VI | EN
Thêm một số lưu ý về Mộng Mai từ lục của Đào Tấn (Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (106) 2011, Tr.54 - 59)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (106) 2011, Tr.54 - 59)

THÊM MỘT SỐ LƯU Ý VỀ

MỘNG MAI TỪ LỤC CỦA ĐÀO TẤN

ThS. PHẠM VĂN ÁNH

Viện Văn học

Đào Tấn (1845-1907) là tác giả có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại. Sáng tác của ông hiện còn khá đa dạng, trong đó có Mộng Mai từ lục (từ đây viết tắt là MMTL). MMTL gồm 60 bài từ, cùng Cổ duệ từ của Miên Thẩm (104 bài) là một trong hai từ tập hiếm hoi hiện còn. Nhờ sự nỗ lực của một số dịch giả, nhà nghiên cứu, 24 bài từ của Đào Tấn đã được dịch, giới thiệu lần đầu vào năm 1987, qua sách Thơ và từ Đào Tấn(1) và được giới thiệu toàn bộ (60 bài) vào năm 2003, qua sách Đào Tấn thơ và từ(2). Sớm hơn thời điểm các tác phẩm từ của Đào Tấn được công bố rộng rãi hai năm, vào năm 1985, trong sách Các nhà thơ cổ điển Việt Nam(3), Xuân Diệu từng viết một bài dài về thơ và từ của Đào Tấn. Nhà thơ họ Ngô nổi tiếng với tất cả niềm yêu quý, trân trọng, đã tiến hành phân tích, cảm thụ, và dành cho các sáng tác từ của Đào Tấn sự ưu ái dị thường(4). Từ đó đến nay, rải rác đây đó cũng có thêm một số bài viết khác về từ của Đào Tấn(5), song đáng tiếc là nội dung các bài viết thường chỉ là điểm bình, phát huy nghĩa lí, hoặc giả là thiên về một lối phê bình mang màu sắc ấn tượng nào đó mà không tiến hành công việc biện ngụy, giám định văn bản. Có giá trị nhất, khoa học nhất là bài viết mang tên Vấn đề văn bản học của một số bài từ Đào Tấn của Trần Văn Tích(6). Song có lẽ vì ông Trần cư trú ở hải ngoại, điều kiện cập nhật các ấn phẩm trong nước bị hạn chế, nên ông mới chỉ khảo cứu văn bản của 24 bài từ Đào Tấn trong Thơ và từ Đào Tấn in năm 1987 mà chưa khảo cứu toàn bộ 60 bài từ được giới thiệu trong Đào Tấn thơ và từ in năm 2003. Tuy nhiên, với tinh thần khách quan, khoa học, Trần Văn Tích đã tiến hành khảo cứu một cách tỉ mỉ và thận trọng 24 bài từ của Đào Tấn, từ đó đính chính được nhiều sai lầm về văn bản. Tiếc rằng ông Trần cũng không vận dụng đến tư duy biện ngụy, nên bài viết còn có hạn chế nhất định.

Kế thừa một phần kết quả nghiên cứu của Trần Văn Tích, trong bài Một số vấn đề văn bản của Mộng Mai từ lục(7), chúng tôi tiến hành khảo cứu văn bản toàn bộ 60 tác phẩm từ trong MMTL, phát hiện bài từ điệu Nhất lạc sách trong MMTL thực chất chỉ là chép nguyên vẹn nửa trên (thượng phiến) bài từ cùng điệu của Chu Bang Ngạn (周邦, 1057-1121) đời Tống, đồng thời cũng đính chính những sai lầm về từ điệu, từ đề các bài từ trong từ tập và chỉnh lí một số sai sót khác về văn bản.

Tiến thêm một bước trong việc giám định văn bản MMTL, trong bài Sự thực nào cho Mộng Mai từ lục đăng trên Tạp chí Văn học, số 9 năm 2009, chúng tôi đã chỉ ra 38/40 bài trong MMTL vốn chỉ là các bài chép lẫn tác phẩm từ của các tác giả Trung Quốc từ thời Tống đến thời Thanh, 13 tác phẩm khả dĩ đáng tin là tác phẩm đích thực của Đào Tấn, 08 tác phẩm không có yếu tố nào khả dĩ có thể khẳng định chắc chắn là tác phẩm của Đào Tấn, nhưng nhất thời chưa thấy chúng xuất hiện trong bất cứ tài liệu nào khác ngoài MMTL, “tạm coi” chúng cũng là tác phẩm của Đào Tấn, chờ khảo cứu thêm và 01 bài tồn nghi là tác phẩm của từ gia Cung Tường Lân (翔麟) thời Thanh.

Đến nay, chúng tôi tiếp tục phát hiện thêm 04 tác phẩm khác trong MMTL chép lẫn tác phẩm từ của Trung Quốc, cụ thể như sau:

- Bài từ thứ 3(8), Ngư phủ từ

Nguyên văn bài từ trong MMTL như sau:

漁父詞

香江江上是儂家,

到秋來愛荻花.

眠未足,

日先斜,

妻笑船頭笑落霞.

Phiên âm:

NGƯ PHỦ TỪ

"Hương giang giang thượng thị nùng gia,

Mỗi đáo thu lai ái địch hoa.

Miên vị túc,

Nhật tiên ,

Thê tiếu thuyền đầu, tiếu lạc ."

Dịch từ:

Sông Hương dòng biếc, ấy nhà ta;

Thu tới, yêu sao, lau trổ hoa.

Chưa trọn giấc,

Bóng chiều tà,

Vợ cười đầu thuyền, cười ráng sa.

(Changfeng dịch)

Qua nghiên cứu văn bản, bài này chỉ là bản sao bài từ cùng điệu của từ gia Văn Bành (文彭) thời Minh(9), chỉ sai khác 03 chữ (Các chữ sai khác đánh dấu gạch chân).

 

MMTL

Bài từ cùng điệu của Văn Bành

漁父詞

香江江上是儂家,

到秋來愛荻花.

眠未足,

日先斜,

妻笑船頭落霞.

漁父詞

江上是儂家,

到秋來愛荻花.

眠未足,

日先斜,

妻笑船頭落霞.

- Bài từ thứ 14, Hương thủy đạo trung

Bài từ này vốn không ghi từ điệu. Trần Văn Tích xác định đây là điệu Hảo sự cận. Nguyên văn bài từ sau khi đã xác định từ điệu, ngắt câu, phân phiến như sau:

香水道中好事近

極目總悲秋,

哀草似黏天末.

多少無情烟樹,

送年年行客.

亂山高下沒斜陽,

夜景更清.

幾點寒鴉風裏,

趁一梳冷月.

Phiên âm:

HƯƠNG THỦY ĐẠO TRUNG - HẢO SỰ CẬN

"Cực mục tổng bi thu,

Ai thảo tự niêm thiên mạc.

Đa thiểu vô tình yên thụ,

Tống niên niên hành khách.

 

Loạn sơn cao hạ một tà dương,

Dạ cảnh cánh thanh tuyệt.

Kỉ điểm hàn nha phong lí,

Sấn nhất sơ lãnh nguyệt."

Trong Sự thực nào cho Mộng Mai từ lục, bđd, chúng tôi ngờ bài này chỉ là chép lẫn bài từ cùng điệu của tác giả Trung Quốc Củng Tường Lân (翔麟)(10), người thời Thanh. Nay, kiểm chứng qua các tư liệu của Trung Quốc, kết quả cho thấy bài này vốn là bản sao bài Nghi Thủy đạo trung, cùng điệu, của Cung Tường Lân.

 

MMTL

Bài từ cùng điệu của Cung Tường Lân

水道中好事近

極目總悲秋,

哀草似黏天末.

多少無情烟樹,

送年年行客.

 

亂山高下沒斜陽,

夜景更清.

幾點寒鴉風裏,

趁一梳冷月.

水道中好事近

極目總悲秋,

哀草似黏天末.

多少無情烟樹,

送年年行客.

 

亂山高下沒斜陽,

夜景更清.

幾點寒鴉風裏,

趁一梳冷月.

Bài từ thứ 22, điệu Điệp luyến hoa

蝶戀花

長日茫茫飛柳絮.

池館淒涼,

獨坐閒凝佇.

枝上杜鵑啼不住,

夕陽影裏微微雨.

簾外青山山外樹.

一望青青,

迷卻天涯路.

多少閒愁無可訴,

卻看雙嚥御花舞.

Phiên âm:

ĐIỆP LUYẾN HOA

"Trườngnhậtmangmangphiliễunhứ.

Trìquánthêlương,

Độctọanhànngưngtrữ.

Chithượngđỗquyênđềbấttrú,

Tịchdươngảnhvivi.

Liêm ngoại thanh sơn sơn ngoại thụ.

Nhất vọng thanh thanh,

khước thiên nhai lộ.

Đa thiểu nhàn sầu khả tố,

Khước khan song yết ngự hoa ."

Bài từ này chỉ là bản sao tác phẩm cùng điệu của từ gia Phan Vân Xích (潘雲赤)(11), người cuối thời Minh ở Trung Quốc.

 

MMTL

Bài từ cùng điệu của Phan Vân Xích

蝶戀花

長日茫茫飛柳絮.

池館淒涼,

閒凝佇.

枝上杜鵑啼不住,

夕陽影裏微微雨.

簾外山山外樹.

一望青青,

迷卻天涯路.

多少閒愁無可訴,

卻看雙嚥御花.

蝶戀花

長日花花飛柳絮.

池館淒涼,

閒凝佇.

枝上杜鵑啼不住,

夕陽影裏微微雨.

簾外青山外樹.

一望青青,

迷卻天涯路.

多少閒愁無可訴,

卻看雙.

- Bài từ thứ 45, điệu Túy hoa âm

Nguyên văn bài từ trong MMTL sau khi đã ngắt câu phân phiến như sau:

醉花陰

一春風雨春將暮,

又把春光誤.

無奈惱春情,

春鳥春花,

都逐春歸去.

 

春來原是無憑據,

春去知何處.

把酒囑春風,

我欲留春,

試問春相許.

Phiên âm:

TÚY HOA ÂM

"Nhất xuân phong xuân tương mộ,

Hựu bả xuân quang ngộ.

nại não xuân tình,

Xuân điểu xuân hoa,

Đô trục xuân quy khứ.

Xuân lai nguyên thị bằng cứ,

Xuân khứ tri xứ?

Bả tửu chúc xuân phong,

Ngã dục lưu xuân,

Thí vấn xuân tương hứa."

Bài từ này chép nguyên văn bài từ cùng điệu của Trọng Hằng (仲恒)(12), từ gia thời Thanh ở Trung Quốc.

- Bài từ thứ 50, Yết Hương Bình

Yết Hương Bình nghĩa là “Thăm sông Hương núi Ngự”, là từ đề, không phải từ điệu. Dựa vào thể thức cách luật của tác phẩm, chúng tôi xác định đây là điệu Yết kim môn. Nguyên văn bài từ sau khi đã xác định từ điệu, ngắt câu, phân phiến như sau:

謁香屏謁金門

江草碧,

又見一年寒食.

風雨落花春可惜,

捲簾人獨立.

 

十里青山咫尺,

兩岸綠楊如織.

酌酒賦詩未得,

浪將光陰擲

 

Phiên âm:

YẾT HƯƠNG BÌNH - YẾT KIM MÔN

"Giang thảo bích,

Hựu kiến nhất niên hàn thực.

Phong lạc hoa xuân khả tích,

Quyển liêm nhân độc lập.

Thập thanh san chỉ xích,

Lưỡng ngạn lục dương như chức.

Chước tửu phú thi câu vị đắc,

Lãng tương quang âm trịch."

Từ đề nhắc đến hai địa danh quen thuộc của xứ Huế là Sông Hương và núi Ngự, theo lẽ thường có thể tin rằng đây là tác phẩm của Đào Tấn. Tuy nhiên theo khảo sát, bài này cũng chỉ là bản sao bài từ cùng điệu của từ gia Thiệu Khuê Khiết (邵圭潔)(13) thời Minh.

 

MMTL

Bài từ cùng điệu của Thiệu Khuê Khiết

謁香屏謁金門

江草碧,

又見一年寒食.

風雨落花春可惜,

捲簾人獨立.

十里青山咫尺,

兩岸綠楊如織.

酌酒賦詩未得,

浪將光.

謁金門

江草碧,

又見一年寒食.

風雨落花春可惜,

捲簾人獨立.

十里青山咫尺,

兩岸綠楊如織.

酌酒賦詩未得,

浪將光.

 

Tổng hợp các kết quả biện ngụy, giám định văn bản sau khi đã đính chính một số nhầm lẫn về từ đề, bổ sung về từ điệu, ta được bảng thống kê các tác phẩm từ Trung Quốc chép lẫn trong MMTL của Đào Tấn như sau:

STT

Bài số

Từ điệu (Từ đề)

Tác giả

Thời đại

1

1

Ngu mĩ nhân

Tưởng Tiệp ()

Tống- Nguyên

2

2

Nhất lạc sách

Chu Bang Ngạn (周邦)

Tống

3

3

Ngư phủ từ

Văn Bành (文彭)

Minh

4

6

Lâm giang tiên

Nguyên Hiếu Vấn (元好問)

Nguyên

5

8

Trường tương tư

Chu Tư Khiêm (周思兼)

Minh

6

10

Ức vương tôn

Uông Nguyên Lượng (汪元量)

Tống

7

12

Ngu mĩ nhân

Ngô Bang Trinh (邦楨)

Minh

8

13

Tiểu trùng sơn

Lưu Cơ (劉基)

Nguyên - Minh

9

14

Hảo sự cận (Hương Thủy đạo trung)

Cung Tường Lân (龔翔麟)

Thanh

10

15

Bồ tát man (Lưu xuân)

Trịnh Bản Kiều (鄭板橋)

Thanh

11

16

Điểm giáng thần (Tống xuân)

Mao Kì Linh (毛奇)

Thanh

12

17

Bồ tát man

Trương Chứ ()

Nguyên

13

19

Như mộng lệnh

Ngô Tiềm ()

Tống

14

21

Điệp luyến hoa

Ngô Tiềm

Tống

15

22

Điệp luyến hoa

Phan Vân Xích (潘雲赤)

Minh

16

23

Chuyển ứng khúc

Giải Tấn ()

Minh

17

31

Mộc lan hoa

Yến Cơ Đạo (晏几道)

Tống

18

32

Tây giang nguyệt (Thu hứng)

Trình Bột (程馞)

Minh

19

33

Phượng thê ngô

Ngô Trúc Dự (竹嶼)

Thanh

20

34

Cán khê sa

Yến Cơ Đạo

Tống

21

35

Triều trung thác

Trương Chứ

Nguyên

22

36

Trường tương tư

Lưu Học Cơ (劉學箕)

Tống

23

37

Như mộng lệnh

Ngô Tiềm

Tống

24

39

Như mộng lệnh

Tần Hàn Sinh (秦瀚先)

Minh

25

40

Điệp luyến hoa

Hoàng Hồng ()

Minh

26

41

Bồ Tát man (Tống xuân)

Nghê Phủ (倪撫)

Minh

27

42

Ức vương tôn

Cát Nhất Long (葛一龍)

Minh

28

43

Ngu mĩ nhân

Hàn Tăng Câu (韓曾駒)

Minh

29

44

Hoa phi hoa

Kế Nam Dương (計南陽)

Minh

30

45

Túy hoa âm

Trọng Hằng (仲恒)

Thanh

31

48

Canh lậu tử

Ngô Tiềm

Tống

32

49

Ức Tần nga

Lưu Bính ()

Minh

33

50

Yết kim môn (Yết Hương Bình)

Thiệu Khuê Khiết (邵圭潔)

Minh

34

51

Ngư phủ

Tô Thức (蘇軾)

Tống

35

52

Ngu mĩ nhân

Tô Thức

Tống

36

53

Nguyễn lang quy

Trương Luân ()

Tống

37

54

Phong nhập tùng

Hàn Hổ (韓淲)

Tống

38

55

Lâm giang tiên

Lí Thạch (李石)

Tống

39

56

Trường tương tư

Lí Thạch

Tống

40

57

Ngư gia ngạo

Lí Thạch

Tống

41

58

Tương kiến hoan

Chu Đôn Nho (朱敦儒)

Tống

42

59

Nhất lạc sách

Chu Đôn Nho

Tống

43

60

Giá cô thiên

Lưu Học Cơ

Tống

Như vậy, cho đến thời điểm này, theo giám định văn bản của chúng tôi, có ít nhất 43/60 tác phẩm từ trong MMTL (71,6%) chép lẫn tác phẩm từ của các từ nhân Trung Quốc. MMTL, bản hiện còn, sau khi đã loại bỏ 43 bài chỉ còn 17 bài. Do MMTL là một từ tập có chép lẫn quá nhiều tác phẩm từ của Trung Quốc, lại căn cứ vào nội dung và đặc biệt là phong các từ học, có thể thấy ngay 17 bài còn lại trong MMTL không phải bài nào cũng có thể yên tâm về mặt tác quyền(14). Do đó, trong khi nghiên cứu sáng tác từ của Đào Tấn, vẫn cần có sự chú ý thêm về mặt văn bản.

 

Chú thích

(1) Vũ Ngọc Liễn (chủ biên): Thơ và từ Đào Tấn, Nxb. Văn học, H, 1987.

(2) Vũ Ngọc Liễn (biên khảo): Đào Tấn - thơ và từ, Nxb. Sân khấu, H, 2003.

(3) Xuân Diệu: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập II, Nxb. Văn học, H, 1982.

(4) Xuân Diệu, sđd, tr. 354-425.

(5) Xem Hồ Đắc Bích: Đào Tấn qua thơ, từ và kịch bản tuồng, Lê Xuân Lít: Mùa xuân trong thơ và từ Đào Tấn (trong sách Đào Tấn qua thư tịch - Vũ Ngọc Liễn biên khảo, Nxb. Sân khấu, H. 2006). Nguyễn Văn Phú: Tâm hồn Đào Tấn, in trên Văn nghệ trẻ số ra ngày 10-05-2009, v.v...

(6) Trần Văn Tích: Vấn đề văn bản học của một số bài từ Đào Tấn, trên trang: http://www.hqtysvntd.org/van%20hoa%20&%20nghe%20thuat.htm.

(7) Phạm Văn Ánh: Một số vấn đề văn bản của Mộng Mai từ lục, bài viết cho Hội thảo: Danh nhân Đào Tấn - Sự nghiệp, tài năng và sự cống hiến, tổ chức tại Quy Nhơn, Bình Định tháng 8/2007, sau đó được in trong Đào Tấn - Trăm năm nhìn lại, Nxb. Hội nhà văn, 2008, tr.471-486.

(8) Số thứ tự các bài, theo Đào Tấn thơ và từ, sđd.

(9) Văn Bành: tự là Thọ Thừa, người ở Trường Châu, Trung Quốc. Ông làm Quốc tử giám Bác sĩ. Trước bài từ điệu Ngư phủ nói trên có lời dẫn, ghi: “Tôi có ngôi nhà ở trên Lạp Trạch, đốc thúc việc cày ruộng ở đấy. Tình cờ đọc bài Ngư phủ từ của quan Thái sử họ Hoàng, vui mừng mà làm nối theo”. Tác phẩm, xem trong Minh từ tổng, Q. IV.

(10) Cung Tường Lân (1658-1733): từ gia thời Thanh, tự là Thiên Thạch, hiệu là Hành Phố, Giá Thôn, cuối đời hiệu là Điền Cư, người ở Nhân Hòa (nay là Hàng Châu, Chiết Giang).

(11) Phan Vân Xích: tự là Hạ Châu, người Lâm Bình cuối thời Minh, môn hạ của Thẩm Khiêm , hiệu là Đông Giang bát tử. Tác phẩm xem trong Thanh sơ Dư Hàng thập gia từ 清初余杭十家詞của Ngô Câu Hồng Đậu 鉤紅豆.

(12) Trọng Hằng: từ gia thời Thanh, tác giả sách Từ vận.

(13) Thiệu Khuê Khiết: tự Bá Như, người Thường Thục, đỗ Cử nhân năm thứ 28 niên hiệu Gia Tĩnh triều Minh. Tác phẩm xem trong Minh từ tổng 詞總, Q.IV.

(14) Xem Phạm Văn Ánh: Sự thực nào cho Mộng Mai từ lục, Tạp chí Văn học, số 9, 2009./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (106) 2011, Tr.54 - 59)

Phạm Văn Ánh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm