
NGUYỄN TÔNG QUAI NIÊN BIỂU, TÁC PHẨM (1)
CHU XUÂN GIAO
Phải chăng đến giờ giới nghiên cứu mới chú tâm tới Nguyễn Tông Quai là một sự muộn mằn ? Thuở sinh thời, ông đã rất nổi tiếng; Sứ hoa tùng vịnh đã từng được người đời mến mộ, đua khen. Trong nước, lớp hậu học, sử gia Ngô Thì Sĩ đã nức ời ca tụng: “Sứ hoa tùng vịnh lừng tiếng là thơ hay ở khắp mọi nơi” (tự Mỹ đình thi tập). Danh sĩ Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút viết: “Vào khoảng đời Vĩnh Hựu, Cảnh Hưng, các bậc tiền bối danh công có nhiều lưu ý về thi luật, Nguyễn Tông Quai thực là một tay lãnh tụ về thời ấy”. Ngoài nước, ông được nhân sĩ Trung Quốc và Triều Tiên trọng nể. Âu Dương Vương viết: “Tả cảnh thời công phu điêu luyện như họa, giãi tình thời chan chứa thâm sâu,... cao nhã, phóng khoáng như Thái Bạch” (Tựa Sứ hoa tùng vịnh); Vương Vân Tường đánh giá: “Tài văn chương và đức hạnh đều siêu trác” (Tựa Sứ Hoa tùng vịnh).
I. Niên biểu Nguyễn Tông Quai (1693 - 1767).
Niên biểu Nguyễn Tông Quai chúng tôi đã công bố trong Hội thảo khoa học về Nguyễn Tông Quai nhân kỷ niệm 300 năm sinh, tại Thái Bình 5 - 1993. Sau một thời gian khảo sát thêm chúng tôi thấy có những chỗ cần điều chỉnh và bổ sung. Bảng niên biểu dưới đây được soạn lại với tinh thần như thế: 1693 (Quí Dậu): sinh ở làng Sâm, xã Phúc Khê, huyện Ngự Thiên, sau đổi là Hưng Nhân, nay là xã Hòa Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, vào ngày 20-11 Âm lịch, húy Oản (綰), tự Quai ( ), hiệu Thư Hiên (舒 軒).
* Trước năm 1721: tám tuổi đi học một thầy ở làng. Sau đó được gia đình cho lên kinh sư ăn học, trở thành sinh đồ trường Giám, có được thụ giáo với Thám hoa - Đình nguyên Vũ Thạnh, một nho sĩ đức độ nổi tiếng thời đó. Năm 18 tuổi (1710) lấy vợ cùng xã Phúc Khê và trước năm 23 tuổi (1715) lấy vợ là Lê Thị Thoan người làng BìnhVọng, Thượng Phúc. Sau này, còn lấy thêm 2 người vợ nữa (Đáng chú ý là bà thứ 2 và 3 là hai chị em ruột, còn bà 4 là cô ruột của hai bà trên).
* Năm 1721 (Tân Sửu): thi đỗ Hội nguyên Tiến sĩ, đứng đầu 25 Tiến sĩ.
* Năm 1772 (Nhâm Dần): mùa xuân vào thi Đình do vua Lê, chúa Trịnh trực tiếp làm chánh phó Chủ khảo. Lẽ ra được đỗ Bảng Nhỡn, nhưng do bị phạm lỗi viết sai chữ “niên” thành “thập” trong dòng đề niên hiệu vua nên bị giáng xuống đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp). Vinh qui về làng.
Tháng 6, vào sân phủ chúa dự cuộc thi ứng chế do Trịnh Cương ra đề, là một trong hai người được coi là trúng cách.
Năm 1722 - 42: Nhờ nổi danh khoa cử, được cất nhắc giữ các chức Hàn lâm sử quán, Thừa chính Kinh Bắc, Đốc đồng Tuyên Quang.
Tháng 8 -1734 (Giáp Dần): cùng với Nguyễn Mạnh Thường và quan hầu mệnh đem bọn Đồng trung thư Nguyễn Đình Bảng, Nguyễn Đăng Cao đến trước cửa quan Lạng Sơn nghênh tiếp sứ Trung Quốc sang Sách Phong
5 - 1771 (Tân Dậu): có giặc cướp ở Sơn Tây, Nguyễn Tông Quai có kế hay, phá tan được. Lúc ấy đang giữ chức Đốc đồng Tuyên Quang. Có thể thời gian này (1722 - 42), ông chú Dư địa chí của Nguyễn Trãi.
* Năm 1742 (Nhâm Tuất): lãnh chức Phó sứ, cùng Chánh sứ Nguyễn Kiều (chồng Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm) đi sứ Thanh. Khi khởi trình, vua đặt tiệc thết ở đình Đông Tân, ban thơ ngự chế, hai người lần lượt phụng họa, qua 2 mùa xuân, mùa đông năm 1744 (Giáp Tí) tới Yên Kinh, được ở quán Đại Đồng chờ vào triều cống. Tới tháng 11 Âm lịch, giao lễ vật và dâng biểu tiến cống. Ngày 15 - 11, vào sân rồng hành lễ, Cao Tông Hoàng Đế ưu đãi ban cho ngồi thưởng trà. Mùa xuân năm 1745 (Ất Sửu) được Cao Tông triệu triều ban thưởng và thết tiệc. Ở lại Yên Kinh 3 tháng, được hậu đãi ân cần, cứ 5 ngày là đặt tiệc. Tới 5 - 2 Âm lịch, Cao Tông giáng chỉ cho hồi trình. Dọc đường, trải phong vật kỳ thắng của 7 châu, cùng Nguyễn Kiều đề vịnh, xướng họa, biên thành Sứ Hoa tùng vịnh - tiền hạ tập. Thời gian đi sứ, cũng đã viết cuốn thơ Nôm lục bát Sứ trình tân truyện (Sứ trình Quốc âm).
* Năm 1745 (Ất Sửu): ngày 6-2 Âm lịch, từ Yên Kinh lên đường về nước. Cuối năm về tới Thăng Long, vào yết kiến vua Hiến Tông, được ban thưởng, thăng chức Hình bộ tả thị lang, kiêm Lục bộ thượng thư, tước Ngọ Đình hầu.
* Cuối năm 1745 - 1748: giữ chức một thời gian, chưa rõ bao lâu. Sau vì hặc tấu gian thần, bị Việt quận công Hoàng Ngũ Phúc giáng xuống Hàn lâm thị độc. Thời gian này, liên tiếp bị để ý, sau bỏ quan về nhà ở Kinh đô. Có thể sau khi bỏ quan, đã mở trường dạy học.
* Năm1748 (Mậu Thìn): do không chọn được người triều đình lại phục chức cũ để cử đi sứ Thanh lần 2. Lần này làm Chánh sứ, Phó sứ là Nguyễn Thế Lập, Trần Văn Hoán (Hoán chết dọc đường). Ở lại Yên Kinh một thời gian.
* Năm 1750 (Canh Ngọ): trở về tới Thăng Long. Lần này được thăng Hộ bộ tả thị lang, tước hầu.
* Năm 1750 - 1751 (Tân Mùi): có hộ giá vua làm việc quân sự ở Sơn Tây. Nhà ở Thăng Long bị cháy do một vụ hỏa hoạn chùa Ngọc Hồ, vào tháng 8 - 1751, thư tịch và đồ đạc thành tro hết. Lúc ấy, đương ở Sơn Tây. Thời gian này, lại bị gièm pha, kiện tụng. Đình thần nhân buổi ông đi tuế cống, trong nước giặc giã nổi lên, văn thần nhiều người đi đánh dẹp, bàn rằng: “Sứ ra nước ngoài vừa ung dung, vừa được tước lộc... mà 2 lần đi sứ là tham”. Lại có cáo giác của dân địa phương (?), nên phải giáng làm việc ở Viện hàn lâm là nơi nhàn tản.
* Năm 1751, Trịnh Doanh sai ông đi dụ bảo, an ủi dân các lộ Sơn Tây, Thái Nguyên, Kinh Bắc. Bài văn bia Trùng tu thánh miếu bi ký cho Văn miếu xã Trần Xá, tổng Hà Trường, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương soạn trong dịp công cán này.
* Năm 1754 (Giáp Tuất): chúa lại sai ông đi xem xét các nhà giam, sửa sang những chỗ ẩm thấp, chật hẹp, chẩn cấp cho kẻ thiếu đói, những người bị tội nhẹ thì xét tha về.
* (?): Bị cách tuột mọi chức, không hiểu vì lí do gì, có lẽ vẫn do hiềm khích cũ với Hoàng Ngũ Phúc. Về nhà ở Kinh đô, mở lớp dạy học, học trò đến theo học rất đông.
* (?): Mang toàn bộ gia đình về quê sinh sống. Có thể trong thời gian ở quê nhà ông đã viết Ngũ luân tự.
* Năm 1767 (Đinh Hợi): mất ngày 4-3 Âm lịch tại quê nhà, hưởng thọ 75 tuổi(1).
II. Khảo đính mấy điểm trong Niên biểu
Đây mới chỉ là một niên biểu sơ lược chúng tôi đã sưu tầm, thu thập, tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu: chính sử, lục, phả, tựa, bi văn, kí... mà sự kiện, số liệu thông báo từ các nguồn nhiều khi không khớp nhau, đòi hỏi phải cân nhắc, điều chỉnh dựa theo những sở cứ khoa học tin cậy. Mấy điểm khảo đính dưới đây nhằm làm rõ thêm về niên biểu:
1. Năm sinh và năm mất
Trước đây, ghi chép trong các bộ sách công cụ và vài sách có liên quan không thống nhất: Từ điển văn học (Nxb. KHXH, H. 1984, tập II) và Lịch sử Văn học Việt Nam (Nxb. ĐH và THCN, H. 1979, tập II) ghi: 1692 - 1768. Lược truyện các tác gia Việt Nam (Nxb. KHXH, H. 1971, tập I) và Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (Nxb. KHXH, H. 1990, tập II) ghi: 1693 - 1767; Trạng nghè Thái Bình (Sở VH - TT Thái Bình, 1986, tập I) ghi: 1693 - 1767; Danh nhân Thái Bình (SVH và TT Thái Bình, 1986, tập I) ghi: 1693 - 1767; Nhân vật lịch sử Việt Nam (Nxb. KHXH, H. 1991) ghi 1692 - 1766... chung qui lại, phải xác định ông sinh năm 1692 (Nhâm Thân), hay 1693 (Quí Dậu), mất năm 1766 (Bính Tuất) hay 1767 (Đinh Hợi).
Gia phả (tư liệu địa phương) và Đăng khoa lục (A.1387 và VHv.2140) đều ghi: đỗ Hội nguyên năm 29 tuổi - tức là 28+1, theo cách tính truyền thống và thọ 75 tuổi. Phả ghi rất rõ: sinh vào ngày 20-11 Âm lịch năm Quí Dậu niên hiệu Chính Hòa 14 (Ngã cao tổ di Hậu Lê Chính Hòa, Quí Dậu, thập tứ niên, thập nhất nguyệt, nhị thập nhất nhật, thìn khắc sinh) và mất vào ngày 4-3 Âm lịch năm Đinh Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 28 (Cảnh Hưng nhị thập bát niên Định Hợi, tam nguyệt sơ tứ nhật, Sửu thời tốt). Chỉ cần thực hiện phép cộng trừ đơn giản, thấy các số liệu khớp nhau, đủ để kết luận: Nguyễn Tông Quai sinh năm Quí Dậu (1693) và mất năm Đinh Hợi (1767).
2. Năm đi sứ lần thứ nhất
Sách Đại Việt sử kí tục biên chép năm Tân Dậu (1741), theo đó, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí cũng ghi: “Tân Dậu... sai Chánh sứ Nguyễn Kiều, Phó sứ Nguyễn Tông Quai, Đặng Công Mậu sang sứ nhà Thanh”.
Gia phả ghi: “Đến năm Nhâm Tuất (1742), Cảnh Hưng 3, tháng 8, ngày 8, giờ thìn vâng chỉ của Hiển Tông sang Yến Đài tiến cống” (Chí Cảnh Hưng Nhâm Tuất tam niên, bát nguyệt, sơ bát nhật, thìn khắc, phụng Hiển Tông chí Yến Đại tiến cống). Câu mở đầu của Sứ trình tân truyện: “Cảnh Hưng rồng dậy thứ ba, tháng thu ngày tám sứ Hoa khởi trình”. Tập Sứ Hoa tùng vịnh cũng ghi năm Nhâm Tuất (chú ý: tập này còn mang một tên nữa là Nhâm Tuất khóa sứ trình thi tập).
Đối chiếu thêm với vài tư liệu liên quan khác, chúng tôi xác định: năm đi sứ lần một của đoàn sứ bộ mà Nguyễn Tông Quai làm Phó sứ khởi trình vào tháng 8 năm Nhâm Tuất (1742). Đại Việt sử kí tục biên và Lịch triều hiến chương loại chí ghi chép như thế có lẽ là do năm Tân Dậu (1741) triều đình đề cử danh sách những người đi sứ, rồi năm sau đoàn sứ bộ mới khởi hành. Chọn cử năm trước, năm sau mới đi. Hồ Sĩ Đống - người viết tựa cho Sứ Hoa tùng vịnh cũng viết trong tập Dao Đình thi tập (A.1852): “Năm Đinh Dậu (1777) tôi được cử đi làm Phó sứ cống bộ, năm Mậu Tuất (1778) mùa xuân, tháng giêng khởi trình...” Học trò xuất sắc của Nguyễn Tông Quai là Lê Quí Đôn sau cũng ghi trong Bắc sứ thông lục: “Năm Mậu Dần, niên hiệu Càn Long 23 thuộc thiên triều, tức năm Cảnh Hưng 19 (1758) triều Lê ta, mùa đông tháng 10, quan bên phủ chúa nói: “Năm sau theo lễ cống nạp hàng năm, sai một Chánh sứ và hai Phó sứ làm bồi thần, việc đó nên giao cho triều đình chọn cử...) (A.179, tờ 5a).
3. Lịch trình đi sứ lần một:
3.1. Khi nào đoàn sứ bộ tới Yên Kinh? Gia phả có ghi: “Mùa đông năm Ất Sửu (1745) rời Yên Kinh...” (Ất Sửu niên đông, chí Yên Kinh), một đoạn khác: “Hai mùa xuân trải qua cảnh vật, đường sá của bảy châu... Mùa xuân năm Bính Dần (1746), (vua Càn Long) lại xuống chiếu ban thưởng một lần, mở tiệc thết một lần” (Nhị xuân lịch thất châu chi cảnh thơ... Bình Dần xuân tái chiếu ban thưởng nhất thứ, yến diên nhất thứ). Ghi chép trên đây có sự nhầm lẫn. Về lịch trình đi sứ lần một, tư liệu gốc phải là Sứ Hoa tùng vịnh và Sứ trình tân truyện, đặc biệt là những tiểu dẫn trước mỗi bài thơ trong Sứ hoa tùng vịnh. Xuôi theo trình tự thời gian trong 2 tư liệu này, chúng tôi xác định là mùa đông năm Giáp Tí (1744):
“Xe vua Hắc Đế mới xa,
Đùng đùng gió thổi mưa sa lạnh lùng...
Tứ bề sương khói ơi ơi,
Tiếng ai đặt đấy là nơi Kinh kỳ”
(Sứ trình tân truyện)(2)
Giữa 2 đoạn chép trên trong phả cũng không khớp nhau. Khởi hành vào mùa thu năm Nhâm Tuất (1742) đến mùa xuân năm Quí Hợi (1743) rồi đến mùa xuân năm Giáp Tí (1744), như vậy đúng là trải qua hai mùa xuân, và mùa đông năm Giáp Tí (1744) đoàn sứ bộ đã tới Yên Kinh. Việc vua Càn Long ban tứ là vào mùa xuân năm Ất Sửu (1745).
3.2. Nhưng chính các số liệu năm tháng trong Sứ trình tân truyện vài chỗ cũng cần phải chỉnh lí. Về văn bản, nó chỉ còn một bản mang kí hiệu AB.155 - Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, là bản chép từ những bản sao chép nhiều lần trước nên có nhiều nhầm lẫn.
a) Hai câu 631 - 632 trong Sứ trình tân truyện:
“Bước sang Giáp Tí đầu xuân,
Đã lần ban thưởng, lại lần yến diên”.
Cũng một sự kiện mà Gia phả và Sứ trình tân truyện ghi cách nhau 2 năm. Hãy lần các mốc thời gian trong chuyến đi:
1. Thu năm Nhâm Tuất (1742), ra đi (câu 1-2)
2. Quí đông năm 1742, qua cửa Nam quan:
“Dịch mai xẩy thấy tin truyền
Quí đông mồng bảy sứ liền quá quan”.
(câu 69 - 70)
3. Xuân năm Quí Hợi (1743) tới trạm Vĩnh Thuần, gặp tết Nguyên đán ở đất Bắc:
“Doành xanh hây hẩy gió đưa,
Giục hoa, xuân lại tưới mưa đòi ngàn.
Vĩnh Thuần chợt mới hỏi han,
Nguyên tiêu thoắt đã bãi làn tam châu”.
(các câu 121 - 22 - 23 - 24).
4. Hạ năm 1743 tới Giang Tây:
“Dừng chèo bến liễu một khi,
Xui ai nồng nực làm chi bấy hè”.
(câu 355 - 356)
5. Đông năm 1743:
“Ôi con én ngẩn ngơ,
Tìm nhà Vương Tạ u ơ chào người”.
(câu 409 - 410).
6. Xuân năm Giáp Tí (1744) qua Kinh đô của Lục triều:
“Thành xưa dấu cũ khách chơi,
Nền nhà Tề Tấn là nơi đi về.
Mảng vui cảnh vật sơn khê,
Gió xuân thổi lọt rèm the bao giờ”.
(các câu 417 - 18 -1 9 - 20)
7. Thu năm 1744 tới Hoàng Hà:
“Tiếng thu xao xác trên xanh,
Một đèn hãy tỏ ba canh chửa nằm”.
(câu 467 - 468).
8. Đông năm 1744 tới Yên Kinh:
“Tứ bề sương khói ơi ơi,
Tiếng ai đặt “đấy” là nơi Kinh kỳ”.
(câu 607 - 608)
9. Như vậy, 2 câu 631 - 632 phải là:
“Bước sang Ất Sửu đầu xuân,
Đã lần ban thưởng, lại lần yến diên”.
b) Sau 670 câu lục bát, Sứ trình tân truyện kết thúc bằng đoạn phụ chú: “Tuế cống Phó đoàn sứ bộ Nguyễn Thư Hiên viết tại Hội đồng quán Yên Kinh, năm Cảnh Hưng thứ 3 (1742)”. Ghi chú này là không chính xác, vì tới năm 1744 Nguyễn Tông Quai mới tới Yên Kinh, đoạn cuối của tác phẩm viết sau khi được chỉ cho hồi quốc:
“Tuổi vàng vâng dưới bệ rồng,
Truyền cho cống sứ việc xong hồi trình”.
(câu 635 - 636).
Nhà thơ nhẩm tính lại thời gian:
“Mấy phen trải gió tắm mưa,
Cát cừu thay đổi kể vừa ba xuân”.
(câu 659 - 660)
4. Năm đi sứ lần thứ hai:
Bằng phương pháp tính năm đi sứ lần thứ nhất, có thể khảo đính lại ghi chép trong Đại Việt sử ký tục biên và Lịch triều hiến chương loại chí: “Đinh Mão (1747)... sai Chánh sứ Nguyễn Tông Quai... sang Thanh... chỉ là thời gian triều đình cho cử đoàn sứ bộ, tới năm sau Mậu Thìn (1748) mới khởi hành, đến năm Canh Ngọ (1750) về tới Thăng Long.
III. Thư mục sơ bộ về tác phẩm
Trên tổng thể, về mặt văn tự, tác phẩm của Nguyễn Tông Quai phân làm 2 loại: chữ Hán và chữ Nôm.
1. Trước tác bằng chữ Nôm:
1.1. Sứ trình tân truyện (STTT)(3) là một bài ca Nôm gồm 670 câu lục bát, thuật lại cuộc hành trình đi sứ lần thứ nhất, cảm xúc ngâm vịnh về danh lam thắng tích và những ngẫm nghĩ dọc đường từ Thăng Long tới Yên Kinh. Sách viết có nguyên chú. Hiện thấy chỉ còn duy nhất bản AB.155, 1 sách, 46 trang, chữ chân, giấy mới.
1.2. Ngũ luân tự (NLT): gồm 646 câu song thất lục bát. Bắt đầu bằng 2 câu:
Trời sinh người thiêng hơn muôn vật,
Khuôn hồng quân trao chất cương nhu(4).
và kết thục bằng một khổ:
“Bút đoạn rồi dấu riêng trong tráp,
Khuyên nhi tôn sau chép ngâm nga.
Dầu hay lấy đấy mà ra,
Trung hiếu một nhà phúc đức nghìn năm”.
Tác phẩm diễn ca 5 điều luân thường: vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn, lấy dẫn liệu ở kho Hán học, với mục đích nêu gương những người đã xử lí tốt năm mối quan hệ trong cuộc sống. Có thể được viết vào thời kỳ ông từ hẳn quan trường, về quê nhà. Hiện chỉ còn một bản duy nhất AB.128, 1 sách, 38 trang, chữ chân, giấy mới, là bản sao chép gần đây thỉnh thoảng mất một vài chữ, ví dụ:
“Tôi Vu Hàm thuở vua Thái Mậu,
... hiền trời hận nhà Thương”.
(câu 45 - 46).
hay:
“Người nào em ở xa vời,
Thành Lương... giúp, ngọt bùi gửi đưa”.
(câu 271 - 272).
1.3. Chùm thơ Nôm Đường luật:
Trong AB.155, chép xen giữa các câu lục bát còn có 8 bài thơ Nôm Đường luật: 1. Quá quan tự thuật; 2. Chu trình đông dạ; 3. Điếu lưu tam liệt; 4. Đề Độc Tú sơn; 5. Tiêu Tương xuân vãn; 6. Chu thứ thuật hoài; 7. Đề tam nghĩa miếu; 8. Tuyết thiên nhàn vọng, được các nhà nghiên cứu đánh giá “có thể nói là 8 viên ngọc trong gia sản thơ Tiếng Việt”. (Mai Quốc Liên: Dưới gốc me vườn Nguyễn Huệ - SVH và TT Nghĩa Bình, 1986).
Trong bản Sứ hoa tùng vịnh VHv. 1404/2 còn có một dị bản của 8 bài trên và một bài nữa có đề Tiễn bồi thần.
2. Trước tác bằng chữ Hán
2.1. Sứ hoa tùng vịnh (SHTV) còn có các tên khác, như Nhâm Tuất khóa sứ trình thi tập, Sứ trình, Hoa trình thi tập, và chép chung trong các sách Hoa trình ngẫu bút lục, Sử văn trích cầm; nhiều bài còn bị chép lẫn sang tập thơ của tác giả khác, như Giới Hiên thi tập (Nguyễn Trung Ngạn). Trong các thư viện lớn ở Hà Nội còn giữ được 28 dị bản, gần đây trong dân gian, chúng tôi còn sưu tầm được vài bản nữa. Hiếm thấy tập thơ nào nhiều dị bản như SHTV, chỉ bằng riêng số lượng và địa bàn lưu giữ của nó cũng cho thấy lời khen của Ngô Thì Sĩ “lừng tiếng thơ hay ở khắp mọi nơi” là không ngoa.
a) Theo bài tựa của Hồ Sĩ Đống thì SHTV đã được con trai ông là Nguyễn Cư Chính nhờ mang đi thuê khắc in ở Trung Quốc, không biết việc in sách kết quả ra sao vì hiện nay chưa tìm thấy một bản in nào.
b) Việc tìm bản trục cho SHTV quả là phức tạp, nhiều dị bản, mỗi dị bản lại biên chép theo một lối. Chúng tôi tạm đề xuất ra cụm bản nền gồm các bản A.2993, A.1552, VHv.2597 và bản hiện lưu giữ tại nhà Ô. Mai Hồng - Viện Nghiên cứu Hán Nôm(5).
c) Qua khảo sát sơ bộ cụm bản nền, chúng tôi tạm xá định về số lượng bài trong SHTV như sau:(3) Thất ngôn bát cú, trên 200 bái; thất ngôn trường thiên, một đoạn, ngũ ngôn trường thiên, 1 đoạn, ngũ ngôn 1 đoạn; tuyệt cú trên 20 bài, tặng và đáp, trên 100 bài(2)
d) Theo bài viết của các ông Đào Phương Bình, Hoàng Hựu trên Tạp chí Văn học số 5+6/1971, 4/1979 và Nguyễn Huệ Chi, phần Khảo cứu văn bản trong Thơ văn Lý Trần, Tập I, chúng tôi đã đối chiếu SHTV với các tác phẩm của Giới Hiên - Nguyễn Trung Ngạn, thì thấy SHTV lẫn sang thơ Giới Hiên hơn 20 bài. Nguyễn Tông Quai và Nguyễn Trung Ngạn có tên hiệu dễ lẫn với nhau (Thư Hiên, Giới Hiên), đều đi sứ phương Bắc, đều có thơ để lại, nên đã dẫn đến việclẫn lộn thơ của 2 người với nhau.
2.2. Vịnh sử thi quyển: hiện còn 2 bản chép tay tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm A.1314, A.844 tập hợp 334 bài thơ vịnh danh thắng nhân vật trong lịch sử Trung Quốc từ đời Hán về sau với bốn nhà thơ nổi tiếng, thường gọi là An Nam đại tứ tài hay Trường An tứ hổ: Nguyễn Tông Quai, Nguyễn Trác Luân, Ngô Tuấn Cảnh, Nguyễn Bá Lân. Riêng Nguyễn Tông Quai có 80 bài, được xem là thơ hay nhất tập.
2.3. Những chú thích trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi. Lần theo bản Ức Trai di tập in năm Tự Đức thứ 21 (1868), chúng tôi đã thống kê trong 54 điều của Dư Địa chí, ngoài lời tập chú của Nguyên Thiên Túng, lời thông luận của Lý Tử Tấn (những người cùng thời với Nguyễn Trãi), còn có những lời chú thích của Nguyễn Tông Quai ở 4 điều: 23, 32, 37, 40. Có thể ông đã viết những chú thích này trong khoảng những năm 1729 - 1740, khi làm quan dưới thời Trịnh Giang.
2.4. Bài văn sách thi hội khoa thi năm 1721, chép trong sách Lê triều hội thi văn tập kí hiệu VHv.426/1 từ tờ 78a - 86b. Khoa thi này chỉ chọn một bài của Nguyễn Tông Quai, bản sao tồn tại dưới dạng chữ thảo.
2.5. Bài văn bia Trùng tu thánh miếu bi kí; thác bản No12162-63 và chép trong Nhân vật chí A.573 từ tờ 82b-86a, soạn năm Cảnh Hưng 12 (1751) cho Văn miếu xã Trần Xá, tổng Hà Trường, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (nay là Hải Hưng) trong dịp ông được nhà chúa sai đi dụ bảo yên ủy dân các lộ Sơn Tây, Thái Nguyên, Kinh Bắc.
2.6. Bài khải mừng điềm lành, mừng dẹp giặc chép trong sách Biểu khải vân tập A.2832.
2.7. Năm 1959, Trần Văn Giáp sưu tầm ở Triều Tiên được 5 bài thơ xướng họa của Nguyễn Tông Quai với sứ thần Triều Tiên.
2.8. Ngoài những tư liệu trên, Gia phả còn nói tới, 3 tập Học ngữ (thượng, trung, hạ), trong đó có cả thơ của người con trai. Song, đến nay sách đã thất truyền.
Hà Nội, 4 - 1994
CHÚ THÍCH
(1) Xin xem Chu Xuân Giao: “Niên biểu Nguyễn Tông Quai” - Kỉ yếu hội thảo.
(2) Theo bản phiên âm của Mai Hồng Sở VHTT và TT Thái Bình 1993.
(3) Phả ghi là Sứ trình Quốc âm.
(4) Bản phiên âm của chúng tôi. Từ đây trở xuống đều như thế.
(5) Bản này Ô. Mai Hồng mới tìm được trong dân gian.
(6) Chỉ tính riêng thơ của Phó sứ./.
|