TB

BỘ SÁCH DI SẢN HÁN NÔM VIỆT NAM - THƯ MỤC ĐỀ YẾU SẮP RA MẮT BẠN ĐỌC

TRẦN NGHĨA

Để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu và khai thác kho tàng văn hóa Hán Nôm, trong nhiều năm qua, Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN) và Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp (EFEO) đã hợp tác biên soạn bộ sách Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu. Đến nay công việc đã hoàn thành, bộ sách đang đưa in để kịp thời phục vụ độc giả trong và ngoài nước.

Bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu có các đặc điểm như sau:

1) Về phạm vi, bộ sách chủ yếu giới thiệu các sách Hán Nôm mang ký hiệu A, AB, AC, AN, VH, VN, HV tại VNCHN, trong đó có một số sách mới sưu tầm thêm từ 1979 đến 1987; và các phông Hán Nôm thuộc Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp mang ký hiệu Paris. EFOE, Thư viện Quốc gia Paris mang ký hiện Paris. BN, Thư viện hiệp hội Châu á mang ký hiệu Paris. SA, Thư viện Trường Sinh ngữ Phương Đông mang ký hiệu Paris. LO, Thư viện Bảo tàng Guimet mang ký hiệu Paris. MG.

2) Về cấu tạo, bộ sách bao gồm các phần: Tựa, Dẫn luận; Thay cho phàm lệ; Bảng chữ viết tắt và dấu quy ước; Thư mục chính; Phụ lục; Bảng tra tên tác phẩm; Bảng tra tên người; Bảng chỉ dẫn tìm tư liệu theo chủ đề; trong đó, phần Thư mục chính và phần Phụ lục chiếm khối lượng lớn nhất.

Phần Thư mục chính giới thiệu các sách Hán Nôm do người Việt Nam soạn thảo, như Ngô gia văn phái A.117 (Sách Hán Nôm của người Kinh); Mãi táng xa A.3046 (Sách Hán Nôm của người dân tộc)...; các sách Hán Nôm do người Việt Nam viết chung với người nước ngoài, như An Nam sơ học sử lược A.3228...; và các sách Hán Nôm của người nước ngoài do phía Việt Nam sao chép hoặc in lại có gia công trên nhiều mức độ khác nhau, như Thái Bình hoàn vũ ký trích lục VHv. 1282; Thiếu vi tiết yếu đại toàn AC.6/1-2; Thông giám tập lãm tiện độc AC.24/1-6...

Phần Phụ lục giới thiệu các sách Hán Nôm của người nước ngoài do phía Việt Nam sao chép hoặc in lại nguyên xi để sử dụng, phần lớn là loại sách mang ký hiệu AC, HV như Bách pháp minh môn luận trực giải AC.618; Dịch kinh HVv.1/1-4...

Có một số sách tuy mang ký hiệu AC, HV nhưng kỳ thực là sách Việt Nam, như Âm chất văn AC.32; Thư kinh tiết yếu HVv.4/1-4... vẫn sẽ được xếp vào phần Thư mục chính. Trái lại, có một số sách tuy không mang ký hiệu AC, HV nhưng kỳ thực là sách nước ngoài, như An Nam chí A.2739; Y học tâm ngộ VHb.128/1-2... sẽ được xếp vào phần Phụ lục.

3) Về quy cách biên soạn, mỗi đơn vị thư mục hay “mục sách” gồm có các vùng, các yếu tố mô tả được quan niệm và trình bày theo cách thức như sau:

a- Vùng tên sách: “sách” ở đây hiểu theo nghĩa hết sức rộng rãi, bao gồm cả những tập hồ sơ, tư liệu, những văn bản viết tay, thậm chí một bài văn bia, một tờ di chúc, một bản khoán lệ của làng ... tóm lại, các đối tượng mà với một cái nhìn chặt chẽ, chưa dễ coi là sách. Cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy trong bộ thư mục giới thiệu những công trình biên soạn đồ sộ như Đại Nam thực lục A.2772/1-67 dày 26.534 trang. Khâm định Việt sử thông giám cương mục A.1/1-19 dày 4.142 trang... bên cạnh những tại liệu mỏng dính như Vũ Liệt tổng kỳ vũ trát VHv.2537 dày 1 trang; Thanh Đô vương lệnh chỉ VHv.2490 dày 2 trang; Thanh Chương nha môn thị VHv.2491 dày 3 trang... Hay những sách in, văn bản đã định hình như Nữ Tú tài tân truyện AB.43; Xuân đình gia huấn VHv.13... bên cạnh những sổ tay ghi chép như Thi ca tạp ký VNv.78; Thi đối văn tạp lục VHv. 972...

Tên các mục sách trong bộ thư mục được viết bằng chữ Quốc ngữ, có kèm theo nguyên văn chữ Hán hoặc chữ Nôm. Sau mỗi tên chính, có thể có một hoặc nhiều tên phụ in liền theo. Những tên phụ này, trong thực tế là những cách gọi không thống nhất đối với cùng một tác phẩm.

b- Vùng tên tác giả và tình hình công bố sách: có tác giả chính và tác giả phụ. “Tác giả chính” chỉ các cá nhân hoặc tập thể trực tiếp làm ra sách (sáng tác, biên khảo, phiên dịch...). “Tác giả phụ” chỉ những người gián tiếp tham gia vào một hoặc nhiều vòng khâu của quá trình làm sách, nhằm góp phần hoàn chỉnh, hoàn thiện, nâng cao chất lượng một tác phẩm đã có tác giả chính, như các công việc biên tập (hiệu đính, nhuận sắc...) bình luận, viết tựa (bạt, dẫn, đề từ) v.v. Tên tác giả chính cũng như tên tác giả phụ, khi cần thiết, đều được kèm theo nguyên văn bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm. Ngoài tên gọi ra, các thứ tên khác như tự, hiệu, biệt hiệu... cùng chức vụ, tước vị, địa chỉ của tác giả... cũng được đưa vào phần mô tả, nếu sách cho biết.

Nơi viết sách thường là địa điểm mà tác giả sống, làm việc... được ghi trên mặt sách. Nơi in sách có phạm vi xác định hơn: hoặc là cơ sở do khu vực Nhà nước quản lý, chẳng hạn như Quốc sử quán triều Nguyễn; hoặc là cơ sở do nhà chùa, đền quán quản lý, chẳng hạn như đền Ngọc Sơn (Hà Nội), chùa Hoa Lâm (Sơn Tây); hoặc là cơ sở do tư nhân tổ chức, chẳng hạn như Hồng Lục, Liễu Chàng (Hải Dương)... Trong trình bày, nơi viết sách và nơi in sách sẽ được giới thiệu đúng như tình hình sách cung cấp.

Năm viết sách, đề tựa, công bố, sao chép... đối với thư tịch Hán Nôm thường mang một ý nghĩa riêng và có thể không giống nhau về cùng một sách, sẽ được chú ý nêu lên trong thư mục, cố gắng không để sót. Niên đại nào có ghi cả năm can chi và niên hiệu nhà vua, cũng được phản ánh đầy đủ, có chuyển đổi sang năm Dương lịch tương ứng.

Có những công trình biên soạn lớn hoặc những bộ sưu tập lớn được chia ra thành nhiều tập hay nhiều quyển với các cách gọi thứ tự như Sơ, Nhị, Tam, Tứ (Thiệu Trị ngự thi A.135/1-13); Thượng, Trung, Hạ (Thanh Trì Bùi thị gia phả VHv.1343/1-3); Giáp, Ất, Bính, Đinh (Hoàn vũ ký văn (A.585); Thiên, Địa, Nhân (Hổ trướng khu cơ A.1783); Mạnh, Trọng, Quý (Dưỡng Trai tập A.429), Ôn, Lương, Cung, Kiệm, Nhượng (Y nang bí thuật VHv.198)... cũng đều được mô tả trong thư mục, nhằm ghi lại tầm vóc ban đầu của tác phẩm mà về sau, có thể vì nguyên nhân này nọ, không còn giữ được toàn vẹn như cũ.

c- Vùng số liệu: phần này mô tả các yếu tố như số bản, số trang, khổ sách, số bài tựa, phàm lệ, mục lục, minh hoạ, văn tự, phương thức nhân bản...

“Bản” là từ dùng để chỉ các thư tịch hoặc tài liệu mang một ký hiệu độc lập. Mỗi mục sách có thể có nhiều bản tồn tại như là những bộ phận của một tổng thể, hoặc những dị bản của một sách gốc.

Các yếu tố như “trang” (mặt trước hoặc mặt sau của một tờ và chỉ kể những trang có chữ viết hoặc chữ in); “khổ sách” (chiều cao và chiều rộng của sách tính bằng cm); “tựa” (hậu tự, bạt, dẫn...); “phàm lệ” (tổng lệ, lệ ngôn...); “mục lục” (tổng mục); “minh họa” (đồ họa, sơ đồ, chân dung, kể cả các dấu kiềm, dấu ấn); “văn tự” (chữ Hán, chữ Nôm, hoặc có Hán xen lẫn trong tác phẩm Nôm; hoặc có Nôm xen lẫn trong tác phẩm Hán); “phương thức nhân bản” (bản in, bản viết tay)v.v. đều được mô tả, thống kê số lượng theo tình hình chung nếu các bản giống nhau, hoặc theo đặc thù từng bản nếu giữa chúng có chỗ khác nhau.

d- Vùng ký hiệu: “ký hiệu” nói ở đây là ký hiệu phân loại, xếp giá. Trường hợp mục sách có nhiều ký hiệu, cũng tức là có nhiều bản, thì các ký hiệu sẽ được sắp xếp theo trật tự chất lượng hoặc độ hoàn chỉnh từ nhiều đến ít của các bản. Nếu trong số các bản có bản in, bản viết, thì ký hiệu bản in sẽ đưa lên trước.

Trường hợp sách đã được làm vi phim, ký hiệu phim và ký hiệu sách tương ứng (nếu biết) cũng sẽ được ghi rõ trong mục sách.

e- Vùng nội dung: đây là phần giới thiệu tóm lược các thông tin thuộc nội dung sách.

Đối với loại sách 1 bản, nếu là truyện thì lược thuật nội dung câu chuyện. Nếu là sách nhiều quyển, thì lần lượt giới thiệu nội dung từng quyển. Nếu là một sưu tập gồm nhiều tác phẩm, thì lần lượt giới thiệu nội dung từng tác phẩm. Nếu là sách có phần chính và phần phụ lục, thì phần chính giới thiệu trước, phần phụ lục giới thiệu sau.

Đối với loại sách có nhiều dị bản thì phần chung nhất, ổn định nhất giữa các dị bản sẽ được giới thiệu trước; phần khác nhau của từng dị bản sẽ được giới thiệu sau như là những bổ sung.

g- Vùng phụ chú: phần này nhằm giới thiệu những điều cần biết mà trong chính văn mô tả sách chưa có dịp trình bày. Chẳng hạn những nghi vấn về tác giả, tác phẩm; những chi tiết bổ sung về tiểu sử người làm sách; tình trạng thừa thiếu về số quyển, số trang; những chỉ báo về các nguồn tư liệu liên quan đến mục sách...

Các vùng a, b, c, d được mô tả trong chừng mực thông tin mà sách cung cấp, khác với các vùng e, g, trong khi mô tả, có thể thêm phần kiến giải riêng của người biên soạn.

4) Về quá trình thực hiện: bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu này là một phần của chương trình hợp tác khoa học được ký kết tại Hà Nội ngày 30-11-1983 giữa Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam và EFEO.

Để thực hiện bộ sách, VNCHN và EFEO đã thành lập một Ban biên tập hỗn hợp gồm 10 người, chia thành 2 nhóm. Nhóm VNCHN có Trần Nghĩa, Trần Văn Quyền, Hoàng Văn Lâu, Dương Thái Minh, Mai Ngọc Hồng. Nhóm này chịu trách nhiệm biên soạn phần thư mục sách Hán Nôm Việt Nam hiện tàng trữ tại VNCHN, đồng thời làm 3 bảng tra cứu của bộ sách. Nhóm EFEO có Francois Gros, Christiane Rageau, Tạ Trọng Hiệp, Trương Đình Hòe, Trần Khánh Hạo. Nhóm này chịu trách nhiệm biên soạn phần thư mục sách Hán Nôm Việt Nam hiện tàng trữ tại một số thư viện Pháp, và hiệu đính phần tiếng Pháp do phía VNCHN tổ chức dịch trong bộ thư mục (có thêm, bớt một số nội dung mà phía EFEO xét thấy cần thiết đối với độc giả phần tiếng Pháp).

Công việc biên soạn được tiến hành ngay từ đầu năm 1984 ở Nhóm VNCHN và giữa năm 1986 ở Nhóm EFEO. Đến cuối năm 1987 cả 2 nhóm đều kết thúc giai đoạn phác thảo, chuyển sang giai đoạn tổng duyệt được tổ chức tại Hà Nội từ đầu tháng 12-1987 đến cuối tháng 1-1988. Thời gian tiếp theo đó dành cho việc hoàn chỉnh bản thảo lần cuối, phần tiếng Việt do Nhóm VNCHN đảm nhiệm, phần tiếng Pháp do Nhóm EFEO phụ trách. Hiện nay, như trên đã nói, toàn bộ bản thảo đã chuyển tới nhà in.

Hy vọng bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu sẽ được bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận như là một minh chứng về sự hợp tác khoa học có hiệu quả giữa ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam và EFEO sau một thời gian dài mất liên hệ. Bộ sách đã đặt thêm một viên gạch trên con đường hợp tác Văn hóa - Khoa học đầy triển vọng giữa hai nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Pháp.

T.N

CHÚ THÍCH

(*) Chủ biên công trình Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu./.

TB

LỜI DẪN CHO BỘ SÁCH SẮP XUẤT BẢN VĂN KHẮC HÁN NÔM VIỆT NAM - TUYỂN CHỌN VÀ LƯỢC THUẬT

NGUYỄN QUANG HỒNG

Trong kho tàng di sản văn hóa thành văn của dân tộc Việt Nam, cũng như các dân tộc khác trong khu vực đã từng chịu nhiều ảnh hưởng của văn hiến Trung Hoa (Triều Tiên, Nhật Bản v.v...) có một khối lượng lớn những văn bản bằng chữ Hán, và bằng một thứ chữ vuông của dân tộc được tạo ra theo kiểu chữ vuông Hán, mà chúng ta quen gọi là chữ Nôm. Các văn bản chữ Hán, chữ Nôm này (gọi tắt là văn bản Hán Nôm), xét từ một góc độ nào đó, có thể chia làm ba loại lớn: (I) Các văn bản viết tay (thường là bằng bút lông, tẩm mực hoặc son) trên giấy bản, trên lụa, vải v.v... (II) Các văn bản được khắc (bằng dao, đục) trên đá, đồng, gỗ v.v... (III) Các văn bản được in ra trên giấy, lụa, vải v.v ... từ những khuôn in là những tấm ván đã được bào nhẵn và khắc (cũng bằng dao, đục) chữ ngược lên đó. Văn bản in ra từ các con dấu, ấn triện cũng thuộc vào loại này. Có thể còn một số văn bản Hán Nôm đặc biệt khác không tiện xếp vào ba loại hình kể trên, như chữ đúc trên đồng tiền, chữ thêu trên bức trướng, câu đối ghép bằng các mảnh sứ gắn trên trụ vôi, bài thơ khảm bằng xà cừ trên đồ gỗ, hoặc viết bằng sơn, thủy ngân trên kính v.v... Song nhìn chung, hầu hết các văn bản Hán Nôm làm thành phần chủ yếu trong kho tàng văn hiến cổ nước ta đều có thể quy vào một trong ba loại hình kể trên.

Trong công trình này, chúng tôi tập trung sưu tập, tìm hiểu và giới thiệu với đông đảo bạn đọc một trong ba loại hình văn bản Hán Nôm, mà cụ thể là loại hình (II), tức là các văn bản được định hình bằng cách dùng dao, đục... khắc chữ lên bề mặt các vật thể rắn như đá, đồng, gỗ. Từ đó, ta có các văn bản khắc tay (gọi là văn khắc) trên các di vật như bia, chuông, khánh, biển v.v ...

Trong lịch sử các nền văn hiến cổ đại, loại hình văn khắc ra đời rất sớm. ở Trung Hoa, giáp cốt văn (văn khắc trên mai rùa và xương thú) và kim thạch văn (văn khắc trên đá, đồng...) đều xuất hiện trước Công Nguyên hơn 1000 năm. ở vùng Lưỡng Hà, xứ sở của người Babilon và Assiri cổ đại, người ta phát hiện một thư viện cổ (bị vùi sâu dưới đất) lập ra vào khỏang 2000 năm trước Công Nguyên, trong đó toàn bộ sách vở đều bằng đất sét: gồm hơn 3000 bản đất sét, trên mỗi bản có khắc chữ hình nêm. Do tính chất bền vững của vật liệu định hình (đá, đồng, gốm...) các bản văn khắc thường được lưu truyền lại lâu dài về sau. Còn các văn bản viết ra hoặc được in ra trên lá cây, giấy, lụa, vải... cho dù có ra đời sớm hơn cũng khó lòng giữ lại được lâu dài. Trong kho tàng văn bản Hán Nôm của nước ta, các văn bản cổ nhất hiện nay còn lưu giữ được vẫn là các bản khắc trên bia đá (như bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn ở Thanh Hóa, tạo năm Đại Nghiệp 14 - tức năm 618 - thời Bắc thuộc nhà Tùy) hoặc chuông đồng (như chuông phát hiện ở xã Thanh Mai, Hà Tây được đúc vào năm Trinh Nguyên 14 - tức năm 798 - thuộc Nhà Đường).

Tính bền vững của vật liệu chất rắn (đá, đồng) khiến người ta dần dần có ý thức cấp cho văn bản thuộc loại hình này những chức năng đặc biệt so với các văn bản viết tay hoặc in ấn. Trước hết, văn khắc thường gắn với nhu cầu lưu niệm, bảo tồn lâu dài điều mà nội dung văn bản muốn thông báo: ghi nhớ công đức, nhắn nhủ hậu thế, lưu truyền công danh sự nghiệp, đánh dấu sự kiện... Thứ hai, văn khắc ghi lại những bằng cứ, những điều lấy làm chuẩn mực, tránh tùy tiện, kiểu “khẩu thiệt vô bằng” hoặc “tam sao thất bản”: đó là những điều quy định của làng xã, những bản giao kèo khoán ước giữa các bên v.v... Thứ ba, nội dung văn khắc là những gì có nhu cầu được phổ biến rộng rãi, sao cho bàn dân thiên hạ, khách lai vãng thập phương đều được biết đến: Đó là những sự kiện trọng đại, những điều tốt đẹp cần phát huy, những cảnh đẹp đáng ca ngợi, những điều thiêng liêng phải ngưỡng mộ, những luật lệ cần được mọi người tuân theo... Và cuối cùng, các bản văn khắc, với cách trình bày công phu, chạm trổ tinh tế, gắn với các vật thể mang nó (bia, chuông, khánh, trụ, biển, hoành phi, câu đối...) có giá trị thẩm mỹ rõ rệt: chúng là một bộ phận không thể thiếu được trong việc trang trí nơi công cộng, nơi thờ cúng, nơi danh lam cổ tích.

Đương nhiên, không phải mỗi bản văn khắc đều có đầy đủ những chức năng, đặc tính kể trên, mà tùy theo từng văn bản cụ thể và cũng tùy theo từng loại vật thể khác nhau (bia, chuông v.v...). Song nhìn chung, mỗi bản văn khắc Hán Nôm ít nhất cũng mang hai trong bốn đặc tính trên đây. Nếu như văn bia có khả năng thực hiện tối đa các chức năng đã nêu, thì chuông và khánh lại thiên về nhu cầu lưu niệm và phổ biến những điều thiêng liêng, còn hoành phi câu đối chủ yếu là thực hiện chức năng lưu niệm và chức năng trang trí v.v...

Cần lưu ý rằng, do tính chất thiên về lưu niệm và trang trí nên hoành phi và câu đối thường chỉ là những văn bản ngắn gọn (chứa dựng nhiều điển tích). Cũng bởi nhu cầu trang trí mỹ thuật được nhấn mạnh mà các bức hoành phi câu đối có thể được định h ình bằng nhiều phương thức đặc biệt khác nhau: thêu, cắt dán, khảm xà cừ v.v ... Do đó, hoành phi câu đối không nhất thiết phải là văn khắc, và cũng không phải là những văn bản khắc tay điển hình. Trong số những văn bản Hán Nôm khắc tay thì văn bia là phổ biến nhất. Hầu như bất kỳ ở đâu, miễn là ở đó thường xuyên có người tụ họp hoặc đông người qua lại, đều có thể dựng bia ghi việc. Nếu như bia đá là vật phải dựng, thì những vật không dựng mà phải treo là chuông, khánh, biển. Chuông thường đúc bằng đồng, văn bản được khắc san khi chuông được đúc xong. Khánh thông thường bằng đồng nhưng cũng nhiều khi làm bằng đá. Biển thường làm bằng gỗ, cũng có khi bằng đồng, kết hợp khắc văn bản (câu đối, bài thơ v.v...) với chạm trổ mỹ thuật để trang trí. Trong số văn khắc Hán Nôm, còn có các văn bản khắc trên lư hương, trụ đá, vách núi (bia ma nhai) v.v... Đặc biệt còn có các bản sách ghi sự tích các vị Phật hoặc Thành hoàng được khắc lên từng mặt lá đồng và xâu ghép lại thành những quyển sách đồng, được lưu giữ như bảo vật ở đền, chùa, nhà thờ...

Các bản văn khắc Hán Nôm gắn với các loại di vật như đã kể trên, khác với các văn bản chép tay hoặc in ấn (chỉ lưu trữ ở phòng sách hoặc thư viện), tồn tại ở các nơi sinh hoạt công cộng hoặc gắn liền với các di tích, là những nơi bất cứ ai đều cũng có thể lai vãng và dễ dàng tiếp xúc. Các tụ điểm và di tích đó có thể được phân biệt như sau:

a. Đình: đây là nơi sinh hoạt công cộng của làng xã nước ta thời xưa, là nơi làm việc của chức dịch địa phương và cũng là nơi thờ Thành hoàng của mỗi làng. Bởi vậy, loại văn bản khắc tiêu biểu nhất ở đình là những tấm bia ghi việc công của làng xã (khoán ước về ruộng đất, tô thuế, ghi chép về kiện tụng, về phong tục và lệ làng, giao kèo về việc hát cửa đình...), ghi sự tích Thành hoàng, ghi công trạng các nhân vật có tiếng của địa phương, ghi công ơn những người đóng góp cho dân (bia Hậu Thần, bia công đức v.v...). ở nước ta đình làng có mặt ở khắp các tỉnh miền Bắc, nhất là đồng bằng Bắc Bộ. Các tỉnh miền Trung và miền Nam, từ Quảng Bình trở vào, hầu như vắng bóng các mái đình làng cổ kính. Các hội quán của người Hoa ở Hà Nội, Hải Phòng, Hội An... cũng là nơi tụ họp đồng hương, thờ cúng tiên hiền, cũng có nhiều bia đá và hoành phi câu đối, có thể xếp vào cùng một cụm với đình làng.

b. Chùa: là nơi thờ Phật, nơi trụ trì của các tăng đồ Phật giáo - tính ngưỡng phổ biến nhất ở nông thôn nước ta. Trong phạm vi của một chùa lớn, có thể có cả tháp, cầu, giếng, am, thậm chí cả chợ Tam bảo. ở các chùa chiền thường có bia, chuông, khánh, biển v.v... ghi sự tích hành trạng của các vị sư thờ ở chùa, kể về lai lịch của chùa qua các lần khởi công xây dựng và trùng tu, về sự đóng góp công đức của tín thí thập phương (bia Hậu Phật, bia công đức), ca ngợi cảnh đẹp của chùa và lẽ diệu huyền của đạo Phật. Hầu như khắp nơi ở nước ta đều có tín đồ Phật giáo và đều có chùa thờ Phật. Tuy nhiên, mật độ chùa chiền và mức độ cổ kính cao nhất vẫn là ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Phần lớn các bản văn khắc Hán Nôm còn lưu giữ và sưu tầm được chính là các tấm văn bia ở các chùa thuộc Hà Nội, Hà Tây, Hà Bắc, Hải Hưng, Hà Nam Ninh, Thái Bình...

c. Đền - Miếu (kể cả am thờ): nơi đây dân chúng phụng thờ những vị thần trong huyền thoại, các nhân vật lịch sử được thần thánh hoá và cả những ân nhân được tôn sùng. Cũng có khi miếu (hoặc am) lập nên để thờ những người dân thường “sống khôn chết thiêng” để lại sự tín ngưỡng trong dân gian. Gần gũi với đền miếu, có thể kể đến các đạo quán, nơi các tín đồ Đạo giáo thờ các vị thần tiên. ở các di tích loại này cũng thường có bia, chuông, khánh, biển... ghi chép sự tích và sự linh thiêng của Thánh, Thần, lòng tôn sùng của dân chúng, công đức của những người đóng góp xây dựng và sửa chữa di tích v.v ...

d. Từ đường - Lăng mộ: đây cũng là nơi lưu giữ kỷ niệm và thờ phụng những người đã khuất, song chủ yếu là trong nội bộ một gia tộc, một dòng họ. ở đây, thường có bia, hoành phi, câu đối, nói về công nghiệp tổ tiên, khắc ghi gia phả dòng họ, biểu dương truyền thống cha ông, dặn dò, răn dạy con cháu. Có thể có cả các bản văn khắc do những người ngoài họ là bè bạn, ân nhân, học trò... tiến cúng.

e. Văn chỉ - Vũ chỉ: nơi tập trung khắc ghi công danh những người được đào tạo đỗ đạt về ngạch văn (văn chỉ) và ngạch võ (võ chỉ), biểu dương Nho học và ý chí lập công danh sự nghiệp. ở đây chủ yếu có văn bia, biển gỗ, hoành phi, câu đối do Hội tư văn địa phương soạn (có văn chỉ hàng xã, hàng tổng, văn miếu hàng huyện, hàng tỉnh). ở Trung ương có hai di chỉ lớn là Văn miếu Hà Nội (dựng bia từ năm 1484 thời Hồng Đức nhà Lê) và Văn miếu ở Huế (dựng bia từ năm 1831 thời Minh Mệnh nhà Nguyễn).

f. Ngoài các di tích thuộc mấy loại kể trên, rải rác ở các nơi có người tụ họp lai vãng hoặc viếng thăm như cầu, đò, chợ, điếm canh, vách núi, hang động, thành quách... cũng có thể là nơi dựng đặt những kỷ vật có mang văn khắc, thường là trụ đá, bia đá, mộc bài, bia ma nhai v.v... nhằm ca ngợi việc làm công ích (cầu, đò, chợ...), khắc ghi điều lệ công cộng (chợ, điếm canh...), hoặc tán dương cảnh đẹp thiên nhiên, hoài niệm người xưa chốn cũ (vách núi, hang động, thành quách...).

Trên đây là sự phân biệt tổng quát về các loại di tích gắn với sự tồn tại các loại văn khắc Hán Nôm. Dĩ nhiên, trên thực tế, không loại trừ những trường hợp một bản văn khắc cụ thể dường như không chịu ép vào một khuôn mẫu nào nhất định. Chẳng hạn bia Đại Phương xã đình bi ở Hải Hưng là bia dựng ở đình hẳn hoi, nhưng nội dung văn bia lại là bia tư văn, lẽ ra phải dựng ở văn chỉ (nếu có). Lại cũng có những bia vừa ghi việc bầu Hậu Thần (thích hợp với đền, miếu) lại vừa ghi việc bầu Hậu Phật (thích hợp với chùa) cho cùng một nhân vật.

Như trên đã nói, những bản văn khắc Hán Nôm sớm nhất còn lại ở nước ta là từ thời Tùy Đường (thế kỷ VII - VIII). Nhưng phải kể từ thời Lý - Trần (từ thế kỷ XI) trở đi mới xuất hiện nhiều, và ngày nay còn lại chủ yếu là văn khắc từ đầu nhà Lê đến cuối nhà Nguyễn. Trải qua nhiều thế kỷ, thiên nhiên và xã hội đều không ngừng biến động, khiến cho các di tích và các di vật mang văn khắc cũng chịu số phận nếu không bị hủy hoại thì cũng lưu lạc tản mát, vật đổi sao dời, đến nỗi không hiếm trường hợp chuông ở chùa này thì lại đem treo ở chùa kia, thậm chí treo ở điếm canh nước trên đê; hoặc giả bia đình làng thì đem dựng ở chùa, thậm chí ngả ra lát đường, làm cầu, làm bàn giặt bên bờ ao v.v...

Trong khi đó thì những tấm bia ấy, những quả chuông ấy có thể là những di vật “biết nói” mà lịch sử đã để lại cho đời sau. Những dòng chữ Hán, chữ Nôm trên các di vật ấy có thể sẽ kể cho chúng ta biết nhiều điều quý giá về quá khứ của một dòng họ, một làng quê, và có khi còn hơn thế nữa, về cuộc sống kinh tế và chính trị, xã hội và văn hóa của cha ông chúng ta thuở trước. Không đi sâu phân tích mọi giá trị của kho tàng văn khắc Hán Nôm đối với ngành khoa học và thực tiễn đời sống, ở đây chỉ xin nêu một nhận xét nhỏ: ngay ở mảng bia Hậu Thần, Hậu Phật là những bản văn khắc phổ biến nhất và dường như ít “lượng thông tin” nhất, chúng ta cũng nhận ra rằng bên cạnh những yếu tố có vẻ duy tâm của người xưa, trong việc này họ đã thể hiện ý muốn hướng tới điều thiện, khuyến khích những người giàu sang đóng góp công của vào việc phúc lợi công cộng, chia xẻ khó khăn với dân nghèo. Đây phải chăng là điều xa lạ đối với cuộc sống của chúng ta ngày hôm nay. Đó là chưa kể những con số về ruộng đất, tiền bạc, những tên người, tên xứ đồng và địa phương khắc ghi trong đó, sẽ chẳng phải là vô bổ đối với các nhà nghiên cứu có liên quan.

Bởi lẽ sự tồn tại của các di vật mang văn khắc không thể tách rời các di tích mà chúng trực thuộc, cho nên các nhà nghiên cứu không thể nghĩ đến chuyện tập trung kỳ hết các di vật mang văn khắc vào viện bảo tàng. Từ những năm 20 của thế kỷ này, các học giả người Pháp và người Việt ở Trường Viễn đông Bác cổ (EFEO) đã tổ chức in rập văn khắc trên bia, chuông, khánh ở các địa phương và đã tập hợp các thác bản (bản rập) đó lại, gồm khỏang 11.000 đơn vị, mỗi đơn vị thường có từ 1 đến 4 tờ rập. Số thác bản (bản rập) này, cùng với hơn1.000 đơn vị mới in rập bổ sung từ sau 1954 đến nay, làm thành kho thác bản văn khắc Hán Nôm, hiện đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam) ở Hà Nội.

Bộ sách này không phải là một bộ mục lục đầy đủ về tất cả các bản rập văn khắc Hán Nôm hiện có tại kho lưu trữ nói trên. Một quyển mục lục như thế đã được chúng tôi thực hiện riêng, trong đó toàn bộ các đơn vị thác bản văn khắc Hán Nôm hiện có ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm cho đến cuối 1990 được nêu tên và xếp theo địa phương, theo di tích mà chúng trực thuộc, cùng với ký hiệu của chúng trong kho lưu trữ nói trên. Quyển mục lục này đã hoàn thành vào giữa năm 1991 với tên gọi là Danh mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam . Sách được in chụp theo chế bản la - de gồm gần 600 trang, hiện đặt tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam) để bạn đọc tra cứu. Trước đó khỏang từ 1970 đến 1975, một tập thể cán bộ của Ban Hán Nôm (thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam) gồm hơn mười người (các vị Thái Văn Liễn, Nguyễn Thúc Linh, Trần Duy Vôn, Nguyễn Thị An Tâm, cùng với Đỗ Thị Hảo, Nguyễn Kim Hưng, Cao Hữu Lạng, Ngô Thế Long, Dương Thái Minh, Nguyễn Cẩm Thuý, Nguyễn Thị Thanh Xuân...) dưới sự chỉ đạo của cụ Bùi Thanh Ba, đã biên soạn bộ Thư mục bia Việt Nam gồm 25 tập, hơn 5.000 trang bản thảo đánh máy. Đây là bộ Thư mục đầu tiên khai phá và mô tả kho văn bia hồi bấy giờ để ở Thư viện Khoa học xã hội. Tiếp theo, từ 1984 đến 1986, để bổ khuyết và đính chính cho bộ thư mục trên đây, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã giao cho một nhóm cán bộ gồm 12 người (mà sau đây hầu hết đều tiếp tục tham gia vào chương trình Văn khắc Hán Nôm của chúng tôi) do ông Hoàng Lê chủ trì, tiến hành biên soạn bộ Thư mục bia giản lược, gồm 30 tập, ngót 6.000 trang đánh máy. Xét về tính chất và thể lệ, cả hai bộ “Thư mục bia” này là cơ bản thống nhất. Trong đó các đơn vị văn bia được sắp xếp theo địa phương, được mô tả và lược thuật nhằm chỉ dẫn độc giả bước đầu làm quen với các văn bản trước khi tra tìm và tiếp xúc trực tiếp với văn bản Hán Nôm. Nhiều năm qua, hai bộ “Thư mục bia” này đã giúp ích nhiều cho bạn đọc theo yêu cầu kể trên.

Thực hiện chương trình nghiên cứu và giới thiệu kho tàng Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, chúng tôi không muốn và không cho phép lặp lại những gì mà các nhà biên soạn trước đây đã làm được, mặc dù chính kết quả của họ là điểm xuất phát cho công việc của chúng tôi hôm nay. Chúng tôi chịu ơn các học giả và những đồng nghiệp đi trước (trong đó có các cụ túc nho mà nay hầu hết đã qua đời). Với tinh thần đó, chương trình Văn khắc Hán Nôm của chúng tôi tiến hành từ cuối năm 1988 đến cuối năm 1991 đã dẫn đến kết quả là hình thành hai loại ấn phẩm sau đây:

- Ấn phẩm thứ nhất, là quyển Danh mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam như đã trình bày ở trên. Tham gia biên soạn quyển danh mục này là một nhóm cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm gồm 13 người: Nguyễn Quang Hồng (chủ biên), Hoàng Lê (thư ký), Ngô Thế Long (biên tập chính), Hoàng Giáp, Lê Việt Nga, Nguyễn Thuý Nga, Nguyễn Thị Ngân, Dương Thị The, Phạm Thị Thoa, Nguyễn Huy Thức, Nguyễn Hữu Tưởng, Nguyễn Công Việt, Phạm Thị Vinh.

- Ấn phẩm thứ hai là bộ Văn khắc Hán Nôm Việt Nam - tuyển chọn và lược thuật, gồm hơn 1.200 trang, khổ 24x16cm, sắp ra mắt bạn đọc. Bộ sách do nhóm cán bộ sau đây biên soạn: Nguyễn Quang Hồng (chủ biên), Hoàng Lê (thư ký), Lâm Giang, Mai Xuân Hải, Đỗ Thị Hảo, Ngô Thế Long, Nguyễn Tá Nhí, Ngô Đức Thọ, Đinh Khắc Thuân (với sự tham gia về tư liệu của tất cả các bạn trong nhóm biên soạn Danh mục kể trên). Các bản sách dẫn (về niên đại, về nhân danh, về di tích) ở cuối sách là do Nguyễn Tá Nhí và Đinh Khắc Thuân lập. ảnh minh họa do nghệ sĩ Lê Cường thực hiện.

Bộ sách này giới thiệu với bạn đọc kho tàng văn bản chữ Hán, chữ Nôm khắc trên bia, chuông, khánh, biển v.v ... bằng cách mô tả và lược thuật gần 2.000 đơn vị như thế được lựa chọn từ hơn 12.000 đơn vị hiện được lưu giữ qua các bản rập tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội và qua một vài nguồn tư liệu khác. Các đơn vị văn khắc Hán Nôm được giới thiệu ở đây không hẳn là đã được lựa chọn theo một danh sách các tiêu chí cố định mà có sự xê dịch cân nhắc sao cho trong bộ sách này tập hợp được những văn bản hoặc là có giá trị nhất định về mặt nào đó (về niên đại, về tác giả, về ngôn ngữ văn tự, về nội dung văn bản...), hoặc là đại biểu được cho một loại hình văn bản (bia, chuông, khánh, biển đề) gắn với các di tích và các địa phương khác nhau (đình, chùa, đền, miếu, lăng tẩm, từ đường, văn chỉ, cầu chợ v.v...). Khi cần thiết, gần như toàn bộ các đơn vị văn khắc có mặt ở một di tích đều được giới thiệu để bạn đọc tiện tham khảo, nghiên cứu (Văn miếu Hà Nội và Văn miếu Huế chẳng hạn).

Trong thời gian tiến hành chương trình nghiên cứu và biên soạn về văn khắc Hán Nôm, chúng tôi chẳng những sử dụng kho thác bản văn khắc hiện có tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội, mà còn tổ chức nhiều chuyến đi điều tra ở thực địa, qua đó kiểm tra lại các tư liệu có trước, bổ sung thêm những đơn vị chưa được in rập. Trong công việc này, nhóm công trình đã được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các cấp lãnh đạo, của cán bộ và nhân dân ở các địa phương, đặc biệt là ở các tỉnh: Hà Tây, Hà Bắc, Hải Phòng, Hà Nam Ninh, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang... Chúng tôi cũng đã nhận được sự hỗ trợ và cộng tác tích cực của nhiều bạn đồng nghiệp xa gần, trong đó có cả các đồng nghiệp quốc tế, đặc biệt là được sự tài trợ quý báu của Toyota Foundation (Nhật Bản). Nhân đây, cho phép chúng tôi được tỏ lòng cám ơn tất cả.

Thực hiện công trình này, chúng tôi phải tiếp xúc và xử lý khoa học một khối lượng văn bản Hán Nôm đồ sộ, phức tạp và đa dạng. Với khả năng và trình độ có hạn của mình, chúng tôi tự biết rằng trong sách không tránh khỏi nhiều sai sót và lầm lẫn. Xin bạn đọc sẵn lòng chỉ chính và lượng thứ cho. Dẫu sao, chúng tôi cũng hy vọng rằng, với công trình này, chúng tôi xin được đóng góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc gìn giữ và phát huy những tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam.

N.Q.H

CHÚ THÍCH

(*) Sách do GS.TSKH. Nguyễn Quang Hồng chủ biên - BT./.

TB

HỆ PHƯƠNG PHÁP VÀ MỘT VÀI KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỐNG KÊ TƯ LIỆU VĂN BIA
VIỆT NAM KHI NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

A.L. PHÊ ĐÔ RIN

Văn bia Việt Nam, một trong những văn bia lớn nhất về khối lượng ở Đông Nam Châu Á, là nguồn tư liệu quan trọng về thời hậu Trung cổ và lịch sử Cận đại của đất nước, nhưng hiện nay còn ít được sử dụng. Tác giả đã đặt nhiệm vụ cho mình cố gắng khai thác đến mức tối đa nguồn thông tin chứa trong tư liệu văn bia, kể cả việc phải sử dụng những phương pháp không truyền thống để khai thác nó, nhằm mục đích thu lượm những tư liệu về lịch sử kinh tế, xã hội, mà chúng được rút ra từ những tư liệu ít bị xuyên tạc nhất và có khối lượng nhiều nhất còn lưu giữ được từ những niên đại trước đây, cũng như phần lớn các nước khác, văn bia khắc trên chất liệu “vĩnh cửu” ở Việt Nam phản ánh một lĩnh vực khá hẹp về quan hệ xã hội, thông thường là gắn với việc thờ cúng. Tuy nhiên, nhờ có mang tính chính thức, tính phổ biến và tỷ lệ bảo tồn khá cao (2) so với các loại tư liệu khác mà các văn bia với một phương pháp nghiên cứu thích ứng, có thể trở thành một “phong vũ biểu” độc đáo về đời sống kinh tế của nhà nước trong một thời gian dài, kể cả các niên đại xa xôi. Dù sao đi chăng nữa nguồn thông tin kinh tế - xã hội trong các tài liệu đó cũng đầy đủ hơn và điều chủ yếu là đáng tin cậy hơn so với những tài liệu tương tự của những nguồn truyền thống, chẳng hạn như biên niên sử.

Bài báo này là một sự tiếp tục một công trình khác của một tác giả (3) và một vài luận điểm ngắn của công trình đó rất cần thiết để hiểu được các cấu trúc lô gich tiếp theo sẽ được diễn ra dưới đây.

Trong những năm 40-50 của thế kỷ này, theo đơn đặt hàng của trường Viễn Đông Bác cổ của Pháp, người ta đã lấy bản rập từ hơn 20000 tấm bia trong số còn được bảo tồn cho đến thời điểm đó ở Việt Nam. Sau đó một nhóm chuyên gia Việt Nam về lĩnh vực tiếng Hán cổ tiến hành chú giải văn bản của các bài văn bia này, những lời chú giải được tập hợp thành “Thư mục văn bia”(4) (dưới đây đã được gọi tắt là - “Thư mục”. Nghiên cứu những lời chú giải và so sánh chúng một cách chọn lọc với các bài văn đầy đủ đã cho thấy rằng những lời chú giải đã được thực hiện một cách tận tâm và có thể làm cơ sở để phân tích thống kê văn bia như là một quần thể thống nhất. Điều này có liên quan ở mức độ lớn hơn đến những dấu hiệu hình thức của bia đá (địa điểm và thời gian phát hiện, kích thước văn bia, tác giả, tiêu đề, ngôn ngữ, độ bảo tồn v.v...) và ở mức độ hẹp hơn là nội dung của chúng, bởi vì chiều sâu và tính chi tiết trình bày nội dung về nhiều mặt phụ thuộc vào tính chất quan trọng của những tài liêụ lịch sử ở các văn bia, chứ không phải vào sự chứa đựng thông tin kinh tế xã hội trong đó.

Trong bài báo này sẽ xem xét vấn đề về tính chất đại diện của việc tuyển chọn bia đá, mà việc mô tả chúng có trong “Thư mục” như là một phần của toàn bộ số văn bia cổ đại xuất hiện vào các thời kỳ khác nhau ở Việt Nam và sẽ đưa ra kết luận về giới hạn biên niên sử và địa lý của tính đại diện đó. Ngoài ra, trên cơ sở so sánh tiến trình phát triển các loại văn bia khác nhau sẽ rút ra được vài kết luận có liên quan đến các quá trình bên trong diễn ra ở văn bia gắn liền với những vấn đề cụ thể của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những thập kỷ XV - XX.

Trước hết là một vài số liệu tổng hợp. Toàn bộ trong “Thư mục” có mô tả gần 12 ngàn đối tượng cổ đại (bia đá, văn bia trên các đồ vật thờ cúng bằng đá và kim loại, trên các chi tiết kiến trúc của các đền đài miếu mạo, văn bia khắc trên các vách núi, trên các phiến đá lớn, các hình chạm nổi v.v...). Sau khi loại bỏ các hình chạm nổi và các văn bia khác (không phải của người Việt), những mô tả lặp lại của cùng một loại bia đá hay bản sao, cũng như sau khi hợp nhất các bộ phận của văn bia thành một chỉnh thể, mà những bộ phận đó trong một vài trường hợp lại được mô tả như là những đối tượng riêng lẻ, ta sẽ thu được 11427 tấm bia, mà mỗi bia đá trong phạm vi nghiên cứu có thể được xem như là một đơn vị riêng. Hầu như tất cả văn bia đều gắn với địa danh. Chỉ đối với 17 văn bia (0,15%) là không thể xác định ra nơi phát hiện với độ chính xác đến tỉnh, đối với 105 văn bia (0,92%) với độ chính xác đến huyện (hay châu). Phần lớn các tấm bia đều có ghi ngày tháng chính xác. Số lượng các tấm bia không ghi niên đại rõ ràng hoặc ghi niên đại bị xuyên tác là 1363 chiếc (12%).

Hầu hết các văn bia trong số 12% này theo tài liệu nghiên cứu sơ bộ là các văn bia thuộc thế kỷ XIX - XX, vì thế việc không xem xét đến các văn bia này, sẽ không ảnh hưởng một cách đáng kể đến kết quả phân tích thống kê quần thể những văn bia sớm hơn mà chúng đối với ta là đáng quan tâm hơn.

Hệ phương pháp đã được vận dụng thành thạo đối với các văn bia tương tự của các nước ở Đông Nam châu á sẽ được dùng làm cơ sở cho việc nghiên cứu thống kê các văn bia Việt Nam(5) . Những sự bổ sung vào phương pháp luận đó về nhiều mặt là có liên quan đến việc văn bia Việt Nam không như các quần thể văn bia ở vùng này, như sẽ chỉ ra dưới đây, mang tính một trung tâm. Việc nghiên cứu nó chủ yếu xem xét các quá trình nội tại diễn ra trong một cộng đồng. Thống nhất chứ không phải là so sánh tiến trình phát triển một các độc lập của hai hay một vài trung tâm trong phạm vi của một nhà nước thống nhất, như điều này đã được tiến hành đối với các văn bia cổ đại của các nước khác ở Đông Nam châu Á.

Khi nghiên cứu tính đại diện và đặc trưng phân bố của các văn bia, trong bài báo này sẽ tập trung chú ý vào ba thông số chủ yếu của tấm bia: nơi phát hiện, thời gian phát hiện và thể loại nội dung.

Việc phân chia về mặt hành chính của Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX được dùng làm cơ sở nghiên cứu sự phân bố địa lý các văn(6) bia bởi vì theo ý kiến của hàng loạt các nhà nghiên cứu(7) mà tác giả cũng đồng quan điểm thì việc phân chia này ở mức độ lớn nhất tương ứng với các vùng địa lý - lịch sử tự nhiên của Việt Nam, đã hình thành nên trong hàng loạt thế kỷ và đã mang những nét độc đáo riêng có của mình trong phạm vi một tộc người và một Nhà nước Việt Nam thống nhất.

Để nghiên cứu các quá trình thời gian trong văn bia Việt Nam, lịch sử của đất nước được chia thành 10 thời kỳ không đều nhau phù hợp với các sự kiện kinh tế - xã hội và chính trị đã diễn ra ở đây.

- Thời kỳ I: các năm 618 (?) - 1427 (810 năm). Chỉ còn lưu giữ được 23 văn bia ở thời kỳ này. Do tính ít ỏi của tài liệu (ít hơn 0,3 tấm bia trong một năm) mà việc nghiên cứu số lượng của chúng đòi hỏi một phương pháp đặc biệt. Điều đó không thuộc phạm vi của bài báo này.

- Thời kỳ II: các năm 1428 - 1526 (99 năm). Giai đoạn cuối cùng của sự tồn tại của một nhà nước phong kiến quan liêu tập chung, sự suy tàn của nó và thay thế bởi chính quyền của tập đoàn quân sự.

- Thời kỳ III: các năm 1527 - 1593 (66 năm). Sự thống trị của tập đoàn quân sự, sự hình thành hai vương triều (nhà Mạc và nhà Trịnh) chiến tranh khốc liệt lẫn nhau. Sự sụp đổ của nhà Mạc và chính quyền nhà Trịnh tràn ra phía Bắc.

- Thời kỳ IV: các năm 1594- 1672 (79 năm). Cuộc chiến tranh ác liệt nhưng vô hiệu quả giữa vương triều mới ở miền Nam (Đàng trong) và vương triều ở miền Bắc (Đàng ngoài) của hai nhà Nguyễn - Trịnh.

- Thời kỳ V: các năm 1673 - 1739 (67 năm). Chấm dứt chiến tranh giữa Đàng trong và Đàng ngoài, những cố gắng để giảm bớt tình hình kinh tế - xã hội căng thẳng tích tụ lại trong xã hội bằng con đường cải cách.

- Thời kỳ VI: các năm 1740 - 1787 (48 năm). Thời gian của những biến đổi xã hội nặng nề cả ở miền Bắc lẫn miền Nam, kết thúc bằng sự sụp đổ của cả hai vương triều.

- Thời kỳ VII: các năm 1788 - 1802 (Bảo Hưng 2) (15 năm). Sự trị vì của triều đại Tây Sơn lên nắm chính quyền trong cao trào các cuộc khởi nghĩa của nông dân.

- Thời kỳ VIII: các năm 1802 (Gia Long 1) - 1858 (57 năm). Nhà nước độc lập hậu phong kiến của nhà Nguyễn.

- Thời kỳ IX: các năm 1859 - 1883 (25 năm). Đấu tranh chống thực dân Pháp.

- Thời kỳ X: các năm 1884 - 1944(8) (61 năm). Thời kỳ thuộc địa

Để xác định thông số thứ ba, thông số cuối cùng của mỗi loại văn bia cổ đại (nội dung của văn bia), mà nó sẽ được xem xét đến khi phân dung tích thống kê, chúng tôi tách ra trong số tất cả các văn bia thành hai loại lớn tuy rất không bằng nhau về mặt khối lượng: loại A và loại B. Chúng tôi xếp vào loại A những tấm bia được làm ra bằng tiền vốn của làng xã, theo sáng kiến của làng xã và tồn tại trong phạm vi của nó. Chúng tôi xếp vào loại B những văn bia phản ánh hoạt động của Nhà nước và không liên quan đến làng xã riêng lẻ. Những văn bia thuộc hai loại này chiếm đa số tuyệt đối trong tổng số các văn bia (10875 trong số 11427 văn bia - hay 95,2%).

Trong loại A có thể chia ra hai tiểu loại lớn. Tập hợp vào tiểu loại A1 là những văn bia được gọi là “ghi nhận”, tức là văn bia kể về các hoạt động khác nhau của làng xã (xây dựng sửa chữa các công trình thờ cúng, chợ búa, cầu cống, giếng nước v.v...) và tiến hành ghi chép những cá nhân (tên của một người) đã đóng góp cho hoạt động kể trên. Tập hợp vào tiểu loại thứ hai (A2) là những tấm bia được gọi một cách ước lệ là “nô dịch” (nghĩa là những văn bia “nô dịch”). Loại bia này khác với các loại bia trên ở chỗ chúng không chỉ đơn thuần xác nhận sự kiện “làm phúc”, và ca tụng những người làm phúc, mà còn giao cho làng xã một số nhiệm vụ liên quan đến các chi phí vật chất, chẳng hạn những nhiệm vụ bắt buộc làng xã một thời gian dài thực hiện việc cúng lễ đều đặn những người làm phúc giải phóng con cháu những người làm phúc không phải làm tạp dịch v.v... Các tấm bia thuộc tiểu loại A1 và A2 chiếm 96,4% trong tổng số các văn bia thuộc A (10102 trong số 10480 bia). Loại B cũng chia ra làm hai loại: Các văn bia do Nhà nước làm ra (tiểu loại B1) và các văn bia do các đại diện cho giới thượng lưu của giai cấp thống trị làm ra (tiểu loại B2)(9).

Nhằm nghiên cứu tính đại diện của việc chọn lựa các tấm bia mô tả trong “Thư mục” chúng ta sẽ xem xét bảng 1 và sơ đồ 1, tại đó tất cả các tấm bia có ghi ngày tháng được phân bố theo tỉnh. Có thể rút ra những kết luận gì trên những tấm bia đó?

Sự hiện diện các tấm bia đã ghi chép được hầu hết các tỉnh của đất nước, sự khiếm khuyết “các lỗ thủng” nghiêm trọng trên bản đồ phân bố chúng tại vùng đồng bằng phía Bắc Việt Nam cho phép khẳng định rằng công tác lấy bản rập từ các bia đá được tiến hành trên toàn lãnh thổ của đất nước không có một sự loại trừ đáng kể nào. Bởi vậy tập hợp văn bia mà việc mô tả chúng được ghi chép trong “Thư mục” về phương diện địa lý có thể được xem xét như là sự lựa chọn hoàn toàn mang tính đại diện từ tập hợp tất cả các tấm bia đá có một thời nào đó được dựng lên ở trong nước có tính đến sự mất mát tự nhiên theo thời gian của chúng.

Nhìn chung có thể chia tất cả các tỉnh của cả nước trên cơ sở số liệu bảng 1 ra làm 4 nhóm.

1. Các tỉnh đồng bằng miền Bắc Việt Nam (từ Sơn Tây đến Sơn Nam Hạ). Nơi đây tập chung khối lượng chủ yếu (kể cả số không ghi ngày tháng 9828 trong số 11427 hay 86 %) và một phần đáng kể các tấm bia (187 trong số 247 hay 75%) cổ nhất (thời kỳ I-III). Đặc trưng của các vùng này là văn bia làng xã chiếm phần lớn (gần 90%). Riêng có Hà Nội về mặt này là trường hợp ngoại lệ tất nhiên: trong các thời kỳ I-IV từ khi thành phố là Thủ đô, ở đây văn bia của “Nhà nước” đã đạt mức độ cao (loại B). Sơ đồ các huyện (hay châu), nơi đã phát hiện ra các văn bia (xem sơ đồ1), chứng tỏ rằng ranh giới của các văn bia không trùng khớp với ranh giới các tỉnh, mà nó chạy dọc một cách chính xác theo đường tiếp giáp giữa các tỉnh đồng bằng và bán sơn địa, tức là sự phổ biến của chúng trên thực tế hoàn toàn trùng khớp với nơi tồn tại công xã Việt Nam truyền thống.

2. Các vùng núi phía Bắc Việt Nam. ở địa phận này, văn bia đặc biệt là văn bia sớm, ít hơn nhiều, nhưng xét về mặt tương quan các loại bia thì vùng này nhìn chung cũng như ở mức như ở các tỉnh đồng bằng láng giềng.

3. Vùng “quá độ” (phần phía Bắc Trung bộ Việt Nam từ Thanh Bình đến Thuận Hoá). Đặc trưng của vùng này là mật độ văn bia giảm bớt dần theo đà đi về phương Nam (so với vùng châu thổ sông Hồng) và tỷ trọng văn bia “Nhà nước” có tăng lên.

4. Các tỉnh phía Nam của đất nước, nơi không có văn bia sớm (trước năm 1802), còn những tấm bia muộn thì cực ít và chúng đặc biệt khác xa so với các tấm bia trên miền Bắc ở chỗ số văn bia “làng xã” chiếm tỷ lệ quá thấp(10).

Tổng kết lại có thể vẽ lên bức tranh dưới đây về sự phổ biến của các văn bia Việt Nam. Truyền thống dựng bia hàng loạt bằng chất liệu “vĩnh cửu” đã nảy sinh và đạt được một sự phát triển lớn nhất ở các tỉnh châu thổ sông Hồng. Truyền thống này dựa vào tổ chức làng xã tồn tại đặc thù và chính tổ chức này đã làm ra một khối lượng chủ yếu các tấm bia (loại A). Các tỉnh miền núi phía Bắc xét về mặt văn bia là vùng ngoại vi châu thổ. Nơi đây nhìn chung cũng vẫn những truyền thống đó thống trị nhưng ở dạng cực kỳ yếu ớt. Tiếp đến miền Nam thì hoạt động văn bia yếu dần đi trước hết là số văn bia “làng xã”. Điều này rất có thể là có liên quan tới đặc điểm của vùng này là trong làng xã tồn tại một kiểu quan hệ xã hội khác so với miền Bắc, xét về mặt văn bia ít hiệu suất hơn. Cuối cùng tổ chức làng xã ở miền Nam Việt Nam nói chung không tạo ra truyền thống văn bia của mình. Quá trình làm bia ở đây dưới dạng rất yếu kém chỉ được bắt đầu vào thế kỷ XIX và mang tính chất ngoại lai, chứ không phải tự sản sinh ra bởi các xu hướng bên trong của sự phát triển vốn có (phần lớn các tấm bia ở miền Nam là “Nhà nước”). Từ sự trình bày trên đây có thể rút ra kết luận rằng các tấm bia của “Thư mục” mang tính đại diện đối với cả nước xét về mặt địa lý. Song việc phân tích (kể cả phân tích thống kê) nội dung của chúng cho phép đưa ra những nhận định liên quan đến sự phát triển kinh tế - xã hội chỉ của vùng châu thổ sông Hồng và ở chừng mực nào đó của một số tỉnh phía Nam, bởi vì ở các tỉnh còn lại truyền thống văn bia cực kỳ yếu kém hoặc là trên thực tế nói chung không tồn tại. Như vậy, không như văn bia của các nước khác của vùng Đông Nam á, tại Việt Nam chúng ta gặp phải một quần thể văn bia mang tính chất một trung tâm.

Để nghiên cứu tính đại diện một tấm bia của “ Thư mục” xét về mặt thời gian, chúng tôi lập một bảng phân bố văn bia ở các tỉnh châu thổ sông Hồng theo từng thời kỳ riêng lẻ (xem bảng 2). Số lượng trung bình của các tấm bia được làm ra trong một năm trên phạm vi cả nước, trừ một số không đáng kể. ở thời kỳ thứ II, tăng dần lên ở các thời kỳ III và IV, và nhảy vọt lên ở thời kỳ V và tụt xuống ở thời kỳ VI và VII. Đối với từng tỉnh nằm ở vùng châu thổ cũng quan sát được một bức tranh tương tự hầu như đến tận các chi tiết nhỏ bé nhất trong các thời kỳ II và III. Tuy thế động thái sáng chế các tấm bia ở thời kỳ VIII - X đối với tất cả mọi tỉnh thì lại khác nhau, mặc dù xét theo sự phát triển trước đây của truyền thống văn bia, thì chẳng có một căn cứ đặc biệt nào để kết luận về điều đó cả. Chẳng hạn nếu như ở Hải Dương số lượng bia ở các thời kỳ VIII - X ít đi so với các thời kỳ I - VII hơn 12,5 lần (1945 và 155 tấm bia), thì ở Sơn Tây số lượng đó ít thay đổi (1408 và 938 tấm bia). Để giải thích hiện tượng này chúng ta hãy xem xét tiến trình xuất hiện các tấm bia ở các huyện láng giềng của một trong các huyện ngoại vi Thủ đô, đó là tỉnh Kinh Bắc (xem bảng 3)(a) . Người ta quan sát thấy bức tranh nghịch dị ở một loạt huyện trong thế kỷ XIX sự xuất hiện các tấm bia mới trên thực tế đã hoàn toàn ngừng lại thì trong một loạt huyện khác nằm cạnh bên tiếp tục xuất hiện. Không cân nhắc sự tương đồng của tổ chức kinh tế và xã hội ở những vùng này, thì không thể giải thích được hiện tượng trên đây chỉ bằng những nguyên nhân lịch sử nào đó. Chắc chắn rằng, trong một số huyện người ta đã làm các bản rập đối với tất cả các văn bia, còn các huyện khác chỉ làm cho các văn bia thời kỳ sớm xuất hiện đến một năm nhất định(11). Giới hạn về mặt thời gian giữa các tấm bia được làm bản rập và các tấm bia không được làm bản rập trong trường hợp thứ hai giao động trong phạm vi giữa các năm 1802 và 1858 bởi vì trong số 33 tấm bia thời kỳ sau của những huyện đó thì 22 tấm bia thuộc thời kỳ VIII. Sự phân tích tấm bia ở thời kỳ khác có đề ngày tháng được mô tả trong “Thư mục” cho thấy mọi trường hợp giới hạn phía bên trên về thời gian của sự ghi chép các tấm bia được làm bản rập ở tất cả các huyện không diễn ra muộn hơn năm 1802.

Để kết thúc việc tìm hiểu bảng 3, chúng ta quan sát tốc độ tăng về tỷ lệ phần trăm của các văn bia không đề ngày tháng đối với các huyện nơi có tiến hành làm các bản rập cho cả các tấm bia của các thời kỳ muộn hơn (sau năm 1802). Điểm này là sự khẳng định một cách gián tiếp cho một kết luận đã rút ra ở trên rằng văn bia không đề ngày tháng giả mạo phần lớn là thuộc thời kỳ sau thế kỷ XVIII.

Để xác định số lượng tương đối các tấm bia thuộc thế kỷ XIX - XX, mà chúng không được làm bản rập, chúng ta hãy xem xét bảng 4, thống kê các huyện của tất cả các tỉnh có số liệu văn bia khá lớn (không ít hơn 25 bia đối với mỗi tỉnh). Căn cứ vào số liệu của bảng đó, có thể chia các huyện có bia đá của cả nước ra làm hai bộ phận: ở phần đầu số tấm bia thuộc loại văn bia muộn (sau năm 1802) ít hơn 15%; ở phần thứ hai từ 20% trở lên. Sự vắng mặt hoàn toàn của các huyện có chỉ tiêu nêu trên ở trong phạm vi “giáp ranh” 15 - 19% và số lượng tối thiểu của các loại huyện này trong phạm vi từ 11 đến 25% đã nhấn mạnh sự khác biệt về chất của hai bộ phận và sự tách biệt rõ ràng của chúng. Nếu chú ý đến một điều là việc làm tất cả các bản rập được thực hiện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giới quan lại các huyện mà các ranh giới của các huyện này ở châu thổ sông Hồng vào giữa thế kỷ XX hầu như không khác biệt lắm so với đầu thế kỷ XIX, thì có thể khẳng định một cách khá quả quyết rằng: trong nhóm các huyện đầu (68 huyện) chủ yếu các văn bia loại sớm được làm bản rập, còn các văn bia muộn thì rất hãn hữu; còn trong nhóm thứ hai (62 huyện) thì tất cả các văn bia đều được làm bản rập. Như vậy tư liệu văn bia thuộc “Thư mục” bao bồm gần một nửa (khỏang 47,7%) các văn bia hiện có của thời đó còn tồn tại trong nước vào thời gian tiến hành làm bản rập.

Số liệu của bảng 5 chứng tỏ rằng mối tương quan về mặt số lượng và loại hình của các tấm bia xét theo các thời kỳ trong phạm vi của các tỉnh được xem xét một cách riêng rẽ, nếu như không xét số lượng tuyệt đối của chúng, thì hầu như đồng nhất. Điều này cho phép khẳng định rằng trong các huyện ở những nơi nào đã tiến hành làm bản rập cho tất cả các loại bia đá mà không phụ thuộc vào sự đề ngày tháng của chúng, thì chẳng có một ngoài lệ nào đối với bất kỳ một loại văn bia nào. Như vậy tập hợp các văn bia thế kỷ XIX - XX được mô tả trong “Thư mục”, có thể coi là một tập hợp chọn lọc mang tính đại diện của tất cả các tấm bia của thời kỳ đó mà chúng còn tồn tại ở Việt Nam. Tóm lại, có thể rút ra kết luận rằng, những mô tả của các tấm bia ở “Thư mục” là đại diện cho quần thể văn bia Việt Nam về mọi thời kỳ. Khi nghiên cứu các xu hướng này với các xu hướng của các giai đoạn sớm hơn nữa cần phải lưu ý rằng trong các tài liệu gốc (trong các mô tả của “Thư mục”) mới chỉ tính có một nửa các tấm bia có ghi ngày tháng sau năm 1802, mà chúng còn được bảo tồn ở trong nước vào thời điểm tiến hành làm các bản rập.

*
**

Để theo dõi các xu hướng phát triển của văn bia Việt Nam trong suốt lịch sử tồn tại của nó, chúng ta hãy chú ý tới bảng 6 và các biểu đồ 1 và 2 được xây dựng trên cơ sở của bảng này. Trong bảng có đưa ra số lượng tấm bia của từng loại và tiểu loại đối với mỗi thời kỳ xét về trị số tuyệt đối, tính cho mỗi năm và theo tỷ lệ phần trăm so với tổng số tấm bia cho cả thời kỳ. Đối với các thời kỳ VIII-X có nêu ra số lượng dự kiến các tấm bia trong năm, mà nó bắt buộc phải có nếu như trong “Thư mục” có tính hết các tấm bia được ghi nhận vào thời kỳ đó (số lượng thực tế chiếm độ 47,7% số dự kiến).

Sự phân tích số liệu bảng 6 và các biểu đồ 1 và 2 cho phép vẽ lên bức tranh sau đây về sự phát triển theo niên đại của văn bia Việt Nam trong mối tương giao với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.

Ở Việt Nam truyền thống sáng tạo văn bia trên chất liệu “vĩnh cửu” bắt nguồn từ ngàn xưa, song văn bia từ thời kỳ sớm xét về mặt số lượng (có tính cả quá trình mất mát tự nhiên của nó) là rất nhỏ so với những thời kỳ muộn hơn về sau này. Sự ít ỏi của số lượng văn bia không cho phép trên cơ sở các phương pháp thống kê để rút ra những kết luận chắc chắn về cơ cấu của văn bia thời kỳ sớm, song dựa vào tài liệu hiện có, truyền thống dựng tạo bia đá vào những thời kỳ đó chủ yếu là gắn với giai cấp thống trị. Văn bia “làng xã” vẫn chưa trở thành phổ biến với xã hội Việt Nam và sự xuất hiện các văn bia loại A vào thời kỳ đó là cá biệt.

Trong các năm 1427 - 1526 (thời kỳ II) vào thời kỳ thống trị của các hình thức cai trị phong kiến - quan liêu và sự truyền bá nhanh chóng của đạo Khổng mới ở Việt Nam, văn bia “Nhà nước” đã đạt tới đỉnh cao của nó: 63,4% (44 trong số 69 bia) của tất cả các văn bia được tạo ra vào thời kỳ đó là thuộc loại B. Số lượng bia đá “làng xã” (loại A) so với các thời kỳ tiếp đó vẫn rất ít như trước đây.

Thời kỳ III (1527 - 1593) là khởi đầu của sự xuất hiện hàng loạt các văn bia “làng xã” và chúng bắt đầu chiếm phần lớn tất cả các tấm bia mới được tạo ra ở trong nước (96,8% ở thời kỳ III và không ít hơn 89% ở mỗi thời kỳ tiếp theo). Thật không đơn giản trả lời câu hỏi về các nguyên nhân tăng lên nhanh chóng của văn bia loại A vốn không được phổ biến lắm trong quá khứ, song câu hỏi này hiển nhiên có liên quan đến hai xu hướng quan trọng nhất trong xã hội Việt Nam thời kỳ đó: sự phân hoá tiếp tục trong làng xã và việc tách ra những tầng lớp phong lưu, có khả năng về mặt kinh tế đặt mình đối lập với những người còn lại trong làng, cũng như đặt đối lập với những toan tính của Nhà nước can thiệp một cách tích cực vào công việc nội bộ của làng xã, mà những toan tính này đến thế kỷ XVI - XVIII đã ít đi một cách đáng kể. Nhân tố đầu tạo ra một cơ sở thực tế tiếp tục đẩy mạnh việc sáng chế bia đá trong nội bộ làng xã, trong đó có cả những “cống vật”; còn nhân tố sau xác định sự cần thiết phải xác nhận chúng bằng văn tự, để các quan lại Nhà nước không thể bác bỏ chúng. Vả lại, bia đá “làng xã” ở thời kỳ III hầu như hoàn toàn thuộc vào tiểu loại A1, tức là thuộc vào những văn bia không đặt ra trước làng xã bất cứ điều kiện gì để bù đắp cho điều làm “việc phúc”. Điều này chứng tỏ rằng mọi làng xã vẫn còn khá mạnh để không cho phép mình rơi vào sự lệ thuộc của một số thành viên của mình.

Số lượng văn bia “Nhà nước” ở thời kỳ III giảm xuống rõ rệt (từ 63,4% còn 2,6% hoặc từ 0,44 còn 0,06 tấm bia trong năm) mà điều này có lẽ là gắn với các nhân tố lịch sử. Vào thời kỳ đó, các vùng “chế tạo bia” chính của miền Bắc Việt Nam nằm dưới sự cai trị của phong kiến nhà Mạc mà sau này bị coi là kẻ tiếm đoạt. Các văn bia “Nhà nước” được làm theo yêu cầu của nhà Mạc và quần thần của họ, có lẽ đã bị phá bỏ ở thời kỳ IV tiếp theo. Nhân tiện có thể nói trước rằng mọi tình huống tương tự cũng xảy ra đối với các tấm bia loại B trong thời kỳ cai trị của một triều đại “tiếm quyền” khác như triều đại Tây Sơn (thời kỳ VII).

Hai thời kỳ tiếp theo (1594 - 1739) được đặc trưng bởi sự phát triển êm ả lúc ban đầu (vào thời gian phức tạp của những cuộc chiến tranh ác liệt giữa hai vương triều) và mạnh mẽ sau đó (vào các năm hoà bình 1673 -1739) của văn bia “làng xã”. Sự tiếp tục phân hoá về tài sản giữa những người dân trong các làng xã dẫn đến việc xuất hiện các tấm bia tiểu loại A2, mà chúng là sự phản ánh quá trình nô dịch dần dần “từ bên trong” bởi những người dân trở nên giầu có ở trong xã. Chỉ khi xuất hiện như một hiện thực ở thời kỳ IV, ngay vào thời V các tấm bia “nô dịch” về tốc độ phát triển đã vượt quá tấm bia “ghi nhận” cổ xưa hơn (tương ứng là 24,15 và 19,09 tấm bia trong năm hay 51,5 và 40,7% trong tổng số với tiểu loại A1 và A2).

Các văn bia “Nhà nước” ở thời kỳ IV và V cũng tiếp tục phát triển và điều này đã phản ánh sự hoạt động chính trị và kinh tế tích cực của triều đình trong những năm đó. Tuy nhiên sự phát triển này mang tính chất thiên về số lượng hơn là chất lượng và hoàn toàn không thể so sánh với “sự bùng nổ” của văn bia loại A.

Số liệu phân tích thống kê các văn bia thời kỳ IV (1740 - 1787) cho thấy rằng, trong khoảng thời gian đầy những cuộc chiến tranh giai cấp gay gắt trên toàn bộ lãnh thổ của phần đất “làm bia đá” ở Việt Nam, thì đây là giai đoạn sa sút về kinh tế của làng xã và Nhà nước nói chung: hoạt động văn bia giảm xuống rõ rệt, số lượng tấm bia (tất cả các loại) và hầu hết tất các tiểu loại mới được chế tạo ra cũng giảm xuống. Số lượng văn bia “ghi nhận” phản ánh sự phồn vinh về kinh tế của làng xã cũng ít đi đặc biệt nghiêm trọng (từ 19,09 xuống 5,06 trong năm). Chỉ có các tấm bia “nô dịch” tương ứng là 24,15 tấm trong năm ở thời V và 22,96 thời kỳ VI) là chịu đựng tương đối dễ dàng trong thời kỳ loạn lạc. Xét về phần trăm thì tỷ lệ của chúng tăng lên đáng kể (từ 51,5 % ở thời kỳ V lên 73,6% - thời kỳ VI), điều đó chứng tỏ tình hình tương đối ổn định của tầng lớp địa chủ phong kiến trung lưu (chủ yếu là đại diện của giới quân sự). Tầng lớp này bù đắp sự thiệt hại về kinh tế do những cuộc chinh phạt khốc liệt dọc vùng châu thổ sông Hồng bằng sự chiếm đoạt về quân sự và sự tiếp tục nô dịch các làng xã. Văn bia “ Nhà nước” cũng không bị thiệt hại nặng nề đến mức như vậy, đồng thời tích cực về mặt này của các quan đại thần phong kiến (tiểu loại B2) đóng một trong những vai trò chủ chốt trong việc tổ chức đàn áp bằng quân sự những cuộc khởi nghĩa của nông dân thì lại tăng lên (thời kỳ V - 0,06, thời kỳ VI là 0,83 tấm bia trong năm, tương ứng là 1,3 và 2,7% trong tổng số).

Văn bia thời Tây Sơn (thời kỳ VII, 1788 - 1802) so với các giai đoạn trước thì chịu sự thay đổi đáng kể, phản ánh những diễn biến sâu sắc xảy ra trong xã hội Việt Nam vào thời gian phức tạp này đối với nó. Nếu như có thể giải thích sự giảm xuống của tổng số lượng văn bia “ Nhà nước” (loại B) giống như thời kỳ III bằng những nguyên nhân bên ngoài không gắn trực tiếp với văn bia (bằng sự phá hủy sau này các tấm bia của triều đình “những người chiếm đoạt”), thì sự ít đi của các tấm bia “làng xã” tiểu loại A2 (“nô dịch” từ 22,96 xuống 17,07 trong năm tương ứng là 73,6 và 66,8% trong tổng số), có lẽ là do sự phức tạp hoá địa vị của tầng lớp phong kiến trung lưu mà họ ở châu thổ sông Hồng có quan hệ với nhà Trịnh vào cuối thế kỷ XVIII bị nhà Tây Sơn làm cho thất bại nặng nề. Việc sát hại nhiều đại diện của tầng lớp này và sự suy giảm về địa vị kinh tế của họ, cũng như chính sách bảo trợ đối với làng xã do triều đại mới của những người xuất thân từ những người nông dẫn đến khởi nghĩa tiến hành (12) , chắc chắn đã giảm đi sự áp bức của địa chủ ở những vùng đồng bằng miền Bắc đất nước và dẫn đến sự đoàn kết nhất định, sự đẩy mạnh nào đó vào những hoạt động kinh tế của các làng xã. Mặc dù “việc làm bia đá” có tiếp tục giảm xuống, song nhìn chung dưới thời kỳ Tây Sơn số lượng các tấm bia “ghi nhận” (tiểu loại A1) thậm chí lại tăng lên một chút (từ 5,06 lên 6,53 văn bia trong năm) đặc biệt là tính theo tỷ lệ phần trăm so với tổng số (từ 16,2 lên 25,6%).

Ở các thời kỳ VIII-X (1802-1944), nhìn chung quá trình sáng tạo văn bia là đi lên và đến thời kỳ IX thì ổn định ở mức còn cao hơn mức “tột đỉnh” vào thời kỳ V. Cuộc đấu tranh chính trị phức tạp nửa đầu thế kỷ XIX và cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp không được phản ánh trong tiến trình sáng tạo những văn bia mới vốn xuất hiện một cách khá đều đặn trong suốt giai đoạn được nghiên cứu. Thật thú vị nhận thấy rằng trong quá trình “làm bia đá” ở thế kỷ XIX - XX trên thực tế không thấy có xu hướng suy giảm mà người ta có thể dự đoán, tức là những quan hệ kinh tế tạo sức sống cho các văn bia mới vào thời kỳ VIII -X còn khá vững bền.

Khi đề cập tới vấn đề về tiến trình sáng chế những tấm bia mới trong phạm vi từng chủng loại riêng lẻ, cần nhận thấy sự phát triển rõ rệt của văn bia “Nhà nước”, đặc biệt là khi so vào thời kỳ VII “trống rỗng”. Tuy vậy số lượng bia vào loại B vào cuối khỏang thời gian được nghiên cứu, (thời kỳ VIII -X) khác với văn bia “làng xã”, rõ ràng là giảm sút.

Bức tranh thú vị hơn cả quan sát được trong tiến trình sáng chế các tấm bia mới loại A. ở thời kỳ VIII nhịp độ tăng tương đối của các tấm bia “ghi nhận” vẫn tiếp tục cao hơn như trước so với các tấm bia “nô dịch”, và xét về mặt số lượng thì hai tiểu loại này hầu như bằng nhau (tương ứng là 40,7% và 45,9%). Chỉ sau này, ở các thời kỳ IX - X, số tấm bia thuộc sở h ữu tư nhân của tiểu loại A2 lại bắt đầu tăng lên với nhịp độ đáng kể (50,8% và 61,3% của tiểu loại A2 so với 34,2% và 28,7% của tiểu loại A1). Có lẽ điều này chứng tỏ rằng sau khi nhà Nguyễn cầm quyền vẫn còn giữ lại được xu hướng đoàn kết nào đây trong các làng xã của châu Thổ và chỉ vào nửa sau thế kỷ XIX “sự tấn công” của địa chủ trỗi dậy với sức mạnh như trước đây, điều này đã thấy được vào thời kỳ VI “loạn lạc” (1740-1787). Phương án phát triển này của tình hình trong làng xã Việt Nam vào buổi giao thời của hai thế kỷ XVIII và XIX hiển nhiên chỉ là một giả thiết đòi hỏi phải có các công trình nghiên cứu thuộc các loại hình thông tin lịch sử khác xác nhận. Tuy thế giả thiết này hoàn toàn có khả năng xảy ra đặc biệt nếu chú ý tới một điều là nó giải thích những quá trình kinh tế - xã hội nhất định đã xảy ra ở miền Bắc Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX, chẳng hạn sự ổn định tương đối và tình hình bình an trong các làng xã ở thời gian đó(13).

Chúng ta hãy tạm đưa ra một vài nhận xét mang tính chất tổng kết. Sự phân tích thống kê nguồn thông tin văn bia, chứa đựng trong “Thư mục” đã cho phép rút ra kết luận về tính đại diện của nó cho toàn bộ quần thể văn bia Việt Nam xét về mặt địa lý trong phạm vi cả nước, còn xét về mặt niên đại cho thời kỳ XIX - XX thì phải có một vài điều bổ sung. Tài liệu hiện có chỉ có thể được sử dụng vào việc tái tạo các quá trình kinh tế xã hội diễn ra ở châu thổ sông Hồng và một số tỉnh phía Nam khác. Bởi vì ở các phần còn lại của đất nước truyền thống sáng tạo văn bia trên chất liệu “vĩnh cửu” quá yếu ớt để có thể trở thành nguồn tư liệu lịch sử độc lập hoặc nói chung không tồn tại. Đặc điểm một trung tâm của quần thể văn bia Việt Nam, thống nhất và đồng dạng của các quá trình diễn ra trong nó, trước hết đối với các tỉnh châu thổ sông Hồng, nơi tập trung chủ yếu số lượng các tấm bia là điều hoàn toàn rõ ràng.

Truyền thống văn bia Việt Nam tồn tại ngàn xưa, tuy nhiên đến thế kỷ XV số lượng văn bia của nó rất nhỏ và chủ yếu là do vương triều cầm quyền và các tầng lớp phong kiến thượng lưu sáng chế ra. Sự phồn thịnh thật sự của văn bia được bắt đầu vào thế kỷ XVI. Nó gắn liền với sự phát triển nhanh chóng của các văn bia “làng xã”, kết quả của việc đẩy mạnh sự can thiệp của Nhà nước vào các công việc làng xã, yêu cầu ghi chép văn tự những mối quan hệ kinh tế, sự phân hóa làng xã về mặt tài sản, sự xuất hiện những cá nhân có khả năng đặt mình đối lập với những thành viên khác, thực hiện những việc cúng hiến tập thể hoặc cá nhân kể cả lấy từ ruộng riêng của mình. Trong khi còn đủ mạnh, làng xã không chịu lệ thuộc trực tiếp về kinh tế vào những cá nhân giầu có ở trong làng. ở giai đoạn này có sự xuất hiện văn bia tiểu loại A1. Sau này, trong quá trình tổ chức kinh tế của làng xã bị yếu đi và mở rộng những điền trang tư nhân, thì phổ biến một kiểu cúng hiến mới, khi các nhân vật riêng lẻ trợ cấp cho làng xã và để đổi lại đã buộc làng xã chịu trách nhiệm thực hiện những nghĩa vụ kinh tế nhất định có lợi cho họ. Những quan hệ kiểu này được phản ánh trong các tấm bia tiểu loại A2. Sự nô dịch làng xã của các địa chủ tư nhân chắc chắn dẫn đến không chỉ các thỏa thuận liên quan đến việc thờ cúng mà chúng được ghi nhận trên chất liệu “vĩnh cửu”. Chỉ có thể coi văn bia “nô dịch” như là “Cái đỉnh nhìn thấy được của đảo băng” của sự gia tăng sở hữu tư nhân ở trong làng xã.

Sự tăng số lượng các tấm bia “nô dịch” và việc giảm số lượng như là các tấm bia “ghi nhận” phản ánh sự gay gắt của các mối mâu thuẫn chủ yếu, tồn tại trong làng xã Việt Nam, và đạt đến đỉnh điểm ở nửa sau của thế kỷ XVIII. Sự phức tạp hóa tình hình kinh tế và sự không ổn định của tình hình chính trị ở trong nước bởi các cuộc khởi nghĩa mạnh mẽ của nông dân, đã được phản ánh ở sự giảm đáng kể hoạt độ văn hóa văn bia nói chung. Tuy nhiên khi giai đoạn thống trị còn kìm hãm được một cách có kết quả của các cuộc nổi dậy của nông dân (thời kỳ VI) thì các xu hướng trước đây trong văn bia (văn bia “nô dịch” tăng lên và văn bia “ghi nhận” giảm xuống) còn được duy trì và chỉ sau chiến thắng của đội quân nông dân Tây Sơn (thời kỳ VII) tình hình ở miền Bắc đất nước mới thay đổi rõ rệt: những người chiến thắng đã có thể làm giảm đi sự áp bức của địa chủ (mức tăng các tấm bia loại A2 đã ít đi) và đã góp phần đoàn kết nhất định trong nội bộ làng xã (văn bia tiểu loại A1 sau nhiều năm giảm đi nay bắt đầu phát triển nhiều hơn). Điều này có lẽ đã làm cho xã hội Việt Nam có được một sự ổn định nào đó, mặc dù tình hình kinh tế vẫn còn vô cùng phức tạp (nhìn chung hoạt độ văn bia tiếp tục giảm xuống).

Triều đại nhà Nguyễn vốn có thù định sâu sắc với “các hoàng đế nông dân” đã tìm được chỗ dựa chủ yếu về mặt xã hội là tầng lớp địa chủ bậc lớn và bậc trung ở miền cực Nam của đất nước, và đã thay thế những vị hoàng đế này. Triều đại này, trớ trêu thay, không những không bác bỏ chính sách kinh tế do nhà Tây Sơn tiến hành đối với làng xã ở miền Bắc Việt Nam, mà còn tiếp tục phát triển chính sách đó nếu dựa vào văn bia mà xét (nhịp độ bia “nô dịch” tiếp tục giảm, còn bia “ghi nhận” tăng lên). Các cuộc khởi nghĩa nông dân đã hoàn thành sứ mệnh của nó: bộ máy hành chính mới của đất nước đầu thế kỷ XIX do sự lặp lại của các sự kiện của quá khứ vừa xảy ra, nên không dám quay lại các hình thức bóc lột cũ, cố gắng không để làng xã yếu đi nhanh chóng, đem hết khả năng của mình, để hạn chế sự lộng hành của địa chủ ở làng xã. Chỉ vào giữa thế kỷ XIX khi sự chú ý đến các vấn đề bên trong của làng xã đã giảm xuống do nguy cơ xâm nhập từ bên ngoài, thì lúc đó các quá trình tăng cường của địa chủ và suy giảm của làng xã lại xuất hiện(14).

Trịnh Khắc Mạnh
(Sưu tầm và dịch)

CHÚ THÍCH

(1) Trích trong cuốn Những phương pháp định lượng trong việc nghiên cứu lịch sử của các nước Phương Đông. Maxcơva, 1986, tr.52-79 (bản tiếng Nga)

(2) Theo đánh giá hiện có, đến giữa thế kỷ XX còn bảo tồn được không dưới 20-25% tổng số bia đá được sáng chế tại Việt Nam trong thế kỷ XV và sau này, số lượng đó quá đủ để tiến hành phân tích thống kê.

(3) Phô Đô Rin A.L. Những đặc điểm văn bia Việt Nam và một số vấn đề nghiên cứu văn bia như là nguồn tài liệu sử (sắp in).

(4) Thư mục văn bia, Tập 1-21, H. 1974 (Lưu giữ bản quyền ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(5) Đê Ô Pic Đ.V: Văn bia và bản đồ trong tập sách Bản đồ, sơ đồ và số lượng trong địa lý dân tộc học, Mátxcơva, 1974. Đê Ô Pic Đ.V: Những vấn đề phân tích định lượng văn bia. Bản tin trường Đại học tổng hợp Mátxcơva, Phương Đông học, 1984, Xeri 13, No 4. ở bài báo cuối cùng có dẫn mục lục các công trình khác về việc sử dụng các phương pháp định lượng để nghiên cứu lịch sử kinh tế xã hội của các nước Đông Nam châu á trên cơ sở số liệu văn bia. Trong đó kể đến các công trình của G.G. Ban Đi Len Cô; Đ.V. Đê Ô Pic; X.V. Cun Lan Đa.

(6) Tài liệu về phân chia hành chính của Việt Nam rút ra từ: Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, Hà Nội, 1981. Đại Nam nhất thống chí, Toàn tập 1-5, Hà Nội, 1970-1971.

(7) Đê Ô Pic Đ.V: Vai trò của thành phố và nông thôn trong việc hình thành những cá nhân được giải thưởng của các cuộc thi truyền thống (trên cơ sở tài liệu của Việt Nam thế kỷ XVI-XVIII). Trong tập xã hội Nhà nước ở Trung Quốc, Mátxcơva, 1972.

(8) Năm 1944 là năm được ghi nhận ở các văn bia muộn nhất có mô tả trong “Thư mục”.

(9) Chẳng hạn có thể xảy ra xếp vào tiểu loại B1 những tấm bia khoa trường (bia chung và những tấm bia theo từng tỉnh hoặc những đơn vị địa lý khác); bia tiểu sử của những nhà hoạt động thời xưa thờ cúng theo lệnh của nhà nước tại các chùa triền, những khoản bổng lộc của Nhà nước cho các công trình thờ cúng; mô tả các hành vi của các Hoàng Đế, những mệnh lệnh của các Nhà nước về các vấn đề kinh tế - xã hội v.v... xếp vào loại B2.

(10) Văn bia sớm không thể có được ở phần lớn các vùng miền Nam đất nước bởi vì các vùng này gia nhập lãnh thổ của Nhà nước Việt Nam chỉ ở thế kỷ 17-18. Khi đó ở thời kỳ muộn hơn (thế kỷ XIX-XX), lúc mà những vùng đất này đã có người Việt đến ở, truyền thống văn bia tại đây cũng chưa được hình thành.

(a) Nguyên bản không in bảng 3.

(11) Đặc điểm nói trên cũng giải thích sự hiện diện trong tài liệu “Thư mục” một số lượng lớn. Các mô tả bia đá, niên đại của chúng ta đã bị xuyên tạc có dụng ý khi làm bản rập: những người thực hiện bản rập nhận được chỉ thị làm các văn bia sớm để mà làm tăng chúng lên (số tiền thưởng được đặt tỷ lệ thuận với số lượng văn bia đó) do vậy làm “cho khớp” niên đại các tấm bia muộn thành các tấm bia sớm là “cần thiết”.

(12) Lịch sử Việt Nam cận đại, Matxcơva, 1980, tr.162.

(13) Lịch sử Việt Nam cận đại, Sđd. tr.206-230.

(14). Xin chân thành cám ơn PTS. Trần Nguyên Toàn đã đọc và sửa chữa bản dịch - TKM.

PHỤ TRƯƠNG

SỰ PHÂN BỐ CỦA TẤT CẢ CÁC TẤM BIA CŨNG NHƯ CÁC VĂN BIA RIÊNG BIỆT, TIỂU LOẠI A1, A2 VÀ LOẠI B THEO THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN

BẢNG 1. SỐ LƯỢNG CÁC TẤM BIA CỦA TỪNG TỈNH THEO TỪNG THỜI KỲ TRONG ĐÓ VĂN BIA LOẠI A XÉT VỀ MẶT TRỊ SỐ TUYỆT ĐỐI VÀ
TÍNH THEO TỶ LỆ %

BẢNG 2: SỰ PHÂN BỐ CỦA CÁC TẤM BIA CÓ NIÊN ĐẠI (XÉT VỀ MẶT TRỊ SỐ TUYỆT ĐỐI VÀ TÍNH CHO NĂM) Ở CÁC TỈNH CHÂU THỔ SÔNG HỒNG VÀ CẢ NƯỚC THEO TỪNG THỜI KỲ RIÊNG. TRONG NGOẶC ĐƠN LÀ TÍNH % CỦA SỐ LƯỢNG BIA CỦA THỜI KỲ I – VII (ĐỐI VỚI THỜI KỲ I – VII) VÀ CỦA TỔNG SỐ CÁC VĂN BIA CÓ NIÊN ĐẠI (ĐỐI VỚI THỜI KỲ VIII – X)

BẢNG 4. SỰ PHÂN BỐ CỦA CÁC HUYỆN (HUYỆN HAY CHÂU) CỦA CÁC TỈNH TẬP TRUNG PHẦN LỚN CÁC VĂN BIA (KHÔNG ÍT HƠN 25 BIA TRONG MỘT TỈNH) THEO QUAN HỆ % CỦA VĂN BIA SỚM VÀ VĂN BIA MUỘN

BẢNG 5. MỐI QUAN HỆ CỦA TẤT CẢ CÁC TẤM BIA, CŨNG NHƯ ĐỐI VỚI TIỂU LOẠI A1 VÀ A2 XÉT VỀ MẶT TRỊ SỐ TUYỆT ĐỐI TÍNH THEO % CỦA SỐ BIA Ở CÁC TỈNH CHÂU THỔ SÔNG HỒNG THỜI KỲ VIII – X

BẢNG 6. SỰ PHÂN BỐ CỦA TỪNG LOẠI VĂN BIA KHÁC NHAU VÀ CÁC TIỂU LOẠI THEO THỜI GIAN TẠO DỰNG XÉT VỀ TRỊ SỐ TUYỆT ĐỐI TÍNH CHO MỘT NĂM VÀ TỶ LỆ % CỦA SỐ BIA TRONG TỪNG THỜI KỲ

TB

TÌM HIỂU GIÁ TRỊ VÀ CẤU TRÚC CỦA ĐIỂN CỐ TRONG TÁC PHẨM NÔM

NGUYỄN NGỌC SAN

Cũng như các bút pháp xưng đại, thay thế: xuân thu, nhuộm mây nẩy trăng... điển cố là một trong những biện pháp tu từ cổ được vận dụng rộng rãi trong các trước tác của cha ông ta xưa và tất nhiên là cả trong các tác phẩm chữ Nôm. Tác phẩm chữ Quốc Ngữ cũng có dùng, nhưng không đáng kể. Rốt cục điển cố là gì và vì sao nó trở thành một biện pháp tu từ? Từ xưa đến nay trong các sách giáo khoa văn học hoặc Hán Nôm người ta cũng bàn qua nhưng không giải thích đến mức ít ra cũng tương đối triệt để. Điển cố chỉ được giải thích đơn giản, có khi một từ ngữ khó cũng được coi là điển cố. Ví dụ trong cuốn từ điển Điển cố văn học (Nxb KHXH -1977) có rất nhiều từ đều không phải là điển cố mà chỉ là những từ ngữ khó hiểu, ví dụ các từ Phật học như Thiền, Thiền định, Thích ca, Bể khổ, Ba sinh... các từ khác như Bát âm, Tơ trúc, Tứ đức, Ba quân v.v...

Người ta thường ít chú ý đến nội dung của các hình thức điển cố vì họ chỉ xét hình thức như là một cái gì đã có sẵn, đã hoàn hảo rồi mà không thấy nó là kết quả của một quá trình biến diễn lâu dài, từng trải qua nhiều biến đổi cải tiến. Khi lần đầu tiên những từ ngữ mà ngày nay chúng ta gọi là điển cố xuất hiện trong các tác phẩm cổ thì chúng chưa phải là điển cố. Chúng cũng chỉ có biểu đạt thông thường giống hệt các từ ngữ khác trong sách, tức là biểu đạt những gì hàm ẩn ngay bên trong các từ ngữ, nói cách khác, biểu đạt cái hiện thực nằm trong từ ngữ. Dần dà, một số từ ngữ gắn với các sự tích được coi là tiêu biểu, mẫu mực hay gắn với những câu nói nổi tiếng, những địa danh nổi tiếng được tách ra và dùng đi dùng lại trong các văn cảnh, tình huống khác với văn cảnh, tình huống ban đầu của chúng. Từ lúc này, các từ ngữ đang xét đến được cấp thêm một ý nghĩa mới nằm ngoài bản thân các từ ngữ, được tư duy trừu tượng dẫn xuất ra, tức là ngoài ý nghĩa hiện thực, chúng có thêm một ý nghĩa biểu trưng, ý nghĩa giá trị phong cách. ý nghĩa này nằm ngoài các từ ngữ, được nảy sinh ra do sự đan xen giữa dòng biểu đạt với sự liên tưởng tới một dòng biểu đạt cũ mà từ “từ ngữ mượn - điển cố” này gọi ra. Từ lúc này, từ ngữ mượn trở thành điển cố.

Do xu hướng chuộng cổ, bắt chước người xưa vốn là truyền thống của nghề viết văn xưa, nên điển cố ngày càng được vận dụng rộng rãi đến mức không thuộc điển cố nhiều khi không hiểu được ý tứ của một câu văn thơ cổ. Nguồn khai thác điển cố chủ yếu là các sự tích thời Xuân Thu - Chiến Quốc được ghi chép trong các trước tác thời Tiên Tần và câu văn thơ hay đời Đường - Tống, ngoài ra có thể kể đến các sách sử hay các thư tịch nổi tiếng đời khác.

Khi các từ ngữ này trở thành điển cố và được đưa vào sáng tác với cấp độ nghĩa thứ hai, tức là cấp độ biểu trưng nhằm thay thế cho một sự tích, một câu nói, một tứ thơ thì nó được gọt rũa thêm để trở nên hàm súc hơn, ý tại ngôn ngoại, tức là cố gắng chuyển tải được một nội dung lớn hơn nhiều với sức hàm chứa của bản thân từ ngữ. Đây chính là chỗ mà điển cố khu biệt với các từ ngữ cổ hay từ ngữ khó. Từ ngữ khó không thể có sức biểu hiện lớn hơn hàm nghĩa của nó, ví dụ thiền định, nát bàn, lục tặc, luân hồi... những từ này chỉ có một cấp độ nghĩa.

Điển cố thì ngược lại, bao giờ nó cũng bao hàm hai cấp độ nghĩa. Ví dụ Lam Kiều (hay Cầu Lam) có những cấp độ nghĩa sau:

a). Tính lịch sử cụ thể: Lam Kiều là tên một chiếc cầu thuộc huyện Lam Điền tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Đây là một chiếc cầu đã từng có thật, từng tồn tại trong một không gian và thời gian nhất định trong quá khứ. Đó là mặt hiện thực của từ ngữ Lam Kiều.

b) Tính biểu trưng hay phong cách học: theo sách truyền kỳ, Bùi Hàng đời Đường gặp người con gái đẹp tặng bài thơ có câu như sau: “Nhất ẩm quỳnh tương bách cảm sinh, huyền sương đảo tận kiến Vân Anh, Lam Kiều tận thị thần tiên quật, hà tất kỳ khu thướng ngọc kinh” (Chén rượu quỳnh tương vừa uống xong sinh ra trăm mối cảm, thuốc huyền sương giã xong thì được gặp Vân Anh, Lam Kiều chính là nơi động tiên đó, hà tất phải lặn lội đến kinh đô làm gì). Sau Bùi Hàng có dịp đến Lam Kiều, khát nước, ghé vào quán lá cạnh đường, bà chủ quán gọi cô gái là Vân Anh rót nước mời, thấy Vân Anh đẹp, Hàng xin trọ lại và xin cầu hôn. Bà quán bảo: “Trước đây thần tiên cho ta thìa linh dược, cần có chày, cối bằng ngọc để giã. Bao giờ người mang các thứ đó lại đây ta sẽ gả Vân Anh cho”. Hàng quyết tâm tìm mua chày cối ngọc mang đến Lam Kiều và lấy được Vân Anh làm vợ. Từ câu chuyện này, Lam Kiều được cấp một hàm nghĩa mới: đó là nơi người đẹp, làm chuyện nhân duyên. Đây không phải là mặt hiện thực mà là mặt biểu trưng, mặt giá trị phong cách của điển cố. Người viết văn dùng Lam Kiều với cấp độ biểu trưng, vì thế mới có các câu:

Cầu Lam hội ấy dành khôn hẹn,
Con tạo trời kia bỗng khéo xây.
(Lâm tuyền kỳ ngộ)

Chày sương chưa nện cầu Lam,
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?
(Kim Vân Kiều truyện)

Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều,
Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.
(Kim Vân Kiều truyện)

Trong các ví dụ trên, các tác giả không có ý định nói đến một chiếc cầu cụ thể nọ ở tỉnh Thiểm Tây (mặt hiện thực) mà muốn ám chỉ đến chuyện nhân duyên, chuyện tìm người đẹp (mặt biểu trưng, mặt giá trị). Mặt hiện thực chỉ biết đến như một cái cớ, một môi giới. Điển cố chủ yếu dùng đến mặt sau, mặt giá trị phong cách. Không có mặt sau thì điển cố không bao giờ trở thành một biện pháp tu từ và vì vậy cũng không thể có cái gọi là điển cố.

Do tính biểu trưng đã có sẵn trong điển cố, người ta có thể ép hình thức của điển cố thành dạng ngắn gọn, súc tích nhất, tới mức tách rời từng yếu tố một thì chúng không có khả năng thể hiện được một ý niệm nào đầy đủ. Chúng chỉ nương nhờ vào nhau mới có thể biểu thị một ý nghĩa ước lệ được gán sẵn vào chúng. Ví dụ như: khinh phì, về đông, ba sợ, mỏ chim nanh chuột v.v...

Xét về nguồn gốc, người ta thường chia điển cố thành hai loại: loại dụng điển và loại dẫn kinh. Loại dụng điển dựa vào các câu truyện, sự tích nổi tiếng dễ trở thành biểu trưng. Loại dụng điển được cấu tạo bằng cách rút ra từ cốt lõi câu chuyện theo ba hướng:

1. Sự vật, hay sự việc cốt lõi. Ví dụ: Lá thắm, hơi gươm, giường đông, vơi bình, trộm hương... “Giường đông” (hay Đông sàng) mượn điển trong sách Tấn thư: Thái uý nhà Tần là Khước Giám cho người nhà đến Vương Đạo kén rể. Con cháu nhà Vương ai cũng làm ra vẻ đứng đắn, có một anh nằm khểnh ở giường phía đông ăn bánh. Khước Giám nghe kể bảo: đó chính là chàng rể quý của ta, bèn gả con gái cho. Người đó là Vương Hi Chi, danh sĩ nổi tiếng viết chữ đẹp. Từ tích ấy, “Giường đông” được dùng trỏ chàng rể:

Lẽ đâu dám kẻ giường đông,
Tước bình xin đội thừa long xứng tài.
(Sơ kính tân trang)

2. Nhân vật có tính cách, cốt cách điển hình cho một phẩm chất, một thái độ sống. Ví dụ: Đồng Tân, Đạo Chích, Phiếu Mẫu, Ả Tạo, Bá Nha, Thúc Tề v.v... Ví dụ theo sách Liệt tử: Bá Nha là người đàn giỏi, Chung Tử Kỳ là người sành nghe. Khi Bá Nha đánh đàn để cảm xúc vào núi cao, Kỳ liền khen “Tiếng đàn mới hay làm sao, nghe vòi vọi như Thái Sơn”. Lại khi Bá Nha gảy đàn, để tâm trí vào sông nước, Kỳ liền khen “Tiếng đàn nghe mới hay làm sao, róc rách như nước chảy”. Sau Kỳ chết, Bá Nha treo đàn không đánh nữa, coi như mất bạn tri âm. ở đây Bá Nha, Tử Kỳ tượng trưng cho tình bạn tri âm:

Bá Nha đã gặp Tử Kỳ,
Bảo Sơn ai nỡ trở về tay không.
(Trinh Thử)

3. Tên địa danh, sông, núi... biểu trưng cho một khái niệm phổ biến: Tràng An, non Đào, Mai Dịch, nước Nhược, sông Ngân v.v... Ví dụ “nước Nhược” (hay Nhược thủy) theo sách Sơn hải kinh là tên dòng sông ở vùng cực Tây Trung Quốc, nước dòng sông này rất yếu, dù vật nhẹ như hạt cải cũng không nổi lên được, đây là nơi tiên ở, được dùng biểu trưng cho cõi tiên:

Có phen dạo cảnh Đào Nguyên,
Vui dòng Nhược thủy chơi miền Bồng Lai
(Lưu Nữ tướng)

Cõi người nước Nhược nguồn Đào, Liền mây ngàn dãy, bày sao trăm toà.
(Nhị độ mai)

Loại dẫn kinh thường lấy từ ngữ trong các sách kinh điển, trong các câu nói nổi tiếng của người xưa, có những cấu tạo sau:

1. Lấy trọn một ý, một đoản ngữ trong nguyên văn: nước đục bụi trong, mỏ chim nanh chuột, sát thân thành nhân, tôn trở chiết xung v.v... Kiểu này không nhiều lắm vì dài nên khó đưa vào trong câu văn, câu thơ. “Nước đục bụi trong” là dịch từ “thủy trọc trần thanh” trong sách Tình sử, ý nghĩa biểu trưng là hoàn cảnh éo le, ngang trái:

Lỡ làng nước đục bụi trong,
Trăm năm để một tấm lòng từ đây.
(Kim Vân Kiều truyện)

“Mỏ chim nanh chuột” dịch từ “tước giốc thử nhạ” trong bài thơ Hành Lộ sách Kinh Thi, ý nghĩa biểu trưng chuyện kiện cáo.

Biết rằng hươu chết tay ai,
Mỏ chim nanh chuột tranh hơi còn nhiều.
(Truyện Trê Cóc)

2. Cắt lấy một vài chữ đầu hay chữ cuối của câu văn trong sách: về đông, ngậm vành, hảo cầu, hành môn v.v... “Hảo cầu” mượn chữ trong bài Quan thư sách Kinh Thi, ý nghĩa biểu trưng là vừa đôi phải lứa:

Người đây kén giá hảo cầu,
Thị thành mấy lứa, công hầu mấy ai.
(Sơ Kính tân trang)

“ Hành môn” cũng là chữ trong Kinh Thi (hành môn chi hạ khả dĩ thê trì): dưới cái cửa thô sơ cũng có thể dừng đỗ lại lâu, ý nghĩa biểu trưng chỉ nơi quê mùa thô lậu:

Cùng nhau một giấc hành môn,
Lau nhau ríu rít cò con cũng tình.
(Cung oán ngâm khúc)

3. Lựa chọn một vài từ trong câu nói của kinh truyện cấu tạo lại theo cách riêng: nước trí non nhân, nghiêng nước nghiêng thành, ngựa Hồ chim Việt, lửa thành ao cá v.v... “Nước trí non nhân” trích từ câu sau trong sách Luận ngữ: “bậc nhân giả vui với núi, bậc trí giả vui với nước”, ý nói phải giữ lòng nhân vững vàng như núi, phải có trí tuệ linh hoạt như nước chảy, cả câu biểu trưng cái học chân chính của nhà Nho:

Mảng vui nước trí non nhân,
Đăng lâm trót hạn với xuân một lời.
(Nguyễn Huy Hổ)

“Ngựa Hồ chim Việt” trích từ câu “Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào nam chi” (Ngựa hồ hí gió bấc, chim Việt làm tổ cành phương Nam) trong sách Cổ thi, ý nghĩa biểu trưng là lòng nhớ nhung quê cũ:

Người nhìn kẻ lại trông theo,
Ngựa Hồ chim Việt nhiều điều nhớ nhau.
(Hoa Tiên)

Trong các tác phẩm Hán văn, điển cố dù được cấu tạo theo kiểu nào cũng được viết theo trật tự cú pháp tiếng Hán, ví dụ: Lam Kiều, đào yêu, định tỉnh thành hôn, tiện hồng v.v... Còn trong các tác giả muốn cho câu văn mang mầu sắc dân tộc nên thường dịch điển cố sang quốc âm, ví dụ: lá thắm, cành dương, nước trí non nhân, mất dê mất lễ, ném quả, mây Hàng v.v... Trong trường hợp điển cố để nguyên tiếng Hán người đọc dễ nhận diện hơn vì lúc này điển cố không hoà nhập vào mạch diễn của tiếng Việt và mang màu sắc ngoại lai rất rõ. Trong trường hợp điển cố được dịch qua tiếng Việt thì sự nhận diện bên ngoài sẽ khó khăn hơn. Tuy nhiên vẫn có thể thấy giữa mạch văn chung với điển cố có chỗ không ăn nhập, ví dụ:

Dù khi lá thắm chỉ hồng,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
(Kim Vân Kiều truyện)

Kim Trọng tỏ tình với Thúy Kiều và đây là lời đáp của Kiều, ý muốn nói việc nhân duyên của mình phải do cha mẹ định liệu. ý như thế thì chẳng can hệ gì đến lá và chỉ cả. “Lá thắm” và “chỉ hồng” xét văn lý thông thường không ăn nhập gì với thông điệp. Muốn hiểu rõ phải tìm hiểu giá trị biểu trưng của “lá thắm chỉ hồng”, tức là giá trị phong cách của điển cố. Các từ ngữ trong đoạn văn đều có vẻ dễ hiểu cả nhưng lại không hiểu được cả câu văn, ấy là vì không thấy mặt giá trị của điển cố. Lại như trong câu:

Làng cung kiếm rắp ranh bắn sẻ,
Khách công hầu ngấp nghé mong sao.
(Cung oán ngâm khúc)

Câu này không có từ nào khó hiểu, nhưng thông điệp lại không được thực hiện vì người ta không hiểu tại sao đi tìm vợ lại phải mong sao! Phải tìm giá trị biểu trưng của nó qua một câu trong Kinh lễ “Hôn giả kiến tinh nhi hành” (lễ cưới nhìn sao mà tiến hành) thì mới hiểu được.

Điển cố là một vấn đề khó, lại xuất hiện rất nhiều trong tác phẩm Nôm, người đọc tác phẩm Nôm không thể không hiểu điển cố. Tiếc thay, hiện nay chúng ta chưa có một cuối từ điển điển cố nào thật tốt. Người ta thường nghĩ rằng một cuốn từ điển điển cố văn học phải do một Viện Văn học biên soạn, nhưng trong thực tế văn chương chữ Nôm của ta, đại bộ phận điển cố đều là điển cố Hán Nôm thì việc biên soạn một cuốn từ điển điển cố phải chăng nên giao cho Viện Hán Nôm biên soạn vì nó phù hợp với khả năng thực tế, nguồn nhân lực cũng như điều kiện in ấn.

N.N.S

TB

VỀ NĂM SINH NĂM MẤT CỦA
NGUYỄN KIỀU

NGUYỄN THỊ NGUYỆT

Nguyễn Kiều hiệu Hạo Hiên, người xã Phú Xá, huyện Từ Liêm (Hà Nội). Đời Lê Dụ Tông, năm ất Mùi, niên hiệu Vĩnh Thịnh 11 (1715), ông đậu Tiến sĩ. Sau khi thi đỗ, ông được cử làm Tri phủ xứ Thừa Tuyên, rồi chuyển đến trấn Tuyên Quang, sau về Kinh làm Nhập thị Bồi tụng phó Đô ngự sử, tước Bá.

Mùa thu năm Nhâm Tuất, Cảnh Hưng 3 (1742), ông giữ chức Chánh sứ sang sứ nhà Thanh(1) , cùng đi có Nguyễn Tông Khuê làm phó sứ(2). Khi về, hai ông có tập thơ Sứ hoa tùng vịnh lưu hành ở đời.

Năm 1748, Nguyễn Kiều được cử làm Đốc đồng trấn Nghệ An. Tương truyền, trên đường theo chồng vào miền Trung nhậm chức, bà Đoàn Thị Điểm (vợ ông) đã lâm bệnh và mất vào mùa thu năm đó.

Đến nay sách vở ghi chép về thân thế sự nghiệp Nguyễn Kiều còn ít, năm sinh, năm mất, các sách ghi không thống nhất:

- Từ điển văn học Việt Nam(3) Từ điển nhân vật lịch sử(4) đều cho biết ông Nguyễn Kiều sinh năm 1694, năm mất 1771.

- Lược truyện các tác gia Việt Nam(5) Tìm hiểu kho sách Hán Nôm(6) cho biết Nguyễn Kiều sinh năm 1695, mất năm 1751.

- Lê Quý Đôn(7) Bà Điểm họ Đoàn(8) , ghi: Nguyễn Kiều (1695 - ?).

- Tạp chí Hán Nôm(9) ông Nguyễn Xuân Diện ghi: Nguyễn Kiều (1694 - ?).

Qua sự ghi chép chưa được nhất quán của các tài liệu trên đây, chúng tôi thấy cần đóng góp tư liệu để làm rõ năm sinh (1694 hay 1695 ?) và năm mất (1751 hay 1771 ?) của Nguyễn Kiều.

1. Về năm sinh:

- Sách Phú Xá Đô đài quan(10) kí hiệu A.1605 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) ghi: “ông sinh giờ Hợi ngày mười bảy năm ất Hợi, niên hiệu Chính Hòa thứ 16 (1695). Mất năm Tân Mùi (1751), thọ năm mươi bảy tuổi” (công ất Hợi niên Chính Hoà thập lục niên thập thất nhật Hợi thời sinh. Tân Mùi niên ngũ thập thất tuế tốt ).

- Sách Lịch triều đăng khoa lục (kí hiệu VHv.289/2), Lịch triều đăng khoa bị khảo (kí hiệu A.485/1); Phú Xá Đô đài qua n (A.1605) đều ghi: “Năm ông 18 tuổi, khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Vĩnh Thịnh 8 (1712), thi một lần đậu giải nguyên. Năm 21 tuổi, khoa ất Mùi, niên hiệu Vĩnh Thịnh 11 (1715) đậu Tiến sĩ” (thập bát tuế, Nhâm Thìn bát niên, nhất cử giải nguyên. Nhị thập nhất tuế, Ất Mùi, Vĩnh Thịnh thập nhất niên, trúng Tiến sĩ).

Các sách trên đây đều cho biết: khoa ất Mùi, niên hiệu Vĩnh Thịnh 11 (1715), Nguyễn Kiều 21 tuổi, đỗ Tiến sĩ. Như vậy ông sinh năm: 1715 - 20 tuổi (trừ 1 tuổi tính tuổi mụ theo truyền thống, còn 20 tuổi) = 1695, khớp với sự ghi chép của Phú Xá Độ đài quan đã nêu trên.

2. Về năm mất:

Chúng tôi có dịp về xã Phú Xá, tới thăm từ đường dòng họ Nguyễn, ngôi nhà ngói ba gian đã xuống cấp, trong nhà, khám thờ và bài vị thờ ông hãy còn. Nay cụ Nguyễn Khắc Mùi là cháu đích tôn đời thứ 7 của Nguyễn Kiều chăm lo việc thờ tự. Cụ Mùi cho biết cuốn gia phả của dòng họ bị thất lạc vào những năm gia đình đi sơ tán, khi Mỹ ném bom miền Bắc nước ta. Bà con họ hàng dẫn chúng tôi thăm mộ Nguyễn Kiều trong vườn đào lưu niệm của các cụ phụ lão bản xã, trên mộ còn bia cao 40x25cm. Bia mờ hết chữ (11) .

Con cháu trong nội tộc kể lại rằng: “Cụ tôi tuổi thọ không cao, vì có niềm u uất trong lòng nên người bất đắc kỳ tử”. Câu kể hợp ý với câu ghi trong Lịch triều đăng khoa lục VHv.289/2 (Sđd): “Đang làm Đốc thị Nghệ An thì nhận được tờ khải gọi về, trên thuyền liên miên uống (rượu) thuốc rồi mất”. (Đốc thị Nghệ An bị khải triệu hồi, tại chu trung lưu miên ẩm dược nhi tốt). Câu kể cũng hợp ý với câu ghi trong Phú Xá Đô đài quan A.1605 (Sđd): “Làm quan trải hơn ba mươi năm, đi sứ sang Yên Kinh, tham dự việc cơ mật trong chính phủ” (Sĩ đồ phỉ tiền tam thập dư niên, trì nhu bí ư Yên Kinh, tán mật cơ ư chính phủ).

Nguyễn Kiều làm quan hơn ba mươi năm. Như vậy, Nguyễn Kiều mất năm 1751, thọ 57 tuổi, như Phú Xá Đô đài quan đã chép là hợp với lời kể truyền lại của con cháu và Lịch triều đăng khoa lục nêu trên.

Về thơ văn chữ Hán của Nguyễn Kiều, Từ điển văn học Việt Nam có giới thiệu nhưng chưa thật đầy đủ. Nhân đây xin bổ xung thêm: tại Thư viện Quốc Gia Hà Nội còn lưu trữ một bản Sứ hoa tùng vịnh (R.20). Sứ hoa tùng vịnh được Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí đánh giá: Tập thơ này làm khi đi sứ, lời thơ điêu luyện, mới mẻ đáng ưa”.

N.T.N

CHÚ THÍCH

(1) Tìm hiểu kho sách Hán Nôm , tập II, Nxb. KHXH, H. 1990, tr.99 ghi: “Sứ bộ khởi hành ngày 28 tháng 9 năm Tân Dậu (1741), cả đi lẫn về mất gần hai năm”. Lịch triều hiến chương loại chí, mục Bang giao chí, Q.XL VII, Phan Huy Chú cho biết nhiệm vụ chuyến đi: tuế cống.

(2) Nguyễn Tông Khuê (1693-1767) hiệu Thư Hiên, người làng Phúc Khê, huyện Ngự Thiên (nay là Hưng Nhân, Thái Bình). Đỗ tiến sĩ năm 1721 khoa Tân Sửu. Lược truyện các tác gia Việt Nam Nxb KHXH, Hà Nội, 1971 ghi là Nguyễn Tông Quải. Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (Sđd) ghi là Nguyễn Tông Quai.

(3) Tập II. KHXH, H. 1984, tr.70.

(4) KHXH, H. 1991, tr.550.

(5) Tập I, KHXH, H. 1971, tr.286.

(6) Tập II, KHXH, H. 1990, tr.93.

(7) Nxb. Văn hóa, H. 1985, tr.42.

(8) Trung tâm hoạt động Văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám, H. 1988, tr.34; Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn.

(9) Số 2, 1991, tr.78.

(10) Phú Xá Đô đài quan: Sách gồm 18 trang, giấy Lệnh hội, khổ 28x18cm, chép tay, không ghi tên người và năm biên soạn. Nội dung: ghi tiểu sử sự nghiệp ba nhân vật: 1- Nguyễn Kiều; 2- An Lãng Thượng thư công (?); 3- Tục biên hiển khảo Nhã Thận (?).

(11) Mộ bà Đoàn Thị Điểm cũng gần đấy. Bia mới khắc lại./.

TB

TÌM HIỂU THÊM VỀ NGUYỄN HOÀN

PHẠM THỊ THOA

Nguyễn Hoàn là một sử gia đời Lê đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm(2) nhưng còn chưa đầy đủ, có những vấn đề còn chưa thống nhất. Đáng chú ý về văn thơ còn chưa được đề cập tới. Trong bài viết này chúng tôi cố gắng làm sáng tỏ thêm cuộc đời và sự nghiệp của ông, đồng thời công bố một số tác phẩm cùng văn thơ lâu nay ít ai đề cập, để bạn đọc hiểu thêm về con người Nguyễn Hoàn.

Ông tên tự là Thích Đạo, tước Thụy Trạch hầu, rồi lại được phong Hoàn quận công(3) sinh năm Vĩnh Thịnh 9 (1713) ở xứ Hàng Dầu thuộc Kinh đô.

Theo Hương Khê Nguyễn Thị biệt chi gia phả(4) , ông thuộc dòng dõi họ Hà ở xã Hương Khê, tổng Yên Định, huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Đến đời cha sang làm con nuôi họ Nguyễn ở xã Lan Khê cùng tổng.

Nguyễn Hoàn sinh ra trong một gia đình có nhiều người thi đỗ làm quan. Cụ thân sinh là Nguyễn Hiệu(5) , đậu Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1700), làm quan đến Thượng thư bộ Lại, điều này có ảnh hưởng lớn đến ông. Ngay từ nhỏ, Nguyễn Hoàn nổi tiếng thông minh, hiếu học, nhiều thầy dạy khen ông kỳ tài. Khoa thi hương năm Nhâm Tý (1732) ông đậu Giải nguyên. Năm sau, thi Hội, đậu Tam trường. Khoa Quý Hợi (1743)(6) đậu Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Sau khi đậu Tiến sĩ hai năm, ông được thăng Tư giảng. Năm Tân Mùi (1751), khi bàn công đánh giặc, ông được thăng Hàn lâm hiệu thảo, rồi được thăng dần các chức Thiêm sai phủ liêu, Hàn lâm hiệu lý, Phủ Doãn Phụng Thiên, Đông các Đại học sĩ. Năm 1767 Minh Vương Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm nối ngôi, thăng và ban chức tước cho trăm quan, ông được thăng Hữu Tham tụng phụng tu quốc sử. Khi Tĩnh Vương kế nối vương vị, Nguyễn Hoàn được thăng Hữu Thị lang Bộ Binh, rồi Thượng thư Bộ Hình. Năm 1771 ông được vào chầu Kinh diên, lại kiêm Quốc tử giám. Khi làm quan, ông đặc biệt lưu tâm đến việc đào tạo nhân tài, luôn chú ý đến việc tu sửa nhà Thái học. Trong ĐVSKTB còn ghi: “Lập bia hạ mã ở cửa nhà Thái học. ở cửa nhà Thái học có hồ lớn gọi là ao Bích Thủy. Trước kia người dân phố phần nhiều làm nhà ở dựa lưng về phía ao. Học quan xây bức tường bình phong để che xe ngựa. Đến khi ấy Nguyễn Hoàn trông coi Quốc tử giám, chuyển phố xá đi mà mở rộng ra, trồng cây, lát đường, làm cho cảnh nhà Thái học được trang nghiêm. Nhà Thái học có bia hạ mã bắt đầu từ đấy”(7). Năm 1777 ông được thăng Thái phó quốc lão tham dự triều chính. Cùng năm đó ông được về hưu. Nhưng chỉ mấy tháng sau lại được gọi ra làm Tham tụng, Phụ quốc công thần.

Năm 1789 Tây Sơn kéo quân ra Bắc đánh tan hai mươi vạn quân Thanh. Lê Chiêu Thống cùng tám viên quan bỏ nước chạy theo tàn quân của bọn xâm lược, ông không theo mà ở lại Tổ quốc. Tây Sơn Nguyễn Huệ mời ông cùng một số nho thần ra yết kiến. Năm đó ông đã 77 tuổi. Ông viện cớ tuổi già sức yếu xin được nghỉ vui cảnh điền viên(8) .

Nguyễn Hoàn cũng như cha ông không chỉ làm quan to mà còn viết sách, làm thơ. Năm 1758, khi còn làm quan giảng, ông đã dâng lên Thế tử Trịnh Sâm Thập châm 10 bài châm(9) . Sau ông còn dâng các sách Tiềm long thực lục(10) Kim giám tập(11).

Nguyễn Hoàn còn tham gia trông coi việc biên soạn Quốc sử tục biên (Giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1676-1739).

Ông Hiệu chính sách Đỉnh khiết lịch triều đăng khoa lục (11) (ký hiệu Thư viện Viện Hán Nôm VHv.2140).

Ông soạn nhạc chương phần “Lương Mục Vương”, một trong năm bài nhạc chương trong Cổ Lê nhạc chương thi văn tập lục (ký hiệu Thư viện Viện Hán Nôm VHv.2658). Bài nhạc chương này được viết bằng chữ Nôm, thể lục bát, gồm 10 câu.

Ông soạn văn bia Quỳnh Phúc tự bi ký(12) , thác bản còn lưu giữ tại Thư viện Viện Hán Nôm, bia số 850-851.

Đáng chú ý là Nguyễn Hoàn còn một số di văn được chép trong Tiên khảo di văn, Tiên khảo thi tập, Tiên khảo tu luyện vệ sinh ca quyết, phụ trong Hương Khê Nguyễn Thị gia phả (HKNTGP) ký hiệu Viện Hán Nôm A.754/1-3; Nguyễn Đại gia thế đức chi phả (NĐGTĐCP) ký hiệu A.2647; Hà thị gia phả (HTGP) ký hiệu A.2604; Lan Khê Nguyễn tộc phả (LKNTP) ký hiệu VHv.1339/1-2.

Riêng về thơ trong HKNTGP bản A.754/2 có chép 25 bài (11 bài Nôm, 14 bài chữ Hán), bản A.754/3 chép 61 bài (3 bài Nôm, 58 bài chữ Hán); NĐGTĐCP bản A.2647 chép 25 bài (giống A.754/2). HTGP bản A.2604 chép 24 bài (7 bài Nôm, 17 bài chữ Hán); LKNTP bản VHv.1339/2 chép 24 bài (giống A.2604); các bài trong các ký hiệu sau đều có trong A.754/2-3. Như vậy loại trừ sự trùng lặp ra, chúng tôi đã tìm được 87 bài thơ trong đó có 72 bài chữ Hán, 15 bài Nôm (kể cả một bài trong Cổ Lê nhạc chương thi văn tập lục).

Thơ Nguyễn Hoàn đa dạng về thể loại: song thất lục bát, thất ngôn bát cú, ngũ ngôn. Phong phú về chủ đề: nào tiễn tặng, họa đáp, đề vịnh, răn dạy; nào tả cảnh, tả tình... Dưới đây, chúng tôi chỉ xin nêu một số chủ đề chính trong thơ ông.

Thiên nhiên chiếm vị trí khá lớn, từ ngọn núi, dòng sông, đến nhành hoa, khóm cỏ đều được ông đưa vào thơ và cũng qua miêu tả thiên nhiên, ông đã lồng vào những ý niệm bằng những câu mang tính triết lý:

Nước non non nước cảnh vui vầy,
Cảnh ấy khen ai khéo đặt bầy,
Vuông vắn hình dung nào lộ béo,
Chon von thể thế há chê gầy,
Trăng đi gió lại thường không biến,
Xuân trải thu qua vẫn cứ đầy.
Có cảnh có người người mến cảnh,
Người vui mới biết cảnh là hay.
(Vịnh giải sơn giả hải)

Phong cảnh vui ta thú động này,
Bể kia núi nọ cỏ nào cây.
Sông không trăm ngọn nhỏ mà lớn,
Suối chẳng muôn dòng vơi lại đầy.
Nam Bắc lại qua ưa mặc khách,
Đông Tây ngang dọc dễ còn đây.
Thiên căn ngắm lại trời không hẹp,
Nguyệt khuất nhìn xem đất vơi đầy.
(Đơn vịnh giả hải)

Mùa xuân bao giờ cũng được coi là mùa mang lại sinh khí cho muôn loài. Mùa xuân đã đi vào thơ ông đầy hương sắc:

Xuân lai đình hộ hữu quang huy,
Xuân đáo nhân gian thảo mộc chi.
Xuân nhật hoà phong thường nịch nịch,
Xuân thiên thục khí tự hy hy.
Xuân sơn mạc hạn thanh hương sắc,
Xuân thủy vô cùng hoạt phát cơ,
Xuân cảnh tối nghi nhân ngoạn thưởng
Xuân hoa khai xứ mãn chi chi.
(Vịnh Xuân)

Tạm dịch:

Xuân lai nhà cửa sáng phong quang,
Xuân đáo vườn cây thêm mỡ màng,
Xuân nhật gió, xuân về ấm áp,
Xuân thiên nắng trải khắp nhân gian.
Xuân sơn núi khoác màu xanh biếc,
Xuân thủy dòng trôi chảy nhẹ nhàng,
Xuân cảnh cảnh người người vãn cảnh
Xuân hoa hoa nở nở đầy cành.

Hoa sen, một loài hoa trinh bạch đã được nhiều nhà nho trước đây cũng như nhà văn nhà thơ sau này ví với cuộc đời của những người thanh liêm, tiết tháo. Hoa sen vào thơ ông như một người quân tử:

Xuất nê nhi bất nhiễm ư nê,
Trinh khiết như sen thục dữ tề.
Ngọc tỉnh duy hoài căn bản thác,
Phong tình hữu đãi sắc hương tê.
Phương tâm khả dữ lan vi hữu,
Tố nhụy như hà điệp bất mê.
Tín thị hoa trung quân tử giả,
Vô cùng đạo vị thuyết Liêm Khê
(Vịnh liên hoa)

Tạm dịch:

Gần bùn mà chẳng nhiễm hôi tanh,
Trinh khiết như sen ai dám tranh.
Giếng ngọc luôn còn hướng đến cội,
Trời quang gió mát sắc hương thanh.
Tâm thơm cùng với lan là bạn,
Nhị trắng vui sao bướm lượn quanh.
Đích thị bông hoa quân tử nọ,
Liêm Khê(14) từng luận nức thanh danh.

Nguyễn Hoàn là người học giỏi, thi đậu cao, việc học hành thi cử dường như đã ngấm vào da thịt của ông, ông luôn luôn khuyên con cháu:

Thánh hiền đạo tại cổ nhi kim,
Nghĩa lý uông dương nhược hải thâm.
Sư hữu năng thân phương khải trí,
Thi, Thư hữu độc thủy minh tâm.
Báo văn quảng kiến nhân phi tục,
Hùng luận cao đàm thế sở khâm.
Ký ngữ sinh nhi tu miễn học,
Nhất kinh hoàn thị thắng doanh kim
(Miễn học thị tử tôn)

Tạm dịch:

Thánh hiền đạo cả tự xưa nay,
Nghĩa lý mênh mông tựa biển đầy.
Thầy bạn năng gần thì mở trí,
Thi, Thư được học mới là hay.
Nghe nhiều biết rộng người hơn tục,
Thuyết lý cao sâu đời kính thay.
Nhắn gửi cháu con nên gắng học,
Hơn vàng khi biết bộ kinh dày.

Chuyên cần là điều không thể thiếu ở mỗi con người. Tại nhà học, ông khuyên các môn sinh:

Nhân sinh nghiệp quảng tại ư cần,
Thiên vận động tàn tất hữu xuân.
Tùng bách tư bồi thành đống cán,
Chi lan tài thực đắc hương phân.
Vinh hoa chỉ thị bằng tâm địa,
Phương tiện hà như tố hảo nhân,
Ký ngữ chân tâm vi học giả,
Hạ nhi tiễn cức thượng phi vân.
(Ất Hợi niên học đường đề)

Dịch nghĩa:

Đời người làm nên việc lớn nhờ bởi chuyên cần,
Vận trời hết mùa đông sẽ đến mùa xuân.
Tùng bách vun trồng trở thành cột lớn,
Chi lan chăm bón sẽ tỏa hương thơm.
Được vinh hoa phú quý là nhờ ở tấm lòng,
Cách tốt nhất là trở thành người tốt.
Mấy lời thành thực gửi các môn sinh,
Khi nhỏ chuyên cần lớn sẽ làm được việc lớn.

Biết dừng, biết đủ đó là phương thức sống của ông:

Chỉ túc là phương thức ở đời,
Lấy mà điều dưỡng mới nên người.
Lục tuần đã dự ngôi nguyên lão,
Nhị phẩm thêm sang đấng quý đài,
No ấm hoà nhà nhờ lộc nước,
Yên vui khắp họ đội ơn trời.
Nghĩ nào còn mãi đường danh lợi,
Đòi nhất nhân sinh tám chín mươi.
(Nhàn hứng)

Và đây, một lẽ sống nữa là phải biết đạo thường:

Sinh được làm người dự đấng trai,
Quan thời vô sự lại thêm vui.
Nhà vâng ấm cũ còn no đủ,
Nước có vua hiền mặc thảnh thơi.
Danh vị chẳng sang song chẳng nhục,
Việc quan khi lắm lại khi rồi.
Thị thành và ngụ mùi nhàn dật,
Thong thả bốn mùa chẳng lụy ai.

Ở thế gì hơn giữ đạo thường,
Chới hiềm bần tiện vội giầu sang.
Ăn no chẳng quá cơm ba bữa,
Mặc ấm nào qua áo bốn tràng.
Lều cỏ năm gian dầu khuất dậy,
Tôi hầu mươi đứa đủ nghênh ngang.
Nhân sinh thích chí tiên nào kém,
Lọ ước gì hơn hãy được thường.
(Nhàn hứng)

Tuy làm quan to, sống trong cảnh giàu sang phú quý, nhưng ông vẫn không quên vui thú điền viên. Năm 65 tuổi, ông xin về nghỉ, chỉ mấy tháng sau, ông lại nhận chiếu khởi phục. Khi sắp đi, ông làm bài thơ:

Đã thú điền viên lại thị thành,
Trong khi nhàn dật bỗng tôn vinh.
Gác khăn đủng đỉnh nơi tư đệ,
Triều phục nghênh ngang chốn đế đình.
Trị nước rộng ra đường trí trạch,
Sửa mình thu giữ đạo thanh hư.
Muôn đời dằng dặc cùng hưu mỹ,
Vị lộc thêm kèm được thọ danh.
Há rằng tham luyến há doanh vi,
Miễn đã sinh thời phải tế thì.
Nô độn đã hay tài bất đãi,
Long chương ngụ thấy chữ tương kỳ.
Nửa ngàn may gặp đời hanh thái,
Muôn một nhớ nên trị cao hy.
Hữu chí cánh thành ta hãy gắng,
Biết ai là Phó(15) biết ai Y(16)

Trên đây là những tư liệu bổ sung của chúng tôi về Nguyễn Hoàn, với hy vọng phần nào giúp bạn đọc hiểu thêm về ông - một vị sử gia thời cuối Lê.

CHÚ THÍCH

(1) Nguyễn Hoàn 阮 完 (1713-1792) có sách chép là Nguyễn Hoản hay Nguyễn Hoãn.

(2) Xem:

- Việt Nam danh nhân từ điển (VNDNTĐ) của Nguyễn Huyền Anh. Khai trí, Sài Gòn, 1967. - Lược truyện các tác gia Việt Nam (LTCTGVN) T1, Nxb. KHXH, H, 1971.

- Việt Nam văn học sử yếu (VNVHSY) của Dương Quảng Hàm. Trung tâm học hiệu Bộ Giáo dục, 1973.

- Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (THKSHN), Nxb. Văn hóa, H. 1984.

- Đại Việt sử ký tục biên (ĐVSKTB). Nxb. KHXH, H. 1991.

Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (TĐNVLSVN) của Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế. Nxb KHXH, 1991.

(3) Gia phả dòng họ ghi tước Viện quận công.

(4) Ký hiệu Thư viện Viện Hán Nôm A.810.

(5) VNDNTĐ chép ông là con Nguyễn Huệ.

(6) VNVHSY chép ông đậu năm 1742. VNDNTĐ chép ông đậu năm 1733.

(7) Sách đã dẫn, tr. 345.

(8) VNDNTĐ ghi: “Khi vua Lê Chiêu Thống theo quân Thanh (1789), ông ra giúp Tây Sơn”.

VNVHSY ghi: “khi Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu (1789), ông không đi theo mà ra thờ nhà Tây Sơn”.

(9) Thập châm (mươi bài châm):

- Chính tâm thân (suy nghĩ đúng đắn)

- Bác học vấn (mở rộng đường học vấn)

- Tề nội chính (chỉnh tề chính sự bên trong)

- Bế tiện tập (không nghe lời nịnh)

- Nhất chính bản (thống nhất căn bản chính sự).

- Thận sai trừ (cẩn thận việc sai phái cất nhắc)

- Quảng thính nạp (Rộng nghe mọi lời khuyên)

- Thủ thành quy (giữ khuôn phép đã có sẵn)

- Tín hiệu lệnh (hiệu lệnh phải tín)

- Thẩm khoan nghiêm (xét kỹ mọi việc nên khoan hay nên nghiêm).

(10) (11) Hai sách này hiện không còn. Theo ĐVSKTB thì Tiềm long thực lự c là sách chép lời nói và việc làm của Trịnh Sâm khi còn là Thế Tử. Kim giám tập là sách chép những điều có ích cho đường lối trị nước.

(12) Xem thêm Về văn bản bộ Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục. Tạp chí Hán Nôm số 1 (12) - 1992.

(13) Bia dựng năm Cảnh Hưng 36 (1775), ghi việc Vương phủ thị nội cung tần Chưởng nam cung tiệp dư Trần Thị Tịnh có nhiều công đức với dân trại Quỳnh Lôi, huyện Thọ Xương (nay là phường Quỳnh Lôi, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội).

(14) Liêm khê: tức Chu Đô Di, một học gia nổi tiếng đời Tống.

(15) Phó: Tức Phó Duyệt, một vị tướng giỏi của vua Cao Tông đời Ân.

(16) Y: Tức Y Doãn, là công thần đời nhà Thương. Vua Thang 3 lần đến mời, ông mới chịu ra giúp.

TB

VỀ TÁC GIẢ VÀ VĂN BẢN 10 BÀI THƠ "KHUÊ PHỤ THÁN"

VŨ THANH HẰNG

Gần đây, trong chuyến đi thực tế Nam Hà, chúng tôi được đọc một cuốn sách Nôm tại nhà cụ Mai Viết Chức ở thôn Hưng Nhân, xã Xuân Ninh, huyện Xuân Thủy. Sách gồm 63 tờ giấy bản đã cũ, khổ 21 x 14,5cm, viết tay, chữ dễ đọc. Bìa sách không thấy ghi gì. Lật xem bên trong, trang đầu có bốn chữ “Trần Thị gia tàng” (Sách của gia đình họ Trần). Các trang tiếp theo là những bài bàn về Hà đồ, Bát quái, Lịch số... rồi đến phần thơ Nôm, nhiều nhất là của Nguyễn Khuyến (Hỏi thăm quan tiến sĩ Châu Cầu bị lụt; Hỏi thăm quan tiến sĩ mất cướp; Khuyên người lấy chồng làm lẽ...) và thơ của một số người khác nữa.

Đáng chú ý, trong cuốn sách có chép 10 bài thơ kèm theo dòng chú thích: “Bà Thành Thái làm tập thơ này, mười bài, đưa vua Thành Thái cùng con là vua Duy Tân”.

Các thông tin trên đây tự nó đặt lại vấn đề tác giả và văn bản 10 bài thơ mà lâu nay ta vẫn tưởng không có chuyện gì phải bàn nữa.

Trước hết là vấn đề tác giả. Trần Trung Viên trong bộ sưu tập Văn đàn bảo giám của mình, có công bố 10 bài thơ trên dưới tiêu đề “Khuê phụ thán”, và ghi rõ tác giả là “Thượng Tân Thị Phan Quốc Quang”(1). Trong khi đó, cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam mới ra gần đây, ở mục “Phan Quốc Quang”, lại nói Thượng Tân Thị Phan Quốc Quang chỉ là tác giả 10 bài Tục khuê phụ thán “họa y nguyên vận 10 bài trước mà có người cho đó là của vua Thành Thái, sau đấy thành một thi thoại nổi tiếng trong văn học”(2). Vậy rốt cục ai là tác giải 10 bài Khuê phụ thán? Phan Quốc Quang, Thành Thái, hay bà Thành Thái như tài liệu chúng tôi mới sưu tầm?

Mọi người đều biết, Thành Thái (1877-1954) húy Bửu Lân, vua thứ 9 của triều Nguyễn. Năm 1907, chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương dò biết ông có quan hệ với phong trào Đông du, đã gây sức ép, buộc ông phải nhường ngôi cho con là Thái tử Vĩnh San (tức vua Duy Tân sau này) rồi đưa ông vào giam tại Vũng Tầu đến năm 1915, bí mật đưa ông đi an trí ở đảo La Réunion bên châu Phi. Vĩnh San lên ngôi lúc 8 tuổi, được phong trào yêu nước cổ vũ, vẫn nuôi chí giải phóng cho dân tộc khỏi ách thống trị của ngoại nhân. Ông ngầm liên kết với các nhà hoạt động trong phong trào Việt Nam Quang phục hội, định chiếm các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam và Quảng Ngãi làm căn cứ, phát động cuộc nổi dậy chống Pháp tại các tỉnh miền Trung vào năm 1916. Công việc bại lộ, ông bị bắt Pháp giam ở đồn Mang Cá (Huế), rồi đưa sang đầy tại đảo Réunion cùng nơi với vua cha(3) . Bài thơ Khuê phụ thán nói lên cảnh bơ vơ, nỗi nhớ nhung, đau xót của người vợ đối với chồng, con đang lênh đênh nơi quê người đất khách... được người đời hiểu như là tâm sự của bà Thành Thái đối với vua Thành Thái và vua Duy Tân trong những ngày xa cách.

Vua Thành Thái khó có thể là tác giả bài thơ, dù hiểu theo nghĩa “thác lời” chăng nữa, vì một lẽ đơn giản là ông đã sống tách khỏi đất nước từ 1915, trước khi xảy ra chuyện Duy Tân cũng bị bắt.

Tác giả bài thơ cũng không thể là Thượng Tân Thị. Ông sinh năm 1889 tại Huế. Nhưng đến năm 20 tuổi, tức vào khỏang 1909, ông đã vào Nam sống với người dì tại Vĩnh Long và mất tại đó năm 1966. Có thể tin vào sự ghi chép của Nguyễn Bá Thế trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam rằng Thượng Tân Thị chỉ là tác giả của 10 bài Tục Khuê phụ thán mà thôi.

Nếu nhận định trên đây không xa với sự thật, thì việc quy tác giả 10 bài Khuê phụ thán cho bà Thành Thái, như lời ghi nhận trong tài liệu do chúng tôi vừa sưu tầm, không phải không có chỗ hợp lý của nó.

Cũng cần nói thêm rằng khi tái bản Văn đàn bảo giám, Nam Ký thư quán trong mục Việt văn lược biểu đã không còn quy 10 bài Khuê phụ thán cho Thượng Tân Thị nữa, nhưng lại nói là của t ác giả Nguyễn Thị Phí (4) . Vậy giữa Nguyễn Thị Phí và bà Thành Thái có quan hệ gì không, là 2 người khác nhau hay chính cùng một người, đây là vấn đề cần tiếp tục tìm hiểu.

Về mặt văn bản, hiện có 3 dị bản về bài thơ Khuê phụ thán: bản do chúng tôi sưu tầm được bằng chữ Nôm như trên kia đã nói, gọi là Bản A; bản in trong Văn đàn bảo giám bằng chữ Quốc ngữ như đã đề cập, gọi là Bản B; và 1 bản nữa, cũng ghi bằng chữ Quốc ngữ, do cụ Nguyễn Song Tùng cung cấp(5), gọi là Bản C. Lời văn giữa các bản không phải bao giờ cũng nhất trí với nhau, một hiện tượng thường thấy giữa các truyền bản. Bản A do được chép khá sớm và bằng chữ Nôm, cố nhiên có một ý nghĩa nào đó so với hai bản còn lại. Nói như thế, không phải là Bản A thỉnh thoảng không có những câu chữ lủng củng. Với tinh thần tồn cổ, chúng tôi phiên am lại toàn bộ Bản A, có đối chiếu với Bản B (gọi tắt là B) và Bản C (gọi tắt là C) để bạn đọc tiện tham khảo.

Khuê phụ thán(1)

Bà Thành Thái làm tập thơ này 10 bài, đưa vua Thành Thái cùng con là vua Duy Tân.

(I)
Chồng hỡi chồng ôi(2) , con hỡi con,
Cùng nhau chia rẽ mấy năm(3) tròn.
Bóng chim tăm cá trông trời bể(4),
Rày gió mai mưa(5) thẹn(6) nước non.
Mông điệp khéo xui(7) ai tin tiếc(8)
Hồn quyên luống để thiếp bôn chôn(9)
Ngày qua tháng lại trông đằng đẵng(10),
Muôn dặm xa xa mắt đã(11) mòn.

Khảo dị:

(1) Bản A và Bản C đều không có đầu đề này. Đây theo Bản B, dùng một đầu đề mà nhiều người quen thuộc. (2) B: Thiếu chữ “ôi”. (3) B: trăng khuyết lại trăng; C: Xa cách mấy năm. (4) B: Bên trời góc bể nơi chim cá; C: Chân trời góc bể lơi chim cá. (5) B: Sương. (6) B: Tưởng. (7) B,C: Vì (8) B,C : Lẻo đẻo. (9) B,C: Chon von. (10) B: Coi đằng đẵng; C: Trông đăm đắm. (11) C: Mỏi.

(II)
Đã (1) mòn con mắt một phương âu,
Chả biết chồng con đâu (2) ở đâu.
Mờ mịt non xanh cùng nước biếc (3),
ủ ê gió thảm mấy mưa (4) sầu.
ấy ai ngoắt ngéo khôn lừa lọc (5),
Để thiếp bơ vơ chịu dãi (6) dầu.
Non bể chênh chênh trời một góc(7),
Tấm lòng bứt rứt (8) suốt canh thâu.

Khảo dị:

(1) C: Mỏi. (2) B: Có thấy chồng con đâu; C: Nào thấy chồng đâu con (3) B: Dầu được non xanh cùng bến tốt; C: Góc biển chân trời căm dạ giận. (4) B: Khó ngăn gió thảm với mưa; C: Chân non khuya sớm héo gan. (5) B: Trách ai dắt nẻo khôn lừa lọc; C: Ba sinh lở dở dòng duyên nợ. (6) B: Khiến thiếp ra thân chịu dãi; C: Muôn dặm phun phun đám lửa. (7) B: Hỡi đức cao xanh sao chẳng đoái; C: Bớ bớ xanh kia sao chẳng đoái. (8) B: Trằn trọc.

(III)
Canh thâu chưa ngủ hãy còn ngồi,
Gan ruột như dầu sục sục sôi.
Nghĩa giữ ấp ôm đành đã nhỡ(1),
Bổng cho(2) bú mớm chắc(3) thôi rồi.
Quyết gìn giữ dạ khi âu yếm(4),
Biết cậy cùng ai tỏ(5) khúc nhôi,
Bớ bớ trời kia sao chẳng đoái(6),
Ôi chồng ôi ! Ôi hỡi con ôi (7)!

Khảo dị:

(1) B: Cả ấp iu đành đã nhỡ; C: Cả ấp yêu đành lở dở. (2) B: Công to; C: Công lao. (3) B,C: ắt. (4) B: Quyết gìn giữ dạ tròn sau trước; C: Má hồng hứng để ai cam phận. (5) B: Biết cậy nhờ ai tỏ; C: Con trẻ đành lừa nỗi. (6) B: Non nước xanh xanh trời một góc; C: Tạo hoá đa đoan ghê ghớm nhỉ. (7) B: Chồng hỡi chồng con hỡi con; C: Chồng hỡi chồng con hỡi con ơi.

(IV)
Con ôi ruột mẹ nát như (1) tương,
Bảy nổi ba chìm mấy(2) thảm thương.
Tươi (3) héo lá gan cây đỉnh Ngự.
Đầy vơi giọt lệ nước sông Hương.
Quê nhà(4) đành gửi thân trăm tuổi,
Đất khách mong đền dạ(5) bốn phương.
Mẹ vẫn mong con tròn một tiết(6),
Mong cho trọn vẹn chữ(7) cương thường.

Khảo dị:

(1) B: Ruột mẹ nẫu như; C: Không ngớt giọt dòng. (2) B: Bảy nổi ba chìm tất; C: Nghĩ đến con đau xót. (3) B,C: Khô. (4) B,C: Người. (5) B: Cuộc thế mong gì dạ; C: Cuộc thế mong gì nợ. (6) B: Cũng trông mau rồi một kiếp; C: Cũng trông mong rồi một kiếp. (7) B: Để cho vẹn vẽ mối; C: Để cho trọn vẹn mối.

(V)
Cương thường gánh(1) nặng cả đôi(2) vai,
Biết ngỏ (3) cùng ai, ai hỡi ai ?
Để dạ (4) chỉ e tằm đứt ruột,
Ngỏ (5) môi lại sợ vách liền(6) tai.
Canh(7) khuya tựa gối(8) chênh chênh một,
Gương vỡ (9) soi hình lẻ tẻ (10) hai.
Nhắn hỏi từ đây ai biết (11) đó,
Đường đi non nước độ bao dài ?

Khảo dị:

(1) B: Chất. (2) B,C: Hai. (3) B: Tỏ, C: Nói. (4) B,C: Bụng. (5) B,C: Hở. (6) B,C: Nghiêng. (7) B,C: Trăng. (8) B: Nghiêng bóng; C: In bóng (9) B: Kính nể; C: Kính vỡ. (10) B,C: tẻ tẻ. (11) B: Nhắn thử từ đây qua tới; C: Nhắm mắt thử từ đây đến.

(VI)
Bao dài non nước chẳng hay cùng,
Muốn(1) gửi hồn ta đến ở chung.
Khuya(2) sớm cho tròn in(3) một tiết,
Trước sau chả thẹn chữ(4) ba(5) tòng.
Quê nhà sẵn(6) kẻ lo săn sóc.
Đất khách theo(7) nhau luống(8) lạ lùng.
Mộng tỉnh chia(9) xong vừa chợp mắt,
Trống thành(10) đâu đã thấy tùng tùng(11).

Khảo dị:

(1) B,C: Xin. (2) B,C: Hôm, (3) B,C: Luôn. (4) B: Chẳng thẹn chữ; C: không phụ với. (5) C: Bá. (6) B: Nhà có; C: Người ai. (7) B,C: Nương. (8) B: Khỏi; C: Đỡ (9) B: Mộng tỉnh chưa; C: Mẳng tính chưa. (10) B,C: Lầu. (11) B,C: Đổ tung tung.

(VII)
Đã thấy tùng tùng(1) tiếng trống thành,
Giật mình thức dậy mới tan(2) canh.
Sương sa lác đác trên đầu(3) lá,
Gió thổi đìu(4) hiu chạnh (5) bức mành.
Cảnh ấy tình này khôn xiết muộn(6),
Trời kia đất nọ nỡ sao(7) đành.
Thương nhau chả đặng(8) cùng nhau trọn,
Xin hãy(9) cùng nhau(10) kiếp tái sinh.

Khảo dị:

(1) B,C: Đổ lung tung. (2) C: Tàn. (3) B: Trên cành; C: Rung tàu. (4) B,C: Hỉu (5) B: Trước; C: Động. (6) B,C: Thôi hết nói. (7) B: Cho. (8) B: Chẳng được. (9) B,C: Hẹn. (10) C: Mai sau.

(VIII)
Kiếp tái sinh ni(1) có gặp không?
Kiếp này đã phụ(2) mấy non sông!
Chiêm bao lẩn thẩn theo hồn bướm,
Tin tức bơ vơ lạc bóng(3) hồng.
Tính tới tính lui thân cá chậu,
Sợ quanh sợ quẩn(4) phận chim lồng.
Đã không chung phúc(5) thì thôi chớ,
So nỡ xa nhau chồng hỡi chồng.

Khảo dị:

(1) B: Biết; C: Mong. (2) B: Đành thẹn; C: Đành phụ. (3) B,C: Cánh. (4) B,C: Lo quanh lo quẩn. (5) B,C: Hưởng.

(IX)
Chồng hỡi có biết(1) nỗi này chăng ?
Sóng gió đưa nhau(2) dậy bất(3) bằng.
Non nước chia nhau(4) trời lộng lộng,
Cha con riêng(5) một bể giăng giăng.
Búi sầu(6) kia gỡ quanh chưa dứt(7),
Cuộc(8) thảm này thương thấm(9) khó ngăn.
Ngơ ngáo sự(10) đời khôn gượng gạo,
Câu thề(11) còn ở dưới cung trăng.

Khảo dị:

(1) B: Hỡi chồng có thấu; C: Chồng hỡi chồng thấu, (2) B,C: khi không (3) B,C: Đất. (4) B,C: hai. (5) C: lìa. (6) C: tình. (7) C: hết. (8) B,C: Giọt. (9) B: tuôn cũng; C: tuôn hứng. (10) B: Năm bảy cuộc; C: Ngắm mấy cuộc. (11) B,C: Canh chầy.

(X)
Ở dưới cung trăng luống(1) nỉ non,
Đắng cay như ngậm cái(2) bồ hòn.
Sớm khuya giọng cuốc tai hơi mệt(3),
Sương tuyết mình ve miệng(4) đã mòn.
Lắng mõ làng kia khua(5) cốc cốc,
Nghe(6) chuông chùa nọ dộng(7) boong boong.
Nỗi niềm ta nhớ nào ai biết(8),
Ơi hỡi chồng ôi(9), con hỡi con !

Khảo dị:

(1) C: Bóng. (2) B: Quả; C: Trái. (3) B: Khói mây giọng cuốc nghe hơi mỏi; C: Lời văn ánh nguyệt nghe sao chán. (4) B,C: Ngắm. (5) B: Xa nghe; C: Kia canh. (6) B: Tiếng; C: Hồi. (7) B: Cũ dộng; C: Nọ giọng. (8) C: Biết lấy ai tri kỷ. (9) B: Chồng hỡi chồng; C: Chồng hỡi chồng ơi.

V.T.H

CHÚ THÍCH

(1) Văn đàn bảo giám, Nxb. Mặc Lâm tái bản, Sài gòn, 1968 - 1969, Q.II, tr.25.

(2) Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb. KHXH, 1991, tr.774.

(3) Nguyễn Huyền Anh: Việt Nam danh nhân từ điển, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn, in lần thứ ba, 1972, các tr.46-48 và 526-528.

(4) Văn đàn bảo giám, Sđd, Q.4, tr.224.

(5) Trong tài liệu gửi chúng tôi, cụ Song Tùng có ghi xuất xứ như sau: “Cụ Nguyễn Cảnh Sằn có người cô ruột (em bố) tên là Nguyễn Thị Hòe lấy vua Tự Đức. Thời gian sau khi vua Thành Thái và Duy Tân bị đi đầy, cụ Nguyễn Cảnh Sằn vào Huế ở Nội cung với bà Hoè (sau khi vào cung, Tự Đức đổi tên Hòe thành Hồi). Nhờ ở Nội cung, cụ Nguyễn Cảnh Sằn đã chép được 10 bài thơ của bà Thành Thái gửi chồng và con là Nguyễn Duy Tân bị Pháp bắt đầy đi châu Phi. Tôi là con cụ Nguyễn Cảnh Sằn, được cụ đọc cho ghi chép từ 1932”./.

TB

BÀI VĂN KHUYÊN CHĂM HỌC CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG

MAI XUÂN HẢI

Lê Thánh Tông là vị vua thứ 4 triều Lê. Ông là con thứ 4 của vua Thái Tông, sinh ngày 27 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442)(2), lên ngôi vua từ năm Canh Thìn (1460), cho tới khi mất là ngày 29 tháng giêng năm ĐinhTị (1497), lấy niên hiệu là Quang Thuận (1460-1469), và Hồng Đức (1470-1497), ở ngôi 38 năm, hưởng thọ 55 tuổi. Sau khi mất được tôn phong miếu hiệu là Thánh Tông Thuần Hoàng Đế. Trong thời gian 38 năm trị vì, ông đã thực hiện nhiều cải cách, nhiều biện pháp đổi mới ở tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế cho tới văn hóa, giáo dục, trong vòng ba thập kỷ đã đưa nước ta trở thành một nước hùng mạnh vào bậc nhất trong khu vực thời bấy giờ. Nhiều chính sách, chế độ, luật lệ... của thời đại ông đã để lại ảnh hưởng sâu đậm đến các đời sau. Ông còn sáng tác nhiều thơ Hán, là một tác giả văn học lớn nhất trong lịch sử văn học nước ta giai đoạn nửa sau thế kỷ XV.

Tài năng và sự nghiệp của ông, cùng những đóng góp của ông cho đất nước được mọi người đánh giá cao. Nhà sử học đương thời Ngô Sĩ Liên nhận xét: “Nhà vua thực là bậc vua anh hùng tài lược; dù Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không hơn được”(3).

Nhà bác học Phan Huy Chú thế kỷ thứ XIX cũng nhận xét: “Tư chất và tính khí vua rất cao sáng, ham học không biết mỏi, tay không rời sách. Kinh, sử, chư tử, lịch số, toán chương đều tinh thông, văn thơ càng giỏi hơn các bề tôi. Về trị nước thì vua tôn trọng Nho thuật, cất nhắc anh tài, sáng lập chế độ, khôi phục và mở mang bờ cõi, văn vũ tài lược hơn cả các đời. Người ta cho rằng chính trị đời Hồng Đức là rất thịnh”(4)

Sứ giả Trung Quốc thời bấy giờ cũng gọi ông với thái độ kính trọng là “An Nam chân chúa”(5) .

Bác Hồ cũng ca ngợi ông rằng:

Vua hiền có Lê Thánh Tông,
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành(6)

Tài năng và sự đóng góp có hiệu quả cho đất nước của vua Lê Thánh Tông có phần là nhờ ông rất cần cù chịu khó học tập trong suốt cả cuộc đời của mình, cả khi đã lên ngôi vua. Ông viết về mình như sau:

Trống dời canh còn đọc sách,
Chuông xế bóng chửa thôi chầu(7)

Có thể nói rằng, ông là người có kiến thức, có học vấn uyên bác nhất thời bấy giờ. Phải chăng đó là một trong những nhân tố để ông đưa đất nước đi theo con đường đổi mới, đạt đến sự thịnh trị tột đỉnh trong thời kỳ phong kiến. Ông không chỉ là một tấm gương sáng chói về học tập, mà còn khuyên mọi người nên chăm học nữa. Lâu nay có người đã đề cập đến bài Chiếu khuyến học, Dụ khuyến học của ông. Nhưng cho đến nay chúng ta chỉ được nghe nói, chứ chưa từng được đọc nội dung bài văn khuyến học đó.

Gần đây, tìm tòi trong Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, may mắn chúng tôi tìm được hai văn bản Hán Nôm có chép bài văn khuyến học đó. Đó là:

1. Giai văn tập ký: ký hiệu A.2397, sách chép tay, khổ 28x16cm, 28 tờ, không có tựa bạt, mục lục, không ghi tên tác giả. Như tên sách đã nói, sách này là tập hợp ghi chép những bài văn hay (giai văn), cả thảy gồm 33 bài, phần lớn của các tác giả đời Nguyễn như: Hoàng Cao Khải, Phan Đình Phùng, Bùi Hướng Thành, Nguyễn Trọng Hợp, Dương Lâm, Đỗ Đình Liên(8) , Ngô Thế Vinh v.v... và bài thứ 30 (tờ 20a-22a) có nhan đề là Thánh Tông Thuần Hoàng Đế khuyến học văn, dịch nghĩa là: Bài văn khuyên chăm học của vua Thánh Tông Thuần Hoàng Đế.

2. Chư đề hợp tuyển: ký hiệu VHv.552, sách chép tay, viết thảo, khổ 25x13cm, 58 tờ, do Vinh Phong Phạm Nam Sơn chép ngày 16 tháng 8 năm Thành Thái thứ 8 (1896). Tên sách cho ta biết đây là một loại sách hợp tuyển văn học. Sách tập hợp 56 bài văn cả Hán và Nôm thời Lê và Nguyễn về các thể tài như: Văn bia trùng tu đền Hưng Đạo Vương của quan kinh lược Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải; Bài văn khuyến hiếu của Văn Xương Đế Quân; Bài văn con rể tế bố vợ, vợ tế chồng, chồng tế vợ; Bài Quy khứ lai từ (Nôm); Bài văn tế cô hồn; Trần tình biểu; Bài phú Hàn Tín của Đặng Trần Thường; Bài phú Từ nông quy sĩ (Nôm) v.v... và bài thứ 55 (tờ 55a-56a) có nhan đề là Thánh Tông Thuần Hoàng Đế khuyến tiểu sinh văn, dịch nghĩa là: Bài văn khuyên học trò chăm học của vua Thánh Tông Thuần Hoàng Đế.

Cả hai văn bản đều có một số chữ, câu khác nhau. Trước khi dịch, chúng tôi có đối chiếu, khảo dị, để 2 bản bổ sung cho nhau những chỗ bất túc, tiến tới một bản hoàn thiện hơn. Khi khảo dị, chúng tôi gọi tắt bản Giai văn tập ký là GVTK, và bản Chư đề hợp tuyển là CĐHT.

Xét thấy bài văn khuyến học này là một tài liệu cần thiết để nghiên cứu về con người Lê Thánh Tông và tư tưởng giáo dục của ông, nay chúng tôi xin phiên âm, dịch nghĩa, chú thích và công bố, cống hiến cho độc giả của Tạp chí Hán Nôm , nhân dịp kỷ niệm 550 năm ngày sinh của ông.

Phiên âm:

Thánh Tông Thuần Hoàng Đế Khuyến học văn(1)

Cái văn(2):

Quân tử thành đức chi danh, quý hồ hữu thể hữu dụng;

Nho giả vị kỷ chi học, yếu tại thành thủy thành chung.

Cẩu đán tịch chi(3) bất cần;

Tắc công phu chi(4) hữu gián.

Hạ Vũ đại thánh, tứ tứ do tích thốn âm;

Tăng Tử đại hiền, miễn miễn thượng gia tam tỉnh.

Hán Đồng Tử hạ duy nhi lệ sĩ(5)

Đường Xương Lê kế quĩ dĩ thành công.

Bỉ hà nhân, ngã diệc hà nhân, vi chi nhược thị;

Cổ thử lý, kim đồng thử lý, chí giả cánh thành(6).

Nhữ đẳng:

Sinh hồ thiên địa chi gian,

Đồng đắc âm dương chi khí.

Vật các phó vật(7), tuy vân hoặc thuần hoặc bác chi thù,

Nhân chi vi nhân, diệc hữu hi thánh hi hiền chi chí.

Tiên cẩn kì(8) sái tảo, ứng đối, tiến thoái chi tiết;

Thứ(9) cập phù lễ nhạc, xạ ngự, thư số chi văn.

Tọa như thi, lập như trai(10), học nhi thời tập;

Chính kỳ tâm, thành kỳ ý, đức cầu(11) nhật tân.

Hàm vịnh hồ, kì sở dĩ tri;

Mãnh miễn(12) hồ, kì sở vị chí.

Kinh giả, tải đạo chi khí, tất dụng lực dĩ(13) giảng cầu;

Sử giả(14), kí sự chi thư, tất dụng(15) tâm nhi suy cứu.

Dĩ khảo thánh hiền chi thành pháp;

Dĩ cầu(16) sự lí nhi đương nhiên.

Nhã ngôn mạc thiết ư Thi Thư, Thi Thư cần nãi hữu(17);

Hành đạo mạc tiên ư Lễ Nhạc, Lễ Nhạc bất khả vô.

Trầm tiềm hồ Bát quái, Cửu trù;

Xuất nhập hồ Bách gia chư tử.

Đại hiền vi sư, thứ hiền vi hữu, thân sư thủ hữu hữu phương;

Xuất sự kì trưởng, nhập sự kì huynh, kính trưởng ái huynh tân đạo.

Bất tuần tư dục nhi vi lý(19),

Đãn đương chủ thiện vi sư.

Khí tập sở di, đương giới phù kiêu chi nhất tự,

Đạo lý tối đại, giai thủ chư(20) thân chi lưỡng bàng.

Hữu chân thực tiễn lí chi công;

Vô liệp đẳng can dự chi thất(21).

Năng định(22) năng tĩnh, năng lự năng đắc, sở tạo giả thâm;

Như thiết như tha, như trác như ma, ích cầu kì chí.

Kí hữu đắc chi ư kỉ,

Hựu đương(23) suy dĩ cập nhân.

Tài dưỡng bất tài, trúng dưỡng bất trúng, tư chi giả chúng;

Thành bất độc thành, lập bất độc lập, đức tất hữu lân.

Nhân chi thục, nghĩa chi tinh;

Công chi sùng, nghiệp chi quảng.

Do thị nhi cùng kinh chí dụng(24)

Do thị nhi học cổ nhập quan.

Thủ Hán thất chi tử thanh, đãi đồng thập giới;

Trạc Tống triều chi khoa đệ(25), hữu nhược bạt tì(26).

Nhân tranh khán kim bảng(27) đề danh;

Thời cộng(28) đổ thanh vân đắc lộ.

Bộ ngọc đới kim chi khách, tiếp chủng liên(29) kiên;

Chấp tiên phụ nỗ chi đồ, hô tiên ủng hậu.

Đăng(30) hỏa chi sơ tâm bất phụ;

Công danh chi tố chí hoạch thường.

Dĩ văn chương nhi phủ phất hoàng du;

Dĩ đạo đức nhi sênh dung dã(31) hóa.

Tí dân tôn chủ, lợi trạch cập ư(32) đương thời;

Dương danh hiển thân, sự nghiệp thùy ư hậu thế.

Thị giai cần dĩ vi thượng(33);

Cố năng lộc tại kì trung.

Thảng hoặc:

Bất học bất tư;

Tự thí tự bạo(34).

Muội mục ư điển mô chi huấn, mậu mậu(35) hà tri;

Mê tâm ư phong nguyệt chi trường, yêm yêm võng giác.

Song khích chi quang âm(36) mị duyệt(37);

Thành nam chi đăng hỏa bất cần(38).

Nghiệp hoang vu hi(39), kê khuyển chi tâm dị(40) phóng;

Học tựu vị kỉ(41), hồng hộc chi chí dĩ di.

Tể Dư chi mộc bất khả điêu,

Từ Tử chi thủy mạc tri bản.

Sơn vi cửu nhẫn, nhất quĩ do(42) khuy;

Tỉnh vị cập tuyền, bán đồ nhi phế.

Ngoã phiến(43) chi tài mạc dụng;

Tì ô chi dịch cam vi.

Trì khu huy hạ chi binh, hung sinh cơ sắt;

Bôn tẩu mã tiền chi tốt, bối xuất trùng thư.

Ngũ phù xích tịch chi đồ lao;

Tì tất nô nhan chi khả quý(44).

Lỗ mãng nhi canh, lỗ mãng nhi hoạch, quyết cữu y thùy?

Khốn khổ kì thân(45), khốn khổ kì tâm(46), phệ tê hà cập !

Khởi thời tác thê noa chi lụy;

Ngưỡng diệc cô phụ mẫu chi ân.

Hồi khán ý cẩm chi vinh,

Không bão(47) hậu nhan chi sỉ.

Phù! nhân chi tiếu dữ bất tiếu, ư thị phán yên;

Tại học chi cần dữ bất cần, vi hà như nhĩ.

Ngô ngôn cập thử;

Nhữ đẳng kí chi !

Khảo dị:

1. Bản CĐHT: Thánh Tông Thuần Hoàng Đế khuyến tiểu sinh văn.

2. Bản CĐHT: Viết

3. 4. Bản CĐHT: Không có chữ “chi”

5. Bản CĐHT: Phát phẫn

6. Bản GVTK: Không có câu này

7. Bản CĐHT: phú

8. Bản CĐHT: hồ

9. Bản CĐHT: hậu

10. Bản CĐHT: Tề

11. Bản GVTK: Yếu tại

12. Bản CĐHT: Miễn cưỡng

13. Bản CĐHT: Nhi

14. Bản CĐHT: Nãi

15. Bản CĐHT: Tận

16. Bản CĐHT: Thức

17. Bản CĐHT: Sở cố hữu

18. Bản GVTK: Không có hai chữ “ái huynh”

19. Bản GVTK: Bất khả tuần vật lí

20. Bản GVTK: Kì

21. Bản CĐHT: Hoạn

22. Bản CĐHT: An

23. Bản CĐHT: Vưu khả

24. Bản GVTK: Không có câu này

25. Bản CĐHT: Khoa mục

26. Bản CĐHT: Trích tì

27. Bản CĐHT: Hoàng bảng

28. Bản CĐHT: Khoái

29. Bản CĐHT: Biên

30. Bản CĐHT: Hương

31. Bản CĐHT: Thường

32. Bản CĐHT: Vu

33. Bản GVTK: Thượng

34. Bản CĐHT: Tự bạo tự khí

35. Bản CĐHT: Minh minh

36. Bản CĐHT: Quang minh

37. Bản CĐHT: Lũ

38. Bản CĐHT: Bất thân

39. Bản CĐHT: Đường

40. Bản CĐHT: Dĩ

41. Bản CĐHT: Dịch học vị chí

42. Bản CĐHT: Thượng

43. Bản CĐHT: ủng thũng

44. Bản CĐHT: Khả sỉ

45. Bản CĐHT: Kì chí

46. Bản CĐHT: Kì thân

47. Bản GVTK: Bả

Dịch nghĩa:

Bài văn khuyên chăm học của vua Lê Thánh Tông Thuần Hoàng Đế

Từng nghe:

Người quân tử được gọi là “Thành Đức”, quý ở chỗ có đủ cả “thể” cả “dụng”(9);

Bậc Nho giả cầu “cái học vị kỉ”(10), thì cần phải có thủy có chung.

Nếu sớm tối không cần cù,

Thì công phu bị gián đoạn.

Kìa:

Bậc đại thánh như vua Hạ Vũ(11), còn tiếc nuối từng tấc quang âm;

Bậc đại hiền như ngài Tăng Sâm(12), vẫn mỗi ngày xét mình ba lượt.

Đổng Tử đời Hán(13), buông rèm mà khích lệ kẻ sĩ;

Xương Lê đời Đường(14), kiên trì mà đi tới thành công.

Kẻ kia là người, ta cũng là người, mà họ làm được như thế;

Xưa vẫn lý ấy, nay vẫn lý ấy, cốt có chí thì làm nên.

Các người:

Sinh ra ở trong vòng trời đất,

Cùng bẩm thụ khí âm dương.

Mỗi một sự vật, tuy trời phú có thuần tạp khác nhau;

Nhưng đã là người, ai cũng có chí noi theo bậc hiền bậc thánh.

Trước hết, phải tẩy rửa cho trong sạch, ứng đối, tiến lui cho phải phép;

Thứ đến, học các môn lễ nhạc, xạ ngự, thư số khác nhau(15).

Ngồi ngay ngắn, đứng trang nghiêm, học rồi thường xuyên luyện tập(16),

Tâm ngay chính, ý chân thành(17), đạo đức ngày càng thêm mới.

Đào sâu kỹ những điều đã học;

Hăng say tìm những điều chưa thông.

Thể loại “kinh” là thứ chở đạo, phải dốc sức mà giảng cầu;

Thể loại “sử” là sách ghi việc, phải dụng tâm mà suy cứu.

Từ đó, khảo cứu phép tắc của thánh hiền;

Từ đó, nắm vững quy luật của sự lý.

Lời đẹp chẳng gì bằng Kinh Thi, Kinh Thư(18) Thi, Thư cần phải có;

Hành đạo chẳng gì hơn Kinh Lễ, Kinh Nhạc(19), Lễ, Nhạc chẳng thể không.

Lặn ngụp nơi Bát quái, Cửu trù(20);

Ra vào chốn Bách gia chư tử(21).

Tìm bậc đại hiền làm thầy, tìm bậc thứ hiền kết bạn, gần gũi thầy bạn đúng phương châm;

Ra thờ bậc trưởng, vào thờ bậc anh, kính trưởng mến anh hết đạo.

Chớ chạy theo dòng tư dục mà làm trái sự lý;

Những nên coi việc thiện làm thầy.

Khí chất do thói quen mà đổi thay; Hãy răn giới một chữ kiêu mạn;

Đạo lý cao nhất, cốt ở chỗ giữ gìn quan hệ xung quanh.

Rèn công phu thực tiễn chân thành;

Chớ mắc lỗi săn lùng danh tiếng.

Có định có tĩnh, có lự có đắc(22), thành quả mới cao;

Như thiết như tha như trác như ma(23), cầu tiến bộ mãi.

Bản thân đã có sở đắc;

Lại mong mở rộng cho người.

Người tài dạy người bất tài, người đúng dạy người chưa đúng.

Giúp đỡ thêm đông đảo;

Thành tựu chẳng riêng mình, lập thân chẳng mình ta,

Đức vọng thêm bạn hữu.

Nhân càng thục, nghĩa càng tinh;

Công càng cao, nghiệp càng lớn.

Từ đó mà ra sức áp dụng điều sở học;

Từ đó mà noi theo cổ nhân học làm quan(24).

Giành chức quan cao nhà Hán xưa, khác nào cúi nhặt hạt cải(25);

Giật lấy khoa bảng nhà Tống nọ, chỉ như nhổ đứt sợi râu.

Người tranh xem bảng hổ đề tên;

Đời ngưỡng vọng đường mây nhẹ bước(26).

Cùng khách đai vàng bội ngọc, tiếp gót liền vai;

Một đoàn đeo nỏ cầm roi, tiền hô hậu ủng.

Tấm lòng đăng hỏa ngày xưa thật chẳng phụ;

Nguyện ước công danh thuở nọ được đền bồi.

Nhờ văn chương mà địa vị rõ ràng;

Nhờ đạo đức mà tục dân giáo hoá.

Giúp dân giúp chủ, lợi ích thấm khắp đương thời;

Bản thân cha mẹ vẻ vang, sự nghiệp lưu truyền hậu thế.

Tất thảy đều nhờ cần cù là trên hết,

Vậy nên bổng lộc sẵn ở trong(27).

Thế mà chẳng học, chẳng suy;

Chính là tự mình vứt bỏ.

Tối tăm lời dạy ở mô điển(28), ú ớ chẳng hay;

Ham mê say đắm chốn gió trăng, mịt mờ chẳng tỉnh.

Bóng quang âm nơi khe cửa thấm thoát chẳng tỏ;

Ngọn đèn nơi thành nam le lói chẳng chăm.

Ham mê các trò vui, cái tâm kê khuyển(29) dễ buông thả;

Học mới được mấy tý, cái chí hồng hộc(30) đã thay rồi.

Như Tể Dư, gỗ mục chẳng thể dùng(31),

Như Từ Tử, dòng nước chẳng biết mạch(32).

Núi cao chín nhẫn, thiếu một sọt đất chẳng thành(33);

Giếng chẳng có mạch nguồn, giữa đường đành vứt bỏ.

Cái tài cỏn con chẳng dùng được;

Công việc hèn mọn phải cam làm.

Rong ruổi làm quân dưới cờ, ngực sinh rận rệp;

Bôn tẩu làm lính trước ngựa, lưng đầy bọ giòi.

Vất vả thân đầy tớ dốt ngu;

Khúm núm hèn mọn thật xấu hổ.

Cẩu thả cày cấy, cẩu thả thu hoạch, lỗi ấy vì đâu?

Khốn khổ cái thân, khốn khổ cái tâm, hối hận sao kịp !

Há chỉ làm lụy tới thê tử;

Mà còn phụ ơn cả mẹ cha.

Ngoảnh nhìn người áo gấm vẻ vang;

Thật đáng xấu hổ và sỉ nhục !

Kìa:

Làm người tốt và không tốt, phân biệt chỉ chỗ đó mà thôi;

Học chăm hay không chăm, còn gì khác như thế nữa!

Ta có vài lời như vậy;

Các ngươi hãy nhớ lấy!

M.X.H

CHÚ THÍCH

(1) Công bố nhân dịp kỷ niệm 550 năm ngày sinh của vua Lê Thánh Tông (1442-1992).

(2) Theo Lê hoàng ngọc phả, ký hiệu Thư viện Viện Hán Nôm A.678.

(3) Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, Hà Nội, 1972, T.3, tr.173.

(4) Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb KHXH, Hà Nội, 1992, T.1, tr.201.

(5) Theo Lê kỷ tục biên, ký hiệu Thư viện Viện Hán Nôm VHv.1303, tờ 26b.

(6) Hồ Chí Minh: Lịch sử nước ta.

(7) Thơ Nôm - Tự thuật.

(8) Đúng ra là Đỗ Huy Liêu, người xã La Ngạn, huyện Đại An, nay thuộc tỉnh Ninh Bình.

(9) Thể dụng: vốn là thuật ngữ của Tống Nho. ở đây “thể” có nghĩa là thể chất, có thực học, thực tài; “dụng” là tác dụng, là sự phát huy tác dụng của cái thể chất, cái thực học đó.

(10) Vị kỷ: vì mình. “Vị kỷ chi học”, là cái học cốt cầu tiến bộ ở nơi bản thân mình, có xuất xứ từ sách Luận ngữ, thiên Hiến vấn thứ 14: “Cổ chi học giả vị kỷ, kim chi học giả vị nhân” (người học ngày xưa cầu sở đắc ở nơi bản thân mình, người học ngày nay cầu để người khác biết mình).

(11) Hạ Vũ: tức vua Đại Vũ nhà Hạ, còn gọi là Hậu Vũ, là một ông vua hiền nổi tiếng trong lịch sử cổ đại Trung Quốc, khai sáng ra nhà Hạ. Cha là Cổn trị thủy không có công, bị giết. Ông nối sự nghiệp, 8 năm ở ngoài, 3 lần đi qua cửa mà không vào, tranh thủ thời gian để hoàn thành sự nghiệp trị thủy.

(12) Tăng sâm: một trong 72 học trò giỏi của Khổng Tử, nổi tiếng về giữ đạo hiếu. Ông là tác giả các sách Hiếu kinh, Đại học v.v... Tống Nho cho rằng chỉ có một mình ông là chân truyền được đạo thống của Khổng Tử. Câu “Mỗi ngày xét mình ba lượt” (Ngô nhật tam tỉnh ngô thân) có xuất xứ từ sách Luận ngữ, thiên Học nhi thứ nhất.

(13) Đổng Tử: Tức Đổng Trọng Thư, là một nhà triết học nổi tiếng thời Hán, giữ chức Bác sĩ thời Hán Cảnh Đế. Ông buông rèm dạy học, ba năm liền mắt không nhìn ra ngoài vườn, được mọi người suy tôn là thầy. Tác phẩm có Xuân thu phồn lộ v.v...

(14) Xương - Lê: tức Hàn Dũ, là nhà triết học, nhà văn nổi tiếng thời Đường. Ông thuở nhỏ mồ côi cha, nhờ khắc khổ kiên trì học tập mà thành đạt, đỗ Tiến sĩ đời vua Đường Đức Tông. Ông là người bác thông kinh sử, bách gia, văn chương có phong cách riêng, là một trong “Đường, Tống bát đại gia” (8 nhà văn lớn đời Đường, Tống).

(15) Lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số: tức “lục nghệ” (6 nghề) trong sách Chu Lễ . Đó là: Lễ, nhạc, xạ (bắn cung), ngự (đánh xe ngựa), thư (viết chữ), và số (tính toán).

(16) Học rồi thường xuyên luyện tập: lấy ý câu nói của Khổng Tử: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ” (Học mà được thường xuyên luyện tập, thì không vui hay sao?) trong sách Luận ngữ, thiên Học nhi thứ nhất.

(17) Tâm chính, ý thành: giữ cho tâm được ngay chính, cho ý được chân thành. Đó là những phương pháp tu dưỡng thân tâm, có xuất xứ từ sách Đại học.

(18) (19) Thi, Thư, Lễ, Nhạc: tên bốn kinh: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, trong Ngũ kinh (thêm Kinh Dịch) của đạo Nho.

(20) Bát quái, Cửu trù: “Bát quái” là 8 quẻ, gồm: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài trong Kinh Dịch . “Cửu trù” tức chín trù, gồm: 1. Ngũ hành, 2. Kính dụng ngũ sự, 3. Nông dụng bát chính, 4. Hiệp dụng ngũ kỷ, 5. Kiến dụng hoàng cực, 6. Ngải dụng tam đức, 7. Minh dụng kê nghi, 8. Niệm dụng thứ trưng, 9. Hưởng dụng ngũ phúc, uy dụng lục cực, có xuất xứ từ thiên Hồng phạm, Kinh Thư. Bát quái, Cửu trù ở đây chỉ Kinh Dịch, Kinh Thư.

(21) Bách gia chư tử: thuật ngữ chỉ 10 môn phái triết học tiêu biểu thời cổ đại Trung Quốc, gồm: Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia, Danh gia, Âm dương gia, Tung hoành gia, Tạp gia (Lã Thị Xuân Thu, Hoài Nam Tử ...), Nông gia, Tiểu thuyết gia.

(22) Có định có tĩnh, có lự có đắc: chỉ sự tập trung tư tưởng cao độ (định tĩnh), đào sâu suy nghĩ (lự) thì học tập mới có kết quả (đắc), có xuất xứ từ sách Đại học.

(23) Như thiết như tha, như trác như ma: như cắt như cứa, như mài như giũa. Chỉ người học có nhu cầu bức xúc, thôi thúc học tập (như thiết như tha) và hàng ngày cần cù chăm chỉ (như trác như ma), có xuất xứ từ sách Đại học và sách Luận ngữ, thiên Học nhi thứ nhất.

(24) Câu này lấy ý từ câu “học muốn hay thì ra làm quan” (học nhi ưu tắc sĩ), có xuất xứ từ sách Luận ngữ, chương Tử Trương thứ 19. Người xưa cho rằng, làm quan là cách tốt nhất để có cơ hội thi thố, ứng dụng những điều sở học của mình, góp phần đóng góp cho xã hội. Bên cạnh đó giúp mình được hưởng bổng lộc, vinh hoa, là thành quả chính đáng gặt hái được nhờ học tập mà có.

(25) Giành chức quan cao: dịch thoát chữ “thanh tử” tức là hai màu xanh, tía, mầu áo của bậc khanh, đại phu đời Hán, Cúi nhặt hạt cải: Hạ Hầu Thắng khi dạy học thường bảo học trò rằng: “Kẻ sĩ chỉ lo việc không sáng tỏ kinh thuật. Một khi kinh thuật sáng tỏ rồi, thì việc giành lấy chức quan cao, chỉ dễ như cúi nhặt hạt cải vậy” (Hán Thư, Hạ Hầu Thắng truyện).

(26) Đường mây nhẹ bước: dịch câu “thanh vân đắc lộ”, chỉ những người may mắn, học giỏi đỗ đạt, có địa vị cao trên con đường hoạn lộ.

(27) Bổng lộc sẵn ở trong: lấy ý từ câu nói của Khổng Tử “Học dã, lộc tại kỳ trung hĩ”, trong sách Luận ngữ, thiên Vệ Linh Công thứ 15.

(28) Lời dạy ở mô điển: “mô điển” là những thể văn răn giới về chính sự ở các đời Hạ, Thương, Chu chép trong Kinh Thư.

(29) Cái tâm kê khuyển: chỉ những ham muốn vật dục trong con người, nếu không biết chế ngự thì rất dễ bị buông thả, sa ngã.

(30) Chí hồng hộc: hồng hộc là hai loài chim bay cao, bay xa, chí hồng hộc là chỉ những người có chí, có hoài bão, có lý tưởng lớn lao.

(31) Tể Dư, gỗ mục chẳng thể dùng: Tể Dư là học trò của Khổng Tử, có tài nói năng, theo học khoa ngôn ngữ, nhưng kém ý chí, hay ngủ ngày, nên bị Khổng Tử chê là khác nào cây gỗ mục, không thể dùng để đẽo gọt, chạm trổ được. Chuyện này, có xuất xứ từ sách Luận ngữ, thiên Công Dã Tràng thứ 5.

(32) Từ Tử: chưa rõ.

(33) Câu này ý khuyên người học phải tự cường, cố gắng không biết ngừng nghỉ, tích thiểu thành đa, nếu giữa đường dừng lại, thì công phu trước vứt hết, như quả núi cao, thiếu một sọt đất cũng chẳng thành, có xuất xứ là sách Luận ngữ thiên Tử Hãn thứ 9: “Thí như vi sơn, vị thành nhất quĩ, chỉ, ngô chỉ dã” (Ví như đắp một ngọn núi, còn thiếu một sọt đất nên chưa thành, dừng lại, là ta tự dừng vậy)./.

TB

NGUYỄN THƯỢNG HIỀN VÀ BÀI
"GIANG HỒ NGẪU HỨNG"

THANH HOẰNG KHUÊ
LÊ XUÂN HÒA

Cụ Nguyễn Thượng Hiền là con thứ hai của cụ Ngũ Sơn. Cụ Ngũ Sơn đỗ đệ nhị giáp Nhã sĩ, giữ chức Thượng thư bộ Công, sung chức Kinh diên giảng quan (các triều Tự Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc), hàm Vinh Lộc đại phu, Hiệp biên đại học sĩ. Cụ nguyên huý Giản, sau đổi là Phiên, được vua ban chữ Thượng 尚 (Thành Thái thứ tư - 1892), từ đấy tên của Cụ là Nguyễn Thượng Phiên, người đương thời hay gọi Cụ Hiệp.

Cụ Thượng Hiền, theo tài liệu do dòng họ cung cấp(1) , có tên tự là Âu Tề (có sách ghi là Âu Trai), sau lại đặt tự là Đỉnh Thần, sau này khi xuất dương đổi là Đỉnh Nam, biệt hiệu là Mai Sơn, Long Sơn, cũng có lúc lấy tự là Thiếu Mai Sơn Nhân, lấy tên là Bão Nhiệt.

Cụ sinh giờ Mùi, ngày mười bảy tháng bảy năm Mậu Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 21 (tức vào khoảng 14, 15 giờ ngày 3-9-1868) tại dinh phủ Ninh Giang.

Năm lên 6 tuổi, Cụ bắt đầu đi học và tỏ ra đặc biệt thông minh, có năng khiếu về văn, thơ và câu đối. Có người kể lại rằng: một hôm Cụ Hiệp phụ tiên, Cụ Hiền đứng xem. Bỗng bút đào chỉ vào Cụ Hiền mà viết: “Thử nhi thập bát đại đăng khoa” (có nghĩa là “cậu bé này mười tám tuổi sẽ đỗ cao), rồi lại viết trên gạo cho Cụ một bài thơ như sau:

Ngộ nhập hồng trần tuý vi tinh,
Đại la ưng thị thác đăng doanh.
Tam tiên sơn hạ do tiền độ,
Thiên phất kinh trung dĩ thử sinh.
Địa ải Thang châu dung thiếu tuấn,
Thiên lưu lạc xã ngọa kỳ anh.
Phi vô kham phá phồn hoa nhãn,
Chỉ khủng đông phong thái bất bình.

Theo cách giải đoán thơ bói Tiên thì bài thơ trên đây có ý nghĩa như sau: “Đây là một vị Tiên giáng nhầm xuống cõi trần. Vừa xuống trần đã đỗ cao. Khi trẻ trung thì ở đất Thanh Hoa (Thanh Hóa). Lúc già thì ở nước ngoài. Bỏ cả công danh phú quý lo việc cho đời. Nhưng không gặp thời vận nên không thành công”.

Khoa thi năm Giáp Thân (1884) Cụ đỗ Cử nhân, lúc đó mới 17 tuổi.

Năm sau, 18 tuổi, Cụ thi Hội, rồi thi Đình. Cụ đỗ Đình nguyên Tam giáp, nhưng gặp biến cố Kinh thành thất thủ, chưa kịp truyền lô (thông báo danh sách), khoa thi ấy bị bỏ. Cách tám năm sau, đến năm Nhâm Thìn (1892), Cụ lại dự thi và lại đỗ Đình nguyên. Không ngờ có việc trục trặc trong việc quan trường ra đề thi, nhà vua bắt tổ chức thi lại. Thi lại, Cụ đỗ Nhị giáp Tiến sĩ, cũng gọi là Hoàng giáp.

Như vậy, kể về việc thi cử thì Cụ đã đi thi và đỗ 4 lần: 17 tuổi, đỗ Cử nhân, 18 tuổi, đỗ Đình Nguyên; 25 tuổi, lại đỗ Đình nguyên (hai lần này kỳ thi đều bị bỏ), và sau cùng đỗ Hoàng giáp.

Đi thi và đỗ không phải là ước nguyện của Cụ, song vì vâng mệnh cha, và cũng vì những lý do khác, Cụ đã phải đi thi và đã đỗ. Sau này, trong bài văn tế Cụ, Phan Bội Châu có viết: “Ngang mắt trắng liếc phường lưu lục, kệ thây cá chậu chim lồng; Bước mây xanh che mắt trần ai, thời cũng bảng rồng tháp nhạn...”, đủ nói rõ chí hướng của cụ Nguyễn Thượng Hiền trong cuộc sống thời đó.

Sau khi Nguyễn Thượng Hiền đỗ Hoàng Giáp, Cụ Hiệp dâng sớ cho con nghỉ 10 năm để đọc sách thêm. Vua chỉ cho nghỉ 3 năm, rồi bổ đi làm Đốc học Ninh Bình, sau đổi ra Đốc học Nam Định.

Năm Đinh Mùi (1907), thực dân Pháp phế vua Thành Thái, Cụ Hiền bèn xin từ chức về nhà để phụng dưỡng Cụ Hiệp khi đó đã 80 tuổi.

Lúc ấy, Hoàng Cao Khải biết Cụ là bậc nhân tài, đã tìm cách dỗ Cụ ra làm việc với Pháp, nhưng không được.

Để tránh con mắt cú vọ của thực dân và bè lũ tay sai, Cụ đã về ở ấp Lan Châu thuộc huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa, sát ngay chân núi Nga Sơn tức núi Nưa. ở đây Cụ đã ngầm liên lạc, kết giao với các bậc chí sĩ cách mạng như Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ v.v... cùng nhau tìm đường cứu nước.

Sau này trong tập thơ văn Nguyễn Thượng Hiền có nhiều bài nói lên tâm sự của Cụ và ca ngợi cảnh trí thiên nhiên ở vùng này, như hai bài Hoàn Sơn, bài Qui Na Sơn Biệt thư v.v...

Tháng ba năm Mậu Thân (1908), Cụ Hiệp mất. Cụ Nguyễn Thượng Hiền lo việc tang xong và ở nhà cư tang ba tháng. Sau đó Cụ bí mật cải trang, lên Lạng Sơn rồi sang Trung Quốc, gặp các nhà chí sĩ cách mạng, trong đó đặc biệt gắn bó là cụ Sào Nam Phan Bội Châu, cùng hoạt động mưu lược đuổi Tây cứu nước. Cụ đã liên kết với Tôn Dật Tiên (Tôn Văn) đã hoạt động mạnh trong công cuộc vận động cách mạng chống Pháp, vận động phong trào xuất dương, viết báo làm Tổng chủ bút tờ. Tĩnh Châu Nhật báo là một tờ báo cách mạng của Trung Quốc thời ấy. Rồi Cụ sang Nhật Bản, sang Xiêm hoạt động ráo riết, tập trung vào mục đích chống Pháp, giành lại độc lập, và tìm hướng làm quốc kế dân sinh, mong cho dân giàu nước mạnh.

Về hoạt động của Cụ ở nước ngoài, gần đây, năm 1982, trong tờ Sơn Tây đại học học báo của Trung Quôc có bài: “Tân Hợi Cách mạng tiền hậu Việt Nam chí sĩ Nguyễn Thượng Hiền lữ Tấn sử thực câu trầm”, tức là “Tìm lại dấu vết của nhà chí sĩ Việt Nam Nguyễn Thượng Hiền ở Sơn Tây (Trung Quốc) trước và sau Cách mạng Tân Hợi”. Bài viết gồm 6 phần: 1- Đề xuất vấn đề; 2- Thân thế Nguyễn Thượng Hiền; 3- Nguyễn Thượng Hiền ở Nhật Bản; 4- Nguyễn Thượng Hiền trong thời kỳ Cách mạng Tân Hợi; 5- Việc giao du của Nguyễn Thượng Hièn khi ở Sơn Tây; 6- Nguyễn Thượng Hiền mất. Bài viết cung cấp nhiều chi tiết về tư tưởng và hoạt động của Cụ trong ngót 20 năm bôn ba ở nước ngoài mà chúng ta chưa được biết. Sau đây là một đoạn trong bài báo: “Xuất thân thư sinh, vóc người nhỏ nhắn, nên lúc xuất dương, Cụ đã cải nữ trang mà đi trót lọt. Qua nhiều năm tháng bôn ba gian khổ với một tâm tư lo nghĩ triền miên, từ tuổi thanh niên cho đến lúc già, lại sống xa gia đình, một thân đất khách, nên sức khỏe của Cụ giảm sút mau. Những năm cuối, Cụ đã về nghỉ tại chùa Thương Tịch Quang Lan Nhược trên núi Cô Sơn ở giữa Tây Hồ, thuộc tỉnh Hàng Châu, và đã từ trần tại ngôi chùa ấy. Đấy là ngày mười ba, tháng mười một, năm ất Sửu, đối chiếu sang dương lịch là ngày 28 tháng 12 năm 1925. Năm ấy Cụ mới 57 tuổi. Thực hiện ý nguyện cuối cùng của Cụ khi lâm chung, người ta đã hỏa táng, đem tro rải xuống sông Tiền Đường. Vì vậy mà Cụ không có mộ. Cụ đã sống 57 năm. Tuổi t họ không cao. Nhưng với tâm hồn cực kỳ trong sáng, mang bầu nhiệt huyết rất đỗi ưu thời, Cụ đã hiến trọn cuộc đời cho lý tưởng vì dân vì nước”.

Nguyễn Thượng Hiền để lại một khối lượng tác phẩm khá lớn, chủ yếu được tập hợp trong Hạc thư ngâm biên, Hát Đông thư dị, Nam Chi tập, Mai Sơn ngâm thảo, Mai Sơn hợp toản thi tập...

Bài Giang hồ ngụ hứng sau đây là của Nguyễn Thượng Hiền làm tặng bạn bè trước lúc lên đường đi Trung Quốc. Bài này do Cụ Nhiên biệt hiệu Hi Hạo, cán bộ hưu trí ở phố Nguyễn Siêu (Hà Nội) cung cấp. Cụ Nhiên cho biết thêm: xưa, Nguyễn Thượng Hiền có chơi thân với thân phụ Cụ, lúc xuất ngoại đã để lại bài này, thân phụ Cụ và gia đình vẫn giữ gìn cẩn thận cho đến ngày nay. Nhận thấy đây là một tài liệu quý, chúng tôi xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo.

Phiên âm:

Giang hồ ngụ hứng

Giang hồ ngụ khách,

Thiên địa tản nhân.

Nhất tháp nhàn ngâm,

Chung niên lãn ngọa.

Trường phong xuy đáo, toại kiết thức ư danh sơn,

Cựu nguyệt lai thời, mỗi đăng lâm ư tuyệt đỉnh.

Phong tao lưu lạc, thiên thu chi phủ ngưỡng hà cùng?

Cảnh vật hoang lương, cô chương chi vãng lai thùy công?

Tuy bế môn thời hữu sách cú,

Nhi khai quyển bất dĩ thị Ngân

Hà kỳ: Trướng hạ thư nhân,

Đăng tiền tú sĩ.

Ngộ tương từ khách,

Nhận tác kinh sư.

Chấp điếm đồ lai, an hữu Dương Vân chi ỷ tự,

Cử bôi tự tiếu, duy dữ Lý Hạ chi huề nang.

Tòng ngã du hồ,

Dữ quân lạc thử.

Hoặc điểu cổ hoài nhân chi tác,

Hoặc đăng sơn lâm thủy chi ca.

Đắc cú tương chiêu,

Huề hồ cộng thưởng,

Tẩy trần khâm ư tốt tuế, hoạn hải giao lâm,

Yêu dật hứng ư phong tiền, thanh sơn đối ngã.

Chỉ hữu Tô thiên Lý luật, tương kỳ vãng triết ư thanh phong,

Nhược phù Lã sớ Trịnh tiên, tự hữu hậu lai chi năng giả.

Dịch nghĩa:

Khách ở chốn giang hồ,

Khắp đất trời nhàn tản.

Nhàn nhã ngâm nga một chõng,

Quanh năm nhác lười nằm khểnh.

Gió xa thổi tới, kết chặt với danh sơn,

Trăng cũ lại kìa, mỗi khi trèo lên tuyệt đỉnh.

Khách văn chương vắng vẻ, ngàn thu cúi ngửa sao cùng ?

Cảnh vật hoang lương, non cao vắng vẻ, biết cùng ai lui tới ?

Tuy an cư cửa đóng cũng có khi tìm thấy câu hay,

Nhưng không biết bảo cho ai khi mở quyển ?

Sao lại là thư sinh dưới trướng, tú sĩ trước đèn,

Lỡ làm khách văn chương, lầm làm thầy dạy sách.

Tự cười khi nâng chén, cho mình là Lý Hạ đeo thơ.

Theo ta du ngoạn ư ?

Cùng chung vui thú ấy.

Hoặc hoài cổ nhớ người cảm tác,

Hoặc lên non xuống suối ngâm nga.

Câu đắc ý tỏ trao nhau,

Bầu rượu ngon cùng thưởng thức.

Dũ bụi áo năm tàn, biển hoạn rời xa,

Trước gió tìm hồn thơ với non xanh đối mặt, chỉ có

Còn như Trịnh, Lã từ chương, tự có người đời sau theo kịp.

Dịch vần:

Khách ở chốn giang hồ,

Khắp đất trời nhàn tản.

Một chõng thư thả ngâm nga,

Quanh năm nhác lười nằm khểnh.

Gió dài đuổi tới, kết lại ở danh sơn,

Trăng cũ lại về, mỗi khi trèo lên tuyệt đỉnh.

Văn chương lác đác, ngàn năm cúi ngửa sao cùng,

Cảnh vật thê lương, non côi tới lui ai tá?

Dẫu cửa đóng, câu hay đôi khi cũng có,

Nhưng mở quyển, chẳng để dạy bảo ai.

Sao lại là thư sinh dưới trướng, tú sĩ trước đèn?

Lỡ làm khách thơ, lầm làm thầy dạy,

Cầm đệm đến suông, như Dương Vân cậy chữ(2)

Nâng chén tự cười mình, những cùng Lý Hạ đeo thơ(3)

Cùng chung lạc thú ấy.

Hoặc hoài cổ nhớ người cảm tác,

Hoặc lên non xuống suối ngâm nga.

Câu đắc ý tỏ trao nhau,

Bầu rượu ngon cùng thưởng thức.

Dũ bụi áo năm tàn, biển hoạn rời xa,

Trước gió tìm hồn thơ, non xanh đối mặt.

Chỉ có thơ phú Lý, Tô, hẹn câu triết lý đón gió thanh(4)

Còn như từ chương Trịnh Lã, tự có người đời theo sau kịp.(5)

T.H.K – L.X.H

CHÚ THÍCH

(1) Bài tưởng niệm do nhà giáo Nguyễn Thượng Xứng (cháu đích tôn của Cụ Nguyễn Thượng Hiền) đọc trong buổi lễ tưởng niệm thứ 66 ngày mất Nguyễn Thượng Hiền tổ chức tại ứng Hòa, Hà Tây, 18/ 12/ 1991.

(2) Dương Vân cậy chữ: chưa rõ điển cố.

(3) Lý Hạ, tôn thất nhà Đường, có tài thơ văn. Làm thơ không lập đề trước, mỗi khi cưỡi ngựa đi chơi, có tiểu đồng đeo túi gấm đi theo, hễ gặp tứ thơ hay, bèn viết bỏ vào túi đeo.

(4) Lý, Tô: tức Lý Bạch và Tô Đông Pha, hai nhà thơ lớn đời Đường.

(5) Trịnh, Lã: tức Trịnh Huyền, Lã Tổ Khiêm. Trịnh Huyền nhà thơ lớn đời Hán; Lã Tổ Khiêm nhà thơ đời Đường./.

TB

BÀ NGUYỄN THỊ ĐÀI VÀ BÀI THƠ
DUY NHẤT CÒN LẠI

HOÀNG THỊ NGỌ

Theo gia phả họ Nguyễn ở Tiên Điền (Hà Tĩnh) thì bà Nguyễn Thị Đài sinh năm 1752 và mất năm 1819. Bà là con gái của Nguyễn Khản và là vợ của Nguyễn Huy Tự (1743-1790) tác giả Hoa tiên truyện. Như vậy bà Nguyễn Thị Đài được sinh ra và lớn lên trong một gia tộc có truyền thống về văn học và khoa cử; được sống bên cạnh những nhân vật nổi tiếng như ông nội: Nguyễn Nghiễm (1707-1773); bố: Nguyễn Khản; chú ruột: Nguyễn Du (1766-1820). Rồi đến khi lấy chồng, bà may mắn được làm dâu một dòng họ cũng rất “môn đăng hộ đối”. Đó là họ Nguyễn ở Trường Lưu (Hà Tĩnh), với những tên tuổi còn lưu danh mãi mãi như bố chồng: Nguyễn Huy Oánh (1713-1798); chồng: Nguyễn Huy Tự. Sống trong hai dòng họ nổi tiếng như vậy, hẳn bà đã hấp thụ được những tinh hoa trong truyền thống văn hóa của gia đình. Đặc biệt là truyền thống trước tác bằng chữ Nôm. Tương truyền bà Đài cùng với chị ruột là Nguyễn Thị Bành đã sáng tác rất nhiều thơ Nôm và nổi tiếng là bậc tài nữ một thời. Chỉ tiếc rằng hầu hết các tác phẩm của bà đều đã thất truyền.

May mắn sao, trong cuốn Nguyễn Thị gia tàng của dòng họ Nguyễn Trường Lưu (Hà Tĩnh) còn ghi lại được một bài thơ của bà Nguyễn Thị Đài. Có lẽ đây là bài thơ duy nhất còn lại của bà. Bà viết bài thơ này để mừng thọ mẹ (tức cụ bà Nguyễn Huy Oánh) 70 tuổi. Cuốn Nguyễn Thị gia tàn g do Nguyễn Huy Vinh (1768-1818), con trai bà Nguyễn Thị Bành biên soạn. Nguyễn Huy Vinh hay chữ, nhưng sinh không gặp thời, nên lên ẩn ở núi Trung Sơn. Ông soạn cuốn Nguyễn Thị gia tàng vào đầu thế kỷ XIX. Nội dung của cuốn Nguyễn Thị gia tàng bao gồm những sáng tác của những danh nhân trong dòng họ Nguyễn Trường Lưu; danh sách 36 vị tiến sĩ là học trò trường cụ Nguyễn Huy Oánh. Ngoài ra, cuốn Nguyễn Thị gia tàng còn ghi lại một số bài thơ mừng thọ cụ bà Tham Oánh, nhân dịp cụ bà 70 tuổi. Bài thơ của bà Đài là một trong những bài thơ đó. Đặc biệt trong bài thơ này có một số chữ Nôm tiêu biểu cho chữ Nôm đời Lê. Ví dụ: các chữ sau ( 罒 ), trước ( 訳 )... Điều đó chứng tỏ rằng Nguyễn Huy Vinh đã ghi lại một cách trung thành bài thơ bà Đài sáng tác.

Sau đây chúng tôi xin trân trọng giới thiệu nguyên văn bài thơ Từ tôn đăng thất thập thọ của bà Nguyễn Thị Đài.

Từ tôn đăng thất thập thọ
(Mừng mẹ lên 70 tuổi)

Song thọ làu làu vẻ Vụ Tinh(1)
Chén hà ba(2) gấm tiệc Lai Đình(3).
Vầy xuân sau trước đào đơm trái,
Thơm nức ngoài trong quế rợp cành.
Bến Tảo(4) chút chưa lòng hiếu kính,
Thơ Nga(5) đôi nặng chữ sinh thành.
Trong bình mông cả(6) chi dâng thảo,
Riêng mượn non Hồng(7) chúc thọ canh(8).

H.T.N

CHÚ THÍCH

(1) Vụ Tinh: Sao Vụ Nữ. Người xưa thường ví sao Vụ Nữ với người đàn bà.

(2) Ba: hoa, bông hoa.

(3) Tiệc Lai Đình: Tiệc ở sân Lai. Theo Hiếu tử truyện: Lai Tử người đời Xuân thu, nổi tiếng là người con có hiếu. Đã 70 tuổi ông vẫn còn giả chơi trò trẻ con, mặc áo năm sắc sặc sỡ nhảy múa trước sân rồi giả vờ ngã làm cho cha mẹ vui.

(4) Bến Tảo: bến rau tảo, chỉ người phụ nữ hiền thục đảm đang.

(5) Thơ Nga: bài thơ Tinh Tinh giả nga trong phần Tiểu nhã (Kinh Thi), nội dung nói về yến tiệc tân khách. ở đây chỉ việc làm thơ trong tiệc mừng thọ mẹ.

(6) Bình mông cả: “Bình”: màn che xung quanh; “mông”: màn che bên trên. “Bình mông cả” chỉ bầu trời ban đêm.

(7) Non Hồng: núi Hồng Lĩnh ở Hà Tĩnh

(8) Canh: niên./.

TB

GÓP Ý BÀI "NHÂN ĐỌC MỘT THIÊN TRONG BẢN DỊCH HÀN PHI TỬ" CỦA LÊ VĂN QUÁN

ĐÀM PHI VŨ

Đây là những điểm thuộc thiên Năm bọn sâu mọt (Ngũ đố) trong sách Hàn Phi Tử (HPT) do Phan Ngọc (PN) dịch. Tôi không góp ý toàn thiên, mà chỉ đi vào những chỗ Lê Văn Quán (LVQ) đã nêu, theo thứ tự từng điểm.

* Điểm 1: ở câu “Toản toại thủ hỏa dĩ hoá tinh tao”.

- PN dịch: “Xoi cây lấy lửa để nấu thức ăn tanh hôi”.

- LVQ dịch lại: “... để khử mùi tanh hôi của thức ăn”, bởi lẽ “hóa” không phải là “nấu”.

- Ý kiến của tôi:

a) “Tinh tao” không thể dịch thành “tanh hôi” được, nên dịch thành “tanh tao”. Không có chữ “xú”. “Tinh tao” nguyên là tính từ, nhưng ở đây lại là danh từ, chỉ “thức ăn tanh tao”, tức loại thức ăn tươi sống (chưa nấu nướng) thường thuộc nguồn động vật, như cá, thịt v.v...

b) “Hóa” tuy nguyên nghĩa không phải là “nấu” nhưng lại là nấu, nấu nướng, “dĩ hóa” mà. Lửa có khả năng cải biến thức ăn tanh tao thành hết tanh tao.

Theo tôi có thể dịch câu 1 như sau: “Xoi cây lấy lửa để nấu nướng chế biến thức ăn tanh tao”.

* Điểm 2: ở câu “Thị dĩ thánh nhân, bất kỳ tu cổ, bất pháp thường khả, luận thế chi sự, nhân vi chi bị”.

Xin cắt đoạn nói cho dễ.

a) “Bất kỳ tu cổ, bất pháp thường khả”

- PN dịch là: “Không cốt trau dồi chuyện xưa, không noi theo những phép tắc bất biến”.

- LVQ dịch lại: “Không cốt làm theo đạo xưa, không bắt chước lệ cũ”.

- Bàn: Chữ “tu” đây không có nghĩa là “sửa” mà có nghĩa là “học”, hay “học thêm”, như trong chữ “tu nghiệp”. Vả lại nói “trau dồi chuyện xưa” nghe không ổn, nói “làm theo” như LVQ ổn hơn, nhưng len chữ “đạo” vào đây làm hẹp nghĩa. Còn chữ “cố” là “cũ”, không phải chữ “cố” dịch là “xưa”, hẹp nghĩa.

“Bất pháp thường khả” dịch “không noi theo những phép tắc bất biến”. “Phép tắc bất biến” nghe như vẻ “quy luật”, “định luật”, theo tôi không ổn.

Chữ “thường khả”, có cái ý “khả” thì cả PN và LVQ không thấy nói đến.

b) “Luận thế chi sự, nhân vi chi bị”. LVQ phân tích nhiều về chữ “sự” và nhấn mạnh là “tình hình”, chứ không phải “việc” như PN đã dịch. Để xác định chỗ này, ta nên đề cập lại một tí đặc điểm ngữ pháp của Trung Quốc, khác ta là đảo ngược trong việc cách cú, đồng thời nhìn lại vị trí chữ “chi” mà trong Hoa ngữ ngày nay là chữ “đích”. Đây là “Luận thế chi sự” chứ không phải “Luận chi thế sự”. “Luận thế chi sự” là “cái việc luận thế”. Cho nên dịch như PN là đúng.

Tóm lại, để thoát, gọn, không xa tinh thần và ý tứ, theo tôi có thể dịch câu 2 như sau: “Cho nên bậc Thánh nhân không bo bo theo cái cũ, hành động khuôn rập dễ dãi, từ việc xét kỹ thời thế mà đề ra đối sách”.

* Điểm 3 + 4: ở câu “Bạc hậu chi thực dị dã”

- PN dịch: “Bởi vì một bên sang, một bên hèn, thực tế rất khác nhau”.

- LVQ dịch lại: “Tình hình thực tế lợi ích lớn nhỏ khác nhau”.

- Bàn: Liên hệ với câu sau ở điểm 4, có vế “đa thiểu chi thực dị dã” mà khi dịch LVQ có nói đến chữ “lương thực”. Vậy tôi đặt vấn đề, chữ “thực” trong “lương thực” và “thực” trong “thực tế” về tự dạng và nghĩa khác nhau. Dịch câu 3, cả PN và LVQ đều có dùng chữ “thực tế”, và dịch câu 4 cũng thế. Vậy thì cả câu 3 và câu 4 đều “thực” là thật.

b) Câu 3 và câu 4 ở phần cuối mỗi câu không cần thêm các bổ ngữ “quyền lợi” (PN) hay “lợi ích” (LVQ) hoặc “lương thực” (LVQ).

Tóm lại: câu 3 có thể dịch: “Bạc hay hậu, thực tế khác nhau”. Và câu 4: “Không phải coi nhẹ người ruột thịt, yêu khách qua đường, mà có nhiều, có ít, tình hình thực tế khác nhau”.

ý riêng tôi thì dịch gọn như thế ít lo sai. Còn muốn hiểu rõ thì phải đặt các câu vào trong cả đoạn văn. Tách từng câu không thể rõ ràng đầy đủ được. Nguyên bản cũng thế mà bản dịch cũng thế thôi.

* Điểm 5: Câu “Kim Nho, Mặc giai xưng Tiên vương, kiêm ái thiên hạ, tắc thị dân như phụ mẫu chi ái tử. Hà dĩ minh kỳ nhiên?”.

- PN dịch: “Nay hai phái Nho và Mặc đều ca ngợi các Tiên vương, yêu tất cả thiên hạ, nên dân chúng xem họ như cha mẹ. Họ lấy cái gì để chứng minh điều đó”.

- LVQ dịch lại: “Nay ... yêu tất cả thiên hạ, đối đãi dân chúng giống như cha mẹ yêu con mình...”

- Bàn:

a) Trước khi dịch, cần ngắt câu lại: “Kim Nho, Mặc giai xưng (:) Tiên vương kiêm ái thiên hạ, tắc...” Nếu không ngắt câu như thế thì hoá ra chủ ngữ của “kiêm ái” và của “thị dân” là Nho Mặc chứ không phải là “Tiên vương” và như thế sẽ vô nghĩa. Vì ngắt câu chưa ổn, nên PN dịch “xưng” là khen (khen các Tiên vương), LVQ dịch là ca ngợi (Tiên vương) v.v... nên tinh thần hơi chệch như nhau.

b) “Thị” PN dịch là “xem”. LVQ dịch lại là “đối đãi”. Theo tôi “xem” là đúng. “Đối đãi” chỉ nói được cử chỉ, thái độ bên ngoài không nói được cả tình cảm bên trong.

c) Chủ ngữ của “thị” là “Tiên vương”, vị ngữ của nó là “dân”. Đảo “dân” làm chủ ngữ, “Tiên vương” làm vị ngữ là không đúng, vì nguyên văn không nói “dân thị Tiên vương như phụ mẫu”. LVQ nhận xét đúng.

Tóm lại, câu 7 có thể dịch như sau:

“Nay Nho, Mặc đều tán dương rằng: Các Tiên vương yêu cả thiên hạ, nghĩa là xem dân như con đẻ của mình. Lấy gì chứng minh điều đó?”.

* Điểm 6: Đoạn văn: “Trọng Ni, thiên hạ thánh nhân dã, tu hành minh đạo, dĩ du hải nội. Hải nội duyệt kỳ nhân, mỹ kỳ nghĩa, nhi phục dịch giả thất thập nhân. Cái quý nhân giả quả, nặng nghĩa giả nan dã. Cố dĩ thiên hạ chi đại, nhi vi phục dịch giả thất thập nhân, nhi vi nhân nghĩa giả nhân”.

- PN dịch: “Trọng Ni là bậc Thánh nhân trong thiên hạ. Ông ta trau dồi thân mình, đi chu du trong thiên hạ. Những người trong thiên hạ chuộng chữ nghĩa của ông ta có bảy mươi người. Như thế đủ thấy những kẻ quý chữ nhân rất ít, những kẻ có thể làm được chữ nghĩa rất hiếm. Cho nên cả thiên hạ rộng lớn như thế mà những người theo nhân nghĩa chỉ có bảy mươi người và người nhân nghĩa chỉ có một người”.

- LVQ dịch lại: Trọng Ni... tu thân dưỡng tính, tuyên dương học thuyết Nho gia của ông ta, đi du thuyết trong thiên hạ. Người trong thiên hạ yêu mến điều nhân, ca ngợi điều nghĩa của ông ta, nhưng chỉ có bảy mươi người theo hầu hạ ông ta. ấy bởi người coi trọng điều nhân còn quá ít, người có thể làm theo điều nghĩa cũng rất khó. Cho nên thiên hạ tuy rộng lớn như thế, nhưng chỉ có bảy mươi người theo hầu (Khổng Tử) và người làm nhân nghĩa chỉ có một mình Khổng Tử”.

- Bàn: Khổng Tử, đạo gia, sống thời Xuân thu. Hàn Phi Tử pháp gia, sống thời Chiến quốc, ít nhiều đều là thời loạn. HPT chống học thuyết Khổng Tử, cho rằng thời loạn mà thuyết giáo đạo đức là vô bổ. Trong đoạn văn trên cũng thể hiện ý tứ có phần mỉa mai.

Đoạn văn hơi dài, vì vậy xin nêu những ý chính trong hai lời dịch của PN và LVQ để bàn cho dễ.

- a) “Tu hành minh đạo, dĩ du hải nội”.

- PN dịch là: “Trau dồi thân mình (không có ý “minh đạo”), đi chu du thiên hạ”.

- LVQ dịch lại là: “Tu thân dưỡng tính, làm sáng (tuyên dương) học thuyết của ông, đi du thuyết trong thiên hạ”.

Cả hai dịch giả đều bỏ qua chữ “dĩ” nghĩa là “để”, nó xác định hành động sau là mục đích của hành động trước. Nếu đồng ý phải có chữ “để”, thì có thể nêu vấn đề: “đi chu du” (PN) hay “đi du thuyết” (LVQ) - thêm chữ “đi” là thừa, nói “du thuyết” hay “chu du” là đủ - thế thì “để du thuyết trong thiên hạ” cần gì phải đặt vấn đề “tu thân dưỡng tính”? Cái cần thiết là làm sao cho sáng cái học thuyết của mình để thuyết phục thiên hạ.

Để dịch chỗ này, tôi thấy cần lưu ý đến ngữ pháp và ngôn ngữ của văn Hán. Không phải “tu” là một từ riêng, và “hành minh đạo” là một cụm từ riêng như LVQ nghĩ và để giữa hai dấu ngoặc. “Hành minh đạo” không có nghĩa là “làm sáng cái đạo” mà là “thực hành cái đạo sáng” về “minh” ở đây là tính từ. “Làm sáng” văn Hán không nói là “hành minh” như văn Việt, chỉ một từ “minh” là đủ rồi. “Minh” ở đây là động từ. “Minh đạo” là làm sáng cái đạo.

Ở đây không có vấn đề “tu thân”. Nếu có thì người ta sẽ nói “tu thân minh đạo”. Đây là “tu hành”, một động từ ghép có nghĩa là “sửa sang”, “trau chuốt”, “trau dồi”, như Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề “tu hành chính quả”, tức là “trau dồi hoàn chỉnh” cái học thuyết đã lý hội được của ông ta. Khổng Tử cũng trau dồi làm sáng cái học thuyết của mình (tu hành minh đạo) để thuyết phục được thiên hạ.

b) “Hải nội duyệt kỳ nhân, mỹ kỳ nghĩa”.

- PN dịch là: “Những người trong nước chuộng chữ nghĩa của ông” (bỏ sót chữ “nhân”).

- LVQ dịch lại: “Người trong thiên hạ yêu mến điều nhân, ca ngợi điều nghĩa của ông ta”.

- Bàn: Chữ “hải nội” dịch là “người trong nước” (PN).

Cả cái Trung Quốc thời bấy giờ (thời Xuân thu) cũng gọi là nước. Lãnh thổ chư hầu cũng gọi là “nước”, như nước Sở, nước Tề v.v... Khổng Tử đã chu du bốn nước (Lỗ, Tề, Tấn, Sở). Nếu nói trong “nước”, người ta có thể hiểu là “trong nước Trung Quốc”, cũng có thể hiểu là chỉ “trong nước Lỗ quê ông ta cho nên nói “trong thiên hạ” như LVQ là hơn.

“Duyệt” có mấy nghĩa: 1- là “vui”, như trong câu của Khổng Tử: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ?” (học mà thỉnh thoảng đưa ra áp dụng, há chẳng vui sao?). 2- là “xem”, “xem xét”, như “duyệt binh”, “duyệt y” (xem và chấp nhận, vì có chữ “y”). Cho nên dịch chữ “duyệt” là chuộng (PN), là yêu mến (LVQ) đều chưa sát.

Còn “mỹ” dịch là ca ngợi” (LVQ) cũng chưa ổn.

Dịch như trên, theo tôi, chưa thể hiện được cái ý mỉa mai của HPT đối với việc chu du, thuyết nhân nghĩa của Khổng Tử. Theo tôi câu “Hải nội duyệt kỳ nhân, mỹ kỳ nghĩa” nên dịch thoát như sau: “Người trong thiên hạ thấy chữ nhân của ông hay, chữ nghĩa của ông đẹp”...

c) “Nhi phục dịch giả thất thập nhân”. “Nhi”: chữ “nhi” ở đây hay lắm. Nó mang cái ý than thở và kế tục cái tinh thần mỉa mai xuống vế dưới. Nên theo tôi nên dịch là “mà” không dịch là “nhưng”, nó thẳng thừng quá, mất cái ý thương hại.

“Phục dịch” - Theo LVQ từ “phục dịch” chỉ có một nghĩa là “hầu hạ”, và “phục dịch giả” là người hầu, và tiếp đó: “chỉ có bảy mươi người theo hầu hạ ông ta”. Một nhà hiền triết mà có đến chừng đó “người hầu hạ”, còn ít sao?

Để dịch chỗ này, cho phép tôi “móc” một tí khái niệm về “lý luận ngôn ngữ học” (linguisticology) là: Mọi ngôn ngữ nói chung và từ ngữ nói riêng đều có sinh, biến hoá (trượt, phình, teo, tùy theo điều kiện) và chết, nếu các yếu tố bảo đảm sinh tồn không còn nữa. Về ngôn ngữ như tiếng Latin (tử ngữ), về từ ngữ thì nhiều, mà trong từ điển chua là “cổ”. Nói về trượt, thì có trượt theo thời gian và trượt theo không gian. Ta (Việt Nam) lại dịch văn cổ Trung Quốc thì chịu cả hai thứ trượt. Về trượt không gian, tôi ví dụ chữ “Serviteur” của Pháp (người phục vụ) mà Nguyễn Văn Vĩnh cách đây gần thế kỷ đã dịch thành đầy tớ (nô bộc) do ảnh hưởng phong kiến của ta. Và đi ngược lại thời gian, nếu đây là người hầu hạ, thì HPT đã viết là “nô bộc”.

Cho nên tôi nghĩ: muốn dịch chữ “phục dịch giả” phải làm chuyện “tầm nguyên” (etymology).

“Phục” là “cúi”; “phục tùng” là “cúi đầu đi theo”.

“Dịch” là “làm”; “phục dịch” là “cúi đầu làm theo”, như bây giờ ta gọi là “tuân hành”, tức nghe theo và làm theo. Chữ “Phục dịch giả” này, cả trăm năm trước, ông cha ta (Việt Nam)đã dịch là “học trò”. Học là chịu nghe, tiếp thụ, và “trò” là “làm theo”. Nếu muốn nói chữ, thì nói “môn sinh”, “đồ đệ”. Chữ “đồ đệ” Việt hóa hơn.

d) “Cái quý nhân giả quả, năng nghĩa giả nan dã”.

- PN tránh dịch chữ “nan” có lý do, nên dịch ra “hiếm”.

- LVQ trọng chữ “nan” nên dịch là “khó” (người có thể làm điều nghĩa cũng rất “khó”). “Người” thì “hiếm” chứ sao lại “khó”? Không lôgic.

Sở dĩ sai hoặc không lôgic như thế và xác định chữ “giả” nghĩa là “người”. Còn trong trường hợp này thì “giả” nghĩa là “ấy”, là “là”. Do đó có thể dịch đoạn này như sau: “ấy bởi quý được chữ nhân là hiếm, làm được chữ nghĩa là khó”.

Tóm lại cả câu 8 có thể dịch là:

“Trọng Ni là bậc thánh nhân trong thiên hạ, trau dồi làm sáng học thuyết của mình để chu du trong thiên hạ. Người ta thấy chữ nhân của ông hay, chữ nghĩa của ông đẹp, mà học trò chỉ bảy mươi người. ấy bởi quý được chữ nhân là hiếm, làm được chữ nghĩa là khó. Cho nên thiên hạ rộng lớn mà đồ đệ chỉ bảy mươi người, và người nhân nghĩa chỉ một (mình ông)”.

* Điểm 7: Câu “Kim học giả chi thuyết nhân chủ dã, bất thừa tất thắng chi thế, chỉ viết vụ hành nhân nghĩa, tắc khả dĩ vương”.

- PN dịch: “Bọn học giả ngày nay, thuyết phục nhà vua lại không bảo dựa vào cái thế tất thắng, mà cứ dạy cho họ lo việc nhân nghĩa, cho rằng làm như thế có thể làm vương”.

- LVQ dịch lại: “Bọn học giả nhà Nho ngày nay khuyên vua nói không nên dựa vào quyền thế bắt người ta theo, chỉ cần thi hành nhân nghĩa thì có thể làm vua”.

- Bàn: Để dịch câu này, theo tôi cần đặt trước hai vấn đề: một là, chủ thuyết của Hàn Phi Tử, hai là bối cảnh lịch sử thời Chiến Quốc.

1) Chủ thuyết của HPT là thế, lực, quyền, pháp. Dùng thế tạo lực, dùng lực đoạt quyền, dùng quyền hành pháp, và ngược lại: pháp... quyền... lực... thế v.v... đối nội chủ yếu là quyền (quyền hành) và pháp (pháp luật), đối ngoại chủ yếu là thế và lực.

2) Bối cảnh lịch sử là thời loạn. Tuy chính quyền trung ương thuộc nhà Chu nhưng không quản được các nước chư hầu. Về tập tục thì chỉ vua nhà Chu có danh hiệu “Vương”, còn vua các nước chư hầu chỉ xưng “công”, “hầu” như Tề công, Hàn hầu. Chỉ có vua nước mạnh mới dám dùng vương hiệu, như Sở Bá Vương (Hạng Vũ). Vua nhà Chu chỉ có danh nghĩa. Các vua chúa chư hầu thôn tính nhau, thần phục các nước khác, để giành quyền bá chủ và xưng vương. Khi nhà Chu mất, nhièu nước không mạnh lắm cũng xưng vương.

Từ đó xin có một số nhận định sau:

- a) “Nhân chủ” đây phải ở số nhiều, là “vua chúa” các nước chư hầu. Dịch “nhà vua” (PN) hay “vua” (LVQ) không thích hợp. Nói “vua chúa” đúng hơn.

- b) “Vương”, danh hiệu của vua một nước mạnh làm bá chủ nhiều nước khác. Không đủ mạnh chỉ dám xưng “công”, “hầu” “nhân chủ” cũng dịch là vua, mà “vương” cũng dịch là vua như LVQ không ổn. Cuối đoạn đề nguyên chữ “vương” như PN là đúng.

- c) “Bất thừa tất thắng chi thế”

Làm thế nào để bá chủ chư hầu, xưng “vương” được, rõ ràng là vấn đề đối ngoại. Quan điểm của HPT là phải thế và lực (thừa thế tiến lên). Thời loạn không thể thuyết giáo đạo đức mà làm “vương” được. Phải hành động thực tiễn. Dịch là “không nên dựa vào quyền thế bắt người ta phải theo” như LVQ, thì nghe như vấn đề đối nội. Dịch là “không bảo dựa vào cái thế tất thắng” như PN tôi thấy là được, nhưng chữ “dựa” không nói được cái tính năng động của HPT. Theo tôi, nói “... thừa cái thế tất thắng”, người đọc vẫn hiểu được chữ “thừa”.

- d) “Kim học giả” - chỗ này tôi thấy phải ngắt câu cách khác: “Kim, học giả...” tức là “Nay, bọn học giả...” Cả PN và LVQ đều dịch là “Bọn học giả ngày nay”. Tôi thấy không ổn. Thế bọn học giả ngày xưa thì sao? Chẳng nhẽ họ khớp với cái chủ thuyết của HPT ? Phải dịch chữ “Kim” ở đây như chữ “Kim” ở câu 7 (Kim Nho Mặc).

LVQ dịch, có bổ sung thêm là “Bọn học giả nhà Nho”. Nói như vậy thừa mà thiếu, bởi HPT không phải chỉ phản đối Nho, mà cả Mặc... Vả lại HPT dùng chữ “học giả” để chỉ những người mọt sách, lý thuyết viển vông, không hành động thực tiễn, khác những người thức thời mà ông gọi là “thức giả”. Cho nên theo tôi chỉ để nguyên chữ “học giả” là tốt.

Tóm lại câu 7 có thể dịch như sau:

“Nay, bọn học giả khuyên vua chúa, không bảo thừa cái thế tất thắng (mà hành động), lại bảo cứ dùng nhân nghĩa là có thể làm vương”.

* Điểm 8: Câu “Phù ly pháp giả tội”

Cả PN và LVQ không thấy đề cập đến chữ “phù”. “Phù” nào? Nếu “phù” là “đỡ” thì “phù ly pháp” là ủng hộ việc xa rời pháp luật”. Nếu “phù” là “nổi”, thì có nghĩa là “lỏng lẻo pháp luật”. Không có gì để nói là “vi phạm”. Mà “vi phạm” thuộc về góc độ khác. Nên nói là có tội, không nên nói là bị trị tội, dứt khoát quá, vì HPT là pháp gia (triết) chứ không phải là nhà cầm quyền.

- Từ “Văn học” LVQ cho rằng nó khác bây giờ, và dịch “văn học” thành “văn hiến cổ điển”. Thế “văn hiến” không có cổ điển lại là “văn học” hiện đại sao?

Trong văn hiến (tạm dùng chữ civilization) có văn học (letter, littérature), nhưng văn học không đồng nghĩa với văn hiến. Tôi thấy chữ “văn học” thời đó (cố nhiên là cổ điển) không khác mấy chữ “văn học” bây giờ. Thí dụ trong câu Khổng Tử nhận xét cái tài của từng người học trò, có nói:

“- Giáo dục: Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Bá Ngưu, Trọng Cung.

- Ngôn ngữ: Tể Ngã, Tử Cống.

- Chính sự: Nhiễm Hữu, Quý Lộ.

- Văn học: Tử Du, Tử Hạ...” v.v...

Văn hiến bao quát những mặt đó. Sự phân biệt rõ ràng từng mặt như thế, không khác t a bây giờ mấy. Vì vậy tôi tán thành PN về điểm này: “văn học” cứ dịch là “văn học”.

* Điểm 9: Ở mẫu câu: “Kiên giáp lệ binh dĩ bị nạn”. “lệ binh” không phải là “khích lệ binh sỹ” như PN dịch. “Làm chắc áo giáp, mài sắc binh khí” như LVQ là đúng.

* Điểm 10: - Câu “... Vô tư kiếm chi hãn, dĩ trảm thù vi dũng. Thị cảnh nội chi dân, kỳ ngôn đàm giả tất quy ư pháp, động tác giả quy chi ư công, vi dũng giả tận chi ư quân”.

- PN dịch: “Không có thanh kiếm tỏ ra ngang tàng mà lấy chuyện chém đầu quân địch làm dũng cảm. Vì vậy dân chúng trong nước khi nói năng đều nói theo phép tắc, mọi hành động đều cốt lập công, mọi sự dũng cảm đều nhằm vào việc quân”.

- LVQ dịch lại: “Không dùng sự can phạm của thanh kiếm riêng, mà lấy việc chém đầu quân địch làm dũng cảm. Do đó, dân chúng trong nước kẻ nói năng ắt phải tuân theo pháp độ, những người dùng sức (lao động chân tay) đều sẽ trở về với công việc đồng ruộng, những người dũng cảm đều sẽ tham gia quân đội”.

- Bàn: Xin ngắt từng ý để nói cho dễ.

a. “Vô tư kiếm chi hãn, dĩ trảm thù vi dũng”.

“Vô: Cả PN và LVQ đều dịch “vô” là “không”. Chữ “vô” ở đây nghĩa là “dừng”.

“Hãn”: PN dịch là “ngang tàng” . “Ngang tàng” chỉ mạnh hơn “hống hách” thôi, chưa phải “hãn”. Tôi nghĩ nên lấy chữ “hung bạo”, tốt hơn hết là chữ “hung hãn”. LVQ dịch là “can phạm” thì xa. Hung hãn cũng có thể can phạm nhưng cũng có thể chưa can phạm, mới đến mức phạt “vi cảnh” thôi!

“Vô tư kiếm chi hãn” mà dịch là “Không có thanh kiếm tỏ ra ngang tàng” (PN) hoặc “Không dùng sự can phạm của thanh kiếm riêng” (LVQ) thì ý tứ khó hiểu và lối hành văn hơi lạ tai. Theo tôi có thể dịch thoát như sau:

“Đừng ỷ có gươm mà (ngang tàng) hung hãn”.

b. “Thị cảnh nội chi dân, kỳ ngôn đàm giả tất qui ư pháp”.

- PN dịch là: “Vì vậy dân chúng trong nước khi nói năng đều theo phép tắc”.

- LVQ không đồng ý dịch nhóm từ: “Kỳ ngôn đàm giả” là “khi nói năng” bởi lẽ sau chữ “dân” có dấu phảy, nên đã dịch lại là “kẻ nói năng”...

Theo tôi, có dấy phảy hay không có, chỗ đó không quan trọng bởi nó không ảnh hưởng đến cách hiểu nội dung. Cái quan trọng là ở chữ “kỳ”, đó là đại từ quan hệ (giống chữ “dont” của Pháp) bổ ngữ gián tiếp của chữ “dân” nằm ngay trước nó. “Ngôn đàm” của ai? “Ngôn đàm” của dân. Và như thế nhóm từ “ngôn đàm của dân” phải là chủ ngữ của “qui ư pháp”. Do không nắm chữ “kỳ” nên LVQ đã dịch chữ “giả” là “kẻ” và suy đoán xa rằng đó là chỉ “bọn du thuyết” phải tuân theo pháp luật. PN dịch câu này như trên là đúng. Cũng có thể nói hơi khác một tý là “Nói năng (của người dân trong nước) phải đều theo pháp luật”. Chữ “pháp độ” (LVQ) khó hiểu.

c. “Động tác giả quy chi ư công”

- PN dịch là: “Mọi hành động đều cốt lập công”.

- LVQ dịch lại là: “những người dùng sức lực (lao động chân tay) đều sẽ trở về với lao động đồng ruộng”.

- Bàn: chữ “lập công” (PN) nghe có vẻ chiến trận quá. Không phải dân chúng ai cũng ra trận. Dịch lại như LVQ không ổn. “Dân trong nước” là chỉ tất cả, đâu phải riêng người lao động chân tay. Nếu bảo tất cả về làm ruộng, thì ai làm các nghề khác? Dịch như trên (LVQ) thì đối chiếu với nguyên văn ở điểm c., tôi thấy không có cơ sở để dịch như vậy.

Theo tôi, câu này có thể dịch như sau: “Mọi việc làm qui về mặt hiệu quả (năng suất)”.

d. “Vi dũng giả tận chi ư quân”.

- PN dịch là: “Mọi sự dũng cảm đều nhằm vào việc quân”.

- LVQ dịch lại: “Những người dũng cảm đều sẽ tham gia quân đội”.

- Bàn: Chữ “kỳ” ở trên, đồng thời là chữ “kỳ” của cả ba ý, tức là “kỳ ngôn đàm giả”, “kỳ động tác giả”, và “kỳ vi dũng giả”, cho nên chữ “giả” ở ý cuối cùng này vẫn không thể dịch là: “những người” như LVQ. Nói “những người dũng cảm đều sẽ tham gia quân đội” rất khó thực hiện. Làm sao xác định được ai là dũng cảm để buộc họ tham gia quân đội. Nếu HPT đặt vấn đề như vậy thì chắc dân chúng ít ai nhận mình là dũng cảm để đi chết cho quyền lợi của vua chúa.

Tôi thấy dịch như PN là được. Được ở hai mặt. Một là ý, hai là văn, gọn gàng và nhịp nhàng cùng với hai vế trên. Tuy nhiên chưa lột hết tinh thần của tác giả. Tác giả không nói “dũng cảm”, mà nói “vi dũng” ý là chỉ vào bọn “Tư kiếm nhi hãn” ở đoạn trên, cho nên “vi dũng” là “tỏ ra dũng cảm”. Và chữ “kỳ” trên vẫn là đại từ quan hệ, nhưng phải dịch là “Ai”. “Ai tỏ ra dũng cảm” ... Chữ “giả” ở chỗ này nên dịch là “thì”. Chú ý chữ “tận” có thể dịch là “đưa hết”, “trút”. Chữ “chi” nghĩa là “cái đó”. “Ư quân”, dịch “nhằm vào việc quân” như PN là đúng.

Ta nhớ lại HPT là một pháp gia, quan điểm là trị quốc (giữ trật tự an ninh trong nước) bằng pháp luật, cho nên cả ba ý trên đều là vấn đề trật tự trong nước. Đại ý như ta nói: đừng nói năng lung tung, đừng làm việc lờ phờ, đừng càn quấy, có gan thì mang cái gan đó ra mặt trận mà đánh nhau.

Tóm lại toàn bộ câu 12 có thể dịch như sau:

“...Đừng ỷ có gươm mà ngang tàng hung hãn, lấy việc chém đầu quân địch làm dũng cảm. Vì vậy dân trong nước nói năng phải theo phép tắc, làm việc phải có hiệu quả, ai tỏ ra dũng cảm thì hãy mang hết cái dũng cảm đó nhằm vào việc quân”.

* Điểm 11: Câu “Sự thành tắc dĩ quyền trường trọng, sự bại tắc dĩ phú thái xử”.

- PN dịch: “Nếu chủ trương của họ kết quả, thì quyền họ càng thêm lớn, nếu chủ trương của họ mà thất bại, thì họ đã được giàu có rồi mới rút lui”.

- LVQ dịch lại: “Nếu sự tình thành công thì bọn họ dựa vào quyền thế mà được trọng dụng lâu dài (ở trong nước), sự tình thất bại thì họ dựa vào của cải thu được mà rút lui yên thân”.

- Bàn:

a) “Sự”, PN dịch là “chủ trương”. Nếu đây là một chiến dịch đang được tiến hành, thì nó đã vượt ra ngoài phạm vi “chủ trương” rồi, không ổn. LVQ dịch là “sự tình”, nghĩa là “tình hình của sự việc”. Đó là một trạng thái, không thể nói “thành công hay thất bại” được: - cũng không ổn. Theo tôi cứ dịch “sự” là “việc”, hoặc “sự việc”.

b) “Dĩ quyền trường trọng”, PN dịch bỏ sót chữ “dĩ” là “dùng”, tước bỏ mất cái chủ định. LVQ dịch “dĩ” là “dựa”, làm yếu tính chủ định. Ta “dựa” vào cái gì, tức là cái đó vững hơn ta. Ta “dùng” cái gì tức cái đó tùy thuộc ta. Tôi thấy cứ đơn giản dịch “dĩ” là “dùng” không sai. “Trường trọng” PN dịch là càng thêm lớn. “Trọng” không có nghĩa là “lớn”. “Trường”, dịch là “càng thêm”, mà lại là “càng thêm lớn” thì bỏ mất tính thời gian (dài). “Trọng”, LVQ dịch là “trọng dụng”. Và chua thêm “ở trong nước”. Đây là vấn đề vua chúa các nước đánh nhau để thuần phục những nước khác, ai tóm thu được nhiều nước thì ngoi lên giành bá quyền, chứ không ai “bổ dụng” họ, cho nên không thể nói là “trọng dụng”. Theo tôi nên nói là “trọng vọng”. LVQ chua thêm “ở trong nước”, càng không đúng nữa. “Dĩ thú thoái xử”, PN dịch là “họ đã được giàu có rồi mới rút lui”. Theo đây, người ta sẽ nghĩ rằng, chưa giàu có thì họ chưa chịu rút lui, không ổn. Vấn đề là, bại thì rút lui, còn đã là vua chúa, trừ trường hợp cá biệt, vị nào chả giàu; LVQ dịch là “họ dựa vào của cải thu được mà rút lui yên thân”. Của cải thu được lúc nào, trong lúc làm “cái việc” thất bại đó, hay trước nữa? Theo tôi nếu đồng ý đã là vua chúa tất phải giàu, thì cứ dịch “dụng phú” là “dùng cái giàu”. Tác giả không phát triển, thì dịch giả không nên phát triển thay. Nếu thiếu ý, đó là chuyện của tác giả, nếu đủ ý mà đọc không hiểu, đó là việc của độc giả. Chữ “thoái xử”: PN dịch là “rút lui”, không nói đến “xử”. LVQ dịch là “rút lui yên thân”, tức dịch đủ cả “thoái” và “xử”. Để dịch chữ “thoái xử” tôi xin phép nói qua một tí về quan điểm của tác giả. Hàn Phi Tử nhìn thiên hạ và con người, nhất là các bậc vua chúa là luôn luôn âm mưu và hành động (dù thành công, dù thất bại) hành động lại âm mưu. Về điểm này, (tôi chỉ nói một điểm thôi, không nói cả học thuyết) có phần nào na ná như cái “hiện sinh” (existentialisme) của J.P Sartre (tôi chỉ nói của J.P.Sartre thôi) ở chỗ: con người nhất là những kẻ nhiều tham vọng, là một chuỗi dài những dự định và hành động kế tiếp nhau. Hàn Phi Tử nhìn các bậc vua chúa không vô vi yên phận. Vì vậy để dịch chữ “thoái xử”, ta nên xét ở chỗ này, “xử” là “xử” nào? “Xử” là “ở” hay “xử” là “giải quyết” (như trong các chữ “xử lý”, “xử trí”, “xử sự”). Theo tôi chữ “xử” ở đây là “giải quyết”. Cho nên “thoái xử” không nên dịch là “rút lui yên thân” (LVQ), mà nên dịch là “rút lui xử trí sau” hay “rút lui giải quyết sau” (ví dụ, rút lui rồi dùng cái giàu để chiêu binh mãi mã rồi phục hồi), bởi các vua chúa không dễ rút lui “yên thân” đâu.

Tóm lại, câu 13 có thể dịch như sau:

“Việc thành thì họ dùng cái quyền để được trọng vọng lâu dài, thất bại thì họ rút lui dùng cái giàu xử trí sau”.

* Điểm 12: Câu “Trị, cường bất khả trách ư ngoại, nội chính chi hữu dã”.

- PN dịch: “Những nước trị yên và mạnh thì không thể nhờ cậy ở bên ngoài, mà phụ thuộc vào chính sự ở trong nước”.

- LVQ dịch lại: “Trị và mạnh, không thể cậy nhờ ở hoạt động ngoại giao, mà chỉ có thể đạt được trong công việc nội chính”.

- Bàn: “Trị, cường” là một “vấn đề”, vấn đề trị, cường chứ không phải “những nước” trị và mạnh (PN). Nên bỏ chữ “những” để có thể trở về là “khái niệm”: nước trị yên và mạnh. “Bất trách ư ngoại”, theo tôi dịch như PN là được, chỉ cần thay chữ “ở” bằng chữ “vào” (không thể cậy “vào” bên ngoài). Chữ “trị” đơn độc chưa Việt hoá hoàn toàn theo nghĩa trị yên. LVQ để nguyên chữ “trị” (trị và mạnh). Theo tôi nên dịch là “yên và mạnh”... LVQ dịch chữ “ngoại” là “chính sách ngoại giao”, hay “hoạt động ngoại giao” tức là vấn đề chính trị đối ngoại. Hẹp nghĩa. Còn vấn đề kinh tế, quân sự thì sao? Ba Tư xưa, một thời yên và giàu mạnh, không có “hoạt động ngoại giao nào”, chỉ về mặt “kinh tế”, đóng vai trò là một cái “chợ lớn” trên con đường giao lưu buôn bán giữa Đông và Tây. Theo tôi dịch không nên cụ thể hóa. Cụ thể hóa dễ rơi vào tình trạng “bó nghĩa” (infrapolation) hoặc chệch nghĩa (extrapolation). Cứ để “trách ư ngoại” là “cậy vào bên ngoài” (như PN) là thuận lợi hơn cả.

“Nội chính chi hữu dã”:

Chữ “hữu” dịch là “lệ thuộc” (PN), là “có thể đạt được” (LVQ), cũng được, nhưng như thế thiếu tính khẳng định. Nên nói là “nó có sẵn”, “nó nằm sẵn”, mạnh hơn và sát hơn.

Dịch chữ “hữu” ở vế này, tôi liên tưởng đến chữ “trách” ở vế trước (“trách ư ngoại”). “Trách” là “trách cứ”, nghe không ổn lắm. Sao lại “trách cứ” vào bên ngoài. Tôi phân vân giữa chữ “trách” và chữ “trạch”. “Trạch” là “tìm được”, là “tìm”, là “chọn”. Vấn đề này PN có thể giải đáp được vì có nguyên bản chữ Hán để dịch, nếu không phải đây là một lỗi thuộc về ấn loát (dấu nặng xếp thành dấu sắc) trong bài đăng báo của LVQ đăng ở Tạp chí Hán Nôm số 2 (11) 1991. Nếu là chữ “trạch” thì 2 vế trên dưới đối nhau rất sắc, ăn ý. Và như thế tôi sẽ dịch câu 14 là: “Yên và mạnh (tức nước yên và mạnh), không thể tìm ở bên ngoài, nó nằm sẵn trong nội chính”.

Chữ “nội chính”, PN dịch là “chính sự” - Không được. Vì “nội chính” gồm cả đường lối, chính sách, chủ trương, biện pháp, tình hình và sự kiện chính trị. Còn chính sự mới chỉ là “sự việc chính trị”. LVQ dịch là “sự việc chính trị”. Tức cũng giống PN, hẹp nghĩa. Theo tôi cứ để là “nội chính”, không sợ người đọc không hiểu. Vì nói như thế mới bao quát. Chữ gì đã Việt hóa một nửa theo tôi, ta cứ mạnh dạn dùng để dần dần nó Việt hóa hoàn toàn.

Tóm lại, câu 14 có thể dịch như sau: “Nước yên và mạnh không thể tìm ở bên ngoài, nó nằm sẵn trong nội chính”.

* Điểm 13: Câu “Thị cổ loạn quốc chi tục, kỳ học giả tắc xưng Tiên vương chư đạo dĩ tịch nhân nghĩa”

- PN dịch: “Vì vậy cái tục của những nước loạn là bọn học giả trong nước khen cái đạo của các Tiên vương để tỏ ra mình nhân nghĩa”.

- LVQ dịch lại: “Cái tục của những nước loạn là bọn học giả nhà Nho này khen cái đạo của bậc Tiên vương, mượn nhân nghĩa (để tiến hành thuyết giáo)”.

- Bàn: “Loạn quốc” có thể hiểu là các nước chư hầu, tức ở số nhiều, hoặc rộng, là cái Trung Quốc thời Xuân Thu Chiến Quốc, tức ở số ít. Theo tôi, nên dùng số nhiều để nói cả rộng và cả hẹp. Dịch như PN và LVQ, “những nước loạn” là thỏa đáng. “Loạn quốc chi tục” PN và LVQ đều dịch là “cái tục của những nước loạn”. Nói “cái tục” nghe có vẻ “phong tục” quá. Đây tác giả muốn nói lên cái thói xấu, dùng chữ “tệ” thì thể hiện tinh thần chỉ trích cái xấu nhưng không nói được tính chất lặp đi lặp lại. Nên có thể dịch là “lệ”. Chữ “chi” ở đây không nên dịch là “của” mà nên dịch là “ở”, vì cái “thói” này suy cho cùng là cái thói của bọn học giả chứ đâu phải của “các” nước. “Kỳ học giả”, PN dịch là “bọn học giả trong nước”. Nói “trong nước” không ổn, vì trên kia ta dùng “những nước loạn” (ở số nhiều). Nên dịch là: “bọn học giả ở đấy”, chỉ nhiều nước cũng được, mà một nước cũng được. Vả bọn học giả thời đó không phải chỉ du thuyết trong phạm vi nước họ, mà đi qua nhiều nước, “không cần hộ chiếu”.

LVQ dịch là “bọn học giả nhà Nho này”. Không nên dịch “kỳ học giả” là bọn học giả này, vì chữ “kỳ” quan hệ với chữ loạn quốc, tức bọn học giả ở các nước này. Cũng không nên thêm chữ “nhà Nho”. Vì sao, tôi đã lập luận ở câu 9 trên kia.

“Xưng Tiên vương chi đạo dĩ tịch nhân nghĩa”.

Chữ “xưng” dịch là “khen” (khen cái đạo của các Tiên vương). Không phải khen gọn lỏn và khen một lần, mà lải nhải mãi, nên theo tôi nên dịch “xưng” là “tán dương”. “Tiên vương” nên ở số nhiều, bởi chỉ các vua triều đại nhà Chu, chứ không riêng Noãn Vương, vua cuối cùng. “Dĩ tịch nhân nghĩa”, chữ “tịch” PN dịch là “tỏ ra”, các học giả “tỏ ra” mình nhân nghĩa để làm gì ? LVQ tầm nguyên chữ “tịch”, “tạ” và dịch là “mượn”, tôi đắc ý. “Tịch”, “tạ” ở đây đồng nghĩa với “thác” “tá”, nghĩa là “mượn”. Mượn cớ, mượn đường, lợi dụng cơ hội, để thuyết nhân nghĩa, bởi thuyết nhân nghĩa là mục đích du thuyết của “bọn học giả Nho, Mặc”. Tóm lại, câu 15 có thể dịch như sau:

“Vì vậy, cái lệ ở những nước loạn là bọn học giả ở đấy luôn tán dương cái đạo của các Tiên vương để mượn đường thuyết nhân nghĩa”

Vì sao tôi viết bài này? Ông bạn Đ.T.C có bài luận về Truyện Kiều đăng trong Tạp chí Hán Nôm số 2 -1991. Ông đưa tôi xem và yêu cầu góp ý để viết những bài sau. Chuẩn bị xong việc này, tôi nhìn qua các đề mục khác trong Tạp chí. Bỗng mấy chữ “... Bản dịch Hàn Phi Tử” đập vào mắt tôi, làm tôi xúc động, cũng như thấy những bản dịch “Chư tử” khác.

Tôi nghĩ dịch HPT toàn tập là một việc hóc búa, một công trình dài hơi. Đó là sự kết hợp của kiến thức triết học, trình độ cổ văn Hán, cộng với nghị lực và ý chí. Bản dịch đã hoàn thành. Sách đã được in, tất có một giá trị chất lượng nhất định. Qua bài của LVQ tôi cảm thấy mừng, là đã người làm được công việc khó khăn phức tạp đó. Một quyển sách dịch gần 500 trang mà mỗi câu, mỗi chữ là kết tinh của một lượng lao tâm khổ tứ. Vì nhu cầu văn học chung của đất nước, tôi chân thành hoan nghênh dịch giả Phan Ngọc, mặc dù tôi chưa hân hạnh được đọc toàn văn, ngay cả một chương. Tuy nhiên qua một số trích dẫn của LVQ, tôi thấy dịch giả đáng tin cậy, mặc dù theo thiển ý có những chỗ cần nghiên cứu thêm. Với trí não của một người trước một công trình như vậy làm sao không có những chỗ chưa hoàn chỉnh. Đây thuộc loại sách kinh điển. Nó kén độc giả mà độc giả cũng kén nó. Nó có tính vĩnh cửu, không phải chỉ nhất thời. Nếu thêm người góp ý, thì mỗi lần tái, tam... bản, là mỗi lần chất lượng càng cao, để, đã “HPT”, thì theo thời gian nó càng “HPT”, hơn nữa.

Với tinh thần đó, mặc dù tay ngang trong lĩnh vực này, tôi cũng xin mạnh dạn đề đạt một số ý kiến (nội dung phát triển ở phần trên). Có thể sai nhiều đúng ít. Thời gian eo hẹp, viết lách vội vàng, ý tứ đúng sai không nói, nhưng lời lẽ không khỏi sơ xuất, mất lòng, xin bạn bè miễn chấp. Cuối cùng xin cảm ơn Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Tạp chí Hán Nôm, một tạp chí có chất lượng cao.

Đ.P.V

CHÚ THÍCH

(1) Tạp chí Hán Nôm, số 2(11)-1991

TB

LẠI BÀN VỀ "THU THANH" HAY
"THUNG THANH"

TẢO TRANG

Trên Tạp chí Hán Nôm số 1-1987 có bài của ông Nguyễn Quảng Tuân đề nghị sửa 2 chữ trong câu đối nổi tiếng ở cổng đền Kiếp Bạc:

Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí,
Lục Đầu vô thủy bất thu thanh.

Theo tác giả, hai chữ cuối “thu thanh” là sai, phải viết là thung thanh mới đúng. Có thể người sao viết lại đôi câu đối đã nghe lộn chữ thung ra chữ thu và đã chép sai như vậy”. Bài viết rất đáng hoan nghênh, biểu hiện một thái độ mạnh dạn xem xét chỗ đúng sai trong nền văn học cổ, có khá nhiều trường hợp bị xuyên tạc và sự nhầm lẫn kéo dài nhiều năm tháng, gây một áp lực nhất định, khiến không ít người không dám đặt vấn đề phán xét. Tuy nhiên, đọc kỹ bài viết, chúng tôi thấy có mấy chỗ cần trao đổi ý kiến lại.

Tác giả đưa ra 2 lý do biện minh cho việc nên sửa “thu thanh” thành “thung thanh”:

- Nếu là “thu thanh” thì sông nào chẳng có “tiếng thu” khi gặp gió lớn sóng to.

- Nếu là “thung thanh” thì chỉ có sông Bạch Đằng (Lục Đầu) mới có tiếng đóng cọc mà thôi”.

Thiển nghĩ 2 lý do trên chưa đủ sức thuyết phục:

1. Về “thu thanh” không nên hiểu là tiếng thu đơn thuần. Theo triết học cổ truyền Phương Đông, mùa thu thuộc hành kim trong ngũ hành, tương ứng với phương Tây. Mùa thu là mùa lá cây vàng úa, có sương giáng, có gió tây, khiến rụng lá, đó là qui luật nghiêm khắc của tạo hoá loại trừ những thứ không còn sự sống, chống lại sự sống. Thời xưa gọi người có chức vụ xét xử trừng phạt tội phạm là “thu quan”. “Tiếng thu” là tiếng gió tây làm rụng lá vàng, ý nghĩa đặc biệt của nó được ghi ở bài phú nổi tiếng. Phú tiếng thu (Thu thanh phú) của Âu Dương Tu (1007-1072) đời Tống, trong đó có câu:

“Thu là vị quan thi hành hình phạt... Đó là sức mạnh đạo nghĩa của trời đất, thường dụng tâm nghiêm khắc diệt trừ” (Thu, hình quan giã... Thị vi thiên địa chi nghĩa khí, thường dĩ túc sát nhi vi tâm). “Tiếng thu” là tiếng của gió mùa thu, làm rụng lá úa vàng, thể hiện cái “khí túc sát” của tạo hóa, cái “sức mạnh nghiêm khắc diệt trừ” nói trên. Nó thực hiện sự trừng phạt vì chính nghĩa: “Kẻ vương giả thuận lẽ trời, tiến hành việc trừng phạt để thực hiện cái sức mạnh nghiêm khắc diệt trừ” (Vương giả thuận thiên hành tru, dĩ thành túc sát chi khí) (Sách Xuân thu cảm tinh phù dẫn trong Sự loại thống biên Q.6, Tuế thời Thu). Do đó, không phải sông nào cũng có tiếng thu. Chỉ có nơi nào như sông Lục Đầu từng diễn ra trận dùng chính nghĩa tiêu diệt trừng phạt quân bất nghĩa xâm lược mới có “thu thanh”, và tuy là “tiếng thu”, nó không phải chỉ có trong mùa thu, mà ở mọi thời kỳ, sẽ nổi dậy mỗi khi cần dẹp giặc.

2. Lý do thứ hai “thung thanh”, hợp hơn vì “chỉ có sông Bạch Đằng mới có tiếng đóng cọc”. Nhưng “thung” chỉ là danh từ. “Thung thanh” (tiếng cọc) không thật ổn về nghĩa. Nếu là “tiếng đóng cọc” thì phải là “thụ thung thanh”. Vả chăng, cho dù chấp nhận “thung thanh” có thể thay thế “thụ thung thanh”, vế đối cũng không có thể coi như trội hơn vế đối hiện hữu, với từ “thu thanh” bao hàm ý “túc sát”, tức “nghiêm khắc diệt trừ” thuận theo lẽ trời.

Như vậy, ở vế 2 của câu đối, “thu thanh” có thể coi như thích hợp và có ý nghĩa hơn “thung thanh”. Nhân tiện cũng nên nói thêm về vế trên (Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí) giúp cho hiểu rõ thêm về vế sau. Vế này được dịch trong bài Tạp chí: “Núi Vạn Kiếp chỗ nào cũng có hơi kiếm (bốc tỏa lên)”.

Câu này có lẽ nên đổi: “Vạn Kiếp có núi, thảy đều toả hơi kiếm”. Vì ít nhất có hai ngọn núi được ghi trong địa chí: Dược Sơn và Vạn Yên Sơn, với 2 động Nam Tào và Bắc Đẩu (Đại Nam nhất thống chí). Trung văn đại từ điển giảng “kiếm khí” là “khí sát phạt của kiếm” (kiếm chi sát khí). Có thể nói vế trên tả núi, với khí thế như lúc nào cũng hừng hực sức mạnh của gươm sẵn sàng chiến đấu. Vế dưới tả sông với tiếng sóng cuộn như tiếng sát phạt của gió thu. Vế trên biểu dương dũng khí. Vế dưới ca ngợi hướng tác động của dũng khí, nhằm diệt trừ sự bất nghĩa, trái đạo thường.

Bài tạp chí còn nhắc tới chuyện một nhà báo Nhật Bản khi qua thăm Vạn Kiếp đã cảm đề 4 câu thơ, trong đó có 2 câu cuối:

Kiếm khí do kinh Hồ lỗ phách,
Thu thanh túc sát thủy sàn sàn(1)

Tạm dịch:

Hơi kiếm còn làm kinh hoàng bọn giặc man rợ,
Tiếng thu nghiêm khắc tiêu diệt quân thù (trong tiếng) nước ào ào cuộn chảy(2)

Câu thơ trên của một du khách nước ngoài có thể nói đã thích nghĩa rất khéo và rất đúng câu đối nổi tiếng hiện còn ở đền:

“Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí,
Lục Đầu vô thủy bất thu thanh”.

Có thể tạm dịch như sau:

“Vạn Kiếp núi non, chốn chốn toả bừng hơi kiếm,
Lục Đầu sông nước, nơi nơi vang dậy tiếng thu”.

T.T

CHÚ THÍCH

(1) Bài tạp chí ghi: “Thu thanh túc sái”. Chữ Hán phải đọc là “túc sát” (X. Hán Việt từ điển Đào Duy Anh; Hán ngữ từ điển - Thương vụ ấn thư quán Thượng Hải, 1977).

(2) Bản dịch ở bài tạp chí: “Hơi thanh kiếm (của ngài) đủ làm cho giặc Mông Cổ phải kinh hồn mất vía. Tiếng mùa thu vi vút lạnh lùng, nước (Lục Đầu) ào ào dào dạt”. Câu dịch trên không thật sát: “kiếm khí” không phải của riêng Trần Hưng Đạo mà là của mọi núi non vùng Kiếp Bạc. Câu sau dịch: “Tiếng mùa thu vi vút lạnh lùng” không đúng nghĩa với “Thu thanh túc sát”./.

TB

DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VIỆT NAM - MỘT CÔNG TRÌNH - MỘT THẾ HỆ - MỘT BẢNG
TRA CỨU HỮU ÍCH

BÙI DUY TÂN

Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam (DTLSVHVN) là công trình biên khảo của một nhóm những nhà Hán học trong Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sách đã chào đời gần trọn một năm, cái thể và cái dụng của nó hầu đủ thời gian biểu hiện. Có tập sách này trong tay mà tham khảo, tra cứu, thật mừng lắm. Mừng vì cái nghề cái nghiệp ở Viện Hán Nôm, dầu muôn vàn khó khăn, nan giải, vẫn cứ chầm chậm, đều đều cho xuất bản những đầu sách khảo cứu, biên soạn, ngày một chững chạc. Qua những công trình lớn nhỏ, từ những bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, đến nhưng tập sách khảo cứu, biên soạn, đã ra đời và sắp xuất bản, thấy có thật một thế hệ những nhà nghiên cứu Hán Nôm, được đào tạo từ thời chống Mỹ đến nay, đang từng bước trưởng thành, trong đó có một số tên tuổi có triển vọng tiếp bước cha anh đang ngày càng thưa thớt, mòn mỏi. Còn nhớ, khi giảng dạy ở lớp Đại học Hán văn (1965-1968), cố Giáo sư Đặng Thai Mai kỳ vọng: sẽ có dăm ba nhà Hán học trong số này, sau vài chục năm! bây giờ, nhìn vào đội ngũ, lời ấy quả là “tiên tri”, dĩ nhiên không phải chỉ những học viên của Đại học Hán văn, mà từ cả những học viên Cao học và những sinh viên chuyên ngành Hán Nôm ở vài trường Đại học. Nhìn vào tập sách này, vào hàng loạt những công trình của Viện Hán Nôm đã và sẽ ra mắt, nhìn rộng đến các công trình Văn thơ Lý Trần, Tổng tập Văn học Việt Nam v.v...; người từng quan tâm đến lực lượng những nhà Hán học mới, chắc bớt phần lo lắng. Nhân đọc DTLSVHVN mà lan man sang câu chuyện thế hệ, xin được thông cảm, đây là cảm nghĩ thật lòng.

DTLSVHVN được biên khảo công phu, nghiêm chỉnh, với mục đích khoa học đích thực, sát hợp với tình hình tư liệu, với một phương pháp, thao tác có phần hợp lý. Đây là một công trình khoa học thực sự, chí ít thì cũng là một bảng tra cứu hữu ích và tiện dụng. Sách gồm 821 trang, chia làm nhiều phần: Lời nói đầu của Chủ biên, Danh mục tài liệu tham khảo cơ bản gồm tên khỏang 150 đầu sách. Phần chính là tên các di tích gồm 1064 từ điều. Sau cùng là Sách dẫn tên riêng, gồm tên di tích, tên thần, tên người. Diện mạo, qui mô của tập sách bề thế, chừng mực và tinh giản. Lời nói đầu về cơ bản, giống như bài Một bản thảo vừa hoàn thành: Bảng tra di tích lịch sử văn hóa Việt Nam, Tạp chí Hán Nôm số 2 năm 1990, có khác là việc rút bớt số lượng từ điều. ở một tập sách có tính chất bảng tra cứu, Lời nói đầu được viết như một tiểu luận khoa học như thế là đủ. Người sử dụng thường quan tâm đến từ điều chỉ dẫn về di tích và sách dẫn nhiều hơn. Không chỉ để xem nó có được biên soạn theo qui tắc đã được nêu ở Lời nói đầu hay không, mà chủ yếu là tiếp nhận những thông báo ở các từ điều do các soạn giả lựa chọn đưa vào từ các tư liệu gốc được ghi rõ ở cuối mỗi từ. Có nghĩa là, độc giả sử dụng sách này vừa như một sách công cụ vừa như một sách biên khảo nghiên cứu. Có thể thấy các từ điều ở đây được biên soạn “theo mô hình thiết kế” lúc ban đầu. Mỗi từ, trên cơ sở những tư liệu đã nắm được, người viết chủ yếu là tuân theo qui cách chung, trong khi vẫn có thể thể hiện phong cách riêng của từng người biên soạn. Hầu hết từ điều ở đây đều có khả năng đem lại cho người đọc những thông tin trung thực, có chọn lọc, bảo đảm độ chuẩn xác đáng tin cậy. Nhóm biên soạn đã xử lý khối tư liệu phong phú, phức tạp một cách linh hoạt và thành thạo, cung cấp cho độc giả vô số những kiến thức về lịch sử, về xã hội, nhất là về văn hóa, phong tục, lễ hội, tín ngưỡng v.v..., làm cho tập sách cơ hồ vượt khỏi loại sách công cụ thông thường. Điều thú vị: các soạn giả đã đưa một số bài thơ liên quan đến các di tích vào sách, lại có thêm cả phần viết chữ Hán Nôm ngay ở bên (Khi tái bản, nếu có cả thơ Nôm và phần viết chữ Nôm thì hay biết mấy!). Có thể xem sách này là một công trình đáng ghi nhận của Viện Hán Nôm trong thập kỷ qua. Sách xuất hiện với tính chất một kiểu dạng mới, có tác dụng lớn đối với sinh hoạt văn hóa, xã hội, trong khi nhiều di tích quý đang xuống cấp hoặc bị phá hoại.

Tuy nhiên, nếu tái bản, khi trình bày các mục từ, khi làm sách dẫn, vẫn cần cẩn trọng để có thể hạn chế những sai xót. Xin lấy những mục từ về Trương Hống, Trương Hát để nói cho rõ. Sách dẫn ghi có 4 lần nhắc đến Trương Hống (101, 141, 217, 455), thiếu một lần (591); 4lần nhắc đến Trương Hát (101, 141, 217, 591), được ghi đủ; và ba lần nhắc đến cả hai ông (101, 141, 591) thiếu 1 lần (217). Thực ra từ dẫn cả hai ông là thừa, vì các di tích có thờ cúng đều ghi tên cả hai anh em. Hơn nữa, 4 nơi thờ cúng hai ông có hai đình: Bích Động (101, Hà Bắc), Châu Xuyên (141, Hà Bắc); và 2 đền: Đại Đường giang thần (217, Hà Bắc), Tam Giang thần (591, Bắc Thái). Hai đình đều lấy tư liệu ở Bắc Giang tỉnh thần tích; thế mà trên thì ghi ký hiệu sách là: (Q.40, 18/5-54); dưới lại ghi là: (Q.40, 18/V-23); (AE.a 14/12). Điều khó hiểu là cả hai mục Từ ở hai đình đều căn cứ vào một tư liệu mà lại có sự khác nhau về nhiều chi tiết(2). Còn như Thần tích ở 2 đền thì đều không lấy ở Bắc Giang tỉnh thần tích. Từ trên dựa vào 6 tư liệu, Từ dưới dựa vào 2 tư liệu khác hoàn toàn. Từ trên gồm 3 trang in, Từ dưới chưa đầy 4 dòng in. Đây chỉ là mục từ được chộp xem một cách ngẫu nhiên mà cũng thấy có chuyện(3). Hóa ra khi viết “trong việc trình bày các mục từ không tránh khỏi sai lầm thiếu sót” (tr.17), vì đây là “công trình tổng hợp chưa từng có” (tr.6), thì Nhóm biên soạn đã thực lòng chứ không phải khiêm nhường theo thông lệ.

Để có được một bảng tra cứu tốt hơn, sau khi đã khẳng định thành tựu của bản in lần đầu, Nhóm biên soạn chắc còn phải xét thêm về một vài vấn đề nữa. Về thời gian chẳng hạn, nói đến tư liệu viết bằng chữ Hán và chữ Nôm thì hầu như ai cũng hiểu đó là thuộc thời cổ. Nhưng thời cổ là từ đâu đến đâu? Cho đến trước năm 1945, đình, chùa, đền, miếu... vẫn dùng Hán Nôm làm văn tự thờ cúng chính thức. Cứ để người đọc hiểu chung là di tích lịch sử văn hóa được ghi ở thư tịch Hán Nôm cũng được, nhưng về mặt khảo cứu thì có nên hiểu rộng sâu hơn? Về tên sách, không biết đặt thế đã thật ổn chưa? Bởi lẽ DTLSVHVN thì không phải chỉ có đình chùa, am viện, đền miếu, đạo quán... cũng không phải đình chùa, am viện... nào cũng xứng đáng là di tích lịch sử,văn hóa. Rõ ràng Nhóm biên soạn chỉ viết về những di tích mà ở đó có sự cúng tế, thờ phụng, có liên quan đến tôn giáo (Phật, Đạo và cả Nho) và tục phụng thờ thần thánh của người xưa. Vì vậy không nên đưa cung như An Trường cung (tr.49) với nghĩa cung điện, cung miếu, hành cung vào đây; lại nên bổ sung thêm nhiều lăng mộ, đàn tế ở thời Lê, nhất là thời Nguyễn (ở Huế) vào sách. Cái tên DTLSVHVN trang nghiêm, chững chạc nhưng cũng chung chung quá. Có nên tìm cái danh phù hợp với cái thực, chẳng hạn: Đình, đền, chùa quán, lăng tẩm ở Việt Nam hoặc Bảng tra các di tích: Đình đền, chùa quán thơi xưa. Một vấn đề nữa: nên như thế nào khi soạn các mục từ, khả dĩ khắc phục được những thiếu sót như loại đã dẫn trên kia. Có nên có một nền chung về sự tích trên cơ sở tất cả những nguồn tư liệu đã có về sự tích. Và cộng thêm vào cái nền chung ấy là những gì có tính địa phương khi viết về sự tích ở địa phương ấy? Hoặc giả, nên căn cứ vào trước hết là nguồn tư liệu ở địa phương, bao gồm cả các hồ sơ công nhận di tích xếp hạng thời nay của cơ quan Văn hóa... bảo đảm sự phong phú đa dạng của sự tích các đền chùa vốn lưu truyền ở các địa phương như những truyền thuyết, huyền thoại.

Cuối cùng, xin có một đề nghị. Loại sách mới về dạng kiểu, tính chất như thế này, được biên soạn và cho in ấn lần đầu, có cố gắng đến mấy cũng chưa thể là thành phẩm hoàn hảo. Một số điều nói trên, chỉ là sơ xuất khó tránh; ai đã từng một lần làm sách loại này, hoặc gần như loại này đều dễ thông cảm. Có thể nói bộ sách này là một tài liệu tra cứu đang rất cần cho bạn đọc trong nước. Chúng ta có khỏang trên 500 đơn vị cấp huyện và hàng trăm cơ quan nghiên cứu Trung ương cần có sách loại này, ấy là chưa kể cấp tỉnh, xã. Nếu mỗi đơn vị chỉ cần vài ba tập, thì 500 bản in lần đầu sao thỏa mãn được yêu cầu! Rất mong sách được tái bản có sửa chữa, tức có sự hoàn thiện ở một bước mới.

B.D.T

CHÚ THÍCH

(1) Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam (Bảng tra tư liệu thư tịch Hán Nôm). Biên soạn: Ngô Đức Thọ (Chủ biên) - Nguyễn Văn Nguyên - Đỗ Thị Hảo - Phan Thị Lựu - Nguyễn Kim Oanh - Hoàng Ngọc Thắng. Nxb. KHXH, H. 1991.

(2) Chẳng hạn: Từ trên nói anh em sinh đôi; từ dưới nói là 2 con đầu của bọc sinh 5; Từ trên là thần giúp Hậu Ngô Vương và nhà Lý đánh giặc, dưới chỉ giúp Nam Tuấn Vương tức Hậu Ngô Vương. Từ trên không có chuyện bà mẹ do giao long phủ mà có mang như Từ dưới.

(3) Xem những mục từ về Không Lộ, Minh Không v.v... hoặc giả ba lần dẫn thơ Trịnh Căn ở các tr.359, 521, 633... cũng sẽ thấy có những sai sót về biên khảo và biên tập./

TB

ĐỌC VÀI BÀI THƠ TRỌNG NÔNG CỦA CÁC VUA NGUYỄN

PHAN THUẬN AN

Suốt mấy ngàn năm kể từ ngày lập quốc, trong bất cứ triều đại quân chủ nào, các vua chúa Việt Nam cũng lấy nghề nông làm mũi nhọn số một trong chính sách kinh tế nước nhà. Lý do rất dễ hiểu: đó là sinh lộ của cả dân tộc.

Chính sách trọng nông truyền thống ấy đã được triều đình nhà Nguyễn (1802-1945) chẳng những tiếp tục thực hiện mà còn đẩy mạnh và phát triển hết năng lực sẵn có bằng rất nhiều phương thức thích hợp và biện pháp hữu hiệu.

Với những tư liệu phong phú hiện nay có được, người ta có thể viết nhiều luận án về chính sách khuyến nông của triều Nguyễn và hiệu quả tốt đẹp của nó.

ở đây chỉ xin giới thiệu vài bài thơ chữ Hán và chữ Nôm của ba vị vua nhà Nguyễn là Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức; trong đó nói lên quan điểm trọng thị và tấm lòng ưu ái của mình đối với nông dân. Thật là hiếm có và khó tìm đối với các vị hoàng đế hay thơ, nhưng chúng tôi may mắn sưu tầm được, nay xin cung cấp để tham khảo. Bài thơ đầu tiên là Vị nông ngâm của vua Minh Mệnh, làm theo thể thơ Đường luật, thất ngôn bát cú bằng chữ Hán vào năm Nhâm Thìn (1832). Một điều thú vị hiện nay chúng ta có thể thấy được bản thủ bút của tác giả với nét chữ nhẹ nhàng bay bướm. Vào khỏang năm 1942, Paul Boudet, một học giả Pháp đã có dịp vào trong Hoàng cung Huế để khảo sát các tư liệu lịch sử, và đã chụp được ảnh bản thủ bút này. Ông liền cho đem đăng tấm ảnh ấy kèm theo bài viết của ông trên Bulletin des Amis du Vieux Hué, số 3, tháng 7-9 năm 1942, planche LVIII. Nay xin phiên âm, dịch nghĩa bằng văn xuôi và văn vần như sau:

Vị nông ngâm
Tiền tiêu hàm hỷ tế thời lâm,
Kế thử liên liên tế tế châm.
Lẫm liệt đông trung chi thuận hậu,
Tuấn tuần điền thượng khủng hàn xâm
Y ôn niệm chức tồn dư ý,
Thực bảo tư nông động ngã tâm.
Giá sắc gian nan tòng cổ trọng,
Vô thời bất dĩ cử vi ngâm.
Nhâm Thìn hoạt bút.

Dịch nghĩa:

Ngâm ngợi nhà nông

Đêm trước mọi người đều mừng trận mưa cứu mùa màng,

Tiếp đó hạt mưa nối nhau rơi rả rích.

Trong mùa đông lạnh lẽo mà mưa như thế thì biết là thời tiết thuận lợi,

Người nông dân lội bì bõm trên ruộng, sợ e bị nhiễm lạnh.

Mặc ấm phải nhớ đến người dệt vải, đó là điều còn mãi trong ý ta,

ăn no phải nghĩ đến người làm ruộng, đó là điều làm cảm động đến lòng ta.

Nỗi gian nan trong chuyện cấy gặt, từ xưa vốn được coi trọng.

Không lúc nào ta không đem nỗi gian nan ấy cất lên thành khúc ngâm.

Viết năm Nhâm Thìn (1832)

Dịch thơ:

Đêm qua mừng trận mưa rào,
Từng cơn rả rích rót vào canh thâu.
Rét đông mưa giúp hoa màu,
Sợ ai ì oạp ruộng sâu lạnh lùng.
Ấm người, thợ dệt góp công,
No lòng, ta nhớ nhà nông muôn phần.
Bao giờ tôn trọng nông dân,
Ngâm nga ta đã mấy lần vì ai.

Bài thơ thứ hai là của vua Triệu Trị, mang tựa đề Nông lạc.

Chúng tôi bắt gặp bài thơ này ngay trên di tích Huế. ở Điện Hoà Khiêm trong phạm vi lăng Tự Đức, hiện nay vẫn còn treo 16 bức tranh mầu, minh hoạ 16 bài thơ ngự chế mà cuối mỗi bài đều viết dòng lạc khoản “Thiệu Trị ất Tỵ cung lục”. Năm ất Tỵ thời Thiệu Trị là năm 1845. Với sự dè dặt thường lệ và cần thiết đối với ý nghĩa của hai chữ “cung lục” ở đây, chúng tôi nghĩ rằng vua Thiệu Trị là tác giả của những bài thơ này, mà đáng chú ý nhất là bài mang nội dung khuyến nông ấy:

Nông lạc
Chung tuế cần cù lực bá canh,
Thu thành vạn bửu toại tư sanh.
Nhương nhương lũng mẫu hoàng vân bố,
Ức úc thương sương ngọc lạp doanh.
Phủ ngưỡng hàm hân gia cấp túc,
Trưng khoa bất nhiễu pháp nghiêm minh.
Chiêu diên tửu thực hương thôn hội,
Tuý bảo mao nghê hỷ uỷ tình.

Dịch nghĩa:

Niềm vui của nhà nông

Quanh năm làm việc cần cù, ra sức cày cấy khắp cả.

Mùa thu làm nên muôn vật quý báu, toại ý về của cải vật chất nuôi sống.

Lớp lớp trên ruộng đồng, lúa chín trải ra như đám mây vàng.

Ăm ắp bồ, kho, tràn đầy hạt ngọc (tức là lúa gạo).

Ngó xuống trông lên đều hớn hở, việc cung cấp cho gia đình được đầy đủ.

Trong việc trưng thu không bị sách nhiễu,

Phép nước được giữ gìn nghiêm minh.

Xóm làng mở hội mời nhau đến cùng ăn uống,

No say, già trẻ đều mừng rỡ thỏa lòng.

Dịch thơ:

Cần cù ruộng thấp đồng cao,
Sang thu cái sống được bao đền bù.
Mây vàng giăng hạt ruộng khô,
Ngọc làng ăm ắp đầy bồ chật kho.
Cảnh nhà giờ đỡ phải lo,
Làm theo phép nước trưng thu đàng hoàng.
Tiệc mừng tấp nập xóm làng,
No say ai cũng rộn ràng niềm vui.

(Vũ Bạch Ngô dịch)

Và bài thơ thứ ba là Mừng đặng mưa của vua Tự Đức, viết bằng chữ Nôm. Bài thơ đã từng được phiên âm ra chữ quốc ngữ và đăng trong mục Văn uyển của Thần kinh tạp chí, số 10, tháng 5 năm 1928, tr.914.

Mừng đặng mưa
Tình cờ may gặp trận mưa rào,
Thiên hạ vui mừng hẳn biết bao.
Thần núi ứng mây thêm đậm đậm,
Ơn trời rước nước khắp ào ào.
Tràn đồng hột ngọc nhờ no đủ,
Một giọt cân vàng khó ước ao.
Hai tháng tưởng cầu nay mới đặng,
Rằng thanh minh võ tạc non cao.

Qua sử sách, chúng ta thấy nông nghiệp đã được các vua quan nhà Nguyễn gọi là “bản nghệ” (nghề gốc), khác với thương nghiệp thường được họ coi là “mạt nghệ” (nghề ngọn) (Đại Nam thực lục , bản dịch của Viện Sử học, Hà Nội, Tập III, 1963, trang 9). Các tác giả của bộ Minh Mệnh chính yếu đã dành riêng hai quyển VIII và IX để ghi chép về sự nghiệp phát triển nghề nông của vua Minh Mệnh (Xem: Minh Mệnh chính yếu, phần Trọng nông, Tập 3, bản dịch của Võ Khắc Văn và Lê Phụ Thiện, Sài Gòn, 1974, tr.1-96).

Ba bài thơ ngự chế trên đây góp phần làm sáng tỏ hơn về chính sách kinh tế của nhà Nguyễn.

Bài viết nhỏ này được viết dưới dạng cung cấp tư liệu văn học và lịch sử liên quan đến chủ trương khuyến nông của các vua nói trên, chúng tôi xin miễn bàn thêm gì khác nữa ở đây./.

P.T.A

TB

DI SẢN HÁN NÔM TẠI HUYỆN
KIẾN THỤY, HẢI PHÒNG

HOÀNG VĂN LÂU

Vừa qua, Viện Nghiên cứu Hán Nôm có cử một đoàn cán bộ gồm 6 người đi khảo sát và sưu tầm tư liệu Hán Nôm tại huyện Kiến Thụy, thuộc thành phố Hải Phòng.

Kiến Thụy là một địa bàn trọng yếu của thành phố Hải Phòng nói riêng và của cả nước nói chung. Toàn bộ lãnh thổ huyện Kiến Thụy nằm gọn trong huyện Nghi Dương xưa, được thành lập từ thế kỷ XV. Đã có thời (từ 1527 đến 1592) Nghi Dương trở thành Kinh đô thứ hai của cả nước, với tên gọi là Dương Kinh, mà ngày nay, đi suốt cả địa bàn 24 xã trong huyện, đâu đâu cũng còn được thấy những dấu tích về thành cổ, về đại lộ về hệ thống kênh rạch của cố đô Dương Kinh, được nghe những truyền thuyết về mảnh đất sinh ra các bậc đế vương, các bà phi, công chúa xinh đẹp hiền thục, các văn thần, võ tướng tài ba quả cảm.

Nhưng mảnh đất mà ngày nay có tên gọi là huyện Kiến Thụy đã được hình thành và phát triển ngay từ buổi đầu của lịch sử dân tộc, do công lao khai phá, xây dựng và bảo vệ của nhiều thế hệ.

Thần tích chùa Khánh Long, thôn Tiểu Trà, xã Hưng Đạo ghi sự nghiệp của Nam Hải Đại Vương họ Phạm, tên Hải Công từ thời Hùng Duệ Vương (Vua Hùng thứ 18), có nhiều công lao với nhân dân trong vùng.

Thần tích miếu thôn Cốc Liễn xã Minh Tân ghi lại câu chuyện Chử Đồng Tử qua Nam Hải được phép tiên, tới nơi đây cứu giúp người gặp nạn.

Thần tích làng Du Lễ (xã Kiến Quốc) ghi sự tích của Trương Nữu Tôn Thần, là danh tướng của Phùng Hưng (thế kỷ thứ VIII), lấy vợ làng này, có công lao với dân với nước.

Thần tích của thôn Đại Trà, xã Đông Phương ghi nhận công lao của Chu Xích Công giúp Lê Hoàn đánh dẹp quân xâm lược Chiêm Thành....

Thần tích chùa Mõ xã Ngũ Phúc ghi công lao của Quỳnh Chân, Công chúa đời Trần, đã chiêu mộ dân các nơi và mở mang khai phá đất mới, sau đó lại có công bảo vệ xứ sở quê hương.

Thần tích thôn Du Lễ, xã Kiến Quốc ghi sự nghiệp văn võ huy hoàng của Vũ Hải, một danh tướng thời Trần, có công chỉ huy đánh dẹp và đi sứ bảo vệ Tổ quốc.

Những dấu tích văn tự trên gợi ý ta ước đoán rằng: vùng đất huyện Kiến Thụy ngày nay đã được hình thành rất sớm (từ đời vua Hùng), sau đó, liên tiếp các thế kỷ 7, 8, 10 được liên tục khai phá, mở mang. Đợt khai phá có qui mô phải kể từ đời Trần và sự phát triển lên tới độ cao là thời kỳ vương triều họ Mạc (thế kỷ XVI) với hệ thống kiến tạo hoàn chỉnh: lâu đài, thành quách, đường giao thông thủy bộ, các công trình văn hóa như đình, chùa, đền miếu rải rác khắp các xã trong huyện.

Đáng tiếc, do các cuộc chiến tranh liên miên, trong lịch sử, trải mấy bận bãi biển nương dâu, toàn bộ Kinh đô bề thế và độc đáo trong lịch sử không còn nữa và kéo theo là hàng loạt các mất mát khác.

Xin nêu một vài con số:

Theo thống kê di tích 10 xã (Ngũ Đoan, Tân Trào, Đại Hà, Hữu Bằng, Đông Phương, Thụy Hương, Thuận Thiên, Kiến Quốc, Minh Tân và Thanh Sơn) thì:

Số đình trước kia có 40 ngôi, nay còn 2 ngôi.

Số chùa trước kia có 34, nay còn 24 ngôi (kể cả số chùa làm mới).

Số đền, miếu trước 33 ngôi, nay còn 8 ngôi.

Đủ thấy sự mất mát đến mức độ nào.

Sau đây là kết quả điều tra sưu tầm của đoàn công tác.

a) Một vài con số (qua thống kê, điều tra 20 xã):

Đình còn 9 ngôi.

Chùa 40 ngôi.

Miếu 18 ngôi.

Từ đường 73 ngôi.

Lăng 4 chiếc.

Bia 118 cái.

Chuông 25 cái.

Câu đối 173 đôi; hoành phi 136 cái.

Sách Hán Nôm: 36 bộ; thần tích: 6 quyển.

Sắc phong: 131 tờ;

Thơ khắc biển gỗ: 6 bài.

b) Những di tích đáng chú ý:

Đình: đình Quý Kim xã Hợp Đức thờ Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng, đình Tân Trào (di tích Cách mạng đã xếp hạng), đình Ninh Hải xã Anh Dũng thờ Trần Quốc Tuấn nay chỉ còn 1 thần tích, 1 sắc phong).

Chùa: Chùa Minh Đức xã Hợp Đức; chùa Thanh Long xã Đa Phúc; chùa Vọng Hải xã Hưng Đạo; chùa Trúc An xã Kiến Quốc; chùa Sùng Khánh xã Đông Phương; chùa Khánh Long xã Hưng Đạo là những ngôi chùa to đẹp, có cảnh quan thu hút.

Các chùa Đại Linh xã Đông Phương; chùa Kim Đới; chùa Phả Chiếu; chùa Tam Kiệt xã Hữu Bằng; chùa Thiên Phúc xã Thuận Thiên; chùa Nhân Trai và chùa Ngọc xã Đại Hà; chùa Thanh Long xã Đa Phúc là những ngôi chùa cổ, còn nhiều di vật quý như chuông, bia, thiên đài, tượng đá,... có niên đại sớm, gắn liền với dấu tích văn hóa Lê Mạc.

c) Những nhân vật lịch sử:

- Nam Hải Đại Vương Phạm Hải Công thời Hùng Duệ Vương thờ ở đình Tú Sơn.

- Trương Nữu là danh tướng của Phùng Hưng (thế kỷ VIII) thờ ở miếu Đông thôn Du Lễ, xã Kiến Quốc.

- Chu Xích Công là danh tướng của Lê Hoàn (thế kỷ thứ X) thờ ở đình Đại Trà, xã Đông Phương.

- Phổ ĐộThiền Sư, đời Lý, thờ ở chùa Tú Sơn.

- Vũ Hải, danh tướng đời Trần, thờ ở miếu Đoài, thôn Du Lễ, xã Kiến Quốc.

Nhiều danh nhân quê hương đi vào lịch sử như: Ngô Thái Cẩn đỗ Tiến sĩ, làm Giám sát ngự sử; Bùi Tổ Trứ đỗ Thám hoa, đều ở Thanh Sơn.

Bùi Đình Dự đỗ Hoàng giáp khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757), người xã Tú Sơn.

Nguyễn Trí Trạch đỗ Tam trường thời Lê Dụ Tông (ở Tú Sơn).

Về quan võ có: Nguyễn Duy Quế, người xã Đông Phương, làm Thái uý tước Trung quốc, công thần khai quốc nhà Mạc, hiện còn từ đường và mộ chí.

Nổi bật là các vị vua nhà Mạc, Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh... quê ở xã Cổ Trai, nay là xã Ngũ Đoan.

Huyện Nghi Dương xưa còn là quê hương của những trang quốc sắc thiên hương. Dân gian có câu:

“Cổ Trai đế vương,

Trà Hương công chúa.”

Đình Đại Trà (xã Đông Phương) còn có một thần sắc ghi mỹ hiệu của một bà phi đời Lê.

d) Đặc điểm bia Kiến Thụy:

- Về hình thức: Số bia còn lại không nhiều nhưng đáng quý là có nhiều bia cổ, nhiều nhất lại là bia đời Lê có hình thức rất đa dạng, hoa văn rất đẹp, rất phong phú, kích cỡ khá lớn:

- Bia đình làng Du Lễ hiện còn có thể là tấm bia lớn nhất được biết ở các tỉnh miền Bắc: cao 2,2 m, rộng 1,4 m.

- Hệ thống bia ở các chùa Kim Đới, Thiên Phúc, Đại Linh, Tam Kiệt rất đẹp và đa dạng về kiểu cách. Bia chùa Thiên Phúc chữ khắc rất đẹp, đúng là “Rồng bay phượng múa”.

- Về nội dung: nghiên cứu nội dung văn bia còn cần phải một thời gian. Nhưng có thể khái quát mấy nét lớn: đa số các bia, chuông gắn với việc xây dựng và trùng tu các công trình văn hóa như đình, chùa, miếu, quán... nói về lý do xây dựng hoặc trùng tu, về đóng góp của thiện nam tín nữ, về công lao của những người xây dựng... Một số bia gắn với tập tục gửi giỗ, bầu hậu khi xưa.

e) Từ đường : số từ đường của các họ còn lại khá nhiều. Nhiều dòng họ có ý thức tìm về cội nguồn, bảo vệ và phát huy truyền thống họ mình. Điều này gắn với lịch sử hình thành và phát triển của huyện Kiến Thụy: đây là đất bãi xưa, nhiều người ở các dòng họ khác nhau về đây khai thác. Trải nhiều đời, đến nay đã thành một khu vực trù phú và phát triển. Những người tới đây do nhiều lý do khác nhau, nhưng vẫn nhớ về cội nguồn, nên luôn luôn ghi chép và nhắc nhở con cháu tìm về với dòng họ chính tông. Hiện còn một số bia, gia phả, câu đối còn giữ ở các từ đường.

g) Sách vở Hán Nôm:

Do chiến tranh ác liệt kéo dài, do số người biết chữ Hán ngày một ít đi, nên sách vở, tài liệu Hán Nôm hầu như đã mất cả. Còn một vài bộ kinh Phật giữ ở các chùa (Trúc Am, Sùng Khánh...). Số thần tích chỉ có 6 quyển, sao chép có chỗ lộn xộn. Số sắc phong còn 131 tờ, nhưng xếp lẫn lộn, cần chỉnh lý lại. Số gia phả các họ không nhiều. Đáng chú ý có gia phả họ Bùi ở Tú Sơn, soạn từ năm Cảnh Hưng (1740-1786). Cụ Tăng Văn Đạm ở thôn Du Lễ, xã Kiến Quốc có tủ sách thuốc hơn 100 quyển, nhiều bộ có giá trị như bộ Y tông tâm lĩnh (64 quyển) của Hải Thượng Lãn Ông.

Con số 200 câu đối, 150 hoành phi ở các đình, chùa, đền miếu, từ đường cũng mang nhiều thông tin có giá trị về các di tích và quê hương của di tích.

Qua đợt điều tra, sưu tầm di sản Hán Nôm tại huyện Kiến Thụy, chúng tôi sơ bộ có mấy ý kiến:

1. Kiến Thụy là vùng đất giàu truyền thống mở mang, khai phá, xây dựng và bảo vệ đất nước, quê hương. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, còn giữ được nhiều di tích, di vật kiến trúc và văn tự quí, có thể soi sáng lịch sử địa phương. Những di sản này cần được bảo vệ, khai thác để phát huy hiệu quả của chúng.

2. Nên có một kế hoạch tổng thể để sưu tập chỉnh lý và lập hồ sơ cho mỗi di tích, di vật lịch sử, để có thể bảo vệ và khai thác tốt hơn.

3. Đến một thời điểm thích hợp sẽ tiến tới sưu tập, chỉnh lý, phiên dịch những tư liệu chính về lịch sử các xã, các di tích và các công trình văn hóa cổ khác, phục vụ cho việc tìm hiểu và biên soạn sử địa phương.

4. Trước mắt, cần tổ chức bảo vệ tốt tất cả những di tích lịch sử văn hóa hiện còn, những di vật vật chất và văn tự hiện có, coi đó là tài sản quý của địa phương, do chính quyền và nhân dân địa phương quản lý.(1)

H.V.L

CHÚ THÍCH

(1) Trên vùng đất Nghi Dương lịch sử, đoàn điều tra, sưu tầm tư liệu Hán Nôm chúng tôi được sự đón tiếp, chỉ đạo, giúp đỡ chân tình đầy hiệu quả của các đồng chí Huyện ủy, ủy ban nhân dân huyện, của các đoàn thể huyện, của phòng Văn hóa huyện, của Chính quyền Đảng ủy và nhân dân 20 xã trong huyện. Nhân đây, xin có lời cảm ơn chung.

TB

VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH TƯ LIỆU HÁN NÔM Ở HAI HUYỆN XUÂN THỦY, LÝ NHÂN VÀ
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

PHẠM VĂN THẮM

Xuân Thủy, Lý Nhân và thành phố Nam Định là ba huyện thị nằm ở ba vùng bắc, trung và nam của tỉnh Nam Hà, một tỉnh ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ.

Trải qua quá trình dựng làng giữ nước, các địa phương nói trên còn lưu giữ được nhiều di tích lịch sử như đình, chùa, miếu, nhà thờ họ v.v... Trong những di tích ấy có chứa đựng một mảng tư liệu được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm của người xưa để lại. Mảng tư liệu này tồn tại trên các loại hình văn bản được cấu tạo bằng các chất liệu đồng, đá, gỗ, giấy mà chúng ta quen gọi là bia, chuông, khánh, câu đối, hoành phi, thần phả, sắc phong, thơ đề trên biển gỗ v.v... Đây thực sự là mảng tài liệu rất cần cho bất kỳ ai muốn tiếp cận với những khía cạnh của đời sống văn hóa quá khứ của người xưa trên địa bàn này.

Công việc sưu tầm tài liệu Hán Nôm ở các huyện Xuân Thủy, Lý Nhân và thành phố Nam Định của đoàn cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm, với sự giúp đỡ của ủy ban nhân dân và Sở văn hóa - Thông tin tỉnh Nam Hà, đã thu được những kết quả đáng ghi nhận.

Về khối lượng tài liệu Hán Nôm sưu tầm được, xem bảng thống kê sau đây:

Nhìn vào bảng thống kê, ta thấy một số lượng di tích khá lớn đã được đoàn đến khảo sát. Đáng chú ý nhất có các di tích như: cụm di tích đình - đền - chùa Thọ Vực, thị trấn Ngô Đồng (Xuân Thủy); đình - chùa Ca Đà; đình Đức Bản Nội; Đức Bản Ngoại; Vạn Thọ (Lý Nhân); cụm di tích chùa Tháp, đền Trần của thành phố Nam Định... Về nhà thờ họ, phải kể đến cụm 7 nhà thờ họ còn đủ ngai kiệu, đồ thờ tự; sắc phong, bia đá cỡ lớn của xã Xuân Bắc, huyện Xuân Thủy. Song cũng có những di tích chỉ còn trơ nền, hoặc trong tình trạng cần tu sửa. Cả ba địa bàn trên đều có những xã, phường không tìm thấy di tích, hoặc vì đấy là những vùng đất mới khai phá dọc theo biển (như huyện Xuân Thủy), hoặc vì do máy bay Mỹ tàn phá trong những năm 1964-1972 (như 5 phường thuộc thành phố Nam Định).

Về mặt tư liệu, ngoài tấm bia đời Lý ở xã Nghĩa Xá, xã Xuân Ninh đã được phát hiện từ lâu(1), nhiều tư liệu mới đã được tìm thấy. Trước hết phải kể đến cuốn sách đồng tại xã Bắc Lý, Lý Nhân mang niên đại Hồng Đức 3 (1472). Sách có 2 tờ, mỗi tờ 2 mặt, khổ 29x13. Toàn bộ sách đồng nặng 6,5kg. Tiếp đến là 6 tấm bia đời Mạc được phát hiện dọc theo 3 miền nam, trung và bắc của Nam Hà. ở Xuân Thủy, cụm bia nhà Mạc gồm 3 tấm dựng tại chùa xã Thọ Nghiệp, tấm sớm nhất mang niên đại Đại Chính 2 (1531), tấm muộn nhất mang niên đại Hưng Trị 2 (1589). Một tấm bia nhà Mạc nữa tìm thấy ở xã Xuân Tân (được vớt dưới lòng sông lên) mang niên đại Hưng Trị 4 (1591). ở thành phố Nam Định, xã Mĩ Trung, một tấm bia nhà Mạc được gắn vào tường, mang niên đại Quang Bảo 6 (1559). ở Lý Nhân, xã Nhân Nghĩa có tấm bia nhà Mạc mang niên hiệu Vĩnh Định 1 (1547). Cũng phải kể đến nhiều tấm bia rêu xanh bao phủ, hoặc bị quét vôi, hoặc bị xây lấp vào tường, nhưng với sự giúp đỡ của bà con địa phương, vẫn in rập được, đó là cụm bia cổ tại xã Nguyên Lý, huyện Lý Nhân, mang các niên hiệu Đức Long (1634), Dương Đức 2 (1673), Chính Hòa 8 (1687), Chính Hòa 10 (1689).

Về loại hình chuông khánh, đã in rập được chiếc khánh đồng mang niên hiệu Chính Hòa 20 (1699) ở xã Chân Lý; quả chuông đồng đúc thời Vĩnh Thịnh 13 (1717) tại chùa Cao Đà Thượng (Lý Nhân)...

Mảng tư liệu ghi bằng chữ Hán, chữ Nôm lưu giữ trong các di tích của hai huyện Xuân Thủy, Lý Nhân và thành phố Nam Định chứa đựng nhiều thông tin quý, liên quan tới nhiều mặt chính trị, kinh tế, xã hội của từng địa phương. Chẳng hạn tấm bia nhà Mạc niên hiệu Đại Chính 2 (1531) ghi rõ 4 họ có công đầu trong cuộc khai phá, dựng lên ấp, thôn ở vùng Thọ Nghiệp. Một văn bản được lồng vào khung kính để trong đền thôn Kiên Long xã Giao Long có nhan đề: “Bản xã Kiên Long sáng khai lưu hậu văn” (Bài văn ghi việc mở mang dựng đất Kiên Long lưu lại đời sau), ghi rõ việc quai đê, lấn biển ở vùng này vào năm 1923 rất vất vả nhưng không thành. Đến năm Bảo Đại 9 (1934), 57 người trong làng đã đắp được một con đê nhỏ. Năm Bảo Đại 11 (1936), 157 người đắp được con đê lớn, quai được hơn 300 mẫu ruộng... Tấm bia “Hà Cát bảo linh tự bi ký” dựng năm Tự Đức 22 (1869) đã giúp chúng ta xác định được vị trí của một đồn biên phòng có tên gọi là Hà Cát, nay thuộc xã Hồng Thuận, huyện Xuân Thủy, mà sử sách đã bỏ sót không chép. Cũng tại xã Hồng Thuận, qua một tấm bia dựng tại đền thôn Giao Phường, ta biết được rằng: thôn này vào năm Minh Mệnh (1820 - 1840) gồm toàn những danh ca của 3 xã được tập hợp đến. Đến năm Thiệu Trị 5 (1845), ngày 13 tháng 2 triều đình trích ra hơn 300 mẫu đất hoang của Hà Cát giao cho thôn này và thôn này có xã hiệu từ đó...

Hy vọng rồi đây, chúng ta có dịp đi sâu hơn vào các tài liệu Hán Nôm đã và sẽ sưu tầm trên đất Nam Hà, qua đó rút ra những điều bổ ích, khả dĩ đóng góp vào công cuộc xây dựng nền văn hóa mới ở địa phương cũng như trong phạm vi cả nước trong giai đoạn trước mắt.

Số TT Huyện thị Số xã sưu tầm/ Số xã hiện có Số di tích Số mặt bia đã rập Số chuông Số khánh Số câu đối Số hoành phi
1 Xuân Thủy 37/ 42 406 400 56 5 1630 500
2 Lý Nhân 22/ 23 167 150 53 3 720 425
3 Nam Định 18/ 23 86 194 17 1 450 150

CHÚ THÍCH

(1) Xem Thơ văn Lý - Trần, Nxb. KHXH, H. 1977.

TB

HAI BỨC THƯ CỦA ĐỐC TÍCH

TRƯƠNG CHÍNH
ĐINH XUÂN LÂM

Tại kho Lưu trữ quốc gia Pháp có nhiều tư liệu quý về lịch sử Việt Nam thời kỳ cận đại. Sau đây xin giới thiệu hai bức thư chữ Hán của Đốc Tích - Thủ lĩnh nghĩa quân Hai Sông trong những năm 1883 - 1889 gửi từ Bát-na (An-giê-ri) về cho vợ con ở làng Yên Lưu Thượng, huyện Hiệp Sơn, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (cũ), nay là làng Lưu Thượng, xã Hiệp An, huyện Kim Môn, tỉnh Hải Hưng. Các tư liệu này cung cấp cho chúng ta một số sự kiện cụ thể về thời gian Đốc Tích (chính tên là Nguyễn Xuân Tiết) bị Pháp đày sang An-giê-ri (Bắc Phi).

Bức thư thứ 1: Có đóng dấu cơ quan lưu trữ Pháp ghi: “Lưu trữ trung ương xứ Đông Dương - Tài sản chung - Phủ Thống sứ Bắc Kỳ số 27.693-4” (Archives centrales de L’Indochine - Propriété publique - RST (No 27693-4). Nguyên văn bức thư dịch như sau:

“Mảng nghe: cha sinh mẹ dưỡng, công đức cù lao khó ai tranh giành. Phu xướng phụ tùy, lời thề non hẹn biển cùng nhau đính ước. Từ ngày mẹ con về nước(2) tôi và con trai(3) một lòng thương nhớ, ngày nhìn cảnh núi non sông nước(4), đêm ngồi trước ngọn đèn, bỏ sầu làm vui, dạy dỗ con, cho con học chữ Pháp và theo đạo cùng người Pháp(5). Hai cha con tôi vẫn bình an, khuyên nhà chớ có lo lắng. Tôi nuôi con, an cư lạc nghiệp, mặc cho con tạo xoay vần. Thân tôi nay như hòn đá lăn lóc bốn phương. Bây giờ vẫn ở chỗ cũ đã mấy năm trời, quần áo rách bươm, nhà may gủi sang cho; đường sá xa xôi, quần áo gửi sang nên may cho dày, có thể mặc được một năm, qua mùa đông và mùa hạ. Còn như áo quần của con thì vì theo học trường Pháp nên được cấp phát cũng tiện, chớ gửi sang. May cho sớm, rồi gửi quan Công sứ Hải Dương thu nhận và xin người chuyển sang cho. Không hề suy suyển. Chớ nên chậm trễ.

Nhà nên đến thăm viếng mẹ và chị gái tôi(6)

Thành Thái năm thứ 9, tháng 4(7)

Chưởng vệ lĩnh chức Đề đốc tỉnh Hải Dương là Nguyễn Xuân Tiết trú tại Tây thành(8)

Thư gửi về Nam Việt(9) cho bà Nguyễn Thị Triển ở làng Yên Lưu, huyện Kinh Hiệp(10).

Nguyễn Xuân Tiết tự ký

Bức thư thứ 2: có đóng dấu như trong tư liệu 1, ghi số: 27.693-19, đồng thời phía dưới có dấu tròn ghi: “Đề đốc Tích - Quan nước Nam-Đông Dương - Bắc Kỳ”. Đây là con dấu riêng của Đốc Tích đóng cuối lá thư, kèm theo chữ ký của ông.

Bát-na, ngày 30 tháng 6 năm 1898

An Đốc Tích(11) chụp ảnh năm nay là năm 1898. Đã chịu ban thánh thể lần đầu(12) vào ngày 17 tháng 6 năm 1897 tại trường thế tục(13) thành phố Bát-Na. Đã lên lớp nhất ngày mồng 5 tháng 10 năm 1897, chịu lễ kiên tín(14) tại Bát-Na ngày 19 tháng 6 năm 1898 và đã tốt nghiệp tiểu học(15) ngày 23 tháng 6 năm 1898.

Tôi gửi về gia đình tấm ảnh của con để làm kỷ niệm.

Ký tên: Đốc Tích.

T.C - Đ.X.L

CHÚ THÍCH

(1) Nguyễn Xuân Tiết (trong nhân dân quen gọi là Đốc Tích, Đốc Tít tùy theo cách phát âm) quê làng Yên Lưu Thượng, huyện Hiệp Sơn, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (cũ), nay là làng Lưu Thượng, xã Hiệp An, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Hưng. Từ năm 1883, ông tập hợp nghĩa quân nổi dậy chống Pháp, lấy vùng Hai Sông thuộc địa phận các huyện Kinh Môn, Đông Triều (Hải Dương cũ), Yên Hưng (Quảng Yên cũ) và Thủy Nguyên (Kiến An cũ) làm căn cứ. Tới năm 1889, ông bị Pháp bắt, sau đó đày sang Bắc Phi (An-giê-ri). Ông mất tại đó ngày 21/ 12/ 1916, thọ 63 tuổi (1854-1916). Thi hài ông được đưa về quê nhà ngày 29/ 12/ 1917 (16 tháng 11 âm lịch).

(2) Thời gian Đốc Tích bị đày sang An-giê-ri có vợ và con trai đi theo, sau đó hai ông bà có sinh thêm một người con gái trong thời gian chung sống ở Bắc Phi. ít lâu sau bà vợ và con gái về nước, chỉ có Đốc Tích và con trai ở lại.

(3) Con trai Đốc Tích tên là Nguyễn Xuân An theo bố mẹ sang Bắc Phi lúc mới 5 tuổi, sau ở lại với bố và vào học trường của Pháp.

(4) Đốc Tích bị quản thúc tại thị trấn Bát-na (An-giê-ri) ở sâu trong đất liền, phía bắc rặng núi O-rét (Aurès), cách xa bờ biển.

(5) Con trai Đốc Tích học trường Pháp ở Bát-na và theo đạo Thiên chúa. Có học bổng và được cấp phát quần áo.

(6) Mẹ vợ và chị ruột của Đốc Tích sống ở quê nhà. Người chị gái Đốc Tích tên là Thành, lấy chồng Hoa kiều, chuyên buôn gạo theo đường thủy từ Hải Phòng tới Đông Triều. Chính bà này đã lợi dụng các chuyến chở hàng để mua và chuyên chở vũ khí cho nghĩa quân Hai Sông.

(7) Đối chiếu Dương lịch là tháng 5-1899.

(8) Chỉ thành phố Bát-na của An-giê-ri thuộc địa của Pháp.

(9) Đúng ra là Việt Nam

(10) Tức Kinh Môn và Hiệp Sơn.

(11) Cách gọi tên theo người Pháp, có nghĩa rằng là An là con của Đốc Tích. Người Pháp đặt tên trước, họ sau.

(12) Một lễ quan trọng đánh dấu một người đã theo đạo Thiên Chúa.

(13) Trường của chính quyền, không do nhà thờ quản lý.

(14) Sau khi làm lễ ban thánh thể đầu tiên ít lâu thì đến lễ kiên tính, có nghĩa là người theo đạo đã được công nhận chính thức.

(15) Tương đương tốt nghiệp cấp 1 của ta.

TB

BẢN DỊCH "TRƯỜNG HẬN CA"

NGUYỄN THẠCH GIANG

Tác giả Bạch Cư Dị (772-846), nhà thơ, nhà lý luận văn học nổi tiếng đời Đường. Bài thơ được sáng tác năm 806, nội dung miêu tả mối tình bi thiết giữa Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi. Trường hận ca còn phản ánh được phần nào sự suy thoái của xã hội thời Trung Đường với sự biến An Lộc Sơn, sự hủ bại của triều đình phong kiến lúc bấy giờ.

Trước đây Trường hận ca được Tản Đà dịch thành thơ, in trong Thơ Đường tập II, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1987. Bản dịch thơ dưới đây do một số thân sĩ ở Bình Định tham gia dịch, trong đó có cụ Nguyễn Mỹ Tài. Bản dịch này đã được cụ Đào Tấn đọc duyệt. Nay xin giới thiệu trên Tạp chí Hán Nôm để bạn đọc tham khảo.

1. Xưa Vua Hán(1) trọng người sắc nước,
Tìm bao năm chưa được duyên lành.
Họ Dương gái mới trưởng thành,
Bồng xuân còn khoá tơ tình chửa trao.
Chất mĩ lệ trời nào nỡ bỏ,
Bổng chọn vào bên chỗ quân vương.
Một cười trăm vẻ rỡ ràng,
Sáu cung(2) son phấn xem dường nhạt không.
Tiết xuân lạnh, ao trong cho tắm(3)
10. Nước suối nông trơn thắm màu da.
Thị tì dìu đỡ thớt thơ,
Từ nay mới thật ơn nhờ yêu đương.
Tóc mây, mặt hoa, vàng gót dạo,
Đêm xuân nồng, nương náu màn đào.
Giận đêm vắn, mặt trời cao,
Quân vương từ ấy buổi chầu ra trưa.
Cuộc hoan yến say sưa mãi mãi,
Đêm lần đêm, xuân lại đòi xuân.
Trong ba ngàn kẻ cung tần,
20. Chỉ riêng giành một ái ân cho nàng.
Khi hầu tối nhà vàng sẵn đúc,
Khi vui xuân lầu ngọc càng say.
Anh em tước lộc đã dày,
Nức khen môn hộ từ rày vẻ vang.
Xui bác mẹ lòng thường ai cũng,
Sinh gái mà xem trọng hơn trai.
Cung Ly(4) cao vút mây trời,
Tiếng tơ, trúc hoà cùng hát, múa,
Gió đưa tiếng nhạc khắp nơi vàng lừng
30. Suốt ngày xem nào đã chán chê.
Đất Ngư(5) vang động sấm bề,
Khiếp thay áo vũ xiêm nghê tan tành.
Chốn thanh khuyết bỗng sinh khói lửa,
Cõi tây nam xe ngựa tếch chừng.
Cờ lay lay bỗng lại dừng,
Dặm tây xa chạy đã chừng ngoại trăm.
Quân đóng lại biết làm sao được,
Đem mày nga liều trước chinh yên.
Không người thu lượm hoa điền,
40.Lược vàng trâm ngọc vãi trên mặt đường.
Cứu chẳng được, quân vương bưng mặt,
Nhìn máu đào nước mắt hòa chan.
Bụi vàng man mác gió đàn,
Đường mây chằng chịt suối ngàn xông pha.
Bộ hành dưới núi Nga(6) thưa thớt,
Sắc cờ bên bóng nhật nhạt mờ.
Non xanh nước biếc bơ vơ,
Quân vương hôm sớm ngẩn ngơ mối tình.
Trăng hành cung ra hình sầu não,
50. Nhạc đêm mưa tiếng dạo đau lòng.
Đất trời xoay trở xe rồng,
Dùng dằng đến đấy chân không nỡ dời.
Bãi Ngôi(7) trong nơi bùn lấm,
Mặt ngọc đâu? thấy nấm mồ đâu?
áo đầm tôi, chúa nhìn nhau,
Đông Đô quen lối vó câu trở về.
Về vườn tược còn y như cũ,
Phù dung kia liễu nọ bên cung.
Liễu, hoa in ngắt hình dung,
60. Làm sao đối cảnh mà không lệ trào
Đón gió xuân lý đào hoa nở,
Gặp mưa thu rụng lá ngô đồng.
Cỏ tràn tây uyển nam cung,
Lá rơi không quét ngập hồng thềm sân.
Bạn hát cũ dần dần bạc tóc,
ả giám xưa xoa xoá trắng mày.
Đêm hôm buồn thấy đóm bay,
Đèn hiu khêu cạn giấc say chửa thành.
Đêm đằng đẵng chầy canh điểm trống.
70. Trời mờ mờ rọi bóng Ngân Hà
Nặng dày ngói uyển(8) sương sa,
Lạnh lùng chăn thúy ai mà đắp chung.
Kiếp sống thác thu đông đã trải,
Hồn chiêm bao qua lại còn không.
Có nhà đạo sĩ Lâm Cùng(9),
Trí hồn ra phép thần thông lạ thường.
Cảm nỗi chúa nhớ thương khắc khoải,
Hết lòng sai phương sĩ(10) tìm tòi.
Nhanh như chớp lướt gió, hơi,
80. Đã hầu xuống đất lên trời khắp phương.
Kìa mây biếc, suối vàng mọi chỗ,
Những mênh mông nào có thấy ai.
Toắt nghe có núi Bồng Lai,
ở đâu giữa khoảng bể trời mông lung.
Lầu sóng sánh mây hồng năm vẻ,
Người thướt tha nhiều vẻ cung tiên.
Có người tên gọi Ngọc Chân,
Mặt hoa da phấn cũng gần như in.
Ngoài kim khuyết gõ then nhắn hỏi,
90. Tiểu ngọc kia báo với cung thành(11)
Nghe tin có sứ Hán đình,
Chín hoa trong trướng thốt kinh giấc hài,
Bồi hồi dậy xiêm cài gối sửa,
Lại từ từ bình mở rèm lên.
Tỉnh mơ, mái tóc còn xiêm,
Mũ hoa chưa chỉnh gót sen vội dời.
Trông tay áo phất phơ trước gió,
Hãy in dường Nghê vũ(12) ngày xưa.
Châu chan nét ngọc bơ thờ,
100. Một cành lê đẫm hạt mưa xuân dào.
Ngừng nước mắt ngẹn ngào tạ chúa,
Cách âm dương đôi ngả mơ màng.
ái ân dứt lối Chiêu Dương,
Ngày dài tháng rộng đã thường cung tiên.
Ngoảnh trông xuống nhân hoàn dưới ấy,
Trường An đâu? chỉ thấy bụi mù.
Vật xưa đem tỏ tình sâu,
Này thoa này hạp xin hầu gửi qua.
Thoa vớt hạp chia ra hai nửa,
110. Nửa đem về còn nửa lưu đây.
Lòng xin bền tựa vật này,
Thiên đình, hạ giới hẹn ngày gặp nhau.
Khi lâm biệt mấy câu gắn bó,
Trong lời thề lòng tỏ đôi bên.
Nhớ hôm thất tịch bên đền,
Đêm khuya vắng lẻ lời nguyền riêng tây.
Chim trời nguyền đôi bay liền cánh,
Cây đất liền đôi nhánh liền da.
Có hồi đất sụp trời sa,
120. Giận này dằng dặc chẳng giờ nào nguôi.

N.T.G

CHÚ THÍCH

(1) Vua Hán đây chỉ Đường Minh Hoàng, nguyên văn dùng từ “Hán Hoàng”.

(2) Sáu cung: chỉ nơi hoàng hậu, cung phi của nhà vua ở.

(3) Chỉ ao Hoa Thanh trên núi Ly Sơn có suối nước nóng chảy vào, Đường Minh Hoàng sai xây cung điện ở đó.

(4) Cung Ly: tức Ly Cung, được xây trên núi Ly Sơn ở tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc.

(5) Đất Ngư: đất Ngư Dương, nơi An Lộc Sơn trấn thủ, thuộc tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc.

(6) Núi Nga My, ở phía tây nam tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc.

(7) Bãi Mã Ngôi, nơi Dương Quý Phi chết.

(8) Ngói uyển: ngói uyên ương, Ngụy Văn Đế nằm mơ thấy hai viên ngói rơi xuống đất, hoá đôi uyên ương, về sau người ta gọi thứ ngói ghép hai phiến một để lợp nhà là ngói uyên ương.

(9) Lâm Cùng: người huyện Cùng Lai, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc.

(10) Phương sĩ tức đạo sĩ.

(11) Tiểu Ngọc, Song Thành: tên hai nàng tiên.

(12) Điệu “Nghê thường vũ y”, tên một điệu ca vũ.

TB

SÁCH HÁN NÔM LƯU GIỮ Ở LEIDEN (HÀ LAN)

TRƯƠNG VĂN BÌNH

Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam đã bắt đầu hợp tác với Trường Viễn Đông bác cổ Pháp (Paris) trong một dự án xuất bản bộ thư mục sách Hán Nôm lưu giữ ở Việt Nam và bên ngoài Việt Nam. Điều này đã động viên tôi viết một chuyên luận ngắn về số sách Hán Nôm khiêm tốn được lưu giữ ở Leiden mà tôi đã tập hợp được trong suốt thời gian nghiên cứu ở Viện Hán học (Hà Lan). Mặc dầu số sách Hán Nôm ở Leiden không nhiều, độ 38 tên sách, tuy nhiên chúng có giá trị rất lớn vì đó là những bản rất hiếm và duy nhất.

Về lĩnh vực các tác phẩm lịch sử, có một vài bản thảo duy nhất còn may mắn giữ được như: Tỉnh hạt đinh điền hiệu mục, Tỉnh hạt hạ đông thuế lệ. Một bản thảo khác, tập Vãng An Nam nhật ký (Nhật ký đi An Nam), do một người Trung Quốc viết trong dịp sang Việt Nam năm 1890 nhưng vì nó rất quan trọng trong việc tìm hiểu nước Việt Nam hồi bấy giờ, nên tôi đưa vào danh mục sách giới thiệu ở dưới. Lại còn những bản in hiếm hoi của các bộ Đại Nam quốc sử diễn ca, Nam Kỳ lục tỉnh địa dư chí, Hoàng Việt địa dư chí...

Những tác phẩm văn học hầu hết được viết bằng chữ Nôm. Chúng ta có thể chia thành hai nhóm: một nhóm viết theo thể lục bát (một thể thơ theo luật câu 6 câu 8 rất phổ biến ở Việt Nam), nhóm khác viết theo thể hát (tuồng). Thể lục bát như Kim Vân Kiều tân truyện do Duy Minh Thị xuất bản năm 1872, là một xuất bản phẩm chưa ai biết tới, và cũng là một trong những ấn phẩm sớm nhất nay còn giữ được. Cho đến nay, bản in đó vẫn chưa thu hút sự chú ý của các học giả về văn học Việt Nam. Những tác phẩm truyện Nôm bình dân khác đã trở nên rất hiếm như Phan Trần truyện, Bạch Thử thư tập, Lâm Sinh Lâm Thụy truyện, Dương Ngọc cổ tích, Hứa Sử tân thư, Phú bần truyện , v.v... Những tác phẩm tuồng như Kim Long Xích Phụng toàn tập, Tây du diễn ca, Phong thần ấp bá khảo(2), Tam quốc chí Quốc ngữ là những bản in hiếm. Những tác phẩm văn vần hoặc hát tuồng này gợi mở những sự thực thú vị trong giai đoạn văn học rực rỡ của văn học bình dân cũng như lối hát tuồng Nôm truyền thống ở Việt Nam vào thế kỷ XIX.

Về những tác phẩm truyền giáo, có một số sách quan trọng như: Hội đồng Tứ giáo danh sư, Chân đạo yếu lý, Thánh giáo Quốc ngữ và Sách ngẫm ba mươi mốt điều. Những tác phẩm này có thể viết vào nửa đầu thế kỷ XIX hoặc sớm hơn, trước khi chữ Quốc ngữ được dùng để thay thế chữ Hán và chữ Nôm ở Nam Kỳ sau năm 1858.

Về tạp chí, Viện Hán học có một tập Gia Định báo rất quý hiếm. Đây là tờ Tạp chí Việt Nam viết bằng chữ Hán cổ nhất và có lẽ là bộ duy nhất còn giữ được đến nay. H. Cordier không ghi xuất bản phẩm này trong Thư mục Đông Dương (Paris, 1912-15) của ông, và theo M.Durant trong Dẫn luận về văn học Việt Nam (Introduction à la littérature Vietnamienne, Paris, 1969) thì Gia Định báo xuất hiện ở Sài Gòn vào năm 1865, in bằng chữ Quốc ngữ (tr.139) mà không đề cập tới xuất bản phẩm bằng chữ Hán.

Về những sách giáo khoa cho những lớp sơ học trong nền giáo dục truyền thống Việt Nam, có một vài tác phẩm như Trạng nguyên ấu học thi, ấu học thi diễn nghĩa, Huấn mông nhất khúc ca, Tam tự kinh diễn nghĩa, Thiên tự văn diễn nghĩa v.v...

Sau nữa, tôi xin nêu những điểm dưới đây:

- Hầu hết những sách này được lưu giữ ở Thư viện của Viện Hán học, trường Đại học Quốc gia Leiden, trừ một quyển Hứa sử tân thư ở trường đại học Kern.

- Để ghi niên đại của sách, tôi sử dụng phương pháp sau đây. Trước hết, nếu tên của năm xuất bản có ghi ở sách, tôi chuyển năm can chi là lối tính niên đại truyền thống của Việt Nam sang năm Dương lịch. Thứ nữa, tôi ghi kiểu chữ Hán hoặc chữ Nôm và tên nhà xuất bản.

- Ngoài những bản thảo và tác phẩm theo chủ đề lịch sử đã nói ở trên, nhiều sách lịch sử Việt Nam do tác giả Việt Nam viết như Việt sử lược, An Nam chí lược, và Nam Ông mộng lục đã được đưa vào các bộ sưu tập của Trung Quốc thì không đưa vào danh mục sách dưới đây.

- Tất cả tên sách đều sắp xếp theo chữ cái Latinh.

Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới Viện Hán học đã cho phép tôi điều tra sách Hán Nôm trong Thư viện của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

1. Ấu học thi diễn nghĩa: 幼 學 詩 演 義 , Hán Nôm, lục bát, số 993, khổ 25x15cm, 10 tờ. Mỗi mặt chia làm hai phần. Phần trên có 7 dòng, mỗi dòng có 5 chữ. Phần dưới 14 dòng, mỗi dòng 6 hoặc 8 chữ.

Trang tên sách:

Giữa: Ấu học thi diễn nghĩa

Bên phải: Phan Thành Phước Trai tiên sinh trước (Phước Trai ở Phan Thành viết). Việt Đông trấn, Phước Lộc nhai Thiên Bảo Lâu tử hành.

(Thiên Bảo lâu, phố Phước Lộc, Quảng Đông khắc in).

Bên trái: Quảng Đông nhai, Quảng Thạch Nam bản (Quảng Thạnh Nam đường Quảng Đông xuất bản).

Một quyển sách giáo khoa cho học trò, bài học bằng chữ Hán, lời giải thích bằng chữ Nôm viết theo thể thơ lục bát. Không ghi năm in. Có thể là ấn phẩm của thế kỷ XIX.

Trên trang đầu có ghi: Việt Đông Phật Trấn Văn Nguyên Đường bản (Văn Nguyên Đường, Phật Trấn, Quảng Đông xuất bản).

2. Bạch thử thư tập: 白 鼠 書 集 , Nôm, lục bát, 1875, Số 5157; 7 và 5157.7b; khổ 14x23cm, 16 tờ . Mỗi mặt có 10 dòng, mỗi dòng có 14 chữ.

Trang tên sách:

Phía trên: ất Hợi niên tân san (in mới năm ất Hợi, 1875).

Giữa: Bạch thử thư tập (chuyện một con chuột trắng).

Bên phải: Dương Đức hiệu đính chính tại Đề Ngạn Quảng Hạo Nguyên Điếm phát thụ (phát hành tại Đề Ngạn Quảng Hạo Nguyên Điếm, Chợ Lớn).

Bên trái: Việt Đông Phật Sơn Phước Lộc đại nhai Kim Ngọc Lâu tàng bản (Kim Ngọc Lâu, phố Phước Lộc, Phật Sơn, Quảng Đông xuất bản).

Truyện thơ Nôm bình dân, chưa rõ tác giả.

3. Chân đạo yếu lý: 真 道 要 理 Nôm, 1868, số 1987, khổ 24x18cm, 231 tờ. Mỗi mặt có 8 dòng, mỗi dòng 14 chữ.

Tờ đầu: Mặt 1: Chân đạo yếu lý.

Mặt 2:

Giữa: Thiên chúa giáng sinh nhất thiên bát bách lục thập thất niên (năm 1867).

Bên phải: Chân đạo yếu lí Quốc ngữ

Bên trái: Đinh Mão niên Gia Định trùng thuyên (In lại năm Đinh Mão tại Gia Định).

Tờ cuối: Mặt 1: 1 tranh minh hoạ với câu: Minh biện tà chính (phân biệt rõ chính tà).

Mặt 2: Thiên chúa giáng sinh nhất thiên bát bách lục thập bát niên (năm 1868).

Quyển sách về giáo lý, chưa rõ tác giả, gồm 9 bài nói về cuộc đời chúa Giêsu, sự sáng tạo ra trời và đất, vấn đề sống và chết.

4. Dương Ngọc cổ tích: 楊 玉 古 跡 , Nôm, lục bát, số 5994, khổ 25x15cm, 25 tờ. Mỗi mặt có 10 dòng, mỗi dòng có 22 chữ.

Trang tên sách:

Giữa: Dương Ngọc cổ tích

Bên phải: Minh Chương tiên sinh trước (Minh Chương tiên sinh viết).

Việt Đông tỉnh Phật trấn Phước Lộc đại nhai Thiên Bảo Lâu tử hành (Thiên Bảo Lâu, phố Phước Lộc, Phật trấn, Quảng Đông khắc in).

Bên trái: Quảng Đông nhai, Quảng Thạnh Nam tàng bản (Quảng Thạnh Nam phố Quảng Đông xuất bản).

Một truyện thơ Nôm, không ghi niên đại, nhưng qua kiểu chữ và nhà xuất bản, chúng tôi có thể đặt ấn phẩm này vào nửa sau của thế kỷ XIX. ở trang đầu, dòng dưới tên sách có ghi: Việt Đông Phật Trấn Phước Lộc đại nhai Văn Nguyên Đường tử hành (Văn Nguyên Đường, phố Phước Lộc, Phật Trấn Quảng Đông khắc in). Văn Nguyên Đường và Thiên Bảo Lâu ở cùng một đường phố. Có lẽ chúng có chung một người sở hữu, hoặc Thiên Bảo Lâu đã mua những ván khắc cũ của sách này từ Văn Nguyên Đường và sau đó bán chúng cho Quảng Thạnh Nam. Việc này cho thấy quyển sách này được in từ ván khắc của lần xuất bản cũ hơn.

5. Đại Nam Pháp hòa ước: 大 南 法 和 約 , Tháng 3 năm 1874, bản chữ Hán, số 4813.4.1, khổ 26x14cm, 16 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 7 dòng, mỗi dòng có 24 chữ.

Trang tên sách: Đại Nam Pháp hòa ước.

Một bản sao lại nguyên văn hòa ước. Hiệp nghị này do đại biểu Việt Nam Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường và đại biểu Pháp Dupré ký ngày 27 tháng giêng năm Tự Đức 27 (15 tháng 3 năm 1874) đã thừa nhận “quyền thống trị đầy đủ và hoàn toàn” của nước Pháp ở Nam Kỳ và những quyền lợi về chính trị và kinh tế khác.

6. Đại Nam quốc sử diễn ca: 大 南 国 史 演 歌 , Hán Nôm, lục bát, 2 bản:

A/ Số 3545, khổ 26x15cm, 70 tờ (1 + 4 + 65). Mỗi mặt của một tờ chia làm hai phần: phần trên là nguyên văn chữ Hán, 12 dòng, mỗi dòng 14 chữ. Phần dưới là thơ Nôm, 8 dòng, mỗi dòng 14 chữ. Chỗ trống phía trên cùng, còn có những chú thích.

Trang tên sách:

Giữa: Đại Nam quốc sử diễn ca.

Bên phải: Tự Đức nhị thập tam niên Canh Ngọ hạ (mùa hạ năm Tự Đức 23) (1870).

Bên trái: Trí Trung Đường tàng bản (Trí Trung Đường xuất bản).

B/ Số 5803.6, khổ 24x15cm, 70 tờ (1+4+65). Sự sắp xếp của mỗi tờ, số dòng và số chữ mỗi dòng cũng giống như bản A:

Giữa: Đại Nam quốc sử diễn ca.

Phía trên: Đồng Trị Giáp Tuất niên tân san (In lại năm Giáp Tuất niên hiệu Đồng Trị, 1874).

Bên phải: Tại Đề Ngạn Hòa Nguyên Thạnh phát khách (Hòa Nguyên Thạnh, Chợ Lớn phát hành).

Bên trái: Gia Định thành Duy Minh thị phó tử (Duy Minh Thị thành Gia Định đưa khắc in). Việt Đông Phật Trấn Phước Lộc đại nhai Kim Ngọc Lâu tàng bản (Kim Ngọc Lâu, phố Phước Lộc, Phật Trấn, Quảng Đông xuất bản).

Đây là một quyển lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Nôm theo thể lục bát của Lê Ngô Cát, một tác gia thế kỷ XIX, kể chuyện từ khi mở đầu lịch sử đến khi kết thúc triều đại Tây Sơn.

7. Gia Định báo 嘉 定 報 , Hán, 1866, 1867, 1868, khổ 22x12cm. Chỉ có 3 số đóng trong một tập.

A/ Số tháng 8 năm Bính Dần (1866): 19 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 9 dòng, mỗi dòng có 20 chữ.

B/ Số 8 của tháng 12 năm Đinh Mão (1867): 4 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 8 dòng, mỗi dòng có 23 chữ.

C/ Số 1 của tháng tư năm Kỷ Tỵ (1869), 8 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 9 dòng, mỗi dòng có 22 chữ.

Đầu đề: Gia Định báo.

Tờ tạp chí cổ nhất của Việt Nam viết bằng chữ Hán được xuất bản ở Gia Định theo lệnh của chính phủ thực dân Pháp ở Nam Kỳ. Tờ báo bao gồm những thông báo, báo cáo, hoạt động của chính quyền thực dân Pháp những năm ấy. Đó là xuất bản phẩm rất hiếm.

8. Hiệp Kỷ lịch: 協 紀 曆 , Hán, 1883, số 3545, khổ 24x13cm, 20 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 16 dòng, mỗi dòng có 53 chữ.

Trang t ên sách:

Đại Nam Tự Đức tam thập niên tuế thứ Mùi Hiệp kỷ lịch (Lịch của nước Đại Nam năm Quý Mùi, niên hiệu Tự Đức 36).

Trang 1: Đô thành Thừa Thiên phủ Tiết khí thần khắc (Thời khắc, Tiết khí phủ Thừa Thiên, Kinh Đô)(3).

Đây là một quyển lịch truyền thống của Việt Nam do đài thiên văn định ra và được vua ban bố. Trang đầu có dấu của Khâm thiên giám (đài thiên văn) và tờ cuối cùng có ghi tên những người biên soạn.

9. Hoàng Việt dư địa chí: 皇 越 輿 地 誌 , Hán, 1872, số 3546, khổ 23x16cm. Hai sách đóng vào một tập:

Sách 1: 69 tờ. Sách 2: 48 tờ. Mỗi mặt của một tờ có 9 dòng, mỗi dòng 21 chữ. Chú thích ở khỏang trống phía trên.

Trang tên sách:

Phía trên: Tuế tại Nhâm Thân niên tân thuyên (In năm Nhâm Thân, 1872).

Giữa: Hoàng Việt địa dư chí.

Bên phải: Minh Mệnh thập tứ niên trước (biên soạn năm Minh Mệnh 14, 1833).

Tại Đề Ngạn Hòa Nguyên Thạnh phát khách (Hòa Nguyên Thạnh, Chợ Lớn phát hành).

Một tác phẩm địa lý quan trọng của Việt Nam, chưa rõ tác giả. ở mặt sau của tờ đầu, có lời tựa của Duy Minh Thị cho in lần này ở Gia Định, năm 1872).

10. Hoàng Việt luật lệ: 皇 越 律 例 , Hán, 1813, Số 4888.54.1 và 4888.54.2, khổ 32x21cm.

Trang tên sách:

Phía trên: Gia Long thập nhị niên ban hành (Ban hành năm Gia Long 12) (1813).

Giữa: Hoàng Việt luật lệ

Một bản in lần đầu rất đẹp, đóng thành 4 tập, 22 chương. Bao gồm luật dân sự, luật hành chính, luật lễ nghi, luật quân sự và luật tội phạm. Bộ luật được xuất bản theo lệnh của Hoàng đế.

11. Hội đồng tứ giáo danh sự: 會 同 四 教 名 師 Nôm, không ghi niên đại, không ghi nơi xuất bản. Số 1980, khổ 26x14cm, 35 tờ. Mỗi mặt có 9 dòng, mỗi dòng có 30 chữ.

Tên sách ở trang thứ nhất: Hội đồng tứ giáo danh sư.

Một quyển sách hỏi đáp giáo lý viết dưới dạng một cuộc thảo luận giữa một tín đồ Công giáo, một nhà Nho, một người theo Đạo giáo, do một người theo đạo Thiên chúa, chưa rõ tên, viết. Trong sách này, cuộc hội nghị được tiến hành vào đời Cảnh Hưng (1740-1786) nhà Lê và dưới thời Tĩnh Đô Vương (Trịnh Sâm: 1767 - 1781) của họ Trịnh. Sách có lẽ được viết vào nửa cuối thế kỷXVIII.

12. Hứa Sử tân thư: 許 使 新 書 , Nôm, lục bát, 1879, số 1803 (trong Thư viện của Viện Kern, Trường Đại học Tổng hợp Leiden), 35 tờ. Mỗi mặt của một tờ có mười dòng, mỗi dòng có 14 chữ.

Trang tên sách:

Phía trên: Quang Tự Kỷ Mão niên tân khắc (khắc mới vào năm Kỷ Mão niên hiệu Quang Tự, 1879).

Giữa: Hứa Sử tân thư.

Bên phải: Dương Đức Thị đính chính.

Tại Đề Ngạn đại thị Hòa Nguyên Thạnh phát thụ (Hòa Nguyên Thạnh, Chợ Lớn phát hành).

Bên trái: Thượng quyển, Việt Đông Trần thôn Vĩnh Hòa Nguyên tàng bản.

(Quyển 1. Trung Hòa Nguyên, thôn Trần, Quảng Đông xuất bản).

Truyện thơ lục bát, chưa rõ tác giả.

13. Huấn mông nhất khúc ca: 訓 蒙 一 曲 哥 , Hán Nôm, lục bát, Số 5803.6 khổ 23x13cm, 29 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 5 dòng. Mỗi dòng 14 chữ.

Trang tên sách:

Giữa: Huấn mông nhất khúc ca.

Bên phải: Thiệu Trị niên Quảng Nam Cử nhân Nguyễn Đắc Thuyên soạn (Cử nhân Nguyễn Đắc Thuyên ở Quảng Nam soạn năm Thiệu Trị, 1840-1847).

Bên trái: Cận Văn Đường tàng bản. Hòa Nguyên Thạnh phát thụ (Cận Văn Đường xuất bản. Hòa Nguyên Thạnh phát hành).

Sách giáo khoa sơ học. Có hai chương. Mỗi chương gồm 1 bảng từ, hơn 1 ngàn chữ Hán và nghĩa của chúng bằng chữ Nôm. Những chữ Hán và chữ Nôm này được sắp xếp xen kẽ, để giúp học trò Việt Nam học chữ Hán.

14. Kim Long Xích Phụng toàn tập: 金 龍 赤 鳳 全 集 , Nôm, số 5727.15 và 5727.16, khổ 25x16cm, 52 tờ. Mỗi mặt có 9 dòng, mỗi dòng 20 chữ.

Trang tên sách:

Giữa: Kim Long Xích Phụng toàn tập.

Bên phải: Đề Ngạn Hòa Nguyên Thạnh phát thụ (Hòa Nguyên Thạnh Chợ Lớn phát hành).

Bên trái: Việt Đông Phật Trấn Cận Văn Đường tàng bản (Cận Văn Đường, Phật Trấn, Quảng Đông xuất bản).

Một tác phẩm tuồng rất phổ biến, chưa rõ tác giả. Không ghi niên đại, có thể là một bản in ở thế kỷ XIX, là một bản in rất hiếm.

15. Kim Vân Kiều lục: 金 雲 翹 錄 Hán, 1876, Số 5803.6, khổ 25x15cm, 82 tờ. Mỗi mặt của một tờ có 10 dòng, mỗi dòng có 24 chữ.

Trang tên sách:

Phía trên: Tự Đức Bính Tý Mạnh thu tân thuyên (Khắc in mới vào tháng đầu thu năm Bính Tý, Niên hiệu Tự Đức, 1876).

Giữa: Kim Vân Kiều lục.

Bên phải: Phước Bình Lê Thị phiên khắc.

Bên trái: Hà Nội Cổ Vũ Cẩm Văn Đường tàng bản (Cẩm Văn đường, Cổ Vũ, Hà Nội xuất bản)

Tóm tắt câu chuyện Kim Vân Kiều trong văn học Trung Quốc.

Một bài thơ của Phạm Quý Thích ở trang đầu.

16. Kim Vân Kiều tân truyện: 金 雲 翹 新 傳 , Nôm, lục bát, 1872, Số 5803.6, khổ 20x12cm, 83 tờ. Mỗi mặt của một tờ có 10 dòng. Mỗi dòng có 14 chữ.

Trang tên sách:

Phía trên: Nhân Thân niên tân thuyên (Khắc in mới năm Nhâm Thân, 1872).

Giữa: Kim Vân Kiều Tân truyện

Bên phải: Tiên Điền Lễ Tham Nguyễn Hầu soạn (Nguyễn Hầu, Tham tri Bộ Lễ, người Tiên Điền soạn).

Bên trái: Việt Đông Phật Trấn Phước Lộc đại nhai Kim Ngọc Lâu phát đoái (Kim Ngọc Lâu, phố Phước Lộc, Phật trấn, Quảng Đông phát hành).

Trang cuối: Thiên tử vạn vạn niên tuế tại Nhâm Thân xuân Nam Việt Gia Định thành cư sỹ Duy Minh Thị trùng san (Cư sỹ Duy Minh Thị thành Gia Định, Nam Việt in lại vào năm Nhâm Thân trong muôn vàn năm của Thiên tử).

Một tác phẩm văn học lớn của Việt Nam, được viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ lục bát của Nguyễn Du (1766-1820), mở đầu bằng một bài thơ của Phạm Quý Thích. Đây là một bản in rất hiếm và là một trong những bản sớm nhất còn giữ được đến ngày nay. Cho tới nay, bản này vẫn chưa được các học giả về văn học Việt Nam biết tới.

17. Lâm Sinh Lâm Thụy truyện: 林 生 林 瑞 傳 , Nôm, lục bát, 1876, số 5994, khổ 25x16cm, 82 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 10 dòng, mỗi dòng có 14 chữ.

Trang tên sách:

Phía trên: Bính Tý niên tân san (khắc in mới năm Bính Tý).

Giữa: Lâm Sinh Lâm Thụy truyện

Bên phải: ý Phong hiệu đính chính (Hiệu ý Phong đính chính).

Đề Ngạn đại thị Quảng Thạnh Nam phát thụ (Quảng Thạnh Nam, Chợ Lớn phát hành).

Bên trái: Việt Đông Tỉnh, Phật Sơn Trấn, Cận Văn Đường tàng bản (Cận Văn Đường, trấn Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông xuất bản).

Một truyện thơ Nôm lục bát, chưa rõ tác giả.

18. Lý Công tân thư: 李 公 新 書

Nôm, lục bát, 1876, số 5994, khổ 25x16cm, 37 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 10 dòng, mỗi dòng có 14 chữ.

Trang tên sách:

Phía trên: Bính Tý niên tân san (khắc in mới vào năm Bính Tý, 1876).

Giữa: Lý Công tân thư.

Bên phải: Dương Minh Đức Thị soạn (Dương Minh Đức soạn). Đề Ngạn Hòa Nguyên Thái phát thụ (Hòa Nguyên Thái Chợ Lớn phát hành).

Bên trái: Việt Đông Trần Thôn Vĩnh Hòa Nguyên tàng bản (Vĩnh Hòa Nguyên, thôn Trần, Quảng Đông xuất bản).

Một truyện thơ bình dân, viết bằng chữ Nôm, theo thể lục bát.

19. Lý Công tân truyện: 李 公 新 傳 , Nôm, lục bát, 1879, số 5157.10, khổ 19x13cm, 36 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 10 dòng, mỗi dòng 14 chữ.

Trang tên sách:

Giữa: Lý Công tân truyện

Bên phải: Tự Đức Kỷ Mão xuân (Mùa xuân năm Kỷ Mão, niên hiệu Tự Đức, 1879).

Bên trái: Thành Văn Đường tàng bản (Thành Văn Đường xuất bản).

Một truyện thơ bình dân viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ lục bát. Tờ cuối bị mất. Không ghi tên tác giả. Nhưng từ đặc điểm là bản này rất giống với Lý Công tân thư và những chỗ khác nhau chỉ ở số từ và số dòng, chúng tôi có thể nói rằng hai sách này do cùng một tác giả viết. Nhưng bản này đã được hiệu đính.

20. Nam Kỳ lục tỉnh địa dư chí: 南 圻 六 省 地 輿 誌 , Hán, Duy Minh thị soạn, Gia Định, 1872, số 3034, khổ 23x16cm, 52 tờ. Mỗi mặt của một tờ có 9 dòng, mỗi dòng có 22 chữ.

Trang tên sách:

Phía trên: Nhâm Thân niên tân thuyên (Khắc in mới năm 1872).

Giữa: Nam Kỳ lục tỉnh địa dư chí (Địa dư 6 tỉnh của Nam Kỳ).

Bên phải: Duy Minh Thị soạn.

Tại Đề Ngạn đại thị, Quảng Thạnh Nam phát khách (Quảng Thạnh Nam, Chợ Lớn phát hành).

Sách địa dư 6 tỉnh của miền Nam Việt Nam, do Duy Minh Thị biên soạn năm 1872. Bài tựa do tác giả viết cùng năm ấy.

21. Nữ tắc diễn âm: 女 則 演 音 , Nôm, lục bát, 1868, số 5157.8, khổ 19x13cm, 18 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 9 dòng, mỗi dòng 14 chữ.

Trang tên sách:

Giữa: Nữ tắc diễn âm.

Bên phải: Tự Đức Mậu Thìn Mạnh thu tân soạn (Khắc in mới vào tháng đầu thu (tháng 7) năm Mậu Thìn, niên hiệu Tự Đức, 1868).

Bên trái: Thạnh Văn Đường tàng bản.

Một cuốn sách gối đầu giường của nhà Nho dành cho phụ nữ, chưa rõ tác giả. Sách được viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ lục bát.

22. Phan Trần truyện: 潘 陳 傳 , Nôm, lục bát, 1867, số 5157.9, khổ 18x13cm, 21 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 12 dòng, mỗi dòng có 14 chữ.

Trang tên sách:

Giữa: Phan Trần truyện.

Bên phải: Tự Đức Tân Mão thu tân san (khắc in mới vào mùa thu năm Tân Mão niên hiệu Tự Đức, 1867). Bên trái: Thịnh Văn Đường tàng bản (Thịnh Văn Đường xuất bản).

Một tiểu thuyết bằng thơ quen biết, viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ lục bát, chưa rõ tác giả. Tác phẩm này cùng với Kim Vân Kiều tân truyện Hoa Tiên truyện trở thành ba tác phẩm văn học Việt Nam thế kỷ XIX được đánh giá cao nhất. Có lẽ đây là bản in sớm nhất còn giữ lại được.

23. Phong thần ấp bá khảo toàn tập: 封 t神 邑 伯 考 全 集 , Nôm. Không rõ niên đại. Số 5768 Feng Shen 6, khổ 25x16cm, 18 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 10 dòng, mỗi dòng có 22 chữ.

Trang tên sách:

Giữa: Phong thần ấp bá khảo toàn tập

Bên phải: Quảng Đông nhai Hòa Nguyên Thạnh phát thụ (Hòa Nguyên Thạnh, phố Quảng Đông phát hành).

Bên trái: Quảng Đông Phật Trấn Cận Văn Đường bản (Cận Văn Đường Phật Trấn Quảng Đông xuất bản).

Một vở tuồng viết bằng chữ Nôm, chưa rõ tác giả, không ghi niên đại. Có thể là ấn phẩm của thế kỷ XIX.

24. Phú bần truyện diễn ca: 富 貧 傳 演 哥 , của Trương Minh Ký. Nôm, lục bát, 1885, số 1681, khổ 24x15cm, 19 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 10 dòng, mỗi dòng 14 chữ.

Trang tên sách:

Phía trên: ất Dậu niên trùng san (In lại vào năm ất Dậu, 1885).

Giữa: Phú bần truyện diễn ca.

Bên phải: Gia Định tỉnh thành Trương Minh Ký soạn.

Một truyện bình dân viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ lục bát của Trương Minh Ký. Mở đầu bằng 4 bài thơ Đường luật của Phan Công Thành, Trần Đông, Văn Bội Nguyên và Nguyễn Tường Thụy. ở trang cuối có ghi: Gia Định Giáp Thân niên cửu nguyệt sơ nhất nhật Trương Minh Ký (Trương Minh Ký ngày 1 tháng 9 năm Giáp Thân, 1884, ở Gia Định).

25. Sách ngẫm ba mươi mốt điều: 冊 吟 倈 邁 沒 條 , Nôm, 1868, số 1960, khổ 26x14cm, 75 tờ (1+2+72). Mỗi mặt của 1 tờ có 9 dòng, mỗi dòng 25 chữ.

Tên sách ở trang đầu: Sách ngẫm ba mươi mốt điều.

Trên trang cuối: Gia Định trùng thuyên tân bản, tuế thứ Mậu Thìn niên tạo (Khắc in lại bản mới ở Gia Định vào năm Mậu Thìn, 1868).

Một cuốn sách suy ngẫm; lời tựa và nguyên văn bằng chữ Nôm. Sách gồm 31 phần, mỗi phần chia làm ba đoạn, chưa rõ tác giả. Trong lời tựa tác giả nói rằng sách này được biên soạn vào năm 1746.

26. Tam quốc chí Quốc ngữ: 三 國 誌 國 語, Nôm, số 5751.16, khổ 21x15cm, 2 sách, 39 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 10 dòng, mỗi dòng 22 chữ.

Trang tên sách:

Giữa: Tam quốc chí Quốc ngữ Thượng, hạ.

Bên phải: Quảng Đông nhai Hòa Nguyên Thạnh phát thụ (Hoà Nguyên Thạnh, phố Quảng Đông phát hành).

Bên trái: Quảng Đông Phật Trấn, Cận Văn Đường bản (Cận Văn Đường, Phật Trấn, Quảng Đông xuất bản).

Một vở tuồng Nôm chưa rõ tác giả. Không ghi niên đại, có thể là ấn phẩm thế kỷ XIX. Hai sách này có 4 chương từ “Tam cố mao lư” (Ba lần tới thăm nhà tranh), đến “Đương Dương Trường Bản” (Trận đánh lớn ở dốc Trường Bản). Là một bản hiếm.

27. Tam Quốc chí Quốc ngữ bản:

三 國 誌 國 語 本 , Nôm, 1880, số 5754.16, khổ 24x15cm, 25 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 9 dòng, mỗi dòng có 24 chữ.

Trang tên sách:

Phía trên: Quang Tự Canh Thìn niên trùng khắc (Khắc in lại năm Canh Thìn, niên hiệu Quang Tự, 1880).

Giữa: Tam Quốc chí Quốc ngữ bản.

Bên phải: Trùng Phước hiệu (Hiệu Trùng Phước). Sách Kinh Châu chí cầu hôn Giang Tả (từ hồi Đòi Kinh Châu sang Giang Đông cầu hôn).

Bên trái: Phật Trấn Phước Lộc đại nhai Văn Nguyên Đường tàng bản (Văn Nguyên Đường phố Phước Lộc, Phật Trấn xuất bản).

Một vở tuồng Nôm của Trùng Phước. Tác giả của tác phẩm này có lẽ đồng thời cũng là tác giả của Tam quốc chí Quốc ngữ. Là một văn bản hiếm.

28. Tam tự kinh diễn nghĩa: 三 字 經 演 義 , Hán Nôm, lục bát, số 5161, khổ 21x15cm, 17 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ chia làm 2 phần, phần trên có 6 dòng, mỗi dòng có 6 chữ, phần dưới có 12 dòng, mỗi dòng có 6 hoặc 8 chữ.

Trang tên sách:

Giữa: Tam tự kinh diễn nghĩa.

Bên phải: Phan Thành Phước Trai tiên sinh trước (Phước Trai ở Phan Thành biên soạn).

Việt Đông Trấn Phước Lộc đại nhai Thiên Bảo Lâu tử hành (Thiên Bảo Lâu phố Phước Lộc, Trấn Việt Đông khắc in).

Bên trái: Quảng Đông nhai Quảng Thạnh Nam bản (Quảng Thạnh Nam phố Quảng Đông xuất bản).

Sách giáo khoa sơ học có giải thích bằng chữ Nôm theo thể thơ lục bát. Không ghi niên đại. Có thể là một bản in của thế kỷ XIX. Phần trên là nguyên văn chữ Hán, phần dưới là giải thích bằng thơ Nôm. ở trang đầu có ghi: Việt tỉnh, Phật Trấn Văn Nguyên Đường bản (Văn Nguyên Đường Phật Trấn, tỉnh Quảng Đông xuất bản).

29. Tân đính vạn sự bất cầu nhân thư: 新 訂 萬 事 不 球 人 書 , Hán, 1873, số 5994, khổ 25x14cm, 26 tờ. Mỗi mặt có 16 dòng, mỗi dòng có 19 chữ.

Trang tên sách:

Giữa: Tân đính vạn sự bất cầu nhân thư.

Bên phải: Tự Đức Quý Dậu mãn nguyệt hạ hoãn tân san (Khắc in mới vào hạ tuần tháng năm năm Quí Dậu niên hiệu Tự Đức, 1873).

Thạch Văn Đường tàng bản (Thạnh Văn Đường xuất bản).

Bên trái: Tăng bổ Ngọc hạp thông thư, chiêm nhật nguyệt, cát hung, lục thập Giáp Tý (Bổ sung thêm các phần Ngọc hạp thông thư, xem mặt trời mặt trăng đoán lành dữ. 60 Giáp Tý).

Một quyển sách chiêm tinh học và lịch số. Có một phần về những ngày sinh của các Đức Phật, Đức Bồ Tát và các vị thần, chưa rõ tác giả.

30. Tây du diễn ca nhị bản 西 遊 演 哥 二 本 , của Duy Minh Thị. Nôm, 1878, Số 5727.13, khổ 15x23cm, 18 tờ. Mỗi mặt của một tờ có 10 dòng, mỗi dòng có 30 chữ.

Trang tên sách:

Phía trên: Mậu Dần tân niên tẩm (Khắc in mới năm Mậu Dần; 1878).

Giữa: Tây du diễn ca nhị bản

Bên phải: Gia Định Duy Minh Thị soạn, xuân nguyệt thành vu Tây Ninh thự (Duy Minh Thị ở Gia Định biên soạn, hoàn thành ở công sở Tây Ninh vào tháng mùa xuân). Đề Ngạn Hòa Nguyên Thạnh Phát thụ (Hòa Nguyên Thạnh, Chợ Lớn phát hành).

Bên trái: Việt Đông Trần thôn, Vĩnh Hòa Nguyên tàng bản (Vĩnh Hòa Nguyên, thôn Trần, Quảng Đông xuất bản).

Một vở tuồng Nôm, một văn bản hiếm.

31. Thánh giáo quốc ngữ 聖 教 國 語 , Gia Định, 1866. Viết bằng chữ Nôm, có lời tựa bằng chữ Hán. Số 1987.2, khổ 24x13cm, 59 tờ (1+1+1+4+52). Mỗi mặt của một tờ có 8 dòng, mỗi dòng 15 chữ. Có hai tranh vẽ minh họa.

Tờ đầu mặt thứ nhất:

Giữa: Thánh giáo Quốc ngữ.

Bên phải: Bính Dần niên cát nhật (Ngày lành năm Bính Dần: 1866).

Bên trái: Gia Định thành trùng thuyên (In lại tại Gia Định).

Mặt thứ hai:

Giữa: Thánh giáo yếu lý Quốc ngữ.

Bên phải: Thượng thiên vinh phước ư đại Chủ (trên trời ban vinh quang và hạnh phúc cho Chúa vĩ đại).

Bên trái: Hạ địa an hòa ư thiện nhân (dưới đất ban yên ổn cho người lành).

Tờ cuối, mặt thứ hai: Nhĩ hà nhất thể đồng tín (gần xa một thể cùng tin).

Một cuốn sách hỏi đáp giáp lý, viết bằng chữ Nôm. Sách có 16 phần về truyền dạy đạo Thiên Chúa và những lời cầu nguyện. Chưa rõ tác giả.

32. Thiên tự văn diễn nghĩa: 千 字 文 演 義 , Hán Nôm, lục bát số 5161, khổ 21x15cm, 18 tờ. Mỗi mặt của một tờ chia làm hai phần: phần trên có 6 dòng, mỗi dòng 8 chữ. Phần dưới 12 dòng, mỗi dòng 6 hoặc 8 chữ.

Trang tên sách:

Giữa: Thiên tự văn diễn nghĩa.

Bên phải: Phan Thành Phước Trai tiên sinh trước (Phước Trai tiên sinh ở Phan Thành biên soạn).

Việt Đông Trấn Phước Lộc nhai Thiên Bảo Lâu tử hành (Thiên Bảo lâu, phố Phước Lộc, Quảng Đông khắc in).

Bên trái: Quảng Đông nhai Quảng Thạnh Nam bản (Quảng Thạnh Nam, phố Quảng Đông xuất bản).

Một quyển sách tập viết chữ không ghi niên đại. Có thể là ấn phẩm của thế kỷ XIX. ở phần trên, ngoài nguyên văn chữ Hán, có ghi nghĩa của mỗi chữ bằng chữ Nôm cho 152 chữ đầu. ở phần dưới, phần giải thích bằng chữ Nôm, được viết theo thể thơ lục bát. ở trang đầu sách có ghi: Việt Đông Phật Trấn, Văn Nguyên Đường bản (Văn Nguyên Đường, Phật Trấn Quảng Đông xuất bản).

33. Tỉnh hạt đinh, điền hiệu mục. 省 轄 丁 田 效 目 , Hán bản chép tay, 1881, số 4415.41, khổ 32x19cm, 58 tờ. Mỗi mặt của một tờ có 8 dòng, mỗi dòng có 30 chữ.

Trang tên sách: Tỉnh hạt đinh, điền hiệu mục

Một bản ghi về nhân khẩu, binh lính, ruộng đất công, tư của các vùng sau đây: Yên Khánh, Kim Sơn, Phong Doanh, Yên Mô, Yên Hóa và Phụng Hóa vào năm Tự Đức 34 (1881). Đây là một tài liệu rất quan trọng và là một bản duy nhất còn lại tới nay.

34. Tỉnh hạt hạ đông thuế lệ: 省 轄 夏 冬 稅 例 , Hán, bản chép tay, 1881, số 4591.2, khổ 24x27cm, 303 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 7 dòng, mỗi dòng có 30 chữ.

Trang tên sách: Tỉnh hạt hạ đông thuế lệ

Những ghi chép về thuế mùa hè và thuế mùa đông vào năm Tự Đức 34 (1881) của các vùng: Yên Khánh Yên Mô, Kim Sơn, Gia Viễn, ý Yên, Yên Hóa, Lạc Yên, Phụng Hóa. Đây là những tài liệu rất quan trọng và là bản duy nhất còn lại tới nay.

35. Trạng nguyên ấu học thi 狀 元 幼 學 詩 , Hán, Số 993, khổ 26x15cm, 14 tờ. Mỗi mặt của một tờ có 5 dòng. Mỗi dòng có 5 chữ.

Trang tên sách:

- Bên phải: Hiệu chính chích tẹ vô ngoa (Hiệu đính từng chữ Giữa: Trạng nguyên ấu học thi chữ không sai

Bên phải: Ngũ Vân lâu tàng bản (Ngũ Vân lâu xuất bản).

Một quyển sách giáo khoa cho những lớp sơ học, được dùng ở nông thôn để tăng cường tri thức văn hóa vào thế kỷ XIX. Học sinh trước khi đọc các sách kinh điển của Nho học phải bắt đầu học những sách như loại này. Sách được viết bằng chữ Hán, với thể thơ ngũ ngôn. Chưa rõ tác giả. Không ghi niên đại. Có thể là ấn phẩm thế kỷ XIX.

36. Tự học cầu tinh ca: 字 學 求 精 哥, Đỗ Công Sở soạn. Hán, 1880, Số 5161, khổ 25x15cm, 19 tờ. Mỗi mặt của một tờ chia thành 2 phần. Phần trên gồm một bài khóa 5 dòng, mỗi dòng 8 chữ, có chú thích. Phần dưới là phần giải thích, có 12 dòng, mỗi dòng 10 chữ.

Giữa: Tự học cầu tinh ca

(Tìm một phương pháp hoàn hảo để học chữ Hán).

Bên phải: Tự Đức Canh Thìn xuân (Mùa xuân năm Canh Thìn, niên hiệu Tự Đức, 1880).

Bên trái: Phước Thọ Đường tàng bản (Phước Thọ Đường xuất bản).

Một quyển sách dạy học chữ Hán, viết bằng chữ Hán của Đỗ Công Sở là người Nam Định, đỗ Thám hoa năm 1841. Bài tựa thứ nhất được viết năm 1870, bài thứ hai viết năm 1876.

37. Tứ thể bút thức: 四 體 筆 式 , Hán, 1869, Số 5169, khổ 26x15cm, 14 tờ. Mỗi mặt của một tờ có 4 dòng, mỗi dòng có 8 chữ.

Trang tên sách:

Giữa: Tứ thể bút thức.

Bên phải: Tự Đức nhị thập nhị niên hạ nguyệt cát nhật tân tẩm.

(Khắc in mới vào ngày lành, tháng hạ, năm Tự Đức 22, 1869).

Bên trái: Thạnh Văn đường tàng bản (Thạnh Văn đường xuất bản).

Một cuốn thư pháp có những ví dụ bằng các bài thơ nổi tiếng viết theo 4 kiểu, của 1 tác giả chưa rõ tên.

38. Wang An Nan rìji: 往 安 南 日 記 Trung Quốc, bản chép tay, 1890, số 3545, khổ 25x13cm, 7 tờ. Mỗi mặt của 1 tờ có 8 dòng, mỗi dòng 25 chữ.

Đầu đề trên trang nhất: Wang An nan Rìji (Nhật ký đi An Nam). Viết năm 1890, chưa rõ tên tác giả. Tác giả đi theo một viên ngoại giao Hà Lan đến Việt Nam, và đã kể lại chuyến đi của ông cùng những sự việc mắt thấy tai nghe ở Việt Nam trong thời gian ấy.

Hoàng Văn Lâu dịch

TB

VÀI NÉT VỀ CÁC HỘI NGHỊ QUỐC TẾ
NGHIÊN CỨU "THƯ TỊCH HÁN VĂN NGOÀI TRUNG QUỐC"

PHAN VĂN CÁC

Do sáng kiến của học giả người Pháp gốc Hoa - Giáo sư Chan Hing - Ho, và học giả Đài Loan, Giáo sư Ch’en Chien Hsian, Hội nghị khoa học quốc tế về Thư tịch Hán văn ngoài Trung Quốc (Trung Quốc vực ngoại Hán tịch) lần thứ nhất đã được tổ chức tại Hội quán trường Đại học Tổng hợp Minh Trị Tokyo từ ngày 27 đến ngày 29 tháng 9 năm 1986 với hơn 160 học giả các nước Trung, Nhật, Triều Tiên, Mỹ, Pháp, úc tham gia.

Lần lượt Hội nghị lần thứ hai được tổ chức tại Taipei (1987), lần thứ ba tại Seoul (1988), lần thứ tư tại Hawai (1989), và lần thứ năm tại San Francisco (1991).

Cả năm lần đều chưa có đại biểu Việt Nam tham gia. Tuy nhiên, lẻ tẻ đã có một vài tham luận trình bày kết quả nghiên cứu thư tịch Hán văn Việt Nam, hoặc đề cập đến mảng thư tịch này trong bối cảnh chung của khu vực.

Những người chủ trì hội nghị đều nhận rõ vị trí không thể thiếu của Việt Nam trong hoạt động hợp tác khoa học quốc tế này, gần đây đã gợi ý Viện Nghiên cứu Hán Nôm tham gia, hơn nữa có nhã ý triệu tập một lần tại Việt Nam. Được phép cấp trên, Viện Hán Nôm đã nhận lời. Hy vọng rằng trong tương lai không xa, một hội nghị như vậy sẽ được tổ chức tại Hà Nội, với sự tham gia của đông đảo các nhà Hán Nôm học Việt Nam.

Trong điều kiện thông tin thiếu thốn hiện nay ở nước ta, với những tư liệu ít ỏi có trong tay, chúng tôi xin giới thiệu vắn tắt về hai lần Hội nghị gần đây nhất, để bạn đọc gần xa tham khảo.

Hội nghị lần thứ 4 có 43 nhà khoa học của 4 nước Triều Tiên, Trung Quốc (Đài Loan), Nhật Bản và Mỹ tham gia, 25 bản tham luận đã được đưa vào kỷ yếu (15 bản bằng tiếng Hán, 2 bản bằng tiếng Nhật, 6 bản bằng tiếng Triều Tiên và 2 bản bằng tiếng Anh). Những chủ đề được giới Hán học ngoài nước quan tâm có thể hình dung một phần qua bản danh mục tham luận dưới đây:

TT Đề tài Tác giả
I II III
(Bằng Trung văn)
1 Quan hệ giữa Chương thiện cảm nghĩa lục với Oan cảm lục và Hoa Trân truyện (lấy tựa, bạt làm trung tâm). Đinh Khuê Phúc
2 Đường thi cổ suý, bản 4, quyển do Triều Tiên trùng san. Vương Dân Tín
3 Bắc Tống ngũ đế luận của Hoàng Cảnh Nguyên Tống Hi
4 Sách học tiếng Hán thời Triều Tiên - lấy Nhi học biên của Đinh Nhược Dung làm chính Tân Thắng Hạ
5 Tìm hiểu các tác phẩm của người nước ngoài được thu vào Tứ khố toàn thư. Ngô Triết Phu
6 Thi pháp của Giá Đình Uông Trung
7 Khảo sát về giao thông thủy bộ Nam Bắc dưới thời Hoằng Trị nhà Minh - lấy Phiêu hải lục của Thôi Phổ làm trung tâm. Kim Đại Tiên
8 Vài nét về việc đọc các văn tự trên tấm bia cổ Silla(1) ở làng Lãnh Thủy quận Nghênh Nhật Đạo Khánh Thượng Bắc. Hồng Vũ Khâm
9 Giá trị của Vãng Tân nhật ký (Nguyễn Thuật) trong nghiên cứu lịch sử cận đại Trần Tam Tỉnh
10 Nghiên cứu An Nam chí lược cảu Lê Trắc Trần Tiệp Tiên
11 Cuộc đời và học vấn của nhà Nho học Cửu Châu - Quy Tính Chiêu Dương. Lập Chinh
12 Bàn về Bản vĩ động cố sự Hoàng Nguyên Cửu
13 Sự phát triển của thơ chữ Hán An Nam thời Lê qua Kim Hoa thi thoại kí Hoàng Khải Phương
14 Bát nhã tâm kinh phát hiện trên thẻ gỗ Đôn Hoàng Phúc Tỉnh Văn Nhã
15 Tích dư tạp tập của Chu Trung Thừa Trịnh Lương Sinh
(Bằng chữ Nhật)
16 Khảo về Tạp thư bạt thư bản Cát Điền Văn khố Trung Thôn Chương Bát
17 Hối Sơn Giới Hiển niên phả cảo Dã Khẩu Thiện Kính
(Bằng chữ Triều Tiên)
18 Ghi chép về Silla (@) trong Nhập Đường cầu pháp tuần lễ hành kí của Viên Nhân Thân Phúc Long
19 Ghi chép về Đông Di trong Nguỵ Lược và Hàn Uyển Toàn Hải Tông
20 Cách xử lý của Lật Cốc đối với Mạnh Tử tập chú Thành Trạch Thắng
21 Bản nội tứ Lịch đại tướng giám bác nghi do Triều Tiên xuất bản lưu truyền ở Nhật Thẩm Ngu Tuấn
22 Nghiên cứu cách biểu âm của các giáo trình Hán ngữ thời Triều Tiên Lâm Đông Tích
23 Tình hình lưu hành Viên tướng mục ngưu đồ ở Triều Tiên Liễu Bính Đức
(Bằng chữ Anh)
24 Nguồn tư liệu Hán ở Ryukyu (Lưu Cầu) Mitsugu Sakihara
25 Koryosa Segye, một nguồn sử liệu Hugh H.W.Kang và Edward J.Shultz

Trong số 25 tham luận kể trên, có 2 bản (10 và 13) trực tiếp nghiên cứu về thư tịch Hán văn Việt Nam và 1 bản (5) đề cập đến hai tác phẩm Hán văn Việt Nam được thu thập vào Tứ khố toàn thư là An Nam chí lược và Việt sử lược.

Hội nghị lần thứ 5 (1991) có 44 nhà khoa học của 5 nước và khu vực. 17 tham luận bằng chữ Hán, 5 bản bằng chữ Triều Tiên và một bản bằng chữ Anh đã được đưa vào kỷ yếu như danh mục dưới đây chỉ rõ.

TT Đề tài Tác giả
(Bằng chữ Hán)
1 Nghiên cứu Hồng Cát Đồng truyền bản Hán văn và bản gốc Đinh Khuê Phúc
2 Bàn về các địa phương chí của Trung Quốc lưu truyền ở Châu Âu Tống Hi
3 Về Hồng Vũ chính vận dịch huấn Thành Nguyên Khánh
4 Một bộ sử của sử gia Triều Tiên viết bằng Trung văn - Đông quốc sử lược tiêu đề âm chú Đỗ Duy Liên
5 Con người và học vấn của Trùng Dã Thành Trai Đinh Điền Tam Lang
6 Đề bạt cho cuốn Tống Triều sự thực loại uyển, bản hoạt tự Nhật Bản Chang Peter
7 Khảo sát cuộc sống và tập tục nhân văn xã hội Giang Nam, Giang Bắc Trung Quốc dưới thời Hoằng Trị nhà Minh. (lấy Phiêu hải lục của Thôi Phổ làm trung tâm) Kim Tại Tiên
8 Giới thiệu vắn tắt Chu Văn Công hiệu Xương Lê tiên sinh tập do Triều Tiên khắc in Kim Học Chủ
9 Hồ sơ đời Minh do người Triều Tiên giữ được tàn quyển Lại văn đằng lục Trương Tồn Vũ
10 Phật điển dịch ra tiếng Hán chứa đựng trong Minh báo kí Lạp ching
11 Quy Tỉnh Chiêu Dương và Trang Tử toả thuyết của ông Liên Thanh Cát
12 Lược bàn về giá trị sử liệu của thư tịch Hán văn ngoài Trung Quốc - lấy việc A Khắc Đôn thăm Triều Tiên đầu đời Thanh làm ví dụ. Trần Tiệp Tiên
13 Ghi chép trong khi hiệu khảo “Văn tuyển” Lục thần chú bản do Khúc Chương các tàng trữ và Lí Thiện chú bản do Hồ Khắc Gia trùng khắc - Lấy Li tao kinh của Khuất Nguyên do Vương Dật chú làm thí dụ. Hoàng Khải Phương
14 Địa đồ các nước xung quanh Trung Quốc Lưu Triệu Hựu
15 Xuân thu tập truyện của Lí Hàn Châu Sái Mậu Tùng
16 Giới thiệu các sách dẫn thư tịch Hán văn ngoài Trung Quốc Trịnh Hằng Hùng
17 Kinh Quốc hùng lược ở Nhật Bản Trịnh Lương Sinh
(Bằng chữ Triều Tiên)
18 Phân tích thư tịch cổ Triều Tiên hiện có ở Viện bảo tàng Cố cung Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) Phác Hiện Khuê
19 Sử tịch Hán văn Triều Tiên lưu truyền ở Nhật Bản Thẩm Ngu Tuấn
20 Lược khảo về biền văn của Thôi Cô Vân chép trong Quế Uyển bút canh tập Hồng Vũ Khâm
21 Việc lưu hành Thái Thượng Cảm ứng thiên và Đạo giáo Triều Tiên Lương Ngân Dung
(Bằng chữ Anh)
22 Bồ bản tàng thư ở trường Đai học Tổng hợp Columbia thuộc Anh Phương Ánh Hà

CHÚ THÍCH

(1) Silla (người Hán phiên âm là Tân La...) là một vương quốc cổ ở trên bán đảo Triều Tiên, vốn là một bộ phận của Thìn Hàn, sau thống nhất được cả lãnh thổ của Thìn Hàn và Biền Hàn mà thành.

TB

BẢO VỆ THÀNH CÔNG LUẬN VĂN CỬ NHÂN CHUYÊN NGÀNH HÁN NÔM

Ngày 25-6-1992 tại giảng đường trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, bộ môn Hán Nôm khoa Ngữ Văn đã tổ chức cho sinh viên chuyên ngành Hán Nôm K33 bảo vệ luận văn tốt nghiệp.

9 luận văn đã được lần lượt báo cáo trước Hội đồng Giám khảo và đông đảo anh chị em sinh viên của Khoa; trong đó có 3 luận văn được Hội đồng đánh giá cao:

1. Nguyễn Xuân Diện với đề tài “Kiều Oánh Mậu và Tiên phả dịch lục” (phiên âm, chú giải và sơ bộ đánh giá). Kiều Oánh Mậu là một học giả nổi tiếng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ông đã từng khảo đính, nhuận sắc Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du. Về thể loại lục bát, Kiều Oánh Mậu đã có những cống hiến quan trọng. Từ lời bình phẩm, nhuận sắc đến những câu do chính ông làm ra đều rất thành thục. Nhưng nói về tiểu sử của Kiều Oánh Mậu qua các sách báo đã công bố từ trước, thì nay chúng ta được biết còn quá ít. Việc bổ sung những tư liệu cần thiết về cuộc đời và tác phẩm của ông là rất cần thiết. Vì vậy tác giả của bản luận văn này trong quá trình học tập tại trường và qua những lần đi thực tập ở quê hương Kiều Oánh Mậu đã sưu tập được một số tài liệu, cung cấp cho chúng ta một số thông tin mới có giá trị để bổ sung cho phần cuộc đời và tác phẩm Kiều Oánh Mậu.

Về tác phẩm: ngoài cuốn Đoạn trường tân thanh do ông khảo đính và chú giải đã được giới nghiên cứu đánh giá cao, còn có 3 cuốn truyện thơ Nôm do ông sáng tác, đó là Hương Sơn Quan Thế Âm chân kinh tân dịch, Tỳ bà Quốc âm tân truyện và Tiên phả dịch lục. Cuốn thứ 3 này là một tác phẩm thơ Nôm gồm 776 câu lục bát viết về Công chúa Liễu Hạnh - một vị thần trong “tứ bất tử” được dân gian Việt Nam tín ngưỡng tôn thờ. Tác giả bản luận văn đã phiên âm, chú giải và sơ bộ đánh giá về tác phẩm đó, một đóng góp đáng kể nhằm bổ sung thêm một số tư liệu về Bà Chúa Liễu Hạnh mà Viện Văn hóa dân gian đã sưu tầm và công bố.

2. Nguyễn Kim Hậu: với đề tài “Mộ Trạch xã cựu khoán” (phiên âm, phiên dịch và khảo cứu). Đây là một bản hương ước có nhiều nét điển hình, đề cập tới nhiều mặt đời sống làng xã Việt Nam cổ xưa về kinh tế, chính trị đến việc giữ gìn phong tục, tập quán tốt đẹp. Cả thảy có 93 điều khoản. Bản cựu khoán nguyên được viết từ năm ất Tỵ Cảnh Trị thứ 5 (1665), gồm 30 điều, sau đó được bổ sung qua 20 lần, đến năm Đinh Tỵ Cảnh Hưng thứ 5 (1744) tổng cộng 93 điều. Luận văn với số lượng 213 trang đánh máy (kể cả phần in chụp phần nguyên bản) tác giả đã có một cố gắng phi thường trong việc phiên âm, dịch nghĩa và đã nêu lên được những nét chung về tình hình văn bản hiện tại. Từ hương ước cổ của xã Mộ Trạch, tác giả bản luận văn đã rút ra được những nét đặc thù của nó; phần nào cung cấp cho chúng ta diện mạo của làng xã Mộ Trạch cổ xưa.

3. Nguyễn Văn Hòa: với đề tài “Những từ mang yếu tố Hán trong sách giáo khoa môn văn của trường phổ thông”. Với hơn 400 trang viết tay, tác giả đã thu thập được gần 7000 từ có yếu tố Hán đã được sử dụng trong sách giáo khoa môn văn từ lớp 1 đến lớp 12 hiện hành, sắp xếp theo vần A.B.C âm đọc của những từ đó, mỗi từ được tác giả giải thích theo ý nghĩa sử dụng của văn cảnh một cách ngắn gọn, súc tích. Tần số xuất hiện và xuất hiện ở giáo trình nào, đều được ghi chú rõ ràng, chính xác, trong đó tác giả có đính chính đáng kể đối với những từ mà sách giáo khoa chưa giải thích rõ ý.

Đây là một công trình đáng được ghi nhận, gợi mở cho các thầy giáo và học sinh ở bậc phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12 những điều cần thiết trong khi dạy và học môn văn ở trường...

Những luận văn còn lại đều là những đề tài thiết thực, góp phần giải đáp phần nào những vấn đề mà xã hội đang quan tâm, có liên quan đến văn bản Hán Nôm - một di sản văn hóa đáng quý của dân tộc ta.

Cả 9 luận văn đã được Hội đồng Giám khảo nhất trí đánh giá cao (3 điểm 10 và 6 điểm 9). Đây là một ghi nhận đáng kể sự cố gắng vươn lên của bộ môn trong việc xác định mục tiêu và yêuc ầu đào tạo, đánh dấu một bước ngoặt của thầy trò chuyên ngành. Đây cũng là 9 Cử nhân ngành Hán Nôm đầu tiên được đào tạo theo chương trình cải cách giáo dục ở bậc Đại học.

P.V.

TB

LUẬN ÁN PHÓ TIẾN SĨ VỀ LÊ QUÝ ĐÔN

Ngày 26 tháng 5 năm 1992, tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước, họp ở Viện Sử học Việt Nam (38 Hàng Chuối - Hà Nội), nghiên cứu sinh Đinh Công Vĩ - cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ khoa học lịch sử, với đề tài Vấn đề làm sử của Lê Quý Đôn, dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Trần Nghĩa (Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Giáo sư Chương Thâu (Viện Sử học). Luận án dày gần 200 trang, với 6 chương mục:

- Phần mở đầu: Sử và vấn đề làm sử - Chương I: Nhà sử học Lê Quý Đôn và thời đại: phân tích các nhân tố khách quan và chủ quan hình thành tài năng Lê Quý Đôn - Chương II: Việc sưu tầm tư liệu - Chương III: Việc giám định tư liệu - Chương IV: Việc viết sử của Lê Quý Đôn - Chương V: Đánh giá và kết luận. Cuối cùng là phần Tài liệu tham khảo.

Luận án đã được Hội đồng chấm luận án nhất trí ghi phiếu tán thành trăm phần trăm (11/ 11), với nhận đinh: Vấn đề làm sử của Lê Quý Đôn là một công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống, đầy đủ, cụ thể, chi tiết về các khía cạnh chính thuộc vấn đề làm sử của nhà sử học nổi tiếng Lê Quý Đôn, cung cấp những hiểu biết mới về một nhà bác học lỗi lạc của nước ta, đồng thời làm rõ những cống hiến và những hạn chế của Lê Quý Đôn trong lĩnh vực lịch sử, đặc biệt là quá trình lao động sử học và phương pháp làm sử của người Việt Nam thời trung đại.

Có thể tìm đọc luận án Vấn đề làm sử của Lê Quý Đôn ở Thư viện Viện Sử học Việt Nam; Thư viện Quốc gia; Vụ Giáo dục và đào tạo trong nước (thuộc Bộ Đại học); Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

P.V.

TB

LUẬN ÁN PHÓ TIẾN SĨ VỀ TRUYỆN NÔM

Ngày 7 - 8 - 1992, tại Hội đồng chấm luận án Quốc gia tổ chức tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, nghiên cứu sinh Đinh Thị Khang (cán bộ giảng dạy khoa ngữ văn của Trường) đã bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ khoa học Ngữ văn, chuyên ngành Văn học Việt Nam với đề tài Ngôn ngữ nhân vật trong truyện Nôm, dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Đặng Thanh Lê (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I).

Luận án dày 180 trang đánh máy, bao gồm các chương mục sau:

Phần thứ nhất, gồm Chương I, Chương II có tính chất mở đầu, xác định khái niệm, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Tác giả luận án đã tổng kết ý kiến của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học về ngôn ngữ nhân vật truyện Nôm.

Phần thứ hai, gồm ba chương. Chương III: Ngôn ngữ đối trong truyện Nôm. Chương IV: Ngôn ngữ độc thoại trong truyện Nôm. Chương V: ý nghĩa và giá trị thẩm mĩ của ngôn ngữ nhân vật trong truyện Nôm.

Cuối cùng là phần Kết luận và Thư mục sách, tài liệu tham khảo. Đây là lần đầu tiên ngôn ngữ nhân vật trong truyện Nôm được chọn làm đối tượng khảo sát chuyên biệt theo phương hướng nghiên cứu loại hình. Tác giả luận án đã mở rộng vấn đề nghiên cứu về số lượng tác phẩm và phạm vi nội dung nghiên cứu. Luận án đã đặt vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ nhân vật trong hệ thống thi pháp thể loại.

Hội đồng chấm luận án, người hướng dẫn - Giáo sư Đặng Thanh Lê và nhiều nhà khoa học đã đánh giá cao sự lao động của tác giả và đóng góp của luận án.

Bạn đọc có thể tìm hiểu luận án Ngôn ngữ nhân vật trong truyện Nôm tại Thư viện Quốc gia và Thư viện ĐHSP Hà Nội I.

P.V

TB

LUẬN ÁN VỀ CHỮ NÔM TÀY

Ngày 19 - 5 - 1992, tại Hội đồng chấm luận án Nhà nước, do trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tổ chức, tác giả Cung Văn Lược (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) đã bảo vệ thành công Luận án PTS. Ngữ văn với đề tài Chữ Nôm Tày qua so sánh với chữ Hán và chữ Nôm Việt, dưới sự hướng dẫn của cố vấn khoa học Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Ngữ văn Nguyễn Quang Hồng (Viện Nghiên cứu Hán Nôm).

Luận án dày 193 trang đánh máy, gồm các phần sau:

- Mở đầu: Giới thiệu khái quát về dân tộc, ngôn ngữ văn tự và văn hóa Tày.

- Chương 1: Chữ Nôm Tày qua ý kiến của các học giả nước ta.

- Chương 2: Âm Hán - Việt với Chữ Nôm Tày.

- Chương 3: Nhận diện chữ Nôm Tày.

- Chương 4: Cấu tạo và phân loại chữ Nôm Tày.

Sau phần Kết luận là Phụ lục gồm: Các chữ Nôm Tày đã dẫn trong Luận án, các chữ Hán học khác âm Hán - Việt và một số hình ảnh về văn bản Nôm Tày do chính tác giả sưu tầm. Cuối cùng là phần Tư liệu nghiên cứu và Tài liệu tham khảo.

Luận án đã được Hội đồng chấm luận án nhận định: Chữ Nôm Tày là một di sản quý giá. Đi vào vấn đề này, luận án đã đạt được những kết quả chủ yếu sau đây: 1. Tổng kết đầy đủ và đánh giá đúng mức ý kiến của những người đi trước về Chữ Nôm Tày. 2. Xác định được hệ âm cơ sở dùng để xây dựng Chữ Nôm Tày. 3. Phát hiện được đặc điểm của Chữ Nôm Tày so với Chữ Hán và Chữ Nôm Việt. 4. Miêu tả cấu tạo của Chữ Nôm Tày và phân loại một cách tỉ mỉ, có cơ sở khoa học Chữ Nôm Tày thành 17 kiểu loại. 5. Cung cấp một khối lượng tư liệu phong phú và có thể tin cậy, phục vụ cho các công trình nghiên cứu lịch sử tiếng Tày, nền văn hóa Tày nói riêng, phục vụ cho các công trình nghiên cứu văn tự các dân tộc ở Việt Nam nói chung.

Các kết quả trên cũng chính là các giá trị khoa học và thực tiễn mà luận án đã đạt được.

Bạn đọc có thể tìm hiểu luận án Chữ Nôm Tày qua so sánh với chữ Hán và chữ Nôm Việt tại Thư viện Quốc gia, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Trung tâm Khoa học xã hội Việt Nam./.

P.V