VI | EN
Thượng tướng Việp công Hoàng Ngũ Phúc (Tạp chí Hán Nôm, Số 2(99) 2010; Tr. 31-37)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 2(99) 2010; Tr. 31-37)

THƯỢNG TƯỚNG VIỆP CÔNG HOÀNG NGŨ PHÚC

PGS.TS. TRỊNH KHẮC MẠNH

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Hoàng Ngũ Phúc (黃五福) người xã Phụng Công huyện Yên Dũng trấn Kinh Bắc (nay là xã Tân Mĩ huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang), ông sinh năm Quí Tị (1713) và mất năm Bính Thân (1776)(1), người có công lớn trong việc đánh dẹp các cuộc nổi dậy ở Đàng Ngoài và là một chỉ huy có tài trong cuộc Nam chinh.

Hoàng Ngũ Phúc sinh ra trong một gia đình làm nghề nông, sớm bộc lộ tài năng và là người có nhiều mưu kế, lúc trẻ ông được làm Giám quan hầu trong cung. Cuộc đời quan trường của ông bắt đầu từ năm Canh Thân (1740) khi được phong làm Tả Thiếu giám tước Việp Trung hầu, rồi thăng đến Nội sai Hình phiên.

Khoảng giữa thế kỉ XVIII, bấy giờ ở Đàng Ngoài các cuộc nổi dậy nổ ra liên tiếp khắp nơi, như nổi dậy của Nguyễn Hữu Cầu từ năm 1741 đến năm 1751, nổi dậy của Hoàng Công Chất từ năm 1739 đến năm 1769, nổi dậy của Nguyễn Danh Phương từ năm 1740 đến năm 1751 và nổi dậy Lê Duy Mật từ năm 1738 đến năm 1770, v.v... Trong thời buổi hỗn loạn đó, cũng may là có tướng quân Hoàng Ngũ Phúc xuất thế, rồi Bắc chiến, Đông phạt, Tây hành và Nam chinh để giữ vững vương triều cùng giang sơn đất nước trong một thời gian khá dài.

Cuộc đời binh nghiệp và chinh chiến của Hoàng Ngũ Phúc được bắt đầu hết sức vẻ vang, sách Đại Việt sử kí tục biên ghi: “Tháng 2 (năm 1743), cho Tả Thiếu giám Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc làm Đốc lĩnh đạo Kì binh. Hoàng Ngũ Phúc dâng lên 12 điều về binh pháp và được chúa Trịnh Doanh chấp thuận saiđưa ra thi hành. Nhân đem binh pháp ấy hiểu thị cho Thống tướng đạo chính binh là Hoàng Công Kỳ”(2).

Từ đó, Hoàng Ngũ Phúc luôn được các chúa Trịnh tin dùng và cử đi chinh chiến khắp nơi, đánh dẹp các cuộc nổi dậy. Và nghiệp binh của Hoàng Ngũ Phúc rất vẻ vang, chiến công của Hoàng Ngũ Phúc rất hiển hách, ông luôn đem lại chiến thắng lẫy lừng để bảo vệ vững chắc vương triều vua Lê - chúa Trịnh.

Để dẹp được các cuộc nổi dậy vào giữa thế kỉ XVIII cũng như tiến đánh phía Nam, các chúa Trịnh phải cần đến những người có trí thông minh, có tài thao lược, giỏi dùng binh. Một trong số những người xuất chúng đó có Việp công Hoàng Ngũ Phúc. Nhận định này có thể chứng minh qua các một số sự kiện lịch sử mà Hoàng Ngũ Phúc là một trong những nhân vật đóng vai trò quan trọng trong những thành công ấy, đó là:

Sự kiện thứ nhất: Vào tháng 6 (năm 1744), Hoàng Ngũ Phúc vây đánh giặc ở Đồ Sơn, thắng trận. Nguyễn Hữu Cầu trốn lên sông Thọ Xương trấn Kinh Bắc, đắp lũy dọc theo hai bờ sông từ Quế Nham ở thượng lưu đến Khê Kiều ở hạ lưu đều đóng cọc gỗ. Dưới sông bày chiến thuyền hơn 100 chiếc. Đồn lũy liên lạc với nhau. Quan quân lo sợ không dám đánh.Bọn Trần Đình Miên tiến quân…, bị giặc đánh toàn quân tan vỡ. Hoàng Ngũ Phúc nghe nói vùng Bắc thất thủ, liền đem quân theo sông Nguyệt Đức đến đóng ở Võ Giàng… Tháng 7 (năm 1744), ông dâng khải tâu rằng: "Nguyễn Hữu Cầu sau khi bị thua, đồ đảng phân tán, thế dễ đánh. Nếu được voi khỏe đi cùng, giúp uy thế cho quân, thần sẽ lùa voi xông đánh, khiến cho địch đầu đuôi không cứu được nhau, thì ta có thể chắc thắng”... Hoàng Ngũ Phúc đem quân chặn ngang dòng sông, hợp cả 5 đạo quân, 10 viên đại tướng, quân sĩ hơn 12 ngàn người. Dân huyện Yên Thế xin dâng một vạn bát gạo làm lương quân. Chúa Trịnh ban khen và đem gạo ấy thưởng cho quân sĩ. Sau đó, Nguyễn Hữu Cầu liền vây và chiếm doanh trại Thị Cầu. Tháng 12 (năm 1744), Hoàng Ngũ Phúc đánh tan quân Nguyễn Hữu Cầu ở mặt Thị Cầu. Nguyễn Hữu Cầu bị thua, sang sông chạy lên phía Bắc, quân triều đình được giải vòng vây. Chúa Trịnh Doanh bổ dụng Hoàng Ngũ Phúc làm Quyền trấn Kinh Bắc, sau đó cho làm Thống lĩnh Bắc lộ(3).

Sự kiện thứ hai: Vào tháng Giêng (năm 1745), Lưu thủ Thái Nguyên là Văn Đình Ức thu phục trấn thành. Trước đây dòng họ Mạc đã phá Võ Nhai, Thái Nguyên thất thủ. Chúa sai Văn Đình Ức tiến đánh và hội cùng quân Hoàng Ngũ Phúc thẳng tiến đến Thái Nguyên, quân Mạc trốn, bèn lấy lại trấn thành(4).

Sự kiện thứ ba: Mùa xuân tháng Giêng (năm 1750), Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Đình Trọng đại phá Nguyễn Hữu Cầu và Hoàng Công Chất ở miền Đông Nam. Hoàng Công Chất bỏ chạy vào Thanh Hóa. Nguyễn Hữu Cầu chạy vào Nghệ An. Phạm Đình Trọng đem quân đuổi theo. Chúa Trịnh triệu Hoàng Ngũ Phúc về Kinh bàn định kế sách thân chinh miền Tây(5).

Sự kiện thứ tư: Tháng 11(năm 1750), bàn đem đại quân chinh phục mặt Tây. Sai Hoàng Ngũ Phúc triệu tập quan quân các đạo và quân sĩ các xứ ở bờ sông Bồ Đề… Chúa sai Tả quân Hoàng Ngũ Phúc cùng Luyện Quận công Đỗ Thế Giai định 37 điều quân lệnh yết thị cho quân sĩ… Tháng 12 chúa Trịnh đem việc chinh phạt tâu vua. Giờ Dậu xuất quân. Triệu Hoàng Ngũ Phúc đến ủy cho quyền "Tri quân vụ" coi quân binh(6).

Sự kiện thứ năm: Chúa Trịnh Doanh mất. Bấy giờ (tháng 5 năm 1767) Lê Duy Mật đã giữ Trấn Ninh,…, nghe tin Trịnh Sâm nối ngôi chúa, nhân cơ hội đánh phá địa phương các huyện Hương Sơn, Thanh Chương xứ Nghệ An… Tin báo đến chúa sai Nguyễn Nghiễm làm Hiệp đốc cùng Bùi Thế Đạt hội bàn đánh dẹp. Quan quân tiến đánh, quân Lê Duy Mật lui chạy. Chúa nghĩ không trừ được Lê Duy Mật thì hai xứ Hoan (Nghệ), Ái (Thanh) vẫn bị ngáng trở. Bèn cùng Hoàng Ngũ Phúc mật bàn (kế dẹp loạn)… Thăng và trao chức tước cho các quan… Cho Hoàng Ngũ Phúc tước Công một chữ… Lại gia cho Hoàng Ngũ Phúc là Dực vận Đồng đức công thần(7).

Sự kiện thứ 6: Tháng 4 (năm 1774), lúc đó Hoàng Ngũ Phúc đã 62 tuổi và xin nghỉ hưu, được đồng ý, cho làm Quốc lão và gia phong hai chữ Công thần… Nhưng Quận Việp chưa về đến nhà. Chúa Trịnh đặc sai Quận Việp làm Bình Nam Thượng tướng quân, thống xuất tướng sĩ các cơ hiệu đội 23 dinh và thủy binh các đạo Thanh, Nghệ vào Nam, đi trước đến Nghệ An… Tháng 12 (năm 1774), Quận Việp vượt sông Gianh, bèn làm tờ hịch kể tội ác của Trương Phúc Loan… Tháng 2 (năm 1775) Hoàng Ngũ Phúc tiến đến thành Phú Xuân. Bề tôi cận thần của chúa Nguyễn đến cửa quân xin hàng… Tháng 5 (năm 1775) Hoàng Ngũ Phúc tiến đến dinh Quảng Nam, đưa thư về Kinh báo tin thắng trận… Tháng 7 (năm 1775), Hoàng Ngũ Phúc tiến quân đến Châu Ổ, đi đứng phải có người nâng đỡ… Hoàng Ngũ Phúc ở Châu Ổ ngày càng suy yếu nhưng vẫn cố gắng làm việc. Nguyễn Văn Nhạc dẫu biết Hoàng Ngũ Phúc ốm, nhưng không dám làm gì… Tháng 11 (năm 1775), Hoàng Ngũ Phúc dâng khải nói rằng: “Điều tai họa của thiên hạ chẳng gì lớn hơn là không đủ sức mà cố làm. Thuận Hóa đã dẹp yên, thế cũng nguôi giận. Nay quân sĩ mấy năm liền bị sai phái mãi, nào vận lương, nào đánh giặc, người ở nhà, người đi đều mệt mỏi. Xin để Quảng Nam ra ngoài sự suy nghĩ, sau này sẽ tính... Khiến cho binh dịch nhẹ gánh, nhân dân nghỉ vai. Sau một vài năm, lòng người ở Thuận Hóa đã ổn định, tài lực có thể dùng, bấy giờ mưu đánh Quảng Nam mới đủ sức”. Chúa Trịnh nghe theo(8). Sau đó Hoàng Ngũ Phúc phát bệnh nặng. Và Đại Việt sử kí tục biên ghi: “Ngày 17 [6/3/1776] Hoàng Ngũ Phúc mất ở trên thuyền tại Vĩnh Dinh trấn Nghệ An. Tin về đến Kinh, chúa Trịnh thương khóc mãi không thôi. Nghỉ chầu 3 ngày. Sai đem 5 thuyền đến hộ tang về Bắc an táng. Cho tên thụy là Trung Chính. Cấp cho tiền thuế của 5 xã, mỗi năm 1 nghìn quan để thờ cúng. Gia phong là Ưu vọng Tài trí Thượng đẳng Phúc thần, lại cho thờ phụ ở miếu đình”(9).

Do có công lao đặc biệt, triều đình cho phép Hoàng Ngũ Phúc xây sinh từ ở làng quê Phụng Công và cử Thượng thư Nguyễn Nghiễm viết bài kí ghi lại, bi kí và sinh từ thờ ông hiện vẫn còn, đã được xếp hạng di tích quốc gia năm 1993.

Vua Lê, chúa Trịnh đánh giá rất cao công lao to lớn, đức độ hơn người và uy danh lừng lẫy của tướng quân Hoàng Ngũ Phúc, từng ban cho ông tước phong chỉ một chữ “Công”. Vua Lê Hiển Tông từng viết về Hoàng Ngũ Phúc như sau: “Vâng điềm trời mà trị vì, mong mở cõi bờ qui thuận. Ban sắc mệnh để đền báo, nên làm điển lệ vô tư. Nghĩ đến công trạng phi thường, nên ban ơn vinh vượt mức. Ngày lành đã chọn sắc mệnh bèn ban. Ông là lâm lang ngọc quí, dự chương gỗ tốt. Giùi mài văn võ lược thao, hiểu được phép 7 thiên màu nhiệm (7 sách về quân sự của Trung Hoa). Thấm nhuần cổ kim thư sử, xem đủ Tứ khố toàn thư. Từ khi gặp chúa thỏa chí làm quan, quản lĩnh quân thủy bộ, đủ nhân nghiêm trí dũng để cầm quân. Theo hầu chính sự bình phiên, lấy cẩn thận trung thành làm việc. Truyền đạt đều tín, sai bảo được việc. Ở trong làm nội thần giúp sức, ra ngoài làm lương tướng lập công. Vừa rồi góc biển sóng cồn, một buổi 5 lần thư cáo cấp, bèn đem quân đội đi đánh, đến nơi ba quân phải giật mình. Trước sau tùy cơ điều khiển, đông nam lần lượt dẹp yên... Mưu quyết thắng hơn người rất là huyền bí, lòng trung trinh báo nước sáng như mặt trời... Lòng ta vui một buổi, ông được tiếng muôn đời”(10). Chúa Trịnh Sâm coi Hoàng Ngũ Phúc là người tâm phúc và đánh giá rất cao tài năng dẹp loạn của ông, chúa Trịnh Sâm cho rằng tài dùng binh của Hoàng Ngũ Phúc đương thời không ai có thể thay thế được. Chúa Trịnh Sâm tự tay viết trát dụ Hoàng Ngũ Phúc rằng: “Ông là cột đá của nhà nước, ta dựa làm tâm phúc, thân như ruột thịt. Bất đắc dĩ phải sai đi dẹp loạn, cũng bởi không có ai thay được”(11). Trong một bài trát dụ khác, chúa Trịnh Sâm lại viết: “Ông là trọng thần của xã tắc, quan hệ đến sự an nguy của nước nhà. Nhiều lần ta muốn đón ông về điều dưỡng, chỉ vì Thuận Hóa mới yên, nhân dân mới theo, việc đánh giữ và vỗ yên cần phải nhờ vào mưu hay của ông. Nếu không phải là người đức vọng tài trí, chưa dễ trấn phục được. Tìm người thay ông cũng khó”(12).

Và khi Hoàng Ngũ Phúc mất, các quan đương triều phúng viếng câu đối ca ngợi tài đức của ông có đến gần trăm câu. Trong cuốn Tây triều công quán đối liên (A.2379 - Viện Nghiên cứu Hán Nôm) dưới đề mục Lê thần tang sự đối liên (Câu đối phúng viếng bề tôi triều Lê), có ghi lại 15 đôi câu đối viếng Hoàng Ngũ Phúc. Trong số 15 câu đối này, có câu ghi tên người soạn, có câu không ghi tên người soạn, song ta có thể thấy đây là những người làm quan cùng thời với Hoàng Ngũ Phúc soạn ra. Nội dung của các câu đối rất sinh động, ca ngợi tài năng, đạo đức của Bình Nam Thượng tướng quân Việp công Hoàng Ngũ Phúc. Ví dụ như:

呂尚未知年八十

孟常猶有客三千

Phiên âm:

Lã Thượng vị tri niên bát thập,

Mạnh Thường do hữu khách tam thiên.

Dịch nghĩa:

Lã Thượng chưa hề biết mình đã tám mươi tuổi,

Mạnh Thường còn có ba nghìn môn khách.

Chú thích:

Câu đối này ca ngợi tài năng của Hoàng Ngũ Phúc sánh ngang với các nhân vật đã đi vào lịch sử Trung Hoa. Lã Thượng tức Lã Vọng, công thần đời nhà Chu, vốn họ Khương tên Thượng tự Tử Nha, khi 80 tuổi vẫn câu cá ở bờ sông Vị mà chưa ra giúp đời, sau ra giúp cha con Văn Vương làm nên nghiệp bá. Còn Mạnh Thường họ Điền tên là Văn, sống vào thời Chiến Quốc, nổi tiếng về lòng hiếu khách, môn hạ thực khách của ông đông đến mấy nghìn người, ông có tài thao lược khiến các nước chư hầu tin dùng, được ban là Mạnh Thường Quân.

Hoặc như đôi câu đối mang âm hưởng của một vị anh hùng dân tộc vốn được thờ tại nhiều đình làng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ mà ta chúng vẫn thường gặp:

功在國家生不偶

名留史策死猶存

Phiên âm:

Công tại quốc gia sinh bất ngẫu,

Danh lưu sử sách tử do tồn.

Dịch nghĩa:

Công lao đối với quốc gia, lúc sống không ai sánh bằng,

Tên tuổi ghi lưu sử sách, khi mất vẫn còn trường tồn.

Tướng quân Hoàng Ngũ Phúc là một trong những trọng thần của nước nhà, làm quan thời loạn mà được vua yêu chúa mến, quan quân mến phục, bạn bè kính mến chắc hẳn ông phải là người tài trí hơn người, đức độ nhân hòa, một lòng vì quốc gia đại sự. Thân thế và sự nghiệp của Hoàng Ngũ Phúc được ghi lại trong nhiều tài liệu Hán Nôm hiện đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và ở nhiều tàng thư khác, như: Đại Việt sử kí tục biên 大越史記續編, Lịch triều tạp kỉ 歷朝雜紀, Lịch triều hiến chương loại chí 歷朝憲章類誌, Khâm định Việt sử thông giám cương mục 欽定越史通鑑綱目, Bình Nam thực lục 平南實錄, Bình Tây thực lục 平西實錄, Bình Hưng thực lục 平興實錄, Bình Ninh thực lục 平寧實錄, Cẩm tuyền vinh lục 錦旋榮錄, Đối liên thi văn tập 對聯詩文集, Tế văn đối liên thi ca tạp sao 祭文對聯詩歌雜抄, v.v...

Bên cạnh sự nghiệp vẻ vang về quân sự, Hoàng Ngũ Phúc đã để lại một số bài thơ, bài văn hiện còn ghi chép trong các tác phẩm Hán Nôm. Những tác phẩm của tướng quân Hoàng Ngũ Phúc còn lại không nhiều, nhưng là những tư liệu rất có giá trị khi nghiên cứu tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp, tư tưởng và nhân cách của Việp công Hoàng Ngũ Phúc. Chúng tôi xin nêu một số tác phẩm như sau:

- Một là, trong sách Đại Việt sử kí tục biên, lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn ghi 2 bài hịch dụ viết bằng chữ Nôm có thể là Hoàng Ngũ Phúc: một bài viết để động viên nhân dân xứ Nghệ An thêm sức người sức của cho cuộc hành chinh về phía Nam, một bài dụ quân dân hai xứ Thuận Quảng. Chúng tôi dùng hai chữ "có thể"(13) vì hai bài dụ này Hoàng Ngũ Phúc sai quan viên viết, nhưng nội dung tư tưởng là của ông, ý chí kiên cường là của ông và tình cảm đối với nhân dân là của ông. Và hịch kể tội Trương Phúc Loan cùng nhiều thư từ của Hoàng Ngũ Phúc.

- Hai là, 1 bài thơ mừng người bạn đồng liêu Nguyễn Đức Vĩ, Tiến sĩ khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái thứ 8 (1727) đời Lê Dụ Tông, về trí sĩ khi thọ 65 ghi trong Tộc phả của dòng họ Nguyễn Đức xã Phật Tích huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh mà nhà nghiên cứu Duy Phi sưu tầm được và công bố trên Tạp chí Hán Nôm, số này.

- Ba là, trong sách Cẩm tuyền vinh lục, lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm có chép hai bài thơ của Việp công Hoàng Ngũ Phúc mừng bạn quan trong triều trong dịp họ về trí sĩ.

Chúng tôi xin công bố hai bài thơ này:

Bài thứ nhất, Hoàng Ngũ Phúc tặng Mai Danh Tông, người xã Cao Lãm huyện Sơn Minh (nay thuộc huyện Ứng Hòa Tp. Hà Nội) đỗ Tiến sĩ năm Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh thứ 3 (1731), làm quan đến chức Hiệu thư, tước Lãm Sơn hầu. Bài thơ này Hoàng Ngũ Phúc làm trong thời gian đang giữ chức Trấn thủ xứ Sơn Nam. Nguyên văn như sau:

却將名利等弁髦

此去耆英共一曹

可是坤章甘晦引

未應蹇節厭塵勞

留駒自我情何已

衣錦於公樂正陶

仕止行藏君子正

伊巢風節兩爭高

Phiên âm:

Khước tương danh lợi đẳng biền mao,

Thử khứ kỳ anh(a) cộng nhất tào.

Khả thị khôn(b) chương cam hối dẫn,

Vị ưng kiển(c) tiết yếm trần lao.

Lưu câu tự ngã tình hà dĩ,

Ý cẩm(d) ư công lạc chính dao.

Sĩ chỉ hành tàng quân tử chính,

Y Sào(e) phong tiết lưỡng tranh cao.

Dịch nghĩa:

Ta coi danh lợi như thứ vũ khí giết người,

Phen này quyết hội tụ cùng các bô lão.

Có thể rằng lượng bao dung đang bị lu mờ,

Song chưa hề lùi bước trước gian nan khó nhọc.

Bỏ lại ngựa chiến tự ta thấy không nỡ,

Mặc áo gấm về quê đối với ông thực vui lắm.

Làm quan biết khi hành khi tàng, đó là sự đúng mực của người quân tử.

Danh tiết của Hứa Do và Sào Phủ đua nhau cao thấp.

Chú thích:

(a)Kì anh: tức Hội của các bậc bô lão.

(b)Khôn: quẻ Khôn, ý bao dung che chở.

(c)Kiển: quẻ kiển, ý gian nan khốn khó

(d)Ý cẩm: mặc áo gấm về quê, ý nói việc vua ban ơn huệ cho các vị thi đỗ Tiến sĩ vinh quy bái tổ.

(e)Y, Sào: Y tức Y Doãn (伊尹) là tướng nhà Thương trong lịch sử Trung Quốc, có công giúp Thành Thang tiêu diệt nhà Hạ, thành lập nhà Thương và phò nhà Thương ổn định trong thời gian đầu. Sào tức Sào Phủ (巢父)cao sĩ đời vua Nghiêu, từng từ chối tước lộc của triều đình để đi ở ẩn giữ lòng trong sạch.

Bài thứ hai, Hoàng Ngũ Phúc tặng Trần Danh Tiêu, người xã Yên Sở huyện Đan Phượng (nay là xã Yên Sở huyện Hoài Đức Tp. Hà Nội) đỗ Tiến sĩ năm 25 tuổi, làm quan đến chức Đông các Đại học sĩ. Nguyên văn như sau:

釋褐登朝自少年

一生受用好隨緣

慎勤夙念共三法

止足高風慕二賢

已是烟波閒分境

應無冰炭到情田

往來清落真完福

重喜康強貺自天

Phiên âm:

Thích hạt đăng triều tự thiếu niên,

Nhất sinh thụ dụng hảo tùy duyên.

Thận, cần, túc niệm cung tam pháp,

Chỉ túc, cao phong mộ nhị hiền.

Dĩ thị yên ba nhàn phận cảnh,

Ưng vô băng thán đáo tình điền.

Vãng lai thanh lạc chân hoàn phúc,

Trùng hỷ khang cường huống tự thiên.

Dịch nghĩa:

Bỏ áo vải vào triều từ lúc thiếu niên,

Cả đời được tin dùng nhờ duyên mà có.

Hai chữ thận, cần từ lâu đã nhớ trong tam pháp(a),

Phong thái thanh cao biết đủ biết dừng, mến mộ hai bậc hiền tài.

Nghỉ việc quan hưởng nhàn theo phong cảnh nơi khói sóng,

Thấy mình không hợp thời thì trở về vui thú điền viên.

Xưa nay vui thú thanh nhàn được hưởng phúc trọn đời,

Lại mong rằng có thân thể khỏe mạnh ấy là phúc trời cho.

Chú thích:

(a) Tam pháp: đạo làm quan có ba phép: thanh, thận, cần.

 

Như vậy, Bình Nam Thượng tướng quân Việp công Hoàng Ngũ Phúc, là người văn võ song toàn, như vua Lê Hiển Tông từng khen ngợi: “Ông là lâm lang ngọc quí, dự chương gỗ tốt, thấm nhuần cổ kim thư sử, xem đủ Tứ khố toàn thư” và chúa Trịnh đánh giá: “Ông là trọng thần của xã tắc, quan hệ đến sự an nguy của nước nhà”. Có thể nói con người và sự nghiệp của Hoàng Ngũ Phúc được sử sách ghi nhận và mãi mãi trường tồn.

 

Chú thích:

([1]) Có tài liệu ghi Hoàng Ngũ Phúc mất năm 1775, chúng tôi theo Đại Việt sử kí tục biên ghi là năm 1776.

(2) Đại Việt sử kí tục biên, Nguyễn Kim Hưng dịch, Nxb. KHXH, 1991, tr.188-189.

(3) Lược trích theo Đại Việt sử kí tục biên, bản dịch, sđd, tr.196-200.

(4) Lược trích theo Đại Việt sử kí tục biên, bản dịch, sđd, tr.204.

(5) Đại Việt sử kí tục biên, bản dịch, sđd, tr.219.

(6) Lược trích theo Đại Việt sử kí tục biên, bản dịch, sđd, tr.222.

(7) Lược trích theo Đại Việt sử kí tục biên, bản dịch, sđd, tr.299 -301.

(8) Lược trích theo Đại Việt sử kí tục biên, bản dịch, sđd, tr.360-401.

(9) Đại Việt sử kí tục biên, bản dịch, sđd, tr.404.

([1]0) Lược trích theo Đại Việt sử kí tục biên, bản dịch, sđd, tr.404-406.

(1[1]) Đại Việt sử kí tục biên, bản dịch, sđd, tr.399-400.

([1]2) Đại Việt sử kí tục biên, bản dịch, sđd, tr.402.

([1]3) Chúng tôi dùng từ "có thể" vì lí do: có ý kiến cho rằng đây là hai bài văn của Hoàng Ngũ Phúc. Theo Đại Việt sử kí tục biên ghi: “Hoàng Ngũ Phúc sai soạn bài văn” và “Hoàng Ngũ Phúc lại sai viên quan văn coi việc giấy tờ đối đáp” (Đại Việt sử kí tục biên, bản dịch, sđd, tr.363 và tr.369).

Tài liệu tham khảo

- Cẩm tuyền vinh lục, A.920, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

- Đại Việt sử kí tục biên, Nguyễn Kim Hưng dịch, Nxb. KHXH, H. 1991.

- Đặng Xuân Bảng: Việt sử cương mục tiết yếu, Hoàng Văn Lâu dịch, Nxb. KHXH, 2000.

- Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch Viện Sử học, Nxb. KHXH, H. 1989.

- Tây triều công quán đối liên, A.2379, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

- Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế: Từ điển nhân vật lịch sử, Nxb. Văn hóa, 1997./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 2(99) 2010; Tr. 31-37)

Trịnh Khắc Mạnh
Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm