3903. TRÍCH CẨM VỰNG BIÊN摘錦彙編
soạn.
17 bản in, 1 mục lục.
VHv. 874, VHv. 1650: Liễu Hợp Đường in năm Minh Mệnh 7 (1826), 140 tr., 26 x 15 (Q1).
AC. 231: Úc Văn Đường in năm Minh Mệnh 2 (1827), 290 tr., 26 x 16 (đủ 4 Q, theo Mục lục).
VHv. 873/1: Hữu Văn Đường Thiệu Trị 2 (1842), 108 tr., 27 x 16 (Q1).
AC. 587, VHv. 368: Mĩ Văn Đường in năm Thiệu Trị 4 (1844), 232 tr., 25.5 x 15.5 (đủ 3 Q, theo Mục lục).
VHv. 872/1, VHv. 873/2: Mĩ Văn Đường in năm Thiệu Trị 4 (1844), 108 tr., 27 x 15 (Q1).
VHv. 872/2: Mĩ Văn Đường in năm Thiệu Trị 4 (1844), 124 tr., 25.5 x 15 (Q2, Q3).
AC. 327, VHv. 870, VHv. 871, VHv. 1258: Đa Văn Đường in năm Tự Đức thứ nhất (1848), 286 tr.,25 x 14 (đủ 3 Q, theo Mục lục).
VHv.1911: Đa Văn Đường in năm Tự Đức thứ nhất (1848), 122 tr., 24 x 14 (Q1).
VHv. 1912: Đa Văn Đường in năm Tự Đức thứ nhất (1848), 160 tr., 24 x 14 (Q3, Q4).
VHv. 434/1: Du Hợp Đường in năm Tự Đức ất Hợi (1875), 108 tr., 26 x 15.5 (Q1).
VHv. 434/2: Du Hợp Đường in, 150 tr., 27 x 15.5 (Q2, Q3).
Những câu chữ đối nhau, được xếp thành các mục: trời, đất, núi, sông, mặt trời, mặt trăng, gió, mây, long, lân, quy, phượng, triều, đô, thành, phong tục, nhân dân, giáo hóa, văn võ v.v. dùng làm văn liệu, thi liệu.
(*) Từ một số câu trong sách như “Chu tước lâm Lãng Bạc chi hồ thiên tầm bách luyện; Huyền vũ châm Nhĩ Hà chi thủy vạn khoảnh bích ba’’ - Chữ “Lãng Bạc’’, “Nhĩ Hà’’ đều là tên Việt Nam – có thể thấy Trích cẩm vựng biên là tác phẩm do người Việt Nam biên soạn.
|
|
-
Đang online:
1
-
Hôm nay:
1
-
Trong tuần:
1
-
Tất cả:
1
|
|