VI | EN
Để có một bản dịch tuồng Ngũ hổ bình tây tốt nhất phục vụ bạn đọc (Tạp chí Hán Nôm, số 1 (110) 2012 (tr.79 - 83)
(Tạp chí Hán Nôm, số 1 (110) 2012 (tr.79 - 83)

ĐỂ CÓ MỘT BẢN DỊCH TUỒNG NGŨ HỔ BÌNH TÂY
TỐT NHẤT PHỤC VỤ BẠN ĐỌC

PGS. TRẦN NGHĨA

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Tôi may mắn có trong tay vở tuồng Ngũ hổ bình tây (NHBT), bản in chữ Quốc ngữ, do hai ông Trần Văn Hương, Lê Ngọc Trụ sao chép và trình bày, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn xuất bản năm 1970(1). Đọc vào tác phẩm, tôi thấy vừa mừng lại vừa lo. Mừng vì chúng ta còn giữ được cho đến nay một tác phẩm tuồng nổi tiếng của cụ Tú
Nguyễn Diêu. Lo là ở chỗ bản Quốc ngữ với tư cách một ấn phẩm phổ cập, lại chứa đựng quá nhiều sai sót đáng tiếc, khiến độc giả khó thưởng thức được vẻ đẹp toàn vẹn của vằn lông con báo.

Sự bất cập của văn bản chủ yếu thể hiện trên các mặt sau đây:

1. Phiên sai âm đọc Hán Việt


Tr.

Câu có chữ phiên âm sai (in nghiêng)

Cách đọc đúng

Bị chú

18

Nơi cung quán có câu hiến quát

quắc

: tai tù binh

20

Hành khoan du tái tránh phong trần

hành khan biên (?)

行看边: sẽ thấy ở vùng biên [ải thoát khỏi gió bụi]. (chữ khán đọc âm bằng khan).

21

Bả trản đồ lao điêu trướng

trù

[]: buồn bã, xót xa

99

Nam bắc tình trung điêu trướng vọng

id.

id.

109

Điêu trướng tam canh Hồ sắt

id.

id.

183

Điêu trướng chốn thâm khuê tịnh viện

id.

id.

25

Ngọc bạch đế đình, Tam Tuyền huyện vị thông phong hỏa

Cam

[]: tên đất (Chinh phụ ngâm: Khói Tam Tuyền mờ mịt thức mây).

41

Kiến lý du vị thấu

do

: còn

49

Võ nhi địch võ, dinh du cuộc ngoai quyết thư hùng

doanh thâu

贏 輸: thắng hay thua

 

54

Khẳng khứa nhiêu sinh nhứt nữ nhi

hứa

: cho phép

66

Con ra thì ít

nói

吶: (chữ Nôm)

73

Phong bất minh điều

triêu

: buổi sáng [hôm sau]

75

Giận Bao Chuẩn ỷ hơi lấn lướt

chửng

[]: tức Bao Công (999-1062) hay Bao Thanh Thiên, theo cách gọi dân gian

75

Ngộ quốc nhược Hàn Thác Trụ

[] []: Hàn Sá Trụ (1152- 1207), một đại thần Nam Tống.

75

Tào Tháo hiếp thiên tử dĩ lịnh chư hầu

hiệp

: cặp nách

77

Thùy cũng như thiên hạ trị

củng nhi

拱而: [Rủ áo] khoanh tay mà [thiên hạ được yên trị]

79

Lô vân tái nguyệt các du du (Lô vân tắc nguyệt)

đới

: đội, đeo

99

Có chí bổ thiên các dục nhật

truy

: đuổi theo [mặt trời]

112

Tượng nguơn huân rực rỡ các Kỳ lân

nguyên

元 [勛]: người lập công đầu (công to)

114

Nhơn diện thú, định đường đao

đồng diện cụ

銅面具: Một dụng cụ bằng đồng để bảo vệ mặt khi ra trận

172

Xuất lai nhơn diện thú

id.

id.

120

Đã loại lời thất tịch

toại

: vừa lòng, toại nguyện

122

Kiếu phu quân đình bộ đình bộ

khiếu

: gọi

146

Hơi hương đã nhuốm, bóng trăng lại lờ

sương

: sương

149

Sơn đầu giải giác nguyệt âm âm

hải

: biển

153

Thoản bất ngộ bàn căn

thượng

: nếu

168

Liêu quốc tung hoành trạng ngã thinh

tráng

:[tiếng tăm] lừng lẫy

196

Lại thêm hải huợt thiên cao

khoát

: rộng

197

Nguyệt phiên thân nhất dước

được

: nhảy vọt

212

Tu thiết tận thủy chung

thuyết

: nói


2. Chữ người sao chép để tồn nghi:


Tr.

Chữ tồn nghi (in nghiêng)

Chữ đúng

Bị chú

19

Khất triều đình viện bát (?) đại binh

bát

: chia bớt [đại quân]

20

Địch Thanh sư xuất vô danh (?)

vô danh

無名; không có nghĩa

20

Nguyện chém cổ trượng phu (?)

trượng phu

丈夫: bọn đàn ông (chỉ quân Địch Thanh)

23

Lưu thủ công danh cửu viễn khang (?)

khan

: xem

25

Y y nguyệt mạo đằng vân (?)

đằng văn

騰雲: vọt lên mây

30

Đã đành khí giáp dệ (?) binh

duệ

: kéo lê [vũ khí]

34

Tịnh hạ (để?) khán thiên

quản hạ

管下: dưỡi lỗ ống

38

Tạ (tỏa ?) đối âm thinh tống ngã bi

tọa

: ngồi

46

Mà khổ đến lê thương (?)

lê thương

黎蒼: trăm họ

49

Tài di (?) đối tài, chiến phạt tràng trung phân thắng phụ

: lấy [tài đối địch với tài]

54

Vật dung tha tẩu thác (?)

thoát

: [chạy] thoát

55

Ám (?) ngũ phong lực sĩ

úm

: úm là la (tiếng thầy phù thủy dùng để sai khiến âm binh…)

174

Ám Phật tổ tiên sinh

id.

id.

55

Ngô phụng Thái Thượng Lão Quân, cấp cấp nhi (?) luật lịnh

như

: [mau làm] như

58

Dũng sĩ bất vong tán kỳ nguơn (?)

nguyên

: cái đầu [của mình]

70

Cho đặng chư tử nhi vô hám (oán ?)

hám

: tiếc

71

Vọng bản quốc thiên trùng bặt thiệp (?)

bạt thiệp

跋涉: trèo [đèo] lội suối]

72

Kể bao ra sự không cùng (?)

cần thêm dấu “ , ” sau chữ ra

Ý cả câu: có kể ra bao nhiêu nữa, câu chuyện cũng không hết được

75

Tần Cối thác thân ư Lỗ (?)

lỗ

: giặc (không phải là nước Lỗ)

83

Nghi đến còn nhiều nỗi truân chuyên (?)

chiên

迍邅: nhọc nhằn, vất vả

87

Chốn Trường An (?) mấy dặm xa xa

Trường An

長安: chỉ Kinh đô (nói chung)

99

Kỷ thu tuế nguyệt xâm tầm (?)

xâm tầm

侵尋: dần dà tới (qua)

107

Lời anh khác (?) vân khai nhật lãng

khác

: khác thể, giống như

155

Phi kiên hãm trận, cử gian (?) hào kiệt tận khuynh thành

cử gian

舉間: cả thế gian

168

Đồng quan cố miến (?) hương khôi phục

cố miện

顧眄: nhìn quanh

176

Mãn thành dà (?) tấu dạ thinh truyền

già

: một loại sáo (của người Hồ)

189

Đã mồ hồ với giám (?) cung xà

giám

: gương soi

 

 

 

 


Ngoài ra bản tuồng NHBT in bằng chữ Quốc ngữ còn có những hạn chế khác nữa như:

- Nhiều chữ, nhiều câu hoặc đoạn văn còn bỏ lửng, chưa khôi phục được, do thiếu tài liệu tra cứu. Chẳng hạn trang 29, câu “vì chích kỵ đơn phương” còn thiếu
một chữ (đối sánh với câu tiếp theo “Địch sao lại thiên binh vạn mã”); trang 62, câu “… ai thấy cũng sập sò” còn thiếu 3 chữ (đối sánh với câu trước đó “Tiếng ngũ hổ người nghe qua dửng óc”); trang 71, sau câu “Gió xuân phưởng phất cờ hồng” còn thiếu 2 câu nữa, v.v…

Hầu hết các câu, các đoạn văn chữ Hán chưa được dịch sang tiếng Việt. Chẳng hạn ở trang 87:

Nam bắc tương tư, các nhứt phương,

Tửu bôi chước bãi, lụy liên liên.

(Nam bắc nhớ nhau, mỗi người một phương trời,

Rượu rót ra rồi, nước mắt ròng ròng.)

Mai thôn nguyệt sắc tam canh lão,

Biện ấp thu tranh bán dạ truyền.

(Thôn Mai vào canh ba, ánh trăng thêm tỏ,

Ấp Biện lúc nửa đêm, tiếng thu truyền về.)

Hoặc ở trang 55:

Vận lâm nguy, vận lâm nguy!

Thời ngộ hại, thời ngộ hại!

Chung cổ huyên thiên tứ tái,

Sanh kỳ phi phất bát phương.

Dĩ cam tự tại sa tràng

Hà nhật phản hồi cố quốc?

(Tới vận lâm nguy, tới vận lâm nguy!

Gặp hồi bị hại, gặp hồi bị hại!

Trống chiêng vang rền bốn cõi,

Cờ xí phơ phất tám phương.

Đã dành nhơ nhởn ở chiến trường.

Ngày nao mới trở về cố quốc?)

- Nhiều điển tích chưa được chú giải như “bôi cung xà ảnh”, nhìn bóng chiếc cung trong chén rượu mà cứ ngỡ là con rắn (tr.189) câu "Đã mồ hồ với giám cung xà”); “luyện thạch bổ thiên” Nữ Oa luyện đá vá trời, “Khoa Phụ truy nhật”, Khoa Phụ đuổi theo mặt trời (trang 99, câu “Có chí bổ thiên truy nhật”) v.v…

- Các âm địa phương như “luông” (long) “nguơn” (nguyên), “hườn” (hoàn), “thiết” (thuyết “thỉ” (thủy), “giũi” (dỗi) v.v… trong bản tuồng Quốc ngữ cũng không có chú thích cách đọc theo tiếng phổ thông kèm theo, để người khác có thể hiểu được. Tất nhiên khi trình diễn, vẫn có thể giữ nguyên âm địa phương, nhưng đó là vấn đề khác.

Đến đây, một câu hỏi đặt ra: Vậy để có một bản tuồng NHBT bằng chữ Quốc ngữ tốt nhất phục vụ bạn đọc, cần phải làm gì?

Tôi nghĩ trước hết, cần có bản tuồng gốc chữ Hán Nôm để đối chiếu với bản Quốc ngữ. Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn cho biết ông hiện có pho tuồng NHBT gồm đủ 3 hồi bằng chữ Hán Nôm(2). Riêng phần mình tôi cũng từng đọc một pho tuồng với tiêu đề Ngũ hổ bình Liêu truyện tại thư viện Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1976 và tại Thư viện Hoàng gia Anh (the British Library) vào năm 1995 khi tôi sang Luân Đôn(3). Bản Thư viện Hoàng gia Anh là bản gốc, còn bản Thư viện Quốc gia Hồ Chí Minh là bản chụp do Thư viện Hoàng gia Anh gửi tặng trước ngày miền Nam của ta được giải phóng. Đáng chú ý là vở tuồng Ngũ hổ bình Liêu truyện chỉ có 1 hồi, nội dung tương đương với hồi thứ 2 của bản tuồng NHBT Quốc ngữ do Trần Văn Hương và Lê Ngọc Trụ sao chép. Dựa vào 2 bản Hán Nôm vừa nói, ta có thể rà soát và chỉnh lý lại bản NHBT Quốc ngữ.

Trên cơ sở bản tuồng Quốc ngữ đã được chỉnh lý, ta có thể tiến hành các công việc thường lệ như giám định văn bản, dịch các câu chữ Hán, chú giải các điển tích và từ ngữ khó hiểu… hay nói theo các nhà văn bản học: giải mã văn bản”, trong đó khâu “giám định văn bản” cần được đặc biệt coi trọng. Nói như thế là vì mới đây trên Tạp chí Hán Nôm có người phát hiện trong Mộng Mai từ lục có đến 43/60 bài từ không phải là của Đào Tấn(4). Cho nên không thể không thận trọng.

Có thể thấy việc nâng cấp bản Quốc ngữ vở tuồng NHBT đang ở trong tầm tay. Chỉ còn chờ một cơ quan nào đó, như UBND tỉnh Bình Định phối hợp với Trung tâm NCBT & PHVH DTVN chẳng hạn, cùng đứng ra chỉ đạo và tổ chức thực hiện nữa mà thôi!.

Chú thích:

1. Tài liệu do GS. Hoàng Chương và TS. Đoàn Thị Tình cung cấp. Nhân đây xin có lời cảm ơn.

2. Xem Vũ Ngọc Liễn: Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu, ồng đồ Nghệ sĩ. Tạp chí Văn hiến Việt Nam.

3. Xem Trần Nghĩa: Sách Hán Nôm tại Thư viện Vương quốc Anh. Tạp chí Hán Nôm số 3, 1995.

4. Xem Phạm Văn Ánh: Thêm một số lưu ý về Mộng Mai từ lục của Đào Tấn. Tạp chí Hán Nôm, số 3/2011./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (110) 2012; Tr.79-82)

Trần Nghĩa
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm