VI | EN
Văn hóa dân tộc Mông - Dao ở Lào Cai được phản ánh qua ngữ nghĩa của địa danh hành chính gốc Hán (Tạp chí Hán Nôm, Số 2 (75) 2006; Tr.58-63)
Bài tạp chí

VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG - DAO Ở LÀO CAI

ĐƯỢC PHẢN ÁNH QUA NGỮ NGHĨA CỦA

ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH GỐC HÁN

NGUYỄN VĂN HIỆU

TS. Khoa Ngôn ngữ -Đại học KHXH và NV

Đại học quốc gia Hà Nội

 

Lào Cai là một tỉnh có đường biên giới khá dài với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Chính vì vậy trong lịch sử, nơi đây còn được coi là mảnh đất đón đầu những cuộc thiên di lớn của các tộc người thiểu số đến từ phương Bắc. Tỉnh Lào Cai là ngôi nhà chung của 13 dân tộc thiểu số mà trong đó các dân tộc Mông - Dao có số lượng cư dân lớn nhất (chiếm khoảng 40% dân số trong địa bàn tỉnh) và cư trú ở khắp các huyện lị trong tỉnh. Ở các địa bàn này hầu hết các địa danh hành chính ở nơi người Mông - Dao cư trú đều đọc theo âm đọc Hán (người địa phương ở đây gọi là tiếng Quan Hỏa(1)). Hay nói cách khác, ban đầu đây là những địa danh hoàn toàn theo âm đọc Hánđể có những địa danh ghi bằng chữ quốc ngữ như hiện nay thì những địa danh này đã phải trải qua một quá trình quốc ngữ hóa (dùng chữ quốc ngữ để ghi lại các địa danh theo âm đọc Hán). Do vậy mặc dù hiện nay các địa danh đã được ghi bằng chữ quốc ngữ (chữ Việt), nhưng xét về âm đọc thì chúng ta vẫn có thể nhận ra chúng là những địa danh theo âm đọc Hán (ở đây chúng tôi gọi là các địa danh gốc Hán):


Tiếng Việt

Tiếng Hán

Hán - Việt

Nghĩa

Lao Chải/ law caj/

Ngải Trồ/ ŋaj ƫo /

Tả Cán Hồ/ ta kan ho/

Ki Quan San/ ki kwan ʂan/

- / lau tsai /

- / ŋai tɕo /

- / ta kan ho /

- / ti kuan san /

lão trại

giai cước

đại can hồ

kê quan sơn

làng cũ

chân vách núi

sông cạn lớn

núi mào gà


Nói đến vấn đề địa danh ở Việt Nam thì từ lâu đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu đã cho chúng ta thấy ở Việt Nam bên cạnh những lớp địa danh thuần Việt, là một số lượng phổ biến các lớp địa danh Hán - Việt hay các địa danh có nguồn gốc từ các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Nhưng các địa danh gốc Hán dẫn ra ở trên hầu như chưa được nói đến trong các công trình đã công bố.

Trong bài viết này chúng tôi chủ yếu xem xét các đơn vị địa danh hành chính gốc Hán ở phương diện ngữ nghĩa là chủ yếu để thông qua đó làm nổi bật một vài đặc điểm văn hóa được phản ánh qua các địa danh hành chính gốc Hán ở các địa bàn Mông - Dao thuộc tỉnh Lào Cai.

1. Đối với các địa danh nói chung thì nghĩa của địa danh chính là nghĩa của từng yếu tố cấu tạo địa danh đó. Do vậy, nghĩa của các địa danh thường được xác định bằng công thức: nghĩa (yếu tố chính) + nghĩa (yếu tố phụ) = nghĩa địa danh. Trong đó yếu tố chính được xem là mang nghĩa cơ bản và yếu tố phụ mang nét nghĩa hạn định. Các yếu tố chính của các địa danh gốc Hán ở đây được phân chủ yếu thành mấy nhóm nghĩa sau:

- Nhóm 1. Yếu tố chính gọi theo sự bằng phẳng của địa hình như: Phìn ( - Bình “bãi”) - Giàng Phìn (), Sáng ( - Trường “sân”) - Nhiều Sáng ()...

- Nhóm 2. Yếu tố chính gọi theo sự không bằng phẳng của địa hình như: Thàng (- Ðýờng “Vũng”) - Lùng Thàng (), Tủng ( - Ðộng “ðộng”) - Seo Tủng ()...

- Nhóm 3. Yếu tố chính liên quan ðến sông, nýớc nhý: Hồ ( - Hà “sông”) - Suối Hồ (), Chéng ( - Giang “sông”) - Sín Chéng (清 江), Sui ( - Thủy “nước”) - Seng Sui (深 水)...-

- Nhóm 4. Yếu tố chính chỉ khu dân cư như: Chải ( - Trại “làng”) - Tả Chải (), Cài, Cai ( - Nhai “chợ, phố”) - Si Ma Cai (), Séng ( - Hương “thôn”) - Sả Séng (下 乡)

- Nhóm 5. Yếu tố chính liên quan đến núi như: Ngài ( - Nhai “vách núi”) - Pờ Xì Ngài (), Sán ( - Sõn “núi”) - Phìn San (), Phố ( - Pha “núi”) - Bản Phố ()...

- Nhóm 6. Yếu tố chính chỉ những vật cụ thể như: Sử ( - Thụ “cây”) - Vạn Dền Sử (), Mần ( - Môn “cửa” - Tủi Mần (), Lủ ( - Lộ “đường”) - Ma Lủ ()...

2. Đối với các yếu tố phụ mang ‎nghĩa hạn định cho thành tố chính có thể chia thành những nhóm phổ biến sau:

- Nhóm 1. Hạn định về tính chất cho yếu tố chính: Lao ( - Lão “cũ, già”) - Lao Chải (), Sín (- Tân “mới”) - Sìn Hồ Sán (), Hòa ( - Hoạt “nhẵn”) - Hào Sử Pán ()...

- Nhóm 2. Hạn định về kích thước: Tả ( - Đại “to”) - Tả Phìn (大坪), Séo ( - Tiểu “nhỏ”) - Seo Ngải Chồ ( )...

- Nhóm 3. Hạn định về vị trí: Sảng ( - Thượng “trên”) - Sàng Chải (), Chúng (- Trung “giữa”) - Trung Chải (), Xả ( - Hạ “dưới”) - Xả Lùng Phình (  )...

- Nhóm 4. Hạn định về hình dáng địa danh: Chín Chư ( - Kim Tự “chữ kim” - Chín Chư Ngài (), Ky Quan ( - Kê Quan “mào gà”) - Ky Quan San ()...

- Nhóm 5. Hạn định bằng vật cụ thể: Khu Chu ( - Khổ Trúc “vầu”) - Khu Chu Phìn (), Pờ Phú ( - Bạch Hổ “Hổ trắng”) - Pờ Phú Chải ()...

- Nhóm 6. Hạn định bằng tên riêng: Giàng - Dương “họ Dương”) - Giàng Cha (), Lồ ( - La “họ La”) - Lồ Lao Chải ()...

- Nhóm 7. Hạn định về phương hướng: Nàn ( - Nam “hướng nam”) - Nàn Hồ (), Tùng ( - Đông “hướng đông”) - Tả Đông Hồ ()...

- Nhóm 8: Hạn định về số lượng: Sừ Pà (十 八 - Thập Bát “mười tám”) - Sừ Pà Phìn(), Bả Tả ( - Bát Đại “tám đời”) - Bả Tả Chủ ()…

3. Qua các phân tích về ngữ nghĩa của các địa danh ở đây chúng ta rút ra được một số nhận xét như sau:

3.1. Ở trên chúng ta dễ nhận thấy ở vùng này có rất nhiều địa danh được hình thành lúc đầu các thành tố chung chỉ các loại đối tượng địa lý khác như các yếu tố chỉ sơn văn, thủy văn như Hồ ( - Hà “sông”),Chéng (- Giang “sông”), Ngài ( - Nhai “vách núi”), Sán, San (- Sõn “núi”), Phố ( - Pha “núi”)… Sau đó các yếu tố này đã chuyển hóa thành các yếu tố chính chỉ địa danh hành chính ở đây Pờ Hồ (), Tu San (), Tung Chung Phố ()... Hay cũng có thể nói cách khác là các địa danh ở đây có sự chuyển hoá từ một loại địa danh khác nhưng đã được chuyển thành các địa danh hành chính. Cũng có trường hợp bản thân các yếu tố là thành tố chung chỉ địa danh dân cư và sau đó chuyển hoá thành yếu tố chính của địa danh như: Chải ( - Trại “làng”), Cài, Cai ( - Nhai “chợ, phố”), Chấn (- Trấn “ấp”)…® Chúng Chải (), Sang Chỉu Cài (), Sả Séng ()…

3.2. Nhìn chung, khi định danh một đơn vị địa danh, các cư dân ở đây thường quan sát khá kỹ thế giới tự nhiên xung quanh nơi định cư của họ. Thông qua lăng kính văn hóa đặc trưng của dân tộc mình, họ đã chọn cho mảnh đất mới những tên gọi khác nhau, nhưng chúng có cùng một đặc điểm là thể hiện trung thành thế giới tự nhiên mà họ đã quan sát được.

Một trong những đặc điểm khá nổi bật ở những địa bàn này là tồn tại những địa hình không bằng phẳng như: San ( - núi), Nhai ( - vách đá), Pha ( - núi), Tủng (- hang động)… rất đặc trưng cho các địa bàn miền núi. Vì đây là những hình ảnh được đập vào mắt của cư dân ở đây trước tiên khi họ di cư từ phương Bắc đến. Họ đã dùng những hình ảnh này đặt tên cho những vùng đất mới theo hình dáng của địa hình định cư như: Seo Tủng (小 洞), Pờ Xì Ngài (), Liền Sán ()… Bên cạnh những địa hình hiểm trở của vùng núi cao, thông thường khi chọn một mảnh đất để lập làng mới, các cư dân này chủ yếu chọn những vùng đất tương đối bằng phẳng hơn để xây dựng nơi ở mới. Chính vì vậy yếu tố “Phìn ( - Bãi bằng)” đã được chọn để định danh cho rất nhiều vùng đất ở đây như: Tả Phìn (), Phìn Chư (), Sú Dí Phìn ()…

Qua những yếu tố chính, chúng ta có thể thấy một bức tranh chung về đặc trưng địa - văn hóa của của miền núi cao nơi đây gồm: 29 địa danh liên quan đến núi (Sán - , Phố - ), 13 vách núi (ngài - ), 24 bãi bằng (Phình, phìn - ), 29 sông, nước (Hồ - , Suối, sui - ), 25 hang, động (Thàng - , Tủng - ), 58 yếu tố liên quan đến khu vực dân cư (Chải - , Cai - )… Những con số này vừa phản ánh cấu trúc, kiến tạo địa hình vừa phản ánh mầu sắc văn hóa trong cách định danh của cư dân nơi đây.

Ngoài ra, các cư dân địa phương đã lựa chọn một hệ động thực vật rất đặc trưng cho miền núi rừng, thung lũng. Họ đã lựa chọn hình ảnh của các loài thực vật như cây trúc (), cỏ gianh (), cây đào ()…hay những loài động vật như: con hổ (), con gà (), con lợn rừng (), con ngựa () để định danh các địa danh ở đây. Quan sát những yếu tố định danh này, chúng ta dễ nhận thấy cư dân ở đây hoàn toàn dùng lăng kính văn hóa miền sơn cước để lựa chọn các yếu tố phản ánh trong các địa danh.

3.3.Chúng ta có thể tìm thấy khá nhiều các địa danh ở vùng này được định danh bằng các yếu tố có liên quan đến sông (hồ - ), đường (lộ - ). Cách định danh này cũng đã thể hiện văn hóa định cư của các cư dân ở đây rất gần với văn hóa người Hán và người Việt. Vì ngay đối với người Việt bao giờ cũng ưu tiên nơi định cư của mình gần sông nước, đường giao thông và nó thành một trong những tiêu chuẩn định cư của mình "nhất cận thị nhị cận giang"…

3.4. Khi xem xét những địa danh có tồn tại yếu tố phương hướng trong những địa danh vùng này, chúng tôi nhận thấy yếu tố “Nàn” ( - Nam) được cư dân ở đây chọn làm một yếu tố định danh khá phổ biến như : Nàn Sán ( - Nam Sơn), Nàn Hồ ( - Nam Hà), Sảng Nàn Cang (- Thượng Nam Cương)… Điều đó cho thấy khi các cư dân thiên di từ phía bắc (nam Trung Quốc) xuống vùng đất này, họ đã định vị vùng đất mới của họ nằm ở phía nam hơn so với nơi họ xuất phát. Chính cũng vì lý do này mà trong các địa danh ở đây không xuất hiện các yếu tố chỉ phương hướng bắc (nơi được coi là điểm xuất phát của họ). Chính sự tri nhận có nghĩa hướng không gian này đã là một bằng chứng cho thấy các cư dân đến đây từ những cuộc thiên di từ miền nam Trung Quốc (phía bắc tỉnh Lào Cai).

3.5. Trong các địa danh ở đây tồn tại khá phổ biến cặp yếu tố có tính chất đối xứng cũ/mới ( / ) như: Sín Chải ( - Tân Trại), Lao Chải ( - Lão Trại)… Chúng ta có thể đưa ra giải thuyết về vấn đề này một cách dễ lý giải nhất. Khi các cư dân thiên di đến vùng đất này để định danh theo cách gọi của họ ngoài việc dựa vào những đặc điểm hay tính chất địa lý mà họ lựa chọn để định danh, họ còn có khả năng mang cái tên địa danh cũ chỉ nơi họ xuất phát trên con đường thiên di để đặt lại tên cho vùng đất mới. Chính khi đó yếu tố cũ/mới (Lao/Sìn) sẽ tồn tại chỉ tính chất cho một tên địa danh gốc theo kiểu Lao, Sín + S (S là địa danh gốc). Ở đây có hai cách hiểu, thứ nhất khi đến vùng đất này theo tư duy định danh của cư dân ở đây thì nơi đến sẽ mới hơn so với nơi xuất phát nên họ đã dùng yếu tố Sín (mới) + S = địa danh như: Sín Chải ( - Tân Trại), Sín Pao Chải ( - Tân Bảo Trại), Sìn Hồ Sán (- Tân Hỏa Sơn)… Thứ hai, khi đến vùng đất mới, các cư dân ở đây vẫn muốn lưu giữ lại những địa danh cũ ở nơi xuất phát và họ dùng thêm yếu tố Lao (cũ) + S = địa danh như: Lao Chải San ( - Lão Trại Sơn), Lao Pao Chải ( - Lão Bảo Trại)… Qua đó chúng ta cũng nhận thấy được đâu là những yếu tố định danh gốc và những yếu tố này đã được bảo lưu trong cách định danh của cư dân ở đây. Nghiên cứu sâu đặc điểm này và có so sánh với các địa danh dọc theo con đường thiên di của các dân tộc, chắc chắn sẽ cho chúng ta một bức tranh về lịch sử thiên di của các dân tộc thiểu số qua các lớp địa danh này.

3.6. Trên thực tế có thể là còn sớm khi chúng ta kết luận những địa danh gốc Hán ở vùng này được xuất hiện từ khi người Mông - Dao thiên di từ miền nam Trung Quốc đến định cư ở vùng đất này. Nhưng trong những địa danh ở đây, chúng ta có thể khẳng định có không ít những địa danh gốc Hán chắc chắn là do người Mông đặt khi di cư đến đây. Điều này thể hiện khá rõ trong những địa danh có dùng tên các dòng họ của người Mông như một yếu tố định danh chính như: họ Mã (), họ Dương (), họ Lầu (La) (), họ Lý ()… Các dòng họ này được coi là những dòng họ khá lớn trong cộng đồng người Mông ở Việt Nam nói chung và cộng đồng người Mông ở Lào Cai nói riêng. Điều này đã thể hiện tính đồng tộc cao trong quá trình di cư của cộng đồng người Mông khi mới đến đây. Và như vậy, có thể nói sự xuất hiện các địa danh ở đây gắn liền với các đợt thiên di của các tộc người từ phương bắc đến mà tiêu biểu là các tộc người Mông - Dao.

Kết luận

Qua những phân tích ở trên, chúng ta có thể khẳng định trên các vùng dân tộc Mông - Dao ở một số tỉnh gần biên giới Việt - Trung mà chủ yếu ở ba tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang có tồn tại những địa danh gốc Hán (theo âm đọc phương ngôn Hán vùng tây - nam Trung Quốc). Loại địa danh này phải được coi là một kiểu loại địa danh trong hệ thống địa danh Việt Nam.

Về mặt ngữ nghĩa, các cư dân thường lấy những yếu tố địa lý ‎‎tự nhiên và những quan sát thực tế về môi trường sống để định danh cho các đơn vị hành chính ở đây. Thông qua lăng kính văn hóa đặc trưng của dân tộc mình, họ đã chọn cho mảnh đất mới những tên gọi khác nhau, nhưng chúng có cùng một đặc điểm là thể hiện trung thành thế giới khách quan mà họ đã quan sát được như : yếu tố địa hình, các hệ động thực vật đặc trưng cho vùng núi cao… Tất cả những yếu tố này đã hình thành một bức tranh địa - văn hóa khá rõ nét cho vùng này.

Qua cách định danh và các yếu tố dùng để định danh, chúng ta có thể tìm được những bằng chứng cho thấy các dân tộc thiểu số di cư từ phương bắc đến đặt tên cho những vùng đất mới của họ. Trong đó, các cư dân thuộc nhóm Mông - Dao lại là một trong những chủ thể quan trọng góp phần hình thành nên các địa danh gốc Hán ở đây. Việc tiếp tục nghiên cứu trong tương lai các đơn vị địa danh gốc Hán theo hướng văn hóa hứa hẹn sẽ đóng góp nhiều kết quả cho việc nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ - văn hóa - dân tộc.

Chú thích:

(1) Tiếng Quan Hỏa được coi là phương ngôn Hán tây nam (Southwest Madarin Dialect), phổ biến ở các tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu - Trung Quốc. Trong bài viết này chúng tôi sẽ dùng chữ Hán giản thể để ghi các ví dụ cho dễ theo dõi.

Tài liệu tham khảo chính

1. Đào Duy Anh: Hán - Việt từ điển, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, 1957.

2. Nguyễn Tài Cẩn: Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nxb. Đại học Quốc gia, H. 2001.

3. Hoàng Thị Châu: Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông, in trên Thông báo khoa học Văn học - Ngôn ngữ 1964 - 1965, Tập 2, Nxb. Giáo dục, H. 1966, tr.94-106.

4. Trần Trí Dõi: Ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa xã hội, Nxb. Văn hóa Thông tin, H. 2001.

5. Từ điển Hán - Việt. Hầu Hàn Giang - Mạch Vĩ Lương (chủ biên), Nhà in Thương vụ, Bắc Kinh. 2002.

6. Nghiêm Thu‎ Hằng: Tiếng Hán trong các ngôn ngữ phương Đông (tr.289-411). Nxb. Đại học Quốc gia, H. 2001.7. Nguyễn Văn Hiệu: Những địa danh gốc Hán ở một số vùng dân tộc Mông - Dao ở Việt Nam (trên cứ liệu địa danh hành chính tỉnh Lào Cai). Tạp chí Ngôn ngữ số 11/05, 2005.

8. Lê Trung Hoa: Các phương pháp cơ bản trong việc nghiên cứu địa danh, Tạp chí Ngôn ngữ số 7/02, 2002.

9. Từ Thu Mai: Nghiên cứu địa danh Quảng Trị, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học KHXH & NV, H. 2004.

10. Hoàng Tất Thắng: Địa danh Đà Nẵng từ cách tiếp cận ngôn ngữ học, Tạp chí Ngôn ngữ số 2/03, 2003.

11. Nguyễn Kiên Trường: Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng (trong vài nét đối sánh với địa danh Việt Nam. Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Ngữ văn, Đại học KHXH & NV, H. 1996./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 2 (75) 2006; Tr.58-63)

Nguyễn Văn Hiệu
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm