TB

SÁCH DẠY - HỌC CHỮ HÁN MỘT DI SẢN
TƯ TƯỞNG LỚN ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP VĨ ĐẠI NÂNG CAO DÂN TRÍ HIỆN NAY
(1)

BÙI ĐÌNH MỸ

Nếu như trên bàn tay chúng ta là cuốn sách tâm lý học hiện đại và phương pháp giảng dạy mới về ngoại ngữ, trước mắt chúng ta là những sách học chữ Hán của người xưa đã thành kinh điển bởi sự đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại trong văn bản, trong tâm trí chúng ta là hình ảnh không chỉ của một số tài năng riêng lẻ, mà cả một loạt người thuộc nhiều thế hệ nhà nho đã nắm vững phương tiện giao tiếp mới thành thạo đến mức biến nó thành tiếng mẹ đẻ thứ hai để làm văn, làm chính trị,làm khoa học, làm cách mạng và bên tai chúng ta còn vang lên những câu chữ Hán đan cài một cách tự nhiên, uyển chuyển vào câu chuyện hàng ngày của nhiều cụ đồ nho, thì hẳn là chúng ta cảm thấy rõ một giá trị kép di sản văn hóa tinh thần của dân tộc chứa đựng tro ng kho tàng sách đồ sộ bằng chữ Hán: giá trị văn học - nghệ thuật, chính trị - xã hội, giá trị khoa học kỹ thuật và giá trị khoa học dạy ngôn ngữ mới ẩn náu trên từng trang sách, hay sáng trên từng gương mặt của các bậc tiền bối, một khi chúng ta biết đặt câu hỏi: tổ tiên ta đã dạy và học như thế nào để đạt kết quả lí tưởng đó. Câu hỏi và câu trả lời đó càng đậm nét hơn, khi hai hình ảnh tương phản dưới đây cùng hiện lên một lúc trong ta: một bên là cụ đồ với chiếc roi song và những cậu tú tương lai với tờ giấy bản, ngòi bút lông, nghiên mực và cuốn Tam tự kinh cuốn sách vỡ lòng với những dòng chữ mà nếu đọc lên, lớp trẻ ngày nay nghe cứ ngỡ như là một tác phẩm đạo đức học: “Nhân chi sơ, tính bản thiện...” còn bên kia là vị Phó tiến sĩ với gương mặt rạng rỡ và những cô Cử tương lai với máy ghi âm và ghi hình, ti vi và máy vi tính và tất nhiên còn có cả cuốn sách giáo khoa đẹp được mệnh danh là theo đường hướng giao tiếp.

Nếu chúng ta thừa nhận rằng, phương pháp dạy học chữ Hán, và nói chung, phương pháp giáo dục cùng những phương tiện vật chất của nhà trường phong kiến xưa kia có nhiều nhược điểm và hạn chế; thì càng phải đi đến sự khẳng định rằng, sách học chữ Hán ngày xưa, mặc dù có nhiều thiếu sót như ta đã rõ, nhưng đã đạt được ưu điểm cơ bản là chuyển tải được cùng một lúc hai loại lượng thông tin: ngôn ngữ mới và văn hóa chung thời đại, nên đã có tác động tích cực tới qua trình dạy và học tiếng, nhờ sự tác động tích tương hỗ qua lại của hai loại thông tin ấy trong quá trình tâm lý nhận thức ở người học. Không hiểu như vậy, chúng ta không giải thích được đầy đủ, đúng đắn sự thành công to lớn của người xưa trong việc học chữ Hán và để đi đến chỗ chỉ ca ngợi một bề tinh thần khổ học của các vị đó. Như tâm lý học đã chỉ rõ, một sự khổ học chỉ bằng cái ý trí trần trụi, không chứa trong nó sức mạnh tổng hợp của toàn bộ đời sống tâm lý đó là chủ thể gắn liền với những tài liệu học tập mang lượng thông tin lớn có sức kích thích mạnh về trí tuệ và tâm hồn người học chữ, thì không bao giờ đạt được kết quả khả quan.

Chính vì lý đó, mà chúng ta phải để tâm nghiên cứu kinh nghiệm của người xưa như đầu đề bài viết nêu lên. Chúng ta đang tiếp cận, kế thừa kinh nghiệm đó. Nhưng ở đây có điều chúng ta cần nhớ rõ, kế thừa không có nghĩa là lặp lại, bởi lẽ hoàn cảnh là một nhân tố tạo nên nó luôn luôn biến đổi. Hơn thế, một kinh nghiệm càng lớn đã thuộc về lịch sử, càng gắn chặt với hoàn cảnh của nó. Trong trường hợp đó kế thừa là sự lặp lại chẳng những không được gì thêm mà còn có thể bị mất mát.

Trước khi đi sâu vào phân tích, đánh giá vai trò của lượng thông tin văn hóa chung thời đại trong sách học chữ Hán của ông cha ta xưa kia, chúng tôi muốn được nói một đôi điều sau đây.

Theo thói quen lâu nay đã có ở mọi người, chúng tôi gọi việc học ngoại ngữ phương Bắc ngày xưa của cha ông ta là học chữ Hán. Cách gọi đó rất ước lệ để chỉ hiện tượng, cha ông nắm ngôn ngữ viết và chữ viết của người khác, còn ngữ âm của thứ tiếng đó thì đã được Việt hóa. Nắm được thứ ngôn ngữ này như thế, người xưa có thể đọc hiểu sách của thánh hiền, có thể thưởng thức và sáng tác văn thơ, giao dịch hành chính, ghi chép khoa học, nhưng trong giao tiếp hàng ngày thì lại dùng tiếng mẹ đẻ, tất nhiên có hiện tượng đan cài vào văn bản những thành ngữ, những đoạn câu chữ Hán. Sở dĩ như vậy vì tiếng Hán mà cha ông ta học là thứ văn ngôn tức một ngôn ngữ văn học thời cổ đại của Trung Quốc đã rất xa với tiếng nói hàng ngày. Tình hình đó làm cho cách dạy - học chữ Hán của người xưa không có sách dạy những câu nói bình thường trong tình huống thường gặp của đời sống sinh hoạt hàng ngày. Cuốn sách vỡ lòng chữ Hán cho trẻ tóc còn để chỏm đã là cuốn sách dạy đạo lý là vì vậy: cuốn Tam tự kinh là một ví dụ rất điển hình.

Với những bộ sách chữ Hán đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại đương thời, cha ông ta đã rút ngắn rất nhiều giai đoạn học tiếng để chuyển nhanh sang giai đoạn học bằng tiếng (tức chuyển nhanh giai đoạn ngôn ngữ là đối tượng của nhận thức sang giai đoạn ngôn ngữ là phương tiện của nhận thức) trong quá trình nắm ngôn ngữ mới. Chỉ riêng cái lôgích đó thôi cũng đủ làm cho các nhà khoa học giáo dục trẻ ngày nay không có điều kiện điểm qua hàng ngàn sách học chữ Hán cũng có thể bước đầu nhận định cuốn Tam thiên tự văn giải nghĩa, một cuốn từ điển Hán Việt được làm thành vè để cho học trò mới bắt đầu cắp sách đến trường dễ nhớ nghĩa của từng từ riêng lẻ chiếm một tỉ lệ không đáng kể(2). Và có lẽ nhà khoa học trẻ khi chưa kịp nhận ra cái lôgích đó, chỉ cần lấy cuốn Tam tự kinh, cuốn sách giáo khoa vỡ lòng chữ Hán ngày xưa cũng đủ nhận ra cái đặc tính nổi bật của sách giáo khoa thực hành ngoại ngữ của ông cha ta.

Còn một điều rất quan trọng nữa. Những sách chữ Hán do người Hán viết như Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử (tức Tứ thư) và Kinh thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân thu (tức Ngũ Kinh ) cùng một số sách khác là những tác phẩm văn chương hay khoa học có cần tính đến trong luận chứng của chúng ta không ? Rất cần. Bình thường những sách đó chỉ có một chức năng chuyển tải thông tin văn hóa. Nhưng khi đến tay người Việt Nam, chúng ta đã thực sự có một chức năng mới thường xuyên, hệ thống, lâu dài và có hiệu quả: chức năng dạy học ngôn ngữ mới. Đưa lại một chức năng mới cho một công cụ tất nhiên phải đồng thời tạo ra phương pháp sử dụng và hệ thống thao tác vận hành nó. Tất cả những cái đó cần được ghi nhận là một thành quả tư tưởng của người xưa. Cách dạy và học ngoại ngữ như thế đáng để ta nghiên cứu, trước hết là về mặt đánh giá vai trò nội dung thông tin văn hóa và gắn liền với sự đánh giá đó là thái độ coi trọng nội dung văn bản ở người học.

Khi khai thác di sản tư tưởng lớn của người xưa trong sự nghiệp dạy học ngoại ngữ nói riêng cũng như sự nghiệp nâng cao dân trí nói chung, ta cần phải tính đến các tác phẩm trên, ít nhất ta xem đó là giá trị của một bằng chứng văn bản cho một tư tưởng về phương pháp mà ta muốn kế thừa. Điều chúng tôi muốn được lưu ý trước là phạm vi sách chữ Hán được bàn tới trong bài viết này. Trong thực tế quả có nhiều sách dạy học chữ Hán, nhất là vào cuối thế kỷ này khi khoa học ngôn ngữ đã phát triển và được vận dụng nhiều vào việc dạy tiếng. Lúc các nhà Nho được đọc những trang sách chữ Hán có dấu chấm câu, cũng là lúc trên giá sách của các cụ không chỉ có Tứ thư, Ngũ kinh, mà còn có cả những chuyên khảo về tập làm văn, về lý luận văn học, về Hán học, về ngữ pháp được mua chính từ những hiệu sách của người Hoa ở các thành lớn. Vì vậy, chúng tôi muốn được giới hạn những sách dạy - học chữ Hán xưa ở chức năng làm bài khóa cho người học. Những sách chữ Hán như thế có cuốn do người Hán viết, có cuốn do người Việt viết. Chúng tôi chú ý tới loại sách bài khóa vì nó có nét nổi bật đặc thù là thường đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại, một nét đặc thù thể hiện một phương pháp dạy tiếng mà khoa học dạy ngoại ngữ hiện đại cần tiếp cận và kế thừa.

Điều cuối cùng chúng tôi muốn nói đến là sách học chữ Hán với tư cách là sách giáo khoa thực hành ở giai đoạn nâng cao và hoàn thiện. Sau vài ba cuốn ở giai đoạn vỡ lòng mà nguời thông minh có thể thuộc lòng sau dăm bảy tháng học (còn người kém thông minh với cách dạy - học xoàng thì phải đến dăm ba năm mới nắm được), người học được cầm lấy các sách kinh điển như Luận ngữ, Kinh Thư trong Tứ thư, Ngũ kinh, loại bài khóa mới từ các sách này có tỷ trọng thông tin văn hóa chung thời đại trong đơn vị văn bản cao với những hình thức học tập mới đã thể hiện rõ những tác dụng của nó.

Một hình thức học tập phổ biến của loại bài khóa này là nghe sách. Nay nếu đem diễn lại cách học này thì chắc hẳn ta không tránh khỏi sự buồn cười. Thầy nghê nga đọc câu chữ Hán, trò nghê nga lời dịch. Việc làm như thế trong lớp học chữ Hán xưa kia vào buổi hưng thịnh của đạo Nho thì lại nghiêm túc, long trọng, có khi còn dường như gợi lên không khí thiêng liêng của hơi thở thánh hiền. (trong lớp học chung, cũng như phòng học riêng thường người ta còn thắp hương kia mà. Đầu tóc, quần áo, tư thế ngồi của cậu học trò trước trang sách chữ Hán cũng có những nét đẹp truyền thống đặc trưng).Tâm lý học hoàn toàn có thể nói rõ về ảnh hưởng của những yếu tố bên ngoài như thế đối với tâm trí người học. ảnh hưởng ấy thường chỉ có thể nảy sinh từ hơi thở của loại bài khóa mà chúng ta đang muốn tìm hiểu.

Lượng thông tin văn hóa chung thời đại trong sách giáo khoa thực hành chữ Hán, giá trị của bài khóa, thái độ coi trọng văn bản, kết quả học tập có thể có được để ta đáng quan tâm là vì vậy. Ngày nay ta không thể và cũng chẳng cần lặp lại nguyên vẹn một phong cách dạy học như thế. Nhưng mà cái ta cần và có thể kế thừa là tư tưởng về giá trị bài khóa, một tư tưởng sớm muộn cũng đưa đến cuộc cách mạng trong dạy học ngoại ngữ.

Một hình thức học tập chữ Hán cao hơn với bài khóa là bình văn, bình thơ: tác phẩm văn chương ưu tú được thầy trịnh trọng đọc lên từng đoạn, từng câu rồi chậm rãi, nghiêm nghị phân tích, đánh giá những điều tâm đắc, thường theo hướng mở rộng, khơi sâu ý tưởng của tác giả với phương pháp đi từ nội dung đến hình thức là chủ yếu. ở những lớp học cao, học trò lần lượt được thực tập làm công việc đó của thầy.Trong cái im lặng có thể lắng đọng ý văn, tứ thơ, trong cái trang nghiêm đến có hơi thở của sự thiêng liêng, trí tuệ thâm thúy, uyên bác, tâm hồn nhạy cảm, tài hoa của nhà Nho ghi nhận và hấp thụ được tinh hoa từ tác phẩm. Những buổi bình văn như thế chỉ ở một số trường nổi tiếng mới có, và cũng chỉ thỉnh thoảng mới tổ chức được. Đó là một hình thức học đặc trưng của nhà trường chữ Hán ở buổi hưng thịnh nhất của đạo Nho. Nó không phải là một giờ lên lớp quen thuộc, cũng không phải là một buổi sinh hoạt câu lạc bộ ồn ào, và tất nhiên cũng chẳng giống một hội thảo khoa học nặng nề như chúng ta tưởng bằng vốn kinh nghiệm của ngày hôm nay. Nó là bình văn, một hình thức thấm nhuần, chiếm lĩnh tác phẩm văn chương, tức bài khóa của người xưa, mà ngày nay khoa học dạy ngoại ngữ không thể lặp lại được, nhưng hoàn toàn cần phải kế thừa, trước hết là kế thừa ở tư tưởng về giá trị của bài khóa, một tư tưởng mà công trình nghiên cứu nhiều năm của chúng tôi muốn khẳng định.

Tất nhiên, những bài khóa và kèm theo đó là cách dạy- học riêng trên đây của nhà trường chữ Hán xưa kia không phải bao giờ cũng đẹp như chúng tôi muốn miêu tả, mà lắm khi nó xấu, xấu đến mức chẳng muốn gợi lại làm gì, một cái xấu đã được nhà khoa học đánh giá, nhà văn miêu tả bằng đủ những tính từ nghèo nàn, khô khan, trống rỗng, vô nghĩa,...thậm chí cả như “đáng hổ thẹn” nữa. Nhưng sự nghiệp nâng cao dân trí đang đòi hỏi thế hệ chúng ta phải đi tìm cho được cái quí giá có thực của quá khứ từ Chu Văn An (? - 1370), từ Nguyễn Trãi (1380-1442), từ Lê Quý Đôn (1726-1784)..., cái quý giá có bằng chứng hẳn hoi, tức những pho sách đồ sộ của người xưa hiện còn trước mắt chúng ta trên những giá sách để không phải dại dột lặp lại một cách máy móc mà là kế thừa một cách sáng tạo từ một tư tưởng về phương pháp tạo bài khóa học tiếng.

Tất cả những điều chúng tôi vừa nói trên đây đều muốn làm rõ khái niệm sách học chữ Hán với chức năng cung cấp những bài khóa dù là của người Việt hay của người Hán ở thời kỳ hưng thịnh của đạo Nho là chủ yếu. Khái niệm học chữ Hán cũng được hiểu theo một nghĩa đầy đủ: học ở giai đoạn vỡ lòng (giai đoạn học tiếng thuần túy) học ở giai đoạn chữ Hán là công cụ để nhận thức, học ở giai đoạn chữ Hán là đối tượng nghiên cứu, học trong nội khóa và cả ngoại khóa với những tác phẩm văn chương cũng như khoa học có giá trị lớn.

Sự vật và hiện tượng nào của cuộc sống cũng có hai mặt tích cực và tiêu cực của chúng.Với những sự vật và hiện tượng đã thuộc về quá khứ mà chúng ta muốn vượt qua và đã vượt qua từ lâu, tìm cho được mặt tích cực, hay nói đúng hơn, phát hiện cho được yếu tố tích cực của chúng là việc khó, rất khó. Nhưng nếu tìm thấy, phát hiện được thì lại vô cùng đáng quý, đáng quý không phải vì giá trị của một thứ đồ cổ, mà là ở chân lý khoa học đã được thực tiễn lịch sử xác nhận, một sự xác nhận thực nghiệm khó thay thế được. Toàn bộ sự phân tích, chứng minh của chúng tôi sau đây đều nhằm vào chỗ làm sáng tỏ giá trị của bài khóa chữ Hán dù nó tồn tại dưới bất cứ hình thức nào, ở giai đoạn nào của người học. Tác giả bài viết này xin phép lướt qua việc miêu tả, phân tích chân dung, tính cách của việc dạy học chữ Hán trong giai đoạn lịch sử phát triển của nó.

Nói một cách khác, nội dung tư tưởng tốt hay xấu, tiến bộ hay lạc hậu trong các sách chữ Hán của người xưa, một mặt nó không thuộc nhiệm vụ của bài viết này, mặt khác nó đã được nhiều công trình nghiên cứu lớn có giá trị giải quyết từ lâu, và cũng được nhiều người, đặc biệt là các nhà trí thức lớn với thái độ vừa phê phán, vừa kế thừa rất tốt ở trình độ quan điểm, lập trường của chủ nghĩa Mác - Lê Nin. Nhiệm vụ của bài viết này là muốn góp phần với nhiều người khác khẳng định ảnh hưởng của sự đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại trong bài viết đối với quá trình nắm vững ngôn ngữ mới. Việc làm này cũng giống hệt như việc nghiên cứu nắm vững tính năng của một công cụ lao động có năng suất cao nhờ một đặc tính cấu tạo nào đó.

Với sách học chữ Hán được đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại, người xưa đạt được cùng một lúc trong cùng một hoạt động hai mục đích lớn lao của việc nâng cao dân trí: nắm ngôn ngữ mới và văn hóa chung.

Những bộ sách học chữ Hán đó của người Hán hay của người Việt Nam, ngày nay, đã đi vào lịch sử ở dạng nguyên bản. Hiện nay, đối với nhiều người, chúng chỉ có thể được nhận diện ở một số bản dịch. Vì vậy, để chúng ta có thể cùng nhau nhìn nhận sâu hơn tính chất đong đầy nén chặt lượng thông tin của chúng, chúng tôi xin được dừng lại một chút để nói về sự hình thành và tồn tại một cách tất yếu của tính chất này. Tác phẩm bằng ngôn ngữ nói cũng như bằng ngôn ngữ viết của người xưa muốn trở thành tài sản tinh thần của cộng đồng, phải cực kỳ ngắn gọn và súc tích, nghĩa là nó phải có lượng thông tin lớn trong một đơn vị văn bản; bởi lẽ, thì giờ của người sản xuất nông nghiệp không phải chặt đến từng giây phút như thì giờ của người sản xuất công nghiệp hiện đại; nhưng những phương tiện giúp cho sự ghi nhớ tài liệu như máy ghi tiếng, ghi hình không những chưa có, mà ngay giấy bút, phương tiện nhân bản cũng thô sơ và hiếm hoi hơn rất nhiều so với hiện nay. Văn bản ngắn gọn súc tích; đồng thời lại phải hấp dẫn; do đó các phương tiện tu từ, mỹ từ phải được vận dụng triệt để, nhất là trong văn viết. Cũng chính vì vậy, văn viết ngày càng xa cách văn nói. Người xưa thích viết văn có điển cố, chuộng đọc văn biền ngẫu, làm thơ với số câu, số chữ rất hạn chế là vì thế. Điển cố không phải là cái gì khác mà chính là một sự mã hóa lại một sự tích, một câu chuyện dài trong vài từ ngữ, tức một sự rút gọn văn bản một cách đặc biệt, để dồn nén thông tin, để kích thích suy nghĩ, gây cảm xúc mạnh hơn bình thường cho người tiếp nhận nó. Văn biền ngẫu vốn không phải là trò chơi sắp chữ, mà là nghệ thuật tạo nhạc điệu cho lời văn, là thủ thuật đối để nhấn mạnh một ý, để khuôn lời lại trong khi người nói có thể rông dài. Thơ Đường thể thất ngôn bát cú đã từng thịnh hành, vốn không phải là một trò tiểu xảo để thi thố tài nghệ ngôn từ với vần trắc bằng trong số câu, số chữ ít ỏi như vậy mà là khuôn vàng thước ngọc của sự biểu đạt theo yêu cầu đong đầy nén chặt lượng thông tin, để tiết kiệm lời để lợi cho trí nhớ. Dĩ nhiên, một cách thức hành động nào cũng có hai mặt lợi hại của nó; mặt hại sẽ bị lộ ra khi nó bị lạm dụng, và điều đó có thể dẫn đến chỗ nó bị từ bỏ.

Song song với sự hình thành và tồn tại đặc tính trên đây của nghệ thuật biểu đạt là thói quen tiếp nhận nó của cộng đồng người đông đảo, những tác giả của ca dao, tục ngữ, những tác phẩm vốn không bao giờ phạm lỗi phung phí ngôn từ. Sách của người Hán viết ra chịu sự chi phối ấy của sức mạnh tâm lý xã hội đương thời. Người Việt học sách đó rồi lại viết sách ra cho người mình trong một hoàn cảnh xã hội tương tự, nên sách cũng mang đặc tính ấy.

Mặt khác, nội dung văn bản tức lượng thông tin văn hóa chung thời đại là những tri thức kỹ năng được hình thành trong một quá trình lâu dài trong cả trường kỳ phát triển chậm chạp, rất ít biến đổi của xã hội phong kiến đủ để kết tinh đến mức người viết có thể đưa nó vào sách một cách không khó khăn dưới một hình thức hết sức cô đọng. Văn trong sách chữ Hán của người xưa, khi bàn về những vấn đề xã hội hầu hết như những câu châm ngôn. Những câu châm ngôn ấy khi nói về nhân tình thế thái có thể đạt tới giá trị trường tồn, để rồi còn có những mẩu chuyện minh họa cũng có giá trị như thế. Những mẩu chuyện mà ta đọc trong Cổ học tinh hoa đã ra đời trong hoàn cảnh đó. Có nhiều mẩu chuyện có dạng thức một truyện ngắn mang nội dung luân lý, nhưng văn bản dồn nén đến mức như một lời giáo huấn.

Sách học chữ Hán của người xưa ở giai đoạn điển hình như ta đã lựa chọn ở trên, ngay cuốn sách vỡ lòng như cuốn Tam tự kinh đã đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại. Càng cho trình độ cao hơn, lượng thông tin đó càng lớn, lớn đến mức chức năng dạy chữ của nó vốn được đặt song song với chức năng nâng cao văn hóa chung thời đại theo cách nói của chúng ta ngày nay, bị lùi lại phía sau. Phương châm tiên học lễ hậu học văn, nguyên lý văn dĩ tải đạo của nhà trường phong kiến trước hết được thấm nhuần vào từng câu chữ của những trang sách giáo khoa được dùng làm bài khóa.

Việc lấy những trang sách kinh điển mang nặng nội dung khoa học hay giầu tính văn chương làm trang sách giáo khoa thực hành cho người học tiếng ở trình độ cao không khó lắm và dễ hiểu đối với nhiều người. Nhưng việc dám biên soạn dám sử dụng một cuốn sách giáo khoa vỡ lòng như cuốn Tam tự kinh thì khoa học dạy ngoại ngữ hiện đại hôm nay phải suy nghĩ nhiều lắm.Chưa một thế hệ nhà nho nào từ chối cuốn sách giáo khoa đó. Kết quả học tập tốt đẹp với một cuốn sách như thế đã được lịch sử chứng minh.

Tâm lý học hiện đại có thể bàn gì về điều này?

Quy luật đời sống tâm lý là một thể thống nhất toàn vẹn của nhận thức, tình cảm và ý chí, của quá trình, trạng thái và thuộc tính, của các nhóm thuộc tính (khí chất và tính cách, xu hướng và năng lực) là quy luật chung nhất, lớn nhất được vận dụng khi ta muốn hiểu về cấu trúc con người, cũng như muốn biết rõ về từng hoạt động tâm lý của nó. Ta hãy nói về quy luật này trong việc học ngoại ngữ. Bài khóa giàu lượng thông tin văn hóa chung thời đại đối với những người có nhu cầu và tình cảm, hứng thú và động cơ ứng với lượng thông tin ấy sẽ tác động không chỉ lên bề mặt của các quá trình nhận thức, mà còn đụng đến dấy lên mối liên hệ, gây chấn động đến toàn bộ đời sống tâm lý của nó. Nhờ thế, lượng thông tin ấy sẽ được tri giác, được ghi nhớ, được suy nghĩ, được tưởng tượng, được cảm xúc mạnh hơn để kết quả trong tâm hồn, trí tuệ của người đọc được nhiều hơn. Và cũng với lượng thông tin ấy, ngôn ngữ mới chuyển tải nó cũng được hấp thụ.

Trong phạm vi bài viết này, ở đề mục này, chúng tôi chỉ nói đến hành động trí nhớ trong toàn bộ hoạt động tâm lý của cá nhân. Trí nhớ hiện diện trong mọi hoạt động của con người, nhưng nó chỉ là một trong hàng chục hiện tượng tâm lý khác. Ngay trong nhận thức, thì nó cũng chỉ là một trong 6 quá trình tâm lý khác, nó ở cạnh cảm giác và tri giác, tư duy và tưởng tượng, chú ý và ngôn ngữ.

Nhiều người than phiền trí nhớ mình giảm sút quá, nên khó nhớ và dễ quên nhiều điều phải ghi nhớ, nhất là trong việc học ngoại ngữ. Không ít người, trong đó có cả các chuyên gia dạy tiếng, chưa đánh giá đúng mức ảnh hưởng của nội dung bài khóa đối với thực tiễn đời sống thì vẫn luôn luôn chỉ rõ điều đó. Vì thế, vấn đề đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại theo một hệ thống nào đó cho bài khóa ngoại ngữ cho đến nay vẵn chưa được đề lên thành nguyên tắc lớn trong khoa học dạy ngôn ngữ mới.

Nhưng trong thực tiễn dạy học chữ Hán, do những điều kiện lịch sử đặc thù của nó, nguyên tắc đó đã được thể hiện một cách tự nhiên, và đã đem lại hiệu quả rất lớn cho người học.

Dưới đây chúng ta hãy phân tích việc ghi nhớ bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt ở các nhà Nho và cũng là ở mọi người để giải quyết một phần vấn đề vừa được nêu lên.

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Bài thơ gồm 4 câu với 28 chữ. Thuộc bài thơ tức là thuộc 27 (3) chữ, và cũng từ đó, nếu cần thiết và biết cách học thì vừa ôn lại vừa biết thêm nhiều chữ nữa. Còn hiện tượng ngữ pháp trong bài thơ thì tất nhiên phong phú, đa dạng cũng giống như các văn bản khác của các tiếng khác trong hiện tượng tương tự.

Tất cả những người học chữ Hán trước đây đều nói rằng sau khi nghe thầy học bình giảng xong là thuộc cả và nhớ mãi.

Chúng ta hãy phân tích xem bài thơ được ghi nhớ như thế nào nhờ những yếu tố tương hợp giữa văn bản và tâm lý người học. Những yếu tố này hiện diện trong quá trình ghi nhớ thường chỉ được người học cảm nhận trong một cảm xúc tích cực. Hiện tượng này cũng gần giống như khi ta bước đi, ta chỉ cảm nhận được tính tích cực trong một động tác, mà không cảm thấy được hơn 50 xung động thần kinh điều khiển bước đi đã diễn ra.

Chúng ta có thể kể đến những yếu tố sau đây:

Bài thơ là văn bản hoàn chỉnh, có nghĩa, hợp lô - gích như tất cả những văn bản bình thường khác nhưng nó có những cái đáng chú ý; nó là thơ và lại là thơ tứ tuyệt, nên phù hợp với hứng thú văn chương của nhiều nhà nho và không làm quá tải với trí nhớ của người tiếp nhận, do số lượng từ ít. Nó là tiếng nói của một vị anh hùng dân tộc và cũng là của cả một dân tộc trong giờ phút thiêng liêng của lịch sử, giờ phút Tổ quốc đứng trước nguy cơ của nạn ngoại xâm từ một nước lớn. Nó thể hiện khí phách anh hùng, niềm tin vào sức mạnh của chính nghĩa, của pháp lý quốc tế, vào sức mạnh bất khả chiến thắng của một dân tộc có truyền thống giữ nước. Nó vang lên niềm tự hào của cả một dân tộc.

Bài thơ là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta.

Nó lại được nhuốm màu sắc thần bí, khêu gợi trí tò mò do được gắn liền với một giai thoại lịch sử nên dễ làm cho quá trình xúc cảm, tư duy và tưởng tượng trên đây để làm cho quá trình trí nhớ ở chủ thể tiếp nhận diễn ra có kết quả tốt hơn.

Bản thân bài thơ là một tài liệu có giá trị sử cao, đồng thời cũng là tác phẩm văn học có giá trị nghệ thuật rất đáng trân trọng. Chủ thể có trình độ nhận thức và biết đặt thêm hai mục đích học vấn quan trọng đó nữa, hiệu quả của ghi nhớ càng cao hơn, càng cao hơn nữa nếu chủ thể hình dung vốn văn hóa chung này sẽ được vận dụng vào những hoàn cảnh, tình huống giao tiếp trong tương lai đặc biệt là khi sử dụng nó không chỉ như một công cụ bình thường mà còn có thể như một vũ khí sắc bén trước một đối phương nào đó.

Tất nhiên, chúng ta còn cần phải tính đến ảnh hưởng của những dạng kích thích sau đây của bài thơ đối với chủ thể tiếp nhận. Người học được học bài thơ từ một văn bản có chữ viết đẹp, trang trọng (nếu được phép lạc đề xa đề một chút, ta có thể nói đến việc đọc bài thơ từ những dòng chữ trên trang giấy đặc biệt có hoa văn phơn phớt một màu đẹp nào đó làm nền, hoặc được nghe bài thơ bằng một giọng đọc, giọng ngâm, giọng bình giảng đặc trưng do có sự thấm đượm những cảm xúc sử thi của một tâm hôn tràn đầy lòng yêu nước, chí căm thù và tinhh thần tự hào dân tộc thì hiệu quả của việc ghi nhớ được tăng cường thêm, thậm chí đối với một người nào đó, hiệu quả đó đến một cách tức khắc, bất ngờ và để lại một dấu ấn cực kỳ mạnh mẽ và sâu sắc. Một hiệu quả ghi nhớ như vậy thường chỉ xuất hiện đối với những văn bản mang lượng thông tin văn hóa chung thời đại.Thật khó mà nói rằng, một đoạn văn hội thoại thường gặp hàng ngày có thể gây ra những cảm xúc lớn để giúp trí nhớ làm việc tốt hơn ở người học kiểu như trên nhờ tính kích thích của chữ viết và giọng đọc, trừ những trường hợp đặc biệt lắm mà ta chưa tiện nêu ra ở đây.

Bài thơ nếu được học trong một không gian, một thời gian thích hợp, cógiá trị xúc tác và các quá trình nhận thức chúng, tức được học trong một hoàn cảnh cótính kích thích tâm lý thuận lợi, thì nhất định cũng được ghi nhớ tốt hơn. Sức kích thích này của thông tin văn hóa chung thời đại trong bài khóa có thể đem so sánh với sức kích thích của văn hóa tình huống giao tiếp thực hàng ngày, một sức kích thích mà người học ngoại ngữ không có cái may mắn được ở trong môi trường bản ngữ hầu như không có.

Tóm lại, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, sự kiện lịch sử mà văn bản phản ánh, uy tín và trách nhiệm xã hội của tác giả, nội dung tư tưởng, tình cảm và hình thức nghệ thuật của bài thơ nói chung cũng như ý nghĩa của nó đối với người học đã làm cho chủ thể nhận thức có khả năng phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn bộ đời sống tâm lý của mình với những thành phần cảm giác và tri giác, tư duy và tưởng tượng, chú ý và ngôn ngữ đến cảm xúc và tình cảm, để cho trí nhớ của mình không phải làm việc một cách đơn độc. Bài thơ từ chỗ là đối tượng của hành động ghi nhớ chuyển dần sang đồng thời là đối tượng của nhiều hành động tâm lý khác đặc biệt là của hành động tư duy. Đó là một bí quyết của việc học tập ở đây, và cũng chính là một lý do cơ bản của việc đề lên nguyên tắc mới quan trọng: hệ thống bài khóa ngoại ngữ được đong đầy nén chặt lượng văn hóa chung thời đại.

Xét về nhiều tiêu chuẩn của một bài khóa ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp, bài thơ Nam quốc sơn hà chưa phải là loại bài khóa tiêu biểu. Nhưng xét theo tiêu chuẩn của lượng thông tin văn hóa chung thời đại (4) và nhất là tính thêm điều kiện dễ có sẵn văn bản trong trí nhớ của nhiều người khi đọc bài viết này cũng như tính tiện lợi của sự phân tích những yếu tố tương hợp giữa văn bản và tâm lý người học chúng tôi đã chọn bài thơ trên để làm ví dụ phân tích. Sự nêu lên các yếu tố đó như đã được làm ở trên cũng hoàn toàn mới dừng lại ở mức gợi ý, chưa đến mức đầy đủ, rạch ròi từng điểm và xếp theo một thứ tự chặt chẽ để có thể dẫn người đọc đến chỗ có thể hình dung được sự vận động và hiệu quả của quá trình trí nhớ, quá trình tưởng như phức tạp không thể nhận thức nó một cách chính xác gần giống như nhận thức sự vận động của một bước đi gồm hơn năm mươi xung động thần kinh. Chúng tôi muốn tránh bớt sự dài dòng và nặng nề cho người đọc, một khi phạm vi bài viết này đã cho phép.

Tất cả những điều vừa trình bày trên đây về việc ghi nhớ một tài liệu, ta thấy rõ rằng, hiệu quả của việc ghi nhớ phụ thuộc không chỉ vào sức làm việc riêng của trí nhớ. Trí nhớ chỉ đạt năng suất cao trong hoạt động khi nó được sự hỗ trợ tích cực của tri giác, tư duy, tưởng tượng, chú ý và ngôn ngữ của cảm xúc và tình cảm: của nhu cầu hứng thú và động cơ, nói chung là của toàn bộ nhân cách, tức của toàn bộ sức mạnh tổng hợp của đời sống tâm lý trong chủ thể.

Trên cơ sỏ khoa học đó, ta nói rằng việc đưa lượng thông tin văn hóa chung thời đại vào bài khóa ngoại ngữ, không những không cản trở cho việc ghi nhớ ngữ liệu, mà còn tác động tương hỗ, qua lại làm cho cả hai loại thông tin đều được người học nắm tốt hơn. Quả là trong việc học ngoại ngữ chữ Hán, tổ tiên ta đã vận dụng được quy luật số một của tâm lý con người theo quan điểm của tâm lý học hiện đại.

Văn bản mang đồng thời hai lượng thông tin chất lượng cao như trên ta đã nói không những được ăn sâu vào trí nhớ của nhà nho; mà do đó còn có sức sống mạnh mẽ ở cả cộng đồng rộng lớn trong trường kỳ lịch sử. Nhiều câu từ trang sách chữ Hán khi vang lên thỏa mãn người nghe về cả ba nhu cầu đạo đức, trí tuệ, và thẩm mỹ. Chẳng hạn, như những câu “Ngọc bất trác, bất thành khí, nhân bất học, bất tri đạo” (Viên ngọc không giũa, không thể thành đồ dùng, người không học, không thể biết đạo được) (Lễ ký) “Hiếu nhân bất hiếu học, kỳ tế giả ngu” (Người có nhân mà không thích học, thì cái che đi là sự ngu muội) (Luận ngữ). “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người); “Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” (Cái gì mình muốn dựng lên thì dựng cho người) (Luận ngữ).

Quy luật vận động đồng thời và tác động qua lại giữa ý và lời, giữa tư tưởng và ngôn ngữ, giữa nội dung và hình thức biểu đạt được người xưa học theo sách chữ Hán: thể nghiệm thường xuyên hơn nhờ sức mạnh của giá trị và tác dụng của văn bản, như ta đã rõ, là một mặt; và nhờ thái độ coi trọng nội dung văn bản của người học, một thái độ được nuôi dưỡng bằng phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn”và quan điểm đã thành truyền thống “Văn dĩ tải đạo”, là một mặt khác.

Mặt thứ hai có được ở người học trước hết là do mặt thứ nhất tức nội dung của sách. Phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn” và quan điểm “Văn dĩ tải đạo” vốn có của người viết sách, rồi ở từng trang sách. ở đây, ta cũng cần lưu ý thêm cách hiểu nội dung phương châm quan điểm ấy của người xưa. “Lễ nói đây không chỉ là những quy định về thể thức giao tiếp, mà là toàn bộ những chuẩn mực đối nhân xử thế, nói chung là đạo làm người (dĩ nhiên đạo ấy là của xã hội buổi đó); “Lễ” là cả một nội dung cơ bản của học thuyết Nho giáo, chi phối toàn bộ xã hội. “Văn”đây không chỉ là văn chương, càng không phải chỉ là hình thức văn chương, mà là toàn bộ tư tưởng, tri thức, kỹ năng của thời đại; nó chở đạo, trong đó có đạo làm người.

Vì thế trong Luận ngữ, sách ghi lại những tư tưởng của Khổng Tử, Thánh kinh của người Trung Hoa xưa, mới có câu trở thành khuôn vàng thước ngọc trong xử thế: “Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân, hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn” (Người đệ tử vào thì hiếu, ra thì đễ, cẩn thận mà tin tưởng, yêu cả mọi người, nhưng thân với người có nhân, làm được những điều ấy, có thừa sức mới học văn (Luận ngữ).

Trong thực tế, người xưa khi dạy học chữ Hán đã khai thác triệt để quy luật này của tâm lý học hiện đại, triệt để đến mức ta tưởng như người xưa đã phạm phải sai lầm lớn về phương pháp dạy ngoại ngữ, tưởng như họ không tính gì đến đặc điểm tâm lý lứa tuổi, khi họ đặc biệt chú ý mặt tư tưởng nội dung của văn bản. Cậu bé tóc còn để chỏm đến lớp học đã phải nghe giảng về đạo lý khi còn học chữ trong cuốn Tam tự kinh như ta đã biết. Phải thừa nhận rằng, một cuốn sách vỡ lòng như thế, tự thân nó chứa đựng khả năng phân chia các ông đồ ra làm hai phía: phía này dạy chữ với sự thuyết giáo đạo đức trừu tượng khô khan, khó hiểu, kém hấp dẫn, để rồi người học khó nhớ cả chữ và chán luôn cả việc học; còn phía kia nối gót Khổng Tử, người có nghệ thuật sư phạm cao, biết kể chuyện với dụng ý tạo tình huống có vấn đề, tận dụng vốn kinh nghiệm, phát huy tính tích cực của người học.

So sánh việc dạy chữ ngày xưa với ngày nay, ta thấy có sự khác nhau như sau. Ngày nay, trẻ bắt đầu học ngoại ngữ bằng việc làm quen với lời nói của ngôn ngữ mới trong tình huống của sinh hoạt hàng ngày. Còn ngày xưa trẻ bắt đầu học chữ Hán bằng việc tiếp nhận những thông tin văn hóa chung thời đại (dĩ nhiên, là những thông tin gắn liền với sự tu dưỡng nhân. Ngày nay, trẻ bắt đầu học ngoại ngữ bằng việc làm quen với lời nói của ngôn ngữ mới trong tình huống của sinh hoạt hàng ngày. Còn ngày xưa trẻ bắt đầu học chữ Hán bằng việc tiếp nhận những thông tin văn hóa chung thời đại ( dĩ nhiên, là những thông tin gắn liền với sự tu dưỡng nhân cách trong giao tiếp, trong quan hệ đời thường với những người xung quanh, với xã hội). Trẻ nắm được chữ nhờ sự nắm tri thức. Học chữ không có mục đích tự thân. Trong cách nhấn mạnh sự khác biệt, ta có thể nói rằng, trẻ ngày nay học ngoại ngữ thiên về cảm tính trực tiếp nếu có chú trọng đến tư duy khái quát, thì tư duy ấy chủ yếu vẫn là hướng vào hiện tượng ngôn ngữ (ít nhất là ta có thể nhận thấy điều này trong giờ học ở lớp). Còn trẻ ngày xưa bắt đầu học chữ Hán thiên về lý tính nhiều hơn, tâm trí của trẻ được hướng vào nội dung ý nghĩa mà ngôn ngữ đã phản ánh.

Trong khi thừa nhận rằng việc dạy học chữ Hán ở Việt Nam trước đây đã có quá trình phát triển đi lên dưới ảnh hưởng của nhiều nhân tố, trong đó có nhân tố tác động của ngôn ngữ học và có thể cả lối tư duy khoa học thực nghiệm từ phương Tây, ta càng có thể khái quát được rằng, phương pháp dạy học chữ Hán ngày xưa, ít nhất là trên lý thuyết và ở thực tiễn của những nhà giáo ưu tú, chủ yếu đi từ nội dung đến hình thức ngôn ngữ, từ ý đến lời. Vì thế trong khi đọc, cả tâm và trí đều được coi trọng, có khi tâm được nhấn mạnh hơn trí, ý văn, tứ thơ bao giờ cũng được xem là yếu tố chủ đạo trong hoạt động lời nói. Lối học vẹt và loại văn khuôn sáo chỉ thịnh hành ở giai đoạn suy vong của chế độ phong kiến.

Nhiều nhà soạn sách giáo khoa thực hành ngoại ngữ hiên nay cũng thấy đến mức độ nào đó quy luật này, nhưng trong quá trình hướng mạnh vào việc tạo văn bản có lượng thông tin văn hóa chung thời đại mà thực chất cũng mang sức kích thích của tính giao tiếp ở một chiều sâu khác mà văn bản tình huống sinh hoạt không thay thế được. Việc đưa thêm những câu tục ngữ, ca dao, những danh ngôn câu đố vào trang sách giáo khoa kèm theo các bài khóa, thì chỉ mới giống như những bông hoa được cài lên mái tóc cho cô gái, để làm duyên; còn gương mặt, trí tuệ, tâm hồn, tính cách của cô gái bài khóa, thì vẫn chưa có gì thay đổi đáng kể. Bởi lẽ, một bài khóa ngoại ngữ hiện nay muốn có lượng thông tin văn hóa chung thời đại có sức mạnh kích thích tâm lý người học như sách học chữ Hán ngày xưa đối với người đương thời, cần phải có sự hợp tác tay đôi trực tiếp giữa chuyên gia ngoại ngữ với các nhà khoa học và nhà nghệ sĩ lớn; trong đó, người này nêu lên yêu cầu và thiết kế về mặt ngôn ngữ, còn người kia thể hiện nội dung tư tưởng theo một cách làm của một cơ chế rất mới mà trong phạm vi bài viết này tác giả xin phép chưa phải trình bày. Có như thế chúng ta mới thừa kế được kinh nghiệm của người xưa.

Quy luật hiệu quả của tác động bên ngoài thông qua những điều kiện bên trong được vận dụng trong dạy học chữ Hán, trong đó, sách giáo khoa đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung giữ một vai trò rất quan trọng. Tác động của bên ngoài từ văn bản bài khóa là tác động đồng thời của nội dung và hình thức, ở đây, ta nói chủ yếu về tác động của nội dung. Điều kiện bên trong là toàn bộ đời sống tâm lý của một người với những đặc điểm của nó. ở đây, ta chú ý nhất tới đặc điểm của nhu cầu, hứng thú, động cơ.

Trong đời sống ai cũng thể nghiệm được sức mạnh của tâm lý trong sự đòi hỏi cái mà người ta cần, trong sự say mê cái mà người ta hứng thú, trong sự vươn tới cái đã trở thành mục đích. Nhu cầu của cá nhân có thể phát triển cao đến mức tạo nên hiện tượng tâm thế đặc biệt làm cho sự phản ánh, đánh giá chất lượng kích thích theo 1 kích thước, trọng lượng, màu sắc, hình dáng, nhiệt độ riêng qua một lăng kính có độ chiết quang rất lớn. Tâm thế tích cực làm ta quên trở ngại, chấp nhận dễ dàng khó khăn. Hứng thú phát triển cao đến mức làm ta ham mê đối tượng làm thoả mãn nó. Chẳng hạn, đó là hiện tượng người ta có thể ngồi hàng giờ mải miết, quên thời gian và mệt nhọc, quên bận rộn và lo âu khác để nhận một thông tin từ trang sách khi thông tin này bắt đầu gây nên những cảm xúc trí tuệ, đạo đức, hay thẩm mỹ.

Nếu như nhu cầu đã tạo thành bản chất, cơ chế của tất cả các dạng tích cực của con người, thì động cơ là sự thể hiện cụ thể của bản chất: thể hiện ở sự thúc đẩy, lôi cuốn, điều chỉnh hoạt động. Cùng một việc làm, nhưng mỗi người có những động cơ khác nhau - khác nhau về nội dung, tính chất và sức mạnh. Chính vì vậy, hệ động cơ là một điều kiện bên trong đáng quan tâm nhất khi ta xét đến hiệu quả của tác động bên ngoài.

Vận dụng quy luật tâm lý đó, sách học chữ Hán của người xưa, đúng như trên gọi của nó là sách chữ Nho, tức sách nói về đạo Nho, tuyên truyền cho Nho giáo, dù là sách cho lứa tuổi nào, trình độ nào, tuyên truyền bằng nghệ thuật của văn chương, của triết học. Ngay cả khi nói về các khoa học khác nó cũng chở nặng đạo lý Nho giáo (hàm lượng tính tích cực của nó đối đời sống với con người và sự tiến bộ của lịch sử xã hội, đó là vấn đề mà chúng ta chưa xét ở đây). Sách lịch sử có khi kể chuyện theo phong cách văn học, đánh giá người theo tiêu chuẩn đạo đức, tất cả cái đó đều nhằm vào mục đích giáo huấn. Bộ Đại Việt sử ký toàn thư do Ngô Sĩ Liên, nhà sử học Việt Nam cuối thế kỷ XV biên soạn là một ví dụ.

Chỉ tính riêng hình ảnh của “kẻ sĩ” và “người quân tử” được vẽ nên từ hàng vạn trang sách chữ Hán cũng đủ nói lên sức kích thích của tài liệu học tập ứng với nhu cầu, hứng thú, động cơ của người học trong nhà trường phong kiến ngày xưa như thế nào. Bằng văn chương và triết học, bằng kể chuyện và nghị luận, bằng thơ ca và văn xuôi...hình ảnh người quân tử mà hình mẫu là đức thánh Khổng Tử hiện lên dần dần trong từng câu, từng chữ đã hun đúc nên những tấm gương khổ học chứa đựng trong nó sức mạnh tổng hợp của toàn bộ sức mạnh tâm lý ở nhiều thế hệ nhà nho để giúp họ lập nên cái kỳ tích trong việc học ngoại ngữ “chữ Hán”, một kỳ tích mà theo chúng tôi có thể được giải thích bởi lý luận của tâm lý học hiện đại, để chuyển đến cho khoa học dạy ngoại ngữ hiện nay của nước ta cái chìa khóa của sự đổi mới, nâng cao chất lượng của việc dạy học và trong cách nghĩ, cách làm theo quan điểm chúng tôi cũng là sự nghiệp vĩ đại nâng cao dân trí nói chung.

Hẳn là trong cách suy nghĩ hợp lô gích đó, sự tồn tại và phát triển của Viện Hán Nôm trong cả hai chức năng lý luận và thực tiễn với nội dung mới, thiết nghĩ đã hoàn toàn rõ.

Trong lịch sử của nhân loại, mỗi dân tộc, do những điều kiện tự nhiên – thiên nhiên và lịch sử - xã hội nhất định, có những đóng góp riêng của mình vào những tiến bộ chung, nhờ biết khai thác những cái gì đó từ truyền thống của mình mà nội dung của nó xét đến cùng là niềm tin và sức mạnh từ một tư tưởng nào đó.

Bất chấp mọi hạn chế lịch sử, bù đắp cho nhiều nhược điểm của nền giáo dục phong kiến, cách dạy học ngoại ngữ chữ Hán với sách giáo khoa thực hành đong đầy nén chặt lượng thông tin văn hóa chung thời đại một cách có hệ thống đã làm trọn được nhiệm vụ lớn lao của nó trong sự nghiệp vĩ đại nâng cao dân trí trong cùng một lúc về cả hai phương diện: ngôn ngữ mới và văn hóa chung. Tài sản tinh thần vô cùng quý giá đó không dễ gì dân tộc nào cũng có; và nếu có, không dễ gì dân tộc cũng sớm nhận ra nó, để có thể kế thừa nó một cách sáng tạo.

Tạo ra những bộ sách giáo khoa ngoại ngữ có lượng văn hóa thông tin chung thời đại vừa phổ cập, đề cao theo hệ thống nào đó đáp ứng nhu cầu của người học là tạo ra một công cụ chủ yếu mới theo nguyên lý mới. Công cụ mới như thế nào cũng đòi hỏi một phương pháp vận hành và những thao tác mới hoàn toàn ứng với nó. Cuốn sách giáo khoa ngoại ngữ mới mà công trình nghiên cứu của chúng tôi gợi ra cũng giống như vậy: nó đòi hỏi cách dạy và học mới. Sự nghiệp này sẽ gây ra nhiều khó khăn và tốn kém; nhưng đó là cái khó khăn và tốn kém của việc đắp một con đường mới, xây những cây cầu mới cho con tàu học vấn ngoại ngữ.

Chúng ta còn có thể hình dung được những gì nữa khi cuốn sách giáo khoa ngoại ngữ là sản phẩm của sự hợp tác tay đôi trực tiếp giữa chuyên gia ngoại ngữ và những nhà khoa học lớn, nhà nghệ sĩ bậc nhất của thời đại, để rồi lần đầu tiên trong lịch sử dạy tiếng, nó vừa được đối xử vừa như một tài liệu dạy ngoại ngữ, vừa như một tài liệu khoa học với đầy đủ ý nghĩa của nó, như một số bộ sách chữ Hán của người xưa hiện còn trước mắt chúng ta ?

B.Đ.M

CHÚ THÍCH

(1) Nhiều cứ liệu trong bài viết này do ông Bùi Xán, cha tôi cung cấp. Những sai sót có thể có ở đây là do sự lãnh hội của tôi gây ra.

2). Trước cuốn Tam thiên tự văn giải nghĩa này của Ngô Thì Nhậm, chỉ có cuốn Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa của bà Pháp Tính được ước đoẩn đời vào thế kỷ XV, trong đó tác giả đùng chữ Nôm để giải thích hơn 3.000 từ ngữ tiếng Hán, chia thành 39 loại bộ, mỗi loại bộ là một bài thơ dài gồm từ 100 câu thơ trở lên. Và sau cuốn của Ngô Thì Nhậm, còn một vài cuốn khác như Đại Nam quốc ngữ của Văn Đa cư sĩ Nguyễn Văn San.

3) Chữ Nam được dùng hai lần.

4) Văn hóa chung thời đại, nói một cách thật vắn tắt là lượng tri thức bách khoa cần thiết cho cuộc sống mọi người. Vì thế, trong đó tất nhiên, có khối lượng lớn của tri thức văn học. Tác phẩm văn chương của quá khứ đã đi vào lịch sử văn học bao giờ cũng cần có chỗ đứng trong trí tuệ và tâm hồn của người hiện đại. Quan niệm như thế, chúng tôi lấy bài thơ này làm ví dụ cho bài viết của mình. /.

TB

SÁCH GIÁO KHOA VĂN PHỔ THÔNG, NHÌN TỪ GÓC ĐỘ DÙNG TỪ HÁN VIỆT

LÊ ANH TUẤN

Hệ thống sách giáo khoa Văn các cấp trong Trường phổ thông nói riêng và sách giáo khoa phổ thông nói chung đã được cải cách những bước cơ bản, đã đạt được những thành tựu khả quan.Từ năm học 1981- 1982, chúng ta chuyển sang hệ phổ thông 12 năm, thay vì chương trình 10 năm cũ đã không phù hợp với tình hình thực tế đòi hỏi. Còn nay, trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, lại đặt ra cho ngành giáo dục những mục tiêu cao hơn trong việc biên soạn hệ thống sách giáo khoa, kể cả Khoa học xã hội và Khoa học tự nhiên.

Sách giáo khoa môn Văn phổ thông là bộ phận hết sức quan trọng, chi phối những thao tác trong quá trình “trồng người”, rèn luyện những kỹ năng cần thiết trong toàn bộ hướng tiếp nhận vốn tri thức phổ thông; là chìa khóa để bước vào các cấp học cao hơn, cũng như Nhập nghiệp sau này. Chính vì vậy, để có bộ sáchgiáo khoa Văn mang tính hệ thống, thừa tiếp theo tuyến dọc, có tính chi phối với các môn học khác theo tuyến ngang, đòi hỏi các soạn giả phải có tầm phổ quát cao, liên đới chặt chẽ và lôgích từ lớp bé lên lớp lớn, khả năng tiếp cận theo biểu đồ đi lên một cách hợp lý và khoa học.

Việc xác định mục đích và yêu cầu tuyển chọn hệ thống sách giáo khoa môn Văn phải chú ý tới: tính chất chuyển tiếp, nội dung, nghệ thuật, ngôn ngữ. Trong đó, bộ phận từ HánViệt có ý nghĩa và giá trị không nhỏ.

Bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến khía cạnh tìm hiểu từ Hán Việt được dùng trong hệ thống sách giáo khoa môn Văn phổ thông 12 năm, qua kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ mang mã số B93-05-117.

1. Nói đến tiếng Việt, nghĩa là không tách rời bộ phận từ Hán Việt, trong đó có những từ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt, có những từ do người Việt tạo ra trên cơ sở các yếu tố gốc Hán. Mảng từ Hán Việt này chiếm tỷ lệ không nhỏ trong vốn từ tiếng Việt. Hơn nữa, chúng có vai trò hết sức trọng yếu trong hoạt động của tiếng Việt trên mọi lĩnh vực đời sống, xã hội.

1.1 Khi tìm hiểu từ Hán Việt trong sách giáo khoa môn Văn hệ phổ thông, vấn đề đặt ra là: không đưa vào tiêu chí khảo sát những trường hợp sau:

Thứ nhất: Lớp từ đã hòa nhập vào tiếng Việt lần tiếp xúc trước thế kỷ thứ VIII, thứ IX (thường gọi là cổ Hán Việt), như: chè (trà), tìm (tầm), mùa (vụ), mùi (vị) v.v...

Thứ hai: Do sự chi phối của ngữ âm tiếng Việt, một bộ phận từ Hán Việt theo xu thế Việt hóa về mặt ngữ âm; từ đó hình thành các từ Hán Việt Việt hóa.Số lượng những từ này mờ hẳn nguồn gốc Hán Việt của chúng và hoà trộn vào tiếng Việt. Khi đó, trong thực tế không mấy ai coi những từ này có nguồn gốc Hán, dạng như: gan, gương, ghi...

Thứ ba: Lớp từ có yếu tố Hán Việt được hình thành trong lòng tiếng Việt, thường kết hợp với một hoặc hai yếu tố thuần Việt, ví dụ như: học trò, nhà giáo, cây cối, chung cuộc...

Ngoài ba trường hợp trên, lớp từ Hán Việt trong lần tiếp xúc thứ hai (thế kỷ VIII, IX) chưa được Việt hóa cao và một số từ thuộc phương ngữ tiếng Hán cũng thâm nhập vào tiếng Việt, song đọc khác với âm Hán Việt, như mì chính, âm Hán Việt là vị tinh. Một số từ thuộc ngôn ngữ các nước đồng văn (cùng nguồn gốc văn tự), như: cán bộ, phục vụ, đại bản doanh, điều chế, trường hợp... (từ Nhật Bản); một số từ có nguồn gốc từ châu Âu, như: Balê (Pari), Mạc Tư Khoa (Maxcơva), Câu lạc bộ, Hà Lan ..., một số từ có nguồn gốc Phạn, như: Phật, bát nhã, Nát bàn, bồ đề, Phật đà, A di đà... Tựu trung tất cả các từ dù mượn từ những nguồn gốc địa chỉ khác nhau qua con đường Hán hóa và đọc theo âm Hán Việt đều được xác định là những đối tượng xem xét.

1.2 Sự sản sinh từ mới trong tiếng Việt ở những thời kỳ khác nhau do hoàn cảnh lịch sử, xã hội và nhu cầu giao tiếp là một qui luật tất yếu của ngôn ngữ các dân tộc. Thực tế trong tiếng Việt, những từ mới được tạo ra chủ yếu do kết hợp bởi các yếu tố Hán Việt có khả năng hoạt động cao, ví dụ: y sỹ, bộ đội, công an, giáo viên, đồng chí, thập kỷ, vĩ mô, vi mô, vi tính, thế chấp v.v... Việc tạo ra từ mới một cách hợp lý, rõ ràng những từ đó tỏ ra rất phù hợp và có vai trò tích cực trên những lĩnh vực khác nhau. Nói như vậy, lớp từ mới sản sinh này không dễ đạt được sự thuần nhuyễn ngay với đông đảo mọi người mà còn được thử thách qua quá trình sử dụng và được xã hội thừa nhận.

Xét về mặt từ vựng, từ HánViệt có chỗ đứng vững chắc, có tính bền chặt mà không thể thay thế được trong tiếng Việt. Đặc điểm “nhất thành đa biến” cho chúng tạo ra những đơn vị từ mới một cách mạnh mẽ, và có thể tham gia hoạt động ở mọi lĩnh vực giao tiếp hay phong cách ngôn ngữ. Thế mạnh của từ Hán Việt biểu hiện các mặt:

Một là, các thuật ngữ Hán Việt có ưu thế mạnh khi sử dụng mà không thể thay thế bằng từ thuần Việt, ví dụ: bình luận, thẩm mỹ, di truyền, biến thiên, tích số, tổng số, lạm phát, thặng dư, môi trường, môi sinh, v.v...

Hai là, lớp từ vựng thuộc phong cách viết, vai trò của từ Hán Việt có vị trí đặc biệt; chúng tham gia ở mọi phương diện, phong cách ngôn ngữ, có ý nghĩa trang trọng, trí tuệ bác học.

Ba là, từ Hán Việt xuất hiện đầy đủ trong các từ loại tiếng Việt như danh từ, đại từ, động từ, tính từ v.v, mặt khác, chúng cũng được dùng khá linh hoạt trong cách chuyển từ loại, như danh từ Û động từ, tính từ Û động từ...

Ngoài ra, khi phân loại từ Hán Việt theo lớp từ “tích cực” mới và “tiêu cực” cổ thì lớp từ tiêu cực có một số từ mang tính lịch sử thuộc các lĩnh vực xã hội, quân sự, kinh tế, văn hóa được thay thế bằng những từ thuần Việt trong sáng, dễ hiểu hơn. Các từ thuộc loại trên đều trở thành tử ngữ mà chỉ còn giữ lại trong sách vở, tài liệu cũ, ví dụ: quận chúa, thái thú, thượng thư, lý trưởng, cai tổng, thế tự, cần lao v.v, hoặc những từ được thay bằng tử thuần Việt như: hoả xa = xe lửa, hoả tiễn = tên lửa, không phận = vùng trời, hải phận = vùng biển, phi trường = sân bay v.v...

Điều nữa, trong vốn từ tiếng Việt, những từ đồng nghĩa phần lớn là những từ Hán Việt. Vì vậy, khi cần biểu đạt một khái niệm thường có nhiều từ, ví như: căn bản - cơ bản - cốt yếu - cốt tử - cốt chủ - cốt thiết - chính yếu - chủ yếu.

Hiện tượng đồng âm không chỉ xảy ra trong vốn từ Hán Việt, còn đồng âm với từ thuần Việt, về ý nghĩa thì hoàn toàn khác, ví dụ: bán (một nửa) - bán (mua bán), tốt (chết) - tốt (đẹp tốt), bạn (phản lại) - bạn (bạn bè), đông (hướng đông) - đông (đông đúc) v.v.

Có thể khẳng định từ Hán Việt là thành phần khăng khít không thể tác rời, góp phần làm tiếng Việt phong phú và đa dạng; chúng lại có khả năng sản sinh cao và có ý nghĩa hết sức tích cực mà không có yếu tố ngôn ngữ nào thay thế được.

2. Vấn đề “xả” và “thủ” từ Hán Việt cần đặt ra như một tất yếu trong quá trình trau dồi tiếng Việt nói chung và thực trạng biên soạn sách văn phổ thông nói riêng.

Xuất phát từ đặc điểm ngôn ngữ vay mượn, khi sử dụng từ Hán Việt trong tiếng Việt cần chọn lọc. Điều cần chú trọng phải xem xét và xử lý các lớp từ Hán Việt sao cho thích hợp với hệ thống từ vựng tiếngViệt, làm cho phong phú thêm vốn từ vựng tiếng Việt mà không giảm đi bản sắc tiếng nói của dân tộc.

2.1, Sử dụng từ Hán Việt trong các hình thức hay phong cách ngôn ngữ, nghệ thuật, trong sáng tác văn học một cách hợp lý, có cân nhắc chọn lọc thì mới phù hợp với tâm lý và không làm nhoà đi vẻ đẹp, tính trong sáng của tiếng Việt. Đặc biệt, có nhiều trường hợp nhất thiết phải sử dụng từ Hán Việt để thay thế cho các yếu tố ngôn ngữ khác, đạt được độ chính xác trong giao tiếp cũng như hành văn.

Các lớp từ đã được Việt hóa cao, nghĩa là những từ Hán Việt hoà trộn vào tiếng Việt mà tiếng Việt không có từ thay thế, hoặc không thể thay thế được, mọi người Việt Nam ai ai cũng có thể hiểu chúng, không có trở ngại cho việc giao tiếp và nhận thức, có thể nêu ra những loại sau:

a. Những từ cổ Hán Việt và Hán Việt Việt hóa. Hai lớp từ này từ xưa tới nay không có sự biến đổi về nghĩa, chỉ biến đổi mặt vỏ ngữ âm; chúng đã đượcViệt hóa cao và trở thành như từ thuần Việt, cho nên chúng tham gia hoạt động trong tiếng Việt không hề gây trở ngại, ví dụ: gương, mùa, chìm, xe, buồng, nách, gan, gần, tìm, hè, mùi, dao v.v.

b. Những từ Hán Việt đơn âm tiết; chúng là lớp từ tích cực, được dùng một cách độc lập và có ưu thế sản sinh từ mới một cách linh hoạt, như: đoàn đội, hoa, quả, nam, nữ, ông, bà, thuyền, binh, lính, đăng, nhạc, ca, tài v.v.

c. Những từ Hán Việt mà tiếng Việt không có từ thay thế tương ứng, bộ phận từ này có vị trí vững chắc, tính ổn định cao trong vốn từ tiếng Việt, như: đạo đức, văn hiến, xã hội, công tác, kinh tế, lao động, cộng hoà, độc lập, nhân dân, tổ quốc, nông sản v.v

d. Một số từ ghép Hán Việt vào tiếng Việt đã biến đổi ý nghĩa vốn có của chúng mặt khác sắc thái tu từ cũng thay đổi theo cách hiểu riêng và thói quen của người Việt Nam. Có thể gọi lớp từ này là lớp từ “hướng Việt”, như: tử tế, khốn nạn, thiết tha, cường điệu, đáo để, lịch lãm, việt vị... Từ thiết tha vốn có nghĩa là gọt mài vật gì, người Việt lại hiểu với nghĩa tình cảm sâu sắc vô cùng; từ tử tế vốn có nghĩa là tỷ mỷ, người Việt lại hiểu là tình cảm tốt đẹp hay tốt bụng...

Nhìn chung, các lớp từ được việt hóa về mặt ngữ âm hay ý nghĩa trên khi sử dụng là cần thiết và xác đáng, nếu chừng mực hợp lý. Ngược lại, nếu thái quá, sính lạm dụng từ Hán Việt thì vô tình hay hữu ý đều làm cho tiếng Việt thêm rắc rối, thiếu mạch lạc và khó hiểu.

Vay mượn vốn từ ngoại lại, để bổ sung cho ngôn ngữ mỗi dân tộc vừa mang tính tích cực, vừa mang tính khách quan, phù hợp với qui luật tồn tại và phát triển của ngôn ngữ. Từ chỉ những sự vật, những khái niệm, thuật ngữ cần được gọi tên, cần được biểu đạt, nhưng tiếng Việt không có từ thích hợp thì nên mượn từ Hán Việt. Trường hợp, vốn từ tiếng Việt có từ đồng nghĩa, nhưng bị hạn chế về sắc thái tu từ, thiếu khả năng diễn đạt ý nghĩa thì nên dùng từ Hán Việt, cụ thể như:

a. Những từ mượn cả âm và giữ nguyên ý nghĩa khi trong tiếng Việt không có từ tương đương (ví dụ: mục c, 2-1).

b. Những từ Hán Việt giống nhau về ý nghĩa với các từ thuần Việt, nhưng sắc thái biểu cảm và phong cách sử dụng khác nhau trong từng ngữ cảnh mà chúng không thể thay thế cho nhau được, ví dụ: “xuống nước - hạ thây”, “chết hi sinh, tạ thế, từ trần, băng hà ...”, “xác chết - thi hài, tử thi”, “chiến sỹ lái - giặc lái máy bay, phi công” ...

c. Những từ có quan hệ đồng nghĩa, cả hai - từ Hán Việt và từ thuần Việt đều được sử dụng trong những văn cảnh khác nhau vì chúng có sắc thái ý nghĩa không giống nhau, mục đích sử dụng khác nhau, vì thế chúng không thể thay thế cho nhau trong mọi trường hợp, ví dụ: “nhân loại - loài người”, “kiên trì - giữ vững”, “cơ sở - nền tàng”, “phi - bay”, “niệm - đọc”, “vũ - khoảng không gian”. Xét các thí dụ trên cho thấy: nói “tính nhân loại”, chứ không nói “tính loài người”, nói “ngựa phi” chứ không nói “chim phi”, nói “kiên trì theo đuổi”, chứ không nói “giữ vững theo đuổi”...

2.2. Vấn đề đặt ra về yêu cầu “xả” tức là loại thải những từ Hán Việt không đạt được những tiêu chuẩn tối thiểu để tồn tại và tham gia hoạt động trong tiếng Việt, một khi tiếng Việt có từ thay thế. Tính độc lập tương đối trong mối quan hệ với ngôn ngữ các dân tộc trên thế giới là yếu tố quyết định cho sự phát triển của tiếng Việt. Xét một số trường hợp:

Thứ nhất: Dùng từ thuần Việt thay từ Hán Việt khi chúng phát huy được các yêu cầu về tu từ, sắc thái biểu cảm, đạt độ chính xác về nội dung biểu đạt và được số đông chấp nhận, ví dụ: “tên lửa” thay “hoả tiễn”, “khoảng cách” thay “cự ly” “bắn súng” thay “xạ kích”, “ghế dài” thay “tràng kỷ”, “giúp việc” thay “lao công”, “vùng trời” thay “không phận” v.v...

Thứ hai: Những từ có kết cấu Hán Việt sai qui phạm, chẳng hạn: “tâm sinh lý”, “huân huy chương”, “tiểu, trung đại học” “nông lâm ngư nghiệp”... tạo ra sự hụt hẫng về ý nghĩa.

Thứ ba: Dùng từ ghép Hán Việt sai vị trí âm tiết gây nhầm lẫn giữa hai từ có ý nghĩa khác nhau (trừ những từ có cách hiểu theo kiểu người Việt: “huyết áp” hay “áp huyết”), ví dụ: “yếu điểm” khác “điểm yếu”, “lao công” khác “công lao”, “chính nghĩa” khác “nghĩa chính”, “cố sự” khác “sự cố” v.v. Bên cạnh, còn một số từ do đặc điểm riêng sử dụng trong từng trường hợp cụ thể cần đảo vị trí âm tiết, như: “đấu tranh” - “tranh đấu”, “đơn giản” - “giản đơn”, “đảo điên” - “điên đảo”, “luyện tập” - “tập luyện”, “hội tụ”- “tụ hội” v.v..., nên chăng cần hạn chế những từ có kết cấu ngược để cho việc sử dụng mang tính thống nhất.

Thứ tư: Trong giao tiếp thường ngày cần hạn chế các từ liên quan đến điển tích, điển cổ, các từ mang tính chất văn chương, chữ nghĩa, dạng: Kim âu, kim ô, ba đào, thu không, hồ thỉ, tang bồng, điền hải...

Thứ năm: Việc tạo ra không ít những từ mới gắn với nhu cầu phát triển của xã hội, đã, đang và sẽ diễn ra không ngừng, song chỉ có được tính xã hội hóa về ngôn ngữ những từ cần biểu đạt những khái niệm mới do quá trình giao lưu quốc tế về văn hóa, khoa học và công nghệ mà tiếng Việt không đủ khả năng biểu đạt, ví dụ: “vi tính”, “vĩ mô”, “thế chấp”... Trái lại, nay trong sách giáo khoa thấy xuất hiện những từ rất khó hiểu mà tiếng Việt thừa điều kiện diễn đạt, như: trải nghiệm, y đức, chủ lưu, sinh thứ v.v.

2.3 Thực trạng từ Hán Việt trong hệ thống sách giáo khoa văn phổ thông đặt ra những vấn đề cần phải quan tâm đúng mức mà không thể coi nhẹ.

Lượng từ Hán Việt xuất hiện trong sách giáo khoa ở các lớp khá đồng đều. Tỷ lệ từ HánViệt ở mức cao được sử dụng trong một lớp phổ thông trên dưới hai ngàn lần. Ngay trong một lớp, cung một tập sách, chúng cũng được sử dụng dàn đều trong các bài. Một điều dễ nhận thấy là số lượng từ Hán Việt ở các bài văn xuôi nhiều hơn so với văn vần; trong các tác phẩm văn học nước ngoài (qua dịch thuật) nhiều hơn trong các tác phẩm văn học Việt Nam. Đặc biệt có những bài tới 300 từ Hán Việt, xuất hiện 426 lần. Bài Dế mèn phiêu lưu ký (Văn 6, tập 1) có 372 từ Hán Việt, xuất hiện 489 lần.

Tính ra xấp xỉ 5.000 từ Hán Việt trong hệ thống sách giáo khoa môn Văn phổ thông quả là không nhỏ. Từ thực tế đó đặt cho các soạn giả có hướng và giải pháp cụ thể cho mỗi bài, mỗi tập vả cả hệ thống.

Nhìn chung, số lượng từ dùng trong các sách rất đa dạng và phong phú mà chủ yếu là lớp từ tích cực. Những từ này thường rơi vào các trường hợp sau:

a. Các từ đồng âm, ví dụ: “chư quân” (các ông, các ngài) “chư quân” (quân đội chư hầu”; “thiên tư” (lệnh theo tình cảm riêng) (Văn 7) - “thiên tư” (tính chất sinh ra vốn có) (Văn 11)...

b. Các từ liên hệ đến điển tích, điển cố, phong tục xưa, những từ ít xuất hiện, như: thu không, tang hải, can qua, thảm đạm, bàn hoàn, lữ thứ, quan lang, thủ xướng v.v.

c. Các câu cách ngôn, thành ngữ Hán Việt, như: “thành hạ yêu mình”, “phong thanh hạc lệ”, “phu quí phụ vinh”, “quần tạm tụ ngũ”, “nhất nhật tại tù”, “thâm sơn cùng cốc” v.v...

d. Mục tiểu dẫn, các soạn giả dùng không ít từ Hán Việt, gây trở ngại lớn đến sự nhận thức của học sinh, vừa gai góc vừa khó hiểu, xin nêu một số thí dụ: vong quốc, toả chiết, tài văn, ai hoài, nhũng lạm, sinh thú, hợp tố, phiêu kỵ, đàm tâm, chủ lưu v.v.

3. Tình hình chú giải và định hướng khoa học cho việc chú giải từ Hán Việt trong hệ thống sách văn phổ thông.

Nói chung, hệ thống sách văn phổ thông đã chọn ra được những từ Hán Việt cần thiết phải chú giải. Lời chú giải đảm bảo yêu cầu ngắn gọn và dễ hiểu, thể hiện tính sư phạm trong ý đồ truyền đạt nội dung.

Bộ phận từ Hán Việt đặt ra như một trở ngại lớn đối với học sinh các cấp phổ thông trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Hầu như các bài khóa đều có phần chú giải, trong đó chủ yếu tập trung chú giải từ Hán Việt. Song, so với yêu cầu thực tế cũng cần bàn thêm không những bao gồm số lượng từ chọn ra để chú giải mà còn phương pháp và nội dung chú giải như thế nào cho hợp lý.

3.1. Những từ khó mà các soạn giả còn bỏ qua:

- Lớp 4: lâu dài (b.9), tài chính (b.9), bổ nhiệm (b.9), Sĩ quan (b.14), phù sa (b.16), vĩ tuyến (b.38), tập kết (b.55)...

- Lớp 5: đô hộ (b.6), thâm thuý (b.22), chính kiến (b.22), nguỵ quyền (b.94).

- Lớp 6: Lạc Việt (b.2), chung tình (b.4), bộ lạc (b.19), di chúc (b.19), tử thi (b.19), hắc ám (b.19), lương thấn (b.20)...

- Lớp 7: phân trần (b.5), biệt xứ (b.19), nhuệ khí (b.9), phương ngôn (b.9), hôn thê (b.11), tương phùng (b.23), bất phù (b.29), bất bần (b.23)...

- Lớp 8: công đường (b.2), Si (b.9), hoa lợi (b.11), gia sự (b.11)...

- Lớp 9: thảm đạm (b.2), thế trận xuất kỳ (b.2), Sĩ tốt (b.2), tiếm quyền (b.6), ngụ cư (b.7), phi tần (b.7), phương lược (b.8)...

- Lớp 10: bi kịch (tr.37), bác ái (tr.67), bản thổ (tr.55), chỉ nhân (tr.96), chí thiện (tr.121), dạ đài (tr.155)...

- Lớp 11: bút nghiên (tr.84), can qua (tr.38), can trường (tr.184), cổ động (tr.185), chước (tr.245), dương gian (tr.270), ý tưởng (tr.270)...

Lớp 12: hộ giá (tr.13), man điệu (tr.59), thanh đông (tr.57), ký sinh trùng (tr.79), hổ phù (tr.92), lộ (tr.161), yết hầu (tr.163), lâm chung (tr.177).

3.2. Chú giải thừa, thiếu hoặc tính chuẩn xác chưa cao.

a, Chưa chính xác, vídụ:

- “Khách sạn” (b.7,4): chú giải là khách sạn Luých, đáng ra phải trả lời là Khách sạn là gì?

- “bàn hoàn” (lớp 4): chú giải là nhiều lo lắng, không yên lòng, nên hiểu là băn khoăn không nỡ dứt ra. Hai ví dụ trên cho thấy lời chú giải không có sức thuyết phục.

b, Hiện tượng chú giải trùng lặp một từ có cùng văn cảnh. ở đây nảy ra tình trạng tính hệ thống, chuyển tiếp chưa cao, ví dụ:Từ “tuyệt vọng”: hết hẳn hi vọng (lớp 6), hết mong ước, hết hẳn hy vọng (lớp 6, tr.66), hết hẳn hi vọng, còn mong mỏi gì được nữa (L6, tr.129). Từ “tung hoành”: 3 lần (lớp 5 và 7); “trầm ngâm”, “dũng sĩ”, “hoa văn” “khôi ngô”, “tập quán”, “bồ liễu”,... (đều chú giải 2 lần).

c, Khi chú giải, tách các từ trong câu thơ, văn, nhưng bỏ sót những từ quan trọng: bài 19 (lớp 9) có câu: “Lưu đắc đan tâm chiếu hãn thanh”, bỏ qua từ “lưu đắc” không chú giải. Đáng ra sau khi chú giải từng từ, phải dịch thơ sát nghĩa cho học sinh dễ hiểu. Câu “làm quan bố chánh có vặn xỉ ra mà ăn” (lớp 8), “hai tên thể nữ ngọc vàng nghìn câu” (lớp 9).Trong 2 ví dụ trên nếu không chú giải “xỉ”, “thể nữ là gì, thì học sinh sao có thể nắm bắt được nội dung hai câu trên.

3.3. Những nguyên tắc đặt ra cho việc chú giải từ.

Từ thực tế chú giải trong hệ thống sách giáo khoa môn văn phổ thông, thiết nghĩ có thể định ra những nguyên tắc sau đây: a, Chọn đúng, đủ và cần những từ xuất hiện trong các bài. b, Chuẩn xác, ngắn gọn, dễ hiểu và phù hợp với tư duy lứa tuổi. c, Nghĩa gốc, nghĩa phái sinh, nghĩa cộng tác và nghĩa văn cảnh. d, Có tính hệ thống, chuyển tiếp và khoa học từ cấp thấp lên cao.

Có được bộ sách giáo khoa chất lượng tối ưu, là “thước vàng khuôn ngọc” cho học sinh các cấp phổ thông, đòi hỏi công sức không ít của các soạn giả. Chỉ nhìn từ góc độ từ Hán Việt cũng đã đặt ra nhiều “nút rối” cần tháo gỡ; thực tế nhiều năm nay, vốn hiểu biết về từ Hán Việt được thẩm thấu qua người dạy và người học văn ở bậc phổ thông quả là bức xúc về sự thiếu hụt. Tin rằng trong tương lai không xa, hệ thống sách giáo khoa nói chung và sách văn nói riêng sẽ có thăng hoa, hoàn mỹ đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cải cách giáo dục nước nhà.

Người biên tập: Mai Xuân Hải

TB

CÁCH GHI TỪ ĐỒNG ÂM TRONG
VĂN BẢN NÔM

NGUYỄN THỊ LÂM

Chúng ta biết rằng giữa hệ thống tiếng Việt và hệ thống tiếng Hán Việt có hiện tượng đồng âm. Những người tạo ra chữ Nôm đã lợi dụng hiện tượng này trong khi mượn những từ Hán việt để ghi những từ thuần Việt (hoặc từ Hán Việt Việt hóa) đồng âm nhưng không đồng nghĩa với chúng. Chẳng hạn dùng chữ 些 ta (ít) để ghi đại từ nhân xưng (ta, chúng ta), dùng một 沒 (mai một) để ghi con số 1. Giới nghiên cứu Hán Nôm vẫn thường gọi đó là lối giả tá, nhưng đúng hơn thì phải gọi là giả tá chính xác. Tuy nhiên, trong thực tế lại còn có những trường hợp không đơn giản như vậy.

Để có thể tạm hình dung một cách cụ thể về loại từ này, chúng tôi xin nêu kết quả điều tra một số chữ qua những tác phẩm Nôm tiêu biểu hiện đang được lưu giữ tại Viện nghiên cúu Hán Nôm như sau:

Trên nguyên tắc vừa nêu, nếu đem liên hệ giữa một bên là những tiếng Hán Việt được vay mượn với một bên là những tiếng Việt đồng âm thì trên đại thể có thể phân biệt hai loại như sau:

1. Không có sự phân biệt trên mặt chữ

Đây là cách ghi chiếm vai trò chủ đạo trong các tác phẩm. Điều đó cho thấy đối với chữ Nôm, chủ trương ghi đúng mặt âm là rất quan trọng. Khi vay mượn chữ Hán ở đây người ta không cần lưu ý đến mặt nghĩa của chúng mà chỉ cần âm đọc ăn khớp với tiếng Việt cần ghi. Ví dụ như các trường hợp “ta”. “một” ở trên được Nguyễn Trãi dùng trong Quốc âm thi tập:

Quê cũ nhà ta thiếu của nào
(Mạn thuật 13)

Một cày một cuốc thú nhà quê<
(Thuật hứng 3)

Ta nhận thấy ở các cột 1, 3, 9, 10 có tình hình thống nhất cách ghi từ đầu đến cuối. Như vậy có nghĩa là khi chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, nhiều chữ vẫn được giữ nguyên. Bên cạnh đó, có trường hợp thay đổi cách ghi nhưng không thay đổi về kiểu loại, như chữ “một” ở cột 6 chỉ có thể xem là sự thay đổi âm phù từ giai đoạn trước sang giai đoạn sau để cho phù hợp với sự diễn biến về mặt ngữ âm. Có những trường hợp khi thay đổi cách ghi, dẫn đến thay đổi về kiểu loại (từ chữ vay mượn sang chữ tự tạo) như đã thấy ở các cột 2, 4, 5. Các chữ ở các cột 7, 8 là những trường hợp còn lưu lại được những dấu vết của âmViệt cổ chúng tôi sẽ đề cập tới ở phần sau.

2. Có sự khác biệt trên mặt chữ

Loại này được hình thành bởi người viết đã gia thêm một bộ phận chỉ nghĩa nữa bên cạnh chữ Hán được vay mượn. Ví dụ chữ “đồn” 吨 được ghi bằng (khẩu + đồn) trong câu:

Đồn rằng trên quận Mê Linh.
Họ Trưng dòng dõi trổ sinh đôi nàng
(Thiên Nam ngữ lục,
Quyển thượng)

Hoặc chữ “chợ” 悪 được ghi bằng chữ (thị + trợ) trong câu:

Vì ai cấm chợ ngăn sông
Để cho dứt nẻo quan thông đôi nhà
(Đại Nam quốc sử diễn ca,
tr.8)

Đó là những chữ được tạo ra về sau. Trong các tác phẩm Nôm thời Lê sơ chủ yếu vẫn là mượn thẳng chữ Hán để ghi tiếng Việt, từ thời Lê mạt đến Nguyễn thì những chữ tự tạo trên dần dần tăng lên. Đối với một số tác phẩm đã trải qua sao chép nhiều lần như Quốc âm thi tập, Hồng Đức Quốc âm thi tập, Thiên Nam ngữ lục... có một số trường hợp ghi theo lối nước đôi có thể là do người sao chép đời sau thêm vào cho phù hợp với cách ghi đương thời.

Điểm nổi bật của chữ thuộc các cột 8, 9 là tác giả dùng những chữ Hán có phụ âm đầu /1/ để biển âm /S/ tiếng Việt, mặc dầu trong từ điển Hán đã có sẵn những chữ có phụ âm đầu / S / như: “sân” “sao”... Ví dụ: chữ “sân” được ghi bằng (thổ + lân) trong câu:

Mẹ về vừa đến ngoài sân,
Tra tay mở cửa bước chân vào nhà.
(Thiên Nam ngữ lục,
Quyển hạ)

Cách ghi này là nhất quán đối với các trường hợp ở cột 7. Chữ “sao" được ghi bằng (tinh + lao) trong câu:

Trăng bạc sao thưa chim anh ới,
Nào đâu là chốn chẳng thương nàng
v.v.
(Hồng Đức Quốc âm thi tập,
tr.139)

Theo một số nhà nghiên cứu thì ở đây có vấn đề về ngữ âm lịch sử tiếng Việt. GS. Hoàng Thị Châu cho rằng phụ âm /S/ có thể ngày xưa chính là tổ hợp phụ âm đầu Kh1, K1 như một số phương ngữ Mường còn gặp(1) Chúng ta hãy thử so sánh:

TB

ĐÔNG HỒ KHÁM PHÁ THƠ NÔM
MẠC THIÊN TÍCH

TRƯƠNG MINH ĐẠT

Khoảng năm 1970, ở miền Bắc, cụ Thúc Ngọc Trần Văn Giáp viết về Hà Tiên thập vịnh của Mạc Thiên tích(1). có nêu nghi vấn: “Nghe nói Hà Tiên thập vịnh có hai tập, một tập thơ chữ Hán, một tập thơ chữ Nôm, nếu quả đúng như vậy thì tập thơ Nôm chưa tìm thấy”.

Cũng vào năm 1970, ở miền Nam hai nhà xuất bản Mạc Lâm và Quỳnh Lâm cho phổ biến hai quyển Đăng đàn Văn học Hà Tiên của Đông Hồ, để kỷ niệm chu niên ngày qua đời của ông.

Trong Đăng đàn in bài nói chuyện tại Câu lạc bộ văn hóa Sài Gòn vào năm 1960 của Đông Hồ. Ông nói: “Điều đáng cho chúng ta thán phục, đáng cho chúng ta ca tụng từ trước đến nay và mãi mãi về sau là thi phái Chiêu anh các Hà Tiên đã để lại cho chúng ta áng văn chương Nôm giá trị không ít”(2).

Câu nói đó tóm tắt một thành tựu lớn nhất trong cuộc đời khảo cứu văn học miền Nam của ông: Khám phá tác phẩm văn chương chữ Nôm Mạc Thiên Tích. Việc này xảy ra năm 1960. Năm ấy ông cùng nữ sĩ Mộng Tuyết công bố một tập sách nhỏ nhan đề Hà Tiên thập cảnh Đường vàoTiên, trong đó ông nói điều lạ nhất xưa nay: “Cũng là 10 bài thơ đó, riêng Mạc Thiên Tích có làm 10 bài thơ Nôm, hầu hết theo vần 10 bài Hán. Về 10 bài Nôm này, phần nhiều các sách đều chỉ biết có 10 bài thất ngôn Đường luật.Thực thì không chỉ có 10 bài Đường luật mà thôi đâu. Nguyên toàn tập thơ Nôm là một ngâm khúc làm thể song thất lục bát, phân làm mười đoạn. Mỗi đoạn là một cảnh, kết đoạn đó bằng bài thơ Đường luật. Tuy phân đoạn từng cảnh như thế mà vần thơ vẫn cứ nối tiếp, cắn liền nhau, từ câu cuối đoạn trên xuống câu đầu đoạn dưới, từ cảnh thứ nhất đến cảnh thứ mười...

Tôi nói như vậy là để ai muốn chép 10 bài Hà Tiên thập vịnh này, nên chép cho có thứ tự từ trên xuống dưới, trước sau không chép lộn xộn được. Tuy là 10 bài nhưng thực là một khúc, thứ đệ phân minh ... Vì khi làm người làm đã nghĩ đặt có thứ tự trước sau”(3).

Do phát hiện mới mẻ này, ông Đông Hồ được chính quyền Sài Gòn thời đó mời ra thỉnh giảng chứng chỉ văn chương Quốc âm tại Đại học Văn khoa từ niên 1964-1965.

Như vậy là tác phẩm chữ Nôm của Mạc Thiên Tích đã được tìm thấy.

Đối với vấn đề thơ Nôm của họ Mạc, đến nay vẫn còn nhiều chi tiết liên quan mà chúng ta cần ra sức tiếp tục khảo cứu đến nơi đến chốn. Công việc này đương nhiên là hữu ích và cần thiết. Nhưng thiết tưởng công tác khoa học vốn là vô bờ bến, ta không thể cầu toàn, mặc dù sự vẹn toàn chính là lý tưởng ở phía trước, thúc đẩy khoa học tiến lên. Đời sống mỗi người thì có giới hạn, kết qủa việc làm cũng tuỳ thuộc những điều kiện khách quan. Nhất là hoàn cảnh lịch sử đất Hà Tiên trong thế kỷ XVIII, XIX, XX luôn trải qua tai họa chiến tranh; tàn phá rồi xây dựng, không biết bao nhiêu lần; nhà cửa bị đốt phá, dân cư phiêu tán, không gì có thể tồn tại. Đối với tác phẩm chữ Nôm của Mạc Thiên Tích mà đòi cho có được bản khắc hoặc bản in là điều quá đáng và vô vọng. Trong văn học sử chưa thấy nói họ Mạc có cho khắc in các tập sách chữ Nôm bao giờ. Nhưng đời sau thì không thể có được. Đến như quyển Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, ở ngay triều đình, sách thuộc viện Quốc sử quán mà còn chưa được khắc in nữa là... Vì thế nếu nghiên cứu nền văn học miền Nam, ta cố sao khảo sát tiếp cận tác phẩm cách nào tương đối phù hợp, khi điều kiện khách quan cho phép.

Cuộc đấu lý khá sôi nổi, hấp dẫn và đầy “ngoạn mục” giữa ông Nguyễn Quảng Tuân (NQT) và ông Cao Phi Hồng (CPH) gần đây trên Tạp chí Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh số 12, 13, 15, 17 cho thấy vấn đề thơ Nôm của Mạc Thiên Tích chưa đến nỗi nguội lạnh, bị lãng quên. Bằng những luận chứng vững vàng, sinh động, cả hai đối thủ đều tỏ ra không khoan nhượng, quyết bảo vệ lập trường của mình. Các tác giả nhìn vấn đề ở hai thế đối lập dưới góc độ khác nhau, vì thế khi cuộc tranh luận tạm thời im tiếng - vì khó có thể kéo dài hơn nữa - độc giả vẫn có cảm tưởng; cuộc thảo luận chưa ngã ngũ. Đôi bên vẫn giữ hai cực đoan. Sự thật vẫn chưa lộ rõ mặt mày - điều nghi ngờ vẫn còn đó. Tiếng nói kết thúc của NQT vẫn là mạnh tin rằng “ tác giả những bài thơ chữ Nôm không phải Mạc Thiên Tích”. Còn ông CTH thì cương quyết Mạc Thiên Tích đúng là tác giả mười bài Hà Tiên Quốc âm thập vịnh. Ông CPH nói thế nhưng vẫn còn một thắc mắc chưa cởi bỏ được : “ Tôi (Cao Phi Hồng) đã thắc mắc và đặt vấn đề tìm hiểu quá trình hình thành của văn bản gồm có 334 câu lục bát gián thất do Đông Hồ công bố” vì “ngoài Đông Hồ vẫn không có ai công bố mười khúc ngâm lục bát gián thất tương tự...”(4).

Trước khi kết thúc cuộc tranh cãi, ông CPH nói: “Những người nghiên cứu chúng ta nên cẩn thận, kỹ càng chính chắn hơn khi viết về Chiêu anh Các và Mạc Thiên Tích”.

Chúng tôi nhất chí với ông Cao Phi Hồng trên quan điểm này. Nay xin trình ra đôi điều hiểu biết của tôi về các bài thơ lục bát gián thất và 10 bài thơ luật Nôm, nói gọn là tác phẩm chữ Nôm của Mạc Thiên Tích. Điều sẽ trình bày xin tóm gọn trong hai ý chính:

1- Tôi cho rằng bản thân quý vị tiên phong (tức là những người đầu tiên giới thiệu các bài thơ Nôm của mạc Thiên Tích) không biết một cách thấu đáo về tác phẩm chữ Hán lẫn chữ Nôm của họ Mạc. Có thể so sánh những vị ấy như những người đầu tiên vớ được bộ phận rời của một bức tranh điêu khắc chôn vùi lâu năm... những phát hiện hồi đầu thế kỷ XX chỉ là những phần rời, lẻ vụn. Đến năm 1960, mới được Đông Hồ sắp xếp lại có hệ thống.

2- Cuộc ráp nối sít sao các mảnh vỡ, đặt lại trật tự các bài thơ, do Đông Hồ thực hiện, làm nổi lên giá trị không chối cãi của một bộ phận văn chương chữ Nôm có tính cổ điển và độc đáo nửa phần phía Nam của đất nước. Cổ vật được phục hồi hoàn chỉnh hình dạng ban đầu, tự nó xác định tác giả và xuất xứ.

Trong phần chứng minh tôi sẽ sử dụng hai tư liệu tương đối xưa nhất cùng một giai đoạn lịch sử:

1) Tập gia phả bằng chữ Nôm duy nhất còn tồn tại cho phép 35 bài thơ chữ Hán và chữ Nôm mà ông Vũ Văn Kính mệnh danh là Gia phả Hà Tiên; ông Đông Hồ cho biết tác giả là cụ Trần Đình Quang tự Dưỡng Hối.

2) Cuốn Thần chú thỉnh tiên của dịch giả La Thành Đầm tự Mộ Tần, xuất bản năm 1907 do nhà in và xuất bản Phát Toán Sài Gòn. Sách chép 10 bài Hà Tiên thập cảnh ca trù, tức là 334 câu thơ song thất lục bát và 10 bài thơ Nôm Đường luật.

Để thấy được tính chất chân thực của các áng văn chữ Nôm, mà tôi tạm mệnh danh là những tác phẩm trong luồng, xin tóm tắt các giai đoạn xuất hiện:

Một: - Trước 1903, trong Gia phả Hà Tiên có chép 4 bài thơ luật Nôm thuộc Hà Tiên thập cảnh và 1 bài Tổng luận – sách không công bố.

Hai: - Năm 1903, ông Lê Quang Chiểu công bố 10 bài thơ luật Nôm trong Quốc âm thi hiệp tuyển không có bài Tổng luận, vì lẽ Lê Quang Chiểu không biết có bài này.

Ba: - Năm 1904, ông Nguyễn Phương Chánh công bố 10 bài thơ luật Nôm và bài Tổng luận. Các bài thơ được sắp xếp theo thứ tự của các cảnh trong bài Tổng luận.

Bốn: - Năm 1907, La Thành Đầm công bố 334 câu song thất lục bát mà không nắm vững cái thứ tự trước sau của mỗi bài thơ. Lý do vì toàn bộ thơ chữ Hán xưa không còn lại mấy.

Năm: - Năm 1926, Đông Hồ in lại trong Nam phong. Trên 30 năm sau, ông xếp các bài thơ Nôm thành một liên khúc không gián đoạn từ bài đầu đến bài cuối.

Không phải dễ để nhận thức sự hình thành của một tác phẩm, nên cần phải đi vào chi tiết:

A. Những người công bố lần đầu các bài thơ chữ Nôm của Mạc Tích Thiên không rành về tác phẩm chữ Nôm lẫn chữ Hán do họ Mạc làm ra:

Trong số những người này tôi sẽ tuần tự nói đến:

a) Cụ Trần Đình Quang với quyển Gia phả Hà Tiên.

b) Cụ Lê Quang Chiểu trong sách Quốc âm thi hiệp tuyển (1903).

c) Cụ Lê Phương Chánh với 10 bài Hà Thiên thập cảnh vịnh và 1 bài Tổng luận (1904).

d) Cụ La Thành Đầm với sách Thần chú thỉnh tiên (1907).

e) Cụ Đông Hồ trong Nam phong (1926).

1. Trước hết là quyển Gia phả Hà Tiên của cụ Trần Đình Quang tự Dưỡng Hối:

Nữ sĩ Mộng Tuyết cho chúng tôi mượn nguyên Bản gốc là bản chép tay. Đây là quyển sách được cụ Đông Hồ sử dụng lần đầu để viết Hà Tiên Mạc thị sử (Nam phong số 107 tháng7 năm 1926). Trong lần biên soạn lại Hà Tiên Mạc sử in lần 2 ở Nam phong số 143, tháng 10-1926, cụ Đông Hồ viết: “Những sách Mạc gia phả thì tôi có được đọc qua 3 bản. Một bản tản văn chữ Nôm của ông Trần Đình Quang tên tự là Dưỡng Hối soạn độ ngoài hai mươi năm nay là bản do tôi đã dò theo mà biên dịch năm trước(5).

Đây là quyển sách “xung quanh quét nước vỏ cây, góc phía bên trái bị gián nhấm mất một chữ (xem hình sao chụp tờ đầu quyển sách). Sách gồm 55 tờ đôi khổ 13 x 26cm. Bìa giấy đầu, không đề ngày tháng cũng không có tên người viết hoặc chép. Câu đầu, trang 1: “Tôi xét trong tập Gia phả Hà Tiên đời trước biên để lại rằng ông Mạc Thiên Cửu là người ở đất Trung Hoa...)

Quyển này được ông Vũ Văn Kính khảo sát trong tập Thư mục văn bản Chiêu anh các. Sách của Vũ Văn Kính ở dạng đánh máy gồm 60 trang, nội dung chia làm hai phần, phần thư mục và phần văn bản. ở phần đầu, trang 9, tiết 8 viết về quyển Gia phả Hà Tiên như sau: “Tôi xét thấy trong tập Gia phả Hà Tiên đời trước biên để lại rằng: “Bản chính (...) giấy bản đã ngả mầu, bị mọt ăn mất mấy chữ, lề đóng xuyên từ bên nọ sang bên kia. Tự dạng chữ Nôm cũng như hình thức tài liệu có thể dự đoán là tác phẩm được viết vào đầu thế kỷ XX”. Khi phát biểu Tại cuộc hội thảo 250 năm Tao đàn Chiêu anh các ở Kiên Giang - ngày 13 và 14 tháng 11 năm 1986 - ông Vũ Văn Kính cũng nói về quyển gia phả này: “... Xin không đi sâu vào chi tiết bản gia phả, mà chỉ nói bản này có phụ thêm ở cuối 10 bài thơ Nôm đề rõ là nguyên tác của Mạc Thiên Tích”. Thí dụ “MạcTiên Công nguyên tác Kim Dự lan đào Quốc âm luật”. Bài khác cũng thế, chỉ khác tên bài thơ. Trong 10 bài thơ Nôm ở đây có 4 bài nội dung giống những bài do 3 vị đã giới thiệu, còn 6 bài thơ kia thì khác hoàn toàn... (Ba vị mà ông Vũ Văn Kính kể là Lê Quang Chiểu (1903), Nguyễn Phương Chánh (1904), và ông Đông Hồ (1926) TMD chú thích). “Bốn bài giống ấy là Bình Sơn điệp thuý, Kim Dự lan đào, Đông Hồ ấn nguyệt, Thạch Động thôn văn”. Bốn bài này còn thấy viết trên4 cột ở Tiền sảnh Trung Nghĩa Từ Lăng Mạc Cửu”(6).

Dịp này ông Vũ Văn Kính có nêu lên vấn đề:

“Vậy những bài thơ Nôm này có thật của Mạc Thiên Tích không?... Còn 334 câu song thất lục bát ở đầu 10 bài thơ Đường luật miêu tả cảnh của đề tài, lời thơ cũng như gieo vần rất sít sao với vần của bài thơ này thực sự của Mạc ThiênTích thì điều đó ông rất giỏi tiếng Việt”(6).

Năm 1986, sự nghiệp thơ văn chữ Nôm của Mạc Tích Thiên lại được đặt lên bàn mổ, vì lại có thêm ý kiến nghi ngờ.

Qua ý kiến của Vũ Văn Kính, ta chưa tỏ lộ được chi tiết cụ thể nào để nói được quyển Gia phả Hà Tiên là của cụ Trần Đình Quang tự Dưỡng Hối ngoài câu nói của Đông Hồ và được nữ sĩ Mộng Tuyết cất giữ. Nhưng ông Kính cũng nói: “Tự dạng chữ Nôm cũng như hình thức tài liệu có thể dự đoán là tác phẩm viết vào đầu thế kỷ XX”, còn cụ Đông Hồ nói: “Bản ... chữ Nôm của cụ Trần Đình Quang... soạn độ ngoài hai mươi năm nay”... Ta hãy lui về thời điểm 1900, năm bản lề bước vào thế kỷ XX. Năm đó ở Hà Tiên có sự kiện mang tính chất lịch sử trong sinh hoạt văn hóa của xứ này. Hội Lạc Thiện Hà Tiên (gồm những người sùng kính họ Mạc) vừa hoàn thành công trình kiến thiết tu bổ miếu thờ 3 vị họ Mạc, tức Mạc Công tam vị miếu (hay Mạc Công từ, hay Trung nghĩa từ) tại chân núi Bình Sơn (Xem Văn hóa nguyệt san số 80 tháng 4 năm 1963). Thờ gian tu sửa là 3 năm, 1897 đến 1900. Phải chăng cụ Trần Đình Quang tự Dưỡng Hối soạn Gia phả Hà Tiên vào dịp này? Có thể lắm. Bởi vì nếu so cách chép 4 bài thơ Nôm ở trên cột Trung Nghĩa từ và trong quyển Gia phả Hà Tiên, ta thấy đó là hai văn bản chép ở hai nơi cùng một quy cách. Về mặt ngôn ngữ, lời dẫn nhập trên cột, mỗi đề bài khởi đầu bằng câu: “Lệnh Công nguyên tác... (Kim Dự lan đào Quốc âm luật”). Về thứ lớp, tùy thuộc vào bước đi của khách lễ bái. Từ đền thờ bước ra đi vào Hội quán Lạc Thiện, khách sẽ đọc bài thơ số 1 trên cái cột phía đầu tiên bên tay phải: “Lệnh Công nguyên tác Bình Sơn điệp thúy...” từ đó ngược chiều kim đồng hồ theo cách đọc từ phải sang trái, khách sẽ đọc 4 bài theo thứ tự:

1- Bình Sơn điệp thúy.

2 - Kim Dự lan đào.

3 - Đông Hồ ấn nguyệt.

4 - Thạch Động thôn vân.

Xem trong Gia phả Hà Tiên cũng thế: sau 12 bài thơ chữ Hán (tờ 45a đến tờ 49a) thì khởi sự chép 4 bài thơ chữ Nôm vừa rập theo thứ lớp đó và khởi đầu bằng: “Mạc Tiên Công nguyên tác Bình Sơn điệp thuý Quốc âm luật” (tờ 49a đến tờ 50b).

Sau bài Thạch Động thôn vân tác giả chép 6 bài hoàn toàn mới lạ, xưa nay không ai biết cũng chẳng thấy ai nhắc nhở. Theo tôi, sáu bài này cần xét lại, chưa chắc đều xứng đáng là tác phẩm của Mạc Thiên Tích. Bởi vì trong 6 bài đó, bài Tiêu tự thần chung lời và tứ thơ rất bình thường, thậm chí quá ngô nghê, Thế mà trên đầu bài cứ ghi là: “Mạc Tiên Công nguyên tác Tiêu tự thần chung Quốc âm luật”, còn 5 bài kia, ta có thể kể đó là 5 bài “ngoài luồng” vì không có chữ Mạc Tiên Công nguyên tác” mà chỉ ghi vẻn vẹn “Lộc Trĩ thôn cư Quốc âm luật” hoặc đằng trước chỉ có chữ Hựu (又): “Hựu Thạch Động thôn vân Quốc âm luật”.

Vậy ta có thể nói cách không lầm: quyển Gia phả Hà Tiên chỉ ghi nhận được 4 bài thơ chữ Nôm “trong luồng”, 7 bài thơ chữ Hán phù hợp với những bài xướng của Mạc Thiên Tích, 1 bài thơ chữ Nôm đề là Hà Tiên thập cảnh Tổng luận, và 1 bài thơ chữ Hán thuộc tập Minh Bột di ngư có tựa đề Lư Khê nhàn điếu, là đáng kể.

Xưa nay, các sách vở phổ biến các bài này. Thế, rõ ràng soạn Gia phả Hà Tiên là cụ Trần Đình Quang tự Dưỡng Hối trong điều kiện eo hẹp, không biết rành về tác phẩm chữ Nôm của Mạc Thiên Tích(7).

2. Cụ Lê Quang Chiểu trong sách Quốc âm thi hiệp tuyển (QATHT). Sách do nhà Claude et CieImprimeurs Editeurs, xuất bản năm 1903. So với Trần Đình Quang, Lê Quang Chiểu chép đủ 10 bài “trong luồng” (còn Trần Đình Quang chép chỉ 4 bài). Nhưng Lê Quang Chiểu mắc khuyết điểm chép 10 bài ấy không theo thứ tự lớp lang gì cả.

Cụ Nguyễn Phương Chánh công bố 10 bài Hà Tiên thập cảnh ăn nhịp các câu trong bài Tổng luận. Xin ghi nhớ, trong Gia phả Hà Tiên (1900) có bài Hà Tiên thập cảnh Tổng luận đặt trước tất cả các bài thơ được mệnh danh là “Mạc Tiên Công nguyên tác...”(trang 44b). Bài này được cụ Nguyễn Phương Chánh sử dụng làm tư liệu nền tảng để sửa sai cụ Lê Quang Chiểu sau khi cụ Chiểu công bố mười bài thơ Nôm. Một năm sau khi sách QATHT ra đời, cụ Nguyễn Phương Chánh trưng ra bài Tổng luận, làm khuân mẫu ghi chép 10 bài Hà Tiên thập cảnh, có nghĩa là sắp xếp các cảnh theo thứ tự bài Tổng luận:

a/ Đông Hồ ấn nguyệt ở trước Lộc Trĩ thôn cư ( Đông Hồ Lộc Trĩ luôn dòng chảy).

b/ Nam Phố trừng ba ở trước Lư khê nhàn điếu (Nam Phố Lư Khê một mạch xanh).

c/ Tiêu Tự thần chung ở trước Giang Thành dạ cổ (Tiêu Tự Giang Thành chuông trống ỏi).

d/ Châu Nham lạc nhạn ở trước Kim Dự lan đào (Châu Nham Kim Dữ cá chim doanh).

e/ Bình Sơn điệp thuý ở trước Thạch Động thôn vân (Bình Sơn Thạch Động là rường cột) (xem Nông cổ mín đàm số 159, ngày 29-9-1904) hoặc quyển Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới của Bùi Đức Thịnh, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 1992, trang 73 -76).

Trong thư gửi toà soạn NCMD, Nguyễn Phương Chánh viết: “Tôi là đứa học trò dốt, thấy sự thay và dấu tích xưa, nên cắp nắp biên lại gửi cho quý quán đăng in ra cho các xứ văn nhân ai chưa thấy thì trước là xem chơi giải buồn, sau nữa đặng nhớ dấu tích của người”. xin chú ý câu nói “ Thấy sự thay và dấu tích xưa” tác giả ám chỉ việc cụ Lê Quang Chiểu công bố 10 bài thơ Hà Tiên thập cảnh không đúng, không hợp thứ tự trước sau, “Thấy sự thay” là thấy điều thay đổi khác đi “còn dấu tích xưa” chính là Hà Tiên thập cảnh Tổng luận được ông trưng ra làm mẫu. Tự cho mình là “đứa học trò dốt” chỉ là cách nói khiêm tốn ngầm tự cao, ý muốn chê Lê Quang Chiểu là dốt (?!).

Nhưng Nguyễn Phương Chánh là ai? Ta cũng nên biết sơ qua nhân vật này. ở NCMD số 88 ngày 7/5/1903 và số 129 ngày 25/2/1904 có nhiều bài thơ của Nguyễn Thần Hiến và Nguyễn Phương Chánh. Ông Nguyễn Phương Chánh làm thư ký ở Hà Tiên, rất tâm đắc với Nguyễn Thần Hiến. Hai cụ này đều là bạn thơ rất thân của một nhân vật mà ở phần sau sẽ giới thiệu nhiều hơn, đó là cụ Lê Thành Đầm. Cụ Nguyễn Phương Chánh có một bài Phụng đính thất ngôn đường luật rất đặc sắc Mừng Thông ngôn La phủ Thành Đầm hồi hương. Tám chữ đầu câu là tám chữ cuối câu đọc liên tiếp từ trên xuống dưới sẽ là hai ý, nói rõ chủ đích bài thơ. Tạm chép lại để ghi nhớ về cụ:

Thơ rượu canh khuya ngọn gió
Mừng
cho quý hữu giỏi lần
La
vang tiếng nhạn kêu chào hỏi
Thành
việc khen ai khéo liệu lo
Đầm
ấm phụng loan rày đã toại
Lại
qua anh én mới nên cho
Hồi
đưa lúc rước đều như một
Hương
lửa từ đây dáng học trò.

Câu thủ ý “Thơ mừng La Thành Đầm lại hồi hương”, câu vĩ ý là “Lò mò hỏi lo, toại cho một trò”. Thủ vĩ đều tuyệt nên gọi là Phụng đính. Xem thế tài nghệ thi thơ Nguyễn Phương Chánh không phải kém, nên ông nóng lòng việc Lê Quang Chiểu công bốthơ của Mạc Thiên Tích không đúng quy cách cũng là chuyện dễ hiểu.

4. Quyển Thần chú thỉnh tiên - Ca trù thập cảnh Hà Tiên dịch giả La Thành Đầm (1907):

Sau khi cụ Nguyễn Phương Chánh công bố 11 bài thơ Nôm thì cụ La Thành Đầm lên tiếng. Đừng quên rằng La Thành Đầm đi xa mới trở về Hà Tiên năm 1904 - Có lẽ thời gian xa quê cũng là thời gian ông thâu nhặt được những câu thơ song thất lục bát Hà Tiên thập cảnh ca trù ở đâu đó. Về Hà Tiên, ông mới dịch từ chữ Nôm ra Quốc ngữ và ông cho xuất bản kèm trong tập sách nhỏ có nhan đề: Thần chú thỉnh tiên, Ca trù thập cảnh Hà Tiên (Phát Toán - Imprimeur Editeur - Sài Gòn - 1907). Để khỏi mô tả dông dài cái bìa quyển sách, mời quý vị xem ảnh chụp tờ bìa và trang 17 có đăng Hà Tiên thập cảnh ca trù. Xưa nay mọi người đều lầm tưởng ông Đông Hồ là người đầu tiên và là người duy nhất công bố 334câu thơ song thát lục bát (được ông sửa tên đến 4 lần). Thực ra ông là người thứ hai, ông sao lục in lại. Bản thơ chữ Nôm này được cụ La Thành Đầm công bố sớm hơn gần 20 năm trước, khi Đông Hồ mới được một tuổi (Đông Hồ sinh năm 1906). Theo cách ghi trên bìa sách và thực tế cách xếp của văn bản, ta có thể vững tin đây không phải tác phẩm do la Thành Đầm sáng tác. Hãy đọc kỹ cái bìa. Nhất là phần thứ hai, in rõ: Ca trù thập cảnh Hà Tiên Traduit en Quốc ngữ par La Thành Đầm tự Mộ Tần. Câu tiếng Pháp: “dịch ra Quốc ngữ bởi La Thành Đầm”. Nội dung bìa sách biểu hiện rõ một sự thực: đây không phải thơ văn của ông. Còn trong văn bản:

Thứ nhất: Cả mười bài nguyên là liên khúc ăn khớp, hiệp vần nhau từ bài đầu đến bài cuối, thế mà bản của La Thành Đầm khi in lần đầu, cũng như ở lần Đông Hồ in lại các cảnh xếp cách lộn xộn. Đáng nói là ông Đông Hồ chép nguyên văn các bài thơ với thứ tự cũ, ông cũng chẳng thấy được quy luật xưa. Nếu La Thành Đầm sáng tác, Nguyễn Phương Chánh đã sửa sai Lê Quang Chiểu về thứ tự của các bài thơ, chẳng lẽ ông dịch giả này không hay biết ?

Thứ hai: Rất nhiều bằng chứng cho thấy La Thành Đầm chẳng rõ chút nào về 10 bài thơ xướng bằng chữ Hán của Mạc Thiên Tích:

Một là: Tựa các bài thơ đều chép sai:

- Nam Phố trùng ba thay vì Nam Phố trừng ba.

- Giang Thành gia cổ thay vì Giang Thành dạ cổ.

- Tiêu tự thần chung thay vì Tiêu tự hiểu chung.

- Lư Khê nhàn điếu (Ngư bọt) thay vì Lư Khê ngư bạc

(Tôi độ rằng: trong văn bản chữ Nôm viết là Lư Khê ngư bạo, mà người viết chữ Nôm thiết âm theo giọng nói người miền Trung (bạc là bột), nên dịch giả gạch thêm trong ngoặc là (Ngư bọt).

- Bình Sang điệp tuý thay vì Bình San điệp thuý

- Thạch Động thân vân thay vì Thạch Động thôn vân.

- Kim dự lang đào thay vì Kim dự lan đào.

- Châu Nham lạt lộ thay vì Châu Nham lạc lộ.

Hai là: Chỉ nhìn vào nhan đề các bài thơ như cách đã in, nếu loại trừ các lỗi chính tả do trình độ sử dụng Quốc ngữ thời đó còn kém, ta sẽ thấy sự nhận thức về tựa bài của ông hẳn còn xa lắm mới gần được sự hoàn chỉnh.

Mười bài thơ nguyên xướng trong tập Hà Tiên thập vịnh của Mạc Thiên Tích được các thi nhân rập theo hoạ vần, triệt để giữ thứ tự như sau:

1- Kim Dự lan đào

2- Bình San điệp thuý

3- Tiêu tự hiểu chung

4- Giang Thành dạ Cổ

5- Thạch Đông thôn vân

6- Châu Nham lạc lộ

7- Đông Hồ ấn nguyệt

8- Nam Phố trùng ba

9- Lộc Trĩ thôn cư

10- Lư khê như bạc(8).

Năm 1960 ông Đông Hồ dựa theo cáitrật tự này xếp lại thì thấy các bài đều liền vận thành một chuỗi liên tục như một liên khúc hoàn chỉnh. Vậy thì không thể nói 334 câu lục bát gián thất là tác phẩm của La Thành Đầm! Ông chỉ là người đi sao nhặt, dịch lại rồi đưa in. Điều thấy rõ: ông không nắm những bài thơ nguyên vận (thí dụ như bài Lư Khê ngư bạc trong bản chữ Nôm xưa là Ngư Khê ngư bạc. Nhưng có lẽ người thời đó chỉ trích ông, ông sửa lại Lư Khê nhàn điếu. Nhưng hình như chưa yên lòng nên còn gạch trong ngoặc là (Ngư bọt). Phải công tâm để thấy rằng ông ghi “Châu Nham lạc lộ” là đúng hơn người đương thời. Vì Trần Đình Quang, Lê Quang Chiểu, Nguyễn Phương Chánh (cũng như Điên Hương về sau) đều chép là “Châu Nham lạc nhan”.

Ta cũng công nhận cụ La Thành Đầm có hơn các cụ xưa một bậc ! May là La Thành Đầm còn giữ được đủ bộ ca trù, ta mới đọc được toàn vẹn áng văn Nôm. Nhưng đáng tiếc thay, ta không còn thấy bản gốc.

5- Đông Hồ thời đại Nam phong: (Nam phong số 107/1926, trang 43 đến 47, Sđd).

Lần đầu ông viết Hà Tiên Mạc Thị sử, dùng tư liệu của lớp người cao niên hơn (như la Thành Đầm) Đông Hồ có thú nhận việc này một cách thành thật không úp mở. Ở Nam phong số 107, trang 43 ghi rõ: “Mười bài sao lục ra sau dây truyền lại đã lâu, không chắc có khỏi tam sao thất bản, duyệt giả có tường hơn đính chính lại cho”. Thế mà suốt mấy chục năm không ai đính chính, và cũng không ai cãi. Người ta yên chí mười bài ngâm song thất lục bát là của ông Thiên Tích, cho mãi đến ngày ông Vũ Văn Kính đặt vấn đề về bản chữ Nôm của Trần Đình Quang. Thế có nghĩa là, thời xưa chưa ai đặt thành vấn đề nghi ngờ các câu thơ kia cả.

Ta hãy thẳng thắn nhìn vào thực trạng các bản văn chữ Hán của Mạc Thiên Tích, dù Trịnh Hoài Đức có cho khắc in Minh Bột di ngư, nhưng rất hiếm. Những người có đọc thơ chữ Hán của Mạc Thiên Tích thì thật là ít ỏi... Trước 1975, rất khó tìm ở miền Nam một tập An Nam Hà Tiên thập vịnh. Cụ thể là thời kỳ đầu thế kỷ, sách của Trần Đình Quang tụ Dưỡng Hối chỉ ghi 7 bài, trong số 10 bài “thập vịnh”. Thậm chí năm 1926 và 1929, Đông Hồ vẫn ta thán: “Nay 10 bài Hà Tiên thập vịnh bằng Quốc văn còn truyền đủ chứ những bài thơ chữ Hán chỉ còn mấy bài thôi” (Nam phong 107, 7-1926, trang 36, cột 2) hoặc “ông Mạc Thiên Tích có làm hai tập Hà Tiên thập vịnh, một tập bằng Hán văn, một tập bằng Quốc văn. Tập Quốc văn thì còn truyền đủ nhưng cũng đã thiếu sót đi nhiều, tập Hán văn thì còn được vài ba bài...” (Nam phong 143, 10/1929, trang 332).

Mà đúng thế, sau ngày Đông Hồ công bố tác phẩm chữ Nôm (1926), đến 1950 mới có Thôi Tiêu Nhiên và Lý Văn Hùng (người Hoa) công bố 10 bài thơ chữ Hán Hà Tiên thập vịnh(9). Trong giới báo chí, học giả Việt Nam, ít ai biết đủ 10 bài thơ chữ Hán, chính Đông Hồ cũng hay né tránh. Lý do là miền Nam không mấy người còn giữ tập Hà Tiên thập vịnh bằng chữ Hán, ngoại trừ ông Lê Thọ Xuân giữ một bộ nhưng nó cũng thất lạc sau năm 1945.

B. Trong tình hình đó, việc Đông Hồ ráp nối được các bài thơ Nôm chính là một biến cố văn học, việc đó không thể xảy ra khoảng năm 1930 - 1950; đừng nói là vào thời gian trước (1900). Người Hà Tiên đương thời với cụ La Thành Đầm không ai còn giữ lại được tập Hà Tiên thập vịnh làm mẫu để sáng tác 334 câu ca trù. Khả năng các câu thơ này ra đời sau Mạc Thiên Tích hoặc do các cụ nho học bên ngoài đất địa Hà Tiên sáng tác nên, là điều không thể có được.Ai cũng đều rõ tất cả các sĩ phu, thi sĩ thời Trịnh Hoài Đức (như Gia Định tam gia), rồi Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt v. v. nếu có tác phẩm dù lớn hay nhỏ đều được biết tên tác giả. Cũng không thể có đột biến văn học, tức là một sinh hoạt văn chương đạt trình độ sáng tác thơ Nôm như thể tại Hà tiên... Thế, rõ ràng tác phẩm này chỉ được sáng tác từ thời xưa, nó bị phiêu bạt, thất tán và bị vùi lấp. Thậm chí những năm 1900 trở về sau người ta còn không biết đâu là đầu đâu là cuối. Bằng cớ là cụ La Thành Đầm không nắm được luồng lạch xuôi thuận của suối nguồn thi ca, cả đến người kế tục ông là Đông Hồ khi in lại vẫn chép nguyên xi bản in lần đầu...

Cái “quy tắc sáng tác trong lạch nguồn thi tứ” hay “dòng suối thi ca” mà 10 bài ngâm khúc tuân thủ ấy là “thứ tự hợp vần, hòa điệu với Hán thi” của Mạc Thiên Tích. Cái đó không có dấu hiệu nào tồn tại vào thời đại La Thành Đầm. Thế mà trong văn chương đã gọi đó là “Nguyên vận”, là “Tiền chương”, là “bộ Đề chính” hay “Tiền vận”... Vậy “bộ Nguyên đề” hay “Tiền chương” chính là “cái thứ tự” được quy định ngay khi hình thành các câu thơ đó. Cái đó đã thất tán cùng với cuộc chiến giữa Xiêm và họ Mạc (1771) nó tiêu tán với thời đại Tây Sơn chống Nguyễn ánh (1775 - 1802), nó bị thiêu hủy và chôn vùi dưới lớp bụi thời gian sau Minh Mạng - Tự Đức (1833 - 1867)(10). May là người dân còn nhớ được những bài thơ ấy. Khoảng năm 1958 Đông Hồ mới đọc thấy cái thự tự các tựa bài ở Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú và Nam Hải dân tộc anh hùng của Lý Văn Hùng và Thôi Tiêu Nhiên, khi đó ông mới xếp lại chùm thơ đã công bố năm 1926. Từ đó sự thật mới vỡ lẽ, ông tìm thấy sự liền lạc, nhịp nhàng lý tưởng của tác phẩm...

Xin tạm dùng ngôn ngữ của nghệ thuật tạo hình ở đây: khi tổng thể hình dạng của bức tượng được phục chế đúng nguyên mẫu thì rõ ràng nổi lên nét hoa mỹ của biểu tượng, nói lên thời đại hình thành của nó. Từ đóta có thể xác địnhdanh tính và thời đại của tác giả. Chúng tôi chỉ thấy độc nhất có một người là Mạc Thiên Tích, như các hàng chữ xưa nhất còn ghi: “Mạc Tiên Công nguyên tắc”!

Nhưng biết đâu tôi hơi chủ quan ?

Vậy xin nhường chỗ cho những nhà ngôn ngữ học về thơ văn thế kỷ XVIII - XIX nói lên tiếng nói sau cùng.

Nếu ai đó còn cho rằng đây là những tác phẩm khuyết danh, xin hãy tìm cách tiếp cận tác phẩm gần hơn nữa. Mong rằng Hợp Phố chẳng lo châu hoàn.

Hà Tiên, mùa huý nhật thứ 26 của Đông Hồ Lâm Tấn Phác
Người biên tập: Nguyễn Văn Bến

CHÚ THÍCH VÀ TRA CỨU

1- Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - Trần Văn Giáp, Tập II, Nxb. KHXH, H. 1990 - tr.119.

2- Đăng đàn, Đông Hồ, Nxb. Mặc Lâm - 1970, tr,34.

3- Hà Tiên thập cảnh - Đường vào Hà Tiên, Đông Hồ và Mộng Tuyết, Nxb. Bốn Phương - 1960 - tr. 17 - 18.

4- Tạp chí Khoa học xã hội - TP Hồ Chí Minh - Số 13, quý III - 1992 - tr.160.

5- Tạp chí Nam phong số 143 tháng 10 - 1929 - tr.323.

6- 250 năm Tao đàn Chiêu anh các - Sở Thông Tin - Văn hóa Kiên Giang xuất bản, 1987, tr.232. Bài viết: Vài ý kiến về văn bản thơ văn Chiêu Anh Các của Vũ Văn Kính.

7- Về thơ chữ Hán, trong Gia phả Hà Tiên chép 12 bài nhưng chỉ có 7 bài thuộc về Hà Tiên thập vịnh, nhưng có một bài in lộn lời tựa, là Châu Nham lạc nhạn. Còn một bài thuộc Minh Bột di ngư nhan đề Lư khê nhàn điếu. Bài này được xếp lẫn lộn vào thơ Hà Tiên thập vịnh. Chỉ có 4 bài hoàn toàn xa lạ chẳng biết chép từ đâu... Đến như 7 bài thuộc hệ Hà Tiên thập vịnh, thì tác giả Trần Đình Quang cũng chép lộn xộn không theo trật tự nào, như là:

Đông Hồ ấn nguyệt
Châu Nham lạc nhạn
Lộc Trì thôn cư
Nam Phố trừng ba
Bình san điệp thúy
Giang Thành dạ cổ
Tiêu Tự thần chung

Bài thơ thứ hai và bài thơ thứ bảy, tựa ghi không đúng. Nguyên tựa trong sách An Nam Hà Tiên thập vịnh ghi là: Châu Nham lạc lộ và Tiêu tự hiểu chung. Sách Gia phả Hà Tiên chép thiếu 3 bài: Kim Dự lan đào, Thạch Động thôn vân Lư Khê ngư bạc.

8) Thứ tự các tựa bài chép theo thứ tự các bài thơ trong tập An Nam Hà Tiên thập vịnh, ký hiệu A.441, Thư viện Viện Nghiên Cứu Hán Nôm (bản sao chụp năm 1991).

9) Thôi Tiêu Nhiên và Lý Văn Hùng sáng tác Nam Hải dân tộc anh hùng truyện, xuất bản ở Chợ lớn năm 1950. Trong sách có chép 10 bài thơ chữ Hán của Mạc Thiên Tích, trích từ Hà Tiên thập vịnh. Hai ông này mượn quyển Minh Bột di ngư của cụ Lê Thọ Xuân, quyển này bị mất trước năm 1945 (Xem Văn học Hà Tiên, Đông Hồ, Nxb. Quỳnh Lâm, 1970, tr.120).

10) Năm 1833 loạn Lê Văn Khôi ở Gia Định, Xiêm xâm chiếm Hà Tiên, dân cư ly tán, nhà cửa bị đốt phá. Năm 1867, Pháp chiếm Hà Tiên, sĩ phu chống Pháp, chữ Hán mai một, chữ Nôm tàn lụi.

PHỤ LỤC

Bài “Hà Tiên thập cảnh ca trù ´được Đông Hồ cho in lại. Các số ghi trong vòng tròn bằng bút chì và những chữ sửa chữa là bút tích của Đông Hồ, khi ông xếp lại trật tự các bài thơ. Chú ý các chữ được khoanh tròn: (Ngôn) (Thanh) (Chương) (Cao) (Nghiêu) (mao) là những vần của bài trước sẽ cắn với vần của bài có chữ này hoặc liền vận với bài Hán thi:

Dưới đây là 2 trang chụp lại từ Nam phong số 107 tháng 7 - 1926.

Phụ-lục mười bài vịnh “Hà-tiên thập-cảnh” bằng Quốc-văn của ông Mạc Thiên-Tích soạn ra (1)

I. Đông-hồ ấn-nguyệt

東 湖 印 月
Lờ-thờ kia núi nọ non,
Đời bao mấy lũ cảnh còn nhưng nhưng
Mắt láo lưng mảnh nhìn hoa cỏ,
Một Đông-hồ là thú Võng-xuyên.
Vũng bằng nước trải trời liền,
Khi ban rượu cúc gióng thuyền giúp vui.
Nguyệt sao soi một vầng vãn vãn
Tượng giữa dòng in sẵn cung-nga.
Khách tiên vầy lũ đôi ba,
Trên khoe mặt ngọc dưới loè đài gương.
Một tấm buồm muôn trùng xa cách,
Nhìn nhau thì trong sạch nước thu.
Nổi chìm đã hẳn trước sau,
Lòng không chốn hiểm quản đâu lạnh-lùng.
Hiu-hiu ai phất gió đông,
Trên hồ tinh-tú một dòng lung-lay.
Kẻ gió mưa người thì non nước,
Hai phía đều chiếm được thu-thanh.
Cảnh lành như đợi người lành,
Mua nhàn một khắc giá đành nghìn câu,
Thấy tinh-thần tấm lòng phơi-phới,
Biển vẽ-vời xui lại nguồn tham.
Khuyên ai chưa trả áo cơm,
Đã say thế nước lại ôm thế trời.
Mấy khách chơi xa gần tùng-tụ,
Rượu thơ bày chẳng ngủ năm canh
Say sưa xem cảnh hoà-thanh.
Ca soang dưới nguyệt tiếng đoanh trên ngàn,
Mấy khách tuyền mỗi ái mỗi đủ,
Thưởng gia-kỳ kẻo phụ lương-tiêu.
Hòa nge, hòa tỏ hòa -xiêu,
Gió mưa phủi động, nước bèo khiến tan.
Chút lời hoang giãi vần tả cảnh,
Miễn đừng cười dễ sánh tiền-chương.

Thơ rằng

Một hồ rờ - rỡ tiết thu quang,
Giữa có vầng trăng nổi rõ-ràng.
Đáy nước chân mây in một sắc,
ẳ Hằng nàng Tố tỏ đôi phương.
Rạng thanh đã hứng thuyền Tô-tử,
Lạnh-lẽo cáng đau dạ Lạc-xương.
Cảnh một mà tình người dễ một,
Kẻ thì ngả-ngớn kẻ sầu thương.

II. - Nam-phố trừng-ba

南 浦 澄 波
Muôn cùng lời chúng phô-trương,
Rằng nơi Nam-phố một phương lạ đời.
Khắp dưới trời rằng nơi cảnh-vật,
Muôn miệng truyền hãng thật nào ngoa.
Thanh-thanh nước trải dòng la.
Đố ai dệt được long-thoa cho tầy!
Bảng-lảng thay núi dài ngút rộng,
Mấy phụng-trì một giống quang-tinh.
Đã hay ngao-ngán dòng xanh,
Cá phun nước mực hạc đoanh khói trà.
Nhạn gần xa hãy còn hiệp lũ,
Chốn bãi nồm bay phủ mừng xuân.
Tiếc ai gởi vực ran tần,
Giang-hồ du-khách mở gần hải-môn.
Mặc cá tôm đều bày nhan-nhản,
Đầm giao-long chưa hãn dòng khơi.
Có khi mặc được thợ trời,
Cũng toà nhật nguyệt cũng ngôi linh-thần.
Thú giang-tân này là đệ-nhất,
Nghĩ trần-hoàn một vật một ưa.
Nguồn trong nước sạch thấy chưa?
Cá phao ống ngọc lưới lừa dòng ngân.
Khách giang-tân tấm lòng mại-mại
Sự muôn năm dường hãy mới qua.
Mảng còn ngoạn-cảnh lân-la,
Địch ai thổi tiếng gió xa đưa gần.
Khúc vừa ngừng giọng cười ha-hả.
Tưởng-tượng dường chẳng hạ trần-ai,
Nước thu dã-dạn trời dài,
Vui trong tạo-hóa khác ngoài càn khôn.
Ghe ngư-thôn ngâm đề Đỗ-phủ,
Sức tài hèn chưa đủ đua bơi.

Thơ rằng:

Dòng Nam vững rạng khách dầu chơi,
Hai thức như thêu nước với trời
Bãi khói dưới không hương lại bủa,
Hồ gương trong có gấm thêu rơi.
Sóng chôn vảy ngạc tình không xiết,
Nhạn tả thơ trờ giá mấy mươi.
Một lá yên-ba dầu lỏng lẻo,
Dong trăng lường gió nước vơi vơi.

III. - Giang thành dạ-cổ

江 城 夜 鼓
Hễ là làm khách tiêu-dao,
Muốn cùng hứng ý trải bầu tam thiên.
Trấn Hà-tiên mỗi nơi một lạ,
Người bốn phương riêng dạ ước-ao.
Ghê thay một thú tần-cao
Quang-âm nghiêm-nghị thu-hào dễ qua.
Yêu nước nhà phải gài then chốt,
Dự phòng khi nhẩy nhót binh-đao.
Đêm hằng canh trống truyền-lao,
Miễn an đất chúa quản nào thân tôi.
Dục vạc sôi bốn phương thanh-phước,
Phép nhà binh mỗi chước một hay.
ác vàng vừa lặn hang tây,
Liễu-dinh tiếng trống vang vầy sơn-xuyên.
Lệnh một truyền cửa viên giải áo,
Vạc lâu-đồng vừa báo sơ-canh.
Nhung-hàng có thứ phân-minh,
Đầm rồng bặt nhảy tăm kinh vắng sôi.
Treo sáo trời diễn bày chủ khách,
Rạng muôn quân chia sạch Vị-Kinh.
Càng khuya càng nhặt máy binh,
Giao nghe xởn gáy chuột rình nép hơi.
Ba bốn dùi đêm đà quá nửa,
Chênh bóng hoè ngả dựa bờ sông.
Tan canh rồi lại rạng đông,
Phò-tang một miếng chiêng đồng thả vô.
Vững cơ-đồ khỏe phò thế nước,
Mở đường đi khỏi bước chông gai.
Sắt đinh là chỉ con trai,
Dành người dìu dắt để tây chống thành.
Đấng vuốt nanh anh-tài đã tót,
Vẻ Thanh xưa thú tốt năm mươi.
Hãy cho hết phận tôi người,
Cắp non đòi thuở vén trời có khi.
Khách phụng-trì cũng gồm thao-lược,
Chốn thi-đàn bảy bước tranh-phong.

Thơ rằng:

Trống quân giang-thú nổi uy-phong,
Nghiêm dóng đòi canh ỏi núi sông.
Đánh phá mặt gian người biết tiếng,
Vang truyền lệnh sấm chúng nghiêng lòng.
Phao tuông đã thấy an ba vạc,
Nghiêm nhặt chi cho lọt mảy lông.
Thẻ lụng sớm hầu trưa bóng ác,
Tiếng xe sầm-sạt mới nên công.

IV.- Tiêu tự thần chung

簫 寺 晨 鐘
Khách chùa Tiêu ân-cần phật-tự,
Đêm đêm hằng phân thử âm dương.
Giấc hòe hồn bướm mơ-màng,
Lầu quân trống đã điểm sang năm dùi.
Nỗi buồn vui mặc lòng nhộn-nhã
Gối chưa êm còn hả sự lòng.
Gió đưa mấy tiếng thần-chung,
Lóng tai nghe lọt bên lòng vơi-voai.
Dọi hòa trời sao bay lở mở,
Vén nhành dương rực-rỡ bóng câu.
Chày kinh thánh-thót đêm thâu,
Tình nghe thì một tình sầu thì trăm.
Kẻ chẳng nằm ngồi chằm đạo-vị,
Niệm cấu kinh sử trí hằng đua.
Dầu không lộc nước quyền vua,
Cầu thoa lỗ kiến cầu dùa chòm ong.
Tiếng lạnh-lùng vận càng sâu thiết,
Khách tha-hương sầu biết mấy mươi.
Phủi buồn lập chí thảnh-thơi,

TB

TẠO CHỮ NÔM TRÊN MÁY TÍNH

ĐỖ NGUYÊN ĐƯƠNG

Phần lớn các thứ chữ hiện nay được cấu tạo từ một bộ con chữ rất hạn chế, được sắp xếp theo trật tự hàng ngang, thường từ trái sang phải. Chữ Nôm mà cha ông chúng ta dùng trước đây (và ngày nay vẫn còn một số người, trong một số trường hợp, cũng dùng đến nó) thì không như vậy: mỗi chữ được xếp gọn vào trong một hình vuông, dùng những nét hay tổ hợp nét có sẵn sắp xếp theo một cách nào đó, theo cách làm của chữ Hán. Thực ra, các cụ cũng đã phân tích chữ thành nét. Việc phân tích này quá chi tiết (có khoảng 30 dạng nét khác nhau, và người xưa đã đưa về năm dạng cơ bản là chấm, ngang, sổ, phẩy, mác) nên một chữ có thể có đến 30 nét, và việc mô tả vị trí tương quan của các nét hầu như không thể làm được.

Ta hãy xem xét kỹ chữ La tinh. Mỗi con chữ La tinh thực chất là một tổ hợp nét sắp xếp cố định mà thành: như chữ “O” có thể coi là có một nét tròn, chữ “a” có thể coi là có hai nét O (tròn) và @ (móc ngán) đặt dính nhau ở bên phải, v.v. Vậy mỗi con chữ La tinh có thể coi là một tổ hợp nét có sắp xếp (gọi là “cụm nét”) tiêu chuẩn. Còn chữ là một tổ hợp con chữ sắp xếp nhất luật từ trái sang phải, dài ngắn nhiều íttuỳ theo yêu cầu của việc tạo âm đọc hay quy ước khác. Nếu cũng xử lý như vậy với chữ Nôm (và cả chữ Hán) thì phải giải quyết hai vấn đề:

- Quy ước một bộ luật về kết cấu chữ sao cho đủ mô tả các cách sắp xếp có thể có trong ô vuông chứa chữ.

- Chọn ra một bộ “tiết chữ” (cụm nét) dùng làm những đơn vị cơ sở để kết hợp với bộ luật kết cấu trên tạo thành mọi chữ có thể có.

Hai vấn đề này có thể được giải quyết như sau:

1. Luật sắp xếp chữ:

Ngay từ khi mới học chữ Hán, tôi đã được nghe đôi “câu đối chiết tự”:

“Bát đao phân mễ phấn

Thiên lý trọng kim chung”.

Tức là: chữ “bát” (八 ) đặt trên chữ “đao” (刀) thành chữ “phân” (分), đặt bên phải chữ “mễ” (米) thành chữ “phấn” (粉); chữ “thiên” (千) đặt trên chữ “lý” (里 ) thành chữ “trọng” (重), rồi đặt bên phải chữ “kim” (金) thành chữ “chung” (鍾 ). Điều này đã gợi ra hai quy luật rất phổ biến của cách sắp xếp chữ Hán (và cả chữ Nôm):

1.1 Luật chồng nhau: Trong máy tính, tôi dùng dấu “cộng” (+) để thể hiện. Kết cấu của quy luật này là:

[Thành phần trên] + [Thành phần dưới]

Ví dụ:

chữ 俼 (trời) được mô tả là: 天 + 上 ;

chữ 丷 (ngất) được mô tả là: 山 + 乙;

chữ 侢 (nói) được mô tả là: 口 + 內 .

Luật này có thể mô tả cho 3-4 thành phần.

Ví dụ:

chữ 摹 (múa) được mô tả là: 艸 + 曰 + 大 + 手 .

1.2 Luật kề nhau. Trong máy tính, có thể dùng dấu “trừ” (-) để thể hiện. Kết cấu của quy luật này là:

[Thành phần bên trái] - [Thành phần bên phải]

Ví dụ:

chữ 乸 (lẻo) được mô tả là: - 了 ;

chữ 乮 (đeo) được mô tả là: 才 - 刀;

chữ 呵 (khà) được mô tả là: 口 - 可 .

Luật này cũng mở rộng cho 3-4 thành phần.

Ví dụ:

chữ 洳 (nhơ) được mô tả là: -女-口.

Hai luật trên đây chưa đủ mô tả các cách sắp xếp chữ Nôm. Tôi đưa thêm vào hai luật sau đây:

1.3 Luật bao nhau. Trong máy tính, có thể dùng dấu chia (/) để thể hiện.

Hai thành phần được coi là bao nhau khi tiết chữ thứ nhất có một hoặc một sốnét nằm ở hai hoặc ba hay bốn viền ngoài của tiết chữ thứ hai. Kết cấu của luật này là:

[Thành phần bao]/[Thành phần bị bao]

Ví dụ:

chữ 僘 (đau) được mô tả: 疒 / 刀 ;

chữ @ (tỏi) được mô tả: 乙 / 干 ;

chữ (lên) được mô tả: 辶 / 升 ;

chữ 怺 (muôn) được mô tả: 門/ 万;

chữ 囷 (khuôn) được mô tả: 囗 / 禾 .

Luật cân nhau. Trong máy tính có thể dùng dấu “nhân” (*) để thể hiện. Luật cân nhau được dùng khi thành phần thứ nhất có hai khoảng trống ở hai phía, và ở mỗi phía đó được đặt thành phần thứ hai và thành phần thứ ba cân nhau. Kết cấu của luật này là:

[Thành phần gánh] / [Thành phần bên trái, Thành phần bên phải]

Ví dụ:

chữ 夾 (xáp) được mô tả là: 大(人 , 人)

chữ 巫 (vu) được mô tả là: 工 (人 , 人)

1.5 Trong các ví dụ trên đây, các thành phần chủ yếu còn là các tiết chữ, được lựa chọn để việc trình bày được giản đơn. Trong thực tế, một thành phần có thể là một cụm tiết chữ có kết cấu nhất định. Trong trường hợp này, thành phần phức hợp được đặt trong dấu ngoặc đơn, và ngay cả trong dấu ngoặc đơn, thậm chí có thể có thành phần phức hợp nhỏ hơn nữa, lại được đặt trong dấu ngoặc đơn nữa.

Ví dụ;

chữ 捜 (rằm) được mô tả là: 五 + (木-木)

chữ 器 (khí) được mô tả là: (口 - 口) + 工 + (口 - 口).

chữ 窂 (ngòn) được mô tả là: 口 - { -[@ / (白 + 小 )]}

2. Chọn tiết chữ

Chọn những cụm nét nào làm tiết chữ là một vấn đề khá phức tạp. Nếu lấy quá ít (Ví dụ lấy đến nét đơn, tức là có khoảng 30 nét) thì việc mô tả kết cấu của chữ sẽ quá phức tạp mà các quy luật sinh ra ở phần 1 chưa, đủ sức làm được. Vì vậy, phải dựa vào các quy luật kết cấu đã định để chọn tiết chữ sao cho vừa đủ sức mô tả kết cấu, đồng thời công thức mô tả lại không quá phức tạp. Để làm việc này, chúng tôi đã dựa vào những tiêu chí sau đây:

2.1 Tiêu chí chọn tiết chữ;

2.1.1 Các cụm nét thường lặp đi lặp lại nhiều lần trong nhiều chữ có thể được chọn làm tiết chữ. Như vậy, các “bộ” thông dụng của chữ Hán sẽ được chọn làm tiết chữ, vì các bộ này đều là những cụm nét hay chữ giản đơn gặp đi gặp lại nhiều lần, có bộ có thể gặp đến mấy trăm lần, bộ ít gặp cũng đến mấy chục lần. Về mặt kết cấu chữ, các bộ này có thể so sánh với các từ tố của tiếng châu Âu như các thành phần anti -, para - trong tiếng Pháp, un-, - froof trong tiếng Anh, v.v...

Ví dụ các bộ 口 , 才 , 木 , 心 , 辶 , 广 , 門 ... đều được chọn làm tiết chữ.

2.1.2 Các cụm có kết cấu đan nhau hay lồng nhau, mà vị trí tương quan của các nét không thể hoặc khó mô tả bằng các quy luật kết cấu đã nêu ở đoạn 1 trên đây. Đây là các cụm nét bắt buộc phải chọn do tính giản đơn trong các quy luật kết cấu của ta còn mâu thuẫn với tính đa dạng của các kết cấu thực tế.

Ví dụ các cụm nét @, @, 丐 , 井 , 大, 夫 ...

2.1.3. Ngoài hai loại trên ra, còn một số cụm nét tuy không phải là “bộ” trong chữ “Hán”, cũng không phải mô tả kết cấu quá khó khăn, nhưng cũng có thể được chọn làm tiết chữ để làm giảm bớt sự cồng kềnh trong việc mô tả kết cấu chữ.

Ví dụ các cụm nét 合, 斤 , ,可 .

2.2 Thực tế chọn tiết chữ.

Người viết bài này đã thực tế chọn gần 800 tiết chữ làm cơ sở để tạo chữ Nôm (và cả chữ Hán) trên máy tính và cảm thấy rằng bảng chọn đầu tiên này (Version 1, đã công bố ở Hội nghị IRG tháng 2 năm 1994 ở Hà Nội) còn hơi nhiều, có thể giảm đến khoảng 500 – 600 mà chưa ảnh hưởng nhiều đến việc mô tả kết cấu chữ. Bảng tiết chữ rõ ràng cần được kiểm nghiệm trong thực tiễn mới có cơ sở để điều chỉnh thỏa đáng được.

3. Ứng dụng

3.1 ứng dụng đầu tiên (và cũng là mục đích của phương án này) là tạo chữ Nôm trên máy tính. Do chữ Nôm được cấu tạo từ chữ Hán với những quy tắc giản đơn nên có thể áp dụng phương án này để từ một tập hợp chữ Hán có sẵn tạo ra những chữ thuần Nôm (không tồn tại trong vựng tập chữ Hán).

Người viết bài này đã lập được một chương trình để làm việc này trên máy tính, nhưng vì là người lập trình không chuyên nên chương trình còn rất nhiều nhược điểm, chỉ đủ để chứng tỏ rằng phương án là khả thi. Xin trình bày thủ tục tạo chữ qua một số thí dụ, với giả thiết là trong máy tính đã có một tập tiết chữ được sắp xếp và có thể gọi ra một cách dễ dàng (về vấn đề sáp xếp chữ Hán - Nôm, sẽ được trình bày trong một bài khác).

Ví dụ 1: 缊 Tạo chữ (hang).

Chữ này tạo bằng ba tiết chữ: 禾 , 日 và 谷 với công thức là (禾 + 日 ) - 谷. Công thức này có nghĩa là phải thực hiện việc tạo chữ bằng các bước sau:

- Bước 1: Gọi tiết chữ 禾 ra, rồi gọi chữ 日 ra, đặt dưới chữ trước và nén kết quả lại để trở về chiều cao bình thường, được thành phần 香 !

- Bước 2: Gọi tiết chữ 谷 ra, đặt bên phải thành phần đã thu được ở bước 1 rồi nén chiều rộng lại trở về chiều rộng bình thường, được chữ 缊 ,

Ghi chú: 1/ Khi nén chữ lại, để bảo đảm sự cân đối trong ô vuông chữ, các thành phần cần được nén theo tỉ lệ số nét của thành phần đó, thành phần nhiều nét hơn chiếm chỗ rộng hơn.

2/ Khi không sử dụng bộ tiết chữ mà sử dụng vựng tập chữ Hán thì có thể bỏ qua bước 1, mà gọi ngay hai chữ và ra để làm bước 2 trên đây.

Ví dụ 2: Tạo chữ 笗 (nhọn).

Chữ này được tạo bằng 5 tiết chữ:: 巳 , 共 , 小 và 大 với công thức cấu tạo là: [(巳 - 巳 ) + 共 ] – (小 + 大 )

Công thức này có nghĩa là có thể thực hiện việc tạo chữ bằng các bước sau:

Bước 1: Gọi tiết chữ 巳 ra, rồi lại gọi tiết chữ 巳 ra một lần nữa, xếp hai tiết chữ kề nhau và nén lại đến chiều rộng bình thường, được thành phần 巳巳 .

Bước 2: Gọi tiết chữ 共 ra, đặt dưới thành phần thu được ở bước 1, nén lại đến chiều cao bình thường, được thành phần @. Cất đi.

Bước 3: Gọi tiết chữ 小 và tiết chữ 大 ra, ghép chồng nhau rồi nén lại đến chiều cao bình thường, được thành phần 尖 .

Bước 4: Gọi thành phần thu được ở bước 3 ra, ghép kề nhau với thành phần thu được ở bước 4, rồi nén lại đến độ rộng bình thường. Kết quả được chữ 笗.

Ví dụ 3: Tạo chữ 媨 (lướt).

Chữ này được tạo bằng ba tiết chữ: 辶 , 歹 ,刂 . Công thức cấu tạo là:

辶 / (歹 - 刂). Các bước tạo chữ là:

Bước 1: Tạo chữ 列 bằng cách xếp kề nhau hai tiết chữ 歹 và 刂.

Bước 2: Nén kết quả vừa thu được cho phù hợp để đặt vào chỗ trống của tiết chữ 辶 .

Ghi chú: Như vậy, dấu/ trong cấu tạo chữ hàm ý phải dò xem thành phần bao có chỗ rộng cao rộng thế nào để nén thành phần thứ hai cho vừa vào chỗ trống đó.

Ví dụ 4: Tạo chữ 巫 (vu).

Chữ này được tạo bằng ba tiết chữ: 工 , 人 và 人 , công thức cấu tạo là; 工 * (人 , 人 ). Các bước tạo chữ là:

Bước 1: Gọi tiết chữ 工 ra.

Bước 2: Gọi tiết chữ 人 ra, nén lại cho phù hợp chỗ trống bên trái và đặt tiết chữ 人 vào đó.

Bước 3: Gọi tiết chữ 人 ra, nén lại cho phù hợp chỗ trống bên phải và đặt tiết chữ này bào đó.

Khi đã có một vựng tập chữ Hán đầy đủ thì việc cấu tạo chữ Nôm nói chung không dùng đến qui tắc này.

3.1 Các ứng dụng khác:

Mục tiêu của phương án này là việc tạo ra chữ Nôm trên cơ sở các tiết chữ. Nhưng ngoài mục đích chính là việc tạo chữ Nôm ra, còn có thể ứng dụng phương pháp này trong một số việc khác, đặc biệt là khi kết hợp với việc mã hóa chữ Hán - Nôm bằng số để sắp xếp từ điển và vựng tập chữ Hán - Nôm và tiết chữ trong máy tính. Cũng có thể khảo sát vấn đề dạy vỡ lòng chữ Hán dựa trên sự phân tích cấu trúc chữ Hán trong đề án này.

Người viết bài này đã lập được một chương trình trên máy tính để cấu tạo chữ Nôm (và có thể cả chữ Hán) và đã đạt được một số kết quả có thể chứng tỏ rằng phương án là khả thi. Rất mong được trao đổi rộng rãi với những người có quan tâm vấn đề.

Người biên tập: Ngô Thế Long.

TB

THỦ PHÁP ĐỐI LẬP QUÁ KHỨ HIỆN TẠI TRONG THƠ ĐƯỜNG VÀ SỰ THỂ HIỆN THỦ PHÁP ẤY Ở MỘT SỐ BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT

NGUYỄN TUYẾT HẠNH

Thơ Đường đưa con người tham gia vào hòa điệu sinh thành đại đồng của vạn vật. Nhiệm vụ của nhà thơ là sáng tạo ra những hình ảnh, những động thái của thế giới hoàn hảo, mà muốn như vậy phải đưa chúng vào thế giới của ký ức. Một nhà thơ phương Tây đã nói Thiên đường chỉ tồn tại trong ký ức. Những gì trong ký ức mới đẹp, mới vĩnh cửu, vì khi mọi vật lùi vào ký ức là chúng đã chống lại với mọi đổi thay, chúng thở thành bất tử.

Sự hướng về quá khứ gần như tuyệt đối, có nhà nghiên cứu cứ coi đó là đặc điểm tâm lý của người Trung Quốc cổ. Quá khứ không ở sau họ mà ở ngay trước họ. Họ luôn luôn đối diện với quá khứ để thấy sự tồn tại của ngày hôm nay là khoảng thời gian mong manh ngắn ngủi, cuộc sống là phù du, ảo mộng và cái chết chính là sự trở về (sinh ký, tử quy).

Chính vì thế mà trong thơ ca của họ, nhất là thơ Đường, các hình ảnh luôn luôn nằm trong thế đối lập giữa quá khứ và hiện tại, giữa vĩnh cửu và phù du, giữa sinh thành và hủy diệt, giữa mộng mơ và thực tế. Thế đối lập chính vẫn là thế đối lập giữa hiện tại và quá khứ.

Các nhà thơ Đường thường lấy cái điêu tàn của hiện tại đối lập với cái huy hoàng của quá khứ để tạo nên nỗi ngậm ngùi trong lòng người đọc. Như bài Ô y hạng của Lưu Vũ Tích:

Chu Tước kiều biên dã thảo hoa,
Ô y hạng khẩu tịch dương tà.
Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến,
Phi nhập tầm thường bách tính gia.

(Bên cầu Chu Tước mọc đầy hoa đồng cỏ dại. Ngoài ngõ Ô y bóng đã tà. Những con chim yến xưa làm tổ trên lầu Vương Tạ, Nay bay vào nhà dân thường)

Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản dịch:

"Chu Tước bên cầu hoa cỏ tươi,
Ô y ngõ cũ bóng chiều soi.
Yến xưa làm tổ lầu Vương Tạ,
Nay đến nhà dân ríu rít rồi."

“Dã thảo hoa” sao dịch thành “hoa cỏ tươi”? Như thế là làm mất đi cái sự hoang phế của cầu Chu Tước, trước đây vốn là nơi nổi tiếng. Cầu Chu Tước, ngõ Ô y của hai nhà họ Vương, họ Tạ giàu sang thời xưa, bây giờ đã trở thành hoang phế. Hoa cỏ trước đây đựoc chăm chút cẩn thận, giờ đây không còn nữa, thay vào đó là hoa cỏ hoang mọc đầy.

Một là cảnh vật hoang tàn, hai là thời gian đã xế. Cả không gian và thời gian đều hiu hắt lụi tàn. Loài chim yến sang trọng trước kia vẫn ở chốn lâu đài, mà nay cũng phải bay vào nhà dân dã. Mọi cái đều đổi thay tàn tạ “tang thương đến cả hoa kia, cỏ này”. Dịch “dã thảo hoa” thành “hoa cỏ tươi” là làm mất đi một đỉnh của cấu trúc tam giác đổi thay chuyển hóa của bài thơ.

Hai câu thơ rất nổi tiếng của Bà Huyện Thanh Quan trong: Thăng Long thành hoài cổ “hẳn là có chịu ảnh hưởng của bài Ô y hạng”:

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

Hai hình ảnh “thu thảo” và “tịch dương” đã gợi cảnh tang thương biến đổi của thành Thăng Long. Nếu thay “thu thảo” thành “xuân thảo” hay “phương thảo” thì hiệu quả gợi cảm ấy chắc sẽ giảm đi nhiều lắm.

Trong hai hình ảnh “Dã thảo” và “tịch dương tà” của bài Ô y hạng thì hình ảnh “dã thảo” hàm ý nhiều hơn hình ảnh “tịch dương tà”. “Tịch dương tà” chỉ là thời gian trong ngày mà tác giả chọn lựa để làm tăng thêm nền buồn của khung cảnh. “Dã thảo hoa” mới thực sự là hình ảnh cho thấy sự đối lập. Không để ý đến sự đối lập nằm ở đâu thì dịch giả sẽ cho một bản dịch kém cảm xúc.

Bản dịch của Tùng Vân trong Nam phong tạp chí tạo được nỗi ngậm ngùi, nhờ dịch được thế đối lập trên.

Bên cầu Chu Tước cỏ đìu hiu,
Ngoài ngõ Ô Y nhạt bóng chiều.
Chim yến hai nhà Vương, Tạ cũ
Lều tranh bách tính lại bay vào,

Hay bài Sơn phòng xuân sự của Sầm Tham:

Lương viên nhật mộ loạn phi nha,
Cửu mục tiêu điều tam lưỡng gia.
Đinh thụ bất tri nhân khứ tận,
Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa.

(Lương viên buổi chiều tà, quạ bay tán loạn. Trông hết tầm mắt chỉ thấy nóc nhà xơ xác. Cây trong sân không biết người đã đi hết, nên xuân đến vẫn cứ nở những đóa hoa của thời xưa)

Khu vườn đầy những tân khách hào hoa, những cung nhân xinh đẹp, cùng với chủ nhân phong nhã là thái tử Lương Hiếu Vương đã đi hết cả rồi, mà cây vẫn vô tình nở những đoá hoa xinh đẹp của thời thịnh vượng, huy hoàng, không biết đến những biến thiên của những kiếp đời ngắn ngủi.

Nguyễn Hiếu Văn trên tạp chí Bách khoa đã dịch:

Lương viên quạ lượn buổi chiều tà,
Lác đác buồn thay mấy nếp nhà.
Vắng bóng người xưa cây chẳng biết,
Xuân về hoa dại nở bung ra.

Và Giang Phu dịch:

Quạ liệng vườn Lương bóng ác tà,
Tiêu điều đây đó một đôi nhà.
Người xưa nay vắng cây nào biết,
Hoa gặp xuân về lại nở ra.

Hai bản dịch trên chưa dịch được “cựu thời hoa”. Hoa vẫn nở những đoá hoa của thời huy hoàng bình yên trong khi người xưa đã đi vắng hết. Sầm Tham đưa ra hai hình ảnh đối lập “nhân khứ tận” và “cựu thời hoa” mà dịch giả dịch thiếu “cựu thời hoa” là làm thiếu đi sự đối lập đến não lòng.

Ngô Tất Tố dịch:

Trời tối vườn Lương quạ dập dìu,
Nhà xa mấy nóc cảnh đìu hiu.
Cây sân chẳng biết người đi hết,
Xuân tới hoa xưa vẫn nở đều.

Tản Đà dịch:

Trời tối vườn Lương quạ lượn lờ,
Nhà đâu vút mắt, nóc lưa thưa.
Cây sân chẳng biết người đi hết,
Xuân đến hoa còn nở giống xưa.

Ngô Tất Tố và Tản Đà dịch được sự đối lập của nguyên tác, dịch được hàm ý của tác giả nhờ dịch được “nhân khứ tận” và “cựu thời hoa”

Về những bài thơ vịnh hoài cổ tích thì khôngai có thể sánh được với Lưu Vũ Tích. Những bài Tây Tái sơn hoài cổ, Thạch Đầu t hành của ông, Bạch Cư Dị hết lời tán thưởng.

Trong tiệc rượu cùng các bạn thơ tại nhà mình, mọi người thi thơ với đề tài “Tây Tái sơn hoài cổ”, Bạch Cư Dị nghe thơ của Lưu Vũ Tĩch xong liền nói: “Trong bốn người đi tìm ly long, bác Lưu đã bắt được ngọc châu rồi, còn lại vảy, móng thì dùng làm gì ?” Những người còn lại đều không làm tiếp nữa. Còn đọc xong câu: “Triều đã không thành tịch mịch hồi” trong bài Thạch Đầu thành, Bạch Cư Dị cực kỳ khen ngợi, nói rằng những bài thơ sau này không ai có thể đặt lời hơn thế được:

Sơn vi cố quốc chu tao tai,
Triều đã không thành tịch mịch hồi.
Hoài thủy đông biên cựu thời nguyệt,
Dạ thâm hoàn quánữ tường lai.

(Núi bao bọc quanh cố đô. Nước triều vỗ vào thành trống rồi rút lui lặng lẽ. Vầng trăng xưa ở phía Đông sông Hoài, đêm khuya vẫn chiếu vào chốn nữ tường).

Theo Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản, Trần Trọng Kim và Nguyễn Hiến Lê thì “nữ tường” là chỗ hở trên bờ thành để quân lính nấp bắn quân địch (Đúng ra nữ tường là phần tường con xây trên tường lớn, có khoét lỗ châu mai).

Bài thơ tứ tuyệt này bao gồm hai cặp đối lập.

Vẫn kinh thành xưa mà nay trống vắng chỉ còn nghe tiếng nước triều vỗ vào thành rồi lặng lẽ quay về.

Vẫn vầng trăng ở phía Đông sông Hoài, nhưng ngày nay soi suốt đến chốn nữ tường vắng tanh, trống trải, vốn là nơi được canh phòng nghiêm ngặt thời xưa.

Trần Trọng Kim dịch:

Cựu kinh vây núi chung quanh,
Nước hồ vỗ dưới chân thành vắng không.
Vầng trăng vẫn chiếu bên sông,
Đêm khuya vẫn đến dòm trong nữ tường.

K.D trong Thơ Đường tập I của Nxb. Văn học, Hà Nội dịch:

Sông Hoài trăng cũ phía đông,
Đêm khuya thấp thoáng bóng lồng tường con.

Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản dịch:

Bao bọc đô xưa núi mấy hàng,
Thành không vắng vẻ sóng hồ vang.
Phía đông hoài thủy vầng trăng cũ,
Đêm vắng còn soi chốn nữ tường.

Cả ba bản đều không dịch được “tịch mịch hồi” của nguyên tác. “Triều đã không thành tịch mịch hồi” (nước vỗ vào thành không rồi lặng lẽ quay về). Dịch thiếu “tịch mịch hồi” là làm mất đi nỗi ngậm ngùi của dòng nước triều trước cảnh đổi thay, là làm mất đi một cặp đối lập).

Bản của Trần Trọng San dịch được “tịch mịch hồi”, làm cho thiên nhiên trở nên có tình, như chia sẻ cùng con người nỗi mất mát, quạnh hiu:

Núi vây nước cũ còn quanh quẩn,
Sóng đập thành không lặng lẽ về.

Ở cặp đối lập thứ hai:

Hoài thủy Đông biên cựu thời nguyệt,
Dạ thâm hoàn quá nữ tường lai.

Trần Trọng San kiến giải là ánh trăng phía đông sông Hoài, đêm đã khuya vẫn chiếu qua tường các cô gái, chỉ khác là ngày nay các cô gái đã không còn là chinh phụ nữa vì chiến chinh đã chấm dứt rồi:

Trăng sáng bờ đông Hoài thủy trước,
Vượt tường cô gái lúc canh khuya.

Như vậy Trần Trọng San hiểu “nữ tường” là “bức tường nhà cô gái”. Thi Chập Tồn trong Đường thi bách thoại cũng hiểu “nữ tường” như Trần Trọng San khi kiến giải”... có còn chăng đèn sáng của lâu đài, những điệu ca hay, múa khéo, làm cho những đêm dài luôn náo nhiệt ? Không còn gì cả, chỉ còn vầng trăng sáng như thủa nào từ tường nhà cô gái chiếu vào thành”. Rõ ràng là sự suy diễn do hiểu không đúng nghĩa chữ “nữ tường”: “Nữ” trong”nữ tường” không có nghĩa là cố gái mà là “nhỏ”, ngược với vương, mã là “lớn” (theo Thuyết văn thông huấn định thanh”.

Đầu đề bài thơ là “Thạch đầu thành” và cặp đối lập thứ nhất đã nhắc đến nước triều vỗ vào chân thành trống vắng rồi lặng lẽ quay về, thì cặp đối lập thứ nhì sẽ hợp lý hơn nếu như hiểu “nữ tường” là chỗ nấp để canh thành. Chỗ ấy ngày xưa hẳn phải đầy quân sĩ, giờ đây trống vắng không một bóng người để mặc bóng trăng xuyên suốt. Hai cặp đối lập này bổ sung nhau, đã làm cho bài thơ diễn tả được một cách tuyệt vời sự hưng phế xưa nay.

K.D dịch:

Sông Hoài trăng cũ phía Đông,
Đêm khuya thấp thoáng bóng lồng tường con.

Dịch “nữ tường” thành “tường con” dịch giả không gợi được cho người đọc một hình ảnh hoang vắng của Thạch Đầu thành.

Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản phần nào dịch được sự đối lập đó:

Phía đông Hoài thủy vầng trăng cũ,
Đêm vắng còn soi chốn nữ tường.

“Nữ tường” không có từ tương đương ở tiếng Việt. Cách xử lý để nguyên từ Hán Việt rồi chú giải bên dưới, tập cho người Việt Nam quen thêm một từ mới, cũng là cách trước đây ông cha ta đã làm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản: Đường thi trích dịch, Xuân tập, Tủ sách Hoa Xưa, Tài liệu in ronéo, 1960.

- Tản Đà: Thơ Đường, Nguyễn Quảng Tuân, biên soạn, Hội nghiên cứu và giảng dạy Văn học Tp. HCM, Nxb. Trẻ, 1989.

- Trần Trọng Kim: Đường thi, Sài Gòn, Nxb. Tân Việt, 1974.

- Lesevich: Tư tưởng văn học Trung Quốc cổ xưa, Trần Đình Sử dịch, Trường Đại học Sư phạm, Tp. HCM, 1993.

- Giang Phu: Đường thi trích diễm, Sàigòn, Nxb. Long Giang, 1950.

- Ngô Tất Tố: Đường thi, Saigon, Khai trí xuất bản, 1961.

- Trần Trọng San: Thơ Đường, cuốn III, Saigon, Bắc Đẩu xuất bản, 1973.

- Thi Chập Tồn: Đường thi bách thoại, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1987./.

Người biên tập: Phan Văn Các

TB

NHỮNG TÀI NỮ VÀ TIẾT PHỤ HỌ PHAN TRÊN ĐẤT HỒNG LAM VÀO THỜI
CUỐI LÊ (THẾ KỶ XVIII)

HOÀNG HỮU YÊN

Bấy lâu sử sách mới ghi cụ thể một bà tiết phụ họ Phan là Phan Thị Thuấn và một bà họ Phan khác được xây thành thiên truyện vừa, dưới nhan đề An ấp liệt nữ trong Truyền kỳ tân phả của Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.

Khi viết Nghệ An ký, Hoàng giáp Bùi Dương Lịch trong mục Danh nhân cho rằng Phan Thị Thuấn là vợ lẽ của Đinh Nho Hoàn. Trên đường đi sứ sang Bắc Kinh (Trung Quốc) chánh sứ họ Đinh thọ bệnh và mất dọc đường. Khi nghe tin chồng không còn nữa, Phan Thị Thuấn đã quyên sinh theo chồng. Sau đó, bà được vua phong là phụ tiết.

Họ Bùi đã nhầm. Bà Phan Thị Thuấn người làng Vĩnh Gia, xã Lai Thạch, huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An (nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), sinh sau Đinh Nho Hoàn (1671-1761) mấy thập kỷ. Bà lâm lẽ võ tướng Ngô Cảnh Hoàn, người làng Trảo Nha cùng huyện Thiên Lộc. Trong trận cầm quân Lê - Trịnh đánh nhau với quân Tây Sơn trên sông Thuý Ái (sông Hồng thuộc địa phận Thuý Ái), Ngô Cảnh Hoàn tử trận. Được tin chồng chết, bà cho lập đàn tế ngay tại bờ sông Thuý Ái, sau đó, bà nhảy xuống nước trẫm mình. Đến đầu triều Nguyễn, vua Gia Long xuống chiếu truy phong tiết phụ.

Tiết phụ Phan Thị Thuấn xuất thân từ dòng họ Phan rất nổi tiếng đương thời với nhiều danh sĩ, học giả như Phan Kính, Phan Huy Ôn, Phan Huy ích, Phan Huy Chú v.v... Họ Phan còn có một tài nữ cũng nổi tiếng đương thời nhưng gần đây chưa được giới thiệu.

Bà tên là Phan Thị Toán em ruột Thám hoa Phan Kính (1713-1761)(1). Bà là người tài sắc vẹn toàn và đoan trang mực thước, lúc nhỏ có theo đòi bút nghiên, nổi tiếng tài nữ. Vì thế mà chàng công tử con một phú thương, người Đông Hải, huyện Chân Phúc (nay là huyện Nghị Lộc, tỉnh Nghệ An), Nguyễn Hữu Chỉnh(2) đã có lần vượt sông Lam, tìm đến ra mắt. Chỉnh đến chơi nhà, làm quen, hai người cùng dạo chơi trên bờ ao nhà họ Phan. Để thử tài công tử, lúc khoả chân xuống nước thấy nẩy ý hay nàng bèn ra một vế câu đố như sau:

Tẩy túc trì trung, dao động bán thiên Ngưu Đẩu,

Nghĩa là: Rửa chân trong ao, rung động nửa trời tinh tú. Chàng Chỉnh đớ người không đối ngay được! Mãi đến lúc vào nhà, chợt thấy bức bản đồ treo trên vách, mới đáp lại rằng:

Quải đồ bích thượng tận thu tứ hải sơn hà.

Nghĩa là: Bản đồ treo trên vách thu về cả bốn bể non sông. Tuy chậm nhưng vế đáp hay, phản ánh hoài bão trung bá đồ vương về sau của Bằng công Nguyễn Hữu Chỉnh.

Sau khi tiễn Chỉnh, bà họ Phan về quê ngoại tại thôn Mật Thiết, xã Nguyệt Ao gặp người cậu họ là Nguyễn Thiếp, tức La Sơn phu tử; Cô cháu thưa với cậu về chuyện đối đáp vừa qua. Cô cháu tỏ vẻ hết sức thích thú về câu đáp của nho sinh huyện Chân Phúc. Ông cậu gật gù khen hay vì ở đó bày tỏ được chí trượng phu nhưng ông thâm thúy lưu ý cô cháu: suy cho cùng bản đồ chỉ là một tờ giấy!

Vốn thông minh và mẫn tiệp, cô cháu tiếp nhận được ý tứ sâu xa của người cậu uyên bác và khả kính. Sau đó, cô đã tìm cách khước từ mối tình của Chỉnh. Không bao lâu Phan Thị Toán được triệu ra Thăng Long giữ chức Giáo thụ trong phủ chúa 16 năm. Lúc tuổi cao, bà về sống tại quê nhà cho đến lúc mất.

Cuộc đời Nguyễn Hữu Chỉnh diễn biến đúng như khẩu khí của ông ta và dự báo của La sơn phu tử !

Còn bà tiết phụ – tài nữ họ Phan trong An ấp liệt nữ và trong gia phả họ Đinh Nho ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh là ai? Đó là câu chuyện khá dài xin được hầu chuyện vào dịp sau(3).

Người biên tập: Nguyễn Văn Nguyên

CHÚ THÍCH

(1) Phan Kính, đậu Thám hoa khoa 1743, nhậm chức Thừa chính sứ, đánh giặc ở Hưng Hóa, mất ở trong quân, được truy tặng Hình bộ Tả thị lang, tước Quỳ Dương bá.

(2) Nguyễn Hữu Chỉnh (?- 1787) đậu Hương cống nên thường gọi là Cống Chỉnh, tài kiêm văn võ, là chính khách vang bóng một thời, cuối cùng bị tướng Tây Sơn là Võ Văn Nhậm giết tại Thăng Long năm 1787.

(3) Tài liệu do cụ Đinh Xuân Vịnh cung cấp, xin được bày tỏ lời cảm ơn./.

TB

VIẾT CHỮ HÁN MỘT MÔN NGHỆ THUẬT ĐỘC ĐÁO

THẾ ANH

Hình ảnh ông đồ viết chữ Hán tài hoa ở phố phường Hà Nội trước đây đã được nhà thơ Vũ Đình Liên mô tả rất đẹp.

Hoa tay thảo những nét,
Như phượng múa rồng bay.

Truyền thống viết chữ Hán ra đời rất sớm từ trước công nguyên ở Trung Quốc, nó đã trở thành một nghệ thuật và ngày càng phát triển. ở Trung Quốc trước đây, để có được một “tay nghề” điêu luyện, người xưa phải miệt mài tập luyện rất công phu người ta kể lại rằng có những nhà sư ở một mình trên gác cao nhà chùa suốt 30 năm chỉ để khắc lại các chữ khắc trên bia và mẫu chữ đẹp trong các văn bản cổ nổi tiếng để tập luyện và nghiên cứu ý nghĩa. Trong lịch sử Trung Quốc đã có đến mấy trăm nhà thư pháp nổi tiếng, tiêu biểu là Vương Hy Chi (321-379) đời nhà Tấn, chữ đẹp của ông đã làm cho vua Đường Thái Tông (627-650) phải khâm phục và đã cho xuất quỹ ra mua các di bút của ông, rồi ra lệnh cho các quaqn mô phỏng theo đó mà viết.

Hai mẫu chữ đã được trưng bày ở triển lãm thư họa Trung Quốc tổ chức năm 1993 tại Hà Nội

Cũng như một số nước “đồng văn”, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa Trung Quốc và đã sản sinh ra những nhà nho viết chữ đẹp nổi tiếng.Trong kho sách của cổ nhân hiện còn lưu giữ ở Thư viện Viện Hán Nôm cũng như những văn bia, bức hoành, câu đối... rải rác đó đây là những bằng chứng sinh động về những nhà thư pháp tài hoa của chúng ta.Những tên tuổi đến nay còn được lưu truyền như Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hoàng Hy Đỗ, Cao Bá Quát, Tùng Thiện Vương... là những nhà thơ có tên tuổi, đồng thời cũng là những nhà thư pháp của Việt Nam.

Đến đầu thế kỷ thứ XX, nền Nho học ở nước ta bắt đầu suy tàn, nhường chỗ cho nền giáo dục Tây học, như nhà thơ Tú Xương đã viết: Vứt bút lông đi, giắt bút chì.

Tuy vậy, ngay trong giới trí thức Tây học cũng có những người được thừa hưởng truyền thống Nho học của gia đình và đã làm thơ hay và viết chữ đẹp. Chúng tôi muốn nói đến trường hợp Vũ Hoàng Chương - một thanh niên đỗ Tú tài Tây, đã theo học khoa Luật trường Đại học Hà Nội, sau đó học Đại học Toán và làm nghề dạy học. Trước Cách mạng Tháng 8, ông nổi tiếng trên thi đàn với tập Thơ say. Ông dịch nhiều bài thơ Đường rất thanh thoát, có làm cả thơ chữ Hán. Ông mất tại Tp. Hồ Chí Minh năm 1976. Sau đây là bài thơ chữ Hán củaVũ Hoàng Chương do ông viết và dịch, đã in trên Thời văn số 5. Chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc kèm theo phần phiên âm của chúng tôi.

XUÂN CẢM
Trường khu vạn lý trúc phong thôi,
Tận phó yên trần lưỡng đoan bôi.
Tháp ngoạn vô đoan kim cổ chấn,
Mộng trung bất giác ngọc sơn đồi.
Nhất triêu thần nỗ huyền đăng nhụy.
Tứ xứ chung thanh đáo kiếp hôi.
Đông liễu tây đào tân sắc diện,
Thanh bình nam bắc hữu lương mô.

Thư vu Nam Đô. Quý Sửu tân xuân
Vũ Hoàng Chương

Một điều đáng mừng là trong không khí mở cửa hiện nay của đất nước, chúng ta đã có chú ý đến việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa - tinh thần của ông cha để lại, mà đã một thời gian dài dường như bị quên lãng. Mấy năm gần đây ở Văn Miếu Quốc Tử Giám đã tổ chức những cuộc triển lãm về thư họa, thu hút đông đảo khách trong nước và quốc tế tham quan. Những bức đại tự, những câu châm ngôn, những bài thơ Đường nổi tiếng của các thi nhân Việt Nam và Trung Quốc, cũng như những bức hoành phi câu đối...do nhà thư pháp cao niên Lê Xuân Hoà viết với nét bút tài hoa, vừa cân đối vừa sắc sảo, khoẻ khoắn đã để lại cho người xem nhiều ấn tượng sâu sắc.

Tuy đã vào ngưỡng cửa của tuổi 85, nhưng cụ Lê Xuân Hòa vẫn rất gắn bó với vốn cổ dân tộc. Theo chúng tôi được biết thì cụ vừa giúp vào việc tổ chức một số lớp truyền thụ kiến thức Nho học cũng như nghệ thuật viết chữ Hán cho những người yêu thích môn học này.

Dạo quanh phố phường Hà Nội, chúng tôi còn được biết thêm một số người viết chữ Hán đẹp như nghệ sĩ nhiếp ảnh Đức Như ở Đội Cấn, anh Hồng Thanh ở Thủ Lệ, các cụ trong câu lạc bộ thơ Hán Nôm ở Thịnh Quang...

Do nhu cầu đa dạng về mặt thưởng thức, do trình độ kinh tế và văn hóa được nâng cao nên nhiều người thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau ngày càng ý thức được sự cần thiết phải kết hợp cái hiện đại với truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Để kết thúc bài viết ngắn này, chúng tôi cho rằng vấn đề kế thừa và phát huy những mặt tích cực của truyền thống Nho học nói chung, trong đó có nghệ thuật viết chữ Hán (thư pháp) là một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa của chúng ta. Các cơ quan văn hóa, Viện Nghiên cứu Hán Nôm... nên tạo điều kiện tổ chức những lớp bồi dưỡng cho những người yêu thích môn nghệ thuật này.

T.A

Tiếng Việt Tiếng Mường
Sông Khlông (Ly Hà, Sách)
Sâu Khlâu (Sách, Đan lai, Ly Hà)
Sống Klông (Uy Lỗ)(2)

Việc dùng âm “lân” biểu âm “sân”, dùng “lao” biểu âm “sao” như đã nêu ở trên là những chữ Nôm còn giữ được dấu vết của âm Việt cổ. Hoặc cũng có thể nghĩ rằng trong số những từ Hán Việt đồng âm thì đối với đại đa số người Việt cũng chỉ cần nhớ một số từ thông dụng. Còn đối với những chữ khó và ít thông dụng hơn thì chưa hẳn đã là điều cần thiết. Trong khi ở thời điểm đó các tổ hợp phụ âm có chứa lại đang tồn tại phổ biến nên người ta dùng ngay / I / Hán Việt để biểu âm / S / tiếng Việt cũng không có gì là lạ.

Ở đây cũng vậy, thường thì thời kỳ đầu người ta sử dụng nguyên chữ Hán để ghi. như trường hợp chữ “sao” được ghi bằng “lao” 牢 dùng trong nhiều ngữ cảnh với nhiều nét nghĩa khác nhau:

- Chỉ các vì tinh tú:

Sao mai có hiệu Khải Minh,
Sao hôm tối hiện, hiệu rằng Thanh Nam
(Chỉ nam ngọc âm
-Thiên Văn chương đệ nhất).

- Biết bao:

Con lều mọn mọn đẹp sao,
Trần thế chẳng cho bén mỗ hào
(Quốc âm thi tập - Thuật hứng)

- Tại sao, vì lẽ gì:

Hiểu (3) hỏi hai vương cớ sao,
Nghĩa là cốt nhục, nỡ bao sinh thù?”
(Thiên Nam ngữ lục,
Quyển hạ)

Ta có thể tìm thấy nhiều thí dụ tương tự như trên trong các tác phẩm Nôm thời Lê sơ. Dần dần về sau, người ta thêm vào bộ phận biểu nghĩa nữa nên trở thành chữ tự tạo. Ví dụ “sao” với nghĩa là “ngôi sao” thì bộ phận biểu nghĩa là chữ “tinh” 星 , “sao” với nghĩa là “tại sao, thế nào” thì bộ phận biểu nghĩa là chữ ‘hà” 何 .

Nhờ có các kí hiệu xác định nghĩa khác nhau nên đã giúp người đọc phân biệt được nghĩa khác nhau của mỗi từ.

Quá trình xảy ra như trên không riêng gì ở chữ ghi từ đồng âm. nhiều nhà nghiên cứu cho rằng chữ Nôm thời kỳ đầu chủ yếu là dùng chữ giả tá, tức là mượn nguyên cả chữ hán. Theo thống kê của cụ Đào Duy Anh, trong 10 bài đầu của sách Quốc âm thi tập gồm 538 chữ thì có tới 381 chữ giả tá(4). Đó là vì chữ Nôm ở giai đoạn này chỉ thiên về ghi âm mà không chú trọng nhiều về nghĩa. Càng về sau, chữ tự tạo càng có xu hướng tăng dần: biểu hiện của ý thức muốn đặt ra những cách ghi ngày càng chính xác hơn, ăn khớp với âm đọc tiếng Việt. Trên đây là một vài nhận xét của chúng tôi qua việc tìm hiểu các chữ ghi từ đồng âm trong văn bản Nôm, mong sao đem lại ít nhiều bổ ích cho những người đang học tập và tìm hiểu loại hình văn tự này.

Người biên tập: Nguyễn Tá Nhí

CHÚ THÍCH

(1) Hoàng Thị Châu: “Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại Đông Nam á qua một vài tên sông”. Thông báo khoa họ c (Văn học - Ngôn ngữ) tập 2 - Nxb. Giáo dục, 1966.

(2) Vương Lộc: “Hệ thống âm đầu tiếng Việt thế kỷ XV-XVI qua cứ liệu cuốn An Nam dịch ngữ", Tạp chí Ngôn ngữ 1-2/1989.

(3) Hiểu: tức Phụng Hiểu, công thần đời Lý Thái Tông.

(4) Đào Duy Anh: Chữ Nôm: Nguồn gốc - Cấu tạo - diễn biến. Nxb. KHXH, H. 1975, tr.119.

TB

VÀI Ý KIẾN NHỎ VỀ BÀI "BÀN VỀ MỘT CHỮ TRONG BÀI THƠ CỔ"

TRẦN ĐẮC THỌ

Tạp chí Hán Nôm số 4 - 1995 có bài: Bàn về một chữ trong bài thơ cổ của tác giả Hoàng Tiến. Tôi xin có một số ý kiến trao đổi với tác giả như sau:

Tác giả Hoàng Tiến đã có sự ngộ nhận khi cho 4 câu thơ:

Xuân du phương thảo địa,
Hạ thưởng lục hà trì.
Thu ẩm hoàng hoa tửu,
Đông ngâm bạch tuyết thi.

Là “một bài thơ không biết từ đời nào chỉ có 4 câu, nói về bốn mùa bằng chữ Hán, thường được truyền tụng trong lớp người yêu thích văn chương ở ta”.

Thực ra, theo thiển ý, 4 câu thơ trên không hẳn nói về một mùa một cách chung chung, mà ca tụng những cái thú thanh tao của kẻ sĩ thời xưa. Ta hãy xem lại phần dịch nghĩa:

Mùa xuân dạo chơi trên bãi cỏ thơm,
Mùa hạ thưởng ngoạn ao sen xanh biếc.
Mùa thu uống rượu hoa cúc vàng,
Mùa đông ngâm thơ tuyết trắng.

Bốn câu thơ mà tác giả Hoàng Tiến đã dẫn không phải là một bài thơ riêng rẽ, mà nó nằm trong một tác phẩm thơ năm chữ loại trường thiên, dùng cho học sinh xưa ở bậc ấu học. Tên quyển sách đó là ấu học ngũ ngôn thi, không ghi tên tác giả. Quyển thơ đó còn đưộc gọi là Trạng nguyên thi. Lúc còn nhỏ, tôi đã có dịp đọc nó. Tôi còn nhớ quyển sách bắt đầu bằng 4 câu thơ như sau:

Thiên tử trọng hiền hào,
Văn chương giáo nhĩ tào.
Song tiền cần khổ học,
Duy hữu độc thư cao.

có nghĩa:

Vua trọng người hiền hào,
Văn chương dạy dỗ bọn các anh.
Trước cửa sổ, nên siêng năng gian khổ học,
Vì chỉ có đọc sách là cao quý nhất.

Nhân sinh quan này là tư tưởng chủ đạo trong thời nho học thịnh hành; Nhưng thực tế xã hội xưa không cho phép áp đặt chung cho tất cả mọi người, vì chỉ có một số giai tầng nào có điều kiện dùi mài kinh sử. Thế cho nên trong dân gian mới có câu: “Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ” để phản bác lại.

Bốn câu thơ trên ở vào gần cuối quyển sách, sau đoạn nói về cảnh quan Trạng được Vua ban áo mũ, cưỡi ngựa đi dạo chơi ở Kinh kỳ. Về đoạn này, tôi còn nhớ những câu như:

"Hoa cù hồng phấn nữ,
Tranh khán lục y lang."

Có nghĩa:

Đường hoa các cô gái đánh phấn hồng,
Tranh nhau xem mặt chàng mặc áo xanh.

Hồi xưa, khi học trò mới tập làm câu đối, thầy đồ chọn vế ra bằng câu chữ có sẵn trong sách, học trò đối lại cũng phải tìm câu chữ trong các sách đã học, không được phép tự mình sáng tác ra vế đối lại. Có lần, tôi đã được thầy đồ ra câu “Tường đầu hoa ảnh động” (ở đầu tường bóng hoa lay động), tôi đã đối lại “Mã thượng cẩm y hồi” (Ngồi trên mình ngựa, mặc áo gấm ra về). Cả 2 vế ra và vế đối lại đều ở trong Ấu học ngũ ngôn thi trong 2 đoạn khác nhau. Đối như thế mới coi là trúng cách.

Tôi dẫn chứng như trên, để bạn đọc thấy quyển sách khuyến học này có nhiều câu lời hay ý đẹp. Chỉ tiếc không biết tác giả nó là ai! Có thể, theo thiển ý, quyển sách này do một tác giả Việt Nam viết, tuy nó có đề cập tới “bạch tuyết thi”. Nói cho đúng, Việt Nam cũng có tuyết ở Chapa tuy không nhiều. Cách đây khoảng 10 năm, có một lần tuyết xuống ở Chapa dày tới một nửa mét. Còn ở đỉnh Phăng-xi-păng thì năm nào rét nhiều, tuyết thường phủ trắng ngọn núi. Tuy nhiên, vấn đề này không phải ở chỗ đó bởi vì đúng như tác giả Hoàng Tiến đã nói “Nó mang tính ước lệ trong thủ pháp miêu tả nghệ thuật” có từ lâu đời. Có khách văn chương chưa nếm rượu hoa cúc, chưa nhìn thấy tuyết, nhưng vẫn ca tụng trong thơ văn của mình. Hoa mẫu đơn của Trung Quốc là một loại hoa to, màu sắc đẹp. Có người thấy thi nhân Trung Quốc cho hoa mẫu đơn là tiên của các loài hoa, cũng bắt chước ca tụng hoa mẫu đơn. Người đọc chỉ biết hoa mẫu đơn của Việt Nam là một loại hoa chùm, mọc nhiều ở các đồi núi vùng trung du. ở đồng bằng, người ta cũng trồng để lấy hoa bày bàn thờ cho đẹp vì hoa có màu đỏ tươi (có nơi gọi là hoa trang).

Một lẽ nữa khiến tôi nghĩ quyển thơ do một tác giả khuyết danh của Việt Nam làm vì tôi chỉ thấy nó được bày bán ở phố Hàng Gai Hà Nội, hồi đầu thế kỷ XX cùng với những quyển như Sơ học vấn tân, Nhất thiên tự.. .mà tuyệt nhiên không thấy bán ở các cửa hàng bán sách của những người Tàu ở chợ Lớn - Sài Gòn trước đây.

Còn về ý ông Hoàng Tiến muốn đổi “Xuân du phương thảo địa”thành “Xuân du thanh thảo địa”, thiết nghĩ không nên. Theo phép đối, hương đối với sắc là rất trội, nhiều khi còn hay hơn sắc đối với sắc, hương đối với hương. Ta hãy xem lại cách đối của cụTam NguyênYên Đổ:

Bài Thu vịnh:

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Cụ Nguyễn Khuyến đã đối “hoa” với “ngỗng”.

Bài Vịnh Tiến sĩ giấy:

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ,
Cái giá khoa danh ấy mới hời.

Tấm thân xiêm áo đã được đối với cái giá khoa danh. Đối như thế đã không ai chê trách, mà còn được khen là đằng khác!(1).

Người biên tập: Nguyễn Ngọc Nhuận

CHÚ THÍCH

(1) Trong một chuyến đi công tác địa phương (huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Hưng), chúng tôi thấy 4 câu thơ “Xuân du phương thảo địa...” được khắc trên một chậu cảnh làm bằng đá. Vậy nhân đây xin giới thiệu bản rập của chúng tôi về mấy câu thơ đó, để bạn đọc cùng tham khảo. (Nguyễn Ngọc Nhuận).

TB

NGUYỄN QUỲNH VÀ TRẠNG QUỲNH

VŨ TUẤN SÁN

Một hiện tượng khá lý thú của văn học dân gian nước ta là sự pha trộn trong nhiều trường hợp yếu tố truyền thuyết, thường đượm thêm màu sắc thần kỳ.Truyện được kể lại với người và việc có thật trong lịch sử, nơi diễn ra những sự kiện vẫn còn lưu lại những tên gọi ở địa phương. Đó là chứng tích được coi như bảo đảm tính xác thực của câu chuyện. Đời Lý, Bà Tấm được đồng nhất với thái hậu ỷ Lan, quê ở xã Dương Quang, huyện Gia Lâm; còn truyền lại bài ca sự tích Tấm Cám, với những địa điểm đã diễn ra những sự kiện. Cuối triều Lê, có Trạng Quỳnh, nhân vật truyền thuyết được tạo dựng dựa trên một nhân vật lịch sử: Cống Quỳnh tức Nguyễn Quỳnh. Sách Trạng Quỳnh (Nguyễn Đức Hiền sưu tầm, biên soạn, Hà Văn Tấn giới thiệu gia phả, dịch văn; Nxb. Văn học, Nxb. Thanh Hóa, 1987) ra mắt bạn đọc gần đây đã được đặc biệt chú ý, vì không những nó tập hợp được gần như toàn bộ những câu chuyện kể về nhân vật truyền thuyết Trạng Quỳnh, mà còn lần đầu tiên công bố trên sách nhiều tư liệu về đời sống, quê hương, sự nghiệp văn học của Cống Quỳnh, cho phép hiểu rõ thêm về nhân vật lịch sử này, đã là khởi điểm cho việc hình thành nhân vật truyền thuyết Trạng Quỳnh nổi tiếng trong văn học dân gian. Cuốn sách có 3 phần chính. Phần đầu có thể coi như dành cho nhân vật lịch sử Nguyễn Quỳnh tức Cống Quỳnh, do Giáo sư Hà Văn Tấn viết, giới thiệu gia phả, dịch và chú thích. Phần 2 tập hợp những câu chuyện (40 mục) về Trạng Quỳnh. Phần 3 là bài ký về làng Bột Thượng, quê Nguyễn Quỳnh, được địa phương đồng nhất với Trạng Quỳnh và là ông tổ 8 đời của người viết, nhà văn Nguyễn Đức Hiền. Cuốn sách còn thêm phần hấp dẫn do được kèm theo mấy bức ảnh về bút tích gia phả, nhà thờ đại tông họ Nguyễn và nhà thờ riêng của Nguyễn Quỳnh (Phần 1), cùng những minh hoạ do ngọn bút tài hoa của nhà họa sĩ lão thành Mạnh Quỳnh, không ký tên đầy đủ, nhưng ký hiệu MQ thành hình con chuột (M là đội tai chuột, Q là thân chuột với cái đuôi) đã rất quen thuộc với công chúng. Nhất là giới bạn đọc nhỏ tuổi, từ những năm 40 trước Cách mạng (Phần 2).

Phần đầu phân tích gia phả cho thấy Nguyễn Quỳnh sinh năm1677. Ông vốn rất thông minh, từ nhỏ được theo học, 20 tuổi (1696) đỗ Giải nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hương). Ông thi Hội nhiều lần không đỗ, từng làm Huấn đạo phủ Phụng Thiên. Năm1718, trúng tuyển khoa Sĩ vọng, được bổ Tri phủ phủ Thái Bình, một thời gian ngắn lại quay về Kinh đô, làm Viên ngoại lang bộ Lễ, sau chuyển sang chức Tu soạn toà Hàn lâm, sống ở Thăng Long cho đến cuối đời. Sách cho biết Nguyễn Quỳnh có tài văn học. Dân gian lưu truyền câu “Nguyễn Quỳnh Nguyễn Nham, thiên hạ vô tam” (Nguyễn Quỳnh Nguyễn Nham, dưới gầm trời không có người thứ ba sánh được). Nguyễn Nham hơn ông một tuổi, từng đỗ Tiến sĩ năm 1715, ba năm sau được cử chấm khoa thi Sĩ Vọng và đã lấy ông đỗ. Thế mà ông được xếp ngang hàng, đủ biết tài văn học của ông được người đương thời đánh giá cao. Tuy nhiên cuộc đời làm quan của ông không thật thanh thản, nhất là về đoạn cuối, từ chức Viên ngoại lang (tòng lục phẩm) chuyển làm Tu soạn tòa Hàn lâm (chính bát phẩm), bị tụt xuống 3 bậc. Theo Hà Văn Tấn “Rõ ràng ông bị biếm truất. Thời đó việc biếm truất đều do chúa Trịnh quyết định. Hẳn ông đã có những việc làm hay lời nói trái ý chúa”. (tr.15). Và tác giả khẳng định: “Cống Quỳnh hoàn toàn có đủ tư cách để trở thành khởi hình lịch sử của Trạng Quỳnh dân gian (tr.24). Sau phần phân tích gia phả, sách đã dịch 7 bài văn của Nguyễn Quỳnh còn được chép trong đó, và phiên âm kèm bản dịch cũng theo thể phú 2 bài phú chữ Hán của ông được chép trong Lịch triều danh phú: phú Kim bạch tài vật (vàng lụa của cải), và phú Tần cung phụ nữ (phụ nữ cung tần). Bài trên tả kho chứa của cải vàng lụa của nhà Tần, chê nhà Tần tham lam ngu ngốc chỉ biết thu gom tài sản, làm mất lòng dân, dẫn đến sự thất bại sụp đổ nhanh chóng. Bài thứ 2 nói về cung nữ của nhà Tần (được tập trung khá đông ở cung A Phòng nổi tiếng. Lưu Bang sau khi diệt nhà Tần đã theo lời khuyên của Tiêu Hà, không đụng chạm đến cung tần mỹ nữ. Cả 2 bài tuy chủ đề nói nhà Tân nhưng cốt đề cao thái độ đứng đắn không tham sắc tham tài của Lưu Bang, vua sáng lập nhà Hán. Hà Văn Tấn nhận xét: “Cả hai bài đều hay, đều tài tình. Người xưa coi là “danh phú” quả không sai và nhận định “vị trí của Nguyễn Quỳnh trong lịch sử văn học cần được đánh giá khác trước”.

Về nhân vật lịch sử Nguyễn Quỳnh, cho đến nay đã có khá nhiều tư liệu nói tới và khẳng định mối liên hệ với nhân vật truyền thuyết Trạng Quỳnh. Bên cạnh nhiều sách chữ Hán (chép tay), có thể mấy cuốn tiếng việt gần đây như Giai thoại văn học Việt Nam của Hoàng Ngọc Phách và Kiều Thu Hoạch (Hà Nội 1965), Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân (Sài Gòn 1966), Bộ Đại Nam nhất thống chí thời Tự Đức (Bản dịch, Nxb. KHXH, tập 2, 1970) phần tỉnh Thanh Hóa, mục nhân vật ghi tên Nguyễn Quỳnh, chép có chỗ không khớp với gia phả, như “Đầu đời Cảnh Hưng đỗ Hương tiến”, “không thích ra làm quan, giễu cợt khinh đời nhưng cho biết “văn học uẩn súc… phóng túng tự do, càng thích hài hước. Như vậy sách Trạng Quỳnh lần đầu tiên đã dựa vào gia phả cho biết nhiều chi tiết về đời sống Nguyễn Quỳnh, xác định năm sinh năm mất,và nhất là sưu tầm phiên dịch những sáng tác văn học của ông, trong gia phả, trong Lịch triều danh phú.

Về những bài văn trích từ gia phả và hai bài phú (trích từ Lịch triều danh phú trong Tạp chí Hán Nôm số 2 (11) 1991 đã có bài của Tảo Trang “Mấy sáng tác của nhag văn học Nguyễn Quỳnh” nên xin được miễn bàn thêm.

*

Phần Truyện Trạng Quỳnh do Nguyễn Đức Hiền kể gồm 40 câu truyện về Trạng từ thuở còn nhỏ tuổi cho đến khi mất. Chúng ta đều biết truyện Trạng Quỳnh được lưu hành khá rộng rãi bằng đường truyền miệng hoặc qua nhiều sách in hay chép tay, Hán Nôm hay Quốc ngữ. Nay được viết lại, so với những truyện được nghe kể hay được in từ trước, Truyện Trạng Quỳnh trong sách có thêm nhiều chi tiết, hoặc gắn liền với quê hương Bột Thượng, hoặc thêm một số sự việc khiến câu chuyện sinh động hơn. Nói chung lời kể hấp dẫn, có mạch lạc, cho thấy cả một hệ thống truyện cười có tính đả kích chiến đấu cao, chĩa vào hầu hết mọi khía cạnh của chế độ vua quan, thần quyền, tiêu biểu cho thời kỳ suy vong của chế độ phong kiến cuối thời Lê Trịnh. Đây là địa hạt văn học dân gian, chuyện kể nói chung phải được chấp nhận là “hợp lý”, và giữa nhiều dạng chuyện kể, thường chỉ tồn tại những dạng nào hợp lý nhất, được công nhận nhiều nhất. Hiểu như vậy, chúng tôi thấy có mấy chỗ chưa thật thỏa đáng ở phần Truyện Trạng Quỳnh hoặc về mối liên hệ với quê hương Bột Thượng, hoặc về những chi tiết thêm thắt không hợp, hay cần đính chính bổ sung.

- Về mối liên hệ với quê hương Bột Thượng. Sau truyện số 33 Người bạn vô danh, có chú thích ở cuối tr.151 “truyện này không thấy trong truyền thuyết địa phương hoặc dòng họ nhắc tới”. Sau truyện Càng đố càng thua cũng có chú thích “Nội dung... dựa theo chuyện Trạng Quỳnh mới sưu tầm ở các tỉnh phía Nam”. Như vậy có thể kết luận rằng những truyện khác đều nằm trong truyền thuyết lưu hành ở địa phương được không? Và nếu đúng như vậy thì truyện Cúng thành hoàng (tr.124) có thể lưu hành ở Bột Thượng không? Truyện kể vợ Trạng bị ốm, nói với Trạng sắm lễ vật cúng Thành Hoàng ở làng. Trạng luộc hai quả trứng, ra đình đặt lễ rồi đọc bài văn: “Chú là kẻ cả trong làng, ta là người sang trong nước v.v.” và rồi vợ cũng khỏi bệnh (sau khi uống nắm lá hương nhu Trạng đưa về). Chuyện như vậy, khó mà tin rằng có thể được kể đời này qua đời khác ở ngay quê Trạng. Chẳng lẽ dân làng lại coi khinh chính vị thần được thờ ở đình, một vị thần ban phúc lộc cho toàn thôn họ? Chẳng lẽ họ lại chịu chấp nhận một lời khấn ngạo mạn bất kính, gọi Thành hoàng làng là “chú” tự xưng mình là “ta”, cùng món lễ “hai quả trứng” hàm ý vô cùng xấc xược, dù người ấy là Trạng? Câu chuyện được kể trước đây chỉ nói tới một vị Thành hoàng chung chung, coi như một truyện cười phản bác thần quyền, không thể đạt vào một địa phương cụ thể, không thể lưu hành ở chính địa phương đó.

Có một số chi tiết thêm thắt xét ra chưa thật ổn. Đơn cử mấy truyện sau đây:

- Truyện số 6: Tiên sư thằng “Bảo Thái” (tr.85), là một truyện táo bạo, tỏ rõ thái độ khinh miệt của dân đối với tên hiệu của vua, không ngại gọi đích danh để chửi. Chuyện kể trước đây dân bán thịt bị lừa, phẫn nộ chửi “tiên sư thằng bảo thái” (chỉ người bảo thái thịt rồi không mua), quên không nhớ “Bảo Thái” là tên hiệu vua đương thời. Nhưng nếu thêm “Nhà vua không làm gì bọn bán thịt mà bị chúng réo chửi oan, không còn mặt mũi nào dám ra khỏi cổng thành nữa”, thì e rằng không hợp lý, khó xảy ra trong bối cảnh lịch sử đương thời. Nhất là thời Lê Dụ Tông (có niên hiệu Bảo Thái) không phải là một triều đại yếu kém, mất lòng dân. Trong Lịch triều hiến chương loại chí (Nhân vật chí) Phan Huy Chú đánh giá: “Nối nghiệp thái bình, không biết việc đao binh, trong nước vô sự. Triều đình đặt nhiều pháp chế, khuôn phép đầy đủ, kỷ cương nghiêm minh, phương xa đến cống, Trung Quốc trả lại đất. Thật là đời cực thịnh”. (X. bản dịch Nxb. Sử học, 1960, Tập I, tr.174) (Sách Trạng Quỳnh tr.228 còn thấy ghi “lũ vua hèn Hy Tông, Dụ Tông...” lời xét đoán này cũng cần xem lại, nhất là lại được đặt ở miệng vị “Bát đại tổ” tức Nguyễn Quỳnh).

- Truyện số 9: Quyển sách quý. Trạng Quỳnh đưa Chúa xem quyển sách có viết mấy câu: “Ngã đàm chi thế. Ngã đàm viết tả tô chấn tân thịnh nền giai khống xái châu”. Và theo lệnh chúa, Quỳnh đã “diễn nghĩa trôi chảy”: “Tôi lạm bàn về thế sự. Tôi bàn rằng: mình phải tả, phải tô điểm, phải làm cho hưng phấn thêm cái nền thịnh trị mới mẻ, đẹp vô cùng, châu báu cũng không sánh kịp” (Lời Trạng Quỳnh, có lược bỏ những đoạn câu chữ Hán được nhắc lại trước khi giảng giải). Câu chữ Hán viết sai mẹo mực, không có nghĩa gì, có thể coi là “bất thành cú”. Bài “diễn nghĩa trôi chảy” thực ra chẳng trôi chảy chút nào. Thế mà “nghe xong, chúa thở phào khoan khoái, khen Trạng: “Điều khanh viết trong sách thật hợp với ý ta. Đó là những danh ngôn, khanh nên giữ gìn cẩn thận để còn truyền cho mãi mãi về sau...”. Truyện kể thật khó tin!

- Truyện số 12: Lại lỡm quan thị. Quỳnh đến nhà quan thị đứng đầu giám ban, đọc cho nghe vế đối: “Thị vào chầu, thị đứng trông thị muốn ấy, thị không có cậy”, giảng cho biết ý “móc máy” trong đó, và nói là thấy nó ở dinh Đề Đốc; Rồi Quỳnh lại sang nhà Đề Đốc, nói đã thấy một vế đối ở “dinh Trưởng giám ban”, nghe “chua chát lắm, sâu cay lắm” và đọc. “Vũ ỷ mạnh, vũ ra vũ múa, vũ bị mưa, vũ bện xoắn lông”. Thế là “quân quan Đề đốc với bọn kiêu binh của Trưởng giám ban choảng nhau một trận ra trò. Phía quan thị hai người trọng thương, còn bên dinh Đề đốc thì nhà sảnh bị phá tan hoang...”. Người nghe chuyện không khỏi ngạc nhiên khi thấy hai bên chỉ bằng vào lời nói của Quỳnh, không hề đến tận chỗ dò hỏi xác minh sự thực (việc làm không khó gì), mà lại gây ngay chuyện ẩu đả. Truyện này về Trạng Quỳnh, tôi nhớ chưa từng đọc hay nghe thấy. Riêng câu đối thì vẫn được truyền tụng như một câu khéo gò chữ (chữ: “thị” và chữ “vũ” gắn liền với những nghĩa của từng chữ đồng âm có nghĩa khác nhau). Xem Câu đối Việt Nam của Phong Châu, Nxb. Văn Sử Địa, 1959: Quan thị và quan võ xỏ nhau, tr.218, có vài chữ khác.

- Truyện số 28: Thăm chúa ngủ ngày (tr.135). Truyện kể Trạng Quỳnh một buổi trưa vào thăm chúa, thấy đang ngủ, bèn đề hai chữ “ngọa sơn”. Chúa hỏi nghĩa, Trạng giải là “nằm ở trên núi”, “lên núi nằm hóng mát”, không có nghĩa gì khác. Chúa tin, không hỏi gì thêm. Nhưng khi chúa và chính cung cùng đi thăm cảnh đồng áng ngoài thành, nông dân thấy đã reo to “ngọa sơn”. Chúa cho bắt một người đến hỏi, người này “run lật bật” nói do Trạng Quỳnh có lần vào nội phủ về mách chúa đang bận “ngoạ sơn” và giảng thành “ngáy đèo”, “nói lái nghe rất tục”. Truyện kết: “Hiểu rõ đầu têu chuyện này là Trạng Quỳnh, bà chính cung nghĩ bụng, càng bới chuyện ra chỉ càng thêm xấu mặt. Đành giục Chúa lên kiệu phới cho nhanh”.

Sách chữ Nôm Sự tích ông Trạng Quỳnh (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm ký hiệu AB.405) hồi 22 “chúa ngủ ngày” (tr.24b) kể chuyện Trạng đề hai chữ “ngoa sơn”, chúa hỏi các quan, không ai hiểu, phải triệu Quỳnh vào. Quỳnh giải thành “ngáy đèo”, “cả triều ai cũng bật cười, mà chúa cũng phải cười”. Như vậy truyện ghi trong Trạng Quỳnh chỉ là một dạng kể khác, với đoạn sau xét kỹ không thật hợp lý, vì khó mà tưởng tượng được dân chúng muốn mang vạ vào mình mà đi reo hò hai tiếng “ngọa sơn”, biết rõ cái nghĩa không hay của nó đối với vợ chồng chúa, có thể dễ chuốc sự trừng phạt tàn khốc.

Truyện Trạng Quỳnh do Nguyễn Đức Hiền kể có ưu điểm là đã sưu tầm được khá phong phú, tỷ như so với sách chữ Nôm Sự tích ông Trạng Quỳnh (đã dẫn trên) thì đầy đủ hơn, với những truyện lý thú như Phơi sách phơi bụng (tr.117), Lễ tế sao (tr.129). Một số bài còn ghi thêm “dị bản”, như ở tr.123 (bài Đề tựa Bà Đanh), trang 129 bài Mừng chúa thắng trận) có ghi thêm xuất xứ ở sách Nam thiên lịch đại tư lược sử). Tuy nhiên giá có thể đặt kế hoạch, ngoài việc sưu tầm những chuyện kể ở địa phương (bao gồm quê hương Bột Thượng và cả vùng lân cận), còn tập hợp những tư liệu trong các sách Hán Nôm và Quốc ngữ về Trạng Quỳnh (mấy cuốn Hán Nôm được Hà Văn Tấn ghi lại ở phần đầu, tr.23, ct.1 và 2), đồng thời có sự so sánh phê phán cần thiết, chắc chắn sẽ là sự đóng góp quý giá cho mảng truyện cười dân gian liên can đến nhân vật truyền thuyết nổi tiếng này. Thí dụ, riêng về mặt tư liệu viết, có thể bổ sung Nam sử lược soạn giáp khoa lục (sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, VHv. 2141, tr. 396), bổ sung truyện Sứ tàu khiếp vía (tr.154), sau câu “vũ quá Bắc hải” đối lại câu “lôi động Nam bang” của sứ Tàu: “Trạng đái vào đầu sứ, sứ định đánh, Trạng nói: “Sấm trước mưa sau, lẽ trời đất là như vậy” (tiền phát lôi, hậu phát vũ, thiên địa chi lý nãi hĩ). Sứ Tàu đưa một khúc gỗ có đề ở chữ “hồ bất thực” đố đoán là gỗ gì. Trạng đoán “hồ bất thực” là “cáo chẳng ăn”, cáo chẳng ăn thì cáo gầy “cáo gầy” nói lái là “cây gạo”.

- Sự tích Ông Trạng Quỳnh (Sđd) hồi 17, tr.19a “Sẩm chơi nhà thổ” (Trạng bị mấy ả nhà thổ chèo kéo giằng co bèn tìm cách cho một bài học, bầy mưu cho mấy anh sẩm đóng giả vai quan thanh tra, đêm tối mặc áo giấy đi võng tới, các ả đón tiếp chu đáo, đến sáng mới biết bị lừa).

- Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân (Sài Gòn 1966) tr.87-88 chép bài văn tế nhạc phụ và thân phụ Trạng Quỳnh do Trạng làm. Hai người chết gần ngày với nhau, nên đám tang cùng làm một bàn thờ chung và tế chung. Tuy nhiên đọc bài văn, chỉ thấy nói “hai ông”, không có chi tiết gì cho biết là bố đẻ và bố vợ. Lời văn có chỗ xấc xược, khó mà tin được do con khóc bố đẻ và con rể khóc bố vợ. Đây rất có thể chỉ là một bài tinh nghịch nhân chuyện hai ông thông gia nào đó, ngày mất gần nhau nên chung lễ mai táng, không hẳn chính là ông thân và ông nhạc của người làm bài vãn. Nhiều chuyện đã được gán cho nhân vật nổi tiếng Trạng Quỳnh để được thêm phần hấp dẫn.

- Từ điển văn học, Tập 2 (Nxb. KHXH, 1984) mục Trạng Quỳnh tr.415 kể mẩu chuyện Ngọc người khá lý thú, và ghi chuyện Cây gòn (có lẽ là truyện đố khúc gỗ cây gạo có ghi mấy chữ “hồ bất thực” vừa nói trên).

Việc tham khảo những tài liệu cũ, ngoài việc giúp bổ sung một số truyện, còn cho phép đính chính một số sai sót trong sách:

- Về bài Quyển sách quý (tr.92) có câu: “Ngã đàm chi thế...” không có nghĩa được Trạng giảng cho chúa cũng không hợp lý như đã trình bày ở trên, sách Sự tích ông Trạng Quỳnh (Sđd) ở hồi 11: Lỡm quan thị cũng kể chuyện cuốn sách quý, nhưng ghi 2 câu chữ Hán như sau: “Chúa vị thị thần viết: vi cốt tứ dịch vi cốt tứ dịch. Thị thần quị vi tấu viết: thần phùng chỉ phát, thần phùng chỉ phát”. Và Quỳnh đã giảng cho chúa: “Chúa hỏi thị thần rằng: làm sương cho sáo; thị thần quỳ mà tâu Quỳnh phải nói “xin chúa đọc đảo ngược lại”. Được hiểu nghĩa, “bấy giờ chúa cùng thị (tức quan thị) mới biết rằng Quỳnh lỡm, mà bảo Quỳnh mang sách về” (tr.15a). Cũng là câu lỡm quan thị, bằng cách dịch nghĩa từng từ Hán ra tiếng Việt và sử dụng lối nói lái, nhưng hợp lý hơn câu “ngã đàm chi thế”.

- Tr.104: Trạng viết vào bài thi: “Ô hô ! Da trâu, tang mít, khả tri thành bưng bít chi công... Đám hội, nhà chay, nổi thì thùng chi hiệu...” Hai câu trên tiếp liền nhau, đặt chấm lửng ở giữa không hợp, nên thay bằng dấu chấm phảy hay dấu chấm thường. Sau nữa, 2 câu đối nhau, nên câu sau (vế sau) thiếu hai chữ. Giai thoại làng Nho (sđd, tr.87) chép 2 câu như sau: “ô hô, da trâu tang mít, tự ký thành bưng bít chi công; đám giỗ nhà chay, thượng ký đổ thì thùng chi hiệu” (tự ký thành: tự nó thành; thượng ký đổ; bèn đã đổ).

- Tr.105: Cũng bài thi hội (lần thứ 3), đầu đề chúa ra, hướng vào việc “chính cung sinh thứ nam”. Mượn điềm lành ấu chúa ra đời, mở đầu bài chính văn, Quỳnh viết ngay hai câu “phá” (ct.: câu mở đầu bài luận văn): “Quân tắc cổ, thần tắc cổ, đái hàm quan Nghiêu Thuấn chi dân. Thượng ung tai, hạ ung tai, ỷ đầu lại Đường Ngu chi sĩ”. Giải nghĩa theo chữ Hán, đại ý là:

“Vua hành đạo theo phép tắc xưa, bề tôi hành đạo theo phép tắc xưa, dân ắt được đội ơn quan, sống (yên vui) đời Nghiêu Thuấn.

Trên thật là vui, dưới thật là vui, kẻ sĩ nhìn vào đám đầu lại, cũng thấy được (ánh sáng) đời Đường Ngu.

Mới xem lướt, quan Đề điệu (ct.: quan Chủ khảo) đứng cạnh, liền tâu (nói rõ những ý bất kính bao hàm ở 2 câu trên).

Đoạn văn trên có mấy chỗ chưa được ổn:

1- Hai câu trên không thể là “câu phá”. Là câu phá, nó phải sát với đầu đề. Hai câu này không đả động gì tới “điềm lành sinh ấu chúa” là không hợp thức, khi chấm sẽ bị loại ngay, không thể có chuyện “mới xem lướt, chúa Trịnh đã định xếp bài vào giải nhất”. (và đúng ra, bài phải qua quan trường chấm rồi mới đưa lên chúa).

2- Lời giải nghĩa 7 chữ đoạn của cả 2 vế không sát với nguyên văn. Và theo lời giải, chữ “quan” ở vế trên và chữ “lại” ở vế dưới là 2 chữ Hán trong “quan lại”, nếu đúng thế, nghĩa câu chữ Hán cũng không thông. Về 2 câu này, trong Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân (sđd), tr.85 chép như sau:

“Quân tắc cổ, thần tắc cổ, đái hàm quan Ngu Thuấn chi công; Thượng ung tai, hạ ung tai, ỷ đầu lại Đường Nghiêu chi trị”.

Hai câu phiên âm cho thấy có khác mấy chữ thật ra không quan trọng (trừ ở câu trên, chữ “công” hợp hơn chữ “dân”, đi liền với nghĩa toàn câu hơn). Điều quan trọng là sách trên ghi rõ chữ Hán, cho phép hiểu “đái hàm quan” (kính cẩn đều nhìn nhận thấy), “ỷ đầu lại” (dựa đầu tiên vào sự nhờ cậy: hơi có trùng ý giữa 2 chữ ỷ và lại, vì cố gò hai tiếng Việt đồng âm có nghĩa trào lộng). Cả hai câu có thể dịch như sau (dịch lại câu của Lãng Nhân):

“Vua theo phép xưa, bầy tôi theo phép xưa, kính cẩn đều nhìn nhận công ơn vua Thuấn. Người trên hoà vui, người dưới hoà vui, trước hết nhờ cậy nền thịnh trị vua Nghiêu”. (Về câu trên, Nam sử lược soạn giáp khoa lục (sđd) tr.41b), cũng chép câu này, với 7 chữ cuối mỗi vế hơi khác, tuy vẫn là kiểu đùa cợt bằng cách “chơi chữ”: “... đái hàm quan Ngu Thuấn chi công... ỷ đầu lại Đường Nghiêu chi đức” (chữ Đái 帶 ghi là đai, quan 關 là cửa ải, liên lạc, chữ đái trên chắc ghi lầm. Nên sửa là 載 đội lên đầu). Giai thoại làng Nho ở cùng trang, còn chép 2 câu thơ trích ở bài chiếu về việc vua Hán gả công chúa cho Thiền Vu (chúa Hung Nô); Vũ kinh bách chiến dĩ khai đồ, Văn vô nhất thi nhi thối lỗ. Có thể dịch: “Võ từng trải trăm trận để mở mang cơ nghiệp; Văn không có được một bài thơ nhằm đánh lui quân giặc (do đó phải dùng kế mỹ nhân, gả công chúa để cầu hòa). Hai câu rất hợp với đầu đề, đối nhau rất chỉnh, ý tứ rất trang trọng, nhưng càng gây cười khi nhận thấy có sự tương phản, với ý chớt nhả của hai chữ cuối, trùng âm với hai tiếng Việt chẳng trang trọng chút nào. (Giai thoại làng Nho cho rằng mấy câu văn trên nằm trong bài thi Hương của Trạng Quỳnh, quan giám khảo khi chấm thấy hay, cho đỗ, sau kiểm điểm lại mới nhận ra lối chơi chữ ngạo mạn trong đó, nhưng bảng đỗ đã yết, không đánh hỏng được. Và sách ghi thêm 4 câu thơ Nôm tinh nghịch của Trạng khi cưỡi ngựa vinh qui về làng).

Trên đây chỉ là sơ bộ dựa vào mấy cuốn sách, thêm ít tư liệu bổ chính phần truyện Trạng Quỳnh. Nếu có điều kiện đi sâu hơn nữa, vừa sưu tầm những chuyện còn lưu hành ở vùng quê Hoằng Lộc, vừa tìm bổ sung, đối chiếu, dựa trên các sách Hán Nôm và Quốc ngữ, chắc đã có một sưu tập có giá trị về Truyện Trạng Quỳnh.

*
**

Phần 3 của tập sách, dưới nhan đề “Nghĩ về quê tổ” là một bài ký với tư liệu súc tích, lời văn sinh động hấp dẫn về đất Hoằng Bột (nay là Hoằng Lộc), quê hương của Nguyễn Quỳnh - Trạng Quỳnh, cụ nội 8 đời của tác giả Nguyễn Đức Hiền. Bài ký đã nhắc lại lịch sử lâu đời của khu đất này, từ thời thượng cổ với tên Bột Đà trang (với sự tích tên gọi này), tên Kẻ Vụt, rồi đến tên Hoằng Bột cuối triều Nguyễn và Hoằng Lộc hiện nay. Đã được giới thiệu khá đầy đủ mọi mặt: cảnh đẹp thiên nhiên, di tích đình chùa, sự tích các vị Thành hoàng, đời sống vật chất và tinh thần của dân làng. Và nổi bật là tính cách “văn hiến”, với hàng chục bậc đại khoa và trung khoa, nổi tiếng nhất có thể kể: Bùi Khắc Nhất (Bảng nhãn), Nguyễn Lại (Hoàng Giáp), Nguyễn Ngọc Huyền (Tiến sĩ) v.v. (X. tr.190-193: Nguyễn Lại được ghi là đỗ Tiến sĩ, nhưng theo Đăng khoa lục Q.3, tờ 6a, ông đỗ Hoàng giáp). Cho tới trước Cách mạng tháng 8, có “Tiến sĩ văn chương tốt nghiệp ở Pháp”, nhiều “Tú tài bản xứ” “đít lôm”, và hiện nay, toàn xã Hoằng Lộc “với con số nghìn dân, có 425 người đạt trình độ đại học và trên đại học, 14 Tiến sĩ, Phó tiến sĩ, 9 Giáo sư” (tr.232). Đất văn hiến không chỉ thấy ở những người đỗ đạt. Tác giả kể chuyện cho chúng ta về bà nội của mình, với vốn kiến thức rộng nhớ hết “mười mấy vị đại khoa trong làng” với “lai lịch từng vị” (tr.173), bà Mộc “giỏi kể chuyện”, từng “nói lỡm” kiểu Trạng Quỳnh với “quan Đốc học trên tỉnh” trong buổi về thanh tra trường làng (tr.207-209), và về chú “mõ” có “tiếng rao dóng dả ngân nga, có vần điệu như điệp khúc một bài hát cổ, và mỗi lần cung cách một khác”, khiến một quan Bố chính đi qua nghe thấy phải gọi tới hỏi chuyện và thưởng tiền (tr.199), hoặc về “chú khán đình Bảng” đã nhanh trí bày kế bắt Thượng Hà phải trở về đúng chỗ của mình trong buổi họp văn thân đầu năm (tr.200-202).

Bài ký đã thể hiện tình thương yêu và niềm tự hào của người viết đối với quê hương, và truyền được tình cảm thân thương mến phục cho người đọc. Ta thấy rõ nét cuộc sống văn hóa vô cùng phong phú trong làng xã Việt Nam, nằm trong những truyền thuyết, những giai thoại về đời sống các danh nhân, những tục lệ, những câu ca vè, tất cả những thứ đó đang cần được sưu tầm gấp rút. Làng Hoằng Lộc có thể coi như một trong những làng tiêu biểu về mặt này. Mong sao mọi làng đều có được những bài viết về quê hương như thế. Dĩ nhiên không phải làng nào cũng có được di sản văn hóa phong phú như nhau, nhưng chắc chắn mỗi làng đều có những nét riêng biệt rất đáng trân trọng và tự hào của mình.

Bên cạnh những ưu điểm rõ rệt của Nghĩ về quê tổ, có một số chỗ chưa thật ổn, cần đi sâu hơn nữa. Đơn cử mấy đoạn sau:

- Tr.178-181 nói với Nguyễn Bá Nhạ đỗ Hoàng giáp năm 18 tuổi, vì xích mích đối với Hà Duy Phiên nên phải “đi phiên trấn một vùng sơn lâm chướng khí” rồi mất ở đó. Hiện ở làng còn đền thờ với tấm biển “Tam nguyên từ”, và câu đối tương truyền là của Tự Đức: “Nhân sinh bách tuế vi kỳ, bán chi bán, lân quân mệnh bạc. Nhữ thiếu tam khôi cập đệ, kỳ cánh kỳ, sử trẫm tâm bi”.

Sách Quốc triều khoa bảng lục (Thư viện Viện Hán Nôm, ký hiệu A.37, Q1, tr.16b) cho biết Nguyễn Bá Nhạ đỗ năm Quý Mão (1843), lúc ông 22 tuổi, làm đến chức Tri phủ, có lỗi. Ghi như vậy, thường có nghĩa “do phạm lỗi, phải thôi việc”, không rõ có phải là trường hợp Nguyễn Bá Nhạ không, nhưng về tuổi thi đỗ thì không hợp với truyền thuyết địa phương. Dù sao, Nguyễn Bá Nhạ chỉ đỗ Hoàng giáp trong khoa này, đỗ đầu là Mai Anh Tuấn (Thám hoa), vậy đền thờ ông không thể có biển “Tam nguyên từ” (đền thờ vị đỗ đầu cả ba khoa thi Hương, Hội, Đình), và câu đối có mấy chữ “Tam khôi cập đệ” dĩ nhiên không hợp.

- Tr.187-188, câu đối ở nhà thờ Bùi Khắc Nhất, “chức thượng khanh tước hầu, trông coi sáu bộ, trải ba triều vua”: “Tứ thập tứ tải tuyên lao, sự kinh lục bộ; Thất thập thất niên hưởng thọ, sĩ lịch tam triều”. Nghĩa là: Bốn mươi bốn năm cai quản sáu bộ, công lao (đáng được) nêu cao; Bảy mươi bảy tuổi thờ ba triều vua, tuổi đời (đáng được) sống lâu”. Về câu đối trên, “tuyên lao” có nghĩa “làm việc hết sức mình”, không thể dịch “công lao đáng được nêu cao”; “sự kinh lục bộ” không hẳn là “cai quản lục bộ” mà chỉ có nghĩa “từng qua sáu bộ”, từng qua một trong sáu bộ (hay nhiều bộ”. Theo Đăng khoa lục (Q.2, tr.46b), Bùi Khắc Nhất “làm quan đến Hộ bộ Thượng thư, vinh phong Kiệt tiết tuyên lực, Hiệp mưu tá lý công thần”. Đề nghị tạm dịch sửa lại cho sát nghĩa hơn: “Bốn mươi bốn năm gắng hết sức mình, việc qua sáu bộ; bảy mươi bảy xuân vui hưởng tuổi thọ, quan trải ba triều”.

*
**

Để kết luận có thể nói sách Trạng Quỳnh tuy đứng tên hai người biên soạn, nhưng phần đóng góp trội hơn do Nguyễn Đức Hiền, người đã phát hiện gia phả và nhờ Gs. Hà Văn Tấn nghiên cứu giới thiệu. Đây có thể coi như một hiến phẩm của nhà văn này dâng lên vị tổ tám đời là Cống Quỳnh, và quê hương Hoằng Lộc đã sản sinh nhiều nhân vật được ghi tên trong sử sách. Cuốn sách đã cung cấp nhiều tư liệu quý về tiểu sử và tác phẩm của Nguyễn Quỳnh và quê hương ông, khẳng định mối liên hệ giữa Cống Quỳnh và Trạng Quỳnh trong truyền thuyết, đồng thời tập hợp tương đối đầy đủ những chuyện kể đầy tính hài hước, chĩa mũi nhọn vào bọn vua chúa quan lại, kể cả thần linh, được dân chúng truyền lại qua bao nhiêu đời. Một số nhận xét trong bài này chỉ nhằm đóng góp thêm tư liệu, mong giúp công trình biên soạn về Cống Quỳnh-Trạng Quỳnh được hoàn chỉnh hơn./.

Người biên tập: Hoàng Văn Lâu

TB

MẤY NHẬN XÉT VỀ VIỆC PHIÊN ÂM VÀ KHẢO ĐÍNH NHỊ ĐỘ MAI

NGUYỄN QUẢNG TUÂN

Trong các truyện Nôm của ta, ngoài những quyển như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự (Nguyễn Thiện nhuận sắc), Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu... còn có những quyển tuy văn chương không được đặc sắc bằng nhưng cũng đáng kể là có giá trị như Phan Trần, Bích câu kỳ ngộ, Quan Âm Thị Kính, Nhị Độ Mai, Thạch Sanh, Phạm Công Cúc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Phương Hoa, Nữ tú tài...

Các tác phẩm này đều khuyết danh và cũng không biết đã được viết ra vào năm nào, chỉ được phổ cập trong giới bình dân nên khi phiên âm sang chữ Quốc ngữ cũng không có ai in lại bản Nôm, kể cả mấy quyển có giá trị như Phan Trần, Bích câu kỳ ngộ, Nhị độ mai...

Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ xin nói về quyển Nhị Độ Mai.

*

Truyện Nhị độ mai có nhiều bản bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ.

Bằng chữ Nôm có những bản in của các nhà Quan Văn đường, Phúc Văn đường, Tạ Văn đường, Đồng Văn đường, Quảng Thịnh hiệu...

Bằng chữ Quốc ngữ có các bản của nhà sách ích Ký ở Hà Nội (1920), nhà in Văn Minh ở Hải Phòng (1922), nhà in Kim Khuê ở Hải Phòng (1924), nhà in Ngô Tử Hạ ở Hà Nội (1926), nhà xuất bản Ngày Mai ở Hà Nội (1949), nhà xuất bản Tân Việt ở Sài Gòn (1952), nhà xuất bản Phổ Thông ở Hà Nội (1957), nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp ở Hà Nội (1988)...

Tất cả các bản ấy đều có những chỗ khác nhau: có khi là một chữ, có khi là một đoạn mấy chữ, có khi là một câu, có khi là một đoạn mấy câu.

Chính vì lẽ ấy mà năm 1972, nhà xuất bản Văn học ở Hà Nội đã cho in quyển Nhị độ mai do Hoàng Ngọc Phách và Lê Trí Viễn khảo luận, chú thích và hiệu đính căn cứ vào 5 bản:

A- Bản chữ Nôm của Quan Văn đường

B- Bản của nhà in Ngô Tử Hạ.

C- Bản của nhà xuất bản Ngày Mai.

D- Bản của nhà xuất bản Tân Việt.

E- Bản của nhà xuất bản Phổ thông.

Theo Lời nói đầu của quyển Nhị độ mai thì hai soạn giả đã lấy bản chữ Nôm, Quan Văn đường là bản cũ hơn cả làm bản chính rồi đem so sánh với bản B-C-D-E để làm Khảo dị.

Nhưng chúng tôi không khỏi thắc mắc khi thấy từ câu 1 đến câu 2820, không có một câu nào ghi của bản A khác với bốn bản Quốc ngữ B-C-D-E mà chỉ thấy ghi bản B khác với bản C hoặc bản D và E.

Chẳng lẽ hai soạn giả đã không có bản Nôm Quan Văn đường để làm Khảo dị mà chỉ ghi cho có hình thức thôi nên đã ghi không đúng cả tên sách.

Thay vì phải ghi: “Nhuận chính trung hiếu tiết nghĩa Nhị Độ Mai truyện. Thành Thái Đinh Mùi xuân Quan Văn đường tàng bản”, đã ghi vắn tắt là: “Nhị độ mai (bản in gỗ) Quan Văn đường tàng bản - Hà Nội - 1907”.

Do sự ngờ vực ấy, chúng tôi đã lấy bản “Nhuận chính Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai truyện” của Quan Văn đường ra để đối chiếu lại thì thấy có nhiều chữ khác với các bản Quốc ngữ B-C-D-E và có nhiều chữ các bản Quốc ngữ đã phiên âm sai hoặc đã in sai rồi cứ sao chép lẫn của nhau mà nhân lên các sai lầm.

Chúng tôi xin đưa ra một số thí dụ để dẫn chứng như sau:

I- Những chữ bản A khác với các bản B-C-D-E.

Số chữ bản A khác với các bản B-C-D-E thì rất nhiều, chúng tôi chỉ xin liệt kê ra một số thí dụ như sau:

Câu 18:

A: Nhà Đường truyền đến là đời Đức Tông.

B-C-D-E: Nhà Đường truyền vị đến đời Đức Tông.

A: Tơ kia nghĩ phải duyên trời.

B-C-D-E: Tơ kia đã phải duyên trời.

Câu 50:

A: Uốn lưng khuất gối cũng nhơ một đời.

B-C-D-E: Uốn lưng co gối cũng nhơ một đời.

Câu 75:

A: Cũng đừng theo gót lôi thôi.

B-C-D-E: Cũng đừng bịn rịn lôi thôi.

Câu 93:

A: đàn, phượng độc chắc đâu.

B-C-D-E: Sẻ đàn, phượng độc chắc đâu.

Câu 107:

A: Chẳng sai hổ phụ lân nhi.

B-C-D-E: Mới hay hổ phụ lân nhi.

Câu 142:

A: Gọi là ngày gió ngày mưa theo hầu.

B-C-D-E: Gọi là ngày gió ngày mưa đi hầu.

Câu 158:

A: Thỏa lòng hồ thỉ, rỡ mình đai cân.

B-C-D-E: Thỏa lòng hồ thỉ, phỉ tình đai cân.

Câu 192:

A: Mà lòng tạc đá ghi vàng dám sai.

B-C-D-E: Mà lòng tạc đá ghi vàng không sai.

Câu 212:

A: Trông theo đã khuất dâu xanh mấy trùng.

B-C-D-E: Trông theo đã khuất mây xanh mấy trùng.

Câu 434:

A: Vua Đường rằng: “Mới tin ngoài lại tâu”.

B-C-D-E: Đường Hoàng rằng: “Mới tin ngoài lại tâu”.

Câu 534:

A: Tôi đương nạn ấy, người tìm lánh xa.

B-C-D-E: Tôi đương nạn ấy, người tìm nẻo xa.

Câu 717:

A: Trông hoa lại khấn mấy lời.

B-C-D-E: Trông hoa lại nhớ mấy lời.

II- Những chữ các bản Quốc ngữ B-C-D-E phiên âm sai hoặc sao chép sai so với bản A.

Số chữ các bản Quốc ngữ B-C-D-E sao chép sai do phiên âm sai cũng nhiều. Chúng tôi chỉ xin liệt kê ra đây một số thí dụ như sau:

Câu 263:

A: Bách quân đông chật sân phong.

Hai chữ 冬 秩 (đông chật) đã được phiên âm sai thành đóng chặt ở các bản B-C-D-E. Chữ đông viết Nôm là 凍 hoặc @.

Câu 297:

A: Ta đây vốn chẳng cầu chi.

Chữ 求 (cầu) đã bị sao chép hoặc in sai thành cần vì chữ u và chữ n viết dễ lẫn với nhau. Nếu viết theo chữ Nôm hoặc chữ Hán thì chữ 求 (cầu) có tự dạng khác hẳn với chữ 勤 (cần) không thể lầm lẫn được.

Câu 639:

A: Tiểu đây kẻ khéo có thừa.

Chữ 丗 (kẻ) đã bị sao chép hoặc in sai thành chữ kể vì “ẻ” và “ể” chỉ khác nhau có dấu “Ù”. Nếu viết theo chữ Nôm thì chữ 丗 (kẻ) có tự dạng khác hẳn với chữ 計 (kể).

Câu 697:

A: Một vườn cảnh vật tiêm tân.

Chữ 尖 (tiêm) đã bị sao chép hoặc in sai thành tiên vì chữ “m” dễ viết lầm thành “n”. Nếu viết theo chữ Hán thì chữ 尖 (tiêm) có tự dạng khác hẳn với chữ 鮮 (tiên). Tiêm tân có nghĩa là tươi tốt đẹp đẽ ( Tiêm: tốt đẹp).

Câu 1010:

A: Ngắm xem phong cảnh bốn bên lưng chừng.

Chữ 裈 (ngắm) đã bị sao chép hoặc in sai thành ngẫm vì chữ “ắ” và chữ “ẫ” viết dễ lầm lẫn với nhau. Nếu viết theo chữ Nôm thì chữ 裈 (ngắm) có tự dạng khác hẳn với chữ 吟 (ngẫm). ở câu này chữ “ngắm” thích hợp hơn: Ngắm xem phong cảnh.

Câu 1090:

A: Sương đằm cỏ áy, gió reo cây già.

Chữ 潭 (đằm) đã bị sao chép sai thành soi. Nếu viết theo chữ Nôm thì chữ 芁 (soi) so tự dạng khác hẳn. Chữ “đằm” ở câu này mới có nghĩa.

Câu 1139:

A: Son vàng mặt khám tay ngai.

Chữ 龕 (khám) đã bị sao chép hoặc in sai thành khảm vì dấu “ ’ ” và dấu “?” dễ bị lầm lẫn. Nếu viết theo chữ Hán và chữ Nôm thì chữ 龕 (khám) và 坎 (khảm) có tự dạng khác hẳn nhau, không thể lầm lẫn được.

Câu1496:

A: Mẽ hình tú hộ khác tuồng ngư gia. Chữ 戶 (hộ) đã bị sao chép hoặc in sai thành bộ vì chữ “h” và chữ “b” dễ bị lầm lẫn. Tú hộ là cửa nhà sang trọng đẹp đẽ, chỉ nhà giàu có.

Các bản B-C-D-E đều chép là Mai hình tú bộ khác phương ngư gia.

Bản Văn học (1972) đã chú thích Mai hình tú bộ là thân hình manh mảnh như cây mai, gót đẹp như thêu gấm, ý tả người con gái tuyệt đẹp.

Giảng như vậy thì sai vì đã phiên âm không đúng với bản chữ Nôm.

Nếu phiên âm đúng với bản chữ Nôm:

Mẽ hình tú hộ khác tuồng ngư gia thì câu thơ ấy có nghĩa là: “vẻ người rõ là con nhà sang trọng quyền quí khác với những hạng tầm thường con nhà chài lưới. Hai chữ “tú hộ” là đặt đối với hai chữ “ngư gia”. Ngoài ra chữ 惥 (mẽ) không thể đọc là mai được. Chữ 梅 (mai) viết khác hẳn và là chữ Hán chứ không phải là chữ Nôm.

Câu 1746:

A: Bên giường triện bách, trước bình phòng lan.

Chữ 房 (phòng) đã bị sao chép hoặc in sai thành phong vì chỉ khác nhau có một cái dấu huyền “ ` ”. Câu này được đặt theo tiểu đối: “bên giường” đối với “trước bình”, “triện bách” (bàn nhỏ bằng gỗ bách) đối với “phòng lan” (phòng đọc sách) chữ phong (風) viết khác hẳn với chữ phòng.

Câu 1789:

A: Phu nhân những hậu vì tình.

Chữ 厚 (hậu) đã bị sao chép hoặc in sai thành hận, vì chữ “u” và chữ “n” viết dễ lẫn chữ nọ ra chữ kia. Nếu viết chữ Nôm thì chữ 恨 (hận) có tự dạng khác hẳn với chữ hậu.

Ở câu này phải dùng chữ “hậu” mới có nghĩa và mới đi với câu dưới: Mời thầy thuốc, cắt đồng sinh giữ gìn. Nếu đã “hận vì tình” thì không khi nào lại cư xử tốt như vậy.

Câu 2344:

A: Thiên văn khảo đến, một hai tra cùng.

Chữ 查 (tra) đã bị sao chép sai hoặc in thành cho.

Ở câu này chữ “tra” mới có nghĩa vì được đặt đối với chữ “khảo” ở trên. Cả câu cũng được đặt theo phép tiểu đối:

Thiên văn khảo đến, một hai tra cùng.

Hai bản D-E chép là: Đại nhân xin xét một hai cho cùng thì không đúng với bản Nôm.

Câu 2369:

A: Buổi chầu vừa rạng ngày mai.

Chữ 朝 có thể đọc là triều, chầu hoặc chiều. Ở đây phải đọc là chầu mới đúng nghĩa. Bản của nhà xuất bản Tân Việt chép là “triều” thì cũng được, nhưng bản của nhà xuất bản Văn học (1972) và bản của nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp (1988) chép là “chiều” thì đều sai.

Trong Truyện Nhị độ mai còn có câu 433 cũng viết y như câu 2369 là:

Buổi chầu vừa rạng ngày mai.

Tất cả các bản Quốc ngữ đều phiên âm như vậy.

Câu 2454:

A: Đèn gần chong sáp, đỉnh xa bay trầm.

Câu này bản của nhà xuất bản Văn học và bản của nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã chép sai là:

Đèn gần chong sáng, đỉnh xa bay trầm. Bản Tân Việt chép đúng với bản Nôm. ở câu này chữ sáp được đặt đối với chữ trầm.

Câu 2763:

A: Xin làm ngọc xuyến kim thoa.

Chữ 釵 (thoa) đã bị sao chép hoặc in sai thành hoa. Bản của nhà xuất bản Văn học còn chú thích Ngọc xuyến kim hoa là xuyến ngọc hoa vàng thì sự sai lầm này lại càng rõ ràng. ở đây phải chép là kim thoa tức cái thoa vàng mới đúng.

III- Những bài thơ Đường của các nhân vật trong truyện

Hầu hết các bản Nhị độ mai xuất bản trước đây đều có những bài thơ Đường luật (thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt) của các nhân vật trong truyện. Các bài thơ ấy, ở các bản Nôm, được chép phụ thêm ở tầng trên cùng, còn ở các bản Quốc ngữ thì được chép ở phần chú thích.

Quyển Nhị độ mai của Quan Văn đường tàng bản có chép cả các bài thơ bằng chữ Hán trích từ truyện Nhị độ mai của Trung Quốc kèm theo bài diễn âm.

Quyển Nhị độ mai của nhà xuất bản Văn học có chép lại một số các bài thơ diễn âm ấy nhưng đã không đúng theo đúng với bản Quan Văn đường mà chép theo bản Tân Việt.

Vì là phần phụ nên chúng tôi chỉ nêu ra một hai thí dụ như sau:

1- Về sự khác biệt giữa hai văn bản:

Thơ của Trần Xuân Sinh (sau câu 784):

Bản Nôm Quan Văn đường chép là:

Mấy đóa hoa mai bóng dễ gần,
Hương đâu sực nức một vườn xuân.
Chứng lòng trời khiến hoa kia nở,
Xưa một lần thơm lại một lần.

Bản Tân Việt và bản Văn học chép là:

Mấy sắc mai hoa bóng dễ gần,
Khác chi hớn hở một nhà xuân.
Chứng cho trời khiến hoa kia nở,
Xưa một lần nay lại một lần.

2- Về sự sao chép hoặc phiên âm sai.

Thơ của Hạnh Nguyên làm (sau câu 790):

Bản Nôm Quan Văn đường chép là:

Trời chửa dứt dòng trung nghĩa ấy,
Nên cho hoa lại nở hai lần.

Bản Tân Việt và bản Văn học chép là:

Trời chớ dứt lòng trung nghĩa ấy.
Nên cho hoa lại nở hai lần.

Chép như vậy thì sai vì chữ Nôm viết: 俼 荘 瀭 匇 phải phiên là: trời chửa dứt dòng mới đúng nghĩa. Dòng đây là dòng họ, dòng dõi. Cả câu ý nói: “Trời chửa dứt dòng dõi nhà họ Mai nên Hỉ Đồng - tức Mai Lương Ngọc vẫn còn sống sót. Chữ 荘 nếu phiên âm là “chớ” thì cũng sai vì không hợp ý của câu thơ.

*

Qua ba phần trình bày ở trên chúng tôi mới chỉ nêu ra được một số sai lầm của bản Văn học in năm 1972.

Cho tới nay, hầu hết các bản Quốc ngữ đều không có phần khảo dị và có thể nói là các bản Quốc ngữ in ra về sau đều cứ bản nọ sao chép lại của bản kia chứ không có đối chiếu với các bản Nôm để hiệu đính hoặc phiên âm từ các bản Nôm. Chính vì lẽ đó mà các sai lầm - như chúng tôi đã trình bày ở trên - càng trở thành phổ biến.

Đến năm 1988, nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp lại cho in quyển Nhị độ mai do Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú thích (sau được nhà xuất bản Văn học cho tái bản năm 1994) nhưng vẫn còn các lỗi như trên tuy - theo lời nhà xuất bản - có tham khảo thêm bản Nôm năm Tự Đức, Bính Tý..

Thật cũng là một điều đáng tiếc.

Vậy để kết luận cho bài viết này, chúng tôi cho rằng việc phiên âm, khảo đính và chú thích các truyện Nôm cổ - nhất là các tác phẩm khuyết danh như truyện Nhị độ mai - cần phải được thực hiện một cách nghiêm túc hơn cũng như chúng ta đã làm với các tác phẩm của Nguyễn Du (Truyện Kiều), Nguyễn Huy Tự (Hoa tiên), Nguyễn Đình Chiểu (Lục Vân Tiên), Đoàn Thị Điểm (bản dịch Chinh phụ ngâm) v.v...

Người biên tập: Trần Nghĩa

TB

HAI TỜ CHIẾU CỦA VUA CẢNH THỊNH GỬI NHỮNG NGƯỜI TRONG SỨ BỘ ANH

TRẦN NGHĨA

Năm 1793, một đoàn sứ giả Anh trên đường tới Trung Quốc gặp bão, phải ghé thuyền vào cửa biển Đà Nẵng của ta để mua thêm lương thực, thực phẩm. Sau khi nghe chính quyền địa phương báo cáo tình hình này lên, vua Cảnh Thịnh đã gửi hai tờ chiếu cho sứ bộ, một là để tỏ lòng thông cảm với cảnh ngộ khó khăn của khách phương xa, hai là nhằm chỉ thị cho chính quyền địa phương tận tình giúp đỡ các sứ giả Anh quốc. Đặc biệt qua 2 tờ chiếu, ta cũng thấy được phần nào quan điểm về lãnh hải và chính sách ngoại giao đầy thiện chí của triều đình Tây Sơn lúc bấy giờ. Chẳng hạn tờ chiếu mang ký hiệu OR.148 17/a có câu: “Bản triều bao trùm cả Nam Hải”. Ấy là một tuyên bố về chủ quyền. Ở tờ chiếu mang ký hiệu OR.1487/b có đoạn: “Thần tử của quý quốc cũng là thần tử của ta. Các khanh là những bậc tôi hiền, chịu đựng vất vả, trẫm thấy rất đáng khen. Vậy đặc biệt ban chiếu chỉ sai quan trấn thủ địa phương cung cấp thực phẩm cho các khanh để tỏ lòng quý mến, thông cảm với khách đường xa”. ấy là một biểu tỏ về đường lối ngoại giao thân thiện.

Được sự đồng ý của Thư viện Vương quốc Anh (The British Library), chúng tôi đã giới thiệu bản dịch 2 tờ chiếu này trong bài Sách Hán Nôm tại thư viện Anh quốc đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 3 năm 1995. Nay lại nhận được bản chụp màu thu nhỏ của 2 tờ chiếu vừa nêu do Thư viện Vương quốc Anh gửi tặng và cho phép công bố, nên dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu, ngoài bản dịch nghĩa, còn có cả nguyên văn chữ Hán và phần phiên âm Hán Việt của 2 tờ chiếu để bạn đọc cùng tham khảo. Phần nguyên văn chữ Hán, xin xem ở bản chụp 2 tờ chiếu in ở bìa 3 và bìa 4 của số tạp chí này.

1. Tờ chiếu mang ký hiệu OR.14817/a

Phiên âm:

Chiếu Anh Cát Lợi Hồng mao quốc Đại thừa tướng Đầu đẳng, khâm sai Ma Khiêu Nhĩ Nê đẳng... (mất 2 chữ) đẳng.

Vị phong đào sở trở bạc ngã cảnh giới, thượng biểu bị trần phạp thực, nguyện mãi tình do, tịnh tiến hảo hảo vật kiện, Trấn thần chuyển vị đề bạt.

Thả bản triều nang quát Nam Hải. Phàm chư quốc thương tào viễn thiệp hải trình, nguyên tàng ư thị, hoặc vị phong ba phiêu bạc nhi cầu an bão giả, trẫm hàm suy bào dữ chi nhân, tịnh sinh tịnh dục.

Thẩn khanh đẳng phụng quý quốc vương mệnh vãng sứ thiên triều, đồ trung quỹ phạp, trẫm chi tình vi hà như tai? Đặc ban tứ túc tử tam thiên hộc dĩ cung đồ trình nhu, túc an dụng mậu dịch vi giã. Tịnh gia thưởng quý quốc vương thân Đại thừa tướng tượng nha nhất đối, hồ tiêu ngũ đảm, dụng phu hảo ý, thức úy viễn tình, Khâm tai, đặc chiếu!

Cảnh Thịnh nguyên niên ngũ nguyệt sơ nhất nhật.

Dịch nghĩa:

Tờ chiếu gửi Vương thân Đại thừa tướng Đầu, Khâm sai Ma Khiêu Nhĩ Nê, và... (mất 2 chữ) thuộc nước Hồng mao Anh Cát Lợi.

Vì sóng to gió lớn, các khanh phải ghé thuyền vào biên cảnh nước trẫm để trú ẩn, có làm tờ biểu tâu lên, nói rằng hiện đang thiếu lương thực, ngỏ ý muốn mua. Lại gửi một số quà tặng nhằm tỏ tình giao hảo. Quan Trấn thủ địa phương đã vì các khanh mà chuyển đạt mọi ý kiến với trẫm rồi.

Vả lại, bản triều bao trùm cả Nam Hải. Phàm tàu viễn dương các nước muốn đến náu nơi chợ búa vùng này để buôn bán, hoặc vì sóng to mà trôi dạt tới đây, mong được yên ổn, no đủ, trẫm đều lấy lòng nhân mà đối xử, cùng sinh cùng nuôi, con người trong bốn bể như anh em một nhà.

Huống chi các khanh vâng lệnh quý quốc đi sứ Thiên triều, giữa đường thiếu thốn, trẫm biết làm sao đây ? Đặc biệt cấp cho các khanh 3.000 hộc gạo để dùng vào việc đi đường cũng như tiến hành buôn bán. Và thưởng thêm cho Vương thân Đại thừa tường của quý quốc 1 đôi ngà voi cùng 5 gánh hạt tiêu để tỏ lòng quý mến, thông cảm với khách đường xa. Cung kính thay, đặc biệt ban tờ chiếu !

Ngày 1 tháng 5 năm Cảnh Thịnh 1 (1793).

2. Tờ chiếu mang ký hiệu OR.148117/b

Phiên âm:

Chiếu Anh Cát Lợi Hồng mao quốc Tướng quân Mã Kim Đa, Đại học sĩ Nghĩa Lan, Ngự sử Mã Tư ích, Đại bút sử Bố Tư ách cập á Di Nhĩ, Đương thế tập án sát ty Bả La Ni đẳng khâm tri.

Trẫm văn tự cổ thông quốc hữu tận di chi nghĩa. Khanh đẳng phụng quý quốc vương mệnh nhập cống thiên triều, bị phong phạp thực, hiện bạc cảnh nội Quảng Nam xứ, trấn thần cụ sự đề đạt.

Trẫm duy quý quốc hữu thủy trình thiên vạn lý chi dao, nhi năng mộ đức khiển sư, đồ trung vị phong sở trở, phiêu bạc chí thử. Quý quốc chi thần tử. Đặc chiếu ban hạ Trấn thần ban tống chư thực phẩm, dụng phu hảo ý, thức uý viễn tình. Khanh đẳng kỳ trung tín nhất xoang hỉ khán phong phàm chi đắc lực, chu xa đại địa, kiền tuơng quốc mệnh dĩ quan quang. Chỉ nhật công thành, ngưỡng thừa quốc sủng, dĩ phó quý quốc vương huyền vọng, khanh đẳng chi tâm khả giã. Khâm tai, đặc chiếu !

Cảnh Thinh... (mất một số chữ) nguyệt nhị thập nhật.

Dịch nghĩa:

Tờ chiếu gửi tướng quân Mã Kim Đa, Đại học sĩ Nghĩa Lan, Ngự sử Mã Tư ích, Đại bút sử Bố Tư ách và Bả La Ni nước Hồng mao Anh Cát Lợi để biết.

Trẫm nghe từ xưa các nước đi lại với nhau thường có quà tặng cho người từ nơi xa đến. Các khanh vâng mệnh quý quốc vương vào cống Thiên triều, bị bão nên thiếu lương thực, hiện đậu thuyền ở xứ Quảng Nam thuộc nước trẫm, quan Trấn thủ địa phương đã đề đạt mọi việc lên trên.

Trẫm nghĩ quý quốc ở cách xa hàng nghìn vạn dặm đường biển, vì mến đức mà sai sứ tới, giữa đường bị bão, phải trôi dạt vào đây. Thần tử của quý quốc cũng là thần tử của thần ta. Các khanh là những bậc tôi hiền, chịu đựng vất vả, trẫm thấy rất đáng khen. Vậy đặc biệt ban chiếu chỉ sai quan Trấn thủ địa phương cung cấp thực phẩm cho các khanh để tỏ lòng quý mến, thông cảm với khách đường xa. Các khanh một lòng trung tín, mong được thuận buồm xuôi gió vượt trùng dương đi sứ phương xa. Không bao lâu công việc hoàn thành, được nước nhà tin sủng, đáp lại kỳ vọng của quốc vương, tấm lòng các khanh thật đáng khen. Cung kính thay, đặc biệt ban tờ chiếu!

Ngày 20 tháng... (mất một chữ) năm Cảnh Thịnh... (mất 2 chữ)(1).

T.N

CHÚ THÍCH

(1) Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn bà Elizabeth HUNTER, nhân viên Phòng ảnh, và Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trí, người phụ trách kho sách Việt Nam tại Thư viện Anh quốc đã tận tình giúp đỡ, để 2 tờ chiếu của vua Cảnh Thịnh có dịp đến với bạn đọc qua số Tạp chí Hán Nôm này.

TB

CÂU ĐỐI ĐỀN HÙNG VÀ TÂM THỨC VIỆT NAM

NGUYỄN KHẮC XƯƠNG

Câu đối Đền Hùng là cảm nghĩ của nhân dân gửi Đền Hùng mộ Tổ, tấm lòng nhân dân khi được về mảnh đất cội nguồn, được thành kính thắp những nén hương thơm dâng lên tổ tiên xưa: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước”.

Xét về văn tự, câu đối Đền Hùng có 3 loại, đó là các câu đối soạn bằng Hán tự, câu đối Nôm và câu đối chữ Quốc ngữ ra đời muộn hơn, vào hồi đầu thế kỷ.

Đề ở Đền Hùng phần nhiều là câu đôi Hán tự, còn đối Nôm và đối chữ Quốc ngữ là viết trên giấy lưu lại hay in trên báo chí hoặc cũng có khi là truyền khẩu mà nhớ.

Đến cổng đền Hùng, ngước nhìn lên thấy trang nghiêm như tỏa sáng hào quang 4 chữ “Cao sơn cảnh hành”. Đây là câu rút ra từ Kinh Thi: Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hành hành chỉ, có nghĩa là: “Núi cao ta ngẩng trông, đường rộng lớn ta đi tới”. “Núi cao ta ngẩng trông” là hướng về cội nguồn như núi cao sừng sững bền vững muôn đời. Còn “đường lớn ta đi tới” là chỉ về tương lai rộng lớn của cả dân tộc. Khổng Tử khi biên tập các câu hát và thơ dân gian để làm thành bộ Kinh Thi có khen câu thơ trên: “Người làm thơ yêu thích cái đạo nhân hậu đến như thế”. Khen “nhân” là vì đã nghĩ đến cái gốc, khen “hậu” vì đã nghĩ đến những thế hệ mai sau.

Hai bên cổng đền là đôi câu đối:

Thác thủy khải cơ, tứ cố sơn hà qui bản tịch.
Đăng cao vọng viễn, quần phong la liệt tự nhi tôn.

(Mở lối đắp nền, bốn mặt non sông qui một mối;
Lên cao nhìn khắp, chập chùng đồi núi cháu con đông).

Đôi câu đối vừa chỉnh vừa mang ý nghĩa sâu sắc, đề ở cổng nơi thờ Tổ chung cả nước thật thích hợp mà lại chiếu được vào 4 chữ đại tự nói trên.

Đền Hùng còn có nhiều hoành phi đều nói lên Hùng Vương là tổ nước, nêu cao công đức tổ tiên và tấm lòng uống nước nhớ nguồn như:

- Triệu cơ vương tích (Dấu tích vua trên nền móng đầu tiên).

- Nam Việt triệu tổ (Vị Tổ đầu tiên của nước Việt Nam).

- Hùng Vương linh tích (Dấu thiêng của các vua Hùng).

- Ẩm hà tư nguyên (Uống nước nhớ nguồn)

- Tử tôn bảo chi (Con cháu hãy giữ gìn lấy).

- Nam quốc sơn hà (Non sông nước Nam)

- Sơn thủy kim ngọc (Non sông vàng ngọc).

Các hoành phi trên nói lên tư tưởng và tấm lòng của nhân dân, câu đối Đền Hùng cũng mang những nội dung trên nhưng có đi sâu có phát triển, vì hoành phi là súc tích, chỉ nêu trong 4 chữ cả một vấn đề lớn có tính khái quát cao.

Về với Đền Hùng mộ Tổ trên ngọn núi Hùng hay Nghĩa Lĩnh, tại xã Hy Cương, huyện Phong Châu, Vĩnh Phú, mỗi khách hàng hành hương không thể không bồi hồi xúc động trước cảnh núi sông hùng vĩ và tươi đẹp. Trước mắt là thành phố Việt Trì, Kinh đô nước Văn Lang, Thủ đô của nước Việt Nam ta với ba con sông lớn nhất miền Bắc là Lô, Thao (tức sông Hồng) và Đà như 3 con rồng uốn khúc quện lấy nhau chầu về núi Hùng. Khu vực Nghĩa Lĩnh này là hậu cung và cũng là nơi lập đàn tế Trời Đất và thực hành những nghi lễ cầu mưa của các vua Hùng.

Câu đối nói lên tâm tưởng mỗi người trước cảnh tượng hùng tráng “non sông muôn thuở vững âu vàng”:

- Vương đối tác bang, tối hảo trung gian sơn thủy;
Dân kim thụ tứ, cái tự thượng cổ thánh thần.

(Vua dựng nước đây, sông núi chốn này tươi đẹp quá;
Dân nay ơn chịu, thánh thần trao lại tự ngàn xưa).

- Khải mã Nam giao, Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc;
Hiền vu Tây thổ, Tản Lô nhất đái thọ tân từ

(Cõi mở Nam Giao, Hồng Lạc nghìn thu tôn nước tổ.
Đất tây rộng mở, Tản Lô một dải vững đền Vua).

- Quá cố quốc, miến Lô, Thao, y nhiên bích lãng hồng đào, khâm đái song lưu hồi Bạch Hạc.
Đăng tư đình, bái lăng tẩm, do thị thần kinh xích huyện, sơn hà tự cổ khống Chu Diên.

(Qua nước cũ ngắm Lô Thao, vẫn hồng đào bích lãng như xưa, sông hai dải bao quanh chầu Bạch Hạc;
Lên đền này vái lăng tẩm, kìa xích huyện thần kinh còn đó, núi bốn bề quay lại giữ Chu Diên).

Các câu đối bắt nguồn từ cảm hứng núi sông đều mang ý Tổ quốc trường tồn, giang sơn vững mạnh, từ đó lại đưa tới nội dung ca tụng, khẳng định công đức các vua Hùng dựng nước.

- Lịch Tam hoàng chí Tam vương, thần truyền thánh kế.
Đĩnh bách nam khai Bách Việt, tổ thiện tôn bồi.

(Trải qua ba đời đến ba đời vương, thánh thần truyền dõi.
Sinh trăm trai nở trăm giống Việt, tổ tiên xây đắp, con cháu vui bồi).

- Thánh thần sự nghiệp Thiên Nam thủy;
Hoàng đế cơ đồ Cổ Tích sơn.

(Sự nghiệp bậc thánh thần khởi đầu ở cõi trời Nam;
Cơ đồ đấng hoàng đế gây dựng từ núi Cổ Tích).

- Hồng Lạc cố cung tồn, diệp chướng tầng loan quần thủy hợp.
Đế vương linh khí tại, hào phong nộ vũ nhất phong cao.

(Cung cũ Hồng Lạc còn đây, trùng điệp núi đồng nhiều sông họp lại;
Khí thiêng đế vương vẫn đó, thét gào mưa gió một ngọn núi đứng cao).

- Duật duật hoàng hoàng phối thiên kỳ trạch đế nhi tổ;
Thông thông uất uất, đắc địa chi linh sơn diệc hùng.

(Đẹp đẹp tươi tươi, sánh ơn lớn của trời, vua còn là tổ;
Xanh xanh tốt tốt, được khí thiêng của đất, núi cũng rất hùng).

- Duy tổ quốc tinh thần, nhất thập bát truyền căn bản địa;
Khảo cổ dư đồ danh thắng, kỷ thiên cổ tải đế vương lăng.

(Vì tinh thần Tổ quốc, qua mười tám đời truyền, đất này là căn bản;
Khảo danh thắng nước nhà sau mấy nghìn năm lẻ, nơi đây còn lăng vua).

Các câu đối đã nói lên sự trường tồn thế nước, truyền mãi và vững mạnh muôn đời:

- Thập bát thế truyền trường quốc tộ;
Ức niên hương hỏa điện kim âu

(Mười tám đời truyền dài thế nước;
Ngàn năm hương hỏa vững âu vàng).

- Kiến quốc lịch thiên niên, phụ đạo tương thừa công đức hậu;<
Hùng đồ thập bát thế, sơn hà tăng mị thái bình dân.

(Dựng nước trải ngàn năm, trị nước hưởng thừa công đức hậu;
Dòng Hùng mười tám đời, non sông thêm tươi đẹp, dân hưởng thái bình).

Tư tưởng non sông “riêng một cõi trời”, đứng vững một cõi trời Nam, tư tưởng “Nam quốc sơn hà” và “các đế nhất phương” là một tư tưởng hạt nhân của tinh thần dân tộc, lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân ta, giúp cho nhân dân ta giữ vững chủ quyền dân tộc, bảo vệ giang sơn bờ cõi chống lại bất kỳ mưu đồ thôn tính nào. Tư tưởng “Nam quốc sơn hà” và “Các đế nhất phương” cũng là nội dung của nhiều câu đối Đền Hùng:

- Thử địa thử sơn Nam quốc kỷ;
Ngô vương ngô thổ Bắc thần tôn.

(Đất này núi này là của nước Nam;
Vua ta đất ta làm phương Bắc cũng nể vì).

- Thiên thư định phận, chính thống triệu minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ;
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành túy miếu, tam giang khâm đái thượng triều tôn.

(Sách trời đã định, chính thống dựng kinh đô, Bách Việt non sông theo tổ trước;
Núi sáng khí thiêng, cố cung thành đền miếu, ba sông quanh quất hướng chầu vua).

- Tây hanh vu sơn, Tản Đảo Lô Thao, hội tác nhất thiên vũ trụ;
Nam tố kỳ địa, Đinh, Lý, Trần, Lê trường lưu ức triệu dư đồ.

(Phía tây thông núi ấy, Tản Đảo, Lô, Thao hợp thành bầu vũ trụ;
Phương Nam mở đất này, Đinh, Lý, Trần, Lê ngàn thuở vững dư đồ).

Tư tưởng “uống nước nhớ nguồn”, về với cội nguồn là tư tưởng quán xuyến trong các câu đối, dù nói về công đức Vua Hùng dựng nước hay nói lên tư tưởng “các đế nhất phương”. Tư tưởng “uống nước nhớ nguồn” cũng là một truyền thống trở thành sức mạnh, một nội lực của tâm thức Việt Nam:

- Thái hòa tại vũ sổ thiên tải;
Công liệt ư dân thập bát truyền.

(Mấy nghìn năm trước xây nền vững;
Mười tám đời truyền dân đội ơn sâu).

- Thông thông uất, trung hữu lăng yên tẩm yên, long phụ tiên mẫu chi tính linh, hựu ngã hậu nhân võng khuyết;
Cổ cổ kim kim, thử sơn dã thủy dã, thánh tổ thần tông chi sáng tạo, y hi tiền vương.

(Trong cây cỏ tốt xanh vẫn có miếu lăng, hồn thiêng cha mẹ rồng tiên phù hộ đời sau không thiếu sót;
Suốt cổ kim dài dặc, thấy kìa sông kìa núi, công đức tổ tiên thần thánh, nhớ ơn vua trước chẳng hề quên).

- Thần thánh khải viêm bang chí kim, địa bất cải tịch, dân bất cải tụ.
Huân lao phụng thánh miếu thị vi, mộc chi hữu bản, thủy chi hữu nguyên.

(Thần thánh mở cơ đồ đến nay, đất vẫn thế, dân vẫn thế;
Công huân thờ thánh miếu từ, cây có gốc nước có nguồn).

Cảm xuc câu đối Đền Hùng là cảm xúc trang nghiêm hướng về những điều thiêng liêng với mỗi người dân Việt; ý thức về cội nguồn, về sự trường tồn vững mạnh của đất nước và tư tưởng uống nước nhớ nguồn. Phải chăng câu đối Đền Hùng là biểu hiện của tâm thức Việt Nam ánh lên trên từng nét chữ ?

Người biên tập: Trịnh Khắc Mạnh

CHÚ THÍCH

(*) Bài viết nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương năm Bính Tí (1996).

TB

HAI TÁC PHẨM Y HỌC THẾ KỶ XV

LÂM GIANG

Bản thảo thực vật toản yếu và Bảo anh lương phương là hai tác phẩm y học thế kỷ XV xưa nay ít người chú ý tới(1). Có lẽ, sau Nam dược thần hiệu, Hồng nghĩa giác tư y thư của Tuệ Tĩnh (XIV), những tác phẩm y học có mặt sớm nhất ở ta(2), là đến hai tác phẩm trên (Căn cứ vào tình hình tư liệu lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Một điều khá lý thú là hai tác phẩm vừa nêu đều là của hai tác giả khá nổi tiếng thế kỷ XV: Nhà sử học, nhà văn Phan Phu Tiên và nhà đại khoa Trạng nguyên Nguyễn Trực. Như thế, Bản thảo thực vật toản yếu và Bảo anh lương phương không như những tác phẩm y học khác do các danh y biên soạn. Nhưng có phải vì thế mà tác phẩm kém giá trị không? Để trả lời câu hỏi này xin lần lượt khảo sát nội dung hai tác phẩm.

I. Phan Phu Tiên và Bản thảo thực vật toản yếu.

Phan Phu Tiên, tự Tín Thần, hiệu Mặc Hiên, người làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội. Không rõ năm sinh năm mất. Ông đỗ Thái học sinh khoa Bính Tý đời Trần Thuận Tông (1396). Đến năm Kỷ Dậu, niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 (1429), lại đỗ khoa Minh Kinh, làm quan đến Quốc sử viện Đồng tu Quốc sử, rồi ra làm An phủ sứ Thiên trường, sau thăng Quốc tử giám Bác sỹ. Tác phẩm của ông có:

- Đại Việt sử ký tục biên, chép nối theo Lê Văn Hưu từ đời Trần Thái Tông (1225 - 1258) đến đời Trần Trùng Quang (1409 - 1413).

- Việt âm thi tập 6 quyển. Đây là bộ Hợp tuyển văn học đầu tiên của nước ta tập hợp thơ văn từ đời Trần đến đời Lê sơ (thế kỷ XV) gồm 119 nhà, 624 bài(3); Và 3 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục.

- Bản thảo thực vật toản yếu: 1 quyển chép tay, chữ viết chân phương. Sách khổ 31x21cm, gồm 90 tờ, tờ 18 dòng, dòng 20 chữ. Toàn văn chữ Hán có xen chữ Nôm. Sách do Học viện Viễn đông Bác cổ mới chép lại hồi trước Cách mạng tháng Tám. Bài tựa do chính tác giả viết. Nguyên văn dịch như sau:

Bài tựa tập Bản thảo thực vật toản yếu

“Dược vật (vật làm thuốc”, trị cho người mắc bệnh, còn thực vật (vật để ăn), trị người chưa mắc bệnh. Người thuận với lẽ sống, lấy đó làm phép dưỡng sinh (nhiếp sinh) vậy. Có lẽ, cái ăn, cái uống là nhu cầu lớn nhất của con người. Cho nên, người giầu sang, cao lương mỹ vị không bao giờ chán, ắt dùng vị ngon làm cái kế cho mồm bụng, mà đối với các tính hàn, ôn, bình, nhiệt, không được xét xem có hợp với tỳ vị hay không. Người mắc bệnh, không chịu nổi đam lạc, hoặc dùng vị ngon làm sở thích cho bữa ăn, không nghe theo những gì phải ăn kiêng, không câu nệ bởi những gì trong sách đã cấm kỵ, dẫn đến “hoãn tì luyến tạng”, “trợ thấp thì sinh viêm”, mà hàng ngày nhu cầu ăn uống không biết điều dưỡng, phẩm chất của nguyên khí vì thế mà xử lý không tinh, cho nên, luôn luôn có sự sai lầm, thất thố. Người đời phần nhiều cũng đều như vậy cả.

Tôi bình sinh học thức nông cạn, thô lậu, hiểu ít, hàng ngày ăn uống, đôi khi ngẫu nhiên dùng quá. Đến khi nghiên cứu sách thuốc, mới biết được điều đó. Nhân đem sách Bản thảo của các nhà, nhặt lấy những phần “thực vật”, phân loại mà biên soạn. Chua, cay, ngọt, mặn, đắng, xét kỹ 5 vị; lạnh, nóng, thấp, bình, làm rõ bốn tính, và các loại độc, không độc, hợp nhau hay kỵ nhau, cùng với phép giải độc ngộ thực, không có chỗ nào là không xem xét kỹ lưỡng và ghi chép đầy đủ. Lại lấy Bản thảo cương mục làm “tông”, tham khảo Bảng thảo của các nhà. Đến như tên gọi của thảo mộc côn trùng, điểu thú, đều được giải nghĩa bằng tiếng nước nhà, để cho người bình thường xem đến đều tiện biết. Đây cũng là quyển sách tập thành của nhà y, gọi là “thuật nhi bất tác” tin và hiếu cổ vậy. Bèn viết bài tựa”.

Đọc bài tựa, thấy ngay ý đồ biên soạn của tác giả là chú ý đến “thực vật” nghĩa là chú ý đến việc ăn uống sao cho hợp lý, đáp ứng được sự đòi hỏi của cơ thể con người, không dùng quá mức và mong cho bộ sách này được phổ biến rộng rãi cho nhiều người cùng biết. Sách viết ngắn gọn, dễ hiểu. Các loại động vật, thực vật được sắp xếp theo bộ, mỗi bộ gồm nhiều loài:

- Cốc bộ (bộ lúa gạo): 64 bài.

- Thái bộ (bộ rau): 91 loài.

- Quả bộ (bộ quả): 84 loài

- Cầm bộ (bộ chim): 77 loài

- Thú bộ (bộ thú vật): 44 loài

- Ngư bộ (bộ cá): 60 loài

- Giới bộ (bộ có vảy): 7 loài.

Ở mỗi loài, tác giả đều nói rõ tính năng và công dụng của chúng, gồm tên chữ Hán và tên Nôm(2), giải thích cặn kẽ từng loại để phân biệt cho đúng, dùng cho hiệu quả. Ví dụ:

- Canh mễ 粳 米 : loại dính gọi là “nọa mễ” (gạo mềm), loại cứng gọi là “canh mễ” (gạo cứng), tục gọi là “gạo tẻ trắng”, vị ngọt, tính bình, không độc. Công dụng: ích khí, chỉ phiền, ngừa khát, sinh cơ, khoẻ gân cốt, ích tỳ vị, thông huyết mạch, hoà ngũ tạng, làm đẹp nhan sắc, thính tai, sáng mắt...

- Đạo 稻 : còn có tên là “nọa mễ”, tục gọi là “lúa nếp”.

- Hương canh mễ 香 粳 米 : tục gọi là “nếp cái”, vị ngọt, chất mềm, mùi thơm, bổ tinh huyết.

Thuộc Thái bộ:

- Đông phong thái 東 風 菜 : mọc vào đầu mùa xuân, nên có tên gọi là “đông phong” (gió ấm), cũng gọi “đông phong” 冬 風 (gió mùa đông), tức là được cái khí của màu đông, lá giống lá mận nhưng dài hơn, dầy hơn, mềm, trên có lông nhỏ, gân tía, nấu canh ăn, vị ngọt lạnh, không độc, chữa ung nhiệt, đầu thống, mắt hoa, gan nóng, phụ nữ có chửa, nấu canh ăn với thịt rất tốt.

- Hiện 莧 : tục gọi “rau dền”, vị ngọt lạnh, không độc. Rau dền trắng bổ khí, thông cửu khiếu, trừ lỵ. Rau dền tía sát trùng, trị khí. Các loại rau dền đều lợi đại tiểu tràng, trị sơ lỵ, hoại thai. Phàm ăn nhiều rau dền thì động khí, khiến người ta phiền muộn...

- Địa đinh (地 丁 ): tục gọi “rau bồ công anh”, vị ngọt, tính bình, không độc, trừ nhiệt, chữa ung thư vú.

Thuộc Quả bộ

- Ngũ liễm tử 五 斂 子 : còn có tên “ngũ lăng tử” 五 棱 子 và “Âm đào” 陰 桃 , tục gọi là “quả khế”, vị ngọt, chua, tính bình, không độc, trị phong nhiệt, sinh tân dịch, ngừa khát...

- Chư tử 儲 子 , tục gọi “hột gắm”, vị đắng, tính bình, không độc, ăn vào không đói, trừ khát, phá huyết độc, ăn sống thì đắng, rang chín thì ngọt, kỵ ngọt và chua, hơi lạnh, không được ăn nhiều.

- Trăn thực 榛 實 : tục gọi “hột chỉ”, vị ngọt, tính bình, không độc, ích khí lực, vào tỳ vị khiến người ta không đói, hành quân ăn thay lương thực...

Những loại dược liệu kê ra ở đây hoàn toàn là những động vật và thực vật có tại nước ta, như: gạo nếp, nếp cái, nếp hương, nếp cẩm, ngô, tiểu mạch, gạo tám, lúa dự, gạo lồng vực, ý dĩ, đậu đen, đậu đỏ, đậu xanh, đậu trắng, đậu ván trắng hột, đậu ván đen hột, đậu phụ, mạch nha, rau hành, kiệu, rau cải, cải trắng, rau xương cá, rau vi, củ từ, măng, quả bầu, bí, bầu lào, dưa gang, dưa bở, mướp đắng, mộc nhĩ, nấm tai mèo, nấm đất, nấm đá, tía tô, rau má, đào, mận, mơ, táo chua, lê, quả gạo, quả mật, hồng, cậy, cam sành, cam chanh, bưởi, vải, nhãn, trám đen, trám trắng, cái hạc, cái diệc, cái cò, cái vạc, gà mái đen, gà mái vàng, chim trĩ, trĩ trắng, cái đa đa, bồ câu non, chim ri, chim yến, cái công, chim bà cắt, con lợn, con chó, dê, bò, lợn lòi, hươu, nai, hoẵng, mèo, cóc, vượn, thỏ, chuột, khỉ, cá chép, cá thu, cá mè, cá chiên, cá ngạo, cá đầu đá, cá mối, cá anh vũ, cá bống, cá cấn cấn, cái cá chiên, cái giải (cua), cái hầu (sò), cái ba ba v.v..., gồm 437 loài tất cả.

Trải trên bốn thế kỷ, văn bản ắt nhiều phen thay đổi, sửa chữa bổ sung. Văn bản hiện còn đến ngày nay, chắc cũng khác xa với nguyên bản, nhất là về mặt chữ viết, tên dược liệu... ở đây có sử dụng một ít chữ Nôm, xét thấy đều là chữ Nôm đời sau, trừ một số chữ còn để lại đôi nét viết theo lối cổ, như đã từng xuất hiện trong Hồng Đức Quốc âm thi tập thế kỷ XV, như: chim “bà cắt” tức là “chim cắt”, giống như từ “bà ngựa” tức là “con ngựa” dùng trong Hồng nghĩa giác tư y thư của Tuệ Tĩnh. Hoặc dùng từ đôi không biến âm như: chim chích chích, cái đa đa, cá cấn cấn. Hoặc vẫn sử dụng từ cổ như từ “cái” thay cho từ “con”. Cái giải (con cua), cái vượn (con vượn), cái cáo (con cáo), cái ba ba (con ba ba), cái vẹt (con vẹt), cái cò, cái vạc (con cò, con vạc) và đặc biệt: cái giá (rau giá) v.v... Hoặc đôi chỗ dùng từ “cả” thay cho “to”: lúa mạch cả bông (lúa mạch to bông), kê nếp cả hột (kê nếp to hột) v.v...

Ngoài ra, khi sao chép lại, người đời sau có lẽ đã bỏ bớt từ cho gọn, như “tục gọi là”, thường lược đi chữ “gọi”: “Chiên ngư, tục là cái cá chiên”, “Xích tiểu đậu, tục là đậu đỏ...” Rất có thể, chữ “gọi” bị lược đi ấy được viết bằng từ cổ “ốc” hoặc “hiệu”?

Như vậy, mặc dù văn bản đã thay đổi nhiều lần nhưng những yếu tố ban đầu (tác giả đã sử dụng thế kỷ XV) vẫn còn đọng lại đôi chỗ, là bằng chứng giúp ta khẳng định tác phẩm hiện còn là của Phan Phu Tiên.

Như thế, Phan Phu Tiên không những là nhà sử học, văn học nổi tiếng, mà còn là nhà nghiên cứu y học nữa. ở thế kỷ XV, những trước thuật về y học còn rất hiếm, Bản thảo thực vật toản yếu của Phan Phu Tiên ra đời là một đóng góp cho nền y học cổ truyền của dân tộc, phản ánh sự tiến bộ của cha ông ta đã nhận thức rất sớm về tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Như trên đã thấy, Bản thảo thực vật toản yếu không nhằm giới thiệu cái dược liệu dùng để làm thuốc chữa bệnh cụ thể, mà chủ yếu chỉ giới thiệu những động vật và thực vật thông thường, cùng tính năng và công dụng của chúng, giúp tác dụng đúng lúc, đúng chỗ, nhằm ngăn ngừa và chữa trị những bệnh tật của con người ...

II. Nguyễn Trực và Bảo anh lương phương.

Nguyễn Trực (1417 - 1473) tự Công Đĩnh, hiệu Hu Liêu, người làng Bối Khê, huyện Thanh Oai (nay thuộc Hà Tây). Năm 18 tuổi ông đỗ Hương cống, năm Đại Bảo thứ 3 (1442) đỗ Trạng nguyên. Đời Lê Nhân Tông (1443 - 1459), niên hiệu Thái Hòa (1443 - 1453) ông làm Hàn lâm viện Thị giảng. Tác phẩm có:

- Hu Liêu tập.

- Ngu nhàn tập.

- Bảo anh lương phương.

- Bảo anh lương phương (A.1462) gồm 4 quyển (Xuân, Hạ, Thu, Đông), Nguyễn Trực soạn năm ất Hợi, niên hiệu Diên Ninh 2 (1455), Y viện Tú tài Nguyễn Địch(5), sao chép. Hiện chỉ còn quyển Xuân, gồm 87 tờ, tờ 18 dòng, dòng 20 chữ. Quyển hiện còn này do Học viện Viễn đông bác cổ chép lại hồi trước Cách mạng tháng Tám, trên giấy bản khổ lớn 30x20cm. Bài tựa đầu sách do chính tác giả viết. Nội dung dịch như sau:

Bài tựa tập Bảo anh lương phương

Kìa: “Y” là “lý” vậy, quý ở chỗ xem xét hư thực, càng quý ở chỗ quan sát âm dương, thực là không thể xem nhẹ được. Trộm nghĩ: Trời sinh ra muôn vật, còn phải gieo trồng vun đắp cho nó, huống chi là trẻ con ở thời kỳ mầm mống đang được nảy sinh, há lại không thể không bồi dưỡng, vun đắp cho nó hay sao? Trong thiên Khang cáo (Kinh Thư) có nói: “muốn bảo vệ con đỏ thì phải nuôi dưỡng trẻ thơ”. Cổ nhân cũng còn nơm nớp lo lắng, thận trọng như vậy đó.

Tôi tài năng nông cạn, học vấn thô sơ, ngẫu nhiên được một tập sách, bèn nghiên cứu sự tinh vi huyền diệu của cổ nhân, lại tìm tòi các phương trị bệnh hiệu nghiệm danh tiếng của nhà y, chia thành 4 quyển: Xuân, Hạ, Thu, Đông, rồi đặt tên là Bảo anh lương phương (các phương thuốc hay bảo vệ trẻ em). Tuy không dám có ý lưu truyền trong thiên hạ, nhưng cũng là sự trợ giúp để bảo vệ trẻ con. Bèn làm bài tựa.

[Đệ] nhất giáp Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất triều Lê Thái Tông là Nguyễn Trực biên soạn.

Y viên Tú tài Nguyễn Địch phụng sao.

Tập Xuân hiện còn, có những nội dung chính như sau:

1. Năm phép khám bệnh cho trẻ con: Một là xem ánh mắt; hai là nghe tiếng nói; ba là xem vành tai; bốn là xem hình dung; năm là xem lồng tóc... Có phân tích tỉ mỉ chức năng của 5 bộ phận, sự liên quan của chúng với bệnh tật, vì trẻ nhỏ chưa biết nói, dựa vào 5 điểm trên là điều cốt yếu của việc khám bệnh cho trẻ.

2. Các bài ca soạn theo thể 7 chữ như: Nhập môn sát sắc ca (bài ca nhập môn quan sát sắc mặt), Diện thượng thư huyệt ca (Bài ca về các huyệt trên mặt), Tiểu nhi vô hoạn ca (bài ca trẻ nhỏ không phải lo ngại), Điều hộ ca (bài ca điều hộ), Nhập môn hầu ca (bài ca bàn về sắc mặt), Mạch pháp ca (bài ca về phép xem mạch), Nã pháp ca (bài ca về nắm phép chữa bệnh) v.v...

3. Chuyên khoa đậu mùa, gồm những nội dung sau đây:

- Biện, luận về các chứng đậu mùa: bàn về việc xem sắc mặt bệnh nhân để biết bệnh nặng hay nhẹ, luận về khí huyết hư thực; bàn về chứng đậu hư biến thành đậu thực, và chứng đậu hư giống như đậu thực; nhiệt chứng biến thành hư chứng, ung nhiệt biến thành hư chứng...

- Các bài ca và các bài phú về các chứng đậu mùa: Kinh đậu ca (bài ca về bệnh đậu nhẹ), Trọng đậu ca (bài ca về bệnh đậu nặng), Nghịch đậu ca (bài ca về bệnh đậu nghịch)... Và Bệnh nghi phú, Kim kính phú, Tiết chế phú, Quyền Nghi phú, Chỉ nam phú, Hư chứng phú, Hư chứng cấm dụng dược phú v.v...

Bài thuốc và cách chữa các chứng đậu mùa như chứng rét run lập cập, miệng khô khát nước, ho đờm, bọc nước mất máu, bí đại tiện, bụng trướng, bụng đau v.v...

- Tính năng về công dụng 114 vị dược liệu dùng để chữa bệnh đậu mùa, như: Mạch môn: vị ngọt, tính bình, ngừa khô miệng, phiền khát, thoái nhiệt trong tim phổi; Cúc hoa: vị ngọt, tính bình, trị đậu vào mắt có tia đỏ, màng che. Hoàng mễ: vị ngọt, tính ấm, ích chân khí, hoà tỳ vị. Long đậu: vị đắng, tính lạnh , giải nhiệt, lợi tiểu tiện, tán nhiệt độc v.v...

- Một số phương thuốc hay trị đậu: Thanh cơ thấu độc thang, Công độc ẩm, thanh kim tán độc ẩm. Lương kết công độc ẩm, Thần ứng đoạt mệnh đơn, Tán kết thang, Trư vĩ cao v.v...

Tập sách nặng về lý thuyết, ít bài thuốc chữa cụ thể. Chữ chép tốt, tuy nhiên cũng có đôi chữ chép sai, như: “Tỳ bệnh thanh mạn”, chữ “thanh” 清 nên thay bằng chữ “thanh” 聲 (nghĩa là, người mắc bệnh tỳ, tiếng nói đầy nước). Hay “Tiểu tráng bệnh thanh đoản” chữ “thanh” 清 nên thay bằng chữ “thanh” 聲 (nghĩa là, người mắc bệnh về tiểu tràng có tiếng nói ngắn).

Tập sách hoàn toàn dùng chữ Hán để biên soạn, không thấy chữ Nôm xuất hiện. Tất cả những chữ Thì (kiêng húy vua Tự Đức) trong văn bản đều viết thành 挦 hoặc 辰 . Điều này càng giúp khẳng định thêm về câu trong sách đề là “Tú tài Nguyễn Địch phụng sao”, chép là Nguyễn Địch tự là Huệ Phủ, hiệu là Vân Đình, làm quan Thái y viện triều Đồng Khánh (1886), tác phẩm có Vân Khê y thú yếu lục, Như vậy từ nguyên bản (TK XV) đến bản sao (TK XIX) đã có một khoảng cách khá dài.

Trong lời tựa tác giả viết: “... Tìm từ các phương trị bệnh hiệu nghiệm danh tiếng của nhà y, chia thành 4 quyển: Xuân, Hạ, Thu, Đông... Tuy không dám có ý lưu truyền trong thiên hạ, nhưng cũng là sự trợ giúp để bảo vệ trẻ nhỏ...” Như thế, ý định soạn sách của tác giả thật rõ ràng, mục đích cũng rất tốt đẹp. Cho nên tập sách sẽ được biên soạn theo một trật tự nhất định. Thế nhưng, trong “Xuân quyển” hiện còn này, điều kiện ấy không được thực hiện triệt để. Như đang chép về bệnh đậu mùa, lại chép xem vào các bài thuốc chữa tê phong, trùng thiệt, nga khẩu và các phương thuốc trị thai độc, kinh phong, khu nghịch kinh, bàn tràng kinh, mã đề kinh, cấp kinh, mạn kinh... Sau đó lại chép tiếp phần dược tính các vị dược liệu dùng để chữa bệnh đậu... Sự sao chép “tổng hợp” này, có lẽ là do người sao chép thực hiện. Dẫu sao, tập sách hiện còn cũng rất quý, không những vì nó có niên đại sớm, mà về nội dung rất phong phú và của một tác giả khá nổi tiếng nửa cuối thế kỷ XV. Một bộ sách chuyên khoa nhi khá đồ sộ, gồm 4 quyển, hiếm thấy trong kho thư tịch y học cổ truyền Việt Nam, là một đóng góp đáng kể cho nền y học truyền thống nước nhà. Đáng tiếc hiện chưa tìm thấy ba quyển Hạ, Thu, Đông.

Người biên tập: Mai Xuân Hải

CHÚ THÍCH

(1) Trong EOM (Viễn đông y học tạp chí), No 2, 1949 cũng đã thống kê hai tác phẩm trên trong Danh mục sách đông y Việt Nam.

(2) Võ Duy Đoán: Đại Việt lịch đại đăng khoa lục, VHv.226; Trần Văn Giáp: Hồng nghĩa giác tư y thư, Nxb. Y học, H. 1978; Mai Hồng - Tìm hiểu tư liệu về Tuệ Tĩnh, Nghiên cứu Hán Nôm, số 2, 1985, đều khẳng định Tuệ Tĩnh là người huyện Cẩm Bình (Hải Hưng), sống ở thế kỷ XIV, từng biên soạn bộ sách trên. Nhưng Trần Văn Giáp trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Văn hóa, 1984, khi khảo về hai tác phẩm này, dựa vào Đăng khoa lục (không nói rõ ký hiệu), cải chính lại Tuệ Tĩnh sống vào thế kỷ XVII (?). Nguyễn Sỹ Lâm trong Một số ý kiến về truyền thuyết tác phẩm của Tuệ Tĩnh, Tạp chí Y học cổ truyền dân tộc Việt Nam, số 194, năm 1985, cũng lại tán thành nhận định này. Chúng tôi theo quan điểm của Mai Hồng, cho rằng Tuệ Tĩnh là người sống ở thế kỷ XIV.

(3) Theo thống kê của Trần Văn Giáp - Lược truyện các tác gia Việt Nam, Nxb. KHXH, H.1971, tr.98.

(4) Từ điển văn học (TĐVH) mục Phan Phu Tiên nói “Ông (tức Phan Phu Tiên) còn biên soạn Bản thảo thực vật toản yếu bằng tiếng Việt, nay không còn”. Không rõ TĐVH đã căn cứ vào tư liệu nào. Cứ như lời bài tựa và thực tế văn bản hiện còn thì Bản thảo thực vật toản yếu chỉ dùng tiếng Việt (chữ Nôm) để giải thích tên chữ Hán những dược liệu có ở Việt Nam mà thôi.

TB

NHỮNG BÀI CA DAO XỨ HUẾ ĐƯỢC
MỞ ĐẦU BẰNG HAI CÂU THEO
HÌNH THỨC HÁN VĂN

TRIỀU NGUYÊN

I

Tìm hiểu ảnh hưởng của văn chương bác học đối với ca dao xứ Huế, thời kỳ còn là thủ phủ Đàng trong và Kinh đô của nước ta, hoặc có thể nói một cách rộng hơn, là tìm hiểu sự giao lưu văn hóa, văn học Hán - Việt, chúng tôi thấy có một hiện tượng văn học đáng lưu ý là không ít bài ca dao xứ Huế được mở đầu bằng hai câu có hình thức Hán văn. Cụ thể là có 41 bài ca dao được cấu trúc bốn câu, trong đó có từ một đến hai câu theo hình thức Hán văn (HTHV) (theo tài liệu người viết có được - xem phần chú thích). Trong sô 41 bài này, thì 25 bài có hai câu theo HTHV ở vị trí thứ nhất, thứ hai; 12 bài có một câu theo HTHV ở vị trí thứ nhất; và 4 bài có một câu theo HTHV ở vị trí thứ hai hoặc thứ ba. Hai dạng sau chưa tìm thấy sự trùng lặp câu thơ theo HTHV. Riêng dạng đầu, số 25 bài ấy, chỉ sử dụng 9 cặp câu theo HTHV; nghĩa là, nếu chọn ra 9 bài để xem xét, thì 16 bài còn lại có thể tạm cho là những dị bản tương ứng.

Bài viết ngắn này chỉ đề cập đến HTHV đậm đặc nhât, tức 25 bài ca dao có hai câu theo HTHV ở vị trí mở đầu nêu trên, chủ yếu qua 9 bài được chọn, xin dẫn ra dưới đây (chữ số trong ngoặc đơn ghi cuối mỗi bài, vừa dùng để chỉ bài ấy khi phẩm bình, vừa dùng để ghi xuất xứ ở phần chú thích):

Thiên sanh nhân, hà nhân vô lộc?
Địa sanh thảo, hà thảo vô căn?

Một mình em ngồi dựa lòng thuyền, dưới nước trên trăng,
Biết cùng ai trao duyên gởi phận cho bằng thế gian(1).

Hoạ hổ họa bì nan họa cốt,
Tri nhân tri diện bất chi tâm;

May mô may chút nữa em lầm,
Khoai khô xắc lát, tưởng Cao Ly sâm bên Tàu(2).

Minh quân lương tướng tao phùng dị,
Tài thư giai nhân tế ngộ nan;

May mô may thiếp lại gặp chàng,
Trăm năm xin tạc đá vàng thủy chung(3).

Hạ bút đề thị: quân tử trúc,
Loan thiên tế địa trượng phụ tùng.

Theo nhau chọn thủy chọn chung,
Kẻo gái thuyền quyên chờ trai anh hùng bấy lâu(4).

Thiếp tựa thiên biên nguyệt,
Quân như lãnh thượng vân;

Tuy gần mà chẳng phải gần,
Cũng như biển Sở non Tần cách xa(5).

Ngộ bần cùng dã bạc,
Ngộ bần tiện tri thông;

Em dạo chơi cho biết đục trong,
Dẫu có lâm cơ thất vận cũng đành lòng em nay(6).

Tiền tài như phấn thổ,
Nghĩa trọng tựa thiên kim;

Thương nhau nên phải đi tìm,
Tìm nhau từ buổi nổi chìm cháo rau(7).

Phú dữ quý thị nhân chi sở dục,
Bần dữ tiện thị nhân chi sở ố;

Khổ thân phận chàng tứ cố vô thân!
Chẳng trách thầy mẹ bên em tham chữ phú, phụ chữ bần,
Còn em đây thì Nam mô A di đà Phật, hai chữ phù vân nhờ trời(8).

Bần cư trung thị vô nhân vấn,
Phú tại sơn lâm hữu khách tầm;

Ai tầm thì tầm, em nỏ thèm tầm,
Vì chưng em dâng nghèo ở chợ, kết nghĩa sắt cầm không xứng đôi(9).

II

Hai câu theo HTHV của bài 1 có nghĩa: Trời sinh ra người mà người không có lộc? Đất sinh ra cỏ, cỏ nào mà chẳng có rễ? Quy luật ấy của tạo hóa rành rành ra đó. Vậy mà em lại đang cô quạnh, chơi vơi giữa dòng nước, đất trời cùng mảnh thuyền không, “Biết cùng ai trao duyên gởi phận” đây? (lộc được hiểu như “nguồn sống từ đất trời, con người mà một cá nhân thụ hưởng”. Với người thiếu nữ trong bài ca dao, nguồn sống ấy là hạnh phúc lứa đôi).

Bài ca dao đã rất phổ biến ở Huế. Có 6 dị bản với sự thay đổi ít nhiều lời ca ở hai câu cuối (hai câu đầu theo HTHV luôn cố định), chẳng hạn: “... Một mình em ngồi tựa mạn thuyền, dưới nước trên trăng, Biết nơi mô hơn mà thủ phận, nơi mô bằng mà trao duyên”(10); và “... Anh thương ai thì nói lại cho ắt bằng, Kẻo một mai trâu cột ghét trâu ăn không đành”(11).

Hai câu theo HTHV của bài 2 có nghĩa: Vẽ cọp thì vẽ được da cọp, khó vẽ được cốt cách con cọp; (cũng như) biết người thì biết mặt, không thể biết được lòng người. Một cách nói gần ý của câu ca dao Việt Nam “Sông sâu còn có kẻ dò, mấy ai lấy thước mà đo lòng người”. Nguyễn Trãi cũng nói tương tự “Dễ hay ruột bể sâu cạn, khôn biết lòng người vắn dài” (Ngôn chí, bài 5); Nguyễn Du cũng không nói khác: “Biết người, biết mặt, biết lòng làm sao?” (Truyện Kiều, cầu 2120). Điều này được nhân vật của bài ca dao “ngộ” ra như reo lên: may mắn làm sao em đã thoát khỏi sự lầm lẫn về anh, một con người xoàng xĩnh (như khoai khô) mà trông bề ngoài cứ ngỡ là cao quý lắm (như sâm Cao Li)!

Bài này có 5 dị bản, chẳng hạn; “... Xa xôi chi đó mà lầm; ở gần bên cây đó, há không biết hơi trầm thể nao?”(12), và “... Xưa kia chẳng biết nên anh lầm; Bây giờ đã rõ, vàng cầm anh cũng không:(13)...

Hai câu theo HTHV của bài 3 có nghĩa: Vua sáng, tướng tài tình cờ gặp gỡ nhau thì dễ; còn như tài tử, giai nhân đột nhiên mà gặp được nhau thì khó. Lời thơ tiếp theo thể hiện nỗi vui mừng của giai nhân (thiếp), tài tử (chàng), khi ngẫu nhiên gặp gỡ và kết duyên “đá vàng”, để tránh bỏ mất cơ hội hiếm hoi.

Hai câu theo HTHV của bài 4 có nghĩa: Hạ bút đề thơ ca ngợi trúc quân tử thẳng ngay, và trượng phu tùng rắn rỏi, hiên ngang bốn mùa xanh tươi che kín trời đất. Theo văn cảnh, lời ca ngợi này hàm ý: chàng đã rất thủy chung (với thiếp). Thật thỏa lòng tin yêu, đợi chờ bấy lâu của thiếp!

Hai câu theo HTHV của bài 5 có nghĩa: Thiếp như trăng bên chân trời; Chàng như mây trên đỉnh núi. “Trăng bên chân trời” và “mây trên đỉnh núi” tuy gần (trong tầm mắt), nhưng thật ra là cách biệt: “như biển Sở non Tần”. Phép so sánh giữa hai câu theo HTHV, so sánh ở câu lục, ở câu bát và kết hợp cặp lục bát) nhằm làm nổi bật được ý xa xôi “góc biển chân trời” ấy.

Hai câu theo HTHV của bài 6 có nghĩa: Gặp phải cảnh bần cùng thì vui (vui bần cùng); gặp phải cảnh nghèo khó, thì cũng biết lẽ cùng thông (cùng tắc biến, biến tắc thông) để bằng lòng với số phận. Phần tiếp theo của bài ca dao thể hiện phong thái ung dung “tuỳ ngộ nhi an”, sẵn sàng chấp nhận cả điều xấu nhất là “lâm cơ thất vận” (sa vào cảnh đói khó, cùng đường) cũng an với phận của mình của cô gái sắp vào cuộc hôn nhân.

Hai câu theo HTHV của bài 7 có nghĩa: Tiền bạc, của cải [em] coi rẻ như cát bụi; chỉ có tình nghĩa mới đáng quý tựa ngàn vàng. Ngàn vàng (thiên kim) trong Hán văn cổ được dùng theo nghĩa bóng là vô giá, giá trị to lớn vô cùng (thơ Lý Bạch có câu: “Mỹ nhân nhất tiếu thiên hoàng kim = Tiếng cười của người đẹp đáng giá ngàn vàng”; Thơ Tô Thức lại nói: “Xuân tiêu nhất khắc trị thiên kim = Một khắc đêm xuân đáng giá ngàn vàng”; Hạt Quán Tử ghi “Trung lưu thất thuyền, nhất hồ thiên kim = Thuyền đắm giữa dòng một quả bầu đáng giá ngàn vàng”...). Bài ca dao cũng dùng ngàn vàng theo nghĩa này. Đây là quan niệm đạo đức trọng nghĩa khinh tài vốn rất được đề cao trong nhân dân ta. Lời tiếp theo của bài ca dao thể hiện quan niệm ấy theo nghĩa hẹp của “nghĩa” (là tình yêu nam nữ: đã thương nhau thì dù cách xa bao nhiêu, dù phải trải qua đói khổ, bần cùng đến mức “nổi chìm cháo rau” cũng phải tìm gặp nhau, chung thủy với nhau.

Như bài 2, bài này cũng có 5 dị bản, chẳng hạn: “... Xa xôi anh cũng đi tìm, Bây giờ kháp mặt như Kim gặp Kiều(14), và “... Con le le mấy thuở chết chìm, Người thương ở bạc kiếm tìm làm chi”(15)...

Hai câu theo của bài 8 có nghĩa: Giàu sang là điều ai cũng muốn; nghèo khổ là điều ai cũng ghét. Nghèo khổ không chỉ bị ghét mà còn xếp vào hạng “lục cực” (sáu điều khốn: chết non, ốm đau, lo phiền, nghèo đói, tật xấu xa, hèn yếu), thậm chí, đứng đầu vạn tội (vạn tội bất như bần). Nguyễn Công Trứ đã xác nhận điều này: “Lục cực bày hàng sáu, rành rành kinh huấn chẳng sai; vạn tội lấy làm đầu, ấy ấy ngạn ngôn chẳng có” (Hàn nho phong vị phú). Cô gái trong bài ca dao đã dùng cái lẽ thường tình này để biện minh cho thày mẹ “tham chữ phú, phụ chữ bần” ruồng rẫy người tình nghèo khó của cô. Còn cô, cô ngả sang triết lý nhà Phật, xem giầu sang như mây nổi, thoắt có thoắt không, nên chấp nhận duyên số của mình mà cô cho là trời Phật đã an bài.

Hai câu theo HTHV của bài 9 có nghĩa: Nghèo khổ thì dù ở ngay giữa chợ cũng chẳng ai hỏi han; còn giàu sang thì có ở tận núi sâu, rừng thẳm, cũng có khách đến tìm. Tục ngữ, ca dao xứ Huế có nhiều bài gần gũi với ý trên, thể hiện thói đời đen bạc “trọng của khinh tình”: “Phú quý đa nhân hội, bần cùng bà nội cũng xa”; “Khó nghèo nằm giữa chợ chẳng ai han, khi làm quốc trạng ba ngàn bà con”; “Phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng thân thích li, giàu người dưng thì trọng, khó o với dì cũng xa”... Lời tiếp theo của bài ca dao đã như một bản tuyên ngôn tình yêu, một thông điệp của cô gái cho mọi người biết lập trường vững vàng của cô, lòng chung thủy của cô, vượt lên trên thói đời đen bạc; Ai tìm người sang giàu thì mặc, em không màng, vì “em đang nghèo ở chợ”, tự xét chẳng xứng đôi.

III

Hầu hết lời theo HTHV thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan truyền thống. Đó là tinh thần lạc quan, tin tưởng ở trời Phật và lẽ biến dịch (bài 1; 6), đề cao sự thủy chung, tình nghĩa (bài 4; 7), coi trọng người bạn tình tri kỷ (bài 3) và biết được thói tình của thế gian (bài 8; 9). Các lời theo HTHV này vốn từ cổ ngữ, kinh điển, những câu thơ cổ đã khá phổ cập, dân gian chỉ dùng lại nguyên mẫu hoặc có chế tác đôi chút cho dễ hò, hát và bắt vần (chẳng hạn, lời HTHV ở bài 4 đúng ra là: “... quân tử trúc, trượng phu tùng, loan thiên tế địa”). Sự ảnh hưởng của HTHV giảm dần rồi mất hẳn, trong ca dao sau Cách mạng tháng 8 (Ca dao giai đoạn 1945 - 1975) rất hiếm gặp hiện tượng xuất hiện cùng lúc một câu HTHV).

Điều đáng lưu ý khác là các nhân vật trữ tình (hoặc chủ thể sáng tạo) của những bài ca dao trên, phần lớn là nữ và nội dung giải bày là cảm xúc lứa đôi. Phải chăng do tác giả của những bài ca dao ấy, có thể phần lớn là những nho sĩ bình dân, có vốn Hán học nhất định, sống gần gũi quần chúng nhân dân, có nhân sinh quan tiến bộ, có thái độ thông cảm và trân trọng đối với phụ nữ, bày tỏ khát vọng đòi tự do lứa đôi và quyền bình đẳng của phụ nữ, mà HTHV là một phương tiện giúp đỡ bày tỏ đắc lực.

Hai câu theo HTHV được sắp xếp theo dạng đối, không gieo vần và đặt trước cặp lục bát (hoặc lục bát biến thể) lời Việt. Âm tiết cuối của câu đầu mang thanh trắc, âm tiết của câu sau mang thanh bằng để hiệp vần với âm tiết nuối của câu lục (riêng bài 8, do không tìm được thanh bằng ở câu theo HTHV thứ hai nên phải thêm vào một câu lời Việt để bắt vần với câu lục). Kiểu cấu tạo âm thanh này gần gũi với thể song thất lục bát. Khi diễn xướng, hai câu theo HTHV thường chỉ nói, đến cập lục bát (hát). Sự tách biệt này chỉ thuần tuý về mặt âm thanh, còn ý nghĩa thì hai câu theo HTHV ăn khớp với lời Việt. Nói chính xác hơn, hai câu theo HTHV thể hiện tư tưởng chủ đề của cả bài và mang nghĩa khái quát, hiển nhiên, được thuân thủ như một quy luật. Lời tiếp theo là một tình huống, một biểu hiện cụ thể của quy luật ấy.

Sự kết hợp giữa hai câu HTHV dạng đối với một cặp lục bát lời Việt, ngoài những điều đã trình bày ra, còn tạo nên một vẻ đẹp cổ điển về mặt cấu trúc của bài ca dao. Vẻ đẹp này có được sự cân xứng của lời HTHV và lời Việt (tỉ số 2-2), sự tương phản về ngôn ngữ (Hán - Việt), về thể loại (đối - lục bát) của chúng. Mặt khác, là do ý nghĩa biểu đạt đi từ cái khái quát, cái quy luật đến cụ thể, tâm trạng riêng tư (tương tự thơ Đường luật, nếu chia số câu của bài thơ làm hai phần bằng nhau, thì nửa đầu thường thiên về cảnh, về sự, nửa sau ngả về tình ý riêng của nhà thơ) phù hợp với tư duy diễn dịch và quan điểm thẩm mĩ truyền thống.

Việc có mặt đáng kể của những bài ca dao đang bàn trong kho tàng ca dao xứ Huế, hẳn có sự thu hút từ vẻ đạp của một kiểu cấu trúc văn bản mang tính thể loại ấy. Điều này thể hiện rõ nét chất bác học của ca dao xứ Huế trong giai đoạn hội tụ và giao thoa với văn hóa cung đình nói riêng, và là sự thể hiện sinh động của sự giao lưu văn hóa, văn học Hán - Việt nói chung.

Người biên tập: Mai Xuân Hải

CHÚ THÍCH

(1) Vũ Ngọc Phan - Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam (bản in lần 8) - Hò Huế, Nxb. KHXH, H. 1978, tr.655.

(2) và (15) Ưng Luận - Ca dao xứ Huế bình giảng, sở VHTT Thừa thiên - Huế, tập 3, 1993, tr.27 và tập 2, 1992, tr.40.

(3), (9), (11) và (12) Triều Nguyễn - Văn học dân gian Hương Phú, Sở VHTT Bình Trị Thiên, 1988, các tr.173, 174, 232 và 276.

(4), (5), (6), (7) và (13) Trần Việt Ngữ, Thành Duy - Dân ca Bình Trị Thiên, Nxb. Văn học, H.1967, các tr.64,67,68,101,102.

(8) và (14) Trần Hoàng (Chủ biên) - Ca dao dân ca Bình Trị Thiên, Nxb. Thuận Hóa, 1988, các tr. 212 và 237.

(10) Phan Ngọc Thu (Chủ tiên) - Thơ ca dân gian Bến Hải, Sở VHTT Bình Trị Thiên, 1985, tr.57.

TB

SÁCH, CÁC KIỂU ĐÓNG SÁCH VÀ
TÊN GỌI CÁC BỘ PHẬN CỦA MỘT
CUỐN SÁCH CỔ

THỌ NHÂN

Gần đây, việc sưu tầm, chỉnh lý, giới thiệu thư tịch Hán Nôm được đặc biệt quan tâm và đẩy mạnh. Đấy là hiện tượng đáng mừng.

Để góp phần giúp các nhà sưu tầm, nghiên cứu Hán Nôm có một ngôn ngữ chung, tránh tình trạng dùng thuật ngữ không thống nhất khi miêu thuật thư tịch cổ như thỉnh thoảng vẫn thấy, bài viết này xin bàn về sách, các kiểu đóng sách và tên gọi các bộ phận của sách theo truyền thống phương Đông mà nhiều nước trong khu vực như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản v.v. hiện vẫn quan niệm và sử dụng.

Trước hết, hãy nói “sách” là gì. Thiên Đa sĩ ở Thượng thư có câu “Riêng tổ tiên người Ân có sách có điển (Duy Ân tiên nhân hữu sách hữu điển). Trong số văn tự giáp cốt khai quật được ở Ân Khư, kinh đô cũ của nhà Ân, nay thuộc huyện An Dương tỉnh Hà Nam của Trung Quốc, người ta thấy có hai chiếc mai rùa được gắn vào nhau, trên khắc hai chữ “sách lục” tức “sách thứ sáu”. Các chữ “sách” ở đây đều được viết là 冊, giống hình một số mai rùa hoặc xương thú ghép lại với nhau, có dây xuyên qua. Còn chữ “điển” thì được viết là@, giống hình hai bàn tay đang nâng niu, gìn giữ, bảo vệ sách. Chữ “sách” sau đó được viết gọn hơn, thành 冊, hình thù có khác trước chút ít, nhưng tính chất tượng trưng thì vẫn như cũ, thậm chí thể hiện còn rõ hơn. Bộ sách sớm nhất của phương Đông ra đời cách đây trên 3000 năm mà ngày nay còn có thể thấy được qua “sách lục” vốn dĩ là như vậy. Nó mang đến cho chúng ta chí ít hai thông tin quan trọng: thế nào là sách và kỹ thuật đóng sách thuở ban đầu.

Khái niệm “sách” về sau không thay đổi là bao, trong khi kỹ thuật đóng sách thì luôn luôn được cải tiến theo hướng phù hợp với vật liệu dùng để khắc hoặc viết chữ, đồng thời cũng nhằm giúp cho việc sử dụng sách này ngày thêm thuận tiện. Vậy là hình thành cả một lịch sử về kỹ thuật đóng sách.

Loại sách làm bằng mai rùa, xương thú ghép lại như trên, kỹ thuật còn sơ sài: gắn bằng keo hoặc xâu bằng dây các chiếc mai rùa hay xương thú lại với nhau. Kiểu đóng sách này được đời sau gọi là “quy sách” 龜 冊 .

Việc dùng mai rùa, xương thú để ghi chữ vừa khó khăn trong chế tác, vừa bất tiện lúc sử dụng, đặc biệt là khi mà nhu cầu viết và đọc tăng lên. Vì vậy từ cuối đời Xuân Thu trở về sau, vật liệu dùng để khắc hoặc viết chữ dần dần được thay thế bằng thẻ tre gọi là “trúc giản” 竹 簡 . hay thẻ gỗ gọi là “mộc giản” @ 簡. Kỹ thuật đóng sách tương ứng là dùng dây da hoặc dây tơ tằm bện các thẻ tre, thẻ gỗ lại với nhau. Có thể biết điều này qua đoạn văn sau đây ở thiên Khổng Tử thế gia trong Sử ký: “Khổng Tử vào cuối đời thích Kinh Dịch, đọc Dịch nhiều đến nỗi làm cho dây bện thẻ đứt ba lần” (Khổng Tử vãn hỉ Dịch, độc Dịch vĩ biên tam tuyệt). Chữ “sách” trong giai đoạn này thường được viết giả tá là 策 . Mỗi sách bao gồm một nội dung trọn vẹn, gọi là “thiên” 篇 . Cũng có khi sách dài đến mấy “thiên”. Kiểu đóng sách này được đời sau gọi là “giản sách” 簡 策 hay “giản độc” 簡 牘 .

Đến đầu thời Chiến quốc, bên cạnh thẻ tre, thẻ gỗ được sử dụng phổ biến, người ta cũng thử nghiệm dùng lụa làm vật liệu ghi chữ. Với lụa, một thứ vừa mềm vừa nhẹ, kỹ thuật đóng sách cũng giống như đối với thẻ tre, gỗ. Viết chữ lên lụa xong, người ta cuốn lụa chung quanh một cái trục, gọi là “quyển” 卷 . Mỗi quyển là một đơn vị văn bản trọn vẹn. Mỗi sách có thể gồm một đến nhiều quyển. Kiểu đóng sách này được đời sau gọi là “bạch thư” 帛 書 .

Sách bằng thẻ tre và sách bằng lụa đến thế kỷ I trước công nguyên được sử dụng song song, điều này phản ánh qua Hán thư Nghệ văn chí. Cũng qua Hán thư Nghệ văn chí, ta thấy đơn vị văn bản thời bấy giờ khi thì tính bằng “thiên”, như “Dịch kinh thập nhị thiên”; khi thì tính bằng “quyển”, như “Thượng thư cổ văn kinh tứ thập lục quyển”; cũng có lúc vừa tính bằng “thiên” vừa tính bằng “quyển”, như “Xuân thu cổ kinh thập nhị thiên, kinh thập nhất quyển”.

Giản sách vừa thô vừa nặng. Bạch thư giá thành lại cao. Điều này thôi thúc người ta tìm kiếm vật liệu thích hợp hơn để viết chữ. Kết quả vào thế kỷ II, sau khi Thái Luân cải tiến thành công phương pháp sản xuất giấy đã nhanh lại rẻ, giấy liền được sử dụng làm sách. Sang thế kỷ III thẻ tre và gỗ hoàn toàn bị giấy đẩy lùi. Kỹ thuật đóng sách hồi bấy giờ là dán các tờ giấy vào nhau theo chiều ngang, thành một băng dài, rồi dùng trục gỗ cuốn lại theo hướng từ trái sang phải thành một đơn vị văn bản gọi là “quyển” như đối với bạch thư, tương đương một “thiên” ở giản sách. Do mỗi quyển đều có trục gỗ ở giữa, nên còn được gọi là “quyển trục” 卷 軸 hay “trục thư” 軸 書 Trục thư dài ngắn không đồng đều, tùy thuộc vào nội dung văn bản nhiều hay ít. Với những trục thư dài, muốn đọc một câu hoặc một đoạn nào đó, phải mở ra cuốn lại sách nhiều lần, vô cùng bất tiện. Vì lẽ ấy vào khoảng thế kỷ VII, VIII người ta quay sang học kiểu đóng sách của ấn Độ qua các tập kinh Phật được viết bằng chữ Phạn. Cụ thể là đem trục thư gấp lại thành nhiều mảng hình chữ nhật liền nhau, có bề rộng khoảng 11, 12cm. Mặt giấy đầu tiên và mặt giấy cuối cùng của trục thư thường bồi thêm một số tờ giấy cho dày, dùng làm bìa sách. Kiểu đóng này được đời sau gọi là “chiết trang” 折 裝 , “kinh chiết trang” 經 折 裝 , hay “Phạn giáp trang” 梵 夾 奘 .

Sách “chiết trang” dùng lâu ngày, các nếp gấp thường bị rách, sách đứt ra thành nhiều mảnh, mảnh trước dễ lẫn lộn với mảnh sau. Đến đầu thế kỷ X, nhân phát minh ra nghề in, các bản khắc ván có thể làm từng tấm một, người ta bèn nghĩ ra cách đóng sách gồm những tờ rời gọi là “sách diệp” 冊 葉, vừa khắc phục được mặt hạn chế của sách “chiết trang”, vừa tận dụng được khả năng in ấn đương thời. Kỹ thuật đóng sách từ “trục thư” chuyển sang “sách diệp”.

Sách diệp sau đó lại tiếp tục cải tiến qua nhiều thế kỷ, từ kiểu đóng “cánh bướm” (hồ điệp trang) đến kiểu đóng “bọc gáy” (bao bối trang), và cuối cùng, đến kiểu đóng bằng chỉ (tuyến trang) như hiện nay.

Từ “quy sách”, “giản sách” đến “bạch thư”, “trục thư” và cuối cùng là “chiết trang”, “sách diệp”... kỹ thuật đóng sách đã có những bước tiến rất dài!

Về tên gọi các bộ phận của sách cổ, ở đây xin giới thiệu những cách gọi thường gặp nhất:

1. Thư phẩm 書 @ (chất lượng sách): có nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Nghĩa rộng, gồm chất lượng của bản in lần đầu và các lần tái bản nếu có; các bản sao chép cũ và mới; khoảng cách giữa các dòng lớn hay nhỏ; có hay không có tựa, bạt, bìa sách, nhãn sách, dấu thư viện; các lời phê ghi trên sách là của nguyên tác hay của người đời sau; kỹ thuật đóng sách khéo hay vụng v.v.

Nghĩa hẹp, chỉ phần giấy phía ngoài khung trang sách và mức độ cũ nát của sách.

2. Biên lan 邊 欄 (khung viền trang sách): đường viền bên trên là “thượng lan” 上 欄 ; đường viền bên dưới là “hạ lan” 下 欄 ; đường viền bên trái là “tả lan” 左 欄 đường viền bên phải là “hữu lan” 右 欄 . Nếu đường viền chỉ có một vạch thì gọi là “đơn lan” 單 欄 hay “đơn biên” 單 邊 còn nếu là hai vạch thì gọi là “song lan” 雙 欄 hay “song biên” 雙 邊 .

Nếu bên trên và bên dưới đều là đơn biên , bên phải bên trái đều là song biên, thì gọi là “tả hữu song lan” 左 右雙 欄 hay “tả hữu song biên” 左 右雙 邊 . Nếu trên, dưới, phải, trái đều là song biên, thì gọi là “bốn phía đều song biên”. Trường hợp khung viền bốn chung quanh gồm một đường to và một đường nhỏ, thì gọi là “văn vũ biên lan” 文 武 邊 欄 .

3. Thư nhĩ 書 耳 (tai sách): chỉ ô hình chữ nhật ở góc trái của biên lan, dùng để ghi tên các thiên sách.

4. Bản tâm 版 心 (lòng sách): còn gọi là “bản khẩu” 版 口 hay “thư khẩu” 書 口 , chỉ khoảng giấy nằm giữa mặt a và mặt b của một tờ sách. Nếu ở phần giấy này có in vạch đen thì gọi là “hắc khẩu” 黑 口 , không in vạch đen thì gọi là “bạch khẩu” 白 口 . Vạch đen in dài và to thì gọi là “đại hắc khẩu” 1. Vạch đen in dài và to thì gọi là “đại hắc khẩu” 大 黑 口 , in ngắn và nhỏ thì gọi là “tiểu hắc khẩu” 小 黑 口. Phần vạch đen ở phía trên của bản tâm gọi là “thượng hắc khẩu” 上 黑 口 , phần vạch đen ở phía dưới gọi là “hạ hắc khẩu” 下 黑 口 . Bản tâm cả phía trên lẫn phía dưới đều có vạch đen, gọi là “thượng hạ hắc khẩu” 上 下 黑 口 . Nếu phía bản tâm có in chữ, thì gọi là “hoa khẩu” 花 口 .

5. Ngữ vĩ 魚 尾 (đuôi cá): chỉ ký hiệu có hình như đuôi con cá (......) ở bản tâm. Ký hiệu này thường xuất hiện ở nửa trên hoặc nửa dưới của bản tâm, dùng để đánh dấu chỗ gấp tờ sách thành hai mặt a và b. Nếu ở bản tâm chỉ có một ngư vĩ, thì gọi là “đơn ngư vĩ” 單 魚 尾 . Còn nếu cả phần trên lẫn phần dưới của bản tâm đều có ngư vĩ, thì gọi là “song ngư vĩ” 雙 魚 尾 .

6. Thiên đầu 天 頭 (đầu sách): còn gọi là “my đầu” 眉 頭 (mi sách), chỉ phần giấy trắng trên, ngoài biên lan.

7. Địa cước 地 腳 (chân sách): còn gọi là “hạ cước” 下 腳 (chân dưới), chỉ phần giấy trắng dưới, ngoài biên lan.

8. Thư não 書 腦 (não sách): chỉ phần giấy ở bên ngoài biên lan trái và phải, nơi dùng để dùi lỗ xâu chỉ khi đóng sách.

9. Thư bối 書 背 (lưng sách): còn gọi là “thư tích” 書 脊 , chỉ mặt lưng của một cuốn sách, ta thường gọi là “gáy sách”.

10. Phó diệp 副 葉 (tờ lót): chỉ những tờ giấy trắng dùng để lót ở phía sau bìa trước và bìa sau (thường trước 3 sau 2) với mục đích bảo vệ các tờ sách bên trong, nên còn gọi là “hộ diệp” 護 葉. Ngoài ra còn có thể dành những tờ giấy này để viết tựa (nếu là ở phía trước) hoặc bạt (nếu là ở phía sau) cho cuốn sách.

11. Phong diện 封 面 (bìa trong): ở các cuốn sách cổ, sau phó diệp, có tờ “phong diện” để ghi tên sách, tên tác giả, nơi in sách, tương đương với tờ “bìa trong” của sách hiện nay. Tác dụng của phong diện lúc đầu là nhằm góp phần bảo vệ các tờ sách bên trong, nhưng dần về sau đã mất đi mục đích này.

12. Thư bì 書 皮 (bìa sách): còn gọi là “thư y” 書 衣 (áo sách) “thư diện” 書 面 (mặt sách), chỉ lớp ngoài cùng, thường làm bằng bìa dày để bảo vệ sách.

13. Thư thiêm 書 簽 (nhãn sách): trên bìa sách, người ta thường dán thêm một tờ giấy hoặc một mảnh lụa để ghi tên sách cùng số quyển, gọi là “thư thiêm”, nhãn sách.

14. Trật 秩 (áo sách): đây là lớp bọc ngoài, thường làm bằng vải hay bằng lụa để bảo vệ các quyển trục. Một bộ sách cổ có thể gồm nhiều quyển trục, “trật” do đó còn có tác dụng làm cho các quyển sách khỏi bị lẫn lộn với nhau.

15. Hàm 函 (hộp sách): còn gọi là “hàm sáo” 函 套 , “thư sáo” 書 套 , “chỉ hạp” 紙 匣 , “mộc hạp” 木 匣 ... đều chỉ các loại hàm, hộp, tráp, túi... dùng để đựng sách.

Dưới đây là sơ đồ một tờ sách cổ, cùng tên gọi các bộ phận của nó (*).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tiêu Chấn Đường và Đinh Du Đồng: Trung Quốc cổ tịch trang đính tu bổ kỹ thuật, Thư mục văn hiến xuất bản, Bắc Kinh 1980.

2. La Mạnh Trinh: Trung Quốc cổ đại mục lục học giản biên, Trùng Khánh xuất bản xã, Trùng Khánh 1983.