TB

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM(1)

CHAN HING-HO(2)

Có thể chia tiểu thuyết Việt Nam viết bằng chữ Hán ra thành 2 loại: tiểu thuyết truyền thống và tiểu thuyết hiện đại. Loại tiểu thuyết hiện đại bao gồm những tác phẩm văn học, được viết ra dưới ảnh hưởng của văn hóa phương Tây và văn học Trung Quốc viết bằng bạch thoại mà số lượng có thể nói không nhiều và lối sáng tác cũng chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn ngủi (từ những năm 20 đến những năm 40)(3). Vả lại, đây là loại ít được biết tới, không đáng để hình thành một bộ sưu tập có hệ thống và do đó, không gây được một hứng thú nghiên cứu nào.

Loại tiểu thuyết truyền thống trái lại, chiếm phần lớn khối lượng tiểu thuyết Việt Nam viết bằng chữ Hán. Dựa vào những tư liệu đã điều tra, chúng tôi thấy có thể xếp loại tiểu thuyết truyền thống thành 4 mục như sau:

- thần thoại và truyền thuyết;

- truyền kỳ;

- tiểu thuyết lịch sử;

- giai thoại

Phần viết dưới đây liên quan tới mục thứ ba, bao gồm tiểu thuyết lịch sử. Trên thực tế, tiểu thuyết lịch sử, theo chúng tôi là loại đặc biệt tiêu biểu so với các loại còn lại.

I. Mô tả tiểu thuyết lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán.

Trong số những tác phẩm được đưa vào hai đợt in đầu của bộ Sưu tập tiểu thuyết Việt Nam viết bằng chữ Hán, có 6 tác phẩm thuộc về tiểu thuyết lịch sử(4). Nhưng trong số đó, Trùng Quang tâm sử (tiểu thuyết lịch sử viết về thời Hậu Trần) của Phan Bội Châu (1867 – 1940) cần được xếp vào loại tiểu thuyết hiện đại, cả về hình thức lẫn nội dung(5) - chúng tôi hy vọng có thể trở lại đề tài này vào một dịp khác. Trái lại, 5 tác phẩm còn lại đều thuộc loại tiểu thuyết lịch sử truyền thống. Chúng ta hãy điểm qua nội dung các tác phẩm này theo trình tự thời gian xuất hiện của chúng.

1. Hoan Châu ký, còn gọi là Thiên Nam liệt truyện Nguyễn Cảnh Thị Hoan Châu ký (Truyện các nhân vật thuộc dòng họ Nguyễn Cảnh ở Hoan Châu, đất Thiên Nam, được viết dưới dạng tiểu thuyết), gồm 4 hồi, 16 tiết. Tác phẩm mô tả những sự kiện có thực, diễn ra trong khoảng thời gian từ năm Khải Thái thứ 4 (1406) đến năm Vĩnh Trị thứ 3 (1678), liên quan tới 8 thế hệ nối tiếp nhau của dòng họ Nguyễn Cảnh ở Nghệ An (tức Hoan Châu thời cổ). Đặc biệt là những công tích của Nguyễn Cảnh Hoan ở thế hệ thứ 7 và Nguyễn Cảnh Quế ở thế hệ thứ 8 trong công cuộc lật đổ nhà Mạc, trung hưng và phát triển triều Lê. Giáo sư Trần Nghĩa cho rằng, tác phẩm này có thể ra đời vào khoảng năm 1696. Và sau khi đối chiếu hai cuốn gia phả của hai chi họ Nguyễn Cảnh hiện được lưu giữ tại Nghệ An, Giáo sư đi tới kết luận rằng Hoan Châu ký chủ yếu kể lại lịch sử chi họ Nguyễn Cảnh Quế và tác giả Hoan Châu ký là người trực tiếp liên quan đến chi họ này. Nếu tác giả không phải là người sống cùng thời với Nguyễn Cảnh Quế, thì là ít lâu sau đó(6).

2. Hoàng Việt xuân thu [Sử biên niên của vương quốc Việt] chia thành 3 tập. Mỗi tập gồm trên dưới 20 hồi, cộng tất cả 60 hồi. Sách liên quan đến những sự kiện xảy ra vào cuối đời Trần: Thế lực cha con Hồ Qúy Ly tiếm ngôi nhà Trần và lập ra triều Đại Ngu; vua Minh Thành Tổ (1403 – 1424) cho quân đội hộ tống Trần Thiêm Bình về nước để giành lại ngôi báu, bị nhà Hồ giết chết; nhà Minh sai Trương Phu (1375 – 1442) đem quân sang để bình định An Nam những kẻ tiếm ngôi bị bắt và Việt Nam bị sáp nhập vào Trung Quốc; sau đó Lê Lợi nổi dậy đánh đuổi người Trung Quốc ra khỏi lãnh thổ, thành lập nước Đại Việt và được Hoàng Đế nhà Minh phong tước vương. Chưa rõ tác giả là ai, cũng như niên đại thành sách. Tuy nhiên, theo Trần Văn Giáp, tác giả có thể là Vũ Xuân Mai, người Hà Nội, đỗ Cử nhân năm 1884.

3. Việt Nam khai quốc chí truyện [Lịch sử mở nước của nhà Nguyễn], tên gọi cũ là: Nam triều công nghiệp diễn chí [Công lao lịch sử của Nam triều], hoặc: Nam triều Nguyễn chúa khai quốc công nghiệp diễn chí [Công lao lịch sử của các chúa Nguyễn ở Nam triều]. Tác phẩm mở đầu bằng việc xác lập một phả hệ về nhà Nguyễn: “Việt Nam khai quốc thế hệ”, tiếp đến là bài tựa của Dương Thân Trai, hiệu Phong Sơn, và bài Bạt của Tri huyện Phù Ninh tên là Giản. Tên và chức quan của tác giả cũng được ghi rõ trong sách: “Lại bộ Thương thư Cai bạ kiêm Phó đoán sự Nguyễn Bảng Trung”. Sách gợi lại giai đoạn dài hơn một thế kỷ, kể từ năm Chính Trị thứ 11 (1568), đến năm Chính Hòa thứ 10 (1689), thời kỳ chứng kiến sự đi lên của nhà Nguyễn. Trong thời gian này, những thế lực quân sự phía Nam, dưới sự lãnh đạo của nhà Nguyễn, tức Nam triều, đã chống lại triều đình nhà Lê do họ Trịnh nắm quyền ở phía Bắc. Cuối cùng nhà Nguyễn đã thống nhất đất nước và lập ra vương triều của họ. Năm 1802, năm đầu triều Gia Long, Nguyễn Phúc ánh đặt tên nước là Việt Nam. Người đọc duyệt sách về sau, nhân có tên gọi mới là Việt Nam, đã sửa đổi tên sách cho phù hợp với tình hình trước mắt. ở phần thế hệ biểu cũng vậy, việc Nguyễn Phúc ánh được vua nhà Thanh phong vương vào năm Gia Khánh thứ 8, tức 1803 (lễ tuyên phong tổ chức tại Thăng Long năm Gia Khánh thứ 9, tức 1804) chỉ có thể là chi tiết được thêm về sau. Tác giả Nguyễn Khoa Chiêm (1659 – 1736) sinh quán Hương Trà, Phụng Thiên (nay là huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế). Tiểu sử ông được chép trong sách Đại Nam Liệt truyện tiền biên. Sách Đại Nam thực lục tiền biên cũng nhiều lần nói đến ông(7). Chẳng hạn năm Mậu Tuất (1718), ông được bổ làm Lại bộ thượng thư, Cai bạ Phó đoán sự. Đến năm Giáp Thân (1724), ông được thăng làm Tham chính Chánh đoán sự. Có thể đoán định tác phẩm của ông ra đời trước lần thăng cấp này, như tên gọi cũ của sách cho thấy. Vả lại, theo gia phả dòng họ Nguyễn Khoa, sách Nam triều công nghiệp diễn chí được hoàn thành vào khoảng năm 1719. Người viết bài tựa, Dương Thân Trai, tên thực là Công Tòng. Theo Đại Nam thực lục chính biên, vào đầu thế kỷ 19, ông giữ chức Tham hiệp trấn Sơn Tây. Bài bạt của Tri huyện Giản cho biết Dương Thân Trai là người đọc duyệt tác phẩm Nguyễn Khoa Chiêm. Riêng tác giả bài bạt, Tri huyện Phù Ninh, tên là Giản, sách Hương khoa lục cho ta biết tên đầy đủ là Nguyễn Giản. Ông đỗ Hương cống năm Đinh Mão (1807), đầu triều Nguyễn, bài bạt của ông có lẽ được viết vào năm sau đó.

4. Hoàng Lễ nhất thống chí [Lịch sử thống nhất triều Lê], tên gọi ban đầu là An Nam nhất thống chí [Lịch sử thống nhất nước An Nam], gồm 17 hồi. Sách khôngchia thành quyển. Người khởi thảo là Ngô [Thì] Chí (1753 – 1788), và người hoàn tất là Ngô [Thì] Du (1772 – 1840). Tác phẩm miêu tả việc Chúa Trịnh Sâm vì sủng ái quí phi Đặng Thị Huệ, đã phế con trưởng lập con thứ, dẫn tới cuộc nổi dậy của một bộ phận quân đội. Thế là Chúa Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc sai em là Nguyễn Văn Huệ đem quân ra Thăng Long để phò Lê diệt Trịnh. Ngô [Thì] Chí viết được 7 hồi đầu thì qua đời: cháu là Ngô [Thì] Du viết 7 hồi tiếp theo, dành phần lớn cho các sự kiện như Tây Sơn chiếm ngôi, Chiêu Thống trốn sang Bắc Kinh, chắm dứt vương triều nhà Lê. Sau đó, Ngô [Thì] Du lại viết thêm 3 hồi nữa để miêu tả việc vua Tây Sơn bị bắt, nhà Nguyễn thống nhất đất nước và thi hài Lê Chiêu Thống được đưa về tổ quốc. Các sự kiện sách trình bày xảy ra trong khoảng thời gian từ năm Lê Cảnh Hưng 38 (1777) đến năm Nguyễn Gia Long thứ 3 (1804). Trong lời tựa, có giải thích về nhan đề sách và liệt kê tên cũng như chức tước của 16 vua Lê và 11 chúa Trịnh.

5. Hoàng Việt long hưng chí, gồm 6 quyển, 34 hồi. Câu chuyện bắt đầu bằng cuộc nổi dậy của Nguyễn Văn Nhạc vào năm Lê Cảnh hưng thứ 34 (1773) và kéo dài cho đến năm Minh Mệnh thứ nhất (1820). Vần đề được tập trung trình bày là quá trình hưng thịnh của triều Nguyễn và sự đăng quang của nó. Theo lời tựa cuốn sách, tác giả Ngô Giáp Đậu (1853 - ?) đã soạn thảo tác phẩm của mình trong khoảng thời gian từ năm Kỷ Hợi (1899) đến năm Giáp Thân (1904) dưới triều Thành Thái, với nhiệm vụ tự đề ra là bổ sung cho tác phẩm của tổ tiên mình. Nếu Hoàng Lê nhất thống chí gắn bó với triều đình nhà Lê, thì Hoàng Việt long hưng chí lại cam kết với triều đình nhà Nguyễn. Cả hai tác phẩm đều liên quan nhiều hoặc ít đến cùng một thời đại, nhưng cách tiếp cận rõ ràng là khác nhau.

II. Những điểm chung giữa tiểu thuyết lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán với tiểu thuyết Trung Quốc cùng loại.

Trong số 5 bộ tiểu thuyết nói trên, chỉ có Việt Nam khai quốc chí truyện là chia thành quyển, thay vì chia hồi. Còn tất cả các tác phẩm còn lại đều được cắt thành những hồi, và mỗi hồi đều có một nhan đề do 2 câu đối ngẫu tạo nên.

Nhan đề hồi đầu của sách Hoan Châu ký là cặp đối ngẫu gồm 2 câu, mỗi câu 2 chữ; ở các hồi tiếp theo, là những câu đối ngẫu gồm 7 hoặc 8 chữ. Câu chuyên luôn luôn được bắt đầu bằng những chữ “Lại nói”, và kết thúc cũng thường bằng những câu chữ ít thay đổi: “Thật là...” “Chưa biết... như thế nào, xem hồi sau sẽ rõ”. Những câu chữ này, có một chức năng rõ ràng: đảm bảo sự liên hệ giữa các hồi. Chỉ có phần kết thúc của hồi cuối cùng là có khác, vì nó cần thông báo sách đến đây là hết. ấy là câu: “Dựa vào các bản cựu ký soạn nên thiên truyện này. Mong người xem đính chính cho, may ra khỏi bị cười chê”.

Sách Hoàng Việt xuân thu mở đầu bằng một bài thơ dùng là tựa đề, với những câu thơ 4 chữ. Nhan đề các hồi đều là những cặp đối ngẫu 7 chữ. ở đây, hồi thứ nhất bắt đầu bằng những chữ “Nói về...”, và các hồi khác bắt đầu bằng cụm từ “Lại nói...”. ở phần kết thúc, các hồi đều dùng những chữ “Thật là”, và tiếp đó là một cặp câu đối ngẫu mỗi câu 7 chữ, cùng sáo ngữ “Chưa biết... như thế nào, xem hạ hồi phân giải”. ở hồi thứ 60, thiếu bản phần kết thúc sách. Cặp câu đối ngẫu và những ghi chú kết thúc cũng không thấy nhắc lại ở đây.

Sách Hoàng Lê nhất thống chí không chia thành quyển. Các hồi đều tương tự nhau về mặt hình thức như ở Hoàng Việt xuân thu: nhan đề các hồi là những câu đối ngẫu 7 chữ; các hồi mở đầu bằng các chữ “Nói về...” hoặc “Chuyện kể rằng”, “Lại nói...”. Cụm từ “Thật là” luôn kéo theo những câu đối ngẫu 7 chữ, và kết thúc mỗi hồi đều được dự báo bằng những câu: “Số phận của... còn chưa rõ. Muốn biết câu chuyện rốt cục ra làm sao, hãy xem hồi tiếp theo”. Riêng hồi cuối cúng, thiếu cặp câu đối ngẫu và những dòng ghi chép quen thuộc.

Sách Hoàng Việt long hưng chí gồm 6 quyển, chia thành 34 hồi. Hai quyển đầu mỗi quyển 5 hồi, các quyển còn lại mỗi quyển 6 hồi. Nhan đề các hồi hoặc là những câu đối ngẫu 9 chữ (có 2 hồi như thế), hoặc 8 chữ (có 11 hồi như thế), hay 7 chữ (có 21 hồi như thế). Hồi bắt đầu bằng cụm từ “Lại nói” và kết thúc bằng cụm từ “Thật là”, cùng cặp câu đối ngẫu 7 chữ. Ngoài ra, không thấy gì nữa. Cũng không có những ghi chép thường gặp trong hồi cuối cùng.

Bốn tác phẩm vừa nêu, về mặt hình thức, rất gần với tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc mà ta thường gặp ở cuối đời Minh. Thông thường có một bài thơ đặt ở đầu câu chuyện để tóm lược hoặc giải thích ý tưởng tác giả, Hoàng việt xuân thu là một trường hợp điển hình. Việt Nam khai quốc chí truyện chia thành quyển nhưng không chia nhỏ thành hồi. Đây là chỗ khác của nó so với 4 tác phẩm còn lại. Ngay ở trang đầu quyển 1, ta thấy có một bài thơ gồm những câu dài ngắn khác nhau, trong khi đó thì ở các quyển 3, 4, 5, 6 và 8 đều được mở đầu bằng một bài thơ thất ngôn bát cú. Riêng ở các quyển 2 và 7 lại không có những bài thơ như thế này mỗi quyển bắt đầu bằng cụm từ “Nói về” hoặc “Lại nói...”. Quyển 1 và 6 kết thúc bằng một bài thơ thất ngôn bát cú. Quyển 8, quyển cuối cùng, không có thơ mở đầu, cũng không có những sáo ngữ kết thúc. Quyển 2 và 3 đều không đầy đủ và ta không có ý niệm gì về phần có thể là đã bị thất lạc. Kết cấu của Việt Nam khai quốc chí truyện cũng không được rõ ràng như các cuốn tiểu thuyết khác. Lý do có thể là vì sự hỏng nát mà sách này đã phải chịu qua thời gian, tình trạng tàn khuyết ở các quyển 2, 3 và 8 đã chứng minh điều đó. Cũng tương tự tình trạng các cuốn chí truyện của Trung Quốc vào đời Minh, như: Hữu Hạ chí truyện [Tiểu thuyết lịch sử về triều nhà Hạ], Hữu Thương chí truyện [Tiểu thuyết lịch sử về triều nhà Thương], Liệt quốc chí truyện bình lãm [Tiểu thuyết lịch sử về nhiều vương triều khác nhau], hay Tam quốc chí truyện [Tiểu thuyết lịch sử về thời Tam quốc](8). Sách Tam quốc chí truyện, bản cũ, cũng chia quyển mà không chia hồi; đầu sách cũng có bảng ghi lại tên họ các vị vua và đại thần của họ(9). Điều này hoàn toàn có thể so sánh với bảng Việt Nam khai quốc thế hệ chép tên họ các vị chúa mà ta thấy ở đầu sách Việt Nam khai quốc chí truyện.

Những bài thơ và cụm từ được dùng để kết thúc mỗi một cuón sách cũng rất giống với tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc. Những tiểu thuyết Việt Nam viết bằng chữ Hán theo kiểu tiểu thuyết Trung Quốc cũng đưa vào tác phẩm những yếu tố rút ra từ các truyền thuyết dân gian, đây là điềuu ít xảy ra đối với một tác phẩm lịch sử, với nghĩa nghiêm túc của từ này. Tiểu thuyết thừa nhận tầm quan trọng đặc biệt của hình tượng và tính cách nhân vật, cũng như chấp nhận dạng truyện dân gian. Quan niệm lịch sử mà nó truyền đạt không khác với quan niệm của các cuốn sử, với nghĩa sát sao nhất của Trung Quốc và của Việt Nam. Nó tôn trọng trước hết là mệnh trời, dòng dõi huyết thống và trật tự xã hội, những khái niệm hoàn toàn thuộc tư tưởng đạo Khổng chính thống. Sách Xuân thu của Khổng Tử như một mẫu mực sống mãi, mọi trích dẫn đều mượn từ sách kinh điển của Trung Quốc mà trước hết là sách của Khổng Tử. Trong khu vực các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Hán, các tác phẩm lịch sử đều triển khai theo một quan niệm chung về lịch sử và quan niệm này cũng đã tác động đến các tiểu thuyết lịch sử viết bằng chữ Hán của người Việt Nam.

Có thể dẫn ra đây đoạn mào đầu của Hoàng Việt xuân thu làm thí dụ:

“Có đức thì trị,
Nước sẽ thịnh cường;
Không đức thì loạn,
Trời giục tiêu vong.
Loạn thần tặc tử,
Kiếp kiếp tai ương;
Trung trinh yêu nước,
Ngàn thuở ngát hương.
Thích dùnh vũ lực,
Quen thói bạo cường.
Thần dân căm ghét,
Tai vạkhôn lường.
Trung thần nghĩa sĩ,
Thánh đế hiền vương.
Người theo trời giúp,
Phúc thọ đôi đường.
Hay đoạn mở đầu hồi 1:

“Chuyện kể rằng thiên hạ là trọng đại; nếu không phải là bậc thánh đức yêu sinh linh, thần vũ không giết chóc, thì không sao cai quản nổi. Đã làm người chăn dân thì không thể cậy giàu mạnh mà không sửa sang văn đức, thi thố võ công. Thậm chí trên thì giáo hóa buông lơi, dưới thì phong tục đồi bại, dẫu mạnh như Tần, giầu như Tùy, cũng khó thoát khỏi cảnh nước mất nhà tan”.

Luân lý đạo Khổng thể hiện ở đây rất rõ. Và ta có thể tìm thấy nhiều thí dụ tương tự trong các tác phẩm khác. Tam quốc chí truyện, bản phổ cập, là một trường hợp điển hình về tiểu thuyết Trung Quốc thuộc loại này. Nó cũng đã có những ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam. Sự ảnh hưởng đó thể hiện trong cách trình bày một số sự việc như kính trọng các bậc thánh hiền; thiên văn; bói toán; biểu tượng cờ gãy được xem như triệu chứng của sự rủi ro; sức mạnh tinh thần của các chiến sĩ v.v... Sự ảnh hưởng cũng thấy rõ cả trong cách giới thiệu nhân vật. Như Lưu Bị (161 – 223) chẳng hạn, ông không bao giờ quên việc khôi phục lại vương triều nhà Hán và ông bị buộc phải lên ngôi vì các chiến hữu của ông bắt ông phải khoác áo hoàng đế. Gia Cát Lượng (181 – 234) cũng vậy, ông có thể đoán trước những việc sẽ xẩy ra trong hàng thế kỷ tới, và có khả năng chỉ huy các trận đánh từ xa. Lê Thiện và Nguyễn Trãi trong Hoàng Việt xuân thu thuộc những nhân vật chính đó.

Các sách trên thường khai thác những câu chuyện được kể lại trong Tam Quốc chí. Những lời bình luận trong tác phẩm lại càng giống với những lời bình luận trong tiểu thuyết Trung Quốc. Một số câu chữ như “phù hợp”, “tĩnh lược”, “từ rất xa, mặt đối mặt” có nguồn gốc trực tiếp từ những lời bình luận của Mao Tôn Cương trong Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa.

III. Những nét riêng của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán.

Về nguồn gốc, tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc bắt nguồn từ những câu chuyện do các nghệ sĩ dân gian kể lại, sau đó, được những tri thức thuộc tầng lớp trên của xã hội sửa sang lại theo dạng tiểu thuyết rồi xuất bản. Những câu chuyện này thường sử dụng nhiều truyền thuyết dân gian. Nhưng cũng có một bộ phận trong số tiểu thuyết trên được sáng tác trực tiếp: vấn đề không còn là viết một truyện truyền khẩu nữa. Trong trường hợp này, sách là tác phẩm thuần túy của những tri thức thuộc tầng lớp trên của xã hội.

Quan niệm lịch sử thể hiện trong câu chuyện nhiều điểm có khác với lịch sử chính thống. Bởi vậy ở Trung Quốc thường có một dã sử tồn tại bên cạnh chính sử. Tiểu thuyết lịch sử của Trung Quốc thuộc về loại tiểu thuyết bình dân.

Các tác phẩm Hoan Châu ký được biết tới như là loại cổ nhất, hay Hoàng Việt xuân thu có lẽ mới xuất hiện gần đầy, đều dựa vào tài liệu lịch sử, và các tác giả của chúng đều chịu ảnh hưởng rõ rệt ở Tam quốc chí truyện. Nhưng đồng thời các tác giả cũng dựa vào những giai thoại dân gian để làm phong phú thêm nội dung tác phẩm(10). Những tiểu thuyết xuất hiện về sau như Hoàng Lê nhất thống chí, Hoàng Việt long hưng chí... đều là tác phẩm của các nhà làm sử trung thành với phép viết sử truyền thống nhưng chính họ chứ không phải ai khác đã trông nhờ vào hình thức thể hiện mang tính tiểu thuyết.

Sách Việt Nam khai quốc chí truyện được hoàn thành vào đầu thế kỷ 18. Một số sự việc trình bày trong sách là những điều chính tác giả từng chứng kiến. Bố vợ Nguyễn Khoa Chiêm là Trần Đình ân (1626 – 1706), một đại thần của triều đình chúa Nguyễn từng tham gia trận đánh Trấn Ninh vào năm Cảnh Trị thứ 2 (1672)(11). Trận đánh này được mô tả trong quyển 2 của tác phẩm Nguyễn Khoa Chiêm và điều đó cho phép ta nghĩ rằng Trần Đình Ân đã cung cấp cho tác giả nhiều chỉ dẫn liên quan tới trận đánh. Những nhà nho đảm trácg việc biên soạn các bộ sử chính thống triều Nguyễn như Đại Nam thực lục tiền biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều đã dựa vào tác phẩm này. Có thể nói Việt Nam khai quốc chí truyện đã mang giá trị lịch sử thực sự.

Các sách Hoàng Lê nhất thống chí Hoàng Việt long hưng chí đều là tác phẩm của những người thuộc dòng họ Ngô Thì . Qua nhiều thế hệ nối tiếp, dòng họ này đã đảm nhiệm việc viết lịch sử chính thống và coi đây là một nhiệm vụ thiêng liêng. Tác giả Hoàng Lê nhất thống chí là một nhân vật khá quan trọng trong giai đoạn ông ta sống, có dính dáng đến một số sự kiện được kể lại trong sách. Chính vì vậy mà nhiều tư liệu dùng để biên soạn là những thông tin cấp một, những chứng cứ trực tiếp. Còn Hoàng Việt long hưng chí thì kể lại các sự kiện mà dòng họ từ một hoặc hai thế hệ trước đã trải qua. Cả hai tác phẩm này đều được dùng làm tư liệu tham khảo khi biên soạn các sách lịch sử.

Cả ba tác phảm vừa nói đều mang tính chất sử học nhiều hơn là văn học. Chúng chiếm một vị trí đặc biệt trong số tiểu thuyết lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán. Các tác giả của chúnh có ý thức bổ sung cho sử tịch, hoặc thẩm duyệt sử tịch. Câu chuyện viết về triều Nguyễn hay chỉ về một dòng họ ở đây không quan trọng lắm. Các tác giả cũng đã giải thích điều này một cách bộc trực trong lời tựa hoặc bạt của tác phẩm. Như trong lời bạt sách Hoan Châu ký có nói: “Tập dã sử của kẻ viết tiểu thuyết này đâu dám sánh với các bộ sách của triều đình. Chẳng qua muốn có một chỗ quy tụ để gửi gắm chút truyện tích cổ kim; thấy quốc sử còn có chỗ bỏ sót thì chú thích thêm cho đủ”(12). Hay như Ngô Giáp Đậu viết trong lời tựa sách Hoàng Việt long hưng chí: “Tôi đã vét các nguồn tư liệu để viết cuốn sách này. Một mặt, tôi muốn chỉ rõ triều đại chúng ta vì sao mà được thịnh vượng. Mặt khác, tôi muốn bổ sung những chỗ còn để trống trong các sách mà dòng họ tôi đã viết(13).

IV. Để kết thúc.

Như chúng tôi đã nói, các tác giả tiểu thuyết lịch sử viết bằng chữ Hán của Việt Nam đều thuộc tầng lớp thượng lưu của xã hội, cả độc giả của họ cũng vậy. Tình hình này ngược hẳn lại với các đồng nghiệp Trung Quốc của họ. Vả chăng, điều vừa nói cũng đúng đối với các tiểu thuyết khác của Việt Nam viết bằng chữ Hán. Nếu có dịp điều tra một cách kỹ lưỡng, có hệ thống các sách Trung Quốc hiện tàng trữ tại các thư viện Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, hẳn chúng ta sẽ thấy có cả loại tác phẩm viết bằng tiếng Hán bình dân như sách giáo khoa, sách luân lý, sách bách khoa đại chúng, tiểu thuyết, hí, khúc, v.v..., nghĩa là những tư liệu mà giới trí thức không quan tâm nhiều và các thư viện hoặc những nhà sưu tầm tư nhân nói chúng là coi nhẹ. Những sách này đôi khi ở Trung Quốc không còn nữa, nhưng lại được lưu giữ thường là khá tốt ở nước ngoài. Điều này hướng chúng ta đến chỗ nghĩ rằng khu vực văn hóa Hán ngoài Trung Quốc đã đưa văn hóa bình dân lên trình độ cao siêu: những tác phẩm ở Trung Quốc do những người thuộc tầng lớp dưới sáng tác để phục vụ cho những người thuộc tầng lớp dưới, thì ở nước ngoài, loại tác phẩm kiểu này lại do những người thuộc tầng lớp trên sáng tác để phục vụ cho những người thuộc tầng lớp trên. Phải chăng vì ở khu vực ngoài Trung Quốc, số người có khả năng viết và đọc được tiếng Hán chỉ là một bộ phận nhỏ và dĩ nhiên đây là những tri thức tầm cỡ ở nước họ (Nhận định này cũng có giá trị đối với các nền văn hóa khác Trung Quốc. Nhưng đây là chuyện khác). Chính điều này đã giải thích vì sao những tác phẩm viết bằng tiếng Hán bình dân lại được gìn giữ cẩn thận tại các nước ngoài Trung Quốc.

Và đây là một may mắn: như vậychúng ta có dịp hiểu hơn nước Trung Quốc thời xưa, nhất là về văn hóa bình dân của các triều đại Minh, Thanh(14).

Thọ Nhân
dịch từ bản tiếng Pháp.

CHÚ THÍCH

(1). Bài viết này đã được Ô. Trần Nghĩa đọc giúp và góp cho những ý kiến quý báu. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn. Chan Hing – ho.

(2). TS. nhà nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS) – ND.

(3). Tạp chí Nam Phong (in bằng tiếng Việt và tiếng Trung Quốc) có đăng loại tác phẩm này.

(4). Chan Hing – ho, Wang Sanqing (Chủ biên): Sưu tập tiểu thuyết Việt Nam viết bằng chữ Hán [Collection des romans et des contes du Vietnam ecrits en Han] đợt in 1 do Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp, Paris xuất bản. Học sinhthư cục Đại Bắc ấn hành, 1986 gồm 7 tập. Đợt in này (dưới đây sẽ viết tắt là đợt in 1) gồm các tác phẩm: Hoàng Việt xuân thu (t.3), Việt Nam khai quốc chí truyện (t.4), Hoàng Lê nhất thống chí (t.5): Chan Hing – ho, Zheng Acha, TrầnNghĩa (Chủ biên): Sưu tập tiểu thuyết Việt Nam viết bằng chữ Hán: Đợt in 2, do Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp, Paris xuất bản. Họ sinh thư cục Đại Bắc ấn hành, 1992, gồm 5 tập. Đợt in này (dưới đây sẽ viết tắt là Đợt in 2) gồm các tác phẩm: Hoàng Việt long hưng chí, Hoàn Châu ký và Trùng Quang tâm sử (trước đây khi chưa biết tên thật của sách, đã đặt tên tạm là “Hậu Trần đất sử”.

(5). Sách nói về cuộc khởi nghĩa của Trần Quý Khoáng, con cháu nhà hậu Trần, chống lại nhà Minh trên vùng đất Nghệ An. Câu chuyện mang tính chất tưởng tượng, với những nhân vật hư cấu. Mục đích của tác giả là thức tỉnh đồng bào của mình và khích lệ họ chống lại kẻ thù. Sách gồm nhiều tiết, nhưng chưa đủ tiêu chí đẻ có thể xem mỗi tiết nhưlà một hồi. Thật vậy, những câu móc nối mang tính đặc thù của tiẻu thuyết chương hồi như “muốn biết... như thế nào, xem hồi sau phân giải” v.v... ở đây đều thiếu vắng. Trong khi đó, tác giả lại nhồi nhét vào tác phẳm những từ ngữ hiện đại như “mầm tư do” (tr.297), hay “thân nô lệ” (tr.306), và gắn cho các viên quan trong truyện những tên gọi hiện đại như “Tổng trưởng” (tr.342), hay “bộ tổng tham mưu” v.v...

(6). Xem Sưu tập tiểu thuyết Việt Nam viết bằng chữ Hán, Đợt in 2, tập 3, Lời giới thiệu nhân dịp xuất bản, các tr. 187 – 188.

(7). Đại năm thực lục tiền biên, Q.6 tờ 4; Q.7 tờ 18; Q.8 các tờ 19, 20, 28 và 30.

(8). Xem Liu Side, Chan Hing – ho và Shi Changyu (Chủ biên): Cổ điển tiểu thuyết tùng san [Sưu tập tiểu thuyết cổ điển]. Trung Hoa thư cục. Bắc Kinh Séries 1 – 41. 1987 – 1992. Hữu Hạ chí truyện, Série 7, tập 4. Liệt quốc chí truyện bình lãm. Serie 6, tập 1 – 3: Tam quốc chí truyện, Série 3, tập 1 – 3.

(9). Sđd Série 3, tập 1, các tr. 15 – 28.

(10). Như trong Hoan Châu ký có nói Nguyễn Luật: ông tổ của dòng họ Nguyễn Cảnh, bị hổ vồ, nhưng hổ không dám ăn thịt, chỉ dùng chân bới đất lấp kín thi hài (tr.195). Hoặc để mả tổ tiên vào một nơi đất phát, khiến con cháu về sau được thịnh vượng. Xem Sưu tập tiểu thuyết Việt Nam viết bằng chữ Hán, đợt in 2, tập 3; Hoan Châu ký; tập 4: Nam Thiên trân di tập, tr.105; Thính văn di lục, tr.213; Đợt in 1, tập 7: Đại Nam hiển ứng liệt truyện, tr..273.

(11) Xem Đại Nam thực lục tiền biên, Q.5, tờ 10.

(12) Sưu tập tiểu thuyết Việt Nam viết bằng chữ Hán, Đợt in 2, tập 3, tr..284.

(13) Sđd, tr.10.

(14) Bản dịch này đã được Ô..Bertrand de HARTINGH, Giám đốc Trung tâm Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội hiệu duyệt trước khi đưa in. Nhân đây, chúng tôi xin thành thực tỏ lòng biết ơn – Thọ Nhân.

TB

CHỮ CỬU VÀ CÁC VĂN BẢN THƯ TỊCH, BI KÝ ĐỜI LÊ TRUNG HƯNG

NGÔ ĐỨC THỌ

I

Trong khi nghiên cứu các văn bản thư tịch, bi ký thời Lê Trung hưng, chúng ta thường gặp một mã chữ đặc biệt: phần trên là một bộ 3 hoặc 4 nét gãy, phần dưới bên trái là chữ Cửu (lâu, lâu dài), bên phải là bộ ngọc:

Một người đọc ít nhiều có kinh nghiệm làm việc với các văn bản đời Lê có lẽ không mấy khó khăn để nhận ra âm, nghĩa của chữ này:

Bộ 3 hoặc 4 nét gãy là ký hiệu của tổ hợp “Tả tòng... Hữu tòng...”, chỉ báo việc cắt đôi một chữ làm 2 phần để đảo ngược kết cấu của chữ từ bên phải sang bên trái. Đây là cách viết chữ Hán theo kiểu kiêng húy của Việt Nam, không giống cách viết kiêng húy của người Trung Quốc. Cách viết đó đã được quy định và sử dụng phổ biến từ đầu đời Lê(1).

Chữ Ngọc + Cửu = 玖 nghĩa là số 9. Đó là cách viết “đại tả” của chữ Hán mà chúng ta vẫn quen gọi là viết kép. Nhân tiện cũng xin dẫn lời giải thích liên quan đã được Lê Quý Đôn ghi lại: “Sách Thái bình quảng ký nói: “Trong các văn thư công hay tư, hễ có các chữ từ nhất là một cho đến thập là mười, đều phải viết chữ kép (đại tả) như: nhất 壹 , nhị 貳 , ... cửu 玖 , thập 拾 ”. Lệ này là do Khai Tế khi làm Thượng thư bộ Hộ đời Minh Thái Tổ đặt ra trước, để phòng tệ gian lậu, chữa đổi”(2). Do có tác dụng đó, các chữ số viết kép thường được dùng để ghi số sào mẫu ruộng đất, số tiền, v.v...

Việc nhận diện chữ h1 như thế tưởng không có vấn đề gì cần thảo luận. Thế nhưng xác định được âm nghĩa chỉ mới đủ để có thể đọc, dịch văn bản chứ chưa đủ lý giải mã chữ húy này để vận dụng nó như một căn cứ, hoặc “chìa khóa” để xác định văn bản. Muốn đạt được như vậy chúng ta còn cần phải biết: Chữ Cửu viết kiêng húy đó là kiêng húy ai ? Vì lý do gì ? Bắt đầu viết kiêng húy như vậy từ bao giờ ?

Liên quan đến các câu hỏi đó, chúng tôi muốn nhắc đến ý kiến cách đây cũng đã khá lâu của nhà nghiên cứu Nguyễn Diên Niên: Trong phần khảo chứng để công bố bản Lam Sơn thực lục tìm được ở gia đình hậu duệ của Lê Sát, ông Nguyễn Diên Niên nêu lên đặc điểm là văn bản có 2 chữ Cửu viết kiêng húy và dẫn cứ liệu sau đây để làm căn cứ xác định niên đại văn bản: “Tìm trong Hoàng Lê ngọc phả kí hiệu A.678 (Thư viện Khoa học xã hội) dưới dòng Huyền Tông mục hoàng đế có chép tên bà mẹ sinh ra ông như sau: “Đế chi mẫu, nãi Lôi Dương Tuyền Nhuệ xã Nhân Tôn: Đoan Thuần hoàng thái hậu Phạm Thị Ngọc Hậu. Nhất bản tác Ngọc Oánh, nhất bản tác Ngọc Cửu”. Cửu là tên của thân mẫu Lê Huyền Tông. Với sự phát hiện này, có thể đoán định thời gian sao sách cụ thể hơn: sách được sao ở đời Lê Huyền Tông trở về sau, sớm nhất là từ năm 1663”(3).

Cả trước và sau khi xuất bản cuốn sách nói trên cho đến nay chưa có một công trình nào khảo cứu về chữ húy đời Lê trung hưng nói chung cũng như riêng về chữ Cửu, vì thế các nhà nghiên cứu cũng không có công cụ nào để kiểm chứng luận cứ đó. Sau khi đọc sách nói trên, chúng tôi tình cờ đối chiếu với niên đại của một vài văn bia và nhận thấy không phù hợp với luận cứ của ông Nguyễn Diên Niên.

Để biết chính xác chữ Cửu kiêng húy xuất hiện từ bao giờ, chúng tôi đã tiến hành điều tra sự hiện diện của chữ này trong các văn bản thư tịch, bi ký thuộc đời Lê Trung hưng. Nếu kết luận nêu trên là đúng, thì chữ Cửu viết kiêng húy chỉ có thể xuất hiện từ niên hiệu Cảnh Trị (1663 - 1674) trở về sau. Khi nói “sớm nhất là từ năm 1663” là đã hàm ý từ... sau năm 1663 có thể có những chữ Cửu không kiêng húy. Do đó dưới đây chúng tôi chỉ dẫn chứng những chữ Cửu viết kiêng húy từ trước năm 1663. Đồng thời để thấy được chữ húy đó chỉ tồn tại trong một thời gian (niên hiệu) nào đó, hay là liên tục qua nhiều năm, chúng tôi cũng nêu những dẫn chứng về sự hiện diện của nó ở các năm sau niên hiệu Cảnh Trị.

Sau đây là thống kê cứ liệu chữ Cửu kiêng húy trên các bi ký đời Lê Trung hưng mà chúng tôi đã khảo sát(4):

- No2577 Phúc Lâm tự bi x. Yên Trung ph. Nghĩa Hưng t. Nam Định; Hoằng Định 4 (1603): “Điền thổ trì nhị thập thất mẫu, cửu cao”. với chữ Cửu (d.8).

- No5811 Hoàng Sơn thôn tân tạo thạch bi x. Phúc Sơn h. Gia Khánh t. Ninh Bình; Hoằng Định 4 (1603): “Nhất sở Ma Dao xứ cửu cao” với chữ Cửu (d.18).

- No10055 Phổ Chiếu tự bi x. Văn Lang h. An Lão t. Hải Phòng; Hoằng Định 19 (1618): “Thập cửu niên” với chữ Cửu h1 (d. cuối).

- No8929 Đổng Liên tự bi x. Tiên Cựu h. Tiên Lãng t. Kiến An; Vĩnh Tộ 1 (1619): Vĩnh Tộ nguyên niên cửu nguyệt, với chữ Cửu (d. cuối).

- No8343 Huệ điền bi x. Bình Vọng h. Thượng phúc t. Hà Đông; Thịnh Đức 1 (1653): “nhất đoạn thất cao thập tam xích cửu thốn”, với chữ Cửu (d. ).

- No12388 Bản xã ký x. Đột Lĩnh ph. Nam Sách t. Hải Dương; Dương Hòa 9 (1643): “Dương Hòa cửu niên “với chữ Cửu (d.1).

- No13081 Vĩnh tự khoán văn x. Hoa Xá h. Gia Phúc t. Hải Dương; Đức Nguyên 2 (1675): “... thập cửu nhật” với chữ Cửu (d. cuối).

- No715 Cáo lệ tế nhật th. Tứ Kỳ h. Thanh Trì t. Hà Đông; Chính Hòa 7 (1686): “Nhất bách cửu tập lục bát”, với chữ Cửu (d.5).

- No2623 Nguyễn Gia từ chỉ bi ký x. Đình Vĩ h. Đông Ngàn t. Bắc Ninh; Chính Hòa 11 (1690) với chữ Cửu (d. cuối).

- No5365 Nguyễn gia hậu thần bi x. Đại Liễn Thượng h. Võ Giàng t. Bắc Ninh; Chính Hòa 19 (1698): “... thập cửu niên”. với chữ Cửu (d.1).

- No18236 Hương Sơn từ bi ký x. Phù Sơn h. Kim Bảng t. Hà Nam; Bảo Thái 7 (1726): “Cộng cửu cao” với chữ Cửu (d.13).

- No2074 Trùng tu phật hậu vạn đại lưu truyền x. Phú Điền h. Thanh Oai t. Hà Đông; Bảo Thái 7 (1726): “tam xích nhị thốn cửu phân”, với chữ Cửu (d.5).

- No10172 Hậu Phật bi ký x. Liễu Phượng h. Yên Mĩ t. Hưng Yên; Long Đức 1 (1732): “Ất Sửu niên cửu nguyệt...” với chữ Cửu (d. cuối).

- No7798 Bia chùa Di Đà x. Tử Dương h. Thượng Phúc t. Hà Đông; Long Đức 1 (1732): “Long Đức nguyên niên cửu nguyệt” với chữ Cửu (d. cuối).

- No15639 Bản huyện giáo phường lập đoan bi ký x. Đức Bác h. Lập Thạch t. Vĩnh Yên; Long Đức 3 (1734): “Long Đức tam niên cửu nguyệt nhị thập... “ với chữ Cửu (d.cuối).

- No9520 Bia xã Yên Phú x. Yên Phú h. Yên Mỹ t. Hưng Yên; Long Đức 2 (1733): “Long Đức nhị niên cửu nguyệt...” với chữ Cửu (d. cuối).

- No10760 Lập bi ký x. Dị Nậu h. Tam Nông t. Phú Thọ; Vĩnh Hựu 1 (1735): “Vĩnh Hựu nguyên niên... thập cửu nhật” với chữ Cửu (d.4).

- No18246 Hậu phật bi ký x. Mân Xá h. Yên Phong t. Bắc Giang; Vĩnh Hựu 2 (1736); “tam cao cửu xích” với chữ Cửu (d. cuối).

- No6300 Hương tiên đường hành lang x. Lương Phong h. Việt Yên t. Bắc Giang; Vĩnh Hựu 4 (1738): “Nhất cao cửu xích” với chữ Cửu (d.4).

- No18795 Lệnh du cảo lệ thành bi ký chùa Côn Sơn h. Chí Linh t. Hải Dương; Vĩnh Hựu 4 (1738): “ngũ thập cửu quán” với chữ Cửu (d.5).

- No2884 Ninh Phúc thiền tự x. Bút Tháp h. Thuận Thành t. Bắc Ninh; Vĩnh Hựu 5 (1739): “Xương Rồng xứ cửu [cao]” với chữ Cửu (d.5).

- No11338 Bia đền thờ Đoàn tướng quân x. Du Đông h. Sơn Lãng t. Phú Thọ; Cảnh Hưng 11 (1750): “Điền cửu xích” với chữ Cửu (d.7).

- No7320 Hưng tạo bi ký x. Đông Bảng h. Tiên Phong t. Phú Thọ; Cảnh Hưng 17 (1756): “cổ tiền nhị thập cửu quán” với chữ Cửu (d.5).

- No1512 Cúng tự đẳng tiết sự lệ x. Lại An, h. Đan Phượng, t. Hà Đông; Cảnh Hưng 19 (1758): “Thập cửu long tập Mậu Dần” với chữ Cửu (d.17).

- No6686 Bia đình xã Khê Ngoại, h. Yên Lãng, t. Phúc Yên; Cảnh Hưng 19 (1758): “Cảnh Hưng... thập cửu” với chữ Cửu h1 (d.11).

- No12253 Hậu Phật bi ký x. Ngọc Uyên ph. Nam Sách t. Hải Dương; Cảnh Hưng 19 (1758): “Cảnh Hưng thập cửu niên” với chữ Cửu (d.7).

- No15385 Lập thạch bi ký Đình thôn Tây x. Thượng Đạt h. Lập Thạch; Cảnh Hưng 20 (1759): “... cửu nhật” với chữ Cửu (d.1).

- No4541 Lập tri ân bi ký x. Bằng Sơn h. Đông Triều t. Hải Dương; Cảnh Hưng 33 (1772): “cửu cao” h1 (d.4).

- No1675 Thì Trung cổ tự hậu phật bi ký x. Di Trạch h. Đan Phượng t. Hà Đông; Cảnh Hưng 47 (1786): Cổ tiền cửu bách bát thập quán “với chữ Cửu (d.13).

Qua bảng kê điều tra trên đây, xin nêu hai nhận xét:

- Các chữ Cửu kiêng húy được viết theo 2 mẫu: hoặc với 3 nét gẫy: ; hoặc với 4 nét gãy: , không nhất thiết theo một quy định chính xác, mà cũng không phải thời gian nào thì viết 3 nét, thời gian nào thì viết 4 nét. Ngoài ra còn có một mẫu khác với 3 nét ở trên không thành nét gãy: , những mẫu này không phổ biến lắm.

- Chữ Cửu viết kiêng húy không phải bắt đầu có từ năm 1663 (Cảnh Trị 1) mà đã xuất hiện từ nhiều năm trước: chữ sớm nhất đã thấy trên bia chùa Phúc Lâm (No2577) năm Hoằng Định 4 (1603) đời vua Lê Kính Tông. Nhiều văn bia mang các niên hiệu tiếp sau như Vĩnh Tộ (1619 - 1628), Dương Hòa (1635 - 1643)..., Thịnh Đức (1653 - 1657), Chính Hòa (1680 - 1705), Bảo Thái (1720 - 1729), Long Đức (1732 - 1735), Vĩnh Hựu (1735 - 1740), đến tận niên hiệu Cảnh Hưng thứ 47 (1786) v.v... đều có các chữ Cửu viết kiêng húy. Như vậy có thể kết luận: chữ Cửu kiêng húy đã hiện diện suốt thời Lê Trung hưng hơn hai thế kỷ, ít ra có thể tính từ niên hiệu Hoằng Định (1600 - 1619) trở về sau.

Đến đây thiết nghĩ đã có đủ căn cứ để cải chính luận cứ đã dẫn ở trên của ông Nguyễn Diên Niên cho rằng chữ Cửu kiêng húy sớm nhất là từ 1663.

Kết luận đó cũng bác bỏ luôn việc giải thích cho rằng Cửu là tên của thân mẫu Lê Huyền Tông. Ông vua này lên ngôi lúc 9 tuổi, 54 năm trước đó chính bà mẹ của ông cũng chưa ra đời, tất nhiên cũng không thể có chuyện chữ Cửu viết kiêng húy vì lý do kiêng tên húy của mẹ vua Lê Huyền Tông.

II

Đến đây chúng tôi phải mở rộng vấn đề: truy tìm tận gốc để xem mâu thuẫn hoặc nhầm lẫn của ông Nguyễn Diên Niên phát sinh ở khâu nào? Trong quá trình nghiên cứu chữ húy đời Lê chúng tôi đã nhiều lần nghiên cứu để thẩm định giá trị của cuốn sách mà ông Nguyễn Diên Niên đã dẫn. Đó là cuốn Lê hoàng ngọc phả (chứ không phải là Hoàng Lê... như NDN đã ghi). Sách gồm 51 tờ (9 dòng x 19 chữ x 2tr.) do Viện Viễn đông Bác cổ thuê chép. Sách chép phả hệ của họ vua Lê kể từ gốc tích Lê Lợi v.v... đến Lê Chiêu Thống (tờ 50b). Ở tờ 42a của sách này quả đúng có ghi mẹ vua Lê Huyền Tông là Phạm Thị Ngọc Hậu, có bản chép là Ngọc Oánh, có bản chép là Ngọc Cửu - tất cả đều đúng như ông Nugyễn Diên Niên đã ghi. Mới xem qua thì nghĩ rằng cuốn sách này có thể cũng có giá trị tham khảo, ít nhất là là có thể giúp cho việc tra cứu phả hệ của các vua, hoàng hậu, hoàng tử v.v... Nhưng sau khi so sánh với các tài liệu khác mới thấy sách này phạm nhiều sai lầm rất thô bạo. Ví dụ như:

- Gia Tông Mỹ Hoàng đế Lê Duy Cối, tất cả các sử sách từ Toàn thư, Cương mục, Lịch triều tạp kỷ v.v... đều nhất trí trong việc ghi tên húy đó. Chỉ riêng Lê hoàng ngọc phả (LHNP) ghi Gia Tông tên húy là Phúc 福 !, coi như không biết đến các tài liệu khác kể cả Toàn thư khắc in năm Chính Hòa 18 (1697), chưa đến 4 năm sau khi Gia Tông qua đời, đều đã ghi tên húy vua Huyền Tông là Duy Cối LHNP lại còn ghi ông vua này có thêm một tên húy khác là Thọ 壽 (tờ 43a). Không có tài liệu nào khác xác nhận điều ghi đó - ý Tông Hy hoàng đế tên húy là Thìn , không một sử liệu nào ghi tên húy khác. Vậy mà LHNP lại ghi Ý Tông tên húy là Nùng ! (tờ 49a).

Một quyển gọi là “ngọc phả” của dòng họ vua Lê không thể nào có những lỗi lầm tai hại như thế được, nhất là sai lầm ngay cả tên húy của vua.

Sự ngạc nhiên của chúng ta sẽ ở đỉnh điểm khi thấy người làm ra cuốn sách này còn ngụy tạo ra cả một bài tựa của vua Lê Cảnh Hưng (ghi là Cảnh Hưng tứ thập nhất niên [1780] thập nhất nguyệt đông chí nhật cẩn tự). Một người ít nhiều có chuyên môn thẩm định sử tịch, đọc qua bài tựa này đều thấy lời lẽ mù mờ, giả tạo của một kẻ tự xưng là Cảnh Hưng hoàng đế. Chúng ta không thể nào không nhận thấy lời lẽ quá hoang đường trong câu viết sau đây:

今 特 委 家 臣 .黎 文 休 等 .考 校 編 修 .要 就 壁 完 .庶 幾 子 孫 得 知 .

“Kim đặc ủy gia thần Lê Văn Hưu đẳng khảo hiệu, biên tu yếu tựu bích hoàn, thứ cơ tử tôn đắc tri” (Nay đặc cách ủy cho gia thần là bọn Lê Văn Hưu khảo cứu, hiệu đính, biên sửa cho được hoàn mỹ, ngõ hầu để con cháu đời sau được biết”. Không thể tưởng tượng được vua Lê Cảnh Hưng (1740 - 1786) lại có thể “đặc ủy” cho Lê Văn Hưu (1230 - 1322), nhà sử học đời Trần, soạn giả bộ Đại Việt sử ký nổi tiếng đã thất truyền! Về cuốn sách này, từ năm 1972 các soạn giả bộ Thư mục Hán Nôm (rônêô) cũng từng ghi chú: “Nghi điểm: người biên tập sách này là Lê Văn Hưu đời Trần mà sách này chép sử hậu Lê (có thể nhầm lẫn)”. Không rõ vì sao ông Nguyễn Diên Niên không lưu ý đến lời ghi chú đó. Vả lại, phải chăng là nhà nghiên cứu phải tự mình thẩm xét tài liệu trước khi sử dụng ? Đáng tiếc tư liệu ở cuốn sách giả nói trên đã khiến cho ông Nguyễn Diên Niên bị lầm lẫn. Tuy nhiên có thể biện minh chút ít cho tác giả Khảo chứng... ở chỗ cho đến thời điểm ông Diên Niên viết sách (và cả đến nay) chưa có tác giả nào khảo thuật, giải mã bí mật của chữ Cửu viết kiêng húy. Vì thế, nhà nghiên cứu nhất thời không có công cụ để kiểm chứng thì cũng dễ bị những tài liệu giả như loại LHNP đánh lừa. Qua việc điều tra khảo sát chữ Cửu viết kiêng húy như đã trình bày trên đây, chúng tôi không chỉ nhằm đính chính riêng một ý kiến của ông Nguyễn Diên Niên, mà tất nhiên chúng tôi cũng hy vọng từ sau đây các học giả trong và ngoài nước sẽ không bị nhầm lẫn bởi tư liệu giả ở cuốn LHNP đã nói trên.

III

Vấn đề cuối cùng: vậy thì chữ Cửu đúng ra là tên húy của ai ?

Sau khi đã tìm kiếm hầu khắp các tư liệu sử sách bi ký, những gì có thể coi hoặc “tự tỏ ra” là có liên quan đến hoàng tộc triều Lê Trung hưng, chúng tôi nhận thấy rằng đến nay hầu như không một tài liệu nào có thể cho chúng ta biết Cửu là tên húy của ai.

Qua khảo sát niên đại xuất hiện của chữ Cửu kiêng húy, chúng tôi nhận thấy chữ này đã được viết kiêng húy khá sớm từ đầu đời Lê Trung hưng, ngay cả khi nhiều chữ húy khác chưa thấy xuất hiện. Sự hiện diện của nó lại liên tục qua các triều vua thời Lê Trung hưng, mức độ sử dụng khá phổ biến. Điều đó chứng tỏ chữ Cửu thuộc diện chữ húy khá quan trọng, mức độ sử dụng khá phổ biến, khiến cho chúng tôi nghĩ đến một nhân vật rất gần gũi với vua Lê Thái Tổ: Đó là bà Ngọc Trần, vợ cả của Lê Lợi, sau được tôn phong là Cung Từ quốc thái mẫu.

Tiểu sử bà Ngọc Trần có lẽ nên coi là thuộc loại rất bí mật.

Ngay cả phần Bản kỷ của bộ Đại Việt sử ký toàn thư do chính Ngô Sĩ Liên biên soạn dưới thời Lê Thánh Tông, cách cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chưa đầy 50 năm cũng không chép gì về bà. Đương thời Lê sơ chỉ có Lam sơn thực lục(5) là có chép một đoạn liên quan đến cái chết của bà Ngọc Trần. Ghi sự việc về tháng giêng năm Ất Tỵ (1425) nghĩa quân tiến vào Nghệ An, Toàn thư ghi lời của Lê Thái Tổ nói với các tướng: “Dân chúng khổ về chính sách bạo ngược của giặc đã lâu rồi...”, sau câu nói ấy, Toàn thư chỉ ghi lướt vài dòng về việc vây đánh thành Nghệ An, rồi viết: “Thế là đất Nghệ An đều về ta cả “(BK10, - 16b). Đoạn văn này cũng có trong LSTL (Q.2, - 1b) chứng tỏ soạn giả Toàn thư đã dựa sát theo LSTL để lấy tư liệu đem vào quốc sử. Tuy vậy so sánh 2 văn bản này, chúng ta có thể thấy giữa hai câu văn, từ: “Dân chúng khổ về...” đến: “Thế là đất...”, soạn giả Toàn thư đã bỏ qua không ghi một đoạn 120 chữ liên quan đến bà Ngọc Trần: Trước khi vây đánh thành Nghệ An, Lê Lợi dừng nghỉ tại đền thờ thần Phổ Hộ (tục gọi là Thần Quả) ở thành Triều Khẩu huyện Hưng Nguyên, chiêm bao thấy thần nhân bảo rằng: “Xin tướng quân cho một người thiếp thì nguyện giúp tướng quân đánh được giặc Ngô mà thành nghiệp đế”. Hôm sau vua gọi các bà vợ đến hỏi “Ai bằng lòng làm thiếp của Thần, ta lấy được thiên hạ thì sẽ truyền ngôi thiên tử cho con người ấy?” Bấy giờ bà Ngọc Trần là mẹ của Lê Nguyên Long (mới lên 3 tuổi, sau này sẽ là vua Lê Thái Tông) tự nguyện nhận lời.

Thế là: “Vua giao Ngọc Trần cho thần Phổ Hộ bắt lấy, chết trước mặt vua” (TSLSTL, Q2, 1b).

Nhưng LSTL thuộc loại tối mật, chỉ có một bản chính lưu giữ trong Kim quỹ và vài bản sao cấp cho các công thần. Hơn 250 năm sau Đông các Đại học sĩ Giám tu Quốc sử Hồ Sĩ Dương và một số văn thần đời Lê Hy Tông mới được vua giao biên tập đem in để lưu truyền muôn đời: Đó là sách Trùng san Lam Sơn thực lục khắc in năm Vĩnh Trị thứ 1 (1676). Về sau, Lê Quý Đôn có nhận xét như sau về TSLSTL: “Trong năm Vĩnh Trị, các nho thần vâng mệnh vua đính chính, chỉ căn cứ vào hiểu biết của mình mà sửa chữa thêm bớt, sai mất cả sự thực, không phải là nguyên bản sách cũ nữa” (ĐVTS, Nghệ văn chí). Ở đây có những yêu cầu cao của nhà bác học họ Lê về mặt văn bản học: Có điều gì đó tùy tiện chưa ổn đáng trong việc biên tập, chỉnh lý, - có thể là về sự thay đổi đại từ “Trẫm” sang đại từ “Đế”, hoặc việc đưa phần Chú vào phần Lục như ông Nguyễn Diên Niên đã phân tích v.v... Chúng tôi không bàn đến tất cả những điều đó, chỉ nêu lên rằng: về cái chết của bà Ngọc Trần thì chính Lê Quý Đôn trong Đại Việt thông sử cũng đã chép sát TSLSTL với đầy đủ tình tiết như đoạn văn nói trên: “....”. Nhà vua sai làm lễ tế thần, dùng hoàng hậu làm vật tế. Hoàng hậu bèn mất.” (ĐVTS, Hậu phi liệt truyện).

Đọc TSTL (và cả ĐVTS), người ta có cảm tưởng bà Ngọc Trần đã bị thần Phổ Hộ “đem đi” một cách nhẹ nhàng, không rơi một giọt máu. Nhưng đằng sau câu chuyện huyền hoặc về vị thần, chúng ta có thể thấy đúng diện mạo của sự thật, một tình cảnh thảm thương: bà Ngọc Trần bị chính người chồng của mình là Lê Lợi ra lệnh giết làm vật hy sinh để tế thần !

Dù là ở thời Trung cổ và vì một mục đích cao cả đi chăng nữa cái chết của bà vợ cả của vua Lê Thái Tổ vẫn phải coi là hậu quả của sự mê tín khủng khiếp, để lại một ám ảnh rất lâu dài đối với hoàng gia.

Vì sự việc quá thảm khốc và cả sự linh thiêng, tên tuổi của bà về sau không một ai dám viết và nhắc đến nữa. Lợi dụng điều đó, sau khi lên ngôi, Lê Thái Tổ đã dùng chữ Trần 陳 để gán cho làm tên húy của bà. Về lý do đức vua chọn chữ Trần, trước đây trong bài viết về Chữ húy đời Lê sơ chúng tôi đã nói đến, không ngoài mục đích nhân dịp ban bố lệnh kiêng húy đưa luôn chữ Trần vào đó để khiến cho người trong nước thôi nhắc nhở đến nhà Trần. Đó cũng là cách mà ngày trước nhà Trần vì muốn “tuyệt lòng mong nhớ của dân đối với nhà Lý” (Toàn thư, BK5, - 7b) nên đã dùng chữ Lý làm tên húy giả của ông nội Trần Thái Tông. Về quan hệ đối ngoại, rất lâu sau khi Lê Lợi lên ngôi, nhà Minh vẫn một mực đòi tìm cho được con cháu nhà Trần mới chịu phong vương; triều đình ta phải nhiều lần sai sứ sang biện bạch là không tìm được con cháu nhà Trần (xem Toàn thư, BK10, 58b; 71a; 73a v.v...). Trong tình hình đó, mượn cớ kiêng húy cấm dùng chữ Trần sẽ có tác dụng ngăn chặn trước khả năng có ai đó tự liên hệ với nhà Minh dưới danh nghĩa con cháu họ Trần. Và như chúng ta đã biết, ngay trong điều lệnh kiêng húy đầu tiên vào tháng 5 - 1428, Lê Thái Tổ đã ban bố 7 chữ húy, trong đó có chữ Trần (Toàn thư, BK10, - 58b). Rồi đến tháng 10 năm Thuận Thiên thứ 4 (11 - 1431), Lê Thái Tổ đã chính thức đưa chữ húy giả đó vào LSTL khi kể lại sự việc hiến tế bà cho thần Phổ Hộ. Các sử liệu về sau tất nhiên là phải căn cứ vào LSTL, mà ghi tên húy của bà là Trần, - một cái tên mà ngay lúc sinh thời chính bà cũng không biết đến.

Từ những sự kiện trên đây chúng tôi đoán định Cửu chính là tên thực của bà vợ cả của Lê Lợi, mẹ của Lê Thái Tông. Tên của bà nhắc đến cái chết kinh hoàng của bà, vì thế suốt cả thời Lê sơ tên húy thật của bà trở thành một sự kiện tối mật, chưa chắc tất cả mọi người trong hoàng tộc đều được biết đến. Ngót hai thế kỷ sau sự việc đã phai nhạt, tên thật của bà mới được tiết lộ ra ngoài dân gian. Và một khi đã biết tên thực của bà người ta bèn tôn kính tự nguyện coi chữ Cửu là chữ cần kiêng húy. Mức độ kiêng húy bằng các mẫu chữ như đã kể ở trên, dẫu chưa phải là cách nghiêm ngặt (đổi hẳn chữ khác), nhưng cũng đủ tỏ lòng tôn kính gần ngang với sự tôn kính mà nhân dân đã giành cho chồng bà là Lê Thái Tổ.

CHÚ THÍCH

(1) Xem Ngô Đức Thọ: Chữ húy đời Lê sơ. Tạp chí Hán Nôm số 2 năm 1991, tr.25-33.

(2) Lê Quý Đôn: Vân đài loại ngữ. Trần Văn Giáp biên dịch và khảo thích, Nxb. Văn hóa (Viện Văn học), H. 1992, T.1, tr.205.

(3) Xem: Lam Sơn thực lục bản mới phát hiện, Nguyễn Diên Niên khảo chứng. Ty văn hóa Thanh Hóa xuất bản, 1976, tr.10.

(4) No... : Số ký hiệu bản dập văn bia hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm: thôn, xã, huyện, phủ, tỉnh viết tắt: th., x., h., ph., t., ghi theo địa danh ở thời điểm dập văn bia.

(5) Hiện nay chúng ta có các bản Lam Sơn thực lục nguyên văn chữ Hán sau đây: <1> Bản in khắc gỗ trong bộ Ức Trai di tập (in 1868) đã được dịch và công bố trong Nguyễn Trãi toàn tập (Nxb. KHXH), với ý nghĩa Nguyễn Trãi là người chấp bút. <2> Bản chép tay do Nguyễn Diên Niên công bố, coi Lê Lợi tự mình viết LSTL. <3> Bản Trùng San do nhóm Hồ Sĩ Dương biên tập, khắc in năm Vĩnh Trị 1 (1676). Bản in sách này trước đây trong nước không có, năm 1979 GS. Hoàng Xuân Hãn từ Paris gửi một bản về biếu TV. KHXH, gần đây PGS. Trần Nghĩa đã dịch chú và công bố bản đó (Nxb. KHXH, 1992) có in ảnh nguyên văn bản chữ Hán. Trong bài viết này khi nói đến nội dung tác phẩm thì chúng tôi chỉ gọi chung là Lam Sơn thực lục (LSTL), chỉ khi nào nói đến bản mới phát hiện hoặc bản trùng san thì mới ghi cụ thể./.

TB

DÂN TỘC HÀN QUỐC SÁNG TẠO
CHỮ HÁN CÙNG VỚI CÁC DÂN TỘC KHÁC

JIN TAE HA

LTS. - Dưới đầu đề trên, Tuần báo Sisa Journal số 229 năm 1994 đã đăng bài giới thiệu những kết quả nghiên cứu mới nhất của GS. Jin Tae Ha về quá trình hình thành chữ Hán, do PV. Cho Yong Jun viết. Nhận thấy đây là một vấn đề học thuật đáng được quan tâm, TCHN đăng lại bài viết trên, qua bản dịch của Ô. Bae Yang Soo, Nghiên cứu viên Cao học Trường ĐHSP HN I, để bạn đọc tham khảo.

Đây là một ý kiến mới về văn tự Hán. Theo ý kiến này, văn tự Hán không phải là văn tự riêng của dân tộc Hán (văn tự Trung Quốc). Từ trước đến nay người Hàn Quốc nhận thức rằng: “Văn tự Hán do dân tộc Hán sáng tạo. Các nước xung quanh Trung Quốc, kể cả bán đảo Hàn Quốc, chỉ có tiếng nói, chưa có văn tự riêng, đã chịu ảnh hưởng và sử dụng rộng rãi văn tự này”. Song GS. Jin Tea Ha ở Trường Đại học Myung Ji (Khoa ngữ văn, Chủ tịch Hội giáo dục quốc ngữ Hàn Quốc) đã đề ra một ý kiến mới và đưa ra những tài liệu xung quanh quá trình hình thành văn tự Hán. Theo ý kiến của GS. Jin, một dân tộc phương Bắc, tức là tổ tiên dân tộc bản địa Hàn đã đóng góp chủ yếu vào quá trình này. Chữ Hán không phải chỉ của dân tộc Hán ở Trung Quốc. Ý kiến này có điều khác biệt với quan niệm truyền thống của giới ngôn ngữ học trong nước. GS. Jin Tae Ha lần đầu tiên đã phát biểu ý kiến học thuật mới của mình với tuần báo Sisa Journal.

GS. Jin Tae Ha đã nhận được bằng Tiến sĩ về Văn tự học ở Trường Đại học Sư phạm quốc gia Đài Loan, và đã giảng dạy ở Trường Đại học Chính trị tại Đài Loan từ năm 1967 đến 1975 và là một trong số ít chuyên gia về Văn tự giáp cốt ở Hàn Quốc. Khi nghiên cứu văn tự ở Đài Loan. GS. Jin đã phát hiện trong Văn tự giáp cốt có một số chữ mang những đặc trưng gắn với dân tộc Hàn Quốc. Sau đó và đến bây giờ ông vẫn đang tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này. Đa số Văn tự giáp cốt được khắc ở xương bụng của đồi mồi và xương vai của bò thời “Ân” sử dụng cách đây khoảng 3400 năm. Những văn tự này được phát hiện vào năm 1899 ở An Dương (An Huy, Hà Nam), xưa kia là kinh đô của nhà Ân. Từ các cuộc khai quật, người ta đã sưu tập 16 vạn phiến mai rùa, xương thú, trong đó tìm thấy 6000 chữ, chỉ đọc được khoảng 3000 chữ, có 300 chữ là những chữ cơ bản.

Ý kiến của GS. Jin sẽ được kiểm chứng qua sự tranh luận của giới học thuật trong nước trong tương lai. Ý kiến này có thể ảnh hưởng lớn đến chính sách giảng dạy hỗn dung Hán văn và Quốc ngữ (Hangưl) một khi nó được chấp nhận. Đến nay, hai phái đối lập nhau đang tranh luận gay gắt về sự cần thiết hay không cần thiết dạy Hán văn ở Hàn Quốc: một bên là những người chủ trương chỉ sự dụng Hangưl vì nó là văn tự riêng của mình, bên khác là những người chủ trương Hán văn cũng là ngôn ngữ của dân tộc, Hán văn và Hangưl phải được coi trọng như nhau, đồng thời Hán văn không phải là ngoại ngữ, vì dân tộc Hàn Quốc đã sử dụng loại văn tự này từ hàng nghìn năm trước. Nhưng nếu chứng minh được giả thuyết của GS. Jin: chữ Hán cũng là văn tự chung của các dân tộc ở khu vực Đông Bắc Á chứ không phải là tài sản riêng của dân tộc Hán, thì những tranh luận nêu trên trở thành không cần thiết. Cũng theo ý kiến của GS. Jin, văn tự này là “Văn tự phương Đông”.

Bởi vì trước khi sáng tạo Hangưl, dân tộc Hàn Quốc đã sử dụng văn tự chung của các dân tộc Đông Bắc Á, không phải vay mượn văn tự Trung Quốc. Thêm nữa, dân tộc Hàn Quốc là dân tộc duy nhất sáng tạo ra loại “văn tự biểu ý” và “văn tự biểu âm” ở Đông Bắc Á hồi này.

Luận điểm khoa học của GS. Jin bắt đầu với từ “Hán 漢”. Nói chung, ta nhận thức ý nghĩa về từ “Hán” là văn tự của “thời kỳ nước Hán” và của “dân tộc Hán”. Nhưng chủ trương về văn tự của thời kỳ nước Hán có mâu thuẫn, vì thời nhà Ân đã có văn tự giáp cốt chính xác và đầy đủ. Và từ “Hán” xuất hiện vào thời kỳ nhà Chu sau đó. Nhưng thời bấy giờ từ Hán có nghĩa là tên một con sông như “Hán Thủy” mà không phải là tên của dân tộc Hán. Cho nên chữ Hán không phải là văn tự do dân tộc Hán sáng tạo. Do vậy, GS đặt ra nghi vấn về nguồn gốc xứ sở đã sáng tạo nên văn tự Hán.

Để giải quyết vấn đề này, GS. Jin đã nghiên cứu về sự liên hệ giữa dân tộc phương Bắc và văn tự giáp cốt vì Trung Quốc cũng đã nhận định rằng dân tộc phương Bắc xây dựng nhà nước Ân. Cũng có một chứng cứ nữa là chữ Hán là chữ có tính tổng hợp vì nó được sáng tạo qua nhiều thời đại, ở nhiều vùng và do nhiều dân tộc chứ không phải được sáng tạo trong một thời đại nhất định như Hangưl. Vì thế, nếu ta nghiên cứu từng chữ một thì có thể biết ngay được thời đại, khu vực, dân tộc nào đã sáng tạo ra chúng.

Trước hết, GS. Jin bắt đầu nghiên cứu về từ “Văn 文”. Chữ “văn” đã xuất hiện ở thời đại nhà Ân. Nghĩa của nó thuở ban đầu là “gấm vóc”, có khác với nghĩa ngày nay. Còn từ “Tự 字” thì xuất hiện mãi tận thời nhà Chu, nghĩa của nó là “đẻ con ở nhà”, chưa có nghĩa là “chữ” như ngày nay. Thế thì ở thời nhà Ân phải có từ nào đó có ý nghĩa là “chữ”. Sau đó GS. đã tìm được từ “Khế 契” mà thời nhà Ân có nghĩa là “chữ”. Nhưng ban đầu từ “khế” này không có bộ “Đại 大”, chỉ có bộ “Mộc 木” như chữ 契 . Chữ này là văn tự hình tượng để miêu tả số khắc trên gỗ bằng con dao, ở đây có một sự thật quan trọng “âm cổ đại của chữ “khế” là “gưl”. Chỉ có dân tộc Hàn đọc “gưl” với nghĩa là “văn tự” trong các dân tộc châu Á. Từ “gưl” đã xuất hiện ở thời đại Cao cú Lệ và Cao Ly chứ không phải mới xuất hiện sau này. Cho nên đọc âm của chữ “Khế” với ý nghĩa là “văn tự” của thời Ân là “gưl”, ta có thể suy luận rằng chữ đó do dân tộc Hàn sáng tạo nên. Chữ Khế với âm đọc “gưl” là một văn tự biểu ý, do dân tộc Hàn sáng tạo đầu tiên.

Thêm nữa, dân tộc Ân là dân tộc phương Bắc, đồng huyết thống với tổ tiên của dân tộc Hàn, Ân là tổ tiên của dân tộc Hàn, không phải tổ tiên của dân tộc Hán. Trên cơ sở những sự thật trên, GS. Jin nghiên cứu khảo chứng từng chữ một trên Văn tự giáp cốt. Ông phát hiện được những văn tự mà chỉ có dân tộc Hàn mới sáng tạo ra được. GS. Jin cho rằng: Nếu chỉ tìm được một vài chữ thì có thể hiểu là ngẫu nhiên hoặc khiên cưỡng phụ họa. Nhưng trên thực tế không phải chỉ có một vài từ, điều này cho phép kết luận rằng, tổ tiên của dân tộc Hàn Quốc đã tham dự vào việc sáng tạo chữ Hán ở thời nhà Ân, GS. Jin cũng nhấn mạnh rằng nhiều dân tộc đã tham dự vào quá trình sáng tác chữ Hán chứ không riêng gì dân tộc Hàn Quốc. Ở đây, chúng ta được giải đáp về bài toán “Hán tự” của lịch sử đặt ra. Chữ Hán được sáng tạo qua nhiều thời đại và có sự đóng góp của nhiều dân tộc khác nhau.

Theo GS. Jin, khái niệm “Hán tự” không chính xác, phải dùng khái niệm “Văn tự phương Đông” hoặc “Kohangưl” là chữ của dân tộc Hàn cổ đại.

GS. Jin nhấn mạnh rằng ở thời điểm này, nhất là thế hệ trẻ phải nhận thức lại về dân tộc Hàn. Dân tộc Hàn không phải chỉ góp phần sáng tạo “văn tự biểu ý” mà còn cả về “văn tự biểu âm”, và đó là niềm tự hào của dân tộc Hàn.

Dưới đây, xin dẫn 5 trong số nhiều chữ Hán mà GS. Jin đã phân tích, để bạn đọc có một ý niệm chung.

1. Chữ “Gia” 家 tức nhà, đương nhiên phải có người (人) trong nhà, nhưng lại có lợn (Thỉ: 豕) nữa. Tại sao thế? Những học giả Trung Quốc vẫn chưa tìm được câu trả lời. Dân tộc Hàn cổ đại thường nuôi lợn bên dưới nhà để chống rắn hoặc những loại côn trùng có hại. Tập tục “con lợn ăn phân” ở hòn đảo JeJu là một biến dạng của tập tục trên. Cho nên có thể nói chữ gia (家) đã bắt nguồn từ việc nuôi lợn dưới nhà theo tập tục của dân tộc Hàn và do dân tộc Hàn sáng tạo nên.

2. Chữ “Nhật 日” thể hiện hình vẽ về mặt trời. Nếu muốn vẽ về mặt trời thì vẽ hình tròn là được rồi. Nhưng tại sao có con quạ ở trong mặt trời ? Vì có chuyện thần thoại quạ vàng ở trong mặt trời từ hàng nghìn năm về trước. Chỉ dân tộc Hàn là có chuyện thần thoại về con quạ vàng từ hàng vạn năm trước, trước khi chữ nhật được sáng tạo ra. Do vậy chữ “nhật” do dân tộc Hàn sáng tạo ra.

3. Chữ “Hạ 夏 ” xuất hiện trong hình vẽ: con người đứng lên mà mặc quần áo đàng hoàng. Vạn vật trưởng thành vào mùa hè. Cho nên ý nghĩa của nó thay đổi với ý nghĩa mùa hè. Ý nghĩa ban đầu của chữ này ở thời kỳ nước Hạ (夏) là “lớn”, không phải là mùa hè. Vấn đề là ở Trung Quốc hiện này không dùng chữ “Hạ” với ý nghĩa “lớn”. Nhưng dân tộc Hàn vẫn dùng chữ “Hạ” với ý nghĩa “lớn”. Cho nên chữ Hạ mang nghĩa lớn cũng là văn tự biểu ý của dân tộc Hàn.

4. Chữ “Tận 盡” có vẽ hình ảnh khuấy lửa trong lò bằng cái giáo. Ý nghĩa ban đầu của nó là “tắt”. Bởi vì nếu ta khuấy lửa bằng cái giáo thì lửa sẽ tắt. Theo quan niệm ngày xưa, ngọn lửa tắt có nghĩa là tất cả đều kết thúc, tức là hết”. Chữ này thêm bộ “hỏa 火” thì trở thành chữ “tẫn” tức là lửa tàn. Chỉ có dân tộc Hàn có tập tục bảo tồn ngọn lửa ở trong lò.

5. Ở Trung Quốc khi nói về “hạt giống” thì không dùng chữ “thị 氏”. Chữ này chỉ dùng khi nói về “họ”. Nhưng chữ này xuất phát từ trong hình vẽ hạt giống đâm chồi và rễ sinh ra. Nếu dân tộc Hán sáng tạo nó thì phải có chữ thị với ý nghĩa “hạt giống”. Nhưng trong chữ của dân tộc Hàn có chữ “thị”với ý nghĩa vừa là “họ” vừa là “hạt giống” do vậy chữ “thị” cũng là chữ của dân tộc Hàn./.

TB

VỀ DI CẢO THƠ VĂN CỦA
VŨ TÔNG PHAN

VŨ THẾ KHÔI

Trên tuần báo Văn Nghệ số Tất niên 1994 chúng tôi đã đưa tin về việc mới tìm lại được di cảo thơ văn của Tiến sĩ Vũ Tông Phan.

Người trao lại Lỗ Am di cảo thi tập (Ladctt) cho dòng họ Vũ là ông Đỗ Khắc Kiên, bí danh công tác Vũ Thanh Thời, năm nay 80 tuổi, người làng Mậu Hòa huyện Đan Phượng cũ, nay thuộc Hoài Đức.

Trả lời câu hỏi về nguyên do tại sao con cháu chi họ Đỗ Khắc làng Mậu Hòa lại giữ thơ văn của cụ nghè họ Vũ, ông Kiên cho biết: ông nội và cha ông thường kể lại rằng sau vụ người con trai thứ ba của cụ Phan là Như Cầu(1) tham gia cùng môn sinh Tự Tháp và văn thân Thọ Xương chống lại bọn lái buôn kiêm mật thám Đô - Phổ – Nghĩa (Giăng Duypuy), các gia đình con cháu cụ Phan phải bỏ trại hồ Đình ở ven hồ Gươm, lánh về Mậu Hòa, nơi lúc ấy em trai thứ tư của cụ Phan là Tú Phác đang dạy học tại “Mậu Hòa giảng thất” ngôi nhà dạy học truyền lại từ đời phụ thân cụ Phan(2) . ở đây đích tôn của cụ nghè Tự Tháp là Như Hành đã kết nghĩa anh em với hương Phẩm, tức Đỗ Khắc Phẩm, chính là cụ nội của ông Kiên.

Đến năm 1898 lại xảy ra việc ông đồ Mậu, cháu gọi cụ Phan bằng bác ruột, làm tướng cho sư cụ Vương Quốc Chính và cầm đầu cánh quân Cầu Đơ đánh vào Hà Nội(3) , các gia đình họ Vũ lại phải chạy khỏi Mậu Hòa. Cụ Hành đã gửi lại người anh em kết nghĩa họ Đỗ – Khắc di sản thơ văn quí báu của ông nội mình.

Từ khi bắt đầu học chữ Nho lúc 7- 8 tuổi, ông Kiên đã thấy hai kẹp sách chữ Nho của các cụ họ Vũ, gồm đủ cả Tứ thư, Ngũ kinh; thơ văn, sách thuốc, được cất giữ cẩn thận ở trên giường thờ gia tiên. Trước khi đi tham gia cách mạng, rồi Kháng chiến, ông Kiên vẫn thấy hai kẹp sách ở trên giương thờ. Đến tận ngày hòa bình lập lại năm 1954, ông mới có dịp về qua làng, dò hỏi về số phận hai kẹp sách. Ông Phí Văn Bích, cũng thuộcmột dòng họ môn sinh lâu đời của các cụ họ Vũ, lại là bạn đồng môn với ônh Kiên, cho biết: năm 1947 quân Pháp càn vào làng đốt phá, khi giặc rút đi ông chỉ nhặt nhạnh được mấy quyển, thì may sao trong số còn sót lại đó có cả Ladctt! Ông Kiên đã xin lại mấy quyển sách đó và cất giữ cho đến nay.

Sách Ladctt bìa cứng sơn đen đã rách, hiện gồm 68 tờ trong đó các tờ 1, 2, 13 và 24 chỉ còn một mặt (a) hoặc (b), khổ 29 x 16,5cm, giấy bản loại tốt, chép 359 bài thơ văn, chữ chân phương, sắc nét. Nguyên đề của sách khôg còn, trên tờ đầu tiên hiện nay đã mất mặt (a) một nét bút khác viết tên sách ở phía sau mặt (b). ở mặt (a) của tờ thứ 3, sát gáy sách có ghi “Lỗ Am thi tập”, nhưng hai chữ “Lỗ Am” cũng là nét bút khác viết lên mẩu giấy lồng vào giữ tờ ở chỗ bị rách. Cũng sát gáy sách, ở phía dưới, viết: “Thượng Phúc Tiến sĩ Lê Hy Vĩnh điểm tích”. Từ tờ 52 trở đi sách bị gậm mất góc trên nên dòng sát lề sách thường mất vài ba chữ. Bốn tờ cuối, một phần ba trang phía lề sách bị rách nát nửa dưới. Mặt (b) tờ 67 và tờ 68 phụ chép (phụ lục) bài văn bia Lỗ Am Vũ tiên sinh từ đường ký chứng tỏ sách kết thúc ở đó. Nhìn chung hiện trạng di cảo còn tốt, chỉ độ gần ba chục bài thơ không còn nguyên vẹn.

Lại lịch rõ ràng kể trên cho phép tin rằng đây chính là thơ văn của Tiến sĩ Vũ Tông Phan. Tuy nhiên, như nhiêu nhà thư tịch học lỗi lạc từng cảnh tỉnh, đối với loại văn bản chép tay từ các đời trước truyền lại, thậm chí cả trong trường hợp có ghi đầy đủ tên họ tác giả và niên đại của sách, vẫn cần tiến hành thâm định cẩn thận trước khi sử dụng làm tư liệu khảo cứu. Bởi vậy chúng tôi đã tiến hành khảo sát văn bản Ladctt, đối chiếu với những tư liệu gốc khác để minh định tác giả và xác định niên đại của sách.

1. Vấn đề minh định tác giả Ladctt.

Một trong những phương pháp chắc chắn để minh định tác giả văn bản là xác lập những yếu tố tự thuật trong văn bản. Dựa vào tiểu sử của Tiến sĩ Vũ Tông Phan mà mới đây chúng tôi đã đính chính lại căn cứ vào các tài liệu quốc sử, bi ký và phả họ Vũ – Tông Lương Ngọc(4) , có thể xác lập hàng loạt những yếu tố tự thuật trong Ladctt như sau:

Thời điểm, sự kiện thuộc tiểu sử
Vũ Tông Phan.
Thời điểm, sự kiện thuộc nội dung
các bài thơ trong Ladctt
- Sinh năm 1800 (Bia Lỗ Am Vũ tiên sinh từ đường ký; Lương Vũ trục nguyệt kỵ phổ) - Trong lời chú bài Vãng Sơn Minh chi Vân Đình (Qua Vân Đình ở Sơn Minh) có câu “Tôi lúc 7 – 8 tuổi theo cha đi dạy học”. Cha ông Phan đỗ Tú tài năm 1807 rồi ở ẩn dạy học, vậy tác giả lời chú này sinh : 1807/8 – 7/8 =1800.
- Đỗ cử nhân năm 1825 (Đại Nam thực lục; Quốc triều hương khoa lục) - Ất Dậu thu ứng tuyển quy tự thuật (Mùa thu năm ất Dậu [1825] đi ứng tuyển về tự thuật).
- Đỗ Tiến sĩ khoa Bính Tuất 1826 (Đại Nam thực lục; Quốc triều khoa bảng lục) - Bính Tuất hạ khâm phụng vinh quy hành cụ khánh lễ cẩn thuật (Mùa hè năm Bính Tuất [1826] vâng mệnh vuavinh quy làm lễ ăn mừng, kính cẩn thuật lại).
- Năm 1827 đi nhậm chức Tri phủ Bình Hòa (từ 1832 – Khánh Hòa) (Vũ tộc hoa phổ) - Trọng đông khâm mông thăng thụ Bình Hòa phủ (tháng 11 được thăng tri phủ Bình Hòa).
- Năm 1829 được bổ làm Tham hiệp Thái Nguyên (Đại Nam thực lục) - Phụng bổ Thái Nguyên Tham hiệp ngoại thành ngụ (Được bổ làm Tham hiệp Thái Nguyên ngụ ở ngoài thành)
- Năm 1830 bị cách chức Tham hiệp Thái Nguyên, được cho về Kinh đợi chỉ (Đại Nam thực lục) - Canh Dần nạp đắc cách... (tháng chạp Canh Dần [1830] bị cách...) “Thu trình thuật hứng – thời tiến kinh hậu chỉ” (Hứng thuật hành trình mùa thu – khi về kinh đợi chỉ)
- Tháng 11 năm 1831 được khai phục làm Giáo thụ phủ Thuận An (Bắc Ninh) (Đại Nam thựclục) - Khâm phụng khai phục Thuận An Giáo chức (Vâng mệnh khai phục làm Giáo thụ phủ Thuận An) (Bài này chép ở trước bài “Nhâm Thìn nguyên đán (1832)” chứng tỏ viết cuối năm 1831).
- Viện cớ bệnh tật [1835] cáo quan về dựng trường bên hồ Gươm dạy học (Đại Nam liệt truyện; Nhĩ Hoàng di ái lục) - Sơ thu cảm hoài (Suy tư đầu thư) có câu “Bệnh quy ngũ tải thương phiêu linh” (cáo bệnh về năm năm rồi mà vẫn nổi trôi); Bài Thục xá ngẫu hứng (ngẫu hứng ở nhà dạy học có câu: “Kiếm hồ viên thủy đa thanh hứng, Nghĩ thiết thư lâu ký hiểu hôn” (Hồ Gươm vườn nước đầy thanh hứng, Nghĩ dựng lầu trai gửi sớm hôm).
- Mất ngày 26 – 6 năm Tân Hợi (1851) tại nhà dạy học Giang Đình ở Sơn Minh (Lỗ Am Vũ tiên sinh từ đường ký). - Giang thục ngẫu hứng Đông Đào Xá thục sư (Ngẫu hứng ở nhà dạy học ven sông gửi ông thầy trường Đông Đào Xá (Đông Đào Xá tức thôn Đào Xá cùng tổng Đông Lỗ với Kim Giang, huyện Sơn Minh)

Sự trùng khớp chính xác như vậy của mọi chi tiết tiểu sử chứng tỏ tác giả Ladctt chỉ có thể là đương sự, tức chính Vũ Tông Phan.

2. Vấn đề thời điểm và người biên tập Ladctt.

Để giải đáp vấn đề nay chúng tôi đã phân tích kỹ lưỡng văn bản Ladctt, kết hợp đối chiếu với một số sự kiện liên quan trong cuộc đời Vũ Tông Phan.

2.1 - Trước hết, xin trình bày một số đặc điểm của văn bản Ladctt:

a) Ladctt chỉ chép thơ văn của Vũ Tông Phan từ năm 1825 trở về sau, tức là từ sau khi ông Phan đỗ Cử nhân khoa ất Dậu đời Minh Mạng.

b) Hơn nửa đầu Ladctt chép trên 200 bài thơ tự thuật, tức sự, tiên tặng, cảm hoài, ngẫu hứng... mang tính nhật ký rõ rệt, được ghi chép chính xác theo trình tự năm tháng diễn biến của các sự kiện trong tiểu sử Vũ Tông Phan; non nửa sau biên chép chủ yếu các chùm thơ vịnh thắng cảnh và di tích trong những cuộc du ngoạn, không theo trình tự thời gian, ví dụ: chùm thơ Hải Am thập nhị vịnh, với lời dẫn đề “Thiệu Trị Đinh vị mộ xuân” (Cuối xuân năm Đinh Mùi đời Thiệu Tị (1847) lại biên chép ở gần cuối tập, trong khi đó chùm thơ Canh Tuất hạ vọng hậu du Long Vân động ký hành (ghi chép về cuộc đi chơi động Long Vân sau ngày Rằm hè năm Canh Tuất 1850) chép ở gần giữa tập.

c) Nhiều bài thơ có chú dẫn, trong đó người viết xưng bằng “dư” (tôi, ta) và dẫn ra những thời điểm, những chi tiết tiểu sử mà chỉ đương sự mới biết được (chẳng hạn lời chú bìa Vãng sơn Minh chi Vân Đình đã dẫn ở trên)

d) Không kiêng viết chữ “Long – Rồng” (@) ở các tên Thăng Long, Long thành..., nhưng lại nhất quán viết kiêng chữ “thì - thời” (@) là tên húy vua Tự Đức (Nguyễn Phúc Thì).

e) Trên các bài thơ gần như liên tục từ đầu chí cuối tập có dấu khuyên, điểm bằng mực son ghi lại sự điểm duyệt của một số nhân vật cùng thời với Vũ Tông Phan như Thượng Phúc Tiến sĩ Lê Hy Vĩnh (tức Lê Duy Trung, 1795 – 1863), An Khê Nghiêm Trai (?), Lữ Tiên (?), Đông Tác quan (tức Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý, 1795 – 1868).

2.2 - Những sự kiện sau đây thuộc giai đoạn 3 – 4 năm cuối đời của Vũ Tông Phan có khả năng liên quan đến thời điểm và quá trình hình thành Ladctt:

a) Năm “Thiệu Trị Đinh Vị (1847)” chính Vũ Tông Phan sưu tập một số thơ văn của mình làm thành một tập, tự đặt tên là Tô Khê tùy bút tập, tự viết tựa nói rõ là do bè bạn yêu cầu, ông thu thập vài chục bài thơ thời “trước” nhật xuất “.... từ Tân Tỵ (1821) đến ất Dậu (1825)”(5) ; cũng lại năm “Thiệu Trị Đinh vị” này ông Phan viết lời dẫn cho chùm thơ Hải Am thập nhị Vịnh và bắt đầu sưu tập một số bài thi hương và thi hội thành sách Thiệu Trị Đinh Vị khoa văn tuyển(6) .

b) Năm 1848 con trai cả ông Phan là Tú tài Như Trâm đỗ Tú tài lần thứ 2 (Lương Vũ trục nguyệt kỵ phổ).

c) Năm 1848/49 Vũ Tông Phan rời Hồ Đình bên hồ Gươm về dạy tại Giang Đình ở Kim Giang thuộc huyện Sơn Minh (gần Vân Đình) và mất tại đó ngày 26-6 (âm lịch) – 1851 (Lỗ Am Vũ tiên sinh từ đường ký).

d) Ngay sau đó, cuối xuân 1825, cùng một lúc 3 nhà Hữu Văn Đường, Đa Văn Đường và Tụ Văn Đường in lại bộ Cổ văn hợp tuyển ngót 1400 trang do Vũ Tông Phan soạn, viết tựa và Hữu Văn Đường khắc in 10 năm trước – 1838 (Di sản Hán Nôm – thư mục đề yếu).

2.3 - Căn cứ sự đối chiếu và tổng hợp hai loại dữ kiện trên có thể rút ra những phán đoán như sau:

a) Năm 1847, sau mười năm dạy học rất thành công (kể từ khi nhận chức Giáo thụ phủ Thuận An mùa xuân 1832) Vũ Tông Phan bắt đầu nghĩ đến việc nghỉ dạy để tập trung vào việc tu thư: hàng loạt tài liệu cùng mang niên đại “Triệu Thị Đinh Vị” kể trên xác định điều này; việc năm 1848 con trai cả của ông đã gần 30 tuổi cũng lại chỉ đỗ Tú tài đã thúc đẩy ông Phan trao lại trường Hồ Đình cho con, lui về “Giảng hạ huề dồng” (lời chú trong Ladctt) ở nơi thôn dã yên tĩnh hơn đặng có thời gian du ngoạn và tĩnh tâm làm sách.

b) Trong 3 – 4 năm tu thư (1847 – 1851) mảng sách Vũ Tông Phan một ông thầy thành công rực rỡ trong sự nghiệp sư phạm, ưu tiên chú ý, đương nhiên là tài liệu giáo khoa: ngoài việc chuẩn bị cho việc in lại bộ Cổ văn hợp tuyển ngót 1400 trang, ông sưu tập tiếp vào bộ bài thi khoa 18467 đã nói ở trên các bài ở khoa trước (1846) và khoa sau (1848), hẳn có ý định làm thành một sách các đề thi hương và thi hội, nhưng chưa kịp hoàn thành; sau khi ông mất, con cháu ông tiếp tụ tập hợp vào đây các bài thi cho đến khoa 1877 đời Tự Đức, nhưng vẫn giữ nguyên đề sách “Thiệu Trị Đinh vị khoa văn tuyển”, hẳn vì tôn trọng chữ của tiền nhân.

Nhân đây, thiết tưởng cũng phải kể đến một tác phẩm giáo khoa nữa của Vũ Tông Phan mà cho đến nay chưa một tài liệu nào viết về ông nhắc tới, kể cả bộ Di sản Hán Nôm – Thư mục đề yếu. Đó là quyển văn sách gồm 37 bài văn mẫu để luyện sĩ tử đi thi đại khoa. Sách mang ký hiệu R.342, hiện có một bản duy nhất lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Hà Nôi, gồm 130 tờ, 260 trang không tên sách và không có niên đại, nhưng sau 3 trang mục lục, cùng nét bút chép các bài văn, ở sát gáy sách trước dòng đề bài thứ nhất, ghi: “Bắc Ninh tỉnh Đốc học Vũ Lỗ Am húy Như Phan tiên sinh trường văn dĩ hạ”. Tuy chưa có căn cứ để xác định thời điểm biên tập có phải là giai đoạn cuối đời hay không, nhưng bản thân sự tồn tại của sách cung cấp thêm một bằng chứng về sự ưu tiên quan tâm của Vũ Tông Phan đến mảng sách giáo khoa.

c) Riêng phần những sáng tác thờ văn của mình thì dường như để tiếp nối Tô khê tùy bút tập mà như trên đã nói, chính Vũ Tông Phan chỉ tuyển những bài thơ “trước nhật xuất”, tức trước 1825, giờ đây khoảng từ 1848/49 Vũ Tông Phan bắt đầu biên tập lại phần thơ văn “sau nhật xuất”, tức từ 1825 trở đi. Chắc hăn ông Phan đã kịp làm xong nửa đầu Ladctt cho nên phần này chặt chẽ về trình tự thời gian.

Sau khi Vũ Tông Phan mất đột ngột vì bị bệnh ở tuổi 52, người con thừa tự là Tú kép Như Trâm (1819 – 1872) đã tiếp tục biên tập sách theo các bản thảo cha để lại, chủ yếu là sưu tập các chùm thơ vịnh thắng cảnh sáng tác nhân những cuộc du ngoạn. Nửa sau của Ladctt vì vậy không được chặt chẽ như nửa đầu về trình tự. Tú Trâm đã đưa trình bản thảo cho vài ba người bạn thân của cha điểm duyệt từng phần mỗi người biết rõ. Như vậy bản thảo đầu tiên của sách Ladctt phải được hoàn thành chậm nhất vào 1863 là năm mất của người điểm duyệt chính (hơn nửa tổng số bài) – Tiến sĩ Lê Duy Trung. Hiện tượng chùm thơ hoài cổ Thăng Long chép trong Ladctt không có dấu điểm duyệt và những câu chữ xin sửa của Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý, lại chỉ sưu tập đựoc có 10 chứ không phải là 14 bài, cũng chứng tỏ Ladctt xuất hiện trước tập Thăng Long hoài cổ thập tứ thủ(7) do chính Tiến sĩ làng Đông Tác (tức Nguyễn Văn Lý) biên tập thành một sách riêng chậm nhất vào 1868 là năm ông mất.

d) Bản Ladctt hiện có đã được đích tôn của cụ Phan là Như Hành (1838 – 1921) sao chép lại từ bản thảo đầu tiên, vào cuối đời Tự Đức, khoảng sau 1873, bởi vì:

- Trong bản sao này viết kiêng húy vua Tự Đức cả ở nhưng bài Vũ Tông Phan sáng tác từ trước khi ông này lên ngôi vua vào năm 1848.

- Ở cuối bản này có phụ chép bài Lỗ Am Vũ tiên sinh từ đường ký do Hoàng giáp quyền Thượng thư Bộ Lại, trưởng môn Nguyễn Tư Giản soạn năm 1873, khi môn sinh dựng bia tại nhà thờ thầy ở thôn Tự Tháp (dưới gốc đa trong khi trụ sở báo Nhân Dân ngày nay); tên “Như Trâm” trong bài văn bia chép ở bản Ladctt này được thay bằng chữ “mỗ” (@) chứng tỏ cụ tú đã mất, nên con trai cụ viết kỵ húy.

Với một lai lịch rõ ràng và qua sự thẩm định căn cứ vào những tư liệu gốc, có thể khẳng định Ladctt là một thư tịch xác thực quý hiếm, cung cấp nhiều thông tin đáng tin cậy về thân thế, sự nghiệp của danh nhân Vũ Tông Phan và thời đại ông.

Dưới đây, xin trích giới thiệu mấy bài trong Lỗ Am di cảo thi tập để bạn đọc có một ý niệm chung.

Quá ninh công lũy hoài cổ
Nhược tương thử địa phân Nam Bắc,
Hà sự kinh niên động giáp bào?
Thiên tạo Hoành Sơn do vị hiểm,
Nhân vi cô lũy diệc đồ lao.
Doanh thâu để sự không di chủng,
Sát phạt dư thanh đái nộ đào.
Vũ trụ như kim qui nhất thống,
Mạc nhien sơn thủy tự thanh cao.
(1825)

Qua lũy Ninh công nhớ chuyện xưa
Đất này ví thử phân Nam, bắc
Hà cớ năm dài động kiếm đao?
Trời tạo Hoành Sơn còn chẳng hiểm,
Người xây chiến lũy tổn công lao.
Thắng, thua rốt cuộc phơi hoang mộ,
Thù hận dư âm gợn sóng đào.
Thiên hạ nay đà quy một mối,
Non sông muôn thuở vẫn thanh cao.

Nhành trung kiểm trái.
Sinh lai dữ trái định tiền duyên,
Tiền trái yêm lưu hoạn trái khiên.
Tiền trái thanh hoàn ưng hữu nhật,
Bất tri hoạn trái đáo hà niên?
(1831)

Ngồi rồi kiểm nợ
Với nợ sinh ra vốn nặng duyên,
Nợ tiền dai dẳng, nợ quan – phiền!
Nợ tiền còn có ngày hoàn trả,
Cái nợ quan trường biết mấy niên?

Tiền đường ngoạn nguyệt,
Hiên không kỷ tĩnh nguyệt tà xâm,
Hồ ảnh thiên quang nhất sắc âm.
Vạn hộc ngân châu sư thủy diện,
Nhất điều bích luyện phách ba tâm.
Trúc li phong phất thanh thanh tế,
Thụ ngạn sương hy vọng vọng thâm.
Hà sứ thiền chung tam ngũ khấu,
Lệnh nhân thanh sáng lãnh trần khâm.
(1831).

Nhà ngoài ngắm trăng.
Hàng hiên tịch mịch ánh trăng nghiêng,
Trời, nước âm u một ảnh hình.
Mặt sóng như gieo nàng hạt ngọc,
Lòng hồ chia nửa dải tơ xanh,
Lao xao rặng trúc, hương thoang thoảng.
Thăm thẳm bờ cây, sương mỏng manh.
Đâu đó chuông chùa ba – bốn tiếng,
Cho người thanh thản nhạt đua tranh.

Sơ thu cảm hoài
Hồi đầu tam thập bát si linh,
Tự tiếu phù danh ngộ bán sinh.
Sĩ cận thập niên nhưng chuyết lậu,
Bệnh quy ngũ tải thượng phiêu linh.
Phùng nhân khủng nhạ vô đê ẩn,
Đối khách nan minh bất ngữ tình.
Tạc dạ thu phong thôi lãn mộng,
Hiểu liêm độc tọa bội tâm kinh.
(1838).

Suy tư đầu thu
Ngu si thấm thoát đã ba tám,
Tự trách: phù danh lỡ nửa đời.
Quan ở mươi năm còn kém cỏi,
Bệnh về dăm Tết vẫn trôi xuôi.
Gặp người những ngại ơn sâu nặng.
Tiếp khách khôn bày ý nghẹn lời.
Đêm trước heo may xua mộng vỡ,
Sớm nay ngồi ngẫm dạ bồi hồi.

CHÚ THÍCH

(1) Vũ Như Cầu là nguyên mẫu của nhân vất Ấm Ba trong tiểu thuyết lịch sử Bóng nước hồ Gươm của Chu Thiên.

(2) Lương Vũ trục nguyệt kỵ phổ: do Tú tài Vũ Như Ký (1882 – 1902), cháu nội Vũ Tông Phan, soạn năm Hàm Nghi nguyênniên (1885).

(3) Về sự tham gia của đồ Mậu, giáo học làng Mậu Hòa, vào cuộc khởi nghĩa này. Giáo sư Trần Văn Giầu có viết trong sách Chống xâm lăng, Hà Nội, 1975, tập 3 tr.309; tra theo Vũ tộc hoa phổ (sao lại năm Thanh Thái 17, tức 1905) thì cụ đồ Mậu có tên thật là Đẩu.

(4) Chi tiết về những đính chính này xin tham khảo bài Về thân thế Tiến sĩ Vũ Tông Phan, Tạp chí Hán Nôm số 3 – 1993, tr.37 – 42.

(5) Tô khê tùy bút tập tự, Sách có dấu của Thư viện Viễn đông Bác cổ, hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, ký hiệu A.1968, tờ 1a,b.

(6) Sách này ông Đỗ Khắc Kien trao lại cho dòng họ Vũ Tông Phan cùng với sách Ladctt.

(7) Thăng Long hoài cổ thập tú thủ từ đầu những năm 60 đã được trích dịch giới thiệu là thơ của Vũ Tông Phan. Hiện có 01 bản viết duy nhất, ký hiệu A.1666, lưu giữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Chưa rõ các tác giả Hà Nội tự điển – 1990, trang 217, căn cứ tài liệu nào lại ghi đó là thơ của Hoàng giáp Vũ Nhự, sinh sau Vũ Tông Phan bốn chục năm, tuy cùng quê Hoa Đường, nhưng ngụ ở phường Kim Cổ, nên không thẻ có biệt hiệu là “Tự Tháp Tiến sĩ Vũ Tiên sinh” như ghi trên trang đầu của sách “Thăng Long hoài cổ thập tứ thủ”

TB

VÙNG "LÂM LỘC" VÀ "NAM GIAO"
CUỐI THẾ KỶ XVIII QUA VĂN KHẾ

LÊ NGUYỄN LƯU

Văn khế là một loại tư liệu liên quan đến việc trao đổi, mua bán nhà đất, được bảo lưu lâu dài trong phạm vi từng cá nhân, từng gia đình hay từng tộc họ... Cách đây không lâu, chúng tôi phát hiện nguyên một tập văn khế gồm tám tờ, nội dung nói về một ngôi nhà và khu vườn đã được mua đi bán lại trải hơn trăm rưỡi năm... ngôi nhà vườn ấy nay vẫn còn sau những đợt trùng tu và tôn tao, toạ lạc dưới dốc Bến Ngự, phía tây đường Phan Bội Châu, phường Trường An thành phố Huế (chỗ có dấu hoa thị trên sơ đồ, khu vực Bến Ngự in kèm theo bài viết này). Tám tờ văn khế có niên đại như sau:

1. Ngày 18 tháng 6 năm Cảnh Hưng 3 (19-7-1742 dương lịch)

2. Ngày 3 tháng 10 năm Cảnh Thịnh 3 (13-11-1795)

3. Ngày 13 tháng Giêng năm Gia Long 13 (2-2-1814)

4. Ngày 25 tháng hai năm Tự Đức 6 (24-3 -1853)

5. Ngày 27 tháng 3 năm Tự Đức 8 (12-5-1855)

6. Ngày 10 tháng 3 năm Thành Thái 3 (18-4-1891)

7. Ngày 10 tháng hai năm Thành Thái 5 (27-3-1893)

8. Ngày 22 tháng 10 năm Thành Thái 9 (16-11-1897)

Tuy mang tính chất giấy tờ hành chính, nhưng nhiều khi văn khế cũng cung cấp cho chúng ta đôi điều có ích để soi sáng một vài chi tiết lịch sử, nhất là về mặt địa lý, địa danh thay đổi qua các đời... Trong tập văn khế giới thiệu trên đây, chúng tôi chú ý đến ba tờ số 1, 2 ,3 được viết cách nhau hơn năm chục năm, cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX.

Nguyên ông “thủ xã Con” khai phá một đám đất rừng, “bổn tộc” thu lấy giao cho “lão Vơi”. Năm 1742 (tờ Khế số 1), lão Vơi chia cho “con Hưng”, phần còn lại thì “con Dừa, con Chi bỏ tiền ra mua”. Năm 1795 (tờ khế số 2), “con Hưng” trở thành “mệ Hưng”, đem đất ấy bán cho “lão Khương và chú Diễm”. Không rõ trung gian thế nào, đến năm 1814 (tờ khế số 3), vợ chồng “lão Quan” lại chuyển bán đứt cho “mụ thầy Hòa” khoảnh vườn đất và nhà “toạ lạc tại Phú Xuân, xã Trường Giang ấp” ấy. Sau đây, chúng tôi xin trích dịch vài dòng ở tờ số 1 và tờ số 2 để cùng bạn đọc xem xét.

Tờ số 1 (1742):

Hương Trà huyện, Phú Xuân xã, thủ xã chính Phong, lảo Bỉnh, mụ Vơi, con Dừa, con Chi đẳng, kê: do tiền niên thủ xã Con cập thiếp Dẫn khai thác tư thổ lâm lộc nhất khoảnh cận Giao đàn thổ (chúng tôi ở xã Phú Xuân huyện Hương Trà là thủ xã chính Phong, lão Bỉnh, mụ Vơi, con Dừa, con Chi, xin kê khai rằng: nguyên vào năm trước đây, ông thủ xã Con và vợ lẽ tên Dẫn có vỡ một khoảnh rừng làm đất tư, ở gần đất đàn Nam Giao).

Tờ số 2 (1795):

Phú Xuân xã Trường Giang ấp danh mệ Hưng, Nguyễn Thị Hưng, nhân vì bị bệnh vô tiền dụng dược, nguyên hữu tổ phụ lưu lại lâm lộc tư thổ viện nhất khoảnh tại bổn ấp cận công thổ; đông cận đại lộ, tây cận chủ mại viên, nam cận viên hậu đàn, bắc cận công thổ viên (Tôi là mệ Hưng, Nguyễn Thị Hưng, ở ấp Trường Giang, xã Phú Xuân, bị ốm mà không có tiền thuốc. Nguyên ông nội tôi có để lại một khoảnh vườn đất trong vùng rừng thuộc bản ấp gần đất công; đông giáp đường cái, tây giáp vườn chủ mua, nam giáp vườn sau đàn, bắc giáp vườn đất công).

Những dòng ghi chép này gợi ý cho chúng tôi tìm hiểu hai vấn đề khá thú vị: địa bàn hành chính vùng lâm lộc nam sông Hương và vị trí đàn Nam Giao thời chúa Nguyễn – Tây Sơn tại Phú Xuân cuối thế kỉ XVIII.

Vùng Lâm Lộc và ấp Trường Giang.

Dải đất cao, vùng gò đồi ở phía nam sông Hương, chạy dài từ tây sang đông trước mặt kinh thành Huế, xưa gọi là Long Sơn như ghi chép của nhà sư Thiện Kế trong bài văn bia tháp ngài Liễu Quán năm 1748, hoặc muộn hơn thì gọi là Ngũ Bình Sơn hay Phú Xuân Sơn như ghi chép của nhà nho Nguyễn Thuật trong bài văn bia chùa Linh Quang năm 1902; còn những giấy tờ khác thuộc dạng văn khế, địa bạ thì cứ gọi chung bằng cái tên “lâm lộc”, nghĩa đơn giản là “rừng núi”(1) . Tại đây lần lượt xuất hiện các ấp Trường Giang, Trường Cởi, Bình An.

Riêng ấp Trường Giang đã ra đời từ lâu, muộn lắm thì cũng vào nửa cuối thế kỉ XVIII trực thuộc xã Phú Xuân, huyện Hương Trà như phản ánh trong tờ khế số 2 năm 1795. Có người cho rằng mãi đến năm 1803, vua Gia Long mới cắt đất của xã Dương Xuân cho xã Phú Xuân lập ba ấp nói trên để dời dân qua ở, khi phần lớn ruộng đất của xã bị trưng dụng trong việc xây dựng kinh thành(2) . Chúng tôi chưa kiểm chứng được luận điểm ấy. Về mặt chính thức, sách Đại Nam thực lục chính biên của Quốc Sử quán nhà Nguyễn chép vào tháng Ba năm Qúy Hợi, Gia Long 2 (1803):

“Dân cư tám xã Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mĩ, An Bảo, Thê Lai có ruộng đất bị mở vào thì theo gia văn tự trả tiền lại, nhà cửa thì mỗi hộ cấp 3 quan, uynh mộ thì mỗi ngôi 2 quan, còn nhân dân thì được miễn dịch. Lại thấy rằng, một xã Phú Xuân, cấp ruộng công đất công cho ở (đất công 3 khoảnh, ruộng công hơn 30 mẫu). Lại cho vay tiền hơn 1000 quan để giúp việc chuyển dời”(3) .

Rồi một lần nữa mãi đến tháng chín năm Kỉ Sửu, Minh Mệnh 10 (1829):

Lấy đất công hai xã Yên Ninh, và Nguyệt Biều ở Thừa Thiên (23 mẫu 6 sào) chia cấp cho ba ấp ở Phú Xuân, Nội Súng, Kiên Trung, Yên Tân để ở, làm sổ sách riêng. Ba ấp ấy, ở đầu đời Gia Long sửa đắp kinh thành, lấy hết cả đất, dân ngày càng điêu tàn. Đến nay có trạng kêu lên, sai phủ thần lựa đất cho ở(4) .

Còn như vùng “lâm lộc” phía nam sông Lợi Nông hay An Cựu này thì chưa thấy mộ tư liệu nào nói đích xác rằng triều đình cắt lấy từ xã Dương Xuân để đền bù cho dân xã Phú Xuân do sự kiện xây dựng kinh thành. Có lẽ những gia đình đến ở đây, vì vốn là đất thuộc xã Phú Xuân, nên chỉ được đền tiền nhà, tiền di chuyển và tiền dời mộ hoặc do họ tự động lên khai thác muộn về sau nữa các nơi còn rừng bụi mà lập thành ấp mới, như ấp Bình An chẳng hạn. Mãi đến năm Gia Long 14 (1815), địa bạ xã Phú Xuân vẫn ghi nhiều đất đai ở đây, kể cả hoang thổ và mộ địa; chỉ mới tính 5 khoảnh thôi mà đã chiếm hơn 292 mẫu, so với tổng diện tích 20 mẫu của ấp Bình An gần một trăm năm sau (1907). Chính địa bạ cũ của ấp này ghi rõ:

Ư Minh Mệnh nhị thập nhất niên, cai ấp tiền nhân trưng mại tư điền thổ tại Hương Trà huyện, Phú Xuân xã làm lộc địa phận, kết ốc canh cư. Chí ThànhThái thập tam niên, thừa phủ phái khám đạc giá điền thổ, hợp thành thập tứ mẫu ngũ sào nhị xích (Vào năm Minh Mệnh 21 [1840], các vị đời trước của ấp chúng tôi đã trưng mua đất và ruộng tư ở vùng rừng núi thuộc xã Phú Xuân huyện Hương Trà làm ở và cày cấy. Đến năm Thành Thái 13 [1901], vânglệnh phủ khám xét và đo đạc đất ruộng ấy, công 14 mẫu 5 sào 2 thước)(5) .

Theo những dòng này thì ấp Bình An thành lập không phải do triều đình bồi thường cho xã Phú Xuân, mà là do nhân dân tự động “trưng mùa đất và ruộng” từ năm Minh Mệnh 21 (1840), rồi sau đó khai phá thêm vùng rừng rậm, cho đến năm Thành Thái 19 (1907) thì đạt hơn 20 mẫu, đều là đất tư, như một bản “Di yết từ” của hội đồng ấp năm 1895nói: “Bản ấp vô công điền thổ khả tư” (ấp ta không có ruộng đất công để có thể làm vốn liếng) và: “Kì nhân sinh ngạch tòng Hương Thủy chi dân kì gia cư tọa lạc Hương Trà chi địa” (người thuộc ngạch dân Hương Thủy, nhà nằm trên đất Hương Trà). Các dòng họ chính ở đây (như họ Nguyễn, họ Hồ, họ Võ) cũng chỉ mới bảy tám đời kể cả một hai đời trước khi di chuyển địa bàn cư trú.

Chúng tôi chưa gặp được một tư liệu nào đề cập đến đất đai vườn ruộng của xã Dương Xuân ở địa phận “lâm lộc” bao trùm ba ấp cũ Trường Giang, Trường Cởi, Bình An, nay là lãnh thổ chủ yếu của phường Trường An, thành phố Huế, trong lúc những tư liệu được biết đều ghi vùng này thuộc địa bàn xã Phú Xuân, đặc biệt hai tờ văn khế cuối thế kỉ XVIII; nhất định người viết không thể sai lầm. Về tình hình làng xã ngày xưa, chúng ta nhận thấy càng lùi thời gian vào quá khứ, phạm vi mỗi đơn vị càng rộnglớn; ranh giới hành chính và ranh giới sở hữu lắm khi không trùng nhau, đất ruộng của làng xã này ăn sâu vào làng xã khác...

Đàn Nam Giao thời chúa Nguyễn và Tây Sơn.

Ngôi nhà vườn trong những tờ văn khế còn tiếp giáp với một cái “Giao Đàn” ở mặt nam. Nhất định đó chưa phải là đàn Nam Giao mà chúng ta thấy ngày nay; hai nơi cách nhau khá xa tuy cũng nằm trên trục thần đạo bắc nam của kinh thành Phú Xuân.

Thời “cựu Nguyễn”, lúc dời phủ chính vào Kim Long, chúa thượng Nguyễn Phúc Lan (1635 – 1648) mới bắt đầu tổ chức tế Nam Giao, rồi các chúa kế nghiệp vẫn noi theo đó. Giáo sĩ Bénigne Vachet đến Đàng trong năm 1671, cho biết buổi lễ cử hành trên một cánh đồng rộng(6). Phần chắc đấy là cánh đồng làng An Ninh, nhưng vị trí chính xác thì không khảo cứu được. Năm 1712, Nguyễn Phúc Chu dời phủ chính ra xã Bắc Vọng (huyện Quảng Diên) đến năm 1738, Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi, lại trở vào Phú Xuân. Ông có ý định xưng vương hiệu, nên xây dựng thành quách cung điện và chắc trong dịp này mới sai đắp Giao Đàn tế rời ở phía nam sông Hương, chỗ chúng ta đang xét, cho nên trong tờ văn khế số 1 năm 1742, người viết đã lấy nó làm điểm mốc để xác định địa giới: “Cận Giao Đàn thổ”...

Tế trời là một nghi lễ quan trọng vào bậc nhất thời đại quân chủ phong kiến, vì nó biểu dương quyền lực của đế chế “nhận mệnh trời để trị thiên hạ”... Cho nên các triều vua nước ta từ Lý – Trần đều chú ý tổ chức lễ hết sức chu đáo. Tất nhiên nhà Tây Sơn cũng không làm khác. Vua Quang Trung cử hành lễ đăng quang và duyệt binh tại núi Bân sát phía tây Hòn Mô (Ngự Bình), tức núi Ba Tầng ở xã An Cựu huyện Hương Trà, ngày 22-12-1788, rồi xuất quân ra bắc đánh tan giặc Thanh xâm lược, nhưng chắc không lấy đó làm đàn Nam Giao để tế trời hàng năm. Nơi này chỉ tthích hợp cho việc tập trung, hiệu triệu một số lớn quân đội và văn võ bá quan hơn là để cử hành tế tự.

Nhà vua sử dụng lại Giao Đàn của Võ Vương, cũng như hầu hết các cơ chỉ khác ở Phú Xuân (Văn miếu và Học cung chẳng hạn) mà chưa xây dựng gì mới. Cho nên tờ văn khế số 2 năm 1795 vẫn lấy nó làm mốc giới...

Dĩ nhiên sau khi khắc phục Phú Xuân, Nguyễn ánh “chê” Giao Đàn này của “ngụy Tây”, triệt bỏ không dùng. Ông đã sai đắp một đàn khác ở cánh đồng làng An Ninh, phía tây kinh thành Huế, để hợp tế trời đất về việc đặt niên hiệu mới (31-5-1802), rồi mãi đến ngày 25-3-1806, ông mới chọn đất, thiết lập đàn Nam Giao kiên cố trên mặt bằng gò làng Dương Xuân, cơ chỉ này vẫn còn. Bởi vậy, tờ văn khế số 3 năm 1814 mới ghi vị trí ngôi nhà vườn cũ thành ra: “Tây cận thầy Hòa Viên, cựu đàn viên” (tây giáp vườn thầy Hòa và vườn đàn cũ). Nói “cựu đàn” là để phân biệt với “tân đàn” của Gia Long...

Chỗ “đàn cũ” dần dần hoang phế, đến một lúc nào đó về sau, nhân dân canh tác làm nhà biến thành đất tư, hoặc là triều đình cấp cho hoàng tộc quan lại lập dinh cơ, và tờ văn khế số 4 năm 1853 đã ghi: “Tây giáp vườn bà Đạt, nam giáp vườn bà Đạt”. Đàn Nam Giao thời Võ Vương và Tây Sơn hoàn toàn bị xoá sổ! Nhưng so với ngôi nhà vườn hiện còn thì ta có thể ức đoán nó nằm phía tây đường Phan Bội Châu, mé trên đường xe lửa, khuôn viên bao trùm cả gò Bình An. Bây giờ ở đấy nhà cửa chi chít, không dễ gì tìm ra được dấu vết của hai trăm năm trước...

CHÚ THÍCH

(1). Sách Khang Hi tự điển (Thương vụ ấn thư quán, Trung Hoa Dân quốc năm thứ 24 – 26, Thượng Hải, 1934 – 1936, tập Hợi hạ, bộ Lộc, 8 nét, tr. 1686 – 1687) chỉ nêu một nghĩ a là “lộc là chân núi, sườn núi, và dẫn nhiều thư tịch cổ để chứng minh, trong đó có lời chú của sách Chu Lễ : “Tre pheo, cây cối mọc nơi đất bằng gọi là lâm, nơi sườn dốc gọi là lộc”.

(2). Nguyễn Đắc Xuân viết: “Một số dân Phú Xuân đã lên lập nghiệp ở phía nam sông Hương thuộc đất xã Dương Xuân (khi vua Gia Long xâydựng kinh thành). Số dân này lập ra ba làng Trường Giang, Trường Cửu (hay gọi là Cởi) và Bình An. Phần đất còn lại của Dương Xuân chia làm hai xã: Dương Xuân thượng và Dương Xuân hạ” (Đi tìm lăng mộ vua Quang Trung Viện Sử học Việt Nam, Hà Nội, 1992, tr. 45 – 46). Nhưng tác giả không cho biết xuất xứ.

(3). Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam thực lục chính biên, bản dịch Viện Sử học, Tập III, Khoa học, Hà Nội, 1963, tr.166

(4). Quốc sử quán, s.đ.d. tập IX, 1964, tr.295.

(5). Bình an ấp địa bộ, Thành Thái thập cửu niên [1907] bản sao cũ do ông Nguyễn Hữu Oánh cất giữ và đã được nhiều nhà nghiên cứu ở Huế sao chụp để sử dụng.

(6). Bửu Kế: Chuyện triều Nguyễn, Thuận Hóa, Huế, 1990, tr.154.

TB

AI LÀ NGƯỜI DỊCH BÀI "TỲ BÀ HÀNH" CỦA BẠCH CƯ DỊ?

THẾ ANH

Bản dịch Tỳ bà hành nổi tiếng được phổ biến rộng rãi từ trước đến nay đã được đăng tải trên các sách báo, tài liệu nghiên cứu, trong các tuyển tập thơ Đường, và nhất là trong sách giáo khoa dùng cho các trường Phổ thông phần lớn đều ghi người dịch là Phan Huy Vịnh. Trước đây có một số người đã khẳng định là của Phan Huy Thực(1) thân sinh Phan Huy Vịnh, và cũng có người cho bản dịch đó là của Phương Đình Nguyễn Siêu(2) hoặc Nguyễn Công Trứ(3) . Gần đây trong một số tài liệu vẫn nêu vấn đề tồn nghi về người dịch. Vậy ai là dịch giả đích thực của bản trường ca này? Để xác minh, chúng tôi đã tìm đọc bản Tỳ bà hành diễn âm ca (AB. 206) do Phúc Văn Đường tàng bản (in năm Tân Tỵ, Tự Đức thứ 34 – 1881). Có lẽ đây là bản khắc in sớm nhất còn lại đến nay, nhưng đáng tiếc là bản này không ghi tên người dịch. Mặt khác, bản in này lại có nhiều sai sót về mặt chữ viết và lời thơ đôi chỗ không được thanh thoát như các bản đang được lưu hành hiện nay. Trong cuốn Phan tộc công phả (A.2963) do Phan Huy Dũng biên tập có ghi rõ tiểu sử tóm tắt 6 người con trai của Phan Huy ích. Trong đoạn nói về Phan Huy Thực, gia phả có ghi rõ các trước tác của ông như: Hoa thiều tạp vịnh, Tỳ bà hành diễn âm khúc, Nhân ảnh vấn đáp(4) ...

Còn đối với Phan Huy Vịnh – con trai Phan Huy Thực – thì gia phả không hề nói đến việc ông tham gia dịch Tỳ bà hành. Rõ ràng gia phả dòng họ Phan Huy là một bằng chứng đáng tin cậy để giải đáp vấn đề tồn nghi và khẳng định bản dịch Tỳ bà hành hiện đang được phổ biến rộng rãi là của Phan Huy Thực.

Phan Huy Thực tự là Vị Chí, hiệu Xuân Khanh, sinh năm 1779 và mất năm 1846, quê ở Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây ông được vua Gia Long tin dùng, được cử đi sứ Trung Quốc, làm quan đến chức Thượng thư.

Còn Nguyễn Siêu thì ngoài những tác phẩm nghiên cứu và thơ văn bằng chữ Hán của ông, không thấy có bài thơ chữ Nôm nào. Về Nguyễn Công Trứ thì sáng tác thơ Nôm rất nhiều, giọng thơ ông khi thì “phóng túng”, khi thì “hào hùng, sôi nổi”, chứ không có tính cách “điềm đạm” mà “đài các” như giọng thơ của bản dịch Tỳ bà hành. Do đó không có cơ sở để kết luận hai ông là người dịch bài thơ này được. Nhân tiện chúng tôi cũng muốn nói thêm một chi tiết trong cuộc đời của Phan Huy Thực là bước đường công danh của ông không được thuận buồm xuôi gió (ba lần lên xuống ghế Thượng thư bộ Lễ), phải chăng ông đã tìm được người tâm sự là quan Tư mã đất Giang Châu để gửi gắm nỗi niềm vào những câu thơ dịch bất hủ làm xao xuyến lòng người. Ông là một nhà nho tiết tháo, thanh liêm. Trong dịp ngự giá Bắc tuần, vua Thiệu Trị (năm thứ 2) đã tặng ông một bài ngự thi(5) , hiện khắc trên vách đá Sài Sơn, trong đó có câu:

Phong diện phương lưu tôn trở sự,
Sài nham nhàn khố học qui niên.

có nghĩa là: “Trước ở triều đình, tiếng thơm còn lan tràn ở việc nghi lễ; nay về Sài Sơn cảnh nhàn hợp với tuổi già”.

Đến đời Tự Đức, ông được thờ vào đền “Hiền lương”. Hiện nay, bên cạnh chùa Trầm ở Trúc Sơn có am thờ Phan Huy Thực làm thần.

Lâu nay do sự ngộ nhận bản dịch Tỳ bà hành là của Phan Huy Vịnh, nên Phan Huy Thực không được đưa vào Từ điển văn học(6) và Lược truyện các tác gia ViệtNam(7) . Chúng tôi cho rằng chỉ riêng với bản dịch Tỳ bà hành cũng để làm cho tên tuổi của ông được xếp ngang hàng với Đoàn Thị Điểm và một số nhà thơ khác.

Tháng 11-1993

CHÚ THÍCH

(1). Theo Hoàng Xuân Hãn, Hoàng Ly, Trương Linh Tử và Hoàng Thị Ngọ.

(2). Theo Hoa Bằng.

(3). Theo Lê Thước.

(4). Xem bài viết về “Nhân ảnh vấn đáp...” của Hoàng Thị Ngọ, TCHN 2/1989.

(5). Toàn bài thơ của vua Thiệu Trị như sau:

Bắc quân tư tràng lịch hoạn biên,
Thiên cù hành tể trác cô viên.
Thừa xà bất nhục văn chương trứ,
Quy trượng nan khư lã bính chiền.
Phong diện phương lưu tôn trở sự,
Sài nham nhàn khế học qui niên.
Tam triều trù tích thường truy niệm,
Xuân thự gia nhi nhật miễn chiên.

(6). Từ điẻn văn học – Nxb KHXH, 1983.

(7). Lược truyện các tác gia Việt Nam. Nxb. KHXH, 1971 – Trần Văn Giáp chủ biên.

TB

TƯ LIỆU TRONG CÁC THƯ VIỆN
TRIỀU NGUYỄN

PHAN THUẬN AN

Dưới triều Nguyễn (1802 – 1945), Huế giữ vai trò Kinh đô của cả nước, nên đay đã là nơi tập trung một khối lương tư liệu thành văn hết sức đồ sộ và có giá trị về nhiều phương diện thuộc nhân văn Việt Nam.

Ngày nay, muốn nghiên cứu về đất này, nhất là lịch sử và văn hóa của vùng Huế, người ta không thể không tiếp cận và sử dụng những tư liệu ấy mặc dù các tư liệu của triều Nguyễn để lại không còn nguyên vẹn như xưa, nhưng các nhà nghiên cứu trong nước và trên thế giới vẫn xem đó làmột di sản văn hóa tinh thần vô giá.

Trong thế kỷ XIX, cũng như nhiều thế kỷ trước đó, tuyệt đại đa số các tư liệu đều được viết dưới dạng chữ khối vuông (Hán, Nôm). Từ đầu thế kỷ XX trở đi, tư liệu viết bằng mẫu tự La Tinh xuất hiện ngày càng nhiều. Các loại tư liệu bấy giờ gồm có: châu bản (văn kiện hành chính được vua phê bằng mực son), địa bạ (sổ bộ từng làng), các văn bản hành chính khác của các cơ quan trung ương (Bộ, Viện, Nha...) và địa phương (tỉnh, thành...) các sử sách, thơ văn được trước tác dưới triều Nguyễn và dưới các triều đại trước đó, kinh sách mua từ nước ngoài, nhất là Trung Quốc, Pháp v.v...

Những tư liệu do triều Nguyễn trước tác nhiều hơn gấp bội so với tư liệu do tất cả các triều đại trước đó để lại. Chẳng những số lượng nhiều mà giá trị về nội dung cũng rất đáng kể, cho nên trong khoảng 30 năm nay riêng Viện Sử học Việt Nam đã dịch thuật và cho ấn hành nhiều bộ sách lớn xuất hiện dưới triều Nguyễn, như Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Lịch triều hiến chương loại chí v.v... Mỗi bộ dày từ hàng ngàn trang đến hàng vạn trang.

Một trong những nguyên nhân để các nhà bình bút triều Nguyễn viết được nhiều công trình lịch sử và văn hóa là vì họ có nhiều tư liệu sưu tầm được. Ngay từ đầu triều đại, các vua Gia Long (1802 – 1819) và Minh Mệnh (1820 – 1840) đã đặt ra vấn đề sưu tầm tư liệu trên qui mô cả nước, và đã tập trung được về Kinh đô khá nhiều tư liệu quí(1) . Dưới thời các vua Thiệu Trị (1841 – 1847) và Tự Đức (1848 – 1883) nền học thuật phát triển ngày càng mạnh mẽ và đa dạng, nên khối lượng tư liệu tích lũy được tại Huế cũng ngày càng phong phú hơn. Thơ văn ngự chế (do các vua làm), tác phẩm văn học của các tao nhân mặc khách, các loại văn kiện hành chính của triều đình, các văn bản ngoại giao, sách do các sứ bộ mua về, sách do Sử quán, Nội các, hoặc các học giả biên soạn..., tất cả làm cho Huế trở thành một trung tâm tư liệu dồi dào như chưa bao giờ có ở các Kinh đô khác trong lịch sử Việt Nam.

Do đó, triều đình nhà Nguyễn đã thiết lập tại đây nhiều thư viện để lưu trữ, bảo quản và phát huy tác dụng của sách vở. Bây giờ ở Huế có 6 thư viện chính: xin ghi theo thứ tự thời điểm thành lập: Thư viện Sử quán, Tàng thư lâu, Thư viện Nội các, Thư viện Tụ Khuê, Tân thư viện, và Thư viện Bảo Đại. Tất cả đều nằm trong phạm vi Kinh thành. Chúng tôi xin điểm qua đôi nét về từng thư viện.

1. Thư viện Sử quán: thành lập vào năm 1821, Sử quán là cơ quan biên soạn và in ấn các bộ lịch sử, địa chí và văn học của triều Nguyễn. Muốn viết, các sử quán phải có tư liệu trong tay. Triều đình đã cho thiết lập tại đây một thư viện để chứa các tư liệu tham khảo cần thiết các sách cổ, các văn kiện hành chính viết tay, mà nhiều nhất là các châu bản và các văn kiện ngoại giao từ Nội các trong Tử cấm thành chuyển ra. Trong biên chế của Sử quán, có một chức quan gọi là “Thư chưởng” (quản thủ thư viện) do đình thần kén chọn(2) .

Theo”Sử quán thủ sách” được thực hiện trong đợt kiểm kê năm 1907, số sách bấy giờ tại đây là 169 bộ, gồm Đại Nam thực lục, Ngọc diệp (gia phả Hoàng tộc), Ngự chế thi tập, Di chiếu, Hòa ước, Thương ước, v.v...(3)

Mãi đến năm 1942, Panl Boudet còn đọc được tại đây nhiều tư liệu gốc từ các chúa Nguyễn và các vua đầu triều Nguyễn để lại(4) . Sử quán hoạt động đến năm 1945.

2. Tùng thư lâu: được xây dựng năm 1825 giữa hồ Học Hải, Tàng thư lâu là một toà nhà lầu kiên cố dùng để tàng trữ tất cả số sách và văn thư của Lục bộ và các Nha thuộc triều đìng trung ương(5) . Nhưng theo quyển Tàng thư lâu bạ tịch viết năm 1907 thì đây là nơi cất giữ các địa bạ, thuế bạ, đinh bạ do Bộ Hộ và Bộ Binh dâng nộp. Chúng đã được thực hiện từ thời Gia Long trở đi(6) . Đến năm 1942, chỉ riêng số địa bạ thuộc Bộ Hộ thời Gia Long và Minh Mệnh ở đây còn lưu giữ được 12.000 tập. Chúng có thể cung cấp những dữ kiện rất quí cho các nhà nghiên cứu lịch sử xã hội và kinh tế(7) .

3. Thư viện Nội các: Nội các là cơ quan văn phòng cao cấp nhất làm việc bên cạnh nhà vua. Thư viện Nội các được thiết lập vào năm 1826 tại tòa nhà Đông các trong Tử Cấm thành. Có thể nói đây là thư viện của chính nhà vua. Vào năm 1902, ở đây có đến 7.190 bản sách. Nhưng theo quyển Nội các thư mục thì vào năm 1908, thư viện này tàng trữ 271 tên sách thuộc triều Nguyễn và gần 2.000 tên sách thuộc các bộ Kinh, Sử, Tử, Tập (4 loại sách cổ Trung Quốc).

Và đến năm 1942, theo Paul Boudet, tại thư viện Nội các có các loại tư liệu quí sau đây:

Tất cả những bản hiệp ước mà các triều Nguyễn đã ký kết với các nước ngoài.

- Các văn thư ngoại giao.

- Các tập thơ, văn do các vua làm.

- Các bản đồ và bản vẽ (les cartes et plans).

- Các tập châu bản.

- Một số Điện thí quyển.

- Một số sách chữ Hán sưu tập dưới thời Minh Mệnh(8) .

4. Thư viện Tụ Khuê: tòa nhà dùng làm thư viện Tu Khuê đã được xây dựng vào năm 1852 ở bên cạnh Đông các(9) . Theo quyển Tụ Khuê thư viện tổng mục, vào năm 1902, số tư liệu tại đây gồm có:

- 232 bộ, lẻ 703 bản sách của triều Nguyễn.

- 77 bộ, lẻ 585 bản quốc thư.

- 80 bộ, lẻ 332 bản quan thư.

- 2.155 bộ, lẻ 263 bản Kinh, Sử, Tử, Tập(10) .

5. Tân thư viện: được thành lập năm 1909, Tân thư viện là thư viện của trường Quốc tử giám triều Nguyễn. Theo quyển Tân thư viện thủ sách, vào năm 1914, tại đây có 2.640 bộ sách, gồm:

- 44.570 bản sách thuộc các bộ Kinh, Sử, Tử, Tập.

- 6.801 bản thuộc loại quốc thư.

- Trên 7.000 bản sách Việt Nam, Trung Quốc, Anh, Mỹ(11) .

6. Thư viện Bảo Đại: “Năm 1923, tòa nhà Tân thư viện được dùng làm Viện bảo tàng Khải Định, và tất cả tư liệu được chuyển qua một tòa nhà khác ở cạnh Di luân đường thuộc trường Quốc tử giám. Thư viện mới này mang tên Thư viện Bảo Đại(12) . Một số chuyên viên Hán học của Trường Viễn đông Bác cổ (E.F.E.O) tại Hà Nội đã từng vào thư viện này để sao chép nhiều tư liệu quí hiếm. Học giả Đào Duy Anh cũng đã từng ghi nhận rằng: “Về phương diện tài liệu Việt Nam thì ở Huế có thư viện Bảo Đại chứa những sách cũ của Nội các trong Hoàng thành được tập hợp từ đời Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức. Kể tài liệu chính thức về lịch sử nhà Nguyễn thì thư viện ấy có tương đối đầy đủ”(13) .

Ngoài các “thư viện quốc gia ấy”, Huế trước năm 1945 còn có nhiề thư viện khác và các tủ sách tư nhân, như Thư viện của Viện Cổ học, tủ sách Phạm Quỳnh, tủ sách gia đình của các đại thần, thế gia vọng tộc, các nhà nghiên cứu, thư viện của các Viện Phật học, các Tu viện Thiên Chúa giáo, v.v...

Chỉ nhìn vào lại tài sản văn hóa tinh thần phong phú trên đây thôi cũng thấy được nhận định sau đây của cựu tổng Giám đốc UNESCO A.M.M’BOW về Huế xưa là đúng: Huế không phải chỉ là một mẵu mực về kiến trúc mà còn là một cao điểm về tinh thần và một trung tâm văn hóa sôi động(14) .

Nhưng, do những biến động của thời cuộc, sự tàn phá của thời gian, và nhất là của hai cuộc chiến tranh vừa qua, tư liệu trong các thư viện nói trên, nhất là 6 thư viện triều Nguyễn, đã hao mòn dần trên những chặng đường “di tản” đến cả 3 miền Trung, Nam, Bắc.

Vào năm 1942, thấy thư viện Nội các bị xuống cấp, ông Ngô Đình Nhu (người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp ngành Văn khố – cổ tự học tại Pháp) đề nghị chỉnh đốn các tư liệu tại đó và đưa ra bảo quản ở Viện Văn hóa đóng gần ngoài Đại Nội. Vua Bảo Đại đã chuẩn y đề nghị ấy. Các tư liệu đã được một hội đồng chỉnh đốn trong 2 năm và được di chuyển ra đó năm 1944.

Nhưng, vào tháng 2 – 1947, cuộc chiến tranh Việt – Pháp nổ ra dữ dội tại Huế. Nhiều tư liệu đã bị thất thoát khi di tản ra khỏi thành phố. Bấy giờ, sau khi cuộc chiến lắng dịu, người ta thấy một số sách và châu bản được bày bán ở các chợ Đông Ba, Bao Vĩnh, Nam Phổ, Sam, v.v...(15)

Đến năm 1951, Viện Văn hóa tại Huế đã qui tập được:

- Một số châu bản (sắp xếp lại trong 20 tủ lớn).

- Một số địa bạ toàn quốc, khoảng hơn 10.000 nghìn tập.

- 31.690 mộc bản (dùng để in sách) từ Sử quán.

- Khoảng 5.000 quyển sách chữ Hán, chữ Việt, chữ Pháp... trong đó có 1.600 quyển từ tủ sách Phạm Quỳnh.

Năm 1959, tất cả các tư liệu nói trên được chuyển qua Viện đại học Huế ở bờ nam sông Hương. Riêng châu bản, sau khi kiểm kê, còn lại được 611 tập (mỗi tập trên dưới 300 trang) thuộc 10 thời vua Nguyễn kể từ thời Gia Long.

Vào khoảng cuối năm 1963, các tư liệu ấy được chính quyền Sài Gòn cho đưa lên lưu trữ tại Chi nhánh Nha Văn khố và Thư viện Quốc gia tại Đà Lạt.

Khoảng năm 1978, tất cả các tư liệu nói trên tại Đà Lạt được chuyển về kho lưu trữ II tại Sài Gòn, và cuối cùng vào trung tuần tháng 6 – 1991, được đưa ra Kho lưu trữ I tại Hà Nội(16) .

Nay nhìn lại 6 thư viện triều Nguyễn, các nhà nghiên cứu tại Huế hoặc từ các nơi khác đến đều không khỏi chạnh lòng... Tuy nhien, dù đã mất mát nhiều, số tư liệu triều Nguyễn còn lại không phải là ít: hàng ngàn tên sách, hàng chục vạn trang tư liệu gốc thuộc các loại. Còn lại chừng ấy, nhưng từ trước đến nay, chưa ai có đủ can đảm để nói rằng mình đã đọc hết.

Ngày nay, chúng ta có thể tìm thấy các tư liệu ấy đang nằm tập trung từng loại hoặc nằm tản mạn ở các kho lưu trữ hoặc ở các thư viện Nhà nước và các tủ sách gia đình... phong phú nhất là tại Hà Nội, Sài Gòn và Pháp. Chẳng hạn, Viện nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam tại Hà Nội hiện đang lưu trữ hàng ngàn quyển sách Hán Nôm viết dưới triều Nguyễn. Đó là chưa kể đến khối lượng khổng lồ các sách báo bằng chữ Việt, chữ Pháp, v.v... viết về Huế và triều Nguyễn trong vòng một thế kỷ này đang được gìn giữ khắp nơi. Trong khi đó thì các thư viện Nhà nước ở Huế hiện rất nghèo tư liệu về Huế xưa!

Di dích cố đô Huế vừa được UNESCO chính thức đưa vào Danh mục di sản thế giới (Liste du Patrimoine Mondial). UNESCO lại đang thực hiện dự án bảo vệ, giữ gìn và phục hồi di sản văn hóa phi vật chất của vùng Huế (Project on the Protection, conservation and Revival of the Intangible cultural Heritage in the Region of Hue); bắt đầu từ năm 1994 đến năm 1997, với kinh phí dự kiến là 401.500 USD.

Nên chăng, nhân dịp này, cần phục hồi một thư viện lớn tại cố đô để phục vụ lâu dài cho việc nghiên cứu về văn hóa truyền thống Huế và lịch sử triều Nguyễn.

CHÚ THÍCH

(1). Đại Nam thực lục, Bđ của Viện sử học Việt Nam, Nxb Sử học, Hà Nội, 1963, tập IV, tr.120 – 121; tập V, tr. 98 – 99.

(2). Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Bd củaViện Sử học Việt Nam Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993, tập 8, tr. 108.

(3). Di sản Hán Nôm Việt Nam, thư mục đề yếu, Viện Hán Nôm biên soạn, Nxb KHXH, Hà Nội, 1993. Tập 1, tr.19, Tập 2, tr.740.

(4). Paul Boudet: “Les Archives des Empercurs d’Annam et I’Histoire annamite”, Bulletin des Amisduvicux Hue, 1942, tr. 229 – 259, và nhiềuu ảnh in kèm.

(5). Đại Nam thực lục, Bd đã dẫn, Tập VII, Nxb Khoa học, Hà Nội, 1964, tr.169

(6). Di sản Hán Nôm Việt Nam, Sđd, Tập 3, tr.35.

(7). Paul Boudet, Bđd, tr.237.

(8). Paul Boudet, Bđd tr. 235 – 236. Trần Kinh Hòa: “Lời giới thiệu” trong quyển Mục lục Châu bản triều Nguyễn, Tập I, Viện Đại học Huế xuất bản, Huế, 1960 tr. XVI.

(9). Đại Nam thực lục, Tập XXVII, tr. 352.

(10). Di sản Hán Nôm Việt Nam, Tập 3, tr. 459. Tham khảo thêm: Tập I, tr.19.

(11). Sđd, Tập I, tr.20; Tập 2, tr.77.

(12). F.Fabouille, Historique du Musec Khải Định, B.V.A.H. 1929, tr. 89 – 90.

(13). Đào Duy Anh: Nhớ nghĩ chiều hôm (Hồi ký). Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 1989, tr. 66.

(14). Lời kêu gọi của ông A.M.M’BOW tại Hà Nội ngày 25 – 11 – 1981.

(15). Trần Kinh Hòa, nơi đã dẫn.

(16). Nguyễn Cửu Sà; “Châu bản triều Nguyễn và những biện pháp đề nghị”, Tạp chí Thông tin Khoa học và công nghệ, tỉnh Thừa Thiên – Huế, số 2 năm 1992, tr. 57.

TB

NGUYỄN TÔNG QUAI
NIÊN BIỂU, TÁC PHẨM
(1)

CHU XUÂN GIAO

Phải chăng đến giờ giới nghiên cứu mới chú tâm tới Nguyễn Tông Quai là một sự muộn mằn ? Thuở sinh thời, ông đã rất nổi tiếng; Sứ hoa tùng vịnh đã từng được người đời mến mộ, đua khen. Trong nước, lớp hậu học, sử gia Ngô Thì Sĩ đã nức ời ca tụng: “Sứ hoa tùng vịnh lừng tiếng là thơ hay ở khắp mọi nơi” (tự Mỹ đình thi tập). Danh sĩ Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút viết: “Vào khoảng đời Vĩnh Hựu, Cảnh Hưng, các bậc tiền bối danh công có nhiều lưu ý về thi luật, Nguyễn Tông Quai thực là một tay lãnh tụ về thời ấy”. Ngoài nước, ông được nhân sĩ Trung Quốc và Triều Tiên trọng nể. Âu Dương Vương viết: “Tả cảnh thời công phu điêu luyện như họa, giãi tình thời chan chứa thâm sâu,... cao nhã, phóng khoáng như Thái Bạch” (Tựa Sứ hoa tùng vịnh); Vương Vân Tường đánh giá: “Tài văn chương và đức hạnh đều siêu trác” (Tựa Sứ Hoa tùng vịnh).

I. Niên biểu Nguyễn Tông Quai (1693 - 1767).

Niên biểu Nguyễn Tông Quai chúng tôi đã công bố trong Hội thảo khoa học về Nguyễn Tông Quai nhân kỷ niệm 300 năm sinh, tại Thái Bình 5 - 1993. Sau một thời gian khảo sát thêm chúng tôi thấy có những chỗ cần điều chỉnh và bổ sung. Bảng niên biểu dưới đây được soạn lại với tinh thần như thế: 1693 (Quí Dậu): sinh ở làng Sâm, xã Phúc Khê, huyện Ngự Thiên, sau đổi là Hưng Nhân, nay là xã Hòa Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, vào ngày 20-11 Âm lịch, húy Oản (綰), tự Quai (), hiệu Thư Hiên (舒 軒).

* Trước năm 1721: tám tuổi đi học một thầy ở làng. Sau đó được gia đình cho lên kinh sư ăn học, trở thành sinh đồ trường Giám, có được thụ giáo với Thám hoa - Đình nguyên Vũ Thạnh, một nho sĩ đức độ nổi tiếng thời đó. Năm 18 tuổi (1710) lấy vợ cùng xã Phúc Khê và trước năm 23 tuổi (1715) lấy vợ là Lê Thị Thoan người làng BìnhVọng, Thượng Phúc. Sau này, còn lấy thêm 2 người vợ nữa (Đáng chú ý là bà thứ 2 và 3 là hai chị em ruột, còn bà 4 là cô ruột của hai bà trên).

* Năm 1721 (Tân Sửu): thi đỗ Hội nguyên Tiến sĩ, đứng đầu 25 Tiến sĩ.

* Năm 1772 (Nhâm Dần): mùa xuân vào thi Đình do vua Lê, chúa Trịnh trực tiếp làm chánh phó Chủ khảo. Lẽ ra được đỗ Bảng Nhỡn, nhưng do bị phạm lỗi viết sai chữ “niên” thành “thập” trong dòng đề niên hiệu vua nên bị giáng xuống đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp). Vinh qui về làng.

Tháng 6, vào sân phủ chúa dự cuộc thi ứng chế do Trịnh Cương ra đề, là một trong hai người được coi là trúng cách.

Năm 1722 - 42: Nhờ nổi danh khoa cử, được cất nhắc giữ các chức Hàn lâm sử quán, Thừa chính Kinh Bắc, Đốc đồng Tuyên Quang.

Tháng 8 -1734 (Giáp Dần): cùng với Nguyễn Mạnh Thường và quan hầu mệnh đem bọn Đồng trung thư Nguyễn Đình Bảng, Nguyễn Đăng Cao đến trước cửa quan Lạng Sơn nghênh tiếp sứ Trung Quốc sang Sách Phong

5 - 1771 (Tân Dậu): có giặc cướp ở Sơn Tây, Nguyễn Tông Quai có kế hay, phá tan được. Lúc ấy đang giữ chức Đốc đồng Tuyên Quang. Có thể thời gian này (1722 - 42), ông chú Dư địa chí của Nguyễn Trãi.

* Năm 1742 (Nhâm Tuất): lãnh chức Phó sứ, cùng Chánh sứ Nguyễn Kiều (chồng Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm) đi sứ Thanh. Khi khởi trình, vua đặt tiệc thết ở đình Đông Tân, ban thơ ngự chế, hai người lần lượt phụng họa, qua 2 mùa xuân, mùa đông năm 1744 (Giáp Tí) tới Yên Kinh, được ở quán Đại Đồng chờ vào triều cống. Tới tháng 11 Âm lịch, giao lễ vật và dâng biểu tiến cống. Ngày 15 - 11, vào sân rồng hành lễ, Cao Tông Hoàng Đế ưu đãi ban cho ngồi thưởng trà. Mùa xuân năm 1745 (Ất Sửu) được Cao Tông triệu triều ban thưởng và thết tiệc. Ở lại Yên Kinh 3 tháng, được hậu đãi ân cần, cứ 5 ngày là đặt tiệc. Tới 5 - 2 Âm lịch, Cao Tông giáng chỉ cho hồi trình. Dọc đường, trải phong vật kỳ thắng của 7 châu, cùng Nguyễn Kiều đề vịnh, xướng họa, biên thành Sứ Hoa tùng vịnh - tiền hạ tập. Thời gian đi sứ, cũng đã viết cuốn thơ Nôm lục bát Sứ trình tân truyện (Sứ trình Quốc âm).

* Năm 1745 (Ất Sửu): ngày 6-2 Âm lịch, từ Yên Kinh lên đường về nước. Cuối năm về tới Thăng Long, vào yết kiến vua Hiến Tông, được ban thưởng, thăng chức Hình bộ tả thị lang, kiêm Lục bộ thượng thư, tước Ngọ Đình hầu.

* Cuối năm 1745 - 1748: giữ chức một thời gian, chưa rõ bao lâu. Sau vì hặc tấu gian thần, bị Việt quận công Hoàng Ngũ Phúc giáng xuống Hàn lâm thị độc. Thời gian này, liên tiếp bị để ý, sau bỏ quan về nhà ở Kinh đô. Có thể sau khi bỏ quan, đã mở trường dạy học.

* Năm1748 (Mậu Thìn): do không chọn được người triều đình lại phục chức cũ để cử đi sứ Thanh lần 2. Lần này làm Chánh sứ, Phó sứ là Nguyễn Thế Lập, Trần Văn Hoán (Hoán chết dọc đường). Ở lại Yên Kinh một thời gian.

* Năm 1750 (Canh Ngọ): trở về tới Thăng Long. Lần này được thăng Hộ bộ tả thị lang, tước hầu.

* Năm 1750 - 1751 (Tân Mùi): có hộ giá vua làm việc quân sự ở Sơn Tây. Nhà ở Thăng Long bị cháy do một vụ hỏa hoạn chùa Ngọc Hồ, vào tháng 8 - 1751, thư tịch và đồ đạc thành tro hết. Lúc ấy, đương ở Sơn Tây. Thời gian này, lại bị gièm pha, kiện tụng. Đình thần nhân buổi ông đi tuế cống, trong nước giặc giã nổi lên, văn thần nhiều người đi đánh dẹp, bàn rằng: “Sứ ra nước ngoài vừa ung dung, vừa được tước lộc... mà 2 lần đi sứ là tham”. Lại có cáo giác của dân địa phương (?), nên phải giáng làm việc ở Viện hàn lâm là nơi nhàn tản.

* Năm 1751, Trịnh Doanh sai ông đi dụ bảo, an ủi dân các lộ Sơn Tây, Thái Nguyên, Kinh Bắc. Bài văn bia Trùng tu thánh miếu bi ký cho Văn miếu xã Trần Xá, tổng Hà Trường, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương soạn trong dịp công cán này.

* Năm 1754 (Giáp Tuất): chúa lại sai ông đi xem xét các nhà giam, sửa sang những chỗ ẩm thấp, chật hẹp, chẩn cấp cho kẻ thiếu đói, những người bị tội nhẹ thì xét tha về.

* (?): Bị cách tuột mọi chức, không hiểu vì lí do gì, có lẽ vẫn do hiềm khích cũ với Hoàng Ngũ Phúc. Về nhà ở Kinh đô, mở lớp dạy học, học trò đến theo học rất đông.

* (?): Mang toàn bộ gia đình về quê sinh sống. Có thể trong thời gian ở quê nhà ông đã viết Ngũ luân tự.

* Năm 1767 (Đinh Hợi): mất ngày 4-3 Âm lịch tại quê nhà, hưởng thọ 75 tuổi(1).

II. Khảo đính mấy điểm trong Niên biểu

Đây mới chỉ là một niên biểu sơ lược chúng tôi đã sưu tầm, thu thập, tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu: chính sử, lục, phả, tựa, bi văn, kí... mà sự kiện, số liệu thông báo từ các nguồn nhiều khi không khớp nhau, đòi hỏi phải cân nhắc, điều chỉnh dựa theo những sở cứ khoa học tin cậy. Mấy điểm khảo đính dưới đây nhằm làm rõ thêm về niên biểu:

1. Năm sinh và năm mất

Trước đây, ghi chép trong các bộ sách công cụ và vài sách có liên quan không thống nhất: Từ điển văn học (Nxb. KHXH, H. 1984, tập II) và Lịch sử Văn học Việt Nam (Nxb. ĐH và THCN, H. 1979, tập II) ghi: 1692 - 1768. Lược truyện các tác gia Việt Nam (Nxb. KHXH, H. 1971, tập I) và Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (Nxb. KHXH, H. 1990, tập II) ghi: 1693 - 1767; Trạng nghè Thái Bình (Sở VH - TT Thái Bình, 1986, tập I) ghi: 1693 - 1767; Danh nhân Thái Bình (SVH và TT Thái Bình, 1986, tập I) ghi: 1693 - 1767; Nhân vật lịch sử Việt Nam (Nxb. KHXH, H. 1991) ghi 1692 - 1766... chung qui lại, phải xác định ông sinh năm 1692 (Nhâm Thân), hay 1693 (Quí Dậu), mất năm 1766 (Bính Tuất) hay 1767 (Đinh Hợi).

Gia phả (tư liệu địa phương) và Đăng khoa lục (A.1387 và VHv.2140) đều ghi: đỗ Hội nguyên năm 29 tuổi - tức là 28+1, theo cách tính truyền thống và thọ 75 tuổi. Phả ghi rất rõ: sinh vào ngày 20-11 Âm lịch năm Quí Dậu niên hiệu Chính Hòa 14 (Ngã cao tổ di Hậu Lê Chính Hòa, Quí Dậu, thập tứ niên, thập nhất nguyệt, nhị thập nhất nhật, thìn khắc sinh) và mất vào ngày 4-3 Âm lịch năm Đinh Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 28 (Cảnh Hưng nhị thập bát niên Định Hợi, tam nguyệt sơ tứ nhật, Sửu thời tốt). Chỉ cần thực hiện phép cộng trừ đơn giản, thấy các số liệu khớp nhau, đủ để kết luận: Nguyễn Tông Quai sinh năm Quí Dậu (1693) và mất năm Đinh Hợi (1767).

2. Năm đi sứ lần thứ nhất

Sách Đại Việt sử kí tục biên chép năm Tân Dậu (1741), theo đó, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí cũng ghi: “Tân Dậu... sai Chánh sứ Nguyễn Kiều, Phó sứ Nguyễn Tông Quai, Đặng Công Mậu sang sứ nhà Thanh”.

Gia phả ghi: “Đến năm Nhâm Tuất (1742), Cảnh Hưng 3, tháng 8, ngày 8, giờ thìn vâng chỉ của Hiển Tông sang Yến Đài tiến cống” (Chí Cảnh Hưng Nhâm Tuất tam niên, bát nguyệt, sơ bát nhật, thìn khắc, phụng Hiển Tông chí Yến Đại tiến cống). Câu mở đầu của Sứ trình tân truyện: “Cảnh Hưng rồng dậy thứ ba, tháng thu ngày tám sứ Hoa khởi trình”. Tập Sứ Hoa tùng vịnh cũng ghi năm Nhâm Tuất (chú ý: tập này còn mang một tên nữa là Nhâm Tuất khóa sứ trình thi tập).

Đối chiếu thêm với vài tư liệu liên quan khác, chúng tôi xác định: năm đi sứ lần một của đoàn sứ bộ mà Nguyễn Tông Quai làm Phó sứ khởi trình vào tháng 8 năm Nhâm Tuất (1742). Đại Việt sử kí tục biên Lịch triều hiến chương loại chí ghi chép như thế có lẽ là do năm Tân Dậu (1741) triều đình đề cử danh sách những người đi sứ, rồi năm sau đoàn sứ bộ mới khởi hành. Chọn cử năm trước, năm sau mới đi. Hồ Sĩ Đống - người viết tựa cho Sứ Hoa tùng vịnh cũng viết trong tập Dao Đình thi tập (A.1852): “Năm Đinh Dậu (1777) tôi được cử đi làm Phó sứ cống bộ, năm Mậu Tuất (1778) mùa xuân, tháng giêng khởi trình...” Học trò xuất sắc của Nguyễn Tông Quai là Lê Quí Đôn sau cũng ghi trong Bắc sứ thông lục: “Năm Mậu Dần, niên hiệu Càn Long 23 thuộc thiên triều, tức năm Cảnh Hưng 19 (1758) triều Lê ta, mùa đông tháng 10, quan bên phủ chúa nói: “Năm sau theo lễ cống nạp hàng năm, sai một Chánh sứ và hai Phó sứ làm bồi thần, việc đó nên giao cho triều đình chọn cử...) (A.179, tờ 5a).

3. Lịch trình đi sứ lần một:

3.1. Khi nào đoàn sứ bộ tới Yên Kinh? Gia phả có ghi: “Mùa đông năm Ất Sửu (1745) rời Yên Kinh...” (Ất Sửu niên đông, chí Yên Kinh), một đoạn khác: “Hai mùa xuân trải qua cảnh vật, đường sá của bảy châu... Mùa xuân năm Bính Dần (1746), (vua Càn Long) lại xuống chiếu ban thưởng một lần, mở tiệc thết một lần” (Nhị xuân lịch thất châu chi cảnh thơ... Bình Dần xuân tái chiếu ban thưởng nhất thứ, yến diên nhất thứ). Ghi chép trên đây có sự nhầm lẫn. Về lịch trình đi sứ lần một, tư liệu gốc phải là Sứ Hoa tùng vịnh Sứ trình tân truyện, đặc biệt là những tiểu dẫn trước mỗi bài thơ trong Sứ hoa tùng vịnh. Xuôi theo trình tự thời gian trong 2 tư liệu này, chúng tôi xác định là mùa đông năm Giáp Tí (1744):

“Xe vua Hắc Đế mới xa,
Đùng đùng gió thổi mưa sa lạnh lùng...
Tứ bề sương khói ơi ơi,
Tiếng ai đặt đấy là nơi Kinh kỳ”
(Sứ trình tân truyện)(2)

Giữa 2 đoạn chép trên trong phả cũng không khớp nhau. Khởi hành vào mùa thu năm Nhâm Tuất (1742) đến mùa xuân năm Quí Hợi (1743) rồi đến mùa xuân năm Giáp Tí (1744), như vậy đúng là trải qua hai mùa xuân, và mùa đông năm Giáp Tí (1744) đoàn sứ bộ đã tới Yên Kinh. Việc vua Càn Long ban tứ là vào mùa xuân năm Ất Sửu (1745).

3.2. Nhưng chính các số liệu năm tháng trong Sứ trình tân truyện vài chỗ cũng cần phải chỉnh lí. Về văn bản, nó chỉ còn một bản mang kí hiệu AB.155 - Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, là bản chép từ những bản sao chép nhiều lần trước nên có nhiều nhầm lẫn.

a) Hai câu 631 - 632 trong Sứ trình tân truyện:

“Bước sang Giáp Tí đầu xuân,
Đã lần ban thưởng, lại lần yến diên”.

Cũng một sự kiện mà Gia phả Sứ trình tân truyện ghi cách nhau 2 năm. Hãy lần các mốc thời gian trong chuyến đi:

1. Thu năm Nhâm Tuất (1742), ra đi (câu 1-2)

2. Quí đông năm 1742, qua cửa Nam quan:

“Dịch mai xẩy thấy tin truyền
Quí đông mồng bảy sứ liền quá quan”.
(câu 69 - 70)

3. Xuân năm Quí Hợi (1743) tới trạm Vĩnh Thuần, gặp tết Nguyên đán ở đất Bắc:

“Doành xanh hây hẩy gió đưa,
Giục hoa, xuân lại tưới mưa đòi ngàn.
Vĩnh Thuần chợt mới hỏi han,
Nguyên tiêu thoắt đã bãi làn tam châu”.
(các câu 121 - 22 - 23 - 24).

4. Hạ năm 1743 tới Giang Tây:

“Dừng chèo bến liễu một khi,
Xui ai nồng nực làm chi bấy hè”.
(câu 355 - 356)

5. Đông năm 1743:

“Ôi con én ngẩn ngơ,
Tìm nhà Vương Tạ u ơ chào người”.
(câu 409 - 410).

6. Xuân năm Giáp Tí (1744) qua Kinh đô của Lục triều:

“Thành xưa dấu cũ khách chơi,
Nền nhà Tề Tấn là nơi đi về.
Mảng vui cảnh vật sơn khê,
Gió xuân thổi lọt rèm the bao giờ”.
(các câu 417 - 18 -1 9 - 20)

7. Thu năm 1744 tới Hoàng Hà:

“Tiếng thu xao xác trên xanh,
Một đèn hãy tỏ ba canh chửa nằm”.
(câu 467 - 468).

8. Đông năm 1744 tới Yên Kinh:

“Tứ bề sương khói ơi ơi,
Tiếng ai đặt “đấy” là nơi Kinh kỳ”.
(câu 607 - 608)

9. Như vậy, 2 câu 631 - 632 phải là:

“Bước sang Ất Sửu đầu xuân,
Đã lần ban thưởng, lại lần yến diên”.

b) Sau 670 câu lục bát, Sứ trình tân truyện kết thúc bằng đoạn phụ chú: “Tuế cống Phó đoàn sứ bộ Nguyễn Thư Hiên viết tại Hội đồng quán Yên Kinh, năm Cảnh Hưng thứ 3 (1742)”. Ghi chú này là không chính xác, vì tới năm 1744 Nguyễn Tông Quai mới tới Yên Kinh, đoạn cuối của tác phẩm viết sau khi được chỉ cho hồi quốc:

“Tuổi vàng vâng dưới bệ rồng,
Truyền cho cống sứ việc xong hồi trình”.
(câu 635 - 636).

Nhà thơ nhẩm tính lại thời gian:
“Mấy phen trải gió tắm mưa,
Cát cừu thay đổi kể vừa ba xuân”.
(câu 659 - 660)

4. Năm đi sứ lần thứ hai:

Bằng phương pháp tính năm đi sứ lần thứ nhất, có thể khảo đính lại ghi chép trong Đại Việt sử ký tục biên Lịch triều hiến chương loại chí: “Đinh Mão (1747)... sai Chánh sứ Nguyễn Tông Quai... sang Thanh... chỉ là thời gian triều đình cho cử đoàn sứ bộ, tới năm sau Mậu Thìn (1748) mới khởi hành, đến năm Canh Ngọ (1750) về tới Thăng Long.

III. Thư mục sơ bộ về tác phẩm

Trên tổng thể, về mặt văn tự, tác phẩm của Nguyễn Tông Quai phân làm 2 loại: chữ Hán và chữ Nôm.

1. Trước tác bằng chữ Nôm:

1.1. Sứ trình tân truyện (STTT)(3) là một bài ca Nôm gồm 670 câu lục bát, thuật lại cuộc hành trình đi sứ lần thứ nhất, cảm xúc ngâm vịnh về danh lam thắng tích và những ngẫm nghĩ dọc đường từ Thăng Long tới Yên Kinh. Sách viết có nguyên chú. Hiện thấy chỉ còn duy nhất bản AB.155, 1 sách, 46 trang, chữ chân, giấy mới.

1.2. Ngũ luân tự (NLT): gồm 646 câu song thất lục bát. Bắt đầu bằng 2 câu:

Trời sinh người thiêng hơn muôn vật,
Khuôn hồng quân trao chất cương nhu(4).

và kết thục bằng một khổ:

“Bút đoạn rồi dấu riêng trong tráp,
Khuyên nhi tôn sau chép ngâm nga.
Dầu hay lấy đấy mà ra,
Trung hiếu một nhà phúc đức nghìn năm”.

Tác phẩm diễn ca 5 điều luân thường: vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn, lấy dẫn liệu ở kho Hán học, với mục đích nêu gương những người đã xử lí tốt năm mối quan hệ trong cuộc sống. Có thể được viết vào thời kỳ ông từ hẳn quan trường, về quê nhà. Hiện chỉ còn một bản duy nhất AB.128, 1 sách, 38 trang, chữ chân, giấy mới, là bản sao chép gần đây thỉnh thoảng mất một vài chữ, ví dụ:

“Tôi Vu Hàm thuở vua Thái Mậu,
... hiền trời hận nhà Thương”.
(câu 45 - 46).

hay:

“Người nào em ở xa vời,
Thành Lương... giúp, ngọt bùi gửi đưa”.
(câu 271 - 272).

1.3. Chùm thơ Nôm Đường luật:

Trong AB.155, chép xen giữa các câu lục bát còn có 8 bài thơ Nôm Đường luật: 1. Quá quan tự thuật; 2. Chu trình đông dạ; 3. Điếu lưu tam liệt; 4. Đề Độc Tú sơn; 5. Tiêu Tương xuân vãn; 6. Chu thứ thuật hoài; 7. Đề tam nghĩa miếu; 8. Tuyết thiên nhàn vọng, được các nhà nghiên cứu đánh giá “có thể nói là 8 viên ngọc trong gia sản thơ Tiếng Việt”. (Mai Quốc Liên: Dưới gốc me vườn Nguyễn Huệ - SVH và TT Nghĩa Bình, 1986).

Trong bản Sứ hoa tùng vịnh VHv. 1404/2 còn có một dị bản của 8 bài trên và một bài nữa có đề Tiễn bồi thần.

2. Trước tác bằng chữ Hán

2.1. Sứ hoa tùng vịnh (SHTV) còn có các tên khác, như Nhâm Tuất khóa sứ trình thi tập, Sứ trình, Hoa trình thi tập, và chép chung trong các sách Hoa trình ngẫu bút lục, Sử văn trích cầm; nhiều bài còn bị chép lẫn sang tập thơ của tác giả khác, như Giới Hiên thi tập (Nguyễn Trung Ngạn). Trong các thư viện lớn ở Hà Nội còn giữ được 28 dị bản, gần đây trong dân gian, chúng tôi còn sưu tầm được vài bản nữa. Hiếm thấy tập thơ nào nhiều dị bản như SHTV, chỉ bằng riêng số lượng và địa bàn lưu giữ của nó cũng cho thấy lời khen của Ngô Thì Sĩ “lừng tiếng thơ hay ở khắp mọi nơi” là không ngoa.

a) Theo bài tựa của Hồ Sĩ Đống thì SHTV đã được con trai ông là Nguyễn Cư Chính nhờ mang đi thuê khắc in ở Trung Quốc, không biết việc in sách kết quả ra sao vì hiện nay chưa tìm thấy một bản in nào.

b) Việc tìm bản trục cho SHTV quả là phức tạp, nhiều dị bản, mỗi dị bản lại biên chép theo một lối. Chúng tôi tạm đề xuất ra cụm bản nền gồm các bản A.2993, A.1552, VHv.2597 và bản hiện lưu giữ tại nhà Ô. Mai Hồng - Viện Nghiên cứu Hán Nôm(5).

c) Qua khảo sát sơ bộ cụm bản nền, chúng tôi tạm xá định về số lượng bài trong SHTV như sau:(3) Thất ngôn bát cú, trên 200 bái; thất ngôn trường thiên, một đoạn, ngũ ngôn trường thiên, 1 đoạn, ngũ ngôn 1 đoạn; tuyệt cú trên 20 bài, tặng và đáp, trên 100 bài(2)

d) Theo bài viết của các ông Đào Phương Bình, Hoàng Hựu trên Tạp chí Văn học số 5+6/1971, 4/1979 và Nguyễn Huệ Chi, phần Khảo cứu văn bản trong Thơ văn Lý Trần, Tập I, chúng tôi đã đối chiếu SHTV với các tác phẩm của Giới Hiên - Nguyễn Trung Ngạn, thì thấy SHTV lẫn sang thơ Giới Hiên hơn 20 bài. Nguyễn Tông Quai và Nguyễn Trung Ngạn có tên hiệu dễ lẫn với nhau (Thư Hiên, Giới Hiên), đều đi sứ phương Bắc, đều có thơ để lại, nên đã dẫn đến việclẫn lộn thơ của 2 người với nhau.

2.2. Vịnh sử thi quyển: hiện còn 2 bản chép tay tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm A.1314, A.844 tập hợp 334 bài thơ vịnh danh thắng nhân vật trong lịch sử Trung Quốc từ đời Hán về sau với bốn nhà thơ nổi tiếng, thường gọi là An Nam đại tứ tài hay Trường An tứ hổ: Nguyễn Tông Quai, Nguyễn Trác Luân, Ngô Tuấn Cảnh, Nguyễn Bá Lân. Riêng Nguyễn Tông Quai có 80 bài, được xem là thơ hay nhất tập.

2.3. Những chú thích trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi. Lần theo bản Ức Trai di tập in năm Tự Đức thứ 21 (1868), chúng tôi đã thống kê trong 54 điều của Dư Địa chí, ngoài lời tập chú của Nguyên Thiên Túng, lời thông luận của Lý Tử Tấn (những người cùng thời với Nguyễn Trãi), còn có những lời chú thích của Nguyễn Tông Quai ở 4 điều: 23, 32, 37, 40. Có thể ông đã viết những chú thích này trong khoảng những năm 1729 - 1740, khi làm quan dưới thời Trịnh Giang.

2.4. Bài văn sách thi hội khoa thi năm 1721, chép trong sách Lê triều hội thi văn tập kí hiệu VHv.426/1 từ tờ 78a - 86b. Khoa thi này chỉ chọn một bài của Nguyễn Tông Quai, bản sao tồn tại dưới dạng chữ thảo.

2.5. Bài văn bia Trùng tu thánh miếu bi kí; thác bản No12162-63 và chép trong Nhân vật chí A.573 từ tờ 82b-86a, soạn năm Cảnh Hưng 12 (1751) cho Văn miếu xã Trần Xá, tổng Hà Trường, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (nay là Hải Hưng) trong dịp ông được nhà chúa sai đi dụ bảo yên ủy dân các lộ Sơn Tây, Thái Nguyên, Kinh Bắc.

2.6. Bài khải mừng điềm lành, mừng dẹp giặc chép trong sách Biểu khải vân tập A.2832.

2.7. Năm 1959, Trần Văn Giáp sưu tầm ở Triều Tiên được 5 bài thơ xướng họa của Nguyễn Tông Quai với sứ thần Triều Tiên.

2.8. Ngoài những tư liệu trên, Gia phả còn nói tới, 3 tập Học ngữ (thượng, trung, hạ), trong đó có cả thơ của người con trai. Song, đến nay sách đã thất truyền.

Hà Nội, 4 - 1994

CHÚ THÍCH

(1) Xin xem Chu Xuân Giao: “Niên biểu Nguyễn Tông Quai” - Kỉ yếu hội thảo.

(2) Theo bản phiên âm của Mai Hồng Sở VHTT và TT Thái Bình 1993.

(3) Phả ghi là Sứ trình Quốc âm.

(4) Bản phiên âm của chúng tôi. Từ đây trở xuống đều như thế.

(5) Bản này Ô. Mai Hồng mới tìm được trong dân gian.

(6) Chỉ tính riêng thơ của Phó sứ./.

TB

GIÁO SƯ J.BONET VỚI CHỮ NÔM

ĐẶNG ĐỨC
TRẦN XUÂN NGỌC LAN

Giáo sư J. Bonet đến Việt Nam vào năm 1867 với tư cách là lính thủy quân lục chiến, sau đó ông làm thông dịch. Năm 1874 ông trở về Pháp lúc đầu ông vẫn làm thông dịch, sau làm phụ giảng rồi làm giảng viên tiếng An Nam tại trường ngôn ngữ Phương Đông kiêm giảng viên trường thuộc địa tại Paris. Ngày 1/11/1908 ông bị xe đụng và mất vào ngày 21/7/1909.

GS. J.Bonet là tác giả bộ từ điển mang tên: Dictionnaire Annamite - Francais (Langue og ficielle et langue vulgaire = Ngôn ngữ hành chánh và ngôn ngữ thông dụng). Từ điển gồm 2 tập cỡ nhỏ (15x25cm). Tập 1 gồm 440 trang, có 3852 mục từ. Tập 2 gồm 532 trang, có 3952 mục từ. Mục từ viết bằng chữ Quốc ngữ, kế theo là chữ Nôm tương ứng. Dictionnaire Annamite – Francais là ấn phẩm của Trường sinh ngữ Phương Đông, xuất bản tại Paris khoảng năm 1890 - 1900.

Bộ từ điển này trước khi xuất bản đã được gửi đến tham luận trong cuộc hội nghị quốc tế họp tại Paris tháng 9 năm 1897, Ban ngôn ngữ và Khảo cổ viễn đông. Đương thời đây là một bộ từ điển có điểm mới so với các từ điển trước nó. Mỗi chữ Nôm đều có ghi chú hoặc giải thích về cấu tạo. Đó là điều mà trước GS. J.Bonet chưa có từ điển nào đề cập đến. Có thể thấy nhiều phân tích cấu tạo chữ Nôm của GS cho đến nay vẫn còn đúng đắn.

Song với thời gian, việc nghiên cứu chữ Nôm cũng ngày càng phát triển, cho thấy sự phân tích chữ Nôm của GS. J.Bonet có nhiều điểm sai sót. Có thể nêu ra bốn loại sai sót sau đây:

A/ Trong quan niệm của GS. J.Bonet không hề có loại chữ Nôm viết với âm Nôm, thế nhưng qua sự khảo sát của chúng tôi trong bộ Chữ Nôm dưới lăng kính ngữ học(1) thì số chữ Nôm viết với âm Nôm chiếm một tỉ số rất cao gồm phần nửa tổng số chữ Nôm đã lượm lặt đó đây trong các tác phẩm Nôm của ba thế kỷ XVII, XVIII, XIX qua 3 miền đất nước. Chúng tôi xin đơn cử một vài thí dụ:

Gậy 嶹 cây gậy - [M] - [T] - [P] - [G] - [B]

Thiền Trượng 禪 杖: là gậy 嶹 thầy già [- CN. Pháp khí: 45]

Gậy 嶹 rút đất ỷ không học chước - [ChPh: 293]

Bẻ cây làm gậy 嶹 nhắm làng xông vô - [LVT:126]

Bổng 捧 : gậy 塦 - [TTT:1138]

GS. J.Bonet phân tích chữ gậy của [T] 嶹: (Formé des S.A. mộc 木 arbre et kị 忌 s’abstenir). Dịch: Cấu tạo bởi từ H.V mộc 木 cây và kị 忌 răn) (TĐCN) cũng phân tích như vậy:

+ [TĐCN] Gậy 塦 L - HT - CT 木 (mộc: cây - ý) + (kỵ - âm) 忌 : - cái gậy.

- Chữ gậy của [TTT] 塦: (gt) đã cho chúng ta thấy đây là chữ cậy (n) - âm theo di âm (par mutation). Nếu chữ gậy này viết theo (ht) 嶹 thì nghĩa phù 木 (từ chữ gốc 捧 bỗng gợi nhớ tới cây gậy đánh chó của lão ăn mày Hồng Thất Công - nhân vật của nhà văn Kim Dung đã từng tung hoành phương bắc (đả cẩu bổng 打狗 捧). Âm phù 忌 cậy (n) - âm theo di âm.

+ Những chữ gậy từ /N/ đến /B/ đều cùng tự dạng rất khó lòng phân biệt với chữ cậy 嶹 của Hồ Xuân Hương:

Hồng hồng má đỏ duyên vì cậy 嶹 - / Vịnh quạt: 7/. Chữ cậy của câu thơ là cậy như cây hồng, quả nhỏ có nhựa dùng để phất giấy phất quạt, 嶹 (ht). Nghĩa phù 木 (từ chữ gốc 柿 thị + cây Cậy). Âm phù (cậy) 忌 (n). Mặt khác những chữ gậy 忌 đặt trả vào văn cảnh của chúng thì nghĩa phù 木 mộc không có nghĩa chung chung như người ta tưởng mà lại xuất phát từ những chữ gốc có nghĩa rõ ràng.

+ Chữ gậy của [CN] và [ChPh]: 嶹 (ht). Nghĩa phù 木 (từ chữ gốc 杖 trượng = gậy, như thiền trượng [CN]. Với [ChPh] thì nghĩa phù (cũng từ chữ gốc trượng, mượn việc Phí Trường Phòng đời Đông Hán theo Hồ Công học đạo tiên nhưng không đắc đạo xin về. Thầy cho cây gậy, bảo: hãy cưỡi nó mà đi (Công dữ nhất trượng 杖 viết: “Thừa thử nhiệm sở chí”). Trường Phòng cưỡi gậy phút chốc tới nhà.

+ Chữ gậy của [LVT]: 嶹 (ht). Nghĩa phù: 木 mộc (từ chữ gốc 棍 : côn = gậy, một loại vũ khí chứ không phải gậy để chống mà đi, như Nguyễn Du tả nhân vật Từ hải :

Côn 棍 quyền hơn sức, lược thao gồm tài). Âm phù vẫn là cậy (n) 忌- âm.

[Gầy]: 檝

1. Ốm o - [T] - [P] - [G] - [B] - [M]

牅, 檝, 才其 : Nét buồn như liễu, mình gầy 瘦其 như mai - [C: 638] - A.B: 檝: NGHIÊU: đất sạn, TÍCH 塉 : đất gầy 瘦荄 - [KDL 下 3b2] TÍCH : gầy 檝 - [TTT: 629] CÙ : gầy 檝 - [TTT: 2609]

Gs J.Bonet phân tích chữ gầy của [T] 檝: (Formédes S.A. nịch 疒 maladie et kì 其 Prom poss) - Dịch cấu tạo bởi từ H.V nạch 疒bệnh hoạn và kỳ 其 đại từ sở hữu.

[TĐCN]: Gầy 檝 L.HT. CT - 疒 (bộ nạch - ý) + (kỳ - âm) 其: gầy gò.

+ [M] đã chứng minh cho chúng ta thấy chữ gầy (n) không dùng âm kỳ 其 (H.v) mà là âm Nôm cầy (cầy bừa cũng nói cày bừa) 牅 - âm theo di âm. Nghĩa phù 疒 sẽ thấy ở dưới.

+ Chữ gầy của [Bản C]: 瘦其 (ht). Nghĩa phù 瘦 sấu (= gầy) thấy trong câu thơ của Đỗ Phủ:

Hữu đệ hữu đệ tại viễn phương

Tam nhân các sấu 瘦, hà nhân cường.

- (Em trai, em trai ở phương xa - Ba người gầy ốm, ai người mạnh). Âm phù 牅 cầy (n) cầy bừa, con cầy 幖 , viết g.n 其 ~ âm.

+ Chữ gầy của [KDL] 瘦荄 : (ht) Nghĩa phù 瘦 sấu (= gầy). Âm phù cây (n) 炥 g.n 荄 - âm. - Chữ không sát thanh. - Tích 塉bạc thổ dã, tức đất không còn mầu mỡ.

+ 2 chữ gầy của [TTT] tuy cùng tự dạng và âm phù 其 cầy (n) - âm nhưng nghĩa phù 疒 lại không cùng 1 chữ gốc, 疒 trên (từ chữ gốc: tích), còn dưới lại từ chữ gốc: cù. Cả 3: sấu, tích và cù đều đồng nghĩa.

2. Gầy dựng 才其 : [M] - [T] - [P] - [G] - [B].

GS. J.Bonet ghi: Gầy: Commencer quelque chose 才其 (Formé des S.A thủ 手 main et kì 其 pron.possessif). - Dịch: cấu tạo bởi từ Hán âm H.V thủ 手 tay và kỳ 其 đại từ sở hữu.

[TĐCN]: Gầy 才其 L.HT.CT 扌(bộ thủ 手 tay - ý) + (kỳ - âm) 其 gầy dựng, gầy củi.

+ Trong ngôn ngữ Việt Nam chúng ta nói: gây dựng nhưng không nói gầy dựng. Như thế nghĩa phù 扌(từ chữ gốc 搆 cấu. Cấu tạo = gây dựng). Âm phù 其 cầy (n) - âm.

[Giầy]: 硡 bánh giầy (cũng nói bánh dầy) - [G] - [B]

Tư Bính 粢 餅 Vành vạnh bánh dầy 持 - [CN Bính bộ: 3]

Gs J.Bonet viết: Bánh giầy: nom de gâteau 食丙 硡 (Formé des S. A. Mễ 米 grain et trì 持 tenir, diriger). - Dịch: cấu tạo bởi từ Hán Việt: mễ 米 hạt, và trì 持 cầm, điều khiển.

+ Chữ bánh dầy của [CN] 持 (gt) chầy (n) - âm. Ở đây chúng ta nhận thấy cách phát âm lẫn lộn giữa [d] và [gi] của miền Bắc. Như thế trì [H.V] khó lòng đọc ra giầy hoặc dầy, bên Nôm. Mặt khác nếu chúng ta dùng chữ tư 粢 của Hán văn ghép với 持 giầy (n) chúng ta sẽ có 粢+ 持 viết gọn lại 硡 tức là chữ bánh giầy (ht) cura [B]. Và như thế có hợp lý chăng? Bánh giầy là thứ bánh làm bằng xôi nếp quết nhuyễn ra làm thành và 粢 (= xôi). Nếu trực dịch: tư bính = bánh xôi.

B/ Phân tích sai nghĩa phù và âm phù trong chữ hình thanh.

Cóc 氱 loài ếch nhái, da xù xì. GS. J.Bonet phân tích (Forme des S.A trùng 虫 reptile et cốc 谷 vallee: cấu tạo bởi trùng 虫 loài bò sát và cốc 谷 thung lũng, suối). Chúng tôi đồng ý đây là chữ Nôm viết theo hình thanh, nhưng không khỏi ngạc nhiên về cách giải thích nghĩa phù. Ai cũng biết con cóc thuộc loại lưỡng thể khi sống dưới nước, lúc ở trên cạn, nhưng lại đột nhiên thành loài bò sát rồi hóa kiếp thành sâu bọ.

Với những chữ cóc trong các tác phẩm Nôm khác, chúng ta sẽ có đủ cơ sở để trả lời vấn đề nghĩa phù của chữ Cóc không phải xuất phát từ bộ thủ 虫 trùng gây nên sự khó hiểu như trên.

Thiềm Thừ 蟾 蜍 bò cóc 氱 thanh thay. Quảng hàn cung váng sánh bày Hằng Nga (Cn, giáp trùng loại).

Thiềm Chu 蟾 虫諸 tục gọi cóc 氱 vàng ở khô (NTL, 19b2) Cóc 虫莫 谷 (TVN)

Chữ cóc của (CN) là chữ giả tá âm cốc 谷, hai chữ còn lại đều là chữ hình thanh âm phù là cốc, nghĩa phù là chữ thiềm 蟾 bị cắt đôi chỉ còn lại phần bên trái. Đặc biệt chữ cóc của (TVN) nghĩa phù lại ghi nguyên cả chữ mô 蟆 ( = loài ếch nhái) càng chứng minh rằng thoạt đầu nghĩa phù dùng một chữ cụ thể ghi nghĩa chính xác rồi sau giảm hóa để lại bộ thủ. Đáng tiếc là sách (TVN) không ghi lại xuất xứ của chữ.

Gọt 悧 (gọt đầu: raser la tête). GS. J.Bonet phân tích (Formé des S.A cốt: ose et đao 刀 couteau: chữ cấu tạo bởi cốt 骨 (= xương) và đao 刀 (= đao).

Chúng tôi đồng ý với tác giả chữ gọt viết theo (ht) nhưng không đồng quan điểm về nghĩa phù cũng như âm phù. Vậy nghĩ a phù vốn là như thế nào ? Tự Đức viết:

“Thế là gọt 悧 tóc trẻ trung” (NSL 上 16a4). Chữ thế cũng viết 剃 (Ngọc Thiên). Vì vậy chúng tôi cho rằng nghĩa phù của gọt là thế 剃 bị cắt đôi giảm nét còn刂. Còn âm phù, có phải người xưa đã lấy âm Hán Việt cốt 骨 để ghi âm gọt không ? Hẳn là trong trường hợp này không phải ghi âm trực tiếp như vậy, vi âm cốt ghi trực tiếp âm cốt. Còn ghi âm trực tiếp cho gọt theo chúng tôi phải là âm Nôm gót 蓘chuyển thanh. Ghi âm trực tiép nghĩa là thế nào? Mọi người đều công nhận trong một loạt từ như: cây (cột) 焈, (trói) cột 縎, cót 絸, cọt (kẹt) 骨; (chim) cút 鐄 , cụt (đuôi) 短骨 , gót 蓘 , gọt 悧 , gột (rửa) 滑, gụt 滑, gút (dây) 縎 đều có bộ phận âm phù là chữ cốt 骨 Hán Việt. Chúng tôi cũng công nhận như vậy, nhưng cái khác là chúng tôi không cho rằng tất cả đều được người xưa dùng âm Hán Việt cốt để ghi âm trực tiếp, mà có từ được ghi âm trực tiếp, có từ phải qua trung gian những từ Nôm rồi ghi âm theo luật chuyển âm, chuyển vận, chuyển thanh. Cụ thể chúng tôi hình dung cách viết của người xưa đối với loạt từ nêu trên đây như sau:

Cốt 骨

- cột 焈 (chuyển thanh trực tiếp H - V)

Cốt 骨

- cút 鐄 (chuyển vận trực tiếp H - V), - cụt 短骨 (chuyển thanh Nôm).

- gụt 滑 (chuyển âm đầu Nôm) - gút 縎 (chuyển thanh Nôm).

Cốt 骨

- cót 絸(chuyển vận trực tiếp H - V) - gót 蓘 (chuyển âm Nôm)

- gọt 悧 (chuyển thanh Nôm).

Đuổi 訸 đuổi giặc. Ông phân tích (Formé des S.A xước 走 , marche et đối, repondre: cấu tạo bởi yếu tố Hán Việt xước và đối).

Chúng ta khảo sát thêm những chữ đuổi dưới đây để có thêm cứ liệu giải quyết vấn đề nghĩa phù và âm phù của chữ đuổi.

- Đuổi 扌对 lão Bồ đêm ở đường tiền (Trần bồ truyện 39b5)

- Hàn Tín đuổi 逐 Ngụy, lội đầy dòng sông (CN, Binh khí loại).

- Công đeo đuổi 逐对 chẳng thiệt thòi lắm ru (C: 346)

- Vả người đấng đại nhân, đuổi 訸 làm chi tiểu tử (KLXP: 13b6)

- Bị đời xua đuổi 去对 về nhà giáo dân (LVT: 518)

- Trú: ngừng, hãn 趕: đuổi 訸 Trở: ngăn, Thu: rồi (CHL: 19b1)

- Có thuở bàn cờ tốt đuổi 汵 xe (QA. Trần tình, bài 8.c3)

- Đuổi 鍸 đến sông Ô Khỉ ướt đuôi ( HD, Hán Cảo Tổ: 4)

Với 8 chữ đuổi viết khác nhau, ở trên chúng ta có đủ cứ liệu để tìm hiểu cấu trúc của nó.

Trừ chữ đuổi 逐 của (CNNAGN) viết theo giả tá ra, bảy chữ còn lại đều viết theo (ht). Và đều lấy chữ đổi Nôm làm âm phù.

Cũng như chữ gọt trên đây, chúng tôi cho rằng âm phù của chữ đuổi không phải là chữ đối, mà là chữ đối 对 nôm. Đối đọc ra đuổi theo luật thêm âm giữa (par addition - epenthèse).

Về nghĩa phù của chữ đuổi 逐对 (C: 346) của Chiêm Vân Thị là Trục 逐 viết đủ nét.

Chữ đuổi 訸 của (KLXP) có nghĩa phù là chữ truy giảm nét 辶 (Quan quân truy 追 sát đuổi dài. Kiều: 2523)

Chữ đuổi 去对 của LVT có nghĩa phù là chữ 去 khu = đuổi.

Chữ đuổi 訸 của (CHL), có nghĩa phù là chữ Truy 逐 giảm nét 辶 . Tự Đức cũng viết Hãn 趕 : truy 追 dã, trong giải thích trên, ông không lấy Hãn g.n làm nghĩa phù mà lấy 追 g.n 辶làm nghĩa phù.

Chữ đuổi 汵 của (QATT) có nghĩa phù là chữ Hãn 趕 giảm nét.

Chữ đuổi 鍸 của (HĐ) có nghĩa phù là chữ sấn 跈 giảm nét 足. Xét qua những chữ Hán có nghĩa là đuổi như Khu 驱 Trục 逐 , truy 追 , hãn 趕, xích 斥 , sấn 趁 , và qua chữ đuổi của vua Tự Đức: Xích 斥 : đuổi 訸 , ác: dữ, Sàn: hàn (CHL: từ 6b5). Chúng ta thấy chữ 訸 lấy nghĩa phù là chữ đồng nghĩa với chữ xích (xích 斥 trục 逐 dã) cho phép chúng ta có thể nói rằng nghĩa phù của đuổi (HĐ) là chữ sấn 趁 mà tục tự là 跈 (sấn trục dã).

Tám chữ đuổi trên không có một chữ nào là dùng bộ thủ để biểu ý, nó đều xuất phát từ một chữ Hán có ý nghĩa tương đương.(2)

C/ - Ông không phân biệt được chữ Nôm với chữ Hán.

Xuất phát từ quan điểm: Việt Nam viết chữ Nôm với âm Hán Việt, do đó hễ gặp chữ Nôm nào cùng tự dạng với chữ Hán GS. J.Bonet đều cho rằng đó là chữ Hán.

Thí dụ:

Chải 扯(3) chải đầu, Gs J.Bonet phân tích (Em S.A, tirer avec force, casser; se pron.xả). Dịch: Từ Hán Việt có nghĩa là kéo mạnh, bể, đọc là: xả.

Quả đúng là trong chữ Hán có chữ 扯 với nghĩa là rách như: Phong xả 扯 hồng tiêu nhưng hoán diệp (Bì Nhất Hưu).

- (Gió xé tàu chuối, lá vẫn thay).

Nhưng người xưa không thể dùng âm xả để ghi chải được, cũng không hề dùng nó để ghi từ mượn Hán Việt, vì chải với nghĩa chải tóc, không phải là từ Hán Việt. Đây thực ra là chữ hình thanh do người Việt sáng tạo. Âm phù là chỉ 止 chuyển vận theo luật thêm âm giữa thành chải. Nghĩa phù là 梳 , giảm nét 才 là ngụy tự của (= chải).

Chúng ta phân tích thêm chữ chải qua 3 thế kỉ trong các tác phẩm Nôm để xác minh thêm.

Soi gương chải 止 tóc cho đẹp lòng cha mẹ - [M. tháng 4 tờ: 67b]

Lấy lược nung lửa chải 扯 lên đầu -/M. tháng 2 tờ: 9a [Lý phát 理 髮 : chải 扯 tóc. - [CN. Thân thể cử thố: I/ Hình dung chải 扯 chuốt áo khăn dịu dàng - [A:1060]. B: 沚 C: .

Chữ chải của [M]: 止 (gt). Chỉ = dừng - vận. Trường hợp thêm âm giữa (épenthèse).

[M]: 扯 (ht). Nghĩa phù 才 (từ chữ gốc 梳 sơ. Đây là ngụy tự của 梳 sơ. Âm phù 止 chỉ - vận.

+ Chữ chải của [Bản C] (ht), > Nghĩa phù: 梳 sơ (= lý phát dã). Âm phù止 chỉ - vận.

Chữ chải của [bản B] 沚. Đây là chữ giả tá âm Nôm chảy - chải. Nghĩa phù: (từ chữ gốc 流 lưu). Âm phù 止 chải (n) - vận.

Bầy 悲 bầy chiên.

Phân tích chữ bầy, GS. J.Bonet viết: 悲 Bầy chiên troupegu de moutons (En S.A. ému, touche; se pron.bi). Dịch: Hán Việt đọc là bi ngậm ngùi, xúc động.

Quả đúng Hán văn có chữ bi 悲 với nghĩa thương xót, nhưng bên nôm không dùng âm Hán Việt này để viết chữ bầy mà dùng âm Nôm bây 悲 (n) - thanh. Những chữ bầy sau đây trừ (CN), còn lại đều dùng âm Nôm của chữ để ghi âm chứ không viết bằng âm Bi Hán Việt:

Dạ Minh 夜 明: khéo tốt chuột bầy 羣- [CN. Mao trùng: 31] Uống nước suối gọi bầy đi. - [TKML. Đào thị Nghiệp oan, tờ: 30a]

Khuyển Ưng lại chọn một bầy 曺 côn quang - [C: 1624]

Có bầy 虫悲 đom đom đóm đặng nhờ đi theo - [LVT: 1622]

Chữ bầy của /CN/: 羣(gt) đọc lấy nghĩa. Quần = bầy như: “Hạc lập kê quần: chim hạc đứng giữa bầy gà. Chữ 羣 của [CN] là 1 dạng của quần 群 .

Chữ bầy của [TKML] 排: (gt) bày (n); - vận, như.

Bày 排 hàng hoa quả tư mùa sẵn, - /HXH. Chợ trời: 5/ Nguyễn Thế Nghi dịch câu: “Ấm giản hô bằng khứ” của Nguyễn Dữ. Và bằng bối 朋 輩 bọn, bầy. Chữ bầy 排 này cũng là chữ của [M]

+ Chữ bầy của [bản C] cũng như của [CHL] 曺 : (ht). Nghĩa phù 亻(từ chữ gốc những: chúng dã, tức đám đông). Âm phù 排 bày (n) - vận.

Chữ bầy của [LVT] 虫悲 : (ht). Nghĩa phù (viết theo chữ đom đóm ). Âm phù bây (n) - thạnh.

Chữ gây 啓 GS J. Bonet viết: Gây 啓 querreller, provoquer (en S.A.agiter, provoquer se pron: hái) se transcrit aussi par le car 扌其 .

Đồng ý với Giáo sư ở điểm Hán văn có chữ 啓 đọc là hại với nghĩa: động dã, giảm dã. Nhưng tiền nhân của chúng ta có lấy âm hoặc nghĩa của chữ Hán này để viết chữ gậy đâu ? Thực ra đây là chữ Nôm viết theo (ht). Nghĩa phù扌(từ chữ gốc 挑 khiêu) (khiêu khích = gây sự, gây gổ). Âm phù 核 cây (n) g.n - âm. Nếu chữ gây 啓 này nằm trong câu:

Một tay gây 啓 dựng cơ đồ [A. B: 2464] thì nghĩ phù 扌sẽ là từ chữ gốc 搆 cấu (cấu tạo = gây dựng). Và gây dựng cũng nói là gầy dựng.

D/ - Sai lầm về tự dạng. Thí dụ:

[Thẻ]; 櫦 , mảnh tre, gỗ dùng để viết chữ. Gs J. Bonet phân tích: (Formé des S.A: trước 竹 bambou et bổn 体 grossier). Dịch: cấu tạo bởi từ Hán Việt, 竹 trước = tre và bổn 体 thô tục.

Như thế có đúng không? Đây là chữ Nôm viết theo loại (ht). Nhìn qua chúng ta nhận thấy ngay phần âm phù không phải âm “bổn” mà là âm “thể”, vì đây là chữ “thể” 體 (tục tự). Âm “thể” mới đọc sang âm Nôm là “thẻ” được còn âm “bổn” thì không. Ai cũng biết những nguyên âm trước [i] - [ê] - [e] theo luật di âm có thể đổi lộn nhau, như thế “thể” đọc ra “thẻ” rất khoa học. Hãy phân tích thêm những chữ Thẻ trong các bản Nôm khác:

Mảng tiếng oanh, khi thẻ 櫦 cạn - [DD. Táo:3]

Thẻ 笑 bài phụng chỉ, ngọn cờ vinh hương. - [NĐM: 2800]

Tỷ: ấn ngọc. Phù 符 : thẻ 馛 tre. - [KĐL 上 14a3] thỏ thẻ:

Ngoài song thỏ thẻ 冚 oanh vàng. [C: 239] - [A.B]: 矢

Nhìn chung những chữ thẻ ghi trên cũng đều viết theo (ht) trừ chữ của [Bản: A. B] viết 矢 (gt).

Về âm phù thì trước viết với thể - vận, sau viết với thỉ 矢 - vận đúng theo luật của phát âm học vì [i] - [ê] - [e] thuộc nguyên âm trước.

Về mặt nghĩa phù, tuy viết với trúc 竹 nhưng lại không cùng gốc.

1) Chữ thẻ của [B] nghĩa phù (từ chữ gốc giản = thẻ. Xưa không có giấy nên viết trên thẻ tre).

2) Chữ thẻ của [HĐ] 符 : nghĩa phù 竹 (từ chữ gốc 籌 trù = thẻ đếm. Xưa người ta dùng đồng hồ nước nên khắc thẻ để đo. Trong câu thơ, trời đã sáng, nghe tiếng oanh hót và nước đo đã cạn thì đó cũng là lúc bếp bắt đầu thổi nấu.

3) Chữ thẻ của [KDL] 櫦 : nghĩa phù 竹 (từ chữ gốc 符 phù như tín phù với việc Tín Lang Quân theo mưu của Hầu Doanh, trộm thẻ làm tin gạt Tấn Bỉ và dùng quân Ngụy giải vây cho Triệu đang bị Tần vây chặt).

4) Chữ thẻ (thỏ thẻ) của [Bản C]: 冚 Nghĩa phù 口 chỉ là ký hiệu phụ 口 .

Thính 櫿 : gạo rang rồi xay thành bột để thính mắm.

GS. J.Bonet viết chữ trên theo [G] và phân tích: (Formé des S.A : mễ 米 grain et ngận 听 entendre) - dịch: Cấu tạo bởi những chữ Hán Việt mễ 米 hột và ngận听 nghe.

Đây là 1 chữ Nôm viết theo (ht). Chúng ta không vội bàn đến phần nghĩa phù mà chỉ nói đến phần âm phù.

Hán văn có chữ này 听 đọc ra nhiều âm và âm ngận (ngữ cận thiết - [Tập vận]) với nghĩa tươi cười. Lấy âm “ngận” để viết chữ “thính” bên Nôm là không hợp lý, vì dù có chuyển âm, chuyển vận hay chuyển thanh thì “ngận” cũng không đọc ra được là “thính”. Chính Giáo sư cũng không ngờ rằng người ta lại dùng chữ 听 tục tự của “Thính” 聽 là nghe, viết quá nhiều nét như vua Tự Đức đã dùng: Tầm 奐今 là mắm thính 聽 , Bảo đồ cá hôi (TNL, 8b-4) để viết.

Bảy 斎 số bảy. GS. J. Bonet phân tích chữ bảy (Formé des S.A, thất 七 sept, mục 目 oeil et khứ 去 partir). - Dịch: cấu tạo bởi thất, bảy, mục 目 mắt và khứ 去 đi.

Giáo sư đã nhận xét sai, vì không nhận ra chữ bãi 罷 viết đơn 娻. Thời phong kiến có lệ “bát nghị” nghĩa là có 8 hạng người nếu phạm tội thì được xét lại và được giảm hoặc miễn tội mà bực hiền nhân và kẻ có tài năng thuộc vào hạng thứ 3, thứ 4. Vì thế chữ bãi 罷 của Hán văn viết theo hội ý. [Thuyết văn] của Hứa Thận đời Hán đã viết: “tòng võng 四 tòng năng 能 khiển hữu tội dã, Ngôn hữu hiền, năng nhập võng, tức thế khiển chi”. Thế thì trong chữ bãi 罷 không có mục 目 như Giáo Sư đã nghĩ.

Các cụ ta ngày xưa đã sáng tạo ra chữ bảy (số bảy) 斎 (ht). Nghĩa phù 七 thất = bảy. Âm phù 罷 bãi viết 娻- vận. Và chúng ta ngoài ra vẫn còn gặp dạng viết với 萙cũng như những dạng viết khác như:

[M] 娻 , 斎 , 才娻 , 才僴

Côn Tôn 昆 孫 : bảy 斎 đời cháu hiền [CN. Nhân luân:31]

Ít nhân sinh bảy 斎 tám mươi. [QÂ. Tự thán: 6 - 8]

Có kẻ kéo khan năm bảy 斎 lúc - [HĐ. Kênh Trầm: 7]

Má điểm yên chi bảy 萙 tám khuyên. - [HĐ. Phiên: 4]

Quả mai ba bảy đương vừa. - [C: 3075]

Xưa bảy 僴 kỷ chẳng về cùng chúa. [KLKP: 5b - hồi I]

Qua các dẫn chứng nêu trên, có thể thấy phần phân tích chữ Nôm của GS. J.Bonet, rất đáng trân trọng, nhưng cũng có nhiều sai sót. Những sai sót đã bắt nguồn từ quan niệm và phương pháp làm việc của tác giả đã được thể hiện trong lời nói đầu của bộ từ điển này. Ông viết: “... Les termes provenant de I’idiome primitif sont transcrits en caractères vulgaires formés au moyen des cefs chinoiseset étymologiquement décomosés les autres sont transcrits en caractères chinois, sans ancune altération graphique...” (bài tựa sách dẫn trên). Ông đã viết rất đúng khi cho rằng “Những từ Việt ngày xưa được ghi bằng chữ Nôm cấu tạo bởi những bộ thủ là tách rời ra từ những chữ Hán gốc. Nhưng không đúng khi nói: “Những chữ khác đều ghi bằng chữ Hán, không thay đổi gì về mặt tự dạng”(4). Và trong phân tích cụ thể các chữ Nôm (ht), ông chưa một lần chỉ ra chữ gốc đó là chữ nào, mà chỉ nêu ra bộ thủ, làm tiền lệ cho cách phân tích về sau này coi bộ thủ là nghĩa phù của nhiều học giả Việt Nam cũng như Pháp(5).

Vì sao Giáo sư không nêu ra được chữ Hán gốc mà Giáo sư đã nói? Bởi vì khi phân tích cấu trúc của 1 chữ Nôm, chúng ta phải có cái nhìn tổng quát xuyên suốt lịch sử và địa lý, cụ thể phải căn cứ vào các bản Nôm trên khắp ba miền và nhất các bản Nôm có xuất xứ, có niên đại nhưng đương thời có lẽ Giáo sư chỉ dựa vào những chữ Nôm trong các từ điển(6) nên không tìm ra được cái gốc đó.

Trên đây chỉ là một vài nhận xét bước đầu của chúng tôi trong quá trình tìm hiểu vấn đề “GS. J.Bonet với chữ Nôm”.

CHÚ THÍCH

(1) Bộ tư liệu chữ Nôm sắp xuất bản của chúng tôi.

(2) Về vấn đề phân tích sát nghĩa phù âm phù xin xem thêm: Chữ Nôm hình thanh - một thách đố đối với các học giả, Ngôn ngữ số 2 - 1993.

(3) Dấu hoa thị * GS. J. Bonet dùng để chỉ chữ Hán Việt.

(4) Chúng tôi gạch dưới để nhấn mạnh.

(5) Ô P. Midan, M. Durand.

(6) Từ điển: [T] [P] [G]./.

TB

NGUYỄN QUỲNH CÓ PHẢI LÀ
TRẠNG QUỲNH KHÔNG?

ĐÀO THÁI TÔN

Tình cờ đọc báo Văn Nghệ, thấy có bài công bố nhiều tư liệu về tiểu sử Nguyễn Quỳnh (1677 – 1748) mà theo tác giả, đây chính là nhân vật Trạng Quỳnh trong văn học trào phúng nước nhà, chúng tôi liền đọc một cách tò mò, chăm chú. Nhưng càng đọc kỹ, càng thấy nhiều chỗ ngờ ngợ, phân vân. Chúng tôi xin trình bầy những ý kiến của mình qua các tài liệu mà bài báo nêu ra(1) .

1. Về bản tiểu sử viết bằng chữ Pháp. Bài báo cho biết “Khi ông thân sinh tôi con sống, vào quãng 1970, đã có lần tôi mạnh bạo thổ lộ với ông ý đồ trên” (ý đồ viết Truyện Trạng Quỳnh -- ĐTT) – (...) ông nói “Thiết tưởng muốn viết một chuyên đề có tính chất nghiên cứu tương đối toàn diện và nghiêm túc về Trạng Quỳnh thì trước hết trong tay người biên soạn phải có một tài liệu gốc (...). Rồi ông thân tôi kể tiếp: Vào khoảng mùa thu năm 141 có một sinh viên khoa luật, người lân hương tênlà Quang Nhiên dẫn môt học giả người Pháp tên là Sét – nô đén thăm nhà thờ tổ phái ta (...) và xin chủ nhân cho xem gia phả. Làm gì còn gia phả để cho họ xem! (...). Thực ra từ bao năm trước đó cuốn gia phả chữ Hán vẫn để ở từ đường (...) đã bị thất lạc và trong tay thầy lúc ấy chỉ có một cuốn sổ cúng giỗ bằng chữ Nôm mà thôi”(2) .

Thế rồi năm 1977, cụ mất, tác giả bài báo về thụ tang cha, “tình cờ tìm thấy một bản giấy rời, khổ lớn chép tay bằng tiếng Pháp, ghi rõ ngày xác lập bản viết là ngày 15 – 9 – 1941” (...). “Đây đích thị là bản Pháp văn nói về hành trạng vị tổ phái, là vị tổ họ (Nguyễn Quỳnh) mà ông thân tôi đã soạn theo lời “khẩn khoản” của Sét – nô”.

Sau khi giới thiệu tương đối kỹ về văn bản này, bài báo tỏ ra lúng túng trong việc nhận xét về nguồn gốc tài liêu mà nhờ đó đã xác lập được bản tiếng Pháp kia. Ban đầu, tác giả viết: “Tôi thầm cảm ơn cha tôi lúc sinh thời đã dày công tìm tòi, đối chiếu, dịch thuật, ghi chép lại được một số nét về hành trạng thân thế cuộc đời thật của cụ tổ Nguyễn Quỳnh”. Song dường như cảm thấy mâu thuẫn, tác giả lại viết tiếp: “Bởi vì suy cho cùng những dòng chữ của cha tôi để lại cũng chỉ là viết theo ký ức, những điều truyền tụng từ đời này qua đời khác trong bản tộc, bản chi, nó không có sức thuyết phục, đối với đương thời, hậu thế, cũng như không có gì bảo đảm về mặt giá trị văn bản học cả”. Vậy thì bản tiếng Pháp này là sản phẩm ký ức do ông cụ nhà viết chay, viết bộ theo yêu cầu của Sét – nô, hay dịch từ sách nào ra? Ta không rõ được.

2. Về bản gia phả chữ Hán. Đây là bản mà bài báo xem là tư liệu gốc để xác minh tiểu sử Trạng Quỳnh. Nhưng, ngoài việc cho công bố 1 trang bản chụp và lời dịch trang 9 của gia phả, người đọc không được biết kỹ về lai lịch cuốn gia phả và trường hợp phát hiện nó một cách tỉ mỉ như văn bản tiếng Pháp trên đây. Người đọc có thể hỏi thêm nhiều chi tiết về tài liệu chữ Hán, như: khắc ván hay chép tay? Còn mới hay mùn nát? Ai soạn, soạn năm nào? Bản sao hay bản gốc? Nếu bảo đây là “quyển gia phả gốc” thì người đọc có thể hiểu hai cách: một là chỉ một bản được biên soạn trong thế kỷ của Nguyễn Quỳnh, bởi còn cháu gần gũi; hai là có nhiều bản đang còn ở vùng Thanh Hóa, nhưng qua nghiên cứu xác minh, thấy đây là “quyển gia phả gốc”. Những điều đó, tác giả bài báo chưa làm được. Thay vì, anh chỉ tiến hành so sánh bản – nói đúng hơn là trang – gia phả này với bản tiếng Pháp trên kia, và cho biết: “Sau khi phiên âm dịch nghĩa, chúng tôi liền đem so sánh với bản Pháp văn của ông thân tôi (...). Kết quả việc làm này khiến chúng tôi càng vững tin vào nguồn gốc văn bản”. Tin vào nguồn gốc văn bản là thế nào? Tức là tin vào bản gia phả kia có nguồn gốc là bản tiếng Pháp ư? Hay ngược lại? Chúng ta hiểu ý câu văn mà bài báo cũng muốn diễn dạt là: Sau khi đối chiếu như thế, tác giả vững tin rằng bản gia phả chữ Hán kia là tài liệu gốc.

Nhưng như thế anh đã làm một chứng mính không lấy gì làm thuyết phục: có ai lại mang một tư liệu “không có gì bảo đảm về mặt giá trị văn bản học” như anh tự nhận để làm chuẩn mực xác định một văn bản khác? Một sự lạ lùng nữa là: những chỉ tiết về ngày tháng, năm sinh cũng như năm mất của Nguyễn Quỳnh trong hai văn bản chữ Pháp và chữ Hán đều trùng khớp nhau như là cùng được biên soạn bởi một tài liệu nào đó. ấy vậy mà anh lại viết: “Như vậy, đem so với gia phả, năm sinh năm mất chỉ chênh nhau một tuổi? Còn mọi thời điểm khác về mốc giờ sinh, ngày sinh,tháng sinh, cho đến ngày tháng mất đều hoàn toàn khớp nhau. Sai số không đáng kể, trên thực tế, càng có ý nghĩa chứng minh một sự khẳng định”. Thú thật là tôi không thể hiểu được cái lô - gích của câu văn trên đây: “Tại sao đã “đều hoàn toàn khớp nhau” mà lại còn “sai số không đáng kể”? Và tại sao cái sự lý luận dó lại “càng có ý nghĩa chứng minh một sự khẳng định”... (!). Chứng minh một sự khẳng định là chứng minh cái gì - xét theo cả “trên thực tế” lẫn văn pháp câu văn?

Bay giờ, xin đi vào nội dung một trang gia phả đã được công bố. ở đây, có một chi tiết khá hấp dẫn. Đó là đoạn nói về tài năng của Nguyễn Quỳnh: “Ông “sớm nổi tiếng Nam triều Bắc quốc vì thế người nước nói rằng: “Thiên hạ không có người thứ ba ngoài Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Nghiễm (tiến sĩ triều Lê). Đến nay mọi người còn ngợi khen”. Tác giả hài báo bình luận về chi tiết này: “Bản phụ biên trên kia chép rành rọt: “Nguyễn Quỳnh sinh năm Chính Hòa thứ 17, đỗ hương cống loại ưu (giải nguyên) bấy giờ vừa 20 tuổi” ở một chi tiết khác lại ghi “Thiên hạ không có người thứ ba ngoài Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Nghiễm (tiến sĩ triều Lê)”. “Điều đó có nghĩa là Trạng Quỳnh chưa bao giờ đỗ trạng nguyên cũng chưa bao giờ đỗ tiến sĩ nhưng từ trẻ ông đã nổi tiếng văn tài, đã từng chiếm bảng đề danh đệ nhất mộ tkhoa hương thí. Và người đời – qua một cách ca ngợi bóng bẩy – không dễ gì lại chịu để tên ông gắn liền, thậm chí còn đặt lên trước tên một ông nghè danh tiếng như Nguyễn Nghiễm (thân sinh ra nhà thơ Nguyễn Du ) lúc bấy giờ”.

Ở đây có hai vấn đề phải bàn:

Thứ nhất, chúng tôi hoàn toàn đồng ý là “Trạng Quỳnh chưa bao giờ đỗ Trạng nguyên cũng chưa bao giờ đỗ tiến sĩ. Còn Nguyễn Quỳnh, theo gia phả này thì đúng là đỗ giải nguyên. Như vậy, người ta phải gọi là Giải quỳnh (như Phan Bội Châu được gọi là Giải San chứ không ai gọi là Cống Quỳnh. Thế mà Trạng Quỳnh từ xưa vẫn được gọi là Cống Quỳnh. Hay là ở Thanh Hóa còn có Nguyễn Quỳnh nào khác, cũng đỗ hương cống chứ không phải Nguyễn Quỳnh này? Đó là một sự lạ.

Sự lạ thứ hai ở đây là việc đem Nguyễn Quỳnh so sánh với Nguyễn Nghiễm. Chúng tôi không rõ ai soạn gia phả này và soạn vào năm nào, chứ sự so sánh này là rất kỳ lạ – nếu không muốn nói là không bình thường cho lắm. Bởi lẽ, Nguyễn Nghiễm sinh năm 1707, nghĩa là kém Nguyễn Quỳnh (1677 – 1748) những 31 tuổi. Khi Quỳnh 30 tuổi Nguyễn Nghiễm còn nằm trong thai. Vậy thử hỏi lại mang so sánh một ông giải nguyên với đứa trẻ con nằm trong bụng mẹ? Xét về học lực và sự kinh lịch của hai người này thì thấy cũng chênh lệch nhau lắm. Bởi vì một ông Cống hay ông Giải nguyên chăng nữa, cũng chỉ phải lều chõng đi thi, đọ bút với sĩ tử hàng tỉnh, chứ còn để đạt được “học vị” Tiến sĩ hay Hoàng giáp như Nguyễn Nghiễm thì đã phải ít ra là hai lần đọ bút với sĩ tử toàn quốc (qua kỳ thi Hội, thi Đình). Học hành mà đến mức mang bút đi thi Đình thì hầu như là danh sĩ toàn quốc biết nhau cả. Thực chất họ đâu còn là học trò. Đó là cuộc đọ bút của các quan lại, của các tài năng cả đấy chứ Nguyễn Nghiễm là người học hành như vậy. Còn văn tài và quan tước của ông như sau “1731 (niên hiệu Vĩnh Khánh thứ ba) đậu Hoàng Giáp làm đến Công bộ thượng thư, tham tụng tri Quốc tự giám, kiêm Đông các, Quốc sử quán tống tài, Thái bảo đại tư không, tước Xuân quận công. Ông là người có sáng kiến tổ chức dịch trạm từ Kinh Bắc đến Nghệ An và Lạng Sơn. Ông không những giỏi về chính trị, văn thơ nổi tiếng mà cònlà một nhà sử đứng đắn. Sách sử của ông nay mới chỉ biết nhiều đoạn trích dẫn trong bản Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Nhậm, in năm Cảnh Thịnh (1800) đời Tây Sơn. Tác phẩm của ông có: Cổ lễ nhạc chương thi văn tập (văn), Việt sử bị lãm (sử); Quân trung liên vịnh (văn); Lạng Sơn toàn thành đồ chí (sử)” (Theo Trần Văn Giáp: Lược truyện các tác giả Việt Nam, Tập I KHXH, H, 1971).

Còn Nguyễn Quỳnh trong gia phả này, chưa lọt được vòng thi Hội, tuy cũng có dự thi: Ông ta chỉ là một ông đồ nghèo dạy học ở vùng quê Thanh Hóa, rồi Sơn Tây. Cả thời tráng niên của ông, một nách lo nuôi bốn trai mọt gái, phụng dưỡng mẹ già rồi còn xây dựng, di chuyển mồ mả tổ tiên.

Vả chăng, ngoài Nguyễn Nghiễm, trước sau và đương thời với Nguyễn Quỳnh, đất nước ta còn lừng lững những nhân tài trong đó lấp lánh những văn tài thì, sự so sánh kia thật quả là không phải vậy! Với lại, ngoài những lời khen ngợi ông mà gia phả ghi chung chung như “sớm nổi tiếng Nam triều Bắc quốc” và sự so sánh với Nguyễn Nghiễm người ta chưa thấy ông để lại được áng thơ văn nào khả dĩ tương ứng với lời khen. Kinh nghiệm cho thấy, thường là các dòng họ mà có những người nổi tiếng văn tài, khi chép vào gia phả, thế nào con cháu cũng ghi lại những giai thoại hoặc một vài sáng tác tiêu biểu của họ. Chẳng hạn, nhờ có gia phả họ Hồ ở Quỳnh Lưu, người ta có thể tìm được một bài thơ của Hồ Sĩ Đống; nhờ có gia phả họ Lê, họ Bùi, văn học ta đã lưu lại được Quân trung bảo huấn phú của Bùi Vinh (1508 – 1545) hoặc bài hát bằng chữ Nôm của Lê Đức Mao (1462 – 1529) viết cho ả đào hát trong dịp hội xuân mà Hoàng Xuân Hãn đã ghi lại trong Thi văn Việt Nam. Nguyễn Quỳnh thì không thế. Nhưng lần này, tác giả bài báo cũng đã “sưu tầm thêm được một số bài văn của Nguyễn Quỳnh biên soạn bằng chữ Nôm, trong đó có ba bài văn tế đã trực tiếp dịch ra quốc ngữ”. Câu này vì sao chưa rõ: vì sao biết rằng Nguyễn Quỳnh soạn? Ngoài ba bài văn tế còn những bài gì? Văn có hay không? Ai đã trực tiếp dịch ra quốc ngữ? Theo tinh thần câu văn thì phải hiểu là Nguyễn Quỳnh trực tiếp dịch. Nhưng thời Nguyễn Quỳnh đã làm gì có chữ “quốc ngữ”. Vậy thì chắc là tác giả bài báo đã nhờ ai dịch. Nhưng chữ Nôm là chữ của người Nam ta, phải gọi là phiên âm chữ sao lại gọi là dịch?

3. Vậy chúng ta hãy thử đọc lại ba bài văn tế Nôm được trích giới thiệu trên báo. Nếu là văn tế dịch từ chữ Hán ra chữ Nôm, thì ta có thể còn ngờ người dịch non kém. Nhưng đây là Văn tế Nôm nên về nghệ thuạt văn chương cũng như ngôn từ, ta không phải nghi ngờ gì nữa.

Khoan chưa nói tới những câu văn quá hiện đại ở những đoạn trích này, như chữ “bản thân”, như câu “mệt tinh thần đến nỗi bệnh tái phát liên miên mà tạ thế... mà chỉ xét về mặt văn thể, ta thấy đẫ không ổn rồi. Có thể không sợ sai lầm nếu nói rằng đây không phải là Văn tế. Nói cho rõ hơn: Đây không phải là những bài văn tế được viết bởi một người đã qua trường thi, đã được học hành, đỗ đạt và mang tiếng là giỏi văn chương. Trong kho tàng văn học của chúng ta, Văn tế nghiễm nhiên như một thể loại tồn tại bình đẳng với các thể loại khác, được người đọc yêu chuộng, thưởng thức và mang tính nghệ thuật cao. Đi vào kho tàng ấy, ta sẽ thấy: nào là con tế cha, vợ tế chồng, em tế anh, trò tế thầy v.v... rất phong phú. Là một thể loại, nó mang những quy phạm nghiêm ngặt mà ở đó những đề, thực, luận, kết ; những đăng đối chắc nịch; những âm hưởng ngậm ngùi bi thương bi tráng... đều hiển hiện rõ trong từng trường hợp cụ thể. Thời đại Nguyễn Quỳnh là thời đại mà văn xuôi chưa thể cựa quậy được là bao để vươn tới một lối văn gần ngôn ngữ đời thường. Văn tế càng không thể nào thoát được đặc tính thể loại của nó. Nói đâu xa, ngay Nguyễn Hữu Chỉnh (mất sau Nguyễn Quỳnh hàng mấy chục năm) mà Văn tế chị của ông còn lâm ly mãi tới bây giờ. Rồi văn của Bùi Huy Bích tế thầy học là Lê Quý Đôn. Rồi mãi đầu thế kỷ này, Phan Bội Châu tế Phan Chu Trinh, hay trước đó Nguyễn Đình Chiểu tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc, thậm chí văn tế F.Gac-nhe (Garnier)... vẫn là lối văn đăng đối trữ tình mẫu mực muôn thuở ấy. Ngược lại, đọc những đoạn trích ba bài văn tế được trích giới thiệu trên số báo kia – ngay cả bài mà tác giả bài báo cho là hay nhất, người đọc vẫn thấy không thể nào chấp nhận được – dù chỉ với ý nghĩa xét về mặt đặc trưng thể loại.

Chúng tôi mong các chuyên gia về hình thức và thể loại thơ văn Việt Nam và tác giả cuốn Văn tế Việt Nam cổ và kim cho ý kiến xem: đây có phải là văn tế của đầu thế kỷ XVIII, được viết bởi một nhà khoa bảng không, hay là những trang văn xuôi kể lể của thế kỷ XX, mà văn chương là văn của ông thầy cúng nào đó của thế kỷ này?

Trở lên, chúng tôi đã trình bày những phân vân của chúng tôi về ba tài liệu liên quan đến Nguyễn Quỳnh cùng độ chuẩn xác của từng tài liệu. Lẽ ra bài viết cũng có thể kết thúc, song chúng tôi xin phép được nói thêm: trong tình hình tư liệu văn học trung, cận đại của chúng ta hiện nay, việc xác minh tiểu sử của một số tác giả văn học thành văn nhiều khi đã rất khó – huống chi một nhân vật như Trạng Quỳnh từ lâu vốn chỉ tồn tại như một nhân vật của các giai thoại. Tìm được tiểu sử và những hành trạng của Trạng Quỳnh là một điều vô cùng “giật gân” nhưng không phải việc làm dễ dàng – nếu không muốn nói là không thể nào làm được.

Bởi vì, chẳng hạn nếu chúng ta quan niệm những trang gia phả của Nguyễn Quỳnh như những trang tiểu sử đích thực của nhân vật Trạng Quỳnh, thì liệu chúng còn chấp nhận được bao nhiêu giai thoại trong cuốn Truyện Trạng Quỳnh nếu biên soạn lại? Mà nếu công nhận Nguyễn Quỳnh tức Trạng Quỳnh (tức là Trạng Quỳnh là tác giả của ba bài văn tế non kém trên đây) thì những giai thoại nào đụng tới tài ứng đối mẫn tiệp, lối chơi chữ nhanh nhạy, chát chúa của Trạng Quỳnh sẽ không còn nữa. Thế là trong kho tàng truyện cười dân gian Việt Nam sẽ mất Truyện Trạng Quỳnh, chỉ còn giữ lại được 9 trang gia phả của ông Nguyễn Quỳnh với những bài văn tế như chúng ta vừa nhận xét! Làm sao Nguyễn Quỳnh có thể là Trạng Quỳnh được khi mà từ bao đời nay trong dân gian vẫn ghi lại giai thoại Trạng chết chúa cũng băng hà: Truyện ghi lại rằng: Sau nhiều lần bị Quỳnh chơi khăm, nhà chúa căm tức, muốn ám hại Quỳnh bằng cách cho vời Quỳnh vào phủ chúa dự tiệc. Biết đã bị đầu dộc, về nhà. Quỳnh thung dung nằm võng chờ chết, và dặn lại vợ con “Bao giờ thấy phủ chúa phát tang thì ở nhà vợ con mới được kêu khóc. Quả nhiên, chúa cho người đi dò xét, thấy Quỳnh vẫn nằm võng như thiu thiu ngủ, bèn cho mang thức ăn đã đầu độc Quỳnh tới “nếm thử”. Quả nhiên chúa mắc mưu Quỳnh lăn ra chết! Vì vậy dân gian có câu: “Trạng chết chúa cũng băng hà - Dưa gang đỏ đít, cà già đỏ chôn”. Vậy chúa đây là chúa nào nhỉ? Giở gia phả Nguyễn Quỳnh ra coi, ta thấy ông sinh năm 1677, mất năm 1748. Vậy năm 1748, có vị chúa nào chết theo Nguyễn Quỳnh không? không! Trong lịch sử Việt Nam, vào đời vua Lê chúa Trịnh không thấy ông chúa nào chết vào năm 1748 cả. Tra ra ,ta thấy từ thời tráng niên, Nguyễn Quỳnh ứng với hai đời chúa: Trịnh Giang vào đời Lê đế Duy Phường và Trịnh Doanh (14740 – 1767) vào đời vua Lê ý Tông. Vậy nếu Nguyễn Quỳnh đúng là Trạng Quỳnh trong truyện dân gian thì Trịnh Doanh phải chết từ năm 1748 chứ!

Chung quy, bài “Nguồn gốc Trạng Quỳnh” thực chất chỉ còn là việc giải đáp lần lượt ba câu hỏi sau đây: Có thực là có một Nguyễn Quỳnh (1677 – 1748) không? Có những bằng chứng gì để cho rằng Nguyễn Quỳnh chính là Trạng Quỳnh? Phải chăng nhân vật trong Truyện Trạng Quỳnh chính là Nguyễn Quỳnh? Trong đó câu hỏi thứ ba chỉ là hệ quả của lời giải đáp hai câu hỏi trên.

Về câu hỏi thứ nhất. Theo chúng tôi, nếu có ai “không tin vào quãng cuối thể kỷ XVIII, giữa thế kỷ XVIII có thật là có một người tên là Nguyễn Quỳnh” như tác giả bài báo phàn nàn thì đó là những người không tôn trọng sự thật vì nhà thơ Nguyễn Quỳnh còn đó, gia phả còn đây. Chúng ta công nhận hoàn toàn là Nguyễn Quỳnh (1677 – 1748) là người có thật, đỗ Giải nguyên vào năm 20 tuổi .

Về câu hỏi thứ hai. Việc giải đáp câu hỏi này phụ thuộc hoàn toàn vào tính khoa học, độ tin cậy của ba tài liệu mà bài báo đã đưa ra. Nếu ba tài liệu đó là chuẩn xác, “nguồn gốc Trạng Quỳnh” sẽ được hiểu là Nguyễn Quỳnh; ngược lại, “nguồn gốc Trạng Quỳnh” bắt nguồn từ những câu chuyện “nói trạng” của nhân dân vùng Thanh Hóa.

Nếu “nguồn gốc Trạng Quỳnh” là Nguyễn Quỳnh, thế tất chúng ta phải sử dụng gia phả trên đây như tiểu sử tác giả Truyện Trạng Quỳnh, và phải hiểu rằng: phần lớn những lời đối đáp, những giai thoại từ lâu nay trong Truyện Trạng Quỳnh là sản phẩm trí tuệ của Nguyễn Quỳnh, là bởi ông, do ông mà có. Lúc đó, Truyện Trạng Quỳnh sẽ được biên soạn để in lại, sao cho phù hợp với lai lịch Nguyễn Quỳnh, mà ở đó ông sẽ đứng tên ngoài bìa với tư cách tác giả, nhưng ruột sách là do học trò ghi chép, tu soạn lại lời thầy – như sách của A-rit-xtốt hay Luận ngữ, Mạnh tử, ở Trung Quốc chẳng hạn. ở đây nhân dân đóng vai trò ghi chép đó.

Còn như, nếu quan niệm “Nguồn gốc Trạng Quỳnh” là Nhân Dân, những giai thoại đối đáp của Trạng Quỳnh chính là những tác phẩm sáng tác dân gian, mà ở đó, nhân dân vùng Thanh Hóa có nhã ý mượn một ông Cống Quỳnh nào đó làm cái “ê-tê-két”, “cái “mác”, đặng phong cho ông lên bậc “Trạng” để tập hợp, truyền bá những sáng tác của mình – thì vấn đề có khác đi, nội dung bài “Nguồn gốc Trạng Quỳnh” của Nguyễn Đức Hiền trên đây sẽ thoáng và sáng hơn cả về bố cục lẫn nhận định, dẫn dắt.

Ở đây, chính vì không nhận định rành rẽ những hàm nghĩa mà hai chữ “nguồn gốc” vốn có, lại không xác minh kỹ từng tư liệu nghiên cứu, nên những ý tưởng quán xuyến xuốt bài báo lại là sự khẳng định một cách võ đoán cái điều mà câu hỏi thứ ba chưa được làm sáng tỏ: Nguyễn Quỳnh là Trạng Quỳnh. Và từ đó tác giả lại dùng sự khẳng định vội vã đó như là một cứ liệu để soi vào các tài liệu, các nhận định khác.

Đây không phải là suy luận của chúng tôi, mà quả thật, xuyên suốt bài háo là tư tưởng đó, ngôn từ và chữ nghĩa đó. Ngay đoạn mở đầu bào báo tác giả đã muốn trói chặt người đọc vào một quan niệm kỳ lạ: Tại sao anh chưa chứng minh được Nguyễn Quỳnh là Trạng Quỳnh mà đã mang lai lịch của ông ra để phê bình các sách Truyện Trạng Quỳnh từ bốn chục năm nay là sai lầm vì... không viết theo lai lịch Nguyễn Quỳnh (!)? Sao anh lại bắt người đọc chấp nhận cái điều mà người ta đang rất cần anh chứng minh, là linh hồn của bài báo để mà hy vọng, trông chờ? Làm gì có nguyên bản Truyện Trạng Quỳnh mà anh bảo có những sách in theo? Nào có ai không tin rằng có một Nguyễn Quỳnh mà anh phê phán?

Sự quán xuyến đó đã làm cho nhiều nhận định của bài báo không tránh khỏi thiên lệch về Truyện Trạng Quỳnh cũng như về bản thân nhân vật Nguyễn Quỳnh. Đó là khi tác giả muốn” viết lại một chuyên đề tương đối toàn diện về Trạng Quỳnh cùng với cách xây dựng những giai thoại thế nào cho tương xứng với bản chất diện mạo, tính cách và sự nghiệp vị tổ khai sáng dòng họ của mình. Đương nhiên đã cũng là sự nghiệp của một con người lỗi lạc, đại diện cho trí tuệ và tài năng của nhân dân...” Đó là khi anh viết tiếng cười của Truyện Trạng Quỳnh (mà ở đây tác giả muốn bạn đọc hiểu là của ông Nguyễn Quỳnh): “có thể vượt cả không gian lẫn thời gian đủ sức vang vọng non – sông - đất – nước này trong suốt gần ba thế kỷ” (!). Viết đến như thế thì tôi không biết khi viết về những anh hùng dân tộc hay những danh nhân văn hóa ở thế kỷ trước, trong, và sau Nguyễn Quỳnh (hay dù là Truyện Trạng Quỳnh chăng nữa), liệu anh còn từ nào nữa để mà dùng?

Câu chuyện “nguồn gốc Trạng Quỳnh là câu chuyện khoa học, chứ đâu phải là chuyện của một cá nhân, một dòng họ Nghĩa là nó cần được trao đổi cho sáng thêm. Có thế mới tránh được những điều lẽ ra không nên có. Đó cũng là việc gây không khí trao đổi lành mạnh trong khoa học mà lẽ phải và trọng tài ở đây bao giờ cũng thuộc về sự phán xét của bạn đọc.

3 – 1985
ĐTT

CHÚ THÍCH

(1). Xem bài Nguồn gốc TrạngQuỳnh của Nguyễn Đức Hiền, báo Văn nghệ, số 10, ngày 9 – 3 - 1985.

(2).Những câu chữ in chữ nghiêng trong bài này là do chúng tôi. ĐTT

TB

CHUÔNG THỜI MẠC Ở CHÙA SƠN
XÃ QUỲNH GIAO (THÁI BÌNH)

ĐINH KHẮC THUÂN

Chùa Sơn ở thôn Sơn Đồng, có tên chữ là Tư Phúc tự, thuộc xã Quỳnh Giao, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, cách thị trấn Quỳnh Phụ chừng 3 km về phía Tây bắc. Chùa nằm ở mé làng, trên một khu đất cao, thoáng mát. Phía trước có sân chùa và ao chùa; phía sau có vườn cây và khu mộ tháp của chùa. Ngôi chùa hiện tại chỉ là một tòa ba gian với một gian hậu, làm thành kiểu chuôi vồ. Theo lời kể của dân làng thì ngôi chùa này trước đây khá quy mô: có gác chuông, nhà tổ, nhà tăng, phòng oản với hơn một mẫu ruộng hương hỏa. Lễ hội hàng năm thu hút hàng trăm Phật tử, hàng ngàn du khách thập phương. Trải năm tháng, chùa bị hư hỏng nhiều, nhưng cũng đã được tu bổ gìn giữ, và trong những năm gần đây được Nhà nước quyết định xếp hạng di tích lích sử. Trong sân chùa hiện có 3 bia đá (mới được thu nhặt về) trong đó có 2 bia thời Lê ghi việc sửa chữa chùa và sắc chỉ của chúa Trịnh miễn phu phen tạp dịch cho dân làng để lo việc cúng Phật; một bia thời Mạc, dựng năm Diên Thành 7 (1584), ghi việc tạc một pho tượng Di Đà độc tôn của chùa. Trong chùa, Phật điện mới được tu bổ khá uy nghiêm. Quả chuông đồng treo ở gian bên trái chùa. Sở dĩ quả chuông này còn lại đến ngày nay là bởi nhiềulần trong những lúcloạn li, thăng trầm của lịch sử nó đã được dân làng thả xuống giếng sâu.

Chuông cao 1,05 m (thân cao 0,8 m, quai chuông cao 0,25m). Đường kính miệng 0,60m. Quai chuông là hai hình rồng đấu lưng vào nhau. ở giữa đỉnh quai chuông, được gắn thêm hình nậm rượu. Thân chuông chia làm 4 múi theo chiều dọc. Mỗi múi lại chia làm 2 khoang theo chiều ngang. Khoang trên lớn khoang dưới nhỏ. Ngăn cách các múi và các khoang là những gò nổi. Phần giáp ranh 4 múi và bốn khoang dưới là 4 múi tròn. Bốn múi này tượng trưng cho 4 hướng: đông, tây, nam, bắc. Ngoài ra, còn 2 núm khác dùng để thỉnh chuông, nằm ở phía trên các múi này, đối xứng nhau. Miệng chuông hơi loe, khắc nổi hình cách sen kép, liên tiếp. Tên chuông gồm 12 chữ: “Quỳnh Côi huyện, Sơn Đồng xã, Tự Phúc tự, tạo hồng chung”chia đều trên 4 múi, được khắc chìm, nét chữ khá to. Văn bản được viết băgng chữ Hán gồm lời tựa, bài minh, phần lạc khoản và phần kể tên người công đức; cả thảy khoảng 1800 chữ, được khác kín trên thân chuông. Dòng lạc khoản cho biết chính xác chuông được đúc vào ngày 17, tháng tư năm Quảng Hòa 4 (1545). Đây là một trong số ít chuông Đồng có niên địa sớm hiện còn ở nước ta sau chuông Thanh Mai (Hà Tây) thế kỷ VIII và hai, ba quả chuông thời Trần khác. Phần lớn số chuông hiện có ở các chùa làng Việt Nam đều được đúc vào thời Tây Sơn và thời Nguyễn.

Đặc điểm nổi bật về hình thức quả chuông thời Mạc này là ở đỉnh quai chuông có hình nậm rươu, 6 núm chuông được phân rõ chức năng để gõ và để chỉ biểu trưng khác, vành chuông có hình cánh sen kép. Tên chuông gồm nhiều chữ được khắc chìm. Đặc điểm này còn bắt gặp ở một số quả chuông thời Lê khác như chuông chùa Đồng Sâm, xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, đúc năm Hoàng Định 8 (1608), chuông chùa thôn Phúc Lai xã Phú Xuân, thị xã Thái Bình đúc vào niên hiệu Vĩnh Thịnh (1705 – 1719) và một vài quả chuông đúc vào niên hiệu Chính Hòa (1680 – 1705), Cảnh Hưng (1740 – 1786) khác. Đặc điểm trên hầu như đã vắng bóng trên chuông thời Tây Sơn và thời Nguyễn về sau.

Văn bản khắc trên chuông thời Mạc này do Huấn đạo phủ Tân Hưng là Phạm Hộc Lạc Thiện soạn. Phần kể tên người công đức do Biên ký (thứ ký) Nguyễn Công Tích và Nguyễn Hoa ghi chép với sự trụ trì của sư chùa Trí Chân Tì khâu.

Việc phát hiện quả chuông thời Mạc này, góp thêm một di vật quý trong sưu tập chuông cổ của nước ta hiện còn rất ít ỏi. Văn bản trên chuông là nguồn tư liệu quý giá. Trong bài viết này, chúng tôi không đi sâu phân tích mà chỉ muốn giới thiệu toàn bộ văn bản để cung cấp cho độc giả và các nhà nghiên cứu tham khảo và sử dụng.

Sau đây là phần phiên âm và dịch nghĩa (có lược bớt một số tên người công đức) bài văn khắc trên chuông.

Phiên âm: Quỳnh Côi huyện Sơn Đồng xã Tư Phúc tự tạo hồng chung.

Sơn Đồng xã Tư Phúc tự chung tự.

Chung bát âm, kim thuộc nhạc khí chi địa dã. Tự đại Hùng thị xuất thế dĩ vi pháp âm, minh lục thời nhi cảnh tứ chúng yên. Việt hữu Tư Phúc tự Sơn Đồng chi địa phúc điền dã. Cổ chi nhân diệc hữu vân sơn thạch tả địa tài nhi tạo chi giả, hữu phát dẫn tiền, chú vi hồng chung. Kỳ gian lập sổ xích chi thạch, thuyên vô cùng chi công, tức Tư Phúc tự bi dã. Bi vĩnh vi minh lâu chi truyền, tự diệc tác danh lam chi đại; kế thị dĩ lũy nhị bách dư niên. Tư bi tư đức, đọc chí kim hữu cổ tự, cổ chung cơ tùy kiếp hóa, đại hóa, đồ tân, vong phế cụ cử. Bản thôn lão thái, đại tiểu đẳng công xuất gia tư trùng cấu kỳ tự nhi tân chi. Đăng ngạn giả đắc dĩ dục y, khất linh giả mạc bất quả (...)(1) vi công đức chi lâm, sở khiếm giả chung nhĩ. Đại sĩ Nguyễn Dự, Phạm Hoan, Phạm Hợp đẳng phát tứ vô lượng tâm. Quảng Hòa tứ niên tứ nguyệt thập thất nhật, bản hương quan viên đại tiểu đăng cập bản huyện cá xã thái ông lão bà, thiện nam tín nữ tập đàn việt, quyên cốc thời, tụ trung hợp triệu Đâu thị phạn thiên địa chi lư, phiến âm dương chi thán. Kim công hiến xảo, hỏa cung (...)(2) . Bất nhật nhi hồn chung cáo thành. Đãi thực thị niên bát nguyệt thập bát nhật Giáp Thân dã, tức nhi quan chi, trung thế li hư, ngoại mô càn tượng; ngưng phù chất hữu kim chi kiên, đại kỳ thanh như ngọc chi chấn. Cổ chi quý âm, phi đồ văn ư kỳ nhĩ, nhi diệc mục kiến chi tường. Khấu dư minh văn dĩ thọ bất hủ. Dư viết: thiên đạo mặc nhiên tự vận. Cố đãi lôi nhi phát (...)(3) pháp huyền dĩ (...)(4) . Suy hữu chung nhi cảnh tứ chúng. Kỳ vi thanh tuy bất đồng nhi cảm phát nhân vật sơ vị thường dị. Tư chung chi tạo vân hồ tại? Sở dĩ chương thiên thanh, tuyên tượng giáo nhi vi đại pháp khí dã. Tưởng kỳ tuân cự giao giang minh lao dật hống. Sương sơ (...) bồi hồi lực hư, nguyệt hậu hâm hâm thấu triệt vạn hữu. Thính chi giả hưng khuyến thiện trừng ác chi đoan, văn chi giả động trung quân ái thân chi niệm. Tương sử nhất hơn hàm hựu lợi lạc chi thiên đồng quy bình an chi địa. Tác tư chung dã, phi đồ tỉnh ư Thích giáo, thực hữu văn ư thế giáo dã, nhi đại sĩ cập bản thôn tác thiện chi tâm, hiếu thí chi báo, ninh khả lượng hồ; chí hỉ thiện duyên. Vô dĩ đẳng thùy chi vô cùng, mạc như minh. Minh viết:

Nhược tích cổ nhan hề, Dụng khai gia tư;

Toạ Tư Phúc tự hề, lập công đức bi.

Cổ chung kiếp hóa hề, Khắc văn do thùy.

Cổ tự (...) cửu hề, ốc tài tiệm trụy.

Đương hươnglão thiếu hề, Diệc phát đại từ.

Lạc chủng thiện duyên hề, Trung cấu chiêu đề.

Chú (...)(5) hồng chung hề, Minh vụ lục thời.

Đỗ đa tục lự hề, Bài khước tâm cơ.

Nhân vật hàm phát hề, lợi tế phổ thi.

Pháp âm trường bá hề, Pháp khí gia trì.

Đại tuyên tượng giáo hề, Đại dáng hồng hi.

Trùng sơn Đồng bảo hề, Khinh thạch anh kỳ.

Đỉnh xuất thế Phật hề, Quảng tích đức cơ.

Y bát địa thụ hề, Hương hỏa duyên nghi.

Tùy minh dáng vũ hề, hữu thu dự kỳ.

Vô đẳng công đức hề, Bất khả tư nghị.

Thời.

Quảng Hòa vạn vạn niên chi tứ, Giáp Thìn quý thu chi cát. Tân Hưng phủ Nho học Huấn đạo Phạm Hộc LạcThiên soạn.

- Biên ký Nguyễn Công Tích, Nguyễn Hoa.

- Gia trì pháp sự pháp tính Tì khâu, Trí Chân Tì khâu. Thiện Thi huyện, Anh Nhuệ xã Thượng Bảo Giám san,Thư cục Cục phó Vũ Đạo san.

- Tín chủ Sơn Đồng thôn đại sĩ tính các xã đại sĩ: Nguyễn Cửu Thái (...)(6) .

- Bảo thôn tín thí (...)(7) .

- Tín thí bản huyện các xã (...)(8) .

Dịch nghĩa: Tạo chuông lớn chùa Tư Phúc, xã Sơn Đồng, huyện Quỳnh Côi.

Lời tựa khắc trên chuông chùa Tư Phúc xã Sơn Đồng.

Chuông là một nhạc khí lớn thuộc “kim” trong bát âm(9) . Từ khi Phật xuất thứ, đã lấy chuông làm Pháp âm; khua vang sáu thời(10) , cảnh tỉnh tứ chúng(11) . Ngày trước, chùa Tư Phúc là một đại phúc điền của xã Sơn Đồng. Người xưa đã chuyển đá núi, góp tài vật mà dựng lên ngôi chùa này. Lại bỏ tiền của đúc quả chuông đồng. Khi ấy đã dựng bia đá cao vài thước, khắc ghi công đức, để truyền dài lâu. Đó chính là bia chùa Tư Phúc vậy. Bia mãi mãi trường tồn. Chùa cũng thành danhlam, kế nối hơn 200 năm. Bia này, công đức này vẫn còn đến nay. Tuy nhiên chùa cổ, chuông cổ cùng theo vòng sinh hóa: mới rồi cũ, phế lại hưng. Nay già trẻ lớn bé trong thôn nhà bỏ tiền của trùng tu chùa làm cho mới thêm, khiến người đến bờ giác có chốn quy y; người cầu linh nghiệm đều được ứng đáp. Mọi người thường lấy đó là nơi vun trồng công đức. Duy còn thiếu chuông đồng. Nay các đại sĩ Nguyễn Dự, Phạm Hoan, Phạm Hợp cùng phát lòng vô lượng, vào ngày 17 tháng tư năm Quảng Hòa 4 (1545), hương lão quan viên trên dưới cùng thiện nam tín nữ, thái ông lão bà của các xã trong huyện mở hội bố thí, bấm chọn giờ lành, mời thợ, mở lò càn khôn, quạt lửa âm dương. Thợ đúc trổ khéo, lửa lò ra uy. Chẳng mấy mà chuông lớn đã thành. Đó là ngày 18 Giáp Thân, tháng 8 năm nay. Nhìn chuông: trong là hình quẻ li(12) trống rỗng, ngoài thì giống hình quẻ càn(13) rắn rỏi. Chất ngưng kết, cứng tựa vàng. Tiếng chuông lớn vang như ngọc. Quả là những âm thanh quí xưa nay. Không chỉ cốt nghe thấy bên tai mà còn muốn nhìn tận mắt, nên đã nhờ tôi làm bài văn khắc lên chuong để lưu truyền dài lâu. Tôi thưa rằng: Đạo trời xoay vần tự nhiên. Xưa phải đợi tiếng sấm mà tỏ rõ lẽ huyền diệu của giáo pháp. Nay có tiếng chuông, cảnh tỉnh chúng sinh. Hai âm thanh tuy không giống nhau, nhưng tác dụng cảm phát con người và sinh vật xưa nay không hề khác lạ. Bởi vậy, việc tạo đúc chuông là để ngân lên tiếng vang của trời, là thứ pháp khí lớn vậy. Ngẫm xem: tre gác chéo treo cao, chày kình thong dong buông tiếng. Trong sương sớm ngân nga vang xa sáu cõi, lúc trăng tàn lảnh lót thấu triệt muôn loài. Người nghe thấy tiếng chuông, dấy niềm khuyến thiện trừng ác; kẻ thấu được tiếng chuông, sinh lòng trung quân, hiếu đễ, khiến cho cả hương ấp vui vầy trong cõi lợi lạc, cùng quy về chốn bình an. Như thế, chuông này chẳng phải chỉ giúp ích đạo Phật mà còn mở mang thế giáo nữa. Do vậy, công đức của các vị Đại sĩ cùng dân bản thôn đua nhau phát lòng lành, ham làm việc bố thí, há có thể lường hết được sao? Lớn lao thay, thiện duyên! Để lưu truyền mãi mãi chẳng gì bằng làm bài minh. Minh rằng:

Cổ nhân đời trước chừ, Cung tiến gia tư.

Tạo chùa Thiên Phúc chừ, Dựng bia công đức.

Chuông xưa đã mất chừ, Bài văn hiện còn.

Chùa vốn đã lâu chừ, Mái xà hư hỏng.

Trẻ già trong làng chừ, Phát lòng từ thiện.

Vui trồng thiện duyên chừ, Tu sửa chùa Phật.

Đúc lại chuông lớn chừ, Vang trong sáu cõi.

Dứt nỗi trần tục chừ, Bỏ mối lo toan.

Ngưòi vật phấn phát chừ, Lợi lộc tự về.

Pháp âm truyền xa chừ, Pháp khí duy trì.

Phát huy Phật giáo chừ, Ban giáng phúc lành.

Của báu Sơn Đồng chừ, Tu tích nền nhân.

Nối truyền y bát chừ, Khói nhang tuần tiết.

Thỉnh cầu mưa chừ, báo mùa tươi tốt.

Công đức vô lường chừ, Khôn bề tả xiết.

Ngày lành tháng cuối thu năm Giáp Thìn(14) niên hiệu Quảng Hòa (1545), Huấn đạo Phạm Hộc Lạc Thiện, Nho học phủ Tân Hưng soạn.

- Biên ký: Nguyễn Công Tích, Nguyễn Hoa.

- Gia trì Pháp sự Pháp Tính Tì khâu, Tri Chân Tì khâu.

Thượng bảo Giám người xã Anh Nhuệ, huyện Thiên Thi và Vũ Đạo, Cục phó thư cục khắc chữ.

- Tín chủ của đại sĩ thôn Sơn Đồng và đại sĩ các xã: Nguyễn Dữ, Phạm Cựu (lược tên 72 vị nam).

- Bản thôn tín thí: Phạm Thị Dần, Nguyễn Thị Huyền (lược tên 16 vị nữ).

Giáp Tây Nam: Nguyễn Văn Hoán, Nguyễn Khuyến (lược tên 29 vị nam).

Giáp Chính Đông: Nguyễn Đức Nhiên, Nguyễn Đồng Trụ (lược tên 24 vị nam).

Giáp Tây Bắc: Phạm Hiệp, Bùi Tử Mai (lược tên 28 vị nam).

Giáp Đông Nam: Nguyễn Vĩnh Thọ (lược tên 20 vị nam).

Giáp Đông Bắc: Nguyễn Văn Mai (lược tên 15 vị nam).

- Các xã trong huyện tín thí:

Trịnh Công Lộ, Trịnh Nghĩa (lược tên 160 vị).

CHÚ THÍCH

(1) Có 3 chữ không đọc được.

(2) 1 chữ bị mờ.

(3) 2 chữ bị mờ.

(4) 6 chữ bị mờ.

(5) 1 chữ bị mờ.

(6) Lược bớt.

(7) Lược bớt.

(8) Lược bớt.

(9) Bát âm: là 8 thứ nhạc cụ: “Kim, thạch, thổ, cách, ti, mộc, bào và trúc”. Chu Lễ giải thích: “Kim” tức chuông.

(10) Sáu thời: Phật pháp chia 1 ngày 1 đêm thành 6 thời: Thần, triêu, nhật, trung, nhật mộ (ban ngày), sơ dạ, trung dạ, hậu dạ. (ban đêm)

(11) Tứ chúng: Bốn loại chúng sinh, chỉ chúng sinh.

(12) Li: Là tên gọi quẻ trong Kinh Dịch.

(13) Càn: Là tên gọi quẻ trong Kinh Dịch.

(14) Giáp Thìn là năm 1544.

TB

BÀI THƠ PHẠM SĨ ÁI NHỚ
CAO BÁ QUÁT

NGUYỄN VĂN BÁCH

Phạm Sĩ Ái (1805 – 1840) tự Đôn Nhân, người xã Trung Lập, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên (nay là xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hưng), đỗ Hoàng giáp khoa Nhâm Thìn, năm Minh Mệnh thứ 13 (1832). Cao Bá Quát (1809 – 1853) tự Mẫn Hiên, quê Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội.

Bài thơ dưới đây là của Phạm Sĩ ái làm vào khoảng năm 1835 – 1840, khi tác giả ở Kinh đô Huế, nhớ người bạn thuở học trò là Mẫn Hiên ở miền Bắc. Đây là một bài thơ hay, trích trong tập Đường Trung Phạm Đôn Nhân nguyên thảo hiện lưu giữ tại Viện Nguyên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.467. Chúng tôi xin phiên âm và dịch thơ để cung hiến cùng bạn đọc.

Phiên âm:

Ức Cao Mẫn Hiên
Niệm ngã, ý trung nhân
Sóc giang, Mẫn Hiên tử
Lạc bút, kinh thiên nhân
Hoàn ba tả vạn lý
Lỗi lỗi phụ kỳ tài
Hồ hải đa hào trí
Dữ ngã, phẩm thương các bất đồng
Tuy nhiên, sở đồng tại... thanh khí
Ức tích dữ chi du
Huề thủ Tâyhồ đầu
Tây hồ yên thủy tiếp minh diểu
Bát trạo hạo ca thiên tuế lưu
Thời hoặc thảng dương Nam quách ngoai
Nam quách đạo trung đa cổ sái
Phất bi, khán di văn
Phùng tăng, phát thanh thoại
Tà dương cổ đạo phong xuy y
Trường ngâm nhật khúc, đồi nhiên quy
Hoàng Đình minh nguyệt thướng u kinh
Linh động mộ trung thâm thuy vi
La thành nhất biệt vô tiêu tức
Thử ý, thường lưu tại hung ức
Bất dĩ du, dĩ tư
Trùng lai, bất dị đắc
Cận văn, hoang hạn dư.
Phong cảnh bất tư sơ
Tây hồ diệc tịch mịch
Nam quách đa tiêu sơ
Hoàng đình dĩ dịch, quân cưu ẩn
Linh động tựu hoang dư cố cư.
Nhân sự phương vi mỗi như thử.
Mẫn Hiên cận nhật tương hà như!

(Đường Trung(3) Phạm Đôn Nhân nguyên thảo).

Dịch thơ:

Nhớ bạn Cao Mẫn Hiên
Nhớ ai da diết khôn quên,
Lòng ta nhớ bác Mẫn Hiên Bắc Hà
Kinh người khi ngọn bút sa,
Tưởng như sóng dậy đổ ra muôn trùng.
Hải hồ khí phách hào hùng,
Ông tài lỗi lạc đầy lòng thanh cao.
Tính tôi với bác khác nhau,
Song cùng thanh khí tương cầu nên thân.
Nhớ khi cùng bạn vui chân,
Dắt tay ngắm cảnh thưởng xuân Tây hồ.
Mênh mang sóng khói vô bờ,
Chèo lan rẽ nước đưa đò ca vang.
Hoặc qua Nam quách xóm làng,
Ghé thăm chùa cỏ bên đàng những nơi.
Lau bia, tìm chữ xem lời,
Gặp sư đàm đạo đất trời say sưa.
Chiều tà đường cũ gió đưa,
Ngâm xong, tay áo phất phơ ra về
Hoàng Đình(1) trăng rọi đường quê,
Chuông chiều Linh Động(2) dội về non xanh.
Từ phen xa biệt La thành,
Lòng riêng riêng những đinh ninh trong lòng.
Xa xôi vời vợi nhớ mong,
Trùng lai một chuyến dễ hòng mấy khi.
Nghe tin hoang hạn ngoài quê,
Bao phong cảnh cũ còn chi buổi đầu.
Tây hồ nay cũng quạnh hiu,
Mà Nam quách cũ đà nhiều pha phôi.
Hoàng Đình nhà bác đổi rồi,
Hoang vu Linh Động nhà tôi cỏ đầy.
Sự đời trái ý lắm thay,
Mẫn Hiên chẳng rõ gần đây thế nào!
(Đường Trung (3) Phạm Đôn Nhân nguyên thảo)

Nguyễn Văn Bách dịch
Lê Hoàng chú thích và giới thiệu.

CHÚ THÍCH

(1) Hoàng Đình: Tức Đình Ngang, một phố nhỏ của Hà Nội xưa, nơi ở của Cao Bá Quát trước năm 1835.

(2) Linh Động: nơi trọ học của tác giả bài thơ khi thụ giáo ở đất Thăng Long.

(3) Đường Trung: tên ghép huyện Đường Hào với xã Trung Lập thời trước.

TB

NGÔI ĐÌNH VẬT VÀ TẤM BIA ĐÁ Ở
MÃO ĐIỀN

NGUYỄN DUY HỢP

Dưới triều Lê có hai xã là Mão Điền Mão Điền Đông đều thuộc tổng Thương Mão, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (nay là xã Mão Điền,huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc).

Ở Mão Điền hiện còn giữ được nhiều tấm bia đá có giá trị. Như bia Trùng tu đình bi ký cho biết đình Mão Điền được trùng tu năm Diên Thành thứ bẩy, tức năm Giáp Thân (1684) đời Mạc Mậu Hợp. Bia Trùng tu Khánh Lâm tự bi tạo lại cho biết chùa Mão Điền (Khánh Lâm tự) được trùng tu năm Vĩnh Tộ thứ tám, tức là năm Bính Dần (1626) triều Lê v.v...

Ở đây chúng tôi xin giới thiệu một tấm bia có hình dáng khác hẳn những tấm bia đã nói ở trên. Đó là tấm bia hình lập phương, quen gọi là bia đình Vật được dựng ở cổng làng.

Bia có bốn mặt, mỗi mặt cao 0,68m, rộng 0,50m. Mái bia hình long đỉnh, có núm tròn ở giữa. Chiều cao mái bia, kể cả núm là 0,40m. Chiều cao của bia, tính từ chân đế lên đến đỉnh núm khoảng 1,2m.

Bốn mặt bia thì hai mặt có chữ. Nhưng trong hai mặt có khắc chữ đó thì một mặt chữ đã mờ hết, chỉ đọc được một dòng đầu, thấy viết:

“Thuận An phủ, Siêu Loại huyện, Mão Điền xã, quan viên văn chức, đô lão cập toàn xã thượng hạ đẳng, vi tạo lập giao điệt tràng”... thì biết đó là ghi chép thể lệ của sân vật, hội vật.

Mặt có chữ thứ hai có gờ trang trí hoa văn lá sòi cách điệu chạy quanh, khắc một bài thơ ngũ ngôn trường thiên. Bài thơ do 9 vị nho sĩ trong làng soạn. Nội dung ca ngợi cảnh đẹp của Mão Điền, có đủ rồng chầu, hổ phục. Nhân dân đông đúc, tuổi thọ tăng cao. Các hạng tứ dân: sĩ, nông, công, thương đều thịnh vượng, phát đạt.

Đây là kiểu bia thường thấy xuất hiện dưới triều Lê niên hiệu Vĩnh Thịnh (1705 – 1719). Chữ khắc trong bia bị mưa nắng và trẻ con đập đáo, mất nhiều nét, nhưng vẫn đọc được.

Toàn văn bài thơ đó như sau:

Hoàng thiên sinh đế nghiệp,
Lê Trịnh ức vạn niên.
Khuê tương chiêu như nhật,
Càn long vị ứng thiên.
Viễn quốc lai triều cống,
Đỉnh thánh kế thần truỳen.
Kinh Bắc cảnh Siêu Loại,
Thuận An nhất Mão Điền.
Tả nghi giang long nhiễu,
Hữu mão phụ hổ tuỳen.
Ngật ngật sơn phù hậu,
Mang mang thủy tụ tiền.
Địa linh hình tráng tú,
Nhân đỉnh dân tài hiền.
Nông trần trần phú túc,
Sĩ lũy lũy danhliên.
Công sắc phong phẩm nhất,
Thương thụ lục dư thiên.
Quan viên cập toàn xã,
Phúc lộc hưởng chiên biền.
Tử tôn thịnh trập trập,
Thọ hưởng vĩnh miên miên.

Tôi tạm dịch như sau:

Trời sinh ra nghiệp đế,
Lê - Trịnh ngàn vạn năm,
Tượng sao Khuê tỏ rạng,
Quẻ Càn long điẻm lành.
Nước xa đều đến cống,
Truyền mãi bậc thánh minh.
Siêu Loại đất Kinh Bắc,
Mão Điền thuộc Thuận Thành.
Bên phải hổ chầu phục,
Bên trái rồng uốn quanh.
Đằng sau núi sừng sững,
Phía trước nước mênh mông.
Đất thiêng đẹp lại mạnh,
Hiền tài nối tiếp sinh.
Nông bề bề giầu thóc,
Sĩ lớp lớp đề danh.
Công tiếng khen nhất phẩm,
Thương tiền lãi ngàn linh.
Quan viên đông khắp xã,
Phúc lộc hưởng rành rành.
Con cháu thịnh tới tới,
Thọ trường mãi mãi xanh.

Trên trán bia còn khắc bốn chữ Tân tạo giao điệt. Cuối bài thơ có ghi tên chín vị nho sĩ trong làng là quan viên văn chức hạng nhất, lại có lòng thành cùng làm bài thơ trên. Chín vị thì 3 người họ Vũ, 3 người họ Nguyễn Xuân, 3 người họ Nguyễn Văn. Còn đọc được tên các ông: Nguyễn Xuân Tài, Vũ..., Vũ Ngoạn, Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Văn Nho, Vũ Lạng, Nguyễn Xuân Thị, Nguyễn Xuân Tràng, Nguyễn Văn Hậu. Như vâylà bia mới làm vào dịp mở hội vật, có liên quan đến ngôi đình Vật ở đây.

Kinh Bắc xưa, Hà Bắc ngày nay có rất nhiều đình. Nhưng theo sự hiểu biết của chúng tôi thì duy nhất chỉ ở Mão Điền có ngôi đình Vật. Đó chính là một sân vận động qui mô của người trước, là nét đẹp văn hóa ngàn xưa, mang tinh thần thượng võ của cha ông ta.

Đình Vật được xây dựng trên một khoảnh đất rộng trước cửa làng. Đình kiến trúc theo kiểu chữ Đinh gồm một chuôi vồ hậu cung và bẩy gian bái đường. Trước cửa đình là một sân cỏ rộng, hai bên san là nhà tả vu và nhà hữu vu. Hướng tây là hướng cửa làng cũng là hướng đình. Trong đình chỉ có một bệ thờ xây gạch và đôi câu đối, bức hoành phi, ngoài ra không có đồ thờ nào khác. Đình Vật được xây dựng vào thời Lê Dụ Tông, niên hiệu Vĩnh Thịnh, nghĩa là đồng thời với tấm bia khối lập phương nói trên. Đình Vật như tên gọi là nơi mở hội thi vật truyền thống, kỷ niệm ba vị tướng họ Chu, thành hoàng chung của hai xã Mão Điền.

Theo thần phả, ba vị tướng họ Chu là ba anh em cùng sinh ra tự một bọc, cùng đỗ Tiến sĩ và cùng làm quan dưới triều Lê. Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, ba vị là những người phất cờ “Phù Lê diệt Mạc”. Đóng quân ở Mão Điền, ba vị đã có sáng kiến mở hội thi đấu vật để kén chọn những trai tráng khỏe mạnh sung vào quân đội. Sau khi ba vị hy sinh, triều đình đã phong sắc cho làm phúc thần, lại cho dân Mão Điền tiền để lập miếu thờ cúng. Từ ấy hội vật ở Mão Điền là một lễ hội truyền thống để tưởng nhớ Tam vị đại vương.

Lệ làng cứ ba năm, hai xã lại tổ chức rước giao hảo. Sau khi làm lễ tế ở Nghè, mỗi xã rước ba kiệu và ba ngựa thần về hội tại đình Vật. Tại đây hội vật được tổ chức kéo dài ba ngày sau đó. Đô vật các nơi kéo về tranh giải rất đông. Họ được dân làng trọng đãi, ngồi chiếu cạp điều, ăn cỗ yến với các quan viên trong xã. Giải thưởng cũng rất to, thường là đôi mâm thau, mấy vuông lụa điều, kèm theo đôi ba quan tiền quí. Nhân dân trong xã tin rằng năm nào có đông đô vật đến thi tài, đọ sức thì năm ấy đồng rtuộng được mùa, người vật an khang, xóm làng thịnh vượng...

Bây giờ ngôi đình Vật không còn nữa. Trên mảnh đất “xới vật” ngày xưa là ngôi trường cấp Một và Hai hai tầng bề thế.

Tuy nhiên vẫn còn mãi trong lòng nhân dân địa phương, ngôi dình Vật – một sân vận động thời cổ – với đôi câu đối khéo chơi chữ Đình – Vật như sau:

Nhị xã hội thông chiêu văn chiêu Vật
Bách niên hưởng trị tại miếu tại Đình

Nghĩa là:

Hai xã mở hội chung đón văn đón Vật
Trăm năm yên hưởng phúc nhờ miếu nhờ Đình.

TB

VỀ THIỀN SƯ TÍNH MỘ, NGƯỜI TỔ CHỨC KHẮC HAI BỘ VÁN IN SỰ TÍCH ĐỨC PHẬT CHÙA DÂU

LƯU ĐÌNH TĂNG

Tạp chí Hán Nôm số 3 năm 1993 đăng bài Văn bản “Cổ Châu phật bản hạnh” của Lê Việt Nga giới thiệu hai bộ ván in sự tích phật mẫu Pháp Vân ở chùa Dâu: Cổ Châu Pháp Vân phật bản hạnh Cổ Châu phật bản hạnh. Tác giả khẳng định đây là hai bộ ván in có niên đại khá cổ, ra đời năm Cảnh Hưng thứ 13 (1752), và kiến nghị cần được quan tâm đúng mức. Tiếp đó, năm 1994 một nhóm cán bộ nghiên cứu viện Hán Nôm gồm 4 người do GSTS Nguyễn Quang Hồng chủ biên đã cho ra mắt tập sách Sự tích đức phật chùa Dâu do Nhà xuất bản văn hóa ấn hành. Các tác giả cho biết thiền sư Tính Mộ là người đã đứng ra lo liệu việc khắc ván in để hoằng dương đạo pháp. Tuy nhiên trong các công trình vừa kể, sự tích về thiền sư Tính Mộ, người tổ chức khắc hai bộ ván in sự tín đức Phật chùa Dâu, chưa được giới thiệu rõ ràng. Vừa rồi, chúng tôi đã nhiều lần tìm về chùa Dâu để nghiên cứu, khảo xét thêm về vấn đề này. Qua gần 200 tấm ván in kinh, toàn bộ 27 tấm bia đá, 1 quả chuông đồng và 1 chiếc khánh đồng ở chùa, chúng tôi đã tìm thấy một số dấu tích của thiền sư.

Theo Thừa bình thập ký(1) thiền sư sinh năm Bính Tuất (1706) tại làng Bình Ngô huyện Gia Định, trấn Kinh Bắc, nay thuộc huyện Gia Long tỉnh Hà Bắc. Lúc còn tại gia, thiền sư có tên là Vương Doanh. Năm Bính Ngọ niên hiệu Bảo Thái thứ 7 (1726) đời Lê Dụ Tông, thiền sư 21 tuổi, liền xuất gia đầu phật, đến nương nhờ sư tổ ở chùa Thành Đạo tức chùa Pháp Vũ cũng ở Thuận Thành. Mãi đến năm NhâmTí niên hiệu Long Đức thứ 1 (1732) đời Lê Thuần Tông, thiền sư dã 27 tuổi mới qui theo bản sư ở chùa Ninh Phúc Nhạn Tháp tức chùa Bút Tháp huyện Thuận Thành. Bản sự vốn là Pháp tôn của sư tổ Long Động phái Trúc Lâm (tức là Hòa thương Chân Nguyên) và là Pháp tử của sư tổ Thiên Tâm ở chùa Tiên Du Bắc Ninh, theo chính mạch Đông Đô thuộc phái thiền Lâm Tế. Năm Giáp Dần niên hiệu Long Đức thứ 3 (1734) thiền sư mới về trụ trì ở chùa Diên ứng Cổ Châu (tức chùa Dâu), thụ cụ túc giới với Hòa thượng Tính Huyên. Hòa thượng đặt cho Pháp danh là Hải Mộ, có tài liệu ghi là Hải Nhân, Tính Mộ(2) .Thiền sư là người mẫn cán, siêng năng học tập, khiêm tốn hòa nhã, được Hòa thượng và tứ chúng tin yêu, cử làm Trượng tọa đạo tràng, trông nom mọi công việc trong chùa, sau này trở thành vị tổ đời thứ nhất của sơn môn này ở chùa Dâu. Năm Mậu Ngọ niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 4 (1738 đời Lê ý Tông, nhờ sự trợ duyên của một vị địa đàn – na là Kiên Thọ hầu Vũ Hà Trạng, thiền sư dã đứng ra lo liệu, tu tạo tòa bảo tháp chùa Dâu theo đúng qui mô cũ. Tầng trên cùng của toà tháp có đề ba chữ “Hòa Phong Tháp”. Hiện nay tòa tháp Hòa Phong vẫn còn uy nghi như cũ. Đặc biệt, thiền sư còn quan tâm đến việc san khắc ván in, những mong lời dạy của Phật đến với tất thảy chúng sinh. Năm Cảnh Hưng thứ 13 (1752) đời Lê Hiển Tông, thiền sư đã khiến tiến thập phương đóng góp công đức để khắc hai bộ ván in Cổ Châu Pháp Vân phạt bản hạnh ngữ lục gồm 21 tấm ván in và Cổ Châu phật bản hạnh gồm 12 tấm ván in. Năm ất Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 16 (1755) thiền sư viên tịch tại bản tự. Các môn đệ thu cất xá lị đưa vào tháp mộ. Năm sau khi cho xây bảo tháp lấy hiệu là Thừa Bình. Thiền sư hưởng thọ 50 tuổi, xuất gia tu hành được 30 năm. Đệ tử đắc đạo gồm 13 vị là: Tịch Mật, Tịch Lệ, Tịch Tố, Diệu Viên,Tịch Nhậm, Tịch Bạch, Tịch Dật, Diệu Thận, Tịch Thân, Tịch ứng, Tịch Dị, Diệu Yên, Diệu Triêm.

Ngày nay, thiền sư đã siêu thăng về nơi cực lạc song công tích của thiền sư còn đó. Tháp Hòa Phong vẫn uy nghi trước chùa Diên ứng cổ kính. Hai bộ ván khắc in về sự tích đức phật chùa Dâu vẫn được bảo tồn nguyên vẹn ở chùa(3) .

CHÚ THÍCH

(1) Thừa bình thập ký hiện để tại tháp mộ sau chùa Dâu xã Thanh Khương, Thuận Thành, Hà Bắc. Bia do Hòa thượng Tính Điều Điều soạn năm Cảnh Hưng thứ 17 (1756).

(2) Hòa Phong thập bi ký. Ký hiệu Thư viện Viện Hán Nôm No 2756 – 59.

(3) Bài viết được sự giúp đỡ của cụ Đàm Hợi chùa Dâu và anh Nguyễn Tá Nhí nghiên cứu viên Viện Hán Nôm. Nhân đây chúng tôi xin chân thành cảm ơn.

TB

MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ CUỐN "TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM"

VIỆT TÂM
KIÊN TRƯỜNG

Cuốn từ điển dày hơn 1.000 trang, thu thập khoảng 925 nhân vật lịch sử Việt Nam, từ thời kỳ xa xưa đến thời kỳ cận, hiện đại (đối với nhân vật hiện địa chỉ đưa những nhân vật đã qua đời ở thời điểm 1988).

Trong điều kiện hiện nay, để biên soạn một công trình có quy mô đồ sộ như vậy, quả là không mấy dễ dàng! Các tác giả đã bỏ ra rất nhiều công sức, để kiểm tra, xử lý các tư liệu từ những nguồn khác nhau, nhằm cung cấp cho người đọc những thông tin chính yếu và chính xác về thân thế và sự nghiệp của từng nhân vật lịch sử.

Việc biên soạn và xuất bản cuốn từ điển là cần thiết, rất đáng hoan nghênh, bởi lẽ chúng ta thêm một công cụ tra cứu, một nguồn tư liệu tham khảo, giúp chúng ta nâng cao thêm sự hiểu biết về con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, qua các thời kỳ giữ nước và dựng nước.

Nhưng điều rất đáng tiếc là cuốn từ điển còn khá nhiều thiếu sót, thể hiện ở khâu biên soạn lẫn khâu biên tập mà trong bài viết ngắn này, chúng tôi xin nêu ra một số điều để trao đổi với tác giả cũng như với nhà xuất bản.

1/ Như trên đã nói, số nhân vật được đưa vào cuốn từ điển là khoảng 952 người. Tuy vậy mới xem lướt qua, người đọc cũng đã phát hiện có nhiều nhân vật bị bỏ sót. Chẳng hạn, trong cuốn từ điển có Phạm Đình Trong mà không có Nguyễn Hữu Cầu, Phạm Bành, Cầm Bá Thước mà không có Hà Văn Mao v.v...

2/ Nhiều nhân vật khi đưa vào cuốn từ điển đã được sửa lại họ cho phù hợp với cách đọc “chuẩn”, như không phải Huỳnh Thúc Kháng mà là Hoàng Thúc Kháng, không phải là Ngọc Phan mà là Ngọc Phan. Thậm chí có trường hợp do sơ suất mà nhân vật bị thay tên như Nguyễn Trọng Nhân thay vì Nguyễn Trọng Nhâm (tên thạt của đồng chí Xuân Thủy), Nguyễn Chí Diễn thay vì Nguyễn Chí Diều...

3/ Một số chi tiết liên quan đến tiểu sử của nhân vật không đảm bảo mức độ chính xác, làm cho người đọc băn khoăn nghi ngờ. Xin dẫn một trường hợp điển hình làm ví dụ. Cùng một nhân vật là Nguyễn Quán Nho, cuốn từ điển đã xếp thành hai mục riêng, nhưng giữa hai mục đó lại có một số chi tiết khác nhau.

Ở trang 604 viết: “Nguyễn Quán Nho, (M.Ngọ – 130 – K.Sửu 1709),... quê làng Văn Hòa... Năm Đinh Hợi 1707 ông về hưu, năm 1709 ông mất, thọ 71 tuổi”. Nhưng ở trang 609 viết: “Nguyễn Quán Nho (Đ.Tỵ 1637 – K.Sửu 1709)... quê làng Vân Hà... năm K.Sửu ông mất thọ 72 tuổi”.

4/ Khó khăn lớn nhất đối với công trình loại này là đánh giá nhân vật, thể hiện không chỉ ở lời nói trực tiếp mà còn ở sự kiện nêu ra, ở độ dài của câu chữ, ở lượng nhiều, ít của nội dung. Việc sử dụng ngôn từ cần phải hết sức chú ý, tránh gây hiểu lầm. Cùng là những nhà hoạt động cách mạng lâu năm của Đảng nhưng đối với đồng chí Lê Duẩn thì ghi nhà hoạt động cách mạng, đối với đồng chí Nguyễn Lương Bằng thì ghi là nhà cách mạng, còn đối với đồng chí Trường Chinh (ở mục Đặng Xuân Khu) lại ghi chính khách cách mạng. Rõ ràng dùng từ chính khách ở đây là chưa ổn, là không cân nhắc đầy đủ về mặt ngôn từ! Ở mục Nguyễn Tường Tam (trang 618), các tác giả nói rất ít về nhân vật này với tư cách là nhà văn Nhất Linh có những đóng góp cho nền văn xuôi Việt Nam vào những năm 1930, trái lại, đã dành quá nhều câu chữ để kể lệ cuộc đời hoạt động chính trị của ông ta, như: “từ năm 1939, ông hoạt động chính trị, lập đảng hưng Việt, rồi đổi thành Đại Việt Dân Chính. Ông bị thực dân Pháp lùng bắt phải trốn sang Trung Quốc, rồi bị bắt tại Liễu Châu năm 1942. Sau tổng khởi nghĩa 1945 ông trở về nước, ra báo Việt Nam. Năm 1946 ông tham gia chính phủ Liên hiệp kháng chiến, giữ chức bộ trưởng ngoại giao, trong năm này ông được cử làm Trưởng phái đoàn hội nghị Đà Lạt, đàm phán với thực dân Pháp. Hội nghị bế tắc, ông lại được cử làm trưởng phái đoàn sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau, nhưng ông từ chối. Sau đó ông lưu vong sang Trung Quốc. Năm 1951 ông về ẩn cư ở Đà Lạt, năm 1956 vào Sài Gòn hoạt động văn hóa trở lại, giữ chức Chủ tịch hội Bút Việt, chủ trương tập san Văn hóa, Ngày Nay, mở nhà xuất bản Đời Nay, Phương Giang, tái bản một số tác phẩm cũ, in các tác phẩm mới. Ngày 1/11/1960 ông cùng một số nhà hoạt động thành lập “Mặt trận quốc dân Đoàn kết” bị chính phủ Ngô Đình Diệm bắt và định đưa ra tòa án xét tử. Rạng sáng ngày 8/7/1963 ông uống thuốc độc tự tử, hưởng dương 58 tuổi. Trước khi chết ông để lại lời di chúc “Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả”... Dưới ngòi bút “vô tư, khách quan” của tác giả, Nguyễn Tường Tam hiện ra trước mặt người đọc một nhà cách mạng chân chính!

5/ Tất cả các nhân vật đều lấy tên thật để xếp thành mục từ trong từ điển. Các biệt hiệu, biệt danh gắn bó với sự nghiệp của các nhân vật và do đó đã trở nên quen thuộc với mọi người thì lập thành danh sách riêng ở cuối cuốn từ điển. Do vậy, muốn biết tiểu sử Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Hoa Thám chăng hạn, người đọc phải tìm cho ra tên thật ở danh sách nói trên rồi mới tìm được các mục Trần Khánh Dư, Nguyễn Tường Lân, Trương Văn Thám ở trong từ điển. Điều bất hợp lý này cộng với việc sắp xếp các mục từ theo trật tự a, b, c nhưng lại khá lọn xộn làm cho người đọc mất không ít thời gian khi phải tra tìm.

6/ Các tác giả dành 15 trang ở cuối sách để in ảnh các nhân vật. ở đây lại gặp những sai sót đáng tiếc: có nhân vật được in 2 ảnh cùng kiểu (Hồ Tùng Mậu) hoặc 3 ảnh khác kiểu (Lê Hồng Phong). Những trang ảnh in ấn lèm nhèm, thiếu thẩm mỹ, sắp xếp một cách lộn xộn, càng làm cho thấy rõ thêm sự cẩu thả, tuỳ tiện, vội vàng trong các khâu biên soạn, biên tập và xuất bản cuốn từ điển này.

TB

ĐỌC CUỐN "TỪ ĐIỂN GIẢI THÍCH THÀNH NGỮ GỐC HÁN"

VŨ THANH HẰNG

Trong ngôn ngữ của mỗi dân tộc thường tồn tại một số cụm từ hoặc câu ngắn đã trở nên định hình, khi sử dụng không thể tùy tiện thay đổi trật tự hoặc số lượng các thành tố tạo nên chúng. Người ta gọi đólà các thục ngữ, tức lời ăn tiếng nói quen thuộc, bao gồm thành ngữ, ngạn ngữ, tục ngữ, cách ngôn...

Trong thục ngữ, thành ngữ chiếm tỉ lệ rất lớn. Đặc điểm nổi bật của thành ngữ là gọn gàng, bền vững về mặt kết cấu; và hàm súc, giầu ý nghĩa về mặt nội dung, nó thực sự là kho báu của ngôn ngữ văn tự cổ. ý nghĩa của phần lớn thành ngữ có thể trực tiếp tìm thấy qua các thành tố tạo nên chúng. Nhưng cũng không ít trường hợp, đằng sau thành ngữ là một địa chỉ cụ thể, một tích truyện làm nền. Nếu không thấu hiểu sự lãnh hội về thành ngữ chưa dễ đã chính xác, đầy đủ, sâu sắc.

Do điều kiện địa lý và lịch sử, dân tộc Việt Nam ngay từ buổi đầu dựng nước đã có sự giao lưu văn hóa với Trung Quốc, một nước có nền văn hóa lâu đời, tiếng nói và chữ viết có một bề dầy lịch sử khả kính. Tiếng Việt do đó cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm của tiếng Hán, nhất là về phương diện từ ngữ. Nhiều từ Hán trong đó một bộ phận là thành ngữ đã trở nên quen thuộc, thông dụng trong tiếng Việt, mà ta thường gọi là từ Hán Việt hay đúng hơn – những từ Việt gốc Hán.

Từ ngày bỏ thi chữ Hán ở Việt Nam (1919) đến nay, việc hiểu và vận dụng từ Hán Việt ngày càng trở nên khó khăn. Việc hiểu sai, dùng không đúng chỗ những từ hoặc thành ngữ có nguồn gốc Hán ngày càng phổ biến. Để giúp khắc phục tình trạng trên,trong nửa thế kỷ nay, nhiều bộ từ điển liên quan đã được soạn thảo, ấn hành. Trong đó, về mặt thành ngữ có thể kể đến: Hán Việt thành ngữ của Bửu Cân, 1933; Từ điển thành ngữ điển tích của Diên Hương, tái bản năm 1969; Tầm nguyên từ điển của Bửu Kế, 1968; Hán Việt tứ tự thành ngữ của Nguyễn Xuân Trường, 1973... Và gần đây nhất, cuốn Tự điển giải thích thành ngữ gốc Hán của Như Ý. Nguyễn Văn Khang và Phan Xuân Thành, Nhà xuất bản Văn hóa xuất bản năm 1993.

Những ưu điểm nổi bật, đáng lưu ý của cuốn từ điển thành ngữ mới này đúng như Lời nhà xuất bản ở đầu sách đã nêu:

1. Từ điển giải thích thành ngữ gốc Hán là công trình có số lượng thành ngữ gốc Hán lớn nhất đầu tiên ở Việt Nam, với khoảng 2500 đơn vị, và gồm 1000 lời giải thích cùng các chú giải cần thiết.

2. TĐGTTNGH còn thu thập và giải nghĩa cả những thành ngữ gốc Hán mà hiện tại rất ít dùng nhưng trước đây được dùng nhiều và nay còn lưu lại trong các thư tịch cổ, các tác phẩm Hán Nôm, hoặc các sách dịch từ Hán Nôm ra tiếng Việt. Sách còn cung cấp cho người đọc những thành ngữ gốc Hán đã mất gốc, hay đã Việt hóa hoàn toàn hoặc từng phần.

3. Không dừng lại ở việc giải thích nghĩa đương đại của thành ngữ, TĐGTTNGH còn chú nghĩa từ nguyên của các yếu tố trong thành ngữ và chỉ rõ các điển, các tích trong văn tịch cổ Trung Quốc có liên quan đến thành ngữ.

Ngoài ra, để giúp độc giả tiện tra cứu, đối chiếu, bên cạnh phần giải thích thành ngữ gốc Hán, TĐGTTNGH còn có 2 phần, phàn “chú nghĩa từ nguyên các yếu tố trong thành ngữ và các thành ngữ chứa yếu tố đó”; và phần “đối chiếu thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt với các thành ngữ trong tiếng Hoa hiện đại”.

Với những ưu điểm trên, TĐGTTNGH chắc chắn sẽ rất bổ ích đối với những người học tập và nghiên cứu tiếng Việt, nghiên cứu nền văn hóa, văn minh Việt Nam với mối quan hệ và ảnh hưởng của nền văn hóa Hán, tiéng Hán.

Tuy vậy, khi tiếp xúc với TĐGTTNGH, chúng tôi thấy cũng có một số điểm muốn trao đổi thêm.

1. Như ta biết, ở Trung Quốc, chỉ sau Ngũ tứ vận động (1919), văn ngôn mới thực sự vắng bóng, nhường chỗ hoàn toàn cho Bạch thoại. Các thành ngữ của Trung Quốc hầu hết có xuất xứ từ những điển tích hoặc trong các sách vở cỏ. Thành ngữ gốc Hán của Việt Nam do vậy, không thể “hầu hết được mượn từ Bạch thoại” như Lời nói đầu của TĐGTTNGH khẳng định. Điều này chẳng cần phải chứng mình nhiều, vì chính trong TĐGTTNGH mọi điển tích, sách vở được dùng để dẫn chứng cho các thành ngữ, nào thấy bóng dáng “Bạch thoại”. Xin nêu một vài trường hợp: Thành ngữ “An cư lạc nghiệp” dẫn sách Hậu Hán thư; “An như bàn thạch” dẫn Tôn Tử; “Bách phát bách trúng” dẫn tích Dương Do Cơ thời Xuân Thu; “Bạch câu quá khích” dẫn Trang tử; “Bạch diện thư sinh” dẫn Tống thư; “Bát cơm phiếu mẫu” dẫn Sử ký...

2. TĐGTTNGH còn khá nhiều chỗ phiên âm chữ Hán chưa đúng. Trong đó có những trường hợp đúng là phiên sai như:

- “Khinh cử vong đông”, vong chính phải là viên là võng.

- trong “Kì hổ nan hạ”, Kì lư mịch lư”,”Kì mã trảo mã” chính phải phiên là kỵ.

- “Mã cách quả thi”, quả chính phải phiên là lỏa.

- “Nam kì bắc đẩu”, phải phiên là hoặc ki.

- “Ngư dược duyên phi”, duyên phải phiên là diên.

- “Tu kí dĩ thân”, chính phải phiên là kí...

Nhưng cũng có nhiều trường hợp, chúng tôi cho là phiên sai do sơ xuất về kỹ thuật in, thí dụ:

Tây nhĩ cung thính” phải là “Tầy nhĩ cung thính”

“Thê lương mẫu quán” phải là “Thê hương mẫu quán”

“Thiên kim địa nghĩa” phải là “Thiên kinh địa nghĩa”

“Thiên thu thiên nhãn” phải là “Thiên thủ thiên nhãn”

“Thúc mạnh bát nhân” phải là “Thúc mạch bát phân

Thùy bằng chung cừu” phải là “Thủy bằng chung cừu”

“Tự lợi tự tha” phải là “Tự lợi lợi tha”...

Nếu cẩn thận hơn trong khâu in ấn, chắc chắn có thể tránh được những sơ suất không đáng có như trên. Nhiều khi chỉ vì một lỗi in nhỏ, nhưng “sai một li đi một dặm”, ý nghĩa của câu có thể quay hẳn 180, xin lấy một thí dụ: lời giải thích thành ngữ “Sắc bất ba đào dị nịch nhân” chỉ vì in thiếu một chữ “không”, đã trở thành “ví như sắc đẹp có sóng mà dễ dàng nhấn chìm con người”, trái hẳn với thực nghĩa của nó: “sắc đẹp không có sóng mà dễ dàng nhấn chìm con người”.

3. Trong phần “Đối chiếu thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt với các thành ngữ trong tiếng Hoa hiện đại” cũng có khá nhiều chữ Hán viết sai. Có những trường hợp có lẽ do đồng âm mà viết lẫn. Thí dụ:

...

TB

BỘ TỪ ĐIỂN VIỆT - LATINH CỦA PIGNEAUX DE BE'HAINE

LTS: Bộ sách nguyên mang tên Dictionnarium Anamitico Latinum, bản thảo viết này, do Pierre Pigneau do Béhaine (1741 – 1800) soạn tại Việt Nam vào cuối thế kỷ XVIII.

Pigneau do Béhaine (gọi tắt là Pigneau) có tên Việt là Bá Đa Lộc hay Bi Nhu, người Pháp, đến Việt Nam vào năm 1765. Từ 1780 trở về trước, ông chủ yếu là một nhà truyền giáo. ông có bị Chúa Đàng ngoài là Trịnh bắt giam khoảng một tháng rồi được thả. Từ 1780 trở về sau, ông có liên hệ với Nguyễn ánh trong việc chống lại chúa Trịnh, rồi sau đó là phong trào Tây Sơn. Ông mất tại Việt Nam vào năm 1799, mộ ông hiện còn tại TP Hồ Chí Minh.

Do lâu năm sống và hoạt động trên đất nước ta, Pigneau khá quen thuộc với đồng đất, con người miền Nam và thông thạo tiếng Việt. Ông còn giỏi cả chữ Hán lẫn tiếng Trung Quốc. Ngoài bộ từ điển Việt – Latinh, ông còn soạn các sách như Chinois – Annamite – Latin (từ điển đối chiếu giữa ba thứ tiếng Trung Quốc, Việt Nam và Latinh) và Thánh giáo yếu lý Quốc ngữ (bằng chữ Nôm, soạn năm 1774, in năm 1782 tại Quảng Đông).

Riêng bộ Từ điển Việt – La tinh có các đặc điểm như sau: sách được biên soạn xong vào năm 1773, tại miền Nam nước ta, dày 732 trang (64 + 4 + 664), cỡ 34,5 x 24cm, bản thảo viết tay, gồm phần tra cứu chiếm 67 trang và phần chính văn chiếm 662 trang (không kể vài ba trang phụ). Phần tra cứu gồm một bảng đối chiếu chữ Nôm và chữ Quốc ngữ và một bảng hướng dẫn cách tra một số chữ Nôm khó. Phần chính văn gồm 5.943 mục từ, nếu kể cả các từ kép hoặc cụm từ trong phần hạng nghĩa, số từng vựng dễ chừng lên tới bốn năm vạn(1) .

Xét thấy đây là một bộ từ điển rất quý, có thể giúp ích chúgn ta trong việc nghiên cứu về tiếng Việt cổ, chữ Quốc ngữ cổ, đặc biệt chữ Nôm thế kỷ XVIII, Tạp chí Hán Nôm bắt đầu từ số 1 (14) – 1993 lần lượt đăng thành nhiều kỳ toàn văn bộ từ điển để bạn đọc cùng tham khảo. Phần chính văn sẽ được đăng trước, phần tra cứu sẽ đăng cuối cùng.

Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Văn khố của Hội Thừa sai ngoại quốc Paris (Sémineire des Missions étrangères, Paris) nơi hiện đang tàng trữ bản thảo bộ từ điển, cùng Trung tâm nghiên cứu và sưu tầm về Đông Á hiện đại (Centre d’études et de recherches sur lAsie orientale contemporaine) thuộc Trường Đại học Nice nước Cộng hòa Pháp, và các ông Paul Schneider (tức Xuân Phúc), Pierre Pichard Féray (Trường Đại học Nice), bà Christiane Rageau (Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp), các ông J.Vérinand, J.Guennou (cán bộ lưu trữ của Hội Thừa sai ngoại quốc Paris) đã tận tình giúp đỡ, để chúng tôi có được cái hân hạnh giới thiệu bộ từ điển cùng bạn đọc hôm nay.

Kỹ thuật in ấn hiện còn rất hạn chế, mong quý vị lượng thứ cho(2) .

CHÚ THÍCH

(1) Tập san Nghiên cứu Hán Nôm số 1 – 1985 có bài giới thiệu khá kỹ về bộ từ điển này, bạn đọc có thể tham khảo.

(2) Xem Tạp chí Hán Nôm từ số 1 (14) – 1994.