ được vời triệu. Vậy mà Y Doãn(93) cõng vạc tìm đến vua Thang(94); Ninh Thích(95) gõ sừng gặp được vua Tề; Thang nhờ đó mà thành nghiệp vương; Tề nhờ đó mà thành nghiệp bá. Theo lễ trai gái không trực tiếp trao đưa, vậy mà chị dâu chết đuối thì chìa tay ra kéo, đó là tòng quyền lúc nguy cấp. Nếu thấy được cái lớn, thì không câu nệ ở cái nhỏ. Những nhân vật lớn lẽ nào đi câu chấp cái tầm thường.

Tu Đại Nã thấy cuộc thế vô thường, của tiền đối với mình không phải là cái quí, nên đã mặc lòng bố thí để thành đạo cả. Nước vua cha được phúc lành, kẻ thù không thể xâm nhập. Đến khi thành Phật, cha mẹ anh em đều được cứu rỗi. Thế mà không là hiếu, thế mà không là nhân, thì gì mới là nhân, là hiếu?

XVI

Hỏi rằng: Đạo Phật chuộng vô vi, thích bố thí và giữ điều kiêng cấm, nơm nớp như đứng bên vực thẳm. Nay các nhà sư say sưa rượu chè, có người nuôi cả vợ con, mua rẻ, bán đắt, chuyên làm việc dối trá, đấy toàn những chuyện giả dối ở đời, mà đạo Phật lại gọi là vô vi ư?

Mâu Tử đáp: Công Du(96) có thể đưa búa, rìu, dây mực, nhưng không thể khiến người ta khéo. Thánh nhân có thể truyền đạo, nhưng không thể khiến người ta thực hiện. Cao Dao(97) có thể xử tội kẻ trộm, nhưng không thể khiến đứa tham trở nên Di, Tề. Ngũ hình(98) có thể trừng phạt kẻ xấu, nhưng không thể khiến người ác trở thành Tăng, Mẫn(99). Vua Nghiêu(100) không thể cảm hóa Đan Chu, Chu Công không thể dạy bảo Quản, Thái, đâu phải do giáo hóa Đường Ngu không rạng tỏ, đạo lý nhà Chu không hoàn bị! Vậy mà không làm gì nổi kẻ ác là cớ sao? Ví như người đời học thông Thất kinh mà si mê tài sắc, có thể bảo do Lục nghệ(101) tà dâm chăng? Hà Bá(102) tuy tài, không thể làm cho người trên cạn chết đuối; cơn bão tuy mạnh, không thể khiến nước sâu nổi bụi.

Nên lo người đời không chịu thực hiện, chứ sao lại bảo đạo Phật là ác?

XVII

Hỏi rằng: Khổng Tử bảo: “Xa xỉ thì không cung kính, tiết kiệm thì bền vững. Nếu không cung kính được, thì thà rằng bền vững”. Thúc Tôn(103) nói: “Tiết kiệm là đức cung kính, xa xỉ là tội ác lớn vậy”. Nay nhà Phật vét sạch tài sản đi bố thí để lấy tiếng, đem hết của cải cho người khác làm điều quí, lẽ nào có phúc thực ư ?

Mâu Tử đáp: Mỗi thời một khác. Lời nói của Trọng Ni làm nhằm chê trách sự xa hoa không giữ lễ. Lời bàn của Thúc Tôn là nhằm châm biếm sự chạm trổ nhà cửa của Nghiêm Công, chứ không phải cấm bố thí. Thuấn khi cày ruộng ở Lịch Sơn, ơn chưa tới châu quận. Thái Công(104) lúc mổ trâu bán, huệ chưa đến vợ con. Cho tới khi họ được bổ dụng, ơn mới tràn khắp muôn nơi, huệ mới lan ra bốn biển. Lắm tiền, nhiều của, quí ở chỗ có thể cho kẻ nghèo khổ đến hết sạch, tức quí ở chỗ thực hiện đạo. Hứa Do không tham bốn biển, Bá Di không hám nước mình, Ngu Khanh(105) vất tước phong vạn hộ để cứu người nghèo qua cơn nguy cấp, cũng là mỗi người một chí hướng riêng. Hy Phụ Ky dùng niêu cơm mà bảo toàn được cả xóm nhà nơi mình ở, Tuyên Mạnh nhờ một bữa ăn mà cứu sống được thân mạng. Âm thầm cho, xuất phát từ vô tâm, mà sự báo đáp rõ rệt như ban ngày. Huống chi dốc gia tài, mở lòng từ thiện, công đức vòi vọi như núi Tung, núi Thái, mênh mang như sông như biển. Người mang lòng thiện sẽ được ứng đáp bằng phúc lành, người chứa điều ác sẽ bị trả báo bằng tai vạ. Chưa bao giờ trồng lúa mà lại được mì, gieo họa mà lại hưởng phúc cả.

XVIII

Hỏi rằng: Kìa việc làm không gì hơn thành tâm, lời nói không gì hơn thực lòng. Lão Tử gạt bỏ các từ hoa hòe, sùng chuộng những lời chất phác. Kinh Phật lời nói không nhằm vào sự việc cụ thể, mà chỉ toàn lấy những thí dụ xa xôi. Thí dụ không phải là chỗ trọng yếu của đạo. Gộp những cái khác nhau làm cái giống nhau, không phải là chỗ kỳ diệu của việc làm. Tuy từ nhiều, lời rộng, cũng giống như một xe ngọc vụn, không lấy chi làm quí.

Mâu Tử đáp: Sự việc mọi người cùng thấy, thì có thể đem sự thực ra nói với nhau. Nhưng nếu một người thấy, một người không thấy, thì khó mà nói cho tin được. Xưa có người chưa thấy kỳ lân, hỏi người đã thấy là: con kỳ lân giống cái gì? Người thấy kỳ lân nói: Con kỳ lân giống như con kỳ lân vậy. Người hỏi nói: Nếu tôi thấy kỳ lân rồi thì còn hỏi ông làm gì nữa, mà ông lại bảo kỳ lân giống kỳ lân, làm sao có thể hiểu được! Người thấy kỳ lân nói: Con kỳ lân mình hươu, đuôi trâu, chân nai, lưng ngựa. Người hỏi bỗng hiểu. Khổng Tử nói: “Người ta không biết mình mà mình không giận, chẳng cũng là quân tử sao?”. Lão Tử nói: “Khoảng trời đất giống như ống bễ chăng”. Lại nói: “Đạo đối với thiên hạ, giống như ngòi lạch với sông biển”. Lẽ nào đấy là những lời hoa hòe ư? Sách Luận ngữ nói: “Dùng đức để cai trị thì cũng giống như sao Bắc thần”, dẫn trời để so với người vậy. Tử Hạ nói: “Ví như cây cỏ”, khoanh vùng để phân biệt. Ba trăm bài thơ trong Kinh thi đều viện dẫn vật cùng loại. Từ sấm vĩ(106) của Chư tử đến yếu mật của thánh nhân, không đâu là không dẫn dụng các thí dụ. Sao ông riêng ghét việc Phật dùng thí dụ để giảng kinh?

XIX

Hỏi rằng: Người ta ở đời, không ai là không ham giàu sang mà ghét nghèo hèn, thích nhàn vui mà sợ nhọc mệt. Hoàng Đế dưỡng tính, lấy năm loại thức ăn chín làm đầu. Khổng Tử nói: “Ăn thì món ăn càng tinh càng tốt; chả thì thịt càng nhỏ càng hay”. Nay các nhà sư mặc vải đỏ, ngày ăn một bữa kiềm chế lục tình(107), tự kết thúc với đời như thế, phỏng được cái gì ?

Mâu Tử đáp: Giàu sang là điều người ta mơ muốn, nhưng nếu không phải đạo, không cần. Nghèo hèn là điều người ta chán ghét, nhưng nếu không phải đạo, không tránh. Lão Tử nói: “Ngũ sắc(108) làm người ta lòa mắt, ngũ âm(109) làm người ta điếc tai, ngũ vị(110) làm người ta đắng mồm, ruổi rong săn bắn làm tâm thần người ta cuồng loạn, hàng hóa khó kiếm làm người ta gây thương tích. Thánh nhân vì bụng dạ chứ không vì con mắt”. Những lời nói ấy lẽ nào lại là rỗng không ! Liễu Hạ Huệ(111) không vì ngôi Tam công mà thay đổi hành vi, Đoàn Can Mộc(112) không đem thân đổi lấy cái giầu của Ngụy Văn; Hứa Do, Sào Phủ(113) lên cây mà ở, tự cho là yên ổn, hơn cung điện nhà vua; Di, Tề nhịn đói ở Thú Dương, tự cho là no nê hơn Văn Vũ(114). Đại để mỗi người cốt đạt chí hướng thì thôi, sao bảo không được cái gì?

XX

Hỏi rằng: Nếu quả kinh Phật là thâm thúy, kỳ diệu, đẹp đẽ, thì sao ông không đem bàn ở triều đình, thảo luận với các bậc quân phụ, dùng để giáo dục trong gia đình, thù tiếp bạn bè… mà lại đi học Kinh truyện, đọc Chư tử làm gì?

Mâu Tử đáp: Ông chưa tới được nguồn, mà hỏi về dòng chảy, Kìa như việc đem trở đậu(115) ra bày ở cửa lũy, dựng cờ quạt ở triều đường, mặc áo lông chồn để chống cái nóng của tiết nhuy tân(116), vận áo vải thô để đương cái rét của tiết hoàng chung(117), không phải không đẹp, mà là không đúng chỗ, không hợp thời vậy. Cho nên đem đạo thuật Khổng Tử vào cửa Thương Ưởng(118), mang học thuyết Mạnh Kha tới sân Tô, Trương(119), công không được một phân một tấc, mà tội có đến hàng trượng, hàng xích. Lão Tử nói: “Bậc thượng sĩ nghe đạo, chăm chỉ mà thực hiện; bậc trung sĩ nghe đạo, đâm ra bâng khuâng(120); bậc hạ sĩ nghe đạo, cười phá lên! “Tôi sợ bị cười phá lên nên không bàn tới nữa. Khát nước, bất tất phải chờ tới sông lớn; nước giếng thơi lẽ nào không đủ để uống sao? Cho nên vẫn nghiên cứu Kinh truyện.

XXI

Hỏi rằng: Đất Hán bắt đầu nghe nói tới đạo Phật tự bao giờ?

Mâu Tử đáp: Xưa kia Hiếu Minh Hoàng Đế(121) mộng thấy thần nhân mình có ánh mặt trời, bay ở trước điện, vua lấy làm mừng rỡ thích thú, sáng hôm sau hỏi khắp quần thần xem đấy là ai. Có nhà thông thái tên là Phó Nghị nói: “Thần nghe ở Thiên Trúc có người đắc đạo, hiệu gọi là Phật, phi hành trên không, mình có ánh mặt trời, gần giống như vị thần đó vậy”. Thế là bề trên tỉnh ngộ, sai sứ giả Trương Khiên(122), Vũ lâm lang trung Tần Cảnh, Bác sĩ đệ tử Vương Tuân vân vân… cả thảy 12 người đến Đại Nguyệt Chi(123) chép kinh Phật, được 42 chương, đem cất ở gian thứ 14 của nhà đá Lan đài. Hồi bấy giờ, bắt đầu xây chùa Phật ở ngoài cửa Ung Môn phía tây thành Lạc Dương, trên tường vẽ muôn ngựa nghìn xe xếp thành ba lớp quanh tháp. Lại ở đài Thanh Lương của Nam Cung và trên cửa thành Khai Dương đều có làm tượng Phật. Lúc Minh Đế còn sống, có xây thọ lăng, đặt tên là Hiển Tiết, bên trên cũng có làm tượng Phật Đồ. Hồi này nước giầu dân yên, người Di ở xa mộ nghĩa, kẻ theo học về Phật do vậy mà nảy sinh.

XXII

Hỏi rằng: Lão Tử bảo: “Kẻ biết thì không nói, kẻ nói thì không biết”. Lại rằng: “Biện luận giỏi tựa như đần độn, khéo léo giống như vụng về”. Đấng quân tử coi việc nói nhiều, làm ít là xấu hổ. Nếu quả các nhà sư có cái đạo tuyệt vời, sao không ngồi mà thực hiện, hà tất phải vọc vạch thị phi, cong thẳng? Tôi cho như thế là hèn kém về mặt đức hạnh.

Mâu Tử đáp: Xuân tới chắc đói lớn, thu này phải nhịn ăn. Tháng mười một rất rét, tháng năm trọng áo cừu. Chuẩn bị tuy có sớm, nhưng để khỏi rằng ngu(124). Những điều Lão Tử nói là giành cho người đắc đạo. Kẻ chưa đắc đạo thì hiểu sao nổi? Đạo cả chỉ một lời mà thiên hạ đều vui theo, lẽ nào đó không phải là biện luận giỏi? Lão Tử chằng đã nói đấy ư: “Công danh toại nguyện(125), bản thân lui về, đó là đạo trời vậy”? Thân đã lui rồi, còn nói làm gì! Các nhà sư ngày nay chưa đắc đạo, thì không thể không nói. Lão Thị(126) cũng còn nói nữa là! Như ông ta không nói, thì 5.000 lời kia(127) là gì? Nếu biết mà không nói, thì còn khả dĩ. Đã không có khả năng biết, lại không có khả năng nói, ấy là người ngu. Cho nên, người có khả năng nói, không có khả năng làm, là thầy của cả nước; người có khả năng làm, không có khả năng nói, là chỗ dùng của cả nước; người vừa có khả năng làm, vừa có khả năng nói, là vốn quý của cả nước. Ba hạng người ấy ai cũng có chỗ thi thố của mình, sao gọi là hèn kém về mặt đức hạnh? Chỉ có kẻ không có khả năng nói, lại không có khả năng làm mới là hèn kém thôi.

XXIII

Hỏi rằng: Cứ như lời ông nói, thì chỉ nên học biện luận cho giỏi, tập nói năng cho hay, há phải tu dưỡng tính tình, thực hành đạo đức làm chi nữa?

Mâu Tử đáp: Sao mà chậm hiểu đến thế? Kìa nói năng đàm luận đều có thời cơ của nó cả. Cừ Viện rằng: “Nước hữu đạo thì ta ngay thẳng, nước vô đạo thì ta thu mình lại mà giữ lấy cái của ta”. Ninh Vũ Tử rằng: “Nước hữu đạo thì ta làm người trí, nước vô đạo thì ta làm người ngu”. Không Tử rằng: “Người có thể nói chuyện mà ta lại không nói, thế là phí người; người không thể nói chuyện mà ta lại nói, thế là uổng lời”. Cho nên trí hay ngu đều có thời cơ của nó, mỗi lần đàm luận đều có dụng ý riêng, khi đáng nói đáng bàn thì sao lại không thực hiện !

XXIV

Hỏi rằng: Ông nói đạo Phật là chí tôn, sảng khoái, vô vi đạm bạc; nhưng nhiều người, nhiều học giả lại hủy báng đạo Phật, cho rằng lời lẽ to tát khó dùng, hư vô khó tin, là cớ làm sao?

Mâu Tử đáp: Vị ngon tuyệt vời không hợp miệng mọi người, âm thanh tuyệt vời không vừa tai mọi người. Nổi nhạc Hàm trì(128), bày nhạc Đại Chương(129), phát khúc Tiêu thiều(130), vịnh chín chương(131), không ai hoà theo được. Nhưng khi căng dây đàn Trịnh, Vệ(132), hát theo điệu dân gian đương thời, thì không hẹn mà ai nấy đều vỗ tay theo. Cho nên Tống Ngọc(133) bảo: “Khách ca ở kinh đô Sính(134), khi hát khúc Hạ lý(135), có nghìn người họa theo; nhưng khi tấu thương, chủy, giốc(136), thì không ai trong đám đông hưởng ứng cả”. Thế là đều thích tiếng nhạc không đứng đắn, mà chẳng hiểu gì những khúc điệu tầm cỡ. Hàn Phi(137) mang kiến thức hẹp hòi ra nhạo báng Nghiêu, Thuấn; Tiếp Dư(138) dùng sự phân biệt chi ly để chỉ trích Trọng Ni, đều là chúi mũi vào cái nhỏ mà quên khuấy cái lớn vậy. Kìa nghe âm thương trong sáng mà lại bảo là âm giốc, đấy không phải là lỗi tại dây đàn, mà do người nghe không thông thạo. Thấy ngọc Hòa(139) mà gọi là đá, đấy không phải vì ngọc xoàng xĩnh, mà do người xem thiếu sáng suốt. Rắn thần có khả năng đứt rồi lại nối, nhưng không có khả năng làm cho người ta không chém. Rùa thiêng báo mộng cho Tống Nguyên, nhưng không có khả năng tránh được lưới của Dự Thư. Đạo cả vô vi, không phải là cái mà kẻ tầm thường nhìn thấy. Nó không vì ca ngợi mà thành sang, không vì chê bai mà thành hèn. Dùng hay không là tự trời, thực hiện hay không là do thời, tin hay không là ở số mệnh vậy.

XXV

Hỏi rằng: Ông dùng Kinh truyện để lý giải học thuyết của Phật, lời phong phú mà nghĩa rõ ràng, văn chương sáng mà giải thích hay, có thể nào đấy lại không phải chính là sự biện luận của ông?

Mâu Tử đáp: Không phải là sự biện luận của tôi đâu, vì hiểu biết rộng nên không mù mờ đấy thôi!

Hỏi rằng: Để hiểu biết rộng, chắc cũng có phép thuật gì chứ?

Mâu Tử đáp: Do kinh Phật cả đấy. Khi tôi chưa hiểu kinh Phật, thậm chí còn mù mờ hơn ông. Tuy đọc Ngũ kinh, mới đến độ hoa mà chưa thành quả. Khi thấy học thuyết kinh Phật rồi, xem những chỗ cốt yếu của Lão Tử, giữ tính điềm đạm, xét nết vô vi, trở lại nhìn sự đời, giống như đứng bên sân mà nom suối hang, lên núi Tung núi Thái mà thấy gò đống. Ngũ kinh bây giờ là ngũ vị, đạo Phật bây giờ là ngũ cốc. Tôi từ khi biết đạo Phật đến nay, như vén mây thấy mặt trời, soi đuốc vào nhà tối vậy.

XXVI

Hỏi rằng: Ông bảo kinh Phật như sông biển, văn như gấm thêu, sao không đem kinh Phật ra trả lời các câu hỏi của tôi, mà lại dẫn Thi, Thư(140), gộp những cái khác nhau làm cái giống nhau?

Mâu Tử đáp: Kẻ khát nước, bất tất phải chờ đến sóng biển mới uống, kẻ đói cơm, bất tất phải đợi đến kho đụn mới no. Đạo đặt ra cho người có trí, biện luận nhằm giúp kẻ đạt lý thông suốt, sách vở nhờ người am hiểu lưu truyền, sự việc được kẻ nhìn thấy thuyết minh. Tôi tưởng ông hiểu được ý nên mới dẫn sự việc. Nếu giảng giải lời kinh Phật, bàn luận chỗ cốt yếu của thuyết vô vi, thì cũng ví như nói về ngũ sắc với người mù, tấu ngũ âm cho người điếc nghe vậy. Sư Khoáng(141) tuy giỏi, không thể gảy đàn không dây; lông chồn tuy ấm, không thể hun nóng người hết sinh khí. Công Minh Nghi gảy tiếng đàn trong trẻo cho trâu nghe, trâu vẫn nằm yên nhá cỏ, không phải trâu không nghe thấy tiếng đàn, mà vì không hợp tai. Đến khi chuyển làm tiếng ruồi muỗi, tiếng nghé con lạc mẹ, trâu lập tức vẫy đuôi vểnh tai, lững thững vừa đi vừa nghe. Cho nên Thi, Thư mới hợp với lỗ tai của ông vậy.

XXVII

Hỏi rằng: Tôi lúc trước ở Kinh đô, vào viện Đông Quan(142), dạo trường Thái học(143), nhìn những quy định đối với hạng sĩ tuấn(144), nghe các điều bàn luận giữa làng nho, chưa thấy ai lấy việc tu đạo Phật làm quý, tự tổn hại dung nhan làm trọng. Ông say mê đạo Phật làm gì! Kìa lạc lối thì phải đổi đường, phép thuật cùng thì quay về cái cũ, không đáng suy nghĩ sao?

Mâu Tử đáp: Kìa đối với kẻ sở trường về biến hóa, không thể mang cái giả tạo cho họ xem; đối với kẻ tinh thông về đạo, không thể đem cái quái lạ làm cho họ sợ hãi; đối với kẻ am hiểu văn từ, không thể dùng lời lẽ để mê hoặc; đối với kẻ thấu đạt đạo nghĩa, không thể lấy cái lợi để lay chuyển. Lão Tử nói: “Cái danh là mối hại của tấm thân; cái lợi là mối nhơ của phẩm giá”. Lại nói “Bày trò quyền trá, không bằng tự quý ở chỗ hư vô”. Sửa lễ chốn buồng the, bày phép nơi thời tục, tụ hội nhau để chạy chọt, luồn lách qua các kẽ hở, mong hợp với đời, đấy là điều kẻ sĩ bậc dưới đua làm, nhưng kẻ sĩ bậc trung vất bỏ. Huống chi đạo cả mênh mang, là nơi hành động của các vị thượng thánh? Mông mênh như trời, thăm sâu như biển, không phù hợp với những kẻ sĩ nhòm qua kẽ vách, những anh chàng cao vài nhẫn(145) cũng là phải lắm. Kẻ kia thấy cửa, ta xem trong nhà; kẻ kia sờ hoa, ta hái lấy quả; kẻ kia tìm toàn bộ, ta giữ cái thống nhất. Ông mau đổi đường đi thôi, còn tôi, tôi vẫn đi đường cũ, nguồn họa phúc chưa biết như thế nào đấy.

XXVIII

Hỏi rằng: Ông dùng lời Kinh truyện, dùng sự thuyết giải hoa mĩ để khen ngợi phẩm hạnh của Phật, tán dương đức tính của Ngài, nào là cao quá mây xanh, nào là rộng hơn mặt đất, như thế liệu có xa rời cái gốc, vượt quá sự thực không ? Tôi chê khá đúng chỗ, chẩn đoán trúng bệnh chứ?

Mâu Tử đáp: Ôi ! Những cái tôi khen ngợi thì cũng giống như đem bụi bặm đắp lên núi Tung núi Thái, hứng những giọt sương mai đổ vào sông biển. Những điều ông chê bai thì cũng giống như cầm gáo chén hòng múc vơi sông biển, nhấn cán cày chực làm hao bớt núi Côn Luân, nghiêng bàn tay che ánh mặt trời, nhặt đất cục lấp dòng chảy xiết. Những cái tôi khen ngợi không thể khiến cho Phật cao lên, những điều ông chê bai không thể làm cho Phật thấp xuống.

XXIX

Hỏi rằng: Các chuyện như Vương Kiều(146), Xích Tùng, bùa chú của Bát tiên(147), sách thần 170 quyển, trường sinh… lẽ nào lại giống với kinh Phật ?

Mâu Tử đáp: Nếu so về chủng loại, thì giống như Ngũ Bá(148) với Ngũ Đế, Dương Hóa(149) với Trọng Ni. Nếu so về hình dáng, thì giống như gò đống với núi Hoa núi Hằng(150); khe lạch với sông biển. Nếu so về vẻ đẹp, thì giống như da hổ thuộc với da dê vải gai tạp màu với gấm vóc vậy. Đạo có 96 loại, kể về tôn quý nhấ thì không gì hơn đạo Phật. Sách thần tiên khi nghe thì đầy rẫy cả tai, nhưng tìm sự hiệu nghiệm thì tựa hồ nắm gió bắt bóng. Bởi vậy đối với sách thần tiên, đạo cả không dùng, thuyết vô vi không quý, thì làm sao có thể giống với kinh Phật được!

XXX

Hỏi rằng: Trong số theo đạo, có người tịch cốc không ăn cơm, nhưng lại uống rượu chén thịt, nói đấy cũng là phép thuật của Lão Thị. Nhưng đạo Phật coi rượu, thịt là những thứ kiêng cấm vào bậc nhất trong khi đó lại đi ăn cơm, sao mà quái lạ vậy?

Mâu Tử đáp: Các đạo lớn nhỏ hiện có tới 96 lại, nhưng kể về đạm bạc vô vi, thì không gì hơn đạo Phật. Tôi xem các thiên Thượng và Hạ sách Lão Thị(151), biết có việc kiêng ngũ vị, chứ không thấy nói tới dứt bỏ ngũ cốc. Thánh nhân soạn văn Thất điển, không có phép thuật cấm ăn gạo. Lão Tử viết 5.000 lời, không có chuyện tịch cốc. Thánh nhân bảo: “Ăn gạo thì có trí, ăn cỏ thì ngu si, ăn thịt thì hung hãn, hít khí trời thì sống lâu”. Người đời thì không thấu hiểu điều đó, thấy giống lục cầm(152) nín hơi không thở, mùa đông mùa thu không ăn thì muốn bắt chước mà làm, biết đâu rằng giống vật mỗi loài có một cá tính riêng, như đá nam châm hút được sắt, nhưng không thể làm cho một sợi lông động đậy được.

XXXI

Hỏi rằng: Thóc gạo có thể dứt bỏ được ư?

Mâu Tử đáp: Khi tôi chưa hiểu đạo cả, thì cũng từng học tịch cốc. Phép thuật này có tới hàng trăm hàng nghìn kiểu, nhưng thực hiện không thấy có hiệu quả, không thấy tin tưởng nên mới thôi. Cứ xem như ba người thầy mà tôi theo học, ông nào cũng nói mình đã sống 700 tuổi, hoặc 500 tuổi, hoặc 300 tuổi, thế mà tôi học họ chưa đầy ba năm, tất cả đều chết ráo. Sở dĩ như vậy, là do không chịu ăn cơm, mà đi xài hàng trăm thức quả, ăn thịt thì tới cả mâm đầy, nốc rượu thì đến nghiêng vò rót, tinh thần hỗn loạn. Vì thiếu hơi cơm nên ù tai, mờ mắt, lại không kiêng món tà dâm. Tôi hỏi cớ sao như vậy, trả lời rằng: “Lão Tử nói giảm bớt đi, giảm thêm nữa, cho đến vô vi. Vậy trò nên ngày ngày giảm bớt thôi!” Nhưng tôi quan sát thì thấy mỗi ngày một tăng lên chứ không giảm. Cho nên ông nào cũng chưa tới tuổi “tri mệnh”(153) đã chết. Và Nghiêu, Chu, Khổng không ai sống nổi trăm tuổi, vậy mà những kẻ ngu ngốc ở đời mạt thế(154) lại muốn phục thuốc, tịch cốc, cầu mong sống mãi, thì thật buồn thay ?

XXXII

Hỏi rằng: Người theo đạo nói có thể đẩy lùi bệnh, không đau ốm, chẳng cần châm cứu thuốc men gì mà cũng khỏi, có thật như vậy không? Thế sao nhà Phật khi có bệnh, vẫn phải châm cứu, thuốc men?

Mâu Tử đáp: Lão Tử nói: “Vật đã lớn thì phải già, gọi là lỗi đạo, sẽ sớm kết thúc”. Chỉ có người đắc đạo thì mới không sinh, cũng không lớn; đã không lớn thì cũng không già; đã không già thì cũng không bệnh; đã không bệnh thì cũng không mục nát. Cho nên Lão Tử coi tấm thân là mối lo lớn. Vũ Vương lâm bệnh, Chu Công xin trời tha mạng sống cho; Trọng Ni ốm đau, Tử Lộ cầu khấn . Tôi thấy thánh nhân đều có đau ốm, chưa một ai là không cả. Thần Nông từng nếm cỏ tìm thuốc, suýt chết mấy chục lần; Hoàng Đế dập đầu lạy, để Kỳ Bá(155) châm huyệt cho. Lẽ nào ba vị thánh trên lại không bằng đạo sĩ ngày nay ư ? Xem xét điều đó, cũng đủ để dẹp bỏ lời ông rồi.

XXXIII

Hỏi rằng: Đạo đều là vô vi cả, ông trình bày la liệt sự khác nhau giữa chúng làm gì? Chỉ tổ khiến người theo học thêm ngờ vực, tôi cho là phí công vô ích.

Mâu Tử đáp: Đều gọi là cỏ cả, nhưng đặc tính của chúng thì không thể nói hết được. Đều gọi là kim loại cả, nhưng đặc tính của chúng cũng không sao kể xiết. Cùng loài, khác tính, muôn vật đều như vậy, chứ có riêng gì đạo đâu ? Xưa kia Dương, Mặc(156) làm tắc đường các Nho sĩ, xe không lên nổi, người không đi được. Đến lúc Mạnh Kha mở lối người ta mới biết nên theo về đâu. Sư Khoáng gảy đàn chờ tri âm mai hậu. Thánh nhân đặt phép tắc, mong người quân tử sẽ nhìn ra. Ngọc, đá để cùng một tủ, Y Đốn(157) vì thế mà xót xa; đỏ, tía làm lỡ nhỡ nhau, Trọng Ni vì thế mà than thở. Mặt trời, mặt trăng không phải không sáng tỏ, chỉ tại các bóng râm che lấp ánh sáng của nó. Đạo Phật không phải không thẳng ngay, chỉ tại lòng tư dục che đậy tính công minh của nó. Vì vậy mà tôi phải phân tích, để thấy sự khác nhau. Cái khôn của Tang Văn(158), cái thẳng thắn của Vi Sinh(159) đều không được Trọng Ni chấp nhận. Tấtcả đều là lời lẽ nhằm uốn nắn thế tục, có gì là phí công vô ích ?

XXXIV

Hỏi rằng: Ông chế giễu đạo Thần tiên, hạ thấp chuyện kỳ quái, không tin có thứ đạo bất tử. Ấy vậy mà không hiểu vì sao lại riêng tin đạo Phật có thể cứu đời? Phật ở nơi xa lạ, ông chưa bao giờ đặt chân tới đất Phật, mục kích xứ sở Phật, chỉ xem lời văn mà tin vào đức hạnh của Phật thôi. Kìa xem hoa, không thể biết được quả; nhìn bóng, không thể rõ được hình, e không sát sự thực chăng?

Mâu Tử đáp: Khổng Tử nói: “Nhìn vào việc làm, xem ở động cơ, xét chỗ yên tâm, người ta còn dấu vào đâu được?(160). Xưa kia Lã Vọng, Chu Công hỏi về chính sự mà biết được kết quả về sau như thế nào. Nhan Uyên(161) ở cái ngày ngồi xe bốn ngựa, thấy cách đánh xe của Đông Dã Tất, mà biết được thế nào xe cũng đổ. Tử Cống xem cuộc họp của Chu, Lỗ(162) mà hiểu rõ vì sao sẽ mất nước. Trọng Ni nghe tiếng đàn của Sư Khoáng mà nhận ra đấy là khúc Tháo(163) của Văn Vương(164). Quý Tử nghe nhạc, thấy được phong tục các nước. Vậy cứ gì chân phải đặt tới, mắt phải nhìn thấy rồi mới biết?

XXXV

Hỏi rằng: Tôi từng đi du lịch ở nước Vu Điền(165), nhiều lần gặp gỡ các nhà sư và đạo nhân nước này, thường đem những việc của tôi ra vặn hỏi họ, họ đều không trả lời được và cáo lui hết, nhiều người trong số đó đã thay chí hướng, đổi ý định. Riêng ông sao khó thay đổi thế?

Mâu Tử đáp: Chiếc lông nhẹ ở trên cao gặp gió thì bay; hòn cuội nhỏ dưới khe hễ nước chảy thì di chuyển. Duy núi Thái Sơn không vì gió to mà động đậy, hòn đá tảng không vì nước xiết mà đổi dời. Cây mơ, cây mận gặp sương thì rụng lá; duy cây tùng, cây bách thì khó mà héo khô. Những đạo nhân mà ông gặp, chắc học vấn chưa thấm tháp, kiến thức chưa sâu rộng nên mới chịu thua thôi. Cứ ngốc nghếch như tôi đây mà còn không thể dồn vào thế bí được, huống chi người hiểu rõ về đạo? Ông không tự thay đổi mình mà lại muốn làm cho người khác thay đổi ư? Tôi chưa bao giờ nghe nói Trọng Ni theo đòi Đạo Chích(166); Thang Vũ bắt chước Kiệt, Trụ(167).

XXXVI

Hỏi rằng: Theo thuật thần tiên thì không ăn vào mùa thu, mùa đông; có người vào phòng ở nhiều tuần(168) không ra, có thể nói là sống hết sức đạm bạc. Tôi cho như vậy là đáng kính, đáng quý, e đạo Phật không bằng họ chăng?

Mâu Tử đáp: Trỏ phương Nam làm phương Bắc mà bảo là không mê hoặc; lấy phương Tây làm phương Đông mà bảo là không mù mờ. Đem cú vọ để mà cười phượng hoàng; cầm giun dế để mà cợt rồng, rùa. Con ve nhịn ăn, người quân tử không cho là quý; con ếch, con rắn náu mình trong hang, bậc thánh nhân không xem là trọng. Khổng Tử nói: “Vật trong trời đất, con người là quý”. Không nghe ai tôn kính con ve, con rắn cả. Tuy vậy, người đời vẫn có kẻ ăn cỏ xương bồ mà bỏ quế gừng, đổ nước cam lộ(169) mà uống dấm, tương. Mảy lông tuy nhỏ, để mắt thì vẫn có thể quan sát. Thái Sơn tuy to, quay lưng lại thì không nhìn thấy. Vấn đề là ở chỗ chí hướng có đặt vào đó hay không, ý tưởng nhạy bén với không nhạy bén. Nước Lỗ tôn sùng Quý Thị mà khinh rẻ Trọng Ni; nước Ngô cho Tể Phi(170) là hiền tài, Tử Tư là kém cỏi. Ông ngờ vực chẳng cũng phải sao?

XXXVII

Hỏi rằng: Đạo gia(171) nói Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng và bảy mươi hai đệ tử(172) đều bất tử; còn các nhà Tiên, Phật lại nói người ta đều phải chết, không ai tránh khỏi, thế là thế nào?

Mâu Tử đáp: Đấy là những lời vớ vẩn, không phải cách nói của thánh nhân. Lão Tử nói: “Trời đất còn không được lâu dài”, huống nữa là người! Khổng Tử nói: “Bậc hiền tài lánh đời, lòng nhân hiếu luôn luôn còn đó”. Tôi xem Lục nghệ, đọc truyện ký, thấy vua Nghiêu có chết; vua Thuấn có núi Thương Ngô(173); vua Vũ có lăng Cối Kê; Bá Di, Thúc Tề có mộ ở Thú Dương; Văn Vương chưa kịp giết Trụ, đã mất; Vũ Vương không thể đợi Thành Vương lớn, đã qua đời; Chu Công có thiên sách nói về việc cải táng; Trọng Ni có giấc mộng lưỡng doanh(174); Bá Ngư(175) mất trước cha, Tử Lộ có nói về hình phạt tương thịt, Bá Ngưu(176) có nói văn viết về vong mệnh(177). Tăng Sâm có câu “mở dây buộc chân”(178), Nhan Uyên được chép là “Không may mất sớm”, ví như “lúa non mà chưa trổ bông”, tất cả đều được ghi rõ trong các sách kinh điển, là lời nói chí lý của thánh nhân. Tôi dẫn Kinh truyện làm chứng cứ, lấy người đời làm chiêm nghiệm. Vậy mà bảo là “bất tử”, không phải mê hoặc đấy sao?

XXXVIII

Hỏi rằng: Lời ông giải thích thật đầy đủ và toàn là những điều mà bọn tôi chưa từng nghe. Nhưng sao ông lại chỉ nêu 37 điều cũng có phép đấy chăng?

Mẫu Tử đáp: Kìa cỏ bồng xoay mà bánh xe thành, gỗ lõm trôi mà thuyền bè có. Nhện chăng tổ mà lưới bẫy bày, vết chân chim xuất hiện mà chữ viết được chế tác. Cho nên hễ có cái để bắt chước thì thành khó. Tôi xem kinh Phật cốt yếu cũng 37 phẩm; Đạo kinh(179) của Lão Thị cũng 37 thiên, cho nên phỏng theo.

Thế là người mù mờ nghe xong bỗng nhiên thất sắc chắp tay, rời chiếu đứng lên, đi giật lùi rồi phủ phục xuống mà thưa rằng: Kẻ nông cạn này có mắt như mù, sinh ở nơi tối tăm, dám thốt ra những lời dại dột, không nghĩ tới hoạ phúc. Nay được nghe dạy, khác nào nước sôi dội lên tuyết. Xin được gội rửa tâm tình, biết tự cảnh tỉnh. Nguyện thọ ngũ giới(180), làm ưu bà tắc

TRẦN NGHĨA dịch và chú thích

CHÚ THÍCH

(1) Kinh truyện: “Kinh” là sách thánh nhân; “truyện là sách do các bậc hiền tài soạn ra để ging gii, truyền bá tác phẩm của thánh nhân. Kinh truyện ở đây chỉ sách Nho gia nói chung.

(2) Chư tử: Chỉ sách các học phái.

(3) Hán Linh Đế mất năm 189.

(4) Giao Châu: Được đặt ra từ đời Hán, gồm 7 quận Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô, Giao Chỉ, Hợp Phố, Cửu Chân và Nhật Nạm (nay là các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc và phần đất từ giữa miền trung trở ra của Việt Nam).

(5) Thần tiên tịch cốc: Đạo gia gọi những người nhịn ăn lương thực (tịch cốc), tu luyện trở thành thần thông là “thần tiên”.

(6) Trường sinh: sống lâu. Trang Tử, Tại hựu: “Vô lao nhữ hình, vô dao nhữ tinh, nãi khả dĩ trường sinh = Chớ làm nhọc thân hình người, chớ lay chuyển tinh thần người, thì có thể sống lâu”.

(7) Ngũ kinh: năm bộ sách kinh điển của Nho gia, gồm Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân thu.

(8) Đạo gia: ở đây chỉ những người theo Đạo giáo.

(9) Thuật sĩ: người có phép thuật.

(10) Mạnh Kha (372? - 289? TCN): tức Mạnh Tử, có tài hùng biện, cùng Khổng Tử sáng lập ra phái Nho gia.

(11) Dương Chu, Mặc Địch: Dương Chu người nước Vệ, sống vào thời Chiến Quốc, chủ trương thuyết “vị ngã”, dù nhổ một chiếc lông để làm lợi cho thiên hạ cũng không làm. Mặc Địch (468? - 376? TCN) người nước Lỗ, chủ trương thuyết “kiêm ái”, đối với mọi người đều yêu thương bình đẳng, không phân biệt thân, sơ... trái ngược với chủ thuyết của Dương Chu. Xem thêm chú thích 156.

(12) Giao Chỉ: nay là miền Bắc Việt Nam.

(13) Thương Ngô: nay là huyện Thương Ngô, thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Đây là quê hương Mâu Tử.

(14) Kinh Châu: khi Lưu Biểu làm Thứ sử Kinh Châu thì trị sở đặt tại Tương Dương, nay thuộc tỉnh Hồ Bắc.

(15) Quan Châu mục: chỉ Lưu Biểu, làm Thứ sử Kinh Châu thời Hán Hiến Đế (190-220).

(16) Dự Chương: Tên quận, trị sở đặt tại Nam Xương, nay thuộc tỉnh Giang Tây.

(17) Linh Lăng, Quế Dương: tên huyện, nay đều thuộc tỉnh Hồ Nam.

(18) Nguyên văn là “bị mạc phục lịch”, ăn cỏ nằm chuồng.

(19) Lão Tử (580? - 500? TCN): tên thật là Lỹ Nhĩ, còn gọi là Lão Đam, người nước Sở, sống vào thời Xuân thu, sáng lập ra phái Đạo gia.

(20) Thiên Trúc: tên nước ấn Độ thời cổ, còn gọi là Thân Độc, Hiền Đậu...

(21) Vua Bạch Tĩnh: còn gọi là vua Tĩnh Phạn (Suddhodana), nước Già Tì La Vệ, ở thành Già Tì La Bà Tô Đô (Kapilavastu, dưới chân núi Hymalaya về phía Nam, nay thuộc miền Nam nước Nêpan).

(22) Xa Nặc (Chandaka) còn gọi là Xiển Đạc Già, tên người đánh ngựa khi Phật ra khỏi kinh thành.

(23) Kiên Trắc: còn gọi là Kim nê, tên con ngựa của Thái Tử con vua Tĩnh Phạn.

(24) 32 tướng: chỉ tướng mạo của những nhân vật tầm cỡ, như ngón tay thon mà dài, mũi cao, lưỡi vừa dài vừa rộng nhưng lại mỏng v.v.

(25) Thập phương: 10 phương, gồm Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, trên và dưới.

(26) Trung lã: ứng với tháng tư âm lịch.

(27) Nê Viên: thường gọi là Niết Bàn (irvana), có nghĩa là viên tịch, cõi lý tưởng của nhà Phật.

(28) Nguyên văn là: “vô vi”, tiếng Phạn là asamskrta. “vi” ở đây có nghĩa là “tạo tác”, “vô vi” là không tạo tác.

(29) Năm điều răn giới: kiêng tránh việc giết sinh vật, trộm cắp, tà dâm, ăn nói bừa bãi, uống rượu.

(30) Sa môn: tiếng Phạn là Srmana, chỉ người tu hành đạo Phật.

(31) Hai trăm năm mươi điều răn giới: còn gọi là cụ túc giới”, tức giới cấm đầy đủ, gồm 250 điều.

(32) Ưu bà tắc: tiếng Phạn là Upasaka, chỉ những người đàn ông thực hiện năm điều răn giới của Phật.

(33) Thụy hiệu: tên đặt cho người sau khi chết, thường gợi lên đặc điểm của người ấy khi còn sống.

(34) Tam Hoàng: gồm Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông (theo Thượng thư đại truyện). Ngũ đế: gồm Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn (theo Sử ký).

(35) Giác: tiếng Phạn làbodhi, gồm 2 nghĩa: giác sát và giác ngộ. Giác sát, tức tỉnh táo xem xét để biết đâu là việc ác. Giác ngộ, tức khám phá ra chân lý.

(36) Nguyên nghĩa là cái dải buộc.

(37) Nguyên nghĩa là tiếng lọc cọc của xe.

(38) Khổng Tử (551-479 TCN): tên là Khâu, tên chữ là Trọng Ni, người nước Lỗ, sáng lập ra học thuyết Nho gia.

(39) Ngũ kinh: 5 bộ sách kinh điển của đạo Nho, gồm Thi, Thư, Dịch, Lễ và Xuân thu.

(40) Nguyên nghĩa là “tra vào chân mà đi”.

(41) Cung thương tên 2 âm trong ngũ âm của nhạc cổ.

(42) Ngũ thường 5 đạo trong đời thường, gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

(43) Hồn thành: nguyên sơ, toàn vẹn, tự nhiên mà có.

(44) Câu này trích từ Chương 25 của Đạo đức kinh.

(45) Thất kinh: 7 bộ sách kinh điển của Nho gia, gồm Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân thu và Luận ngữ (theo Hậu Hán thư, Trương Thuần truyện)

(46) Ngũ nhạc: 5 núi lớn của Trung Quốc, gồm Thái Sơn, Hoa Sơn, Hắc Sơn, Hằng Sơn và Tùng Sơn.

(47) Thái tố: khởi đầu của chất.

(48) Thái thủy: khởi đầu của hình.

(49) Sách Xuân thu: do Khổng Tử dựa vào sử nước Lỗ viết ra.

(50) Sách Hiếu kinh: tương truyền do Khổng Tử soạn, theo hình thức vấn đáp giữa tác giả và Tăng Tử, nhằm thuyết minh ý nghĩa của đạo Hiếu và cách thực hiện.

(51) Tử Trương,Tử Du: đều là học trò của Khổng Tử. Tử Trương tính rộng rãi, thích giao thiệp, nhưng không lo làm điều nhân nghĩa. Tử Du đặc biệt thạo về lễ, nổi tiếng về văn học.

(52) Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng: Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Chu Công, Khổng Tử (Khổng Khâu).

(53) Nghiệp thánh: đây chỉ sự nghiệp của Phật.

(54) Biển Thước: một thầy thuốc thời Chiến Quốc, nổi tiếng về khoa chẩn mạch.

(55) Tử Cống: học trò của Khổng Tử, có tài ăn nói, giỏi sắp đặt công việc.

(56) Phu tử: đây chỉ Khổng Tử.

(57) Đán: tức Chu Công, họ Cơ, tên Đán, em Chu Vũ Vương, chú Chu Thành Vương.

(58) Câu này có trong sách Luận ngữ.

(59) Ý nói cởi dây buộc để xem chân tay có được lành lặn cả không, vì đã suốt đời gìn giữ sao cho thân thể được nguyên vẹn, đấy là một yêu cầu của đạo hiếu. Câu trích dẫn này cũng có trong sách Luận ngữ.

(60) Thái Bá: con trưởng của Chu Thái Vương, có em là Trọng Ung, Quý Lịch. Quý Lịch cưới Thái Nhậm sinh ra Xương. Thái Vương bảo: “Đời ta chắc được hưng thịnh, nhờ ở thằng cháu Xương này chăng?” Thái Bá biết Thái Vương muốn lập Quý Lịch để truyền ngôi cho Xương, nên đã cùng Trọng Ung chạy sang Kinh Man, vẽ mình, cắt tóc theo phong tục người bản địa, để cho Quý Lịch làm vua. Thái Bá tự lấy hiệu là Cú Ngô. Kinh man thấy Thái Bá là người có nghĩa, hơn nghìn nhà theo về và tôn ông làm Ngô Thái Bá.

(61) Dự Nhượng: người nước Tấn, sống vào thời Chiến Quốc. Lúc đầu thờ họ Phạm Trung Hành, vì không có gì nổi bật, nên sau đó đã bỏ theo Trí Bá, được yêu chuộng hết mức. Đến khi Trí Bá bị Triệu Tương Tử tiêu diệt, Nhượng sơn mình, giả làm người hủi, nuốt lửa than cho thành câm, cốt không để nhận ra tông tích, rồi đi giết Tương Tử để trả thù cho Trí Bá. Việc không thành, Dự Nhượng bị Tương Tử bắt sống. Nhượng tự sát.

(62) Nhiếp Chính: người nước Hàn, Chỉ, sống vào thời Chiến Quốc, được viên quan nước Hàn là Nghiêm Toại thuê làm thích khách. Nhiếp Chính từ chối vì mẹ còn đang sống. Sau khi mẹ mất, ông bèn nhận lời. Công việc xong xuôi, ông tự rạch mặt, khoét mắt, đâm vào bụng mà chết.

(63) Bá Cơ: con gái của Lỗ Tuyên Công, sống vào thời Xuân thu, lấy chồng được 10 năm thì góa bụa, bèn thủ tiết thờ chồng. Cung thành không may bị cháy, vì không rời được mẹ mà chết.

(64) Cao Hạnh: người nước Lương, sống vào thời Chiến quốc, có nhan sắc, có phẩm hạnh, nhưng góa chồng sớm, nhiều người nhấm nhé nhưng bà đều từ chối. Vua Lương sai đem lễ vật đến cầu hôn, bà lấy dao tự cắt mũi mình và nói: Nhà vua cầu hôn vì ta có sắc đẹp. Nay là người bị thương tích, may có thể được tha. Vua cảm phục, tôn cho danh hiệu là “Cao Hạnh”.

(65) Tam đại: ba đời, gồm Hạ, Thương, Chu.

(66) Nho Mặc: tức Nho gia thuộc phái Khổng Tử, và Mặc gia thuộc phái Mặc Tử.

(67) Hứa Do: tên một cao sĩ thời thượng cổ.

(68) Di, Tề: tức Bá Di và Thúc Tề, đều là con vua Cô Trúc, chư hầu của nhà ân.

(69) Thánh Khổng chỉ Khổng Tử.

(70) Hoàng Đế: tên một hiệu vua thời thượng cổ.

(71) Cơ Tử: tên thực là Tư Dư, anh em con chú con bác với vua Trụ nhà Thương. Vua Trụ vô đạo, Cơ Tử khuyên ngăn không được, bèn vấn tóc giả khùng làm nô. Đến khi Chu Vũ Vương thắng được cả nhà Ân, Cơ Tử phỏng theo thiên đạo để làm ra Hồng phạm (quy phạm của trời đất). Vũ Vương phong cho ông đất Triều Tiên và không coi như bề tôi.

(72) Ngũ sự: theo Kinh Thư, Hồng Phạm, gồm: dáng vẻ (mạo), lời nói (ngôn), nhìn (thị), nghe (thính), suy nghĩ (tư)

(73) Nguyên Hiến: còn gọi là Tử Tư hoặc Nguyên Tư, người nước Lỗ, sống vào thời Xuân thu, là học trò của Khổng Tử, tính tình trong sạch, điềm tĩnh, đúng mực, tuy nghèo nhưng vẫn vui với đạo lý. Khi Khổng Tử giúp nước Lỗ, Nguyên Hiến từng làm ấp tể (tương đương với quan huyện ở đời sau). Khổng Tử mất, Nguyên Hiến lui về sống ẩn ở nước Vệ.

(74) Tử Lộ: tên thực là Trọng Do, tên chữ là Tử Lộ hoặc Quí Lộ, người nước Lỗ, sống vào thời Xuân thu, là học trò của Khổng Tử, tính tình thô lỗ, táo bạo, có hiếu với cha mẹ, từng làm ấp tể ở nước Vệ.

(75) Mũ chương phủ: một loại mũ có sọc trắng, sọc đen.

(76) Áo hồ cầu: nguyên văn là “khúc cầu”, một thứ áo cừu có hình cong (?)

(77) Lời Khổng Tử được ghi lại trong thiên “Tiên tiến, sách Luận ngữ.

(78) Nguyên văn là “bản mạt” (gốc ngọn). Tử Lộ tính viển vông, nên dịch “bản mạt” là “thiết thực” cho dễ hiểu.

(79) Di Địch: tên gọi chung các dân tộc chậm phát triển ở quanh biên giới Trung Quốc thời cổ, gồm người Di ở phía Đông, người Nhung ở phía Tây, người Man ở phía Nam, người Địch ở phía Bắc. Cùng một nghĩa với Di Địch còn có Nhung Địch, Man Di.

(80) Chư Hạ: các nước Hạ, đây chỉ Trung Quốc.

(81) Cửu Di: 9 giống người Di ở phía Đông.

(82) Vũ: Hạ Vũ, người sáng lập ra nhà Hạ.

(83) Tây Khương: Khương là tên một tộc người thuộc hậu duệ của Tam Miêu, thời vua Thuấn bị đày tới Tam Nguy. Đến thời Đông Hán chia làm Đông Khương (sống ở miền An Định, Bắc Địa, Thượng Quân, Tây Hà) và Tây Khương (sống ở miền Hán Dương, Kim Thành).

(84) “Cổ Tẩu” cha của vua Thuấn, nhiều phen muốn giết Thuấn nhưng không thành. “Cổ” có nghĩa là không có mắt, ý muốn nói không biết phân biệt đâu là phải, đâu là trái, có mắt như mù. “Tẩu” cũng có nghĩa tương tự. Đây là cái tên nhân dân dùng để gọi người cha ngu ngơ của Thuấn.

(85) Thuấn: Ngu Thuấn, vua nước Ngu, họ Diêu, lúc đầu sống ở ruộng đồng, rất có hiếu, được nhiều người trong vùng mến theo. Sau vua Nghiêu sai nhiếp chính, có công, được kế ngôi, gọi là Hữu Ngu Thị, hiệu là Thuấn, sử thường chép là Ngu Thuấn hoặc Trùng Hoa. Cuối đời, đi thị sát phương Nam, mất ở cánh đồng Thương Ngô. Thuấn ở ngôi 18 năm, vì con là Thương Quân không tốt, nên đã truyền ngôi cho Vũ.

(86) Do Dư: người nước Tấn, sống vào thời Xuân thu, chạy sang Nhung lánh nạn, sau về hàng Tần và giúp Tần vạch kế sách đánh Nhung. Tần Mục Công nghe theo, lấy thêm được 12 nước, mở đất nghìn dặm, làm bá chủ Tây Nhung. Có soạn 6 thiên binh pháp.

(87) Quản, Thái: Chu Vũ Vương có 2 người em là Tiên và Độ. Tiên được phong ở đất Quản, nên xưng là Quản Thúc Tiên; Độ được phong ở đất Thái, nên xưng là Thái Thúc Độ. Sử gọi chung hai người là Quản, Thái. Sau khi Vũ Vương mất, Thành Vương còn nhỏ tuổi, Chu Công tạm nắm quyền triều chính; Quản, Thái tung tin xấu trong nước, nói Chu Công sẽ không có lợi cho ấu chúa, Chu Công do đó phải lánh cư ở Đông Đô. Sau Thành Vương đón Chu Công về, Quản, Thái sợ hãi, lôi kéo Vũ Canh chống lại. Thành Vương ra lệnh cho Chu Công đem quân đi đánh, chém được Vũ Canh, giết Quản Thúc. Thái Thúc bị lưu đày ít lâu cũng chết.

(88) Hà, Lạc: tức Hoàng Hà và Lạc Thủy, vùng đất từng sinh ra các vua thuộc ba triều Hạ, Thương và Chu.

(89) Đất Hán: đây chỉ Trung Quốc.

(90) Tu Đại Nã: còn gọi là Tu Đạt Nã, Tu Đề Lê Nã, Tô Đạt Nã, tiếng Phạn là Sudana tiền thân của Phật.

(91) Thái Vương: Chu Thái Vương. Xem chú thích 60.

(92) Xương: con của Quý Lịch. Khi Xương sinh ra, Chu Thái Vương bảo: “Đời ta chắc được hưng thịnh, nhờ ở thằng cháu (nội) Xương này chăng?”

(93) Y Doãn: tên là Chí, cày ruộng ở đồng Hữu Sằn. Vua Thành Thang ba lần sai người mang hậu lễ đến mời, Y Doãn mới chịu ra giúp.

(94) Vua Thang: tức Thành Thang, họ Tử, tên Lý, tên nữa là Thiên ất, người sáng lập ra nhà Thương, thuộc dòng dõi đời sau của Khế.

(95) Ninh Thích: người nước Vệ, sống vào thời Xuân thu, sửa sang về đường đạo đức nhưng không được dùng, bèn chuyển sang nghề buôn trọ ở ngoài cửa Đông đô thành nước Tề. Ban đêm Hoàn Công ra cổng thành, nhằm lúc Ninh Thích vừa cho bò ăn vừa hát. Hoàn Công nghe thấy, biết là người có tài, liền cất nhắc làm quan.

(96) Công Du: tức Công Du (Thâu) Ban, một người thợ khéo thời Xuân thu.

(97) Cao Dao: một bề tôi của Ngu Thuấn, làm ra hình luật, lập ngục xử án.

(98) Ngũ hình: 5 loại hình phạt, gồm tội chết, tội đồ có hạn, tội đồ vô thời hạn, tội giam, tội phạt tiền.

(99) Tăng, Mẫn: tức Tăng Sâm và Mẫn Tổn, nổi tiếng có hiếu trong số các học trò của Khổng Tử.

(100) Vua Nghiêu: Đường Nghiêu, tên một vua thời cổ Trung Quốc.

(101) Lục Nghệ: 6 bộ sách kinh điển, gồm Kinh Dịch, Kinh Lễ, Nhạc, Kinh Thi, Kinh thư, Xuân thu.

(102) Hà Bá: tên thần sông (thủy thần).

(103) Thúc Tôn: tên một dòng họ thuộc con cháu của Thúc Nha.

(104) Thái Công: tức Lã Thượng, một bề tôi có tiếng của nhà Chu.

(105) Ngu Khanh: một nhà du thuyết thời Chiến Quốc.

(106) Sấm vĩ: sách sấm và sách vĩ, những công cụ dùng để bói toán, dự báo tương lai.

(107) Lục tình: sáu loại tình cảm, gồm mừng, giận, buồn, vui, yêu và ghét.

(108) Ngũ sắc: năm màu, gồm xanh, vàng, đỏ, trắng và đen.

(109) Ngũ âm: năm âm thanh trong nhạc cổ, gồm cung, thương, giốc, chủy và vũ.

(110) Ngũ vị: năm vị, gồm ngọt, chua, đắng, cay và mặn.

(111) Liễu Hạ Huệ: người nước Lỗ, sống vào thời Xuân thu.

(112) Đoàn Can Mộc: người nước Tấn, sống vào thời Chiến Quốc

(113) Sào Phủ: một cao sĩ nổi tiếng của Trung Quốc thời cổ đại. Tương truyền vua Nghiêu nhường thiên hạ cho ông, ông không nhận, lui về cùng Hứa Do sống ẩn ở núi Cơ Sơn, lấy ngọn cây làm tổ ở, nên gọi là Sào Phủ.

(114) Văn, Vũ: chỉ Chu Văn Vương và Chu Vũ Vương, hai vị vua nổi tiếng anh minh trong lịch sử cổ đại Trung Quốc.

(115) Trở đậu: “trở” là cái thớt; “đậu” là một vật dùng để đơm đồ cúng, có chân đứng. “Trở đậu” ở đây, có nghĩa là đồ thờ nói chung.

(116) Nhuy tân: dụng cụ do thời tiết, tương ứng với tháng 5 âm lịch, tiết hè.

(117) Hoàng chung: dụng cụ đo thời tiết, tương ứng với tháng 11 âm lịch, tiết đông.

(118) Thương Ưởng: họ Công Tôn Thị, người nước Vệ, sống vào thời Chiến quốc, thích cai trị bằng pháp luật (hình danh pháp thuật), giúp Tần Hiếu Công định ra biến pháp, lập kế sách giàu mạnh, được Tần phong cho đất Thương, nên lấy hiệu là Thương Quân. Giúp Tần 10 năm, của rơi ngoài đường không ai nhặt, nhưng bởi dùng pháp lệnh quá nghiêm, khiến bọn quan to và hoàng tộc oán ghét, nên bị dùng xe xé xác sau khi Hiếu Công mất.

(119) Tô, Trương: Tô Tần và Trương Nghi, hai nhà thuyết khách nổi tiếng thời Chiến Quốc.

(120) Nguyên văn là “nhược tồn, nhược vong” như còn, như mất vật gì. Đây dịch thoát.

(121) Hiếu Minh Hoàng Đế: tức vua Minh Đế (58-74) nhà Hán, tên thực là Lưu Trang.

(122) Trương Khiên: người ở Thành Cố, sống vào thời Hán.

(123) Đại Nguyệt Chi: còn gọi là Nguyệt Chi hay Nguyệt Thị, phiên âm chữ Kasana, tên một nước cổ ở về phía Tây ấn Độ.

(124) Nguyên văn là bất miễn ư ngu: không tránh khỏi ở sự ngu. Mạch văn khó hiểu. Đây dịch thoát.

(125) Công danh toại nguyện: cụm từ này viết cho đủ phải là: “Công thành danh toại: công hoàn thành, danh thỏa nguyện”.

(126) Lão Thị: họ Lão, đây chỉ Lão Tử.

(127) Chỉ tác phẩm Đạo đức kinh của Lão Tử.

(128) Hàm trì: còn gọi là Đại hàm, tên một thứ nhạc do Hoàng Đế làm ra, vua Nghiêu sửa sang thêm để dùng (theo thiên Nhạc ký trong Kinh Lễ).

(129) Đại chương: tên một thứ nhạc thời vua Nghiêu, nội dung ca ngợi đức rạng rỡ của ông (theo thiên Nhạc ký trong Kinh lễ)

(130) Tiêu thiều: tên một thứ nhạc thời vua Thuấn, thiên ích Tắc trong Kinh thư chép: “Tiêu thiều cửu thành, phượng hoàng lai nghi.

Tiêu thiều tấu chín chương, chim phượng hoàng tới múa”

(131) Chín chương (cửu thành): “cửu” là chín, “thành” là kết thúc. Mỗi khúc nhạc kết thúc một lần, trước khi chuyển sang khúc khác. Chín lần kết thúc và chuyển tấu như vậy, có thể xem như là chín chương.

(132) Trịnh, Vệ: nước Trịnh và nước Vệ từng nổi tiếng về những bài hát ca ngợi tình yêu nam nữ.

(133) Tống Ngọc: người nước Sở, sống vào thời Chiến Quốc, học trò của Khuất Nguyên, đại phu nước Sở.

(134) Sính: hay Sính đô, kinh đô nước Sở thời Xuân thu.

(135) Hạ Lý: hay Hạ lý Ba nhân, “Hạ lý” tức làng xóm; “Ba nhân” tức người Ba Thục, thời cổ bị xem như man mọi. Đây chỉ những bài hát dân gian nơi thôn xóm.

(136) Thương, chủy, giốc: ba âm trong nhạc cổ.

(137) Hàn Phi: công tử nước Hàn, sống vào thời Chiến Quốc.

(138) Tiếp Dư: họ Lục, tên Thông, tên chữ là Tiếp Dư, người nước Sở. Bấy giờ là thời Chiêu Vương, chính sự không ổn định, Tiếp Dư bèn vấn tóc giả khùng, không làm quan, người đương thời gọi là Sở Cuồng.

(139) Ngọc Hòa: hay Hũa bích, một loại ngọc quí.

(140) Thi, Thư: Kinh Thi Kinh Thư, đây chỉ sách kinh điển Nho học nói chung.

(141) Sư Khoáng: tên chữ là Tử Dã, nhạc sư nước Tấn, sống vào thời Xuân thu, có khả năng phân tích tiếng nhạc để biết điềm tốt xấu. Tác phẩm có “Cầm kinh”.

(142) Viện Đông quan: nơi viết sách và để sách ở Kinh đô nhà Hán. Vua Hán An Đế từng xuống chiếu cho Ngũ kinh bác sĩ hiệu đính các sách Ngũ kinh, Chư tử truyện ký, Bách gia nghệ thuật ở Đông quan.

(143) Trường Thái học: trường học cấp cao dưới thời phong kiến. Từ đời Tùy trở về trước gọi là Thái học, từ đời Tùy trở về sau, cho đến cuối đời Thanh, gọi là Quốc tử giám.

(144) Tuấn sĩ: những học trò ưu tú do quan Tư đồ tuyển chọn để cho học ở bậc cao hơn, dưới triều nhà Chu.

(145) Nhẫn (nhận): đơn vị do chiều cao, bằng 4 xích (có sách nói là 7 hoặc 8 xích) đời nhà Chu.

(146) Vương Kiều: người Hà Đông, sống vào thời Đông Hán.

(147) Bát tiên: 8 vị tiên, gồm Dung Thành Công, Lý Nhĩ, Đổng Trọng Thư, Trương Đạo Lăng, Trang Quân Bình, Lý Bát Bách, Phạm Trường Sinh và Nhĩ Chu tiên sinh, đều đắc đạo thành tiên tại đất Thục (theo Thục ký của Tiều Tú).

(148) Ngũ Bá: 5 vị vua dựng nên nghiệp bá, gồm Tề Hoàn, Tấn Văn, Tần Mục, Tống Tương và Sở Trang (theo Triệu Thị chú Mạnh Tử, Cáo Tử).

(149) Dương Hóa: tên thật là Hổ, tên chữ là Hóa, người nước Lỗ, sống vào thời Xuân thu, có hình dáng giống Khổng Tử.

(150) Núi Hoa, núi Hằng: tên hai ngọn núi lớn của Trung Quốc. Núi Hoa (Hoa Sơn) tại Thiểm Tây, còn gọi là Thái Hoa Sơn, một trong năm ngọn núi lớn (ngũ nhạc). Núi Hằng (Hằng Sơn), một chi nhánh của Âm Sơn, chạy từ biên giới tỉnh Sơn Tây đến tỉnh Hà Bắc.

(151) Sách Lão Thị: còn gọi là Lão Tử hoặc Đạo đức kinh, do Lão Tử soạn, gồm hơn 5.000 lời, chuyên bàn về đạo đức, những vấn đề thuộc triết học cổ phương Đông.

(152) Lục cầm: sáu giống chim, nhưng không rõ là chim gì, mà lại nín hơi không thở suốt cả thu đông như sách nói.

(153) Tuổi “tri mệnh”: tức tuổi 50. Khổng Tử nói: Ngũ thập nhị tri thiên mệnh = 50 mà biết được mệnh trời (Luận ngữ).

(154) Mạt thế: Đời suy loạn.

(155) Kỳ Bá: một bề tôi thời Hoàng Đế, rất thông thạo về thuốc. Hoàng Đế từng bàn luận về thuốc với ông, lật đi lật lại những điểm còn nghi vấn, tất cả được ghi lại trong sách Nội kinh”.

(156) Dương, Mặc Dương Chu và Mặc Địch. Dương Chu tên chữ là Tử Cử, người nước Vệ, sống vào thời Chiến Quốc. Có thuyết nói ông từng học Lão Tử, nhưng cũng có thuyết cho rằng ông ra đời sau Mặc Tử. Ông xướng xuất học thuyết “vị ngã”, dù nhổ một chiếc lông để làm lợi cho thiên hạ cũng không làm. Mặc Tử, tức Mặc Địch, người nước Tống cũng sống vào thời Chiến Quốc. Ông đề xướng thuyết “kiêm ái” chủ trương yêu đồng đều mọi người, dù mài hết trán mà lợi cho một người cũng sẵn sàng làm, trái ngược với thuyết “vị ngã”của Dương Chu, Mạnh Tử từng đả kích Mặc Địch là “không có cha”. Trong thiên Đằng Văn Công, Mạnh Tử viết:”Đạo Dương, Mặc không dập tắt, thì đạo Khổng Tử không sáng tỏ”. Xem thêm chú thích 11.

(157) Y Đốn: người nước Lỗ, sống vào thời Xuân Thu. Ông lúc đầu là một người học trò nghèo, sau nhờ vào nghề muối mắm, chăn nuôi mà trở nên giàu có.

(158) Tang Văn: tổ tiên học Tang là Khu, tên chữ là Tử Tang, con của Lỗ Hiếu Công.

(159) Vi Sinh: họ kép. Ở nước Lỗ thời Xuân thu có Vi Sinh Cao nổi tiếng là thẳng thắn. Lại có nhà ẩn dật tên là vi Sinh Mẫu chê Khổng Tử là hấp tấp.

(160) Câu này trích từ thiên Vi chính, sách Luận ngữ./.

(161) Nhan Uyên: tức Nhan Hồi, tự Tử Uyên, người nước Lỗ, sống vào thời Xuân thu. Ông là người học trò giỏi nhất của Khổng Tử.

(162) Chu, Lỗ: nước Chu và nước Lỗ. Nước Chu là đất Chu Vũ Vương phong cho Tào Hiệp, hậu duệ của Chuyên Húc. Nước Lỗ là đất Chu Vũ Vương phong cho em là Chu Công Đán.

(163) Khúc tháo: sách Tục thông chép cho rằng: do cảnh ngộ bế tắc, ưu sầu mà làm ra khúc nhạc tên là Tháo. Tháo, có ý nói gặp tai nạn, bị dồn tới bước đường cùng, tuy than thân trách phận mà vẫn giữ lễ nghĩa, không để mất tiết tháo của mình.

(164) Văn Vương: tức Chu Văn Vương, họ Cơ, tên Xương, là cha của Chu Vũ Vương.

(165) Vu Điền: tiếng Phạn là Kustana, nay gọi là Khotan, nơi lưu hành Phật giáo Đại thừa; kinh Phật trước khi truyền tới phương Đông, phần nhiều đều qua đây.

(166) Đạo Chích: người nước Lỗ, sống vào thời Xuân Thu, là em của Liễu Hạ Huệ, từng chiêu nạp 9.000 đồ đảng, chuyên lừa trộm bò, ngựa, bắt phụ nữ, xâm lấn các nước chư hầu, hoành hành trong thiên hạ.

(167) Kiệt, Trụ: hai tên bạo chúa trong sử cổ Trung Quốc. Vua Kiệt nhà Hạ say mê Muội Hỷ; vua Trụ nhà Thương say mê Đát Kỷ. Trụ lấy rượu chứa thành ao, lấy thịt treo thành rừng, rồi cho bọn con trai, con gái trần truồng đuổi nhau ở trong đó ăn thịt uống rượu chơi bời, suốt đêm.

(168) Tuần: mười ngày là một tuần (tuần nhật), theo cách gọi của Trung Quốc thời cổ.

(169) Cam lộ: một thứ nước thiêng, theo quan niệm người xưa. Theo sách Thụy ứng đồ thì cam lộ là một thứ sương quý, chất tinh túy của thần linh, ơn trạch của đức nhân hậu ngưng kết lại như dầu mỡ, ngọt như mật đường, còn gọi là cao lộ hay thiên tửu (rượu của trời).

(170) Tể Phi: viên quan Thái tể (= tể tướng) của nước Ngô, tên là Phi (theo Khang Hy tự điển).

(171) Đạo gia: chỉ những nhà làm sử chuyên ghi chép sự thành bại, tồn vong, họa phúc…xưa nay, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho kẻ làm vua. Sách của Đạo gia, theo “Hán chí, có Y Doãn, Thái Công v.v… Đạo gia ở đây khác với khái niệm Đạo gia về sau, chỉ những người sùng chuộng thuyết Hoàng Lão, thuật thần tiên tức Đạo giáo.

(172) Bảy mươi hai đệ tử: chỉ 72 người học trò giỏi của Khổng Tử, còn gọi là 72 người hiền.

(173) Núi Thương Ngô: nơi vua Thuấn mất, lúc ông đi tuần sát phương Nam.

(174) Giấc mộng lưỡng doanh:”Lưỡng Doanh” là hai cây cột. Theo Lễ, Đàn cung, thì Khổng Tử có nói với Tử Cống rằng đêm trước ông nằm chiêm bao thấy cúng tế ở giữa hai cây cột. Minh quân không xuất hiện thì thiên hạ còn ai tôn kính Khổng Tử nữa (Ông ta e mình sắp chết rồi).

(175) Bá Ngư: tên là Lý, con của Khổng Tử. Ông chết trước cha.

(176) Bá Ngưu: họ Nhiễm, tên Canh, tên chữ là Bá Ngưu, người nước Lỗ, sống vào thời Xuân Thu, học trò của Khổng Tử, nổi tiếng là người có đức hạnh.

(177) Vong mệnh: lẩn lút, trốn tránh. Chưa rõ liên quan như thế nào, đến cái chết không tránh khỏi mà Mâu Tử đang chứng minh.

(178) Xem lại chú thích 59.

(179) Đạo kinh: tức Đạo đức kinh, tác phẩm của Lão Tử.

(180) Ngũ giới: năm điều kiêng cấm của Phật giáo, gồm đừng sát sinh, đừng trộm cắp, đừng tà tâm, đừng nói bậy, đừng uống rượu.

TB

LỄ KỶ NIỆM 20 NĂM THÀNH LẬP CƠ SỞ NGHIÊN CỨU HÁN NÔM VÀ KHÁNH THÀNH TRỤ SỞ MỚI CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Ngày 9 tháng 4 vừa qua, tại trụ sở mới của mình bên cạnh khu vực gò Đống Đa lịch sử, Hà Nội, Viện nghiên cứu Hán Nôm đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 20 năm thành lập cơ sở Nghiên cứu Hán Nôm (1970 - 1990) và khánh thành trụ sở mới của viện.

Đông đảo các nhà nghiên cứu Hán Nôm thuộc nhiều thế hệ đã về họp mặt.

Nhiều đại biểu các Viện nghiên cứu trong và ngoài Viện Khoa học xã hội Việt Nam, các Trường đại học, các cơ sở văn hoá, các cơ quan, tổ chức khác, nhiều bạn bè khắp nơi cùng về vui chung với Viện. Đại diện Đại sứ quán Liên Xô và Cộng hóa Pháp cũng đã tham dự lễ kỷ niệm.

PGS. Phan Văn Các, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm đọc diễn văn nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Ban Hán Nôm, nay là Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện KHXH Việt Nam, đồng thời làm lễ khánh thành trụ sở mới của Viện (xem bài diễn văn đăng ở số Tạp chí này).

Thay mặt Viện KHXH Việt Nam, Giáo sư Lê Hữu Tầng phát biểu ý kiến, khẳng định thành tựu quan trọng của Viện nghiên cứu Hán Nôm trong quá trình thực hiện hai nhiệm vụ bảo quản và khai thác kho di sản văn hóa thành văn của dân tộc. Giáo sư cũng nêu những mặt hạn chế của Viện trong các năm qua, đặc biệt là thời gian gần đây và căn dặn Viện phải có kế hoạch giữ gìn cơ sở vật chất mới của Viện.

Nhà Hán học lão thành Vũ Tuấn Sán thay mặt những người làm công tác Hán Nôm bày tỏ niềm xúc động trong dịp vui này. Cụ cũng tỏ lòng tin vào tương lai đầy triển vọng của sự nghiệp sưu tầm, bảo quản, và khai thác di sản Hán Nôm.

Sau lễ kỷ niệm là cuộc hội thảo khoa học với tiêu đề Hán Nôm trong đổi mới

P.V

TB

HỘI THẢO KHOA HỌC
"HÁN NÔM TRONG ĐỔI MỚI"

Trong 2 ngày 9 và 10 tháng 4 vừa qua, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã tổ chức hội thảo khoa học: “Hán Nôm trong đổi mới”.

Trên 40 bản tham luận từ các viện nghiên cứu, các trường đại học, các cơ sở văn hoá văn nghệ đã gửi tới hội thảo.

Mở đầu hội thảo, Giáo sư Phan Văn Các, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm đọc báo cáo đề dẫn, nêu yêu cầu và phương hướng đổi mới công tác bảo quản, sưu tầm, khai thác và nghiên cứu Hán Nôm. Bản đề dẫn cũng nêu một chương trình cụ thể của Viện, nhằm thực hiện phương hướng đổi mới đó.

Tiếp theo các đại biểu lần lượt trình bày tham luận. Các bản tham luận xoay quanh 4 chủ đề chính:

1. Vai trò và vị trí của công tác khai thác và nghiên cứu di sản Hán Nôm trong sự nghiệp cách mạng và cuộc sống.

2. Đối tượng bản chất và phương pháp nghiên cứu của ngành Hán Nôm.

3. Đổi mới công tác nghiên cứu Hán Nôm trên các mặt: Hướng đề tài, phương pháp, hiệu quả phục vụ…

4. Vấn đề đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nghiên cứu Hán Nôm.

Cuộc hội thảo được tổ chức nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập Ban Hán Nôm, nay là Viện Nghiên cứu Hán Nôm và khánh thành trụ sở mới của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nên nhiều bản tham luận đã có điều kiện nhìn lại một chặng đường đã qua, có được nhiều bài học và kinh nghiệm bổ ích từ đó vạch ra được hướng nghiên cứu và đào tạo đúng đắn và thiết thực hơn.

TB

HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 500 NĂM NGÀY SINH NGUYỄN BỈNH KHIÊM (1491-1991)

Năm nay chúng ta sẽ tổ chức kỷ niệm tròn 500 năm ngày sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm, danh nhân văn hóa lớn của dân tộc. Để hướng tới kỷ niệm này, tại xã Lý Học và hầu hết 18 làng Am thuộc Vĩnh Bảo - quê hương Nguyễn Bỉnh Khiêm (nay thuộc Hải Phòng), đều có những hoạt động chuẩn bị cho ngày kỷ niệm. Riêng xã Lý Học đã cho tôn tạo lại đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm lập nên và đưa một chi họ đến đây lập nghiệp) củng cố những hoạt động sôi nổi. Tại ngôi đình lớn thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm, chính quyền và nhân dân trong xã đã mở hội tế long trọng. Đồng thời, kết hợp với các cán bộ của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Hội Văn hóa dân gian Hà Nội, một hội thảo khoa học về Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã được tổ chức với nhiều bản tham luận, trong đó có các tham luận đáng chú ý như “Nguyễn Bỉnh Khiêm, cuộc đời và sự nghiệp” của Hoàng Lê; “Trạng Trình trong quan niệm của dân gian” của Đỗ Thị Hảo; “Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà tiên tri” của Lê Cường…

TB

MỘT LUẬN ÁN VỀ VĂN BIA VIỆT NAM VỪA ĐƯỢC BẢO VỆ THÀNH CÔNG TẠI LIÊN XÔ

Ngày 7-12-1990, tại Hội đồng Ngữ văn học Viện Phương Đông (Viện hàm lâm khoa học Liên Xô - Matxcơva), đồng chí Trịnh Khắc Mạnh (nguyên là cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm) đã bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ Ngữ văn học Hán Nôm với đề tài “Sự hình thành, phát triển của văn bia Việt Nam và vị trí của văn bia trong nền văn học cổ điển Việt Nam “dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Ngữ văn học Kira Ivanovna Galưghina. Luận án dày 145 trang đánh máy và bao gồm nhiều chương mục sau:

- Lời nói đầu: Tổng kết thành tựu nghiên cứu văn bia Việt Nam của các học giả trong nước và nước ngoài.

- Phần thứ nhất gồm 3 chương: chương 1: Giá trị của văn bia trong di sản văn hóa Việt Nam. Chương 2: Hệ thống thể loại văn bia. Chương 3: Sự hình thành văn bia Việt Nam trong mối quan hệ phát triển của thể văn bia ở các nước vùng Viễn Đông và Đông Dương.

- Phần thứ hai gồm 4 chương: Chương 1: Những tiêu chí phân kỳ các giai đoạn phát triển của văn bia Việt Nam. Chương 2: Văn bia thời đại Lý - Trần. Chương 3: Văn bia thời đại Lê - Tây Sơn. Chương 4: Văn bia thời Nguyễn. Cuối cùng là phần kết luận và Thư mục sách tham khảo. Tiếp thu thành tựu nghiên cứu về văn bia của các học giả Trung Quốc, Liên Xô, Triều Tiên, Việt Nam và xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu của mình, tác giả luận án đã có những đóng góp đáng kể khi nghiên cứu về sự hình thành văn bia Việt Nam trong mối quan hệ văn hóa với các nước vùng Viễn Đông (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) và Đông Dương (Lào, Cămpuchia); cũng như tiến trình phát triển của văn bia Việt Nam và đặc điểm của nó trong từng giai đoạn lịch sử xét về nội dung và chức năng. Đặc biệt tác giả luận án đã phân tích một cách có hệ thống giá trị của văn bia trong nền văn học cổ điển Việt Nam xét về mặt thể loại.

Luận án đã được các phản biện, cơ quan phản biện và Hội đồng khoa học ngành Ngữ văn Viện Phương Đông đánh giá cao.

P.V