 |

VỀ CÁC "LỚP" TỪ HÁN -VIỆT THẾ KỶ XVII (Qua "Từ điển Việt-Bồ-La" của Alexandre De Rhodes)
LÊ ANH HIỀN
Từ Hán - Việt là những từ gốc Hán, phát âm theo lối Việt, tức là phát âm "trại đi" (chữ dùng của Bùi Đức Tịnh - Văn phạm Việt Nam) theo sự chi phối của quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt (tất nhiên ở đây do phạm vi bài viết, chúng tôi không đặt vấn đề khảo sát) các từ gốc Hán cổ đã nhập vào tiếng Việt từ thời nhà Đường (Trung Quốc) trở về trước...).
Những ai đã từng quan tâm đến từ Hán - Việt hiện nay đều thấy rằng tuyệt đại đa số chúng là những từ song tiết (mà bài viết này khai thác chủ yếu về lớp từ này), chỉ một số không nhiều là từ Hán - Việt đơn tiết và từ 3 - 4 âm tiết). Cũng hiện nay, do tiếng Việt đã mượn toàn bộ hệ thống từ gốc Hán (mượn ở văn ngôn trong thời đại khoa cử, nhất là từ nửa sau thế kỷ XVIII trở đi, đặc biệt từ đầu thế kỷ XX và sau Cách mạng tháng Tám 1945, lúc tiếng Việt đã được sử dụng rộng rãi trong đời sống chính trị, văn hóa của nhân dân Việt Nam), thì từ Hán - Việt đã chiếm hơn 60% trong vốn từ tiếng Việt.
Song từ Hán - Việt thế kỷ XVII ở thời kỳ A.De Rhodes (chúng ta biết A.De Rhodes đã cùng một số các nhà truyền giáo châu Âu khác, có sự cộng tác của vài trí thức Việt Nam đương thời, song song với việc La - tinh hóa chữ Việt - trước đó đã có chữ Nôm là thứ chữ Việt "tiền La - tinh hóa") - đã tập hợp tài liệu và biên soạn một quyển từ điển giải nghĩa - đối chiếu đầu tiên ở Việt Nam, đối chiếu giữa tiếng Việt, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng La - tinh, thường được gọi là "Từ điển Việt - Bồ - La" xuất bản tại Rome (ý) năm 1651(*), thì do thực tế các mặt của đất nước Việt Nam lúc bấy giờ chưa được phát triển như về sau này và ông cha ta còn sử dụng hạn chế vốn từ gốc Hán đã biết (mặc dù lúc ấy các trí thức Việt Nam chủ yếu là các trí thức Nho học và nền giáo dục phong kiến đương thời là nền giáo dục Hán học, mà các thầy đồ dạy tư chữ Nho sống trà trộn với dân chúng ở làng quê và kẻ chợ, tuy rằng nền giáo dục ấy không phải là nền giáo dục thật sự phát triển rộng rãi, cho nên trong số 9.000 mục từ Việt của từ điển, cộng thêm hơn một vạn từ ngữ Việt khác được dẫn ra trong các mục từ, vì có liên quan đến nghĩa của các mục từ, thì chỉ có gần 500 từ Hán - Việt (song tiết) và thành ngữ Hán (chưa kể đến gần 300 từ Hán - Việt đơn tiết).
Cần nói thêm hai điều quan trọng sau đây:
1. Quyển từ điển của A.D.Rhodes còn được gọi là "Từ điển Annam hay Đông Kinh (Tonkin) diễn nghĩa bằng tiếng Lusitan và La tinh". Như vậy đó là quyển từ điển của tiếng Việt vùng Bắc Bộ thời ấy, mà hiện nay chúng ta cho là ngôn ngữ chuẩn hay ngôn ngữ toàn dân của đất nước. Đó là ngôn ngữ Đàng Ngoài, còn ngôn ngữ Đàng Trong lúc ấy, có những tiếng địa phương (miền Nam) tất nhiên chưa được đưa vào đây.
2. Trong bài nghiên cứu này, vì mục đích của người viết là để xác định hiện trạng từ nghĩa của các đơn vị từ ngữ Hán - Việt ở thế kỷ XVII, bên cạnh những đơn vị từ nghĩa khác của tiếng Việt, cho nên chúng tôi phần nào coi nhẹ mặt ngữ âm của một số đơn vị (từ Hán - Việt) mà tái lập nên cách đọc mà chúng tôi cho là đúng đắn, hợp lý của chúng. Chẳng hạn, có những từ mà từ điển đánh dấu giọng sai sót, nhất là các dấu ? / ~, chúng tôi đánh dấu giọng lại cho đúng. Hoặc các trường hợp khác, như: nguyên thỉ, vô thỉ, vô chung (viết đúng là thủy); hoan hủy (viết đúng là hỉ); khí giới (viết đúng là giới); kỷ cang (viết đúng là cương); lênh hồn (viết đúng là linh); đề lểnh (viết đúng là lĩnh); nhên nghĩa (viết đúng là nhân); thênh nhàn (viết đúng là thanh); phú sứ (viết đúng là phó) v.v. Còn những trường hợp khác nữa. Nói chung là để dễ nhận biết và dễ in... Chúng tôi chắc là có một số bạn đọc không đồng tình với cách làm này. Chúng tôi cho rằng có thể có một đề tài khác nghiên cứu riêng về mặt ngữ âm của các đơn vị Hán - Việt thế kỷ XVII. Đó là một đề tài cũng lý thú.
Bây giờ chúng ta đi vào nghiên cứu các "lớp" từ ngữ Hán - Việt thế kỷ XVII, qua từ điển A.D.Rhodes. Chúng tôi tạm phân chia những từ Hán - Việt này theo các "lớp" sau đây (nói "tạm", vì sự phân chia này là có tính chất tương đối thôi, còn có chỗ có thể phân chia cách khác).
1. Lớp từ Hán - Việt về hiện tượng tự nhiên - thiên nhiên:
a. Các loại vật, chim muông: Có những từ hiện nay vẫn được sử dụng: vạn vật, san hô, hổ mang, bạch mã (ngựa trắng), sư tử, lục súc (6 vật nuôi), hoàng anh, phượng hoàng, yến sào, cầm thú, tự nhiên. Có một từ hiện nay ít gặp là: bạch hạch: cò trắng (còn có nghĩa là một miền mà nơi ấy người ta thờ trời).
b. Các thảo mộc: Có nhiều từ hiện nay vẫn dùng: bạch đàn, thanh yên, thạch lựu, mã đề, thanh tiêu, đại hoàng (cây làm thuốc), đinh hương, trầm hương, cam thảo, nhân sâm, hồi hương, tàn hoa (hoa tàn). Có vài từ hiện nay ít dùng: cát nhàn: mộc hương miền Syrie; (hương) kỳ nam : loại gỗ thơm quý (gỗ Calamba), Thiên triều: trái táo Adam (còn có nghĩa: cục hầu). Còn có một từ: Chúc đài (cây cột lộ thiên có hương thơm trên đỉnh) hiện nay chúng ta cũng ít gặp.
c. Đá quý: Hổ phách, ngọc thạch.
d. Các hiện tượng thiên văn, hiện tượng tự nhiên: Có những từ hiện nay vẫn sử dụng: ngân hà, bắc đẩu (bắc cực); bắc thần (sao bắc đẩu), nhật thực, nguyệt thực, hồng thủy, đại hạn, quãng không (chính không khí), hào quang, thủy tụ (nước đọng), giáng hạ (rơi xuống trong không gian; sao giáng hạ), tây vực (miền tây
rộng lớn).
2. ở lĩnh vực chính trị - pháp lý:
a. Triều đình phong kiến; đế đô: Có các từ hiện nay vẫn dùng: hoàng đế; hoàng hậu; phò mã; cung phi; mỹ nữ. Có từ Thái quốc lão (mẹ của vua chúa) hiện nay ít thấy. Còn các từ khác vẫn dùng: kinh kỳ, kinh đô, lâu đài, các lâu (hay "lầu các"); (mũ) thiên triều: mũ của vua; tiếm vị (tranh ngôi vị chống lại nhà vua); mục bài (chiếu chỉ vua, viết trên bảng gỗ dựng đứng), cảo lệnh (làm chiếu chỉ), thứ dân, dân sự (thuộc hạ). Có các từ khác hiện nay ít dùng: Công triều: tước vị dùng để gọi con các vị tướng lĩnh; tứ vệ: Lính của vị vua trống không; câu đang: người quản lý công việc (hay "tài phú").
b. Các tầng lớp quan lại: Có các từ hiện nay vẫn sử dụng: chức tước : Đại thần, quận công, phủ đường, bố chính, đề đốc, nội thần (hoạn quan), trấn phủ xứ, chánh sứ, tòng sứ, phó sứ. Có khá nhiều từ khác hiện nay ít gặp: Cai cập: quan có thể ra hình phạt, quan trên; đề lĩnh: quan xét xử những vụ án bạo hành; lầu thú: vị quan đang cai trị; tiến thú: quan cai trị của tỉnh; lệnh sử: ký lục của quan xử kiện; ký nhân: ký lục, thơ lại của nhà vua; toàn sát: viên quan bắt đóng thuế ở cửa biển, cửa sông; sở cai: viên quan mà làng xã quen nộp thuế theo lệnh vua; lệnh sứ hay xá nhân: ký lục, thơ lại nhà vua (như ký nhân); tả phủ: viên quan bậc nhất đứng bên tả vua, chúa; hữu phủ: viên quan lớn đứng bên hữu vua, chúa; tham đốc: một viên quan nhỏ trong xã, làng; quan triều: viên quan bậc nhất; cập kệ: quan áp việc.
c. Cơ quan pháp luật: Có các từ hiện nay vẫn dùng: kỷ cương (phép nước), nha môn (nơi quan xử án). Nhưng có khá nhiều từ hiện ít gặp: nha đại: tòa án cấp 2, xử án cho toàn vương quốc; nha ti: tòa án cao cấp cho mỗi tỉnh; nha hiên: tòa án cấp 2, nhưng xử án cho toàn tỉnh; nha phủ: tòa án cho mỗi phủ; nha huyện: tòa án cho mỗi huyện.
d. Các hoạt động của phát luật: Có các từ hiện vẫn dùng: lệ luật (pháp luật), gia giảm, giải tội (tha tội), gia hình, gián cứu (bào chữa cho tội nhân). Còn có các từ hiện nay ít gặp: khảo lược: tra khảo bắt phải thú nhận; tam tai: hình phạt cho nhiều người; (nuôi) báo cô: đồ ăn do quan xử án quy định; khốn dân: hà hiếp dân.
3. Ở lĩnh vực thi cử, đỗ đạt và hoạt động trí tuệ:
a. Lĩnh vực thi cử: Có những từ quen biết đối với chúng ta hiện nay: Hương thí, Hội thí, Trạng nguyên, Hoàng giáp, Hương cống, Tấn sĩ (Tiến sĩ), Sinh đồ, đạo Nhu (đạo Nho). Có vài từ hiện ít gặp: cử kinh: dựa vào lời của sách; ngoại kỷ: một số sách mà học trò dùng để học văn chương.
b. Hoạt động trí tuệ: Lịch sử, sử ký, thiên văn, địa lý, mục lục (bảng chỉ dẫn); mục kính, công nghiệp (công trạng), thông ngôn, thông sự, giảng giải, thông minh, thánh hiền, quân tử, tiểu nhân, tứ thư, quan sát. Đó là các từ quen biết đối với chúng ta, còn có các từ hiện ít gặp: toan tước: toan tính; (quan) tư thiên: quan đứng đầu toán học; tính lý: bản chất có lý trí, triết lý; cử thủ: hai tay ấp lên ngực (?).
4. Lĩnh vực quân sự:
a. Quân đội: Có các từ hiện vẫn dùng: quyền binh (binh lính, binh quyền), tiên binh (đạo quân tiên phong), quân quốc (đạo quân của đất nước), tiền đạo, tập quân (luyện tập quân lính), giao chiến; loạn lạc hay loạn thâm.
b. Vũ khí, chiến thuyền: Khí giới, mã giáp (áo giáp), (xuy) hiệu khí (lên hiệu bằng tù và); hải đạo: thuyền chiến lớn có ba hàng chèo để vượt biển). Đó là các từ quen thuộc và ít quen thuộc.
5. Lĩnh vực xã hội:
a. Các tầng lớp xã hội: trong khi hiện nay chúng ta nói: địa chủ, nông dân, thì thế kỷ 17 nói: thổ chủ, canh phu và nông phu. Các từ quen biết khác là: hà hiếp, hiềm thù, bạo ngược, phú quý, hà tiện, ô uế, (kẻ) trượng phu, tình nghĩa.
b. Tệ nạn xã hội: gian dâm, dâm dục, tà dâm, gian giảo, gian xảo, ác nghiệp, hối lộ hay thụ lộ, thất nghiệp, hoả hoạn, sát nhân, gian tà, ác tâm, gian tham. Có những từ khác hiện ít dùng: binh bải: người lừa dối, bịp bợm; hoạn nhân: người bị thiến, thâu đạo: người ăn trộm; đạo kiếp: bọn ăn cướp; hoa nương: con điếm; (kẻ) bần nhân: người ăn xin; tán tài: bị mất hết của cải; mệnh trọng: khao khát được chức quyền, danh vị.
c. Mê tín, dị đoan: phù thủy, oan gia, quỉ thần, ma quỉ, ma cô, quỉ quái, âm phủ, dương thế, (xin) âm dương. Có vài từ hiện ít gặp: bảo thai: bùa những người đàn bà thực hiện để khỏi sẩy thai; vô thường: quỷ thần mà người già sợ hãi.
d. Lĩnh vực tâm linh: chiêm mộng; phận số; số hệ, phận mệnh, mầu nhiệm, nhãn tiền. Có một từ hiện ít gặp: mặc số: hợp với chính số mệnh của mình.
e. Về lễ hội: đoan ngũ (đoan ngọ), (ăn) trung thu. Có khá nhiều từ khác hiện ít dùng: khánh tán: một thứ đại lễ kính các tượng thần; Tế kỳ đạo: lễ tế long trọng vị thần làm chủ các chiến thuyền; đình liệu: đuốc tre to đốt vào dịp Tết; minh tinh: lá cờ lớn mang đi trong đám tang; đạo lộ thần quan: tế lễ mà người ta dâng cúng trước khi lên đường; cửu phẩm: một thứ tháp có 9 tầng để thờ cúng; thiêu ma: đốt xác chết.
6. Lĩnh vực tôn giáo:
a. Thiên chúa giáo: Có nhiều từ hiện nay vẫn gặp: thiên chủ, thiên đàng, chủ nhật, địa ngục, thượng đế, tông đồ, thượng giới, hạ giới, thế giới, khẩu nguyện, phù hộ, linh thiêng, linh hồn, sám hối, phục sinh, tận thế, thiên thần (đấng) cứu thế, thông công (sự thông hiệp của các thánh). Không có từ nào hiện nay ít gặp. Thật ra, là do Thiên chúa giáo có chiều hướng phát triển, vì thế, từ ngữ không cũ đi, không mất đi.
b. Tôn giáo địa phương thần giáo: Thổ thần, hậu thổ, hoàng thiên, chiêu hồn, chư tướng, chư thần, chư phật, tam giáo, trầm luân, pháp môn, thiên phủ, địa phủ, thủy phủ, luân hồi, tiên sư, trừ tà, cô hồn, tà đạo, hung thần, thần tiên, tu hành, ngọc hoàng, vô đạo, thần kỳ, thổ chủ, thành hoàng, hư vô, uy nghi, ấn quyết, phục hồn (gọi hồn). Có vài từ ngày nay ít gặp: thổ kỳ: thần đất; linh thần: thần linh, sư tướng: quỷ thần chữa bệnh; sinh hồn: hồn cây cối; (bàn) tiên sư: bàn thờ tổ; giác hồn: hồn con vật.
7. Lĩnh vực giao thông - hàng hải - thương mại:
Có những từ hiện nay vẫn sử dụng: (thuyền) tam bản, địa bản, bản đồ, nam châm; các từ khác hiện ít dùng: chính bắc: đồng hồ bóng mặt trời chỉ hướng bắc của người thủy thủ; đài đảm: gánh, phu gánh, thiết để: móng ngựa bằng sắt; (đi) kiết lỵ: đi cách vội vàng, không lúc nào ngừng; tài phú: viên ký lục của tàu thuyền, người được giao phó của cải, hàng hóa; thắng đới: dây chằng quanh lưng ngựa; trác ảnh: đồng hồ mặt trời; hổ giảng: hoa tiêu.
Về thương mại, chỉ có vài từ tương đối quen thuộc đối với chúng ta: khách thương: người buôn bán; phố xá: cửa hàng bán lẻ đủ thứ.
8. Lĩnh vực nghệ thuật - xây dựng kiến trúc - nghề nghiệp:
a. Lĩnh vực nghệ thuật: Có một số từ hiện vẫn còn dùng, nhưng ý nghĩa có hơi khác: trang điểm: làm cho đẹp hơn lên; hình tượng: bức tượng. Có vài từ khác hiện ít quen thuộc: cổ thủ: người thổi sáo hay người chơi đàn trong các cuộc lễ; cẩu vương (vua chó): một loại tượng thần.
b. Xây dựng kiến trúc: có vài từ hiện ít dùng: giao gia: thanh tre đặt trên mái nhà, để giữ cho gió khỏi làm bay mái; ngọc thủy ngân: kính trong suốt; long thái: rộng lớn.
c. Nghề nghiệp: Có một số từ hiện vẫn được dùng: mục đồng, ngư ông, nông phu, tiều phu, một vài từ khác có thể hiểu được, nhưng hiện ít dùng: canh phu: người đi cày, người làm ruộng; mục nhân: người chăn (trâu, bò); thiều phu: người bán gỗ. Có một từ hiện vẫn thường dùng nhưng nghĩa hoàn toàn khác: am hiểu: người thợ hoàn hảo, tinh vi (?)
9. Lĩnh vực gia đình, họ mạc- về nhân phẩm:
a. Lĩnh vực gia đình: Có các từ hiện vẫn gặp: từ mẫu, kế mẫu, dưỡng mẫu, thứ mẫu, sinh thành, sinh sản, sinh nhật, thân thích, tổ tông (hay tổ nể), chính thê, hậu sinh, tử đệ, hòa thuận, hiếu thảo, thủ tiết, nam nhi. Không có từ nào hiện ít gặp.
b. Về nhân phẩm: Có khá nhiều từ hiện vẫn được dùng: đạo đức, phúc đức, nhân đức, công đức, công bằng, nhân nghĩa, nhẫn nhục, thanh nhàn, lịch sự, thể thống, quân tử, tiểu nhân, kính trọng, tôn kính, uy nghi, kết nghĩa, hối tội, bất nghĩa, vu oan, hiềm oán. Có một số từ hiện ít gặp: Khang khanh: làm đúng, làm tốt; khích nghịch: oán ghét; an nghiêm: hòa bình và an dân.
1 0. Lĩnh vực sức khỏe, y tế:
Có những từ hiện vẫn dùng: thân thể, lực sĩ, trượng phu, lương y, tật nguyền, phong đàm, áp nhãn, yết hầu, thông manh, hài cốt. Một số từ khác hiện ít gặp: trượng mạo: người cao lớn, rắn rỏi; cốt ký: bệnh tê thấp; liệt lào: đau ốm; (chửa) trùng táng hay liên táng: chửa đẻ không bình thường; vi thang: thuốc độc; thí biểu: bứu thịt.
11. Lĩnh vực tâm lý, tình cảm - Đặc tính của sự vật:
a. Về tâm lý - tình cảm: Có những từ hiện vẫn dùng: hoan hỉ, sầu não, quyến luyến, khâm sũng, khoan thai, kiêu ngạo (kiêu hãnh); thịnh nộ, kinh khủng, hồ nghi, phản nghịch. Có vài từ hiện khá xa lạ đối với chúng ta: tâm thức: nổi nóng (?); Tố lộ: cách công khai.
b. Đặc tính của sự vật: Có các từ hiện vẫn sử dụng: trùng điệp, vô cùng, vô biên, vô lạng, vô số, vô hồi, bội phần, cao minh, yên ổn, thanh tịnh, trang nghiêm, trọng vọng, thanh nhàn. Có một số từ đối với chúng ta không xa lạ nhưng có nghĩa hơi khác: đích xác: vụng về, lôi thôi; quang cảnh: cảnh sáng sủa, quang đãng; đại minh: lớn và sáng.
12. Cuối cùng, cũng cần nhắc đến các thành ngữ Hán - Việt, những thành ngữ này hiện nay vẫn gặp: khai thiên lập địa, hữu thủy vô chung, vô thủy vô chung, đa hành ác nghiệp, tạo thiên lập địa, hằng hà sa số, thượng hòa hạ mục, thiên phủ địa tải, sinh ký tử quy, sinh tử bất kỳ, hoàng thiên hậu thổ (vua trời chúa đất, để nói đến quyền của chủ), thiên viên địa phương (trời tròn đất vuông). Chúng ta có cảm tưởng những thành ngữ này được thu nhặt qua lời nói của các ông đồ đương thời. Có một số thành ngữ hiện không sử dụng, vì nói những điều không phổ biến: phần thư khanh nhu : đốt sách chôn học trò (để nói về Tần Thủy Hoàng); thiên sinh nhân, nhân thành thiên: trời sinh người, người thành trời (một triết lý phương Đông).
* * *
Đến đây, chúng ta nói về một số cách giải nghĩa trong từ điển và đôi lời kết luận.
1. Qua bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính (Nxb. KHXH, H. 1991), chúng ta có thể ghi nhận một số cách giải nghĩa trong từ điển như sau:
a. Khá nhiều từ ngữ được giải nghĩa một cách súc tích, nhưng phản ánh nội dung sâu sắc. Ví dụ: luân hồ i (loan hồi): sự chuyển sinh của linh hồn, linh hồn: hồn có lý trí; vạn vật : muôn vật, trừ trời, đất và người; địa ngục: nhà tù dưới đất; hoa nương: con hoa (con huê), con điếm, đĩ điếm; tự nhiên: tự chính nó như vậy, v.v...
b. Có những từ giải nghĩa đơn thuần theo nghĩa của từng yếu tố tạo nên nó, có khi nghĩa đó còn gượng ép. Ví dụ: cam thảo: rễ ngọt; thiên đường (đàng): nhà trời; thiên hạ: dưới trời (khắp hoàn cầu); đại minh: lớn và sáng; quang cảnh: cảnh sáng sủa, quang đãng, v.v...
c. Có khá nhiều từ giải nghĩa theo cảm tính, theo cách hiểu giản đơn. Ví dụ: ác nghiệp: chơi bời, trộm cướp; tội nghiệp: hình phạt của tội; ngư ông: người câu cá bằng thuyền; tật nguyền: bệnh kinh niên; thanh nhàn: có phúc; hình tượng: bức tượng; tiểu nhân: con người đê tiện; quân tử: người khôn ngoan, biết chữ; oan gia: kẻ thù nghịch; thịnh nộ: giả vờ giận; nhân nghĩa: tình bằng hữu; hài cốt: xác chết; thất nghiệp: kiếm ăn bằng của bố thí (còn Kỷ bần nhân mới là người ăn xin), v.v...
Nói chung, do khoa từ điển học đương thời chưa phát triển, do nhận thức xã hội chưa sâu sắc, cho nên việc hiểu nghĩa một số từ ngữ còn thô sơ, nông cạn và có phần sai lệch.
d. Ngoài ra, không hiểu là do sai sót gì (trong việc sắp xếp từ, trong in ấn ?) mà có một số từ được giải nghĩa rất lạ đối với chúng ta. Ví dụ: đích xác: vụng về, lôi thôi; thể thống : quảng đại; am hiểu: người thợ hoàn hảo, tinh vi, v.v.
2. Dù sao, qua tất cả những sự phân tích, nghiên cứu trên đây, chúng ta thấy chỉ riêng về mặt từ ngữ Hán - Việt thôi, quyển từ điển của A.D.Rhodes cũng là một kho tàng vô giá về mặt ngôn ngữ, xã hội và văn hóa của đất nước Việt Nam thế kỷ XVII.
CHÚ THÍCH
(1). Alexandre De Rhodes: "Từ điển Annam- Lusitan-Latin" (bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính), Nxb. KHXH, H.1991.
|