VI | EN
Trở lại để tiếp tục khẳng định cách đọc Nguyễn Tông Quai 阮 宗 cho danh xưng tác giả Sứ Hoa tùng vịnh (Tạp chí Hán Nôm, số 1 (110) 2012 (tr.54 - 78)
(Tạp chí Hán Nôm, số 1 (110) 2012 (tr.54 - 78)

TRỞ LẠI ĐỂ TIẾP TỤC KHẲNG ĐỊNH
CÁCH ĐỌC NGUYỄN TÔNG QUAI
CHO
DANH XƯNG
TÁC GIẢ SỨ HOA TÙNG VỊNH

ThS. CHU XUÂN GIAO

Viện Nghiên cứu Văn hóa

Lời mở

Kết luận mang tính đề nghị như sau đã được chúng tôi đưa ra vào năm 1994 trong một bài viết trên Tạp chí Hán Nôm, rằng: nên thống nhất đọc tên tác giả Sứ Hoa tùng vịnh使華叢詠là Nguyễn Tông Quai, với mã chữ Hán chính xác là阮宗 , còn những cách đọc Nguyễn Tôn(g) Khuê阮宗奎hay Nguyễn Tôn(g) Phong阮宗峰(1) nên coi là kết quả của những nhầm lẫn theo nhiều cách khác nhau [Chu Xuân Giao 1994a: 42].

Phải đặt lại vấn đề này sau gần hai thập niên, khi mà bản thân cái tên “Nguyễn Tông Quai” đã được đặt cho một con đường ở thành phố Thái Bình (từ năm 2003) và nhiều trường học tại quê hương nhà thơ (từ năm học mới 2011-2012), không phải chỉ vì gần đây cách đọc Nguyễn Tông Khuê lại được sử dụng tựa như là chính thức trong một số ít nghiên cứu của học giả Việt Nam [Nguyễn Thạch Giang (Chủ biên) 2004; Ngô Đức Thọ (Chủ biên) 2006: 577-578; Nguyễn Tá Nhí (Chủ biên) 2008; Lê Thị Vĩ Phượng 2009a-b; Ngô Đức Thọ 2010: 756]. Mà quan trọng hơn, là vì, tựa như tên ông hiện được qui chuẩn bằng một mã chữ Hán xa lạ, và chúng tôi có thể nói rõ là sai nhầm. Đó là chữ , âm đọc là Khuê. Có nghĩa là, với mã chữ này, tên tác giả Sứ Hoa tùng vịnh (SHTV) được một số nhà nghiên cứu muốn qui chuẩn thành阮宗, đọc là Nguyễn Tông Khuê. Về mã chữ , thì không phải đợi đến bây giờ, mà ngay từ bài viết năm 1994 nói trên, chúng tôi đã chỉ ra đó vốn là một nhầm lẫn tựa như vô tình của người lập phích tra cứu sách Hán Nôm ở Thư viện Quốc gia Việt Nam, bản thân nó không hề hiện diện trong bất cứ văn bản đích thực nào liên quan đến Nguyễn Tông Quai [Chu Xuân Giao 1994a: 40-41]. Điều đáng quan tâm hơn cả là, bên cạnh sự ủng hộ của một số ít học giả Việt Nam (Nguyễn Thạch Giang, Ngô Đức Thọ, Trịnh Khắc Mạnh), mã chữlại đang được phần lớn các học giả Trung Quốc và Đài Loan xem là chuẩn. Chẳng hạn, nó được sử dụng là tên chính thức của tác giả SHTV trong các công cụ tra cứu, ở dạng sách in hay điện tử, của / từ nhóm tác giả Đài Loan là Lưu Xuân Ngân劉春銀 Vương Tiểu Thun王小盾[Lưu Xuân Ngân, Vương Tiểu Thun, Trần Nghĩa chủ biên2002; Tư liệu mạng 8(2)]. Nó cũng được dùng chính thức như vậy trong bộ sách lớn gồm 25 tập Việt Nam Hán văn Yên hành văn hiến tập thành越南漢文燕行文献集成- công trình hợp tác giữa Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Việt Nam) và Viện Nghiên cứu văn sử thuộc Đại học Phúc Đán (Trung Quốc), mới được ấn hành tại Trung Quốc năm 2010(3) (tác giả SHTV được đưa vào tập 2). Bắt đầu có một vài nghiên cứu dựa vào bộ sách 25 tập nói trên, như là tài liệu gốc, để nghiên cứu về SHTV và tác giả của nó(4).

Ngoài ra, sự xuất hiện của hai mã chữ khác trong thời gian qua cũng làm chúng tôi lưu tâm. Đó là mã chữ (Quai) từ bài viết công bố năm 2007 của một trụ cột chính yếu cho đến thời điểm hiện tại trong nghiên cứu tác giả SHTV [Bùi Duy Tân 2007: 10] rồi những lan truyền theo đó, chủ yếu trên không gian internet; và mã chữ (Thất) trong nghiên cứu của Kang Tong-Yop姜東燁 ở Hàn Quốc (tạm dẫn lại theo Shimizu Taro 清水太郎 2010; bản thân Shimizu thì ủng hộ cho mã chữ ). Các nhà nghiên cứu Âu Mĩ, như Liam C. Kelley, thì vẫn lấy “Nguyen Tong Khue” là cách biểu âm chính.

Điểm qua như vậy cũng có thể thấy, gần đây, tác phẩm SHTV và những hoạt động bang giao trong hai lần đi sứ nhà Thanh của tác giả tập thơ ấy đang dần trở thành quan tâm chung của các nhà nghiên cứu khu vực Đông Á, tình hình hợp tác nghiên cứu đã rộng mở hơn rất nhiều so với thời điểm các năm 1992-1995(5). Trước bối cảnh như vậy, tiếp tục trao đổi để đi đến thống nhất một mã chữ đúng và âm đọc đúng trong tiếng Việt cho tác giả SHTV trở thành công việc mang tính nền móng.

1. Quá trình đọc tên tác giả Sứ Hoa tùng vịnh

Ở bài viết đã công bố năm 1994, chúng tôi khởi tính từ năm 1927 với cách đọc “Nguyễn Tôn Khuê” của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến trong bản dịch Vũ trung tùy bút đăng trên Tạp chí Nam Phong, và kết thúc ở nhóm tư liệu xung quanh thời điểm năm 1993 được tiếp cận tính đến trước thời điểm viết bài. Như thấy trong Biểu 1 ở dưới đây, có 5 cách đọc tên tác giả SHTV cho đến thời điểm đó, là Khuê, Quai, Quải, Quê, Phong. Trong đó, hai cách đọc “tranh minh” chủ yếu là Khuê Quai, còn Quải Quai là cách đọc của cùng một tác giả Trần Văn Giáp mà về sau thì đã tựa như thống nhất là Quai, mỗi cách đọc PhongQuê chỉ có duy nhất ở một tư liệu.

Gần đây, có thêm cách đọc là Thất (Nguyễn Tông Thất) của nhóm soạn giả Nguyễn Tá Nhí [Nguyễn Tá Nhí (Chủ biên) 2008: 390], nhưng đó chỉ là nhầm lẫn mà thôi. Chỉ cần đối chiếu với trang 625 và 681 của cuốn sách đó, tức phần nguyên bản tác phẩm mà nhóm này đã sử dụng, thì có thể rõ. Cách đọc là Thất (không chua chữ Hán) của nhóm này làm chúng tôi liên tưởng đến mã chữ trong nghiên cứu của Kang Tong-Yop. Có lẽ đều do đọc nhầm tự dạng của chữ .

Nhìn tổng quan thì thấy, phải đến thập niên 1970 và kế tiếp là thập niên 1980, tác giả SHTV mới được giới nghiên cứu văn học nước nhà chính thức phát hiện, rồi xếp hạng với tư cách là một tác gia có những cống hiến xuất sắc trong dòng thơ đi sứ và thơ vịnh sử(6). Ở thời kì mang tính bản lề này, tức ở hai thập niên 1970 và 1980, so với cách đọc Quai (vốn đã được khôi phục mã chữ Hán và đọc âm đúng bởi nhóm Lê Quý Đôn vào cuối thập niên 1950, bởi Trần Văn Giáp và Tổ phiên dịch Viện Sử học vào thập niên 1960), cách đọc Khuê chiếm ưu thế hơn. “Nguyễn Tông Khuê” là tên chính thức trong bộ giáo trình lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân năm 1979, của Đinh Gia Khánh năm 1980, là tên mục từ trong Từ điển Văn học bộ cũ năm 1984; còn “Nguyễn Tông Quai” thường được viết trong ý thức ghi chú như một cách đọc khác. Các sách công cụ được ấn hành vào đầu thập niên 1990 của Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng lấy Khuê là cách đọc chính [Nguyễn Quang Hồng (Chủ biên) 1993; Trần Nghĩa, François Gros (Chủ biên) 1993].

Nhóm các nhà nghiên cứu ở Thái Bình thì thống nhất cách đọc Quai từ khá sớm, trong đó, tiêu biểu nhất là Đỗ Phú Hứa năm 1986, rồi đến nhóm Phạm Hóa sau này. Nhóm Phạm Hóa còn ghi chú là có âm đọc là Quê, nhưng kết quả điều tra điền dã tại quê hương nhà thơ của chúng tôi không cho thấy tính xác thực của thông tin, và thông tin đó cũng chỉ xuất hiện duy nhất ở sách của nhóm này [Phạm Hóa, Vũ Mạng Quang, Nguyễn Thanh 1989: 79-80].

Hội thảo quốc gia về tác giả SHTV năm 1993 tại Thái Bình, với hai đại diện chính về mặt học thuật trên thực tế là Bùi Duy Tân (Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội) và Nguyễn Thanh (Sở Văn hóa Thông tin và Thể thao Thái Bình), trên cơ sở tư liệu được tích lũy từ lâu trước đó, đã có ý qui chuẩn cách đọc Quai. Các ấn phẩm của hội thảo đều ghi “Nguyễn Tông Quai”. Tuy nhiên, trong hội thảo và sau đó một thời gian, một số tác giả vốn tham gia hội thảo tựa như vẫn kiên trì với cách đọc Khuê [Tạ Ngọc Liễn - Trương Thị Yến 1993, Tạ Ngọc Liễn 1993].

 

Năm

Tác giả

hay dịch giả

Cách đọc

và mã chữ Hán

Xuất xứ

1927

Nguyễn Hữu Tiến

Tôn Khuê

Phạm Đình Hổ 1989 (1927-1928): 144

1952

Hoàng Xuân Hãn

Tông Khuê

Hoàng Xuân Hãn 1952: 36

1958

Nhóm Lê Quý Đôn

Tông Quai

Bùi Huy Bích 1958: 111-112

1959

Nhóm Văn Tân

Tông Khuê

Văn Tân,… 1959: 188

1961

Tổ phiên dịch Viện Sử học

Tôn(g) Quai

Phan Huy Chú 1961: 95, 132, 174

1968

Nguyễn Đức Đạm

Tôn Phong

Trần Tiến (Nguyễn Đức Đạm dịch) 1968: 69

1969

Trần Văn Giáp

Tông Quải

Trần Văn Giáp 1969: 45-49

1971

Trần Văn Giáp

Quải, Khuê

Trần Văn Giáp 1971: 292, 55

(1970s)

Trần Văn Giáp

Quai

Trần Văn Giáp 1990: 100 (bản thảo chuẩn bị nhiều năm)

1975

Hoa Bằng

Quai

Cao Lãng, Xiển Trai 1975: 19, 22, 32

1979

Bùi Duy Tân

Khuê (Quai)

Bùi Duy Tân 1979: 226

1980

Đinh Gia Khánh

Khuê

Đinh Gia Khánh 1980: 251, 253

1984

Bùi Duy Tân

Khuê (Quai)

Bùi Duy Tân 1984: 86

1986

Đỗ Phú Hứa

Quai

Đỗ Phú Hứa 1986: 77-92 (có lẽ là (7))

1986

Mai Quốc Liên

Khuê

Mai Quốc Liên 1986: 90-101(8)

1989

Nhóm Phạm Hóa

Quai (Quải, Quê)

Phạm Hóa, Vũ Mạnh Quang, Nguyễn Thanh 1989: 79-80

1991

Nhóm Nguyễn Q. Thắng

Khuê (Quai)

Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế 1991: 647

1993

Nhóm Nguyễn Quang Hồng

Khuê

Nguyễn Quang Hồng (Chủ biên) 1993: 870, 913

5/1993

Hội thảo quốc gia

Quai ( (9))

Nhiều tác giả 1993, Nguyễn Tông Quai 1993

5/1993

Bùi Duy Tân

Quai ( )

Bùi Duy Tân 1993a

5/1993

Mai Hồng

Quai

Mai Hồng 1993, Nguyễn Tông Quai 1993 (có lẽ là )

5/1993

Chu Xuân Giao

Quai ( )

Chu Ngọc Giao 1993a, b

5/1993

Nhóm Tạ Ngọc Liễn

Khuê

Tạ Ngọc Liễn -Trương Thị Yến 1993, Tạ Ngọc Liễn 1993

1993

Nhóm Trần Nghĩa

Khuê

Trần Nghĩa, Francois Gros (Chủ biên) 1993; Tư liệu mạng 7

1993

Vũ Thế Khôi

Khuê

Vũ Thế Khôi 1993; một bài trên Văn Nghệ (12/6/1993)

1993

Chu Xuân Giao

Quai

Chu Xuân Giao 1993 d, 1994a (thoát cảo năm 1993)


Biểu 1: Tóm tắt về tình hình đọc tên và ghi mã chữ Hán cho tác giả Sứ Hoa tùng vịnh, từ năm 1927 cho đến thời điểm năm 1993 (10)

Trước khi tổng quan tiếp về tình hình tính từ sau thời điểm năm 1993, đúng hơn là từ sau bài viết năm 1994 trên Tạp chí Hán Nôm, chúng tôi muốn nhắc đến một tài liệu thú vị, nhưng ngoài chúng tôi [Chu Xuân Giao 1993c: 33, 1994c: 53, 1995: 52], thì hầu như chưa được đề cập đến trước nay trong nghiên cứu về SHTV. Đó là, mốc thời gian đầu tiên trong Bảng 1 có thể lùi lại năm 1921-1922, với bản dịch mang tên Sứ Hoa nhàn vịnh của Vũ Bích đăng trên nhiều số Tạp chí Nam Phong [Vũ Bích 1921-1922]. Tạm thời có thể xem đây là tài liệu Quốc ngữ ở dạng in đầu tiên giới thiệu và phiên dịch hơn một trăm bài trong SHTV, nó xuất hiện sớm hơn vài năm so với thời điểm Nguyễn Hữu Tiến nhắc đến “Nguyễn Tôn Khuê” trong bản dịch Vũ trung tùy bút như đã nói ở trên. Điều thú vị là Vũ Bích không hề biết, hay không quan tâm, đến tên của tác giả tập thơ Sứ Hoa nhàn vịnh (một tên khác mang tính cá biệt của SHTV) do chính ông dịch, mà chỉ giới thiệu sơ sài rằng: “…chúng tôi…mới tìm lục được tập thơ Sứ Hoa nhàn vịnh, nguyên thơ này là của một ông Hội nguyên Đình giáp, làm quan Hộ bộ Tả Thị lang triều nhà Lê, trong khi vâng mệnh vua sang sứ nhà Thanh, bắt đầu đi từ kinh đô Hà Nội đến Yên Kinh nước Tàu…” [Vũ Bích 1921 - Nam Phong số 48: 482; Chu Xuân Giao 1993c: 33, 1994c: 53, 1995]. Có nghĩa là, cách nay khoảng 90 năm, tác giả của SHTV đã xuất hiện lần đầu tiên ở dạng “vô danh” trong môi trường Quốc ngữ. Phải chăng vì lí do “vô danh” này, cộng thêm với việc tập thơ dịch được mang tên lạ tai là Sứ Hoa nhàn vịnh, mà sau này bản dịch hay phóng dịch của Vũ Bích hầu như không được biết đến(11).

Từ sau hội thảo quốc gia năm 1993, cho đến hết năm 1995, ngoài việc các ấn phẩm của hội thảo được phát hành [Nhiều tác giả 1993, Nguyễn Tông Quai 1993], nhiều bài viết riêng hoặc chung về Nguyễn Tông Quai của nhóm tác giả ở Khoa Ngữ văn thuộc Đại học Tổng hợp Hà Nội trước đây lần lượt xuất hiện trên các tạp chí học thuật (như Hán Nôm, Văn học, Văn hóa Dân gian, Thông tin Khoa học Xã hội) hay báo chí phổ thông khác [Bùi Duy Tân 1993b; Bùi Duy Tân - Chu Xuân Giao 1995; Chu Xuân Giao 1993c-d, 1994 a-b-c-d, 1995], trong đó, có một bài bàn riêng biệt về cách đọc tên tác giả SHTV trên Tạp chí Hán Nôm như đã đề cập. Vào cuối thế kỉ XX và thập niên đầu thế kỉ XXI, một số sách dạng Tổng tập, Hợp tuyển, Tỉnh tuyển văn học có phần dành cho Nguyễn Tông Quai cùng do nhóm tác giả Khoa Ngữ văn thực hiện đã được xuất bản [Bùi Duy Tân (Chủ biên) 1997, 2009; Bùi Duy Tân,… 2005]. Có lẽ một phần nhờ vào những cố gắng đó, mà từ khoảng thời gian năm 1993-1995 đến nay, như thấy ở Biểu 2 dưới đây, về cơ bản, giới khoa học và bạn đọc phổ thông đã quen dùng danh xưng Nguyễn Tông Quai. Trước đây, ở các thập niên 1970-1980, Khuê dường như được xem là có âm và nghĩa đẹp nên lấy làm tên chính thức, còn bây giờ Quai được xem là âm đọc chính xác. Từ điển văn học (bộ mới), cũng như phần lớn các nghiên cứu từ nửa sau thập niên 1990 sử dụng “Nguyễn Tông Quai” là cách đọc chính thức.

Đặc biệt, 10 năm sau ngày tổ chức hội thảo quốc gia, vào năm 2003, chính quyền địa phương đã phê duyệt việc đặt tên đường phố Nguyễn Tông Quai (xem Ảnh 1). Đó là con đường có chiều dài 0,7km, nền đường 12m, mặt đường 7,0m, chạy theo hướng đông bắc - tây nam, thuộc vào phường Trần Lãm thành phố Thái Bình, điểm đầu giáp phố Ngô Thì Nhậm, điểm cuối giáp phố Lý Bôn [Nguyễn Quang Ân - Nguyễn Thanh (Chủ biên) 2010: 667].

Mới đây nhất, theo thông tin của Phòng Giáo dục thuộc Ủy ban Nhân dân huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình, từ tháng 9 năm 2011, bốn trường học trên địa bàn xã Hòa Tiến - quê hương của nhà thơ - đều vừa đổi tên, để trở thành trường mang tên Nguyễn Tông Quai, gồm: một trường mầm non, hai trường tiểu học (Nguyễn Tông Quai 1, 2), một trường trung học cơ sở.

Tuy nhiên, cũng như thấy ở Biểu 2, vẫn có một số ít tác giả sử dụng “Nguyễn Tông Khuê” như là cách đọc chính. Trong đó, đáng chú ý là 4 nhóm nghiên cứu sau. Một là, nhóm các soạn giả cuốn Các nhà khoa bảng Việt Nam - một cuốn sách tra cứu có tính tiện ích cao trong nhiều năm qua. Ở ấn bản lần đầu năm 1993 (theo trang bìa), nhóm soạn giả sử dụng cách đọc Quai (Khuê thì được đưa vào một dòng như ghi chú ở dưới); nhưng đến lần tái bản năm 2006 thì lại lấy Khuê làm chính. Người chủ biên cuốn sách ấy tiếp tục sử dụng Khuê và cách lí giải của ấn bản 2006 trong một công trình khác là cuốn sách lớn xuất bản năm 2010 [Ngô Đức Thọ 2010: 754, 756]. Hai là, nhóm soạn giả Nguyễn Thạch Giang với cuốn Tinh tuyển văn học Việt Nam (Tập 5) in năm 2004. Ba là, nhóm soạn giả Nguyễn Tá Nhí với cuốn Thơ Nôm Hàn luật (Tập 2) in năm 2008. Bốn là, một luận văn cao học nghiên cứu về phương diện văn bản của tập SHTV đã hoàn thành vào năm 2009 [Lê Thị Vĩ Phượng 2009]. Ở trường hợp Lê Thị Vĩ Phượng, có một điều thú vị: dù tên luận văn là “Nghiên cứu văn bản tác phẩm Sứ hoa tùng vịnh của Nguyễn Tông Khuê” nhưng toàn bộ nội dung bên trong (từ trang 5 trở đi) thì là Nguyễn Tông Quai, tác giả cũng tán thành mã chữ (xem các trang 5, 9, 13).

 

 

Năm

Tác giả

Cách đọc

và mã chữ Hán

Xuất xứ

1993

*Nhóm Phạm Thiều

Khuê

Phạm Thiều, Đào Phương Bình (Chủ biên) 1993: 153-176. Bản thảo được chuẩn bị từ lâu, năm 1993 mới xuất bản.

1993

*Nhóm Ngô Đức Thọ

Quai

Ngô Đức Thọ (Chủ biên) 1993: 668

1994

*Chu Xuân Giao

Quai

Chu Xuân Giao 1994b-c-d

1995

*Chu Xuân Giao

Quai

Bùi Duy Tân - Chu Xuân Giao 1995; Chu Xuân Giao 1995

1995

Nhóm Lại Nguyên Ân

Quai

Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường 1995: 304

1996

Cho Jae Hyun

Quải

Cho Jae Hyun 1996: 21 (tác giả tự viết tiếng Việt, có lẽ dựa vào Trần Văn Giáp 1969)

1996

*Bùi Duy Tân

Quải

Bùi Duy Tân 1996: 47, 56, 60 (người biên tập có lẽ đã chữa thành Quải, để thống nhất với bài Cho Jae Huyn 1996 in cùng trong một cuốn sách)

1997

*Bùi Duy Tân

Quai

Bùi Duy Tân (Chủ biên) 1997: 380-442

1997

Nhóm Nguyễn Q.Thắng

Khuê (Quai)

Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế 1997: 659

1999

*Bùi Duy Tân

Quai

Bùi Duy Tân 1999

2000

Kang Tong-Yop姜東燁

Dẫn lại theo Shimizu Taro 2010: 360 (chú số 56)

2002

*Nhóm Lưu Xuân Ngân 劉春銀

,

Lưu Xuân Ngân, Vương Tiểu Thun, Trần Nghĩa (Chủ biên) 2002: 阮宗; Tư liệu mạng 8: 阮宗

2002

*Trịnh Khắc Mạnh

Quai

Trịnh Khắc Mạnh 2002: 419-420 (Khuê)

2004

*Bùi Duy Tân

Quai

Bùi Duy Tân 2004 (Từ điển Văn học - Bộ mới)

2004

Nhóm Nguyễn Thạch Giang

Khuê

Nguyễn Thạch Giang (Chủ biên) 2004: 119-156

2005

Nguyễn Kim Sơn

Quai

Nguyễn Kim Sơn 2005

2005

Nhóm Lại Nguyên Ân

Quai

Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường 2005: 346

2005

*Nhóm Bùi Duy Tân

Quai

Bùi Duy Tân,… 2005: 235-246

2005

Liam C. Kelley

Khue

Liam C. Kelley 2005: 43, 74, 158 (Nguyen Tong Khue)

2006

Nhóm Françoise Douaire -Marsaudon

Quai

Françoise Douaire-Marsaudon, Bernard Sellato, Chantal Zheng 2006: 59 (Nguyen Tông Quai)

2006

*Nhóm Ngô Đức Thọ

Khuê

Ngô Đức Thọ (Chủ biên) 2006: 577-578

2006

Vu Tại Chiếu于在照

Quai

Vu Tại Chiếu 2006 (chưa rõ là bản tự viết tiếng Việt, hay bản dịch)

2006

*Trịnh Khắc Mạnh

Quai

Trịnh Khắc Mạnh 2006: 440, 442, 796

2007

* Trịnh Khắc Mạnh

Quai

Trịnh Khắc Mạnh 2007: 409-410 (Khuê)

2007

*Bùi Duy Tân

Quai

Bùi Duy Tân 2007: 10

2007

Nguyễn Minh Tường

Quai

Nguyễn Minh Tường 2007

2007

*Nguyễn Hữu Mùi

Quai

Nguyễn Hữu Mùi 2007

2007

*Quách Thu Hiền

Quai

Quách Thu Hiền 2007

2007

*Lưu Ngọc Quận刘玉珺

Lưu Ngọc Quận刘玉珺 2007

2008

*Nhóm Nguyễn Tá Nhí

Khuê (Thất)

Nguyễn Tá Nhí (Chủ biên) 2008: 566-574, 390 (625, 681)

2009

*Lê Thị Vĩ Phượng

Khuê

Quai

Lê Thị Vĩ Phượng 2009 (tên luận văn ghi Nguyễn Tông Khuê, nhưng toàn bộ bên trong ghi Nguyễn Tông Quai(13))

2009

Nhóm Vũ Ngọc Khánh

Quai

Vũ Ngọc Khánh (Chủ biên) 2009: 376-377

2009

*Nhóm Bùi Duy Tân

Quai

Bùi Duy Tân (Chủ biên) 2009: 98-111

2009

Nguyễn Kim Sơn

Quai

Nguyễn Kim Sơn 2009: 229-233

2010

*Đại học Phúc Đán 复旦大学 và Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Đại học Phúc Đán复旦大学 2010: 5

 

2010

*Đỗ Văn Ninh

Khuê (Quai)

Đỗ Văn Ninh 2010: 430

2010

*Ngô Đức Thọ

Khuê

Ngô Đức Thọ 2010: 754, 756

2010

Nhóm Vũ Khiêu

Quai

Vũ Khiêu (Chủ biên) 2010: 524-530

2010

*Nhóm Nguyễn Quang Ân

Quai

Nguyễn Quang Ân, Nguyễn Thanh (Chủ biên) 2010:666-67

2010

*Shimizu Taro清水太郎

Shimizu Taro 2010: 360

2010

David C. Kang

Khue

David C. Kang 2010: 60 (Nguyen Tong Khue)

2011

Chiêm Chí Hòa詹志和

Chiêm Chí Hòa 2011 (bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Đình Phức ghi Quai)

2011

Nguyễn Công Lý

Quai

Nguyễn Công Lý 2011

2011

Nguyễn Thanh Tùng

Quai

Nguyễn Thanh Tùng 2011

2011

Nguyễn Thị Minh

Quai

Nguyễn Thị Minh 2011

2011

Nguyễn Hữu Mùi

Quai

Nguyễn Hữu Mùi 2011: 473

_

*ViệnNC Hán Nôm

Khuê

Tư liệu mạng 3, 4, 7


Biểu 2: Tóm tắt về tình hình đọc tên và ghi mã chữ Hán của tác giả Sứ Hoa tùng vịnh,

từ khoảng năm 1993 đến nay


Theo nhận định của chúng tôi, chỉ có một số ít tác giả hay nhóm tác giả trong Biểu 2 đã trực tiếp làm việc với tư liệu gốc về tác giả SHTV, với những trường hợp ấy, chúng tôi đánh thêm dấu hoa thị (*) ở trước tên; còn những tác giả hay nhóm tác giả khác, có thể chỉ sử dụng tư liệu ở dạng thứ cấp, hoặc chưa có điều kiện tiếp xúc tư liệu gốc. Hai công trình ở đầu tiên (nhóm Phạm Thiều 1993, nhóm Ngô Đức Thọ 1993) ra đời sau hội thảo quốc gia tại Thái Bình, nhưng bản thảo đều được chuẩn bị từ nhiều năm trước đó.

Tới các nhà nghiên cứu nước ngoài thuộc khu vực Đông Á thì, ngoài Cho Jae Hyun trong một bài viết bằng tiếng Việt năm 1996 có sử dụng âm Quải (có lẽ dựa theo tài liệu của Trần Văn Giáp), còn hầu như chưa bàn về cách đọc tên tác giả SHTV, mà chỉ đưa ra những mã chữ Hán, như: (nhóm Lưu Xuân Ngân bản sách in, Lưu Ngọc Quận), (nhóm Lưu Xuân Ngân bản điện tử, nhóm Đại học Phúc Đán, Chiêm Chí Hòa), (Kang Tong-Yop); có một người duy nhất là Shimizu Taro, học giả Nhật Bản, ủng hộ cho mã chữ (14).

Với các nhà nghiên cứu Âu Mĩ, có lẽ tùy thuộc vào văn bản mà họ tham khảo, nên dù nhóm Françoise Douaire-Marsaudon ghi là Quai, nhưng cách biểu âm Nguyen Tong Khue vẫn là chính (xem Liam C. Kelley 2006 và David C. Kang 2010), trong đó cuốn của Liam là sách chuyên về thơ đi sứ và đã có tiếng vang nhất định trong bạn đọc tiếng Việt.

2. Xung quanh các mã chữ Hán cho tên tác giả Sứ Hoa tùng vịnh

Như đã nhắc qua ở trên, trong các nghiên cứu của người Việt Nam và người nước ngoài, có nhiều mã chữ Hán khác nhau cho tên của tác giả SHTV. Tính đến thời điểm hiện tại, có bảy mã sau: 1. ; 2.; 3. ; 4. ; 5. ; 6.; 7.. Cần lưu ý rằng, đó là các mã chữ xuất hiện trong các công trình nghiên cứu (tạm gọi là mảng nghiên cứu), từ đầu thế kỉ XX đến nay, chứ không phải là mã chữ xuất hiện ở những tư liệu gốc viết bằng văn tự Hán Nôm ghi tên tác giả SHTV hay liên quan đến SHTV như thấy ở Biểu 3Biểu 4 dưới đây (tạm gọi là mảng tư liệu gốc). Có một khoảng cách giữa mảng nghiên cứu và mảng tư liệu gốc. Cụ thể là, ở mảng tư liệu gốc, không hẳn đã có đủ bảy mã trên, có một số mã là do các nhà nghiên cứu tự ý đưa ra; đồng thời, còn xuất hiện những mã chữ khác mà mảng nghiên cứu không phản ánh hết (chẳng hạn mã , xem trong Biểu 4).

Quan điểm cơ bản của chúng tôi là, việc khảo sát kĩ lưỡng mã chữ trong mảng tư liệu gốc sẽ đưa ra câu trả lời quyết định cho vấn đề danh xưng của tác giả SHTV. Mảng tư liệu gốc ấy lại có thể phân làm hai nhóm chính: nhóm tư liệu gốc chỉ dẫn ID (Identity Document/ Chứng minh thư) tức chỉ dẫn thông tin cá nhân lúc đương thời của tác giả SHTV (tạm gọi là nhóm tư liệu ID), và nhóm tư liệu gốc sao chép bản thân SHTV cùng các tác phẩm khác (tạm gọi là nhóm tư liệu tác phẩm).

 

Văn bản

Mã chữ

 

Xuất xứ

No

Ghi chú: xuất hiện mã chữ nào thì đánh dấu ¨

1

Bia Đề danh Tiến sĩ khoa Tân Sửu - Bảo Thái thứ 2 (1721)

 

¨

- Bia gốc tại Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội

- Thác bản No.1379

2

Đăng khoa lục

 

¨

- A.1387 quyển 3

- VHv.2140/3, tờ 69b

3

Gia phả họ Nguyễn Tông

 

¨

Tư liệu địa phương (khảo sát của Đỗ Phú Hứa trước năm 1986, của Chu Xuân Giao năm 1993)

4

Đại Việt sử kí bản kỉ tục biên

 

¨

- A.1189, tờ 26a - 27b,… (ViệnNC Hán Nôm)

- HV.119 (Viện Sử học)

5

Kiến văn tiểu lục (Lê Quí Đôn)

 

¨

- A.32, Thiên chương, quyển 4, tờ 12a

6

Tang thương ngẫu lục (phần Kính Phủ Nguyễn Án viết)

 

¨

- A.218, quyển hạ, tờ 20b (Viện NC Hán Nôm)

- R.194, quyển hạ, tờ 20b (Thư viện Quốc gia)

7

Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ)

 

¨

- A.1297, tờ 146b-147a

8

Lịch triều hiến chương loại chí

(Phan Huy Chú)

 

¨

- A.1551, quyển 43, tờ 21b; quyển 47, tờ 36b

9

Hoàng Việt thi tuyển (Bùi Huy Bích)

 

¨

- VHv.1451, quyển 5, hạ tập

- R.969, quyển 5, hạ tập (Thư viện Quốc gia)

10

Vũ tộc hoa phả (gia phả họ Vũ Tông Phan)

¨

 

Tư liệu tại gia đình ông Vũ Thế Khôi, Hà Nội


Biểu 3: Mã chữ xuất hiện trong nhóm tư liệu gốc chỉ dẫn ID của tác giả SHTV

(khảo sát năm 1993)


Ở các nghiên cứu đã công bố trước đây [Chu Xuân Giao 1994a, 1993c-d], căn cứ chủ yếu vào mảng tư liệu gốc, được tóm tắt ở Biểu 3Biểu 4, kết hợp với kết quả điều tra điền dã tại quê hương tác giả vào năm 1993, chúng tôi đã chỉ ra rằng mã 1 ( ) là chính xác, âm đọc đúng của nó là Quai. Có thể tóm tắt ba luận cứ đã trình bày như sau. Một là,hiện diện ở 9 trên 10 tư liệu thuộc nhóm tư liệu ID thấy tại Biểu 3, trong đó có bộ ba mang tính quyết định là Bia Đề danh Tiến sĩ ở Văn miếu - Đăng khoa lục - Gia phả họ Nguyễn Tông. Đồng thời, mã chữ này cũng hiện diện ở phần lớn những tư liệu thuộc nhóm tư liệu tác phẩm thấy tại Biểu 4. Do đó, các mã khác, như mã 2 (Khuê), 3 (Phong), 5 (Khu), đều là sai nhầm. Hai là, trong sự nhầm lẫn ở mảng tư liệu gốc, thì cơ bản là nhầm lẫn giữa hai mã 1 ( Quai) và 2 (Khuê), vì hai mã này rất giống nhau. Ba là, mã 4 () không hề tồn tại trong mảng tư liệu gốc. Nay, trong mảng nghiên cứu, lại có thêm hai mã 6 (Quai) và 7 (Thất) mới xuất hiện, theo chúng tôi cũng là sai nhầm.

 

 

Văn bản

Mã chữ

 

Xuất xứ

No

Ghi chú: xuất hiện mã chữ nào thì đánh dấu ¨

1

Sứ Hoa tùng vịnh

(những văn bản có đề tên tác giả, trong khoảng 30 dị bản)

 

¨

- A. 2001 (cũng có mã chữ khác là )

- VHv. 1404/1-2; VHv.3205; A. 211,

- A.551, tờ 1b; VHv.1613, tờ 2b,

- Bản Mai Hồng (xem Chu Xuân Giao 1994b: 44)

2

Sứ trình

 

¨

- A.1548, tờ 10a

3

Ngũ luân tự

¨

 

AB.128 (bản duy nhất)

4

Vịnh sử thi quyển

¨

 

A.1314, A.849, và bản riêng của Bùi Duy Tân

5

Sử văn trích cẩm

 

¨

VHv.2148. tờ 56a

6

Càn nguyên ngự chế thi tập

 

¨

A.1319, quyển 3, mục lục và tờ 8a

7

Lê triều hội thí văn tập

 

¨

VHv.426/1, tờ 78a


Biểu 4: Mã chữ xuất hiện trong nhóm tư liệu tác phẩm của tác giả SHTV

(khảo sát năm 1993)

Về riêng mã 4 (), chúng tôi đã phân tích như sau vào năm 1994:

“…Khi tiến hành làm thư mục về tác giả, chúng tôi thấy trên phích tra của cuốn SHTV kí hiệu R.20 tại Thư viện Quốc gia viết tên tác giả là 阮宗và phiên là Nguyễn Tông Quai… (…), khi thấy phích tra đề là, chúng tôi đã kiểm tra nguyên bản, trong 164 trang của R.20 không thấy chỗ nào ghi là 阮宗, chỉ thấy đề Thư Hiên hay Phó sứ… (…). Thêm nữa, trong tất cả các thư tịch mà chúng tôi đã tiến hành khảo sát thì chưa một lần nào có sự hiện diện của, chỉ thấy lẫn lộn chủ yếu giữa mà thôi. Như vậy, đây hẳn là nhầm lẫn của người lập phích” [Chu Xuân Giao 1994a: 40-41; có chỉnh lí].

Hiện phích tra thủ công nói trên vẫn được bảo quản tại Thư viện Quốc gia (xem Ảnh 2(15)). Trước đây, Trần Văn Giáp (1902-1973) có giới thiệu về cuốn SHTV mang kí hiệu R.20 này như sau trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm: “Bản R.20: 1 cuốn, 82 tờ, giấy bản cũ (26x14), chữ viết đá thảo, tốt. Bản này tuy cũng là một bản sao chép lại, nhưng khá cũ, có thể dùng khi khảo dị văn bản”. Tên tác giả sách đó được Trần Văn Giáp ghi là Nguyễn Tông Quai với mã chữ阮宗 [Trần Văn Giáp 1990: 97-100].

Xem Ảnh 2, chúng ta sẽ thấy rõ cách ghi tên Nguyễn Tông Quai và mã chữ là阮宗. Có ai đó dùng bút màu đỏ chữa thông tin về mã chữ trên phích, tựa như muốn thay chữ bằng chữ .

Không rõ là có mối liên hệ nào đó giữa thông tin trên phích tra của Thư viện Quốc gia với nghiên cứu của nhóm soạn giả Các nhà khoa bảng Việt Nam ấn bản lần đầu năm 1993 và tái bản năm 2006 (từ đây trở xuống viết tắt là CNKB-VN), của nhóm soạn giả Nguyễn Thạch Giang năm 2004, và của nhóm soạn giả Đài Loan - Trung Quốc như đã nói ở phần mở đầu bài viết này, nhưng là phích tra đó phải có từ rất lâu, tức là, có thể giả định rằng, nó không chịu ảnh hưởng từ kết quả nghiên cứu của các nhóm trên. Có một điểm trùng hợp, tuy có thể là ngẫu nhiên nhưng vẫn cần lưu ý, giữa thông tin về mã chữ và cách đọc tên trên phích tra ở Thư viện Quốc gia với thông tin trong CNKB-VN ấn bản năm 1993 (so sánh Ảnh 2 và Ảnh 3). Cả hai đều ghi bằng mã chữ 阮宗 và đọc là Nguyễn Tông Quai. Sở dĩ nói cần lưu ý, là vì, tới ấn bản có chỉnh lí năm 2006 của cuốn sách trên [Ngô Đức Thọ (Chủ biên) 2006: 577-578] và ở một cuốn sách khác mới xuất bản năm 2010 [Ngô Đức Thọ 2010: 754, 756] thì tình hình đã khác đi, là: mã chữ阮宗thì vẫn giữ nguyên, nhưng âm đọc thì đã được chỉnh lí thành Nguyễn Tông Khuê (xem Ảnh 4).

Thêm một giả định nữa, là phải chăng nhóm soạn giả Nguyễn Thạch Giang ở Việt Nam, và nhóm soạn giả Đài Loan - Trung Quốc - như ở cuốn sách tra cứu được xuất bản năm 2002 và bản tra cứu trên mạng, nhất là ở bộ sách lớn xuất bản năm 2010 (Đại học Phúc Đán复旦大学 2010, T.K.M 2010, xem Ảnh 5) - đã chịu ảnh hưởng hay sử dụng cách ghi mã chữ Hán阮宗từ các công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Các nhà khoa bảng Việt Nam (CNKB-VN) ?

Đi vào chi tiết, trong phạm vi các nghiên cứu viết bằng Việt, xin trao đổi lại với nhóm soạn giả CNKB-VN và nhóm soạn giả Nguyễn Thạch Giang(17) mấy điểm như sau. Một là, nhắc thêm một lần nữa: tất cả các tư liệu gốc về tác giả SHTV mà chúng tôi đã tiếp cận, như tóm tắt trong Biểu 3 và Biểu 4, không hiện diện mã chữ (như chú giải trực tiếp bằng văn tự của nhóm tác giả CNKB-VN, hay chú giải bằng lời của nhóm soạn giả Nguyễn Thạch Giang). Hai là, giải thích về mặt âm của CNKB-VN ấn bản năm 2006 đối với chữ là dựa theo Khang Hy tự điển (Khang Hy dẫn Ngọc thiênNgũ âm tập vận), nhưng thật ra, có lẽ các tác giả đã tra nhầm hay chú thích nhầm. Phần giải thích đó chính là giải thích của Khang Hy tự điển cho chữ , mà không phải là chữ (xem Ảnh 6).

Ba là, CNKB-VN cho rằng còn một số người khác dùng tên với chữ và đều đọc là Khuê. Ở bài viết đã công bố, chúng tôi cũng chú ý đến tên của hai vị khác, đều là người lớp trước của tác giả SHTV, là Nguyễn Quai ( ) đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân năm Cảnh Trị 8 (1670) và Nguyễn Công Quai (阮公 ) đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Dần - Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710)(18). Tên hai vị này trong thư mục Nhân vật đỗ đạt tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm trước đây đều được phiên là Khuê [Chu Xuân Giao 1994a: 42]. Nay một lần nữa kiểm tra lại thác bản của hai tấm bia Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội, theo Tư liệu mạng 1 và 2, thì đều thấy rất rõ là chữ , mà không phải chữ (xem Ảnh 7)(19). Bốn là, các thường đặt thêm bộ mịch, bộ miên, còn âm đọc vẫn theo chữ bên dưới”. Chúng tôi nghĩ rằng, nhận định này xem ra quá rộng, lại không thấy có các dẫn lệ chắc chắn kèm theo. Có lẽ chúng ta cần phải khảo sát riêng ở rất nhiều trường hợp mới có thể đi đến nhận định như vậy. Riêng ở trường hợp tác giả SHTV, ở bài viết trước đây, dựa vào gia phả họ Nguyễn Tông và các tư liệu khác, chúng tôi đã chỉ ra rằng, tựa như dòng họ này trước đây có “truyền thống” đặt tên với bộ miên.Đó là: bố Quai ; các con trai như Tân, Sùng , Trạch,…; các cháu như Ngụ, Hựu, Tự, … Với những chữ này, bộ miên không thể thiếu, nếu bỏ đi mà chỉ đọc chữ bên dưới thì rõ ràng thành những chữ khác với âm đọc khác.

3. Một lần nữa xác nhận mã chữ với âm đọc Quai

Trở lại với một trong những tư liệu gốc quan trọng nhất là bia Văn miếu thì, hiện tại, ngoài bia Văn Miếu - Quốc tử giám (Hà Nội), còn thấy có cả bia Văn miếu Xích Đằng (Hưng Yên) có ghi tên tác giả SHTV. Cả hai bia này đều có thác bản lưu tại Viện Nghiên cứu Hán
Nôm; và đặc biệt hơn là còn cả nguyên vật. Có thể tiếp cận ảnh thác bản hay nguyên vật của hai tấm bia ấy một cách dễ dàng qua mạng (sử dụng các đường link ghi ở Tư liệu mạng 3, 4, 5, 6). Ở đây, chúng tôi giới thiệu ảnh chụp nguyên vật hai tấm bia, và so sánh mã chữ xuất hiện trên đó (xem Ảnh 8 a-b, và Ảnh 9 a-b)

Bia nguyên vật hiện thấy ở Văn miếu Hà Nội được dựng vào năm Bảo Thái thứ 5 (1724), chữ trên đó hơi nhòe, có thể do phong hóa của thời gian, nhưng vẫn đủ nét. Loạt bia ở Văn miếu Hưng Yên được nhóm Hoàng Cao Khải dựng vào năm Đồng Khánh thứ 3 (1888) (theo Tư liệu mạng 5). Sở dĩ có bia ở Văn miếu Hưng Yên khắc tên Nguyễn Tông Quai vì lúc đó xã Phúc Khê huyện Hưng Nhân quê ông thuộc về địa giới của tỉnh Hưng Yên. Chữ Quai ở đâyrất rõ nét, và hoàn toàn giống với mã chữ ở Văn miếu Hà Nội. Chữ Tông được khắc bớt nét.

Gần đây, trong một bài viết trên Tạp chí Hán Nôm số 2 năm 2007, tên tác giả SHTV được chua bằng mã chữ (Quai) và được cho biết là có theo “bia Tiến sĩ ở Văn miếu”(22). Tuy nhiên, như đã trình bày, trên bia Văn miếu Hà Nội và Văn miếu Hưng Yên, cũng như toàn bộ mảng tư liệu gốc, đều không xuất hiện mã chữ. Theo chúng tôi, có thể đây là lỗi in ấn của tạp chí, hoặc cũng có thể là nhầm lẫn của tác giả. Nhầm lẫn có thể đã xảy ra một cách vô ý khi tác giả ghivốn là một con chữ thông dụng, mà ở một số từ điển/tự điển có chữ , người ta mượnđể chỉ dẫn âm đọc là Quai cho chữ . Như thấy ở trích đoạn Khang Hy tự điển 康熙字典trong Ảnh 6, hay trích đoạn Khảo chính Ngọc đường tự vựng 正玉堂字彙trong Ảnh 10. Các từ điển/tự điển có chữ thì đều chú: “ ” ( âm đọc là Quai).

Mã chữđể ghi tên Nguyễn Tông Quai này hiện thấy xuất hiện nhiều trên không gian mạng, có thể xem đó là sự lan truyền có gốc từ bài trên Tạp chí Hán Nôm vào năm 2007 như đã nói. Cũng có thể thấy sự lan truyền ấy trong sách báo in trên giấy, chẳng hạn cuốn xuất bản năm 2011 của Nguyễn Hữu Mùi [Nguyễn Hữu Mùi 2011: 473].

Bản thân chữ , như chúng tôi đã viết, là một chữ ít dùng, tất cả từ điển/tự điển Hán Việt, và ngay cả Từ nguyên - Từ hải (bản cũ, và bản mới đến thời điểm năm 1993) đều không có [Chu Xuân Giao 1994a: 40(23)].

Một số bộ từ điển Hán ngữ cỡ lớn, chẳng hạn ở quyển 3 (có chứa bộ miên) thuộc bộHán ngữ đại từ điển 汉语大词典gồm 12 quyển(24), hay từ điển mạng đã trở nên thông dụng lâu nay là Hán điển汉典 (zdic.net)(25), cũng đều không tìm thấy . Hiện tại, bộ gõ chữ Hán trong Microsoft Office Word cũng chưa có mã chữ , nếu muốn sử dụng thì phải tự tạo.

Chữ có mặttrong bộ Hán ngữ đại tự điển汉语大字典 gồm 8 quyển(26). Bộ này có tham khảo Khang Hy tự điển khi giải thích nghĩa cùng âm đọc của . Ngoài chú âm theo Khang Hy tự điển, bộ này còn ghi thêm âm đọc bằng La-tinh của chữ ,guai [Chu Xuân Giao 1994a: 41].

Một tự điển cỡ nhỏ có mang bài Tựa viết thời Khang Hy, là Khảo chính Ngọc đường tự vựng(27), cũng có thu thập chữ (xem Ảnh 10), với chú âm và thích nghĩa rất ngắn gọn: “ 音乖 樓也” ( : âm là Quai, nghĩa là quai lâu ).

Từ điển Dị thể tự tự điển異體字字典của Bộ Giáo dục Đài Loan đã được đưa lên mạng từ năm 2000, có thể dễ dàng tra được chữ trên đó với chú âm là ㄨㄞ, cũng tức là guai như cách chú âm của Hán ngữ đại từ điển nói trên. Từ điển chữ dị thể này có dán nguyên bản phần chữ trên các từ điển cổ bản như: Ngọc thiên玉篇, Tứ thanh thiên hải四聲篇海, Tự vựng字彙, Chính tự thông正字通, Trùng đính trực âm thiên重訂直音篇(28).

Trở lại với thực tế văn bản, chúng tôi lưu tâm đến hai điểm sau. Một là, mặc dù là một chữ ít thông dụng, nhưng không phải chỉ có một mình tác giả SHTV mang tên là Quai . Ít nhất, trong bia Văn miếu - Quốc tử giám ở phạm vi mà bài này đề cập đến, thì cũng đã thấy có tên hai người khác mang cùng mã chữ như vậy. Hai là, vào mùa hè năm 1993, trong đợt khảo sát điền dã tại quê hương nhà thơ, ngoài các tư liệu văn bản, các hậu duệ cao niên còn cho chúng tôi biết một chi tiết quan trọng: dòng họ Nguyễn Tông truyền đời khấn tên cụ như vậy mỗi khi giỗ chạp (ý nói đọc tên húy Oản và tên tự Quai khi cúng giỗ).

Thay lời kết

Cuối cùng, để tạm đóng lại bài này, chúng tôi thấy cần thiết một lần nữa nhắc lại, để nhấn mạnh, về sự đúng đắn của nhóm Lê Quý Đôn(29) trong việc chua mã chữ Hán và đọc tên nhà thơ, là “Nguyễn Tông Quai阮宗 ”, vào cuối thập niên 1950 (xem Ảnh 11).

Như vậy, ở đầu thập niên 1920, nhà thơ được dịch giả Vũ Bích giới thiệu với tính cách như là “vô danh” trên Nam Phong; đến cuối thập niên đó, xuất hiện trong bản dịch của Nguyễn Hữu Tiến với tên “Nguyễn Tôn Khuê”; tới đầu thập niên 1950, mang tên “Nguyễn Tông Khuê” trong khảo cứu của Hoàng Xuân Hãn [Hoàng Xuân Hãn 1952: 36]. Phải đến bản dịch Hoàng Việt thi văn tuyển do nhóm Lê Quý Đôn thực hiện và xuất bản năm 1958, thì lần đầu tiên mã chữ và âm đọc đúng tên nhà thơ mới xuất hiện. Sau này, các vị túc nho khác, như Trần Văn Giáp, Hoa Bằng, và Tổ phiên dịch của Viện Sử học, đều đọc là Quai. Sở dĩ nhóm Lê Quí Đôn ghi đúng mã chữ và đọc đúng tên là do bản in khắc gỗ vào thời Nguyễn của cuốn Hoàng Việt thi lục - do Bùi Huy Bích (1744-1818) tập hợp từ cuối thời Lê đầu thời Tây Sơn - đã ghi đúng mã chữ (xem Biểu 3). Điều này nói lên rằng, kết quả nghiên cứu mà chúng tôi thực hiện trong những năm 1992-1995 và tại bài viết này liên quan đến danh xưng của tác giả SHTV không hề là một phát hiện gì lớn, mà chỉ là góp phần trả lại tên đúng cho một danh nhân, công việc mà các vị tiền bối đã nối tiếp nhau đặt những viên gạch nền vững chắc. Trong tương lai, Nguyễn Tông Quai với Sứ Hoa tùng vịnh, cũng như nhiều tác gia khác thuộc dòng thơ đi sứ, sẽ được nhìn nhận trong những chiều cạnh mới của văn học, sử học, địa lí học, kinh tế học, dân tộc học,… trước hết là trong bối cảnh chính trị - kinh tế - văn hóa khu vực Đông Á thời trung đại, và tiếp sau đó là những ánh phản của nó tới hiện tại, thì những viên gạch lát nền cho kì vọng ấy chính là những nghiên cứu mang tính cơ bản./.

 

Chú thích:

(1) Nguyễn Tôn(g) Phong 阮宗峰: Nguyên là “Nguyễn Tôn Phong 阮宗峰”, là cách đọc trong bản dịch Đăng khoa lục sưu giảng xuất bản năm 1968 ở Sài Gòn [Trần Tiến (Nguyễn Đức Đạm dịch) 1968: 69]. Ở bài viết năm 1994, do lỗi in ấn, năm xuất bản của cuốn Đăng khoa lục sưu giảng này bị nhầm thành 1986 [Chu Xuân Giao 1994a: 39].

(2) Ở dạng sách đã xuất bản năm 2002 của nhóm Lưu Xuân Ngân, thì là mã chữ ; nhưng ở bản điện tử tra cứu trên internet (tức Tư liệu mạng 8) thì chuyển thành .

(3) Để đọc nhanh thông tin về bộ sách này, có thể xem hai tài liệu trực tuyến sau đây: Đại học Phúc Đán复旦大学 2010 (tiếng Trung Quốc), và T.K.M 2010 (tiếng Việt).

(4) Chẳng hạn luận văn thạc sĩ đã hoàn thành năm 2010 của Trương Thiếnở Đại học Phúc Đán 复旦大学với tiêu đề “Phong tục Trung Quôc trong con mắt của những sứ giả Việt Nam đến Trung Quốc thời Thanh – thử đọc Sứ Hoa tùng vịnh tập trong bộ Việt Nam Yên hành văn hiến tập thành” (清代越南访华使者眼中的中国风俗试读《越南燕行文献集成》中的《使华丛咏集》).

(5) Các năm 1992-1995 là thời điểm trước, trong, và sau hội thảo quốc gia về Nguyễn Tông Quai tại Thái Bình (về hội thảo này, xin xem Nhiều tác giả 1993).

(6) Theo khảo sát của chúng tôi, trước năm 1971, tác giả SHTV chưa xuất hiện như một tác gia trong các sách văn học sử hay hợp tuyển thơ, như Việt Nam thi văn hợp tuyển (Dương Quảng Hàm 1943b), Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm 1943a), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi 1959), Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (Nhiều tác giả 1963)… Giới nghiên cứu văn học hầu như chưa chú ý tới ông (Chu Ngọc Giao 1993b: 60). Tuy nhiên, cũng cần nói thêm rằng, trong những bộ sách kể trên thì, cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Văn Tân có nhắc đến tác giả SHTV ở một chỗ duy nhất và lướt qua, toàn văn như sau: “Đến thế kỉ này những tác phẩm viết theo thể ký sự bằng văn vần đó cũng không phải là ít. Nào Chúc ông phụng sử tập của Đặng Đình Tương, Nguyễn Trạng nguyên phụng sứ tập của Nguyễn Đăng Đạo, Tinh sà thi tập của Nguyễn Công Hãng, Kính Trai sứ tập của Phạm Khiêm Ích, Sứ hoa tùng vịnh của Nguyễn Tông Khuê v.v…” (Sđd: 188).

(7) Trong bản in năm 1986, có lẽ do điều kiện in ấn lúc bây giờ, tác giả Đỗ Phú Hứa không chua chữ Hán. Nhưng ông viết rằng: “Có một số sách phiên âm là Khuê là do nhầm lẫn chữ Quai với chữ Khuê. Hai chữ này dạng chữ Hán gần giống nhau” (Đỗ Phú Hứa 1986: 77). Vì vậy, chúng tôi đoán Đỗ Phú Hứa muốn sử dụng mã chữ .

(8) Ở cuối bài này, tác giả có ghi con số “1970” [Mai Quốc Liên 1986: 101], không rõ là với ý bài đã được viết xong hay được bắt đầu từ năm 1970.

(9) Do điều kiện in ấn của lúc đó, các ấn phẩm của hội thảo quốc gia về Nguyễn Tông Quai tại Thái Bình đều không chua chữ Hán cho tên ông.

(10) Các mã chữ đi kèm cách đọc tên là dẫn theo nguyên văn của các nghiên cứu (những tác giả không chua chữ Hán, hay không có điều kiện chua, thì không có mã chữ đi kèm). Bảng này vốn đã có trong bản thảo viết tay (Chu Xuân Giao 1993d: 2 -3), nhưng ở lần in đầu tiên trên Tạp chí Hán Nôm (Chu Xuân Giao 1994a: 39) đã được biên tập (được phía tòa soạn lúc đó đề nghị bỏ kiểu trình bày bảng mà viết thành dạng tóm tắt). Nay, chúng tôi khôi phục có chỉnh lí.

(11) Gần đây, Lê Thị Vĩ Phượng cũng có nhắc đến bản phóng dịch này: “Vào đầu thế kỷ XX, tạp chí Nam Phong, một tạp chí đương thời có ảnh hưởng đến văn học, học thuật nước nhà, trong hai năm 1921 và 1922 đã liên tục đăng khoảng 150 bài phỏng dịch thơ Sứ hoa tùng vịnh của Vũ Bích ở chuyên mục giới thiệu đến độc giả các tác phẩm thơ văn Hán Nôm ưu tú” (Lê Thị Vĩ Phượng 2009: 7). Trên thực tế, Vũ Bích đã dịch 112 bài (mở đầu bằng “1. Bài khởi hành Lên đường tự thuật” ở số 48, kết thúc bằng “112. Bài hồi trình” ở số 56).

(12) Ảnh chụp của tác giả bài viết, tháng 9 năm 2011.

(13) Lê Thị Vĩ Phượng có ghi chú về việc này như sau: “Từ trước tới này tồn tại hai cách đọc tên tác giả này là Nguyễn Tông Khuê và Nguyễn Tông Quai. Qua tìm hiểu một số nghiên cứu gần đây trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đồng thuận với cách đọc là Nguyễn Tông Quai. Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi sử dụng tên gọi của ông là Nguyễn Tông Quai thay cho tên gọi Nguyễn Tông Khuê ở tên đề tài” [Lê Thị Vĩ Phượng 2009a: 5] . Qua tiếp xúc văn bản trên thực tế, tác giả này cũng tán thành với mã chữ .

(14) Shimizu viết: “Trong Toàn thư阮宗, Kang Tong-Yop ở Hàn Quốc thì viết là阮宗室. Thêm nữa, tập 2 của bộ Việt Nam Hán văn Yên hành văn hiến tập thành lại ghi là阮宗窐, nhưng có thể nghĩ rằng, vốn阮宗 mới là đúng” (阮宗 は,『全書』では阮宗 とし,韓国の姜東燁氏は阮宗室としている。また,『越南漢文燕行文献集成』第2 冊では阮宗窐としているが,本来,阮宗 が正しいと思われる) [Shumizu Taro 2010: 360].

(15) Hiện nay, việc tra cứu tư liệu của Thư viện Quốc gia đã được điện tử hóa, nên toàn bộ các ô phích tra cứu thủ công trước đây (vốn để ở tầng 1) đã được chuyển lên bảo quản ở hành lang tầng 2 khu vực phục vụ bạn đọc. Phích chỉ dẫn thông tin của sách mang kí hiệu R.20 (Sứ Hoa tùng vịnh) nằm trong hộp phiếu mang nhãn Sách Hán Nôm - Mục lục chữ cái: K-T.

(16) Ảnh chụp của tác giả bài viết, tháng 9 năm 2011.

(17) Nhóm Nguyễn Thạch Giang không đưa ra mã chữ trực tiếp, nhưng chú giải bằng lời như sau: “Nguyễn Tông Khuê: (…) Có người đọc là Nguyễn Tông Quai. Chữ Khuê, Hán tự gồm bộ huyệt (hình) và chữ Khuê (thanh). Các bộ Thuyết văn, Từ hải, Từ nguyên, Quảng vạn, Thuyết vạn đều có ghi cách đọc là KHUÊ. Từ Hán có chữ đọc là QUAI các sách nói đây đều ghi cách đọc là QUAI, chữ Nôm dùng nó để viết quai (nón), quai (ấm), quai (nồi)” [Nguyễn Thạch Giang (Chủ biên) 2004: 119].

(18) Ở bản in năm 1994 chúng tôi đã ghi sai về bậc đỗ của hai ông, nay chỉnh lại theo thông tin trên hai thác bia Văn miếu - Quốc tử giám (dựa theo ảnh công bố tại Tư liệu mạng 1, 2).

(19) Trong CNKB-VN ấn bản năm 2006, Nguyễn Quai thì được ghi đúng với mã chữ nhưng đọc thành Nguyễn Khuê (số 1852, Sđd), còn Nguyễn Công Quai thì được ghi với mã chữ sai là阮公và đọc là Nguyễn Công Khuê (số 2013, sđd). Đến cuốn Văn bia Tiến sĩ Văn miếu - Quốc tử giám Thăng Long thì mã chữ của cả hai ông lại tiếp tục bị ghi sai thành, với âm đọc Khuê [Ngô Đức Thọ 2010: 596, 717].

(20) Ảnh chụp của tác giả bài viết, tháng 10 năm 2010. Bia ở vị trí A12 trên sơ đồ nhà bia của Văn miếu-Quốc tử giám (thông tin này theo chỉ dẫn trong Ngô Đức Thọ 2010: 756).

(21) Ảnh lấy từ đường link ở Tư liệu mạng 4.

(22) Nguyên văn là: “Có sách đọc là Khuê . Chúng tôi đọc là Quai theo bia Tiến sĩ ở Văn miếu và một số tập sử truyện” (Bùi Duy Tân 2007: 10).

(23) Ở bản in năm 1994 có rơi mất một dòng bản thảo như sau ở giữa chữ “1992” và chữ “guai”: “đều phiên theo hai từ điển trên. Hán ngữ đại từ điển chú thêm âm Bắc Kinh theo la-tinh là”. Bởi vậy, ở bản in hiện tại, đoạn giải thích đó hơi tối nghĩa.

(24) Hán ngữ đại từ điển汉语大词典gồm 12 quyển được ấn hành bởi Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã 汉语大词典出版社. Bộ này do La Trúc Phong 罗竹风 làm chủ biên, gồm 12 quyển chính văn và 1 quyển sách dẫn, in trong các năm 1986-1993. Một phần của bộ này (8 quyển đầu) hiện có ở phòng tra cứu Thư viện Viện Thông tin Khoa học Xã hội. Phần bộ miên trong quyển 3 thuộc bộ này không tìm thấy chữ .

(25) Riêng từ điển mạng Hán điển (汉典zdic.net) chỉ tính đến thời điểm hiện tại (tháng 9-2011). Trong tương lai, có thể chữ Quai sẽ được bổ sung.

(26) Hán ngữ đại tự điển汉语大字典 gồm 8 quyển, được ấn hành từ năm 1986 đến năm 1990 bởi Tứ Xuyên từ thư xuất bản xã 四川辞书出版Hồ Bắc từ thư xuất bản xã 湖北辞书出版社.

(27) Cuốn này đã được khắc in nhiều lần từ thời Quang Tự. Bản riêng của chúng tôi ấn hành năm Dân Quốc thứ 4 (1914), bởi Thượng Hải Cẩm Chương đồ thư cục上海锦章图书局.

(28) Có thể truy cập ở địa chỉ sau: http://140.111.1.40/yitic/frc/frc02473.htm

(29) Nhóm này gồm các vị tiền bối: Lê Thước, Hà Văn Đại, Trình Đình Rư, Nguyễn Sĩ Lâm, Trần Lê Hữu, Vũ Đình Liên. Về nhóm này, có thể tham khảo bài giới thiệu gần đây của Thúy Toàn (Thúy Toàn 2011).

Tài liệu tham khảo/trích dẫn

[1] Bùi Duy Tân: Thơ vịnh sử, thơ đi sứ và chủ nghĩa yêu nước, In trong Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân - Mai Cao Chương 1979, tr.204-237.

[2] Bùi Duy Tân: Nguyễn Tông Khuê (trang 86), Từ điển Văn học tập II (N-Y), Nxb. KHXH, H. 1984.

[3] Bùi Duy Tân, 1993a: Nguyễn Tông Quai - Danh nhân văn hóa, con người và sự nghiệp văn chương, In trong Nhiều tác giả 1993, tr.10-17.

[4] Bùi Duy Tân, 1993b: Nguyễn Tông Quai: Sứ giả - Nhà thơ nổi tiếng thế kỷ XVIII, Tạp chí Văn học số 6 (tháng 11-12), tr.41-43.

[5] Bùi Duy Tân: Tứ hải giai huynh đệ. Những cuộc tao ngộ sứ giả - nhà thơ Hàn Quốc - Việt Nam trên đất nước Trung Hoa thời trung đại, In trong Nhiều tác giả 1996, tr.44-64.

[6] Bùi Duy Tân: Nguyễn Tông Quai - Danh nhân văn hóa - con người và sự nghiệp văn chương (tr.572-586), In trong Khảo luận một số tác gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam Tập I, Nxb. Giáo dục, H. 1999.

[7] Bùi Duy Tân: Nguyễn Tông Quai (tr.1195-1196), Từ điển Văn học - Bộ mới, Nxb. Thế giới, H. 2004.

[8] Bùi Duy Tân: Nguyễn Tông Quai (1693-1767) đường đi sứ - Đường thơ (Người khai sáng dòng ca Nôm sứ trình), Tạp chí Hán Nôm số 2 (81)-2007, tr.3-10.

[9] Bùi Duy Tân - Chu Xuân Giao: Nguyễn Tông Quai - Nhà thơ xuất sắc thế kỷ, Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam số 5 (tháng 7, 1995), tr.33-35.

[10] Bùi Duy Tân (Chủ biên): Tổng tập văn học Việt Nam, Tập 7, Nxb. KHXH, H. 1997.

[11] Bùi Duy Tân (Chủ biên): Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (Thế kỷ X-XIX), Tập Ba, Nxb. Giáo dục, H. 2009.

[12] Bùi Duy Tân, Nguyễn Kim Sơn, Phạm Vân Dung, Bùi Thiên Thai: Tinh tuyển thơ văn Hán Nôm, Tập B (Tái bản lần thứ nhất), Nxb. Giáo dục, H. 2005.

[13] Bùi Huy Bích (Nhóm Lê Quý Đôn trích dịch, chú thích): Hoàng Việt thi văn tuyển, Tập III - Thịnh Lê và cuối Lê, Nxb. Văn hóa, H. 1958.

[14] Cao Lãng, Xiển Trai (Hoa Bằng dịch và chú giải, Văn Tân hiệu đính): Lịch triều tạp kỉ, Tập II, Nxb. KHXH, H. 1975.

[15] Chiêm Chí Hòa詹志和, 2011, “Thơ đi sứ chữ Hán của Việt Nam trong mối quan hệ với văn hóa Hồ Nam (越南北使汉诗与湖湘地理文化)”, Tham luận tham dự Hội thảo Quốc tế Việt Nam và Trung Quốc - Những quan hệ văn hóa, văn học trong lịch sử tổ chức tại Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học KHXH và Nhân văn, Tp. Hồ Chí Minh. Nguyên bản tiếng Trung và bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Đình Phức: http:// khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index. php?option=com_content&view=article&id=2348:th-i-s-ch-han-ca-vit-nam-trong-mi-quan-h-vi-vn-hoa-h-nam-&catid= 121:ht-vit-nam-trung-quc-nhng-quan-h-vn-hoa-vn&Itemid=187.

[16] Cho Jae Hyun: Quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam, quá khứ, hiện tại và tương lai, In trong Nhiều tác giả 1996, tr.19-43.

[17] Chu Ngọc Giao [Chu Xuân Giao], 1993a: Niên biểu Nguyễn Tông Quai, In trong Nhiều tác giả 1993, tr.56-57.

[18] Chu Ngọc Giao, 1993b: Những lời bình luận về Nguyễn Tông Quai, In trong Nhiều tác giả 1993, tr.58-61.

[19] Chu Xuân Giao, 1993c: Bước đầu tìm hiểu Nguyễn Tông Quai - Nhà thơ, danh nhân văn hóa, Công trình 45 trang đánh máy dự thi Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 1993, đã nộp cho Hội đồng Khoa học của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Hội đồng xét Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

[20] Chu Xuân Giao, 1993d, Đi tìm căn cứ gốc cho danh xưng của tác giả Sứ Hoa tùng vịnh: Nguyễn Tông Khuê hay Nguyễn Tông Quai, Bản thảo viết tay gồm 13 trang khổ A4 (cuối văn bản có ghi “Hà Nội, mùa hạ 1993”; đây là nguyên bản chưa sửa chữa của bài Chu Xuân Giao 1994a, đã gửi cho tòa soạn Tạp chí Hán Nôm ngay sau khi thoát cảo).

[21] Chu Xuân Giao, 1994a: Đi tìm căn cứ gốc cho danh xưng của tác giả Sứ Hoa tùng vịnh, Khuê hay Quai ?, Tạp chí Hán Nôm số 1 (18) 1994a, tr.39-42.

[22] Chu Xuân Giao, 1994b: Nguyễn Tông Quai - Niên biểu, tác phẩm, Tạp chí Hán Nôm số 3 (20) 1994b, tr.38-44.

[23] Chu Xuân Giao, 1994c, Thơ đi sứ Nguyễn Tông Quai (Văn bản - Bình luận - Đánh giá), Luận văn Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Khóa 35, Bản thảo đánh máy (59 trang chính văn, 21 trang phụ lục, 3 trang thư mục).

[24] Chu Xuân Giao: Tâm thức dân gian về một người thầy của nhà bác học Lê Quý Đôn, Tạp chí Văn hóa Dân gian số 4 (48) 1994d, tr.45-47.

[25] Chu Xuân Giao: Nguyễn Tông Quai - Chân dung một danh nhân văn hóa ở thế kỉ XVIII, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội số 6 (150) 1995, tr.45-53.

[26] David C. Kang, 2010: East Asia Before the West: Five Centuries of Trade and Tribute[Đông Á trước khi chịu ảnh phương Tây: Năm thế kỉ buôn bán và triều cống], Columbia University Press.

[27] Dương Quảng Hàm, 1943a (2005), Việt Nam văn học sử yếu, Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Trẻ - Công ty Văn hóa Minh Trí - Nhà sách Văn Lang (In lại theo bản năm 1943).

[28] Dương Quảng Hàm, 1943b: Việt Nam thi văn hợp tuyển, Nxb. Hội Nhà văn (In lại theo bản năm 1943), H. 2001.

[29]Đại học Phúc Đán复旦大学, 2010, 复旦大学文史研究院学术通讯 [Phúc Đán đại học Văn Sử nghiên cứu viện Học thuật thông tấn], 2010年第一期(总第十三期). Bản trực tuyến trên mạng: http://www. iahs.fudan.edu.cn/

[30] Đinh Gia Khánh: Văn học viết từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII (trang 242-255), In trong Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam 1980.

[31] Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân - Mai Cao Chương: Văn học Việt Nam thế kỷ thứ X nửa đầu thế kỷ XVIII, tập II, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H. 1979.

[32] Đỗ Phú Hứa: Nguyễn Tông Quai, in trong Danh nhân Thái Bình tập I, Sở Văn hóa - Thông tin Thái Bình, Thái Bình 1986, tr.77-92.

[33] Đỗ Văn Ninh: Văn bia Quốc tử giám Thăng Long, Nxb. Thanh niên, H. 2010.

[34]Françoise Douaire - Marsaudon, Bernard Sellato, Chantal Zheng, Dynamiques identitaires en Asie et dans le Pacifique: Pratiques symboliques en transition, Publications de l'Université de Provence, 2006.

[35] Hoàng Xuân Hãn: Chinh phụ ngâm bị khảo, Nxb. Minh Tân, H. 1952.

[36] Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường: Từ điển văn học Việt Nam, Quyển I (Từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX), In lần thứ nhất, Nxb. Giáo dục, H. 1995.

[37] Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường, Từ điển văn học Việt Nam (Từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX), In lần thứ năm, Nxb. Đại học Quốc gia. H. 2005.

[38] Liam C. Kelley, Beyond the bronze pillars: envoy poetry and the Sino-Vietnamese relationship (Asian Interactions and Comparisons) [Vượt qua các cột đồng trụ: Thơ của sứ thần và quan hệ Trung Quốc - Việt Nam], University of Hawaii Press, 2005.

[39] Lê Thị Vĩ Phượng, 2009a, Nghiên cứu văn bản tác phẩm "Sứ hoa tùng vịnh" của Nguyễn Tông Khuê, Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành Hán Nôm (Mã số 60 22 40), Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Bản thảo chế bản điện tử khổ A4 gồm 101 trang chính văn và phụ lục (Bản chụp từ bản lưu của người hướng dẫn).

[40]Lê Thị Vĩ Phượng, 2009b, Nghiên cứu văn bản tác phẩm Sứ Hoa tùng vịnh của Nguyễn Tông Khuê, Thông tin về Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành Hán Nôm, Website Tài nguyên số, Đại học Quốc gia Hà Nội. Địa chỉ truy cập: http://tainguyenso. vnu. edu.vn/jspui/handle/123456789/10642.

[41]Lưu Ngọc Quận 刘玉珺, 2007, 越南使臣與中越文學交流 (Vietnamese Envoys and Literary Communication between China and Vietnam) [Sứ thần Việt Nam và giao lưu văn học Trung - Việt], 學術研究,2007 1 , 廣東省社會科學界聯合會.

[42]Lưu Xuân Ngân, Vương Tiểu Thun, Trần Nghĩa chủ biên劉春銀王小盾陳義主編, 2002, 『越南漢喃文献目錄提要』 [Việt Nam Hán Nôm văn hiến mục lục đề yếu] 中央研究院中國文哲研究所編印.

[43]Mai Hồng: Đôi nét về Nguyễn Tông Quai-Tác giả của Sứ trình tân truyện, In trong Nhiều tác giả 1993, tr.20-25.

[44] Mai Quốc Liên: Thơ đi sứ, khúc ca của lòng yêu nước và ý chí chiến đấu, Tạp chí Văn học số 3 - 1979, tr.114-122.

[45] Mai Quốc Liên, 1986 (1970): Nguyễn Tông Khuê (1692-1766) một nhà thơ nổi tiếng đời Lê vừa phát hiện, In trong Dưới gốc me vườn Nguyễn Huệ (tr.90-101), Sở Văn hóa - Thông tin Nghĩa Bình.

[46] Ngô Đức Thọ (Chủ biên), Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi, Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919), Nxb. Văn học, H. 1993.

[47] Ngô Đức Thọ (Chủ biên), Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi, Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919 (Tái bản có bổ sung, chỉnh lí), Nxb. Văn học, H. 2006.

[48] Ngô Đức Thọ: Văn bia Tiến sĩ Văn miếu - Quốc tử giám Thăng Long, Nxb. Hà Nội, H. 2010.

[49] Nguyễn Công Lý: Thơ đi sứ trung đại Việt Nam viết về danh thắng ở Hồ Nam - Trung Hoa và trường hợp Nguyễn Trung Ngạn, Tham luận tham dự Hội thảo Quốc tế Việt Nam và Trung Quốc - Những quan hệ văn hóa, văn học trong lịch sử tổ chức tại Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học KHXH & NV, Đại học Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh. 2011, Địa chỉ truy cập: http:// khoavanhoc-ngonngu.edu. vn/ home/index...

[50] Nguyễn Hữu Mùi, 2007: Ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam qua hệ thống văn miếu, văn từ, văn chỉ, Hội thảo Quốc tế về Nho giáo tháng 11/2007, Website Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Địa chỉ truy cập: http://www. hannom.org.vn/...

[51] Nguyễn Hữu Mùi: Truyền thống hiếu học và hệ thống Văn miếu Văn từ Văn chỉ ở Vĩnh Phúc (Tái bản lần thứ nhất, có sửa chữa, bổ sung), Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc, 2011.

[52] Nguyễn Kim Sơn: Xu hướng hội nhập tam giáo trong tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVIII (Tham luận tại Hội thảo quốc tế về Nho giáo tại Việt Nam do Học viện Harvard -Yenching phối hợp với Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam tổ chức tháng 12 năm 2004), Website Talawas (20.08.2005). Địa chỉ truy cập: http://www. talawas.org/

[53] Nguyễn Kim Sơn: Vận động cải cách văn thể, tâm thái sĩ phu, và vận động của văn chương Việt Nam cuối thế kỷ XVII, thế kỉ XVIII, In trong Nghiên cứu văn học Việt Nam - Những khả năng và thách thức (Tuyển tập chuyên khảo do Harvard - Yenching tài trợ), Nxb. Thế giới, H. 2009, tr.203-245.

[54] Nguyễn Minh Tường: Một số cuộc tiếp xúc giữa sứ thần Việt Nam và sứ thần Hàn Quốc thời trung đại, Tạp chí Hán Nôm số 6 (85)-2007, tr.3-12.

[55] Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Huỳnh Lứa duyệt và hiệu chỉnh, Nxb. KHXH, H. 1991.

[56] Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (Tái bản có sửa chữa và bổ sung), Nxb. Văn hóa, H. 1997

[57] Nguyễn Quang Ân, Nguyễn Thanh (Chủ biên): Từ điển Thái Bình, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 2010.

[58] Nguyễn Quang Hồng (Chủ biên), Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (Tuyển chọn - Lược thuật), Nxb. KHXH, H. 1993.

[59] Nguyễn Tá Nhí (Chủ biên), Tổng tập văn học Nôm - Thơ Nôm Hàn luật - Tập II, Nxb. KHXH, H. 2008.

[60] Nguyễn Tông Quai: Sứ trình tân truyện (Mai Hồng phiên âm và chú thích, dựa theo bản phiên âm của Hữu Thế lưu tại Phòng tư liệu, Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội; Nguyễn Thanh khảo dị và hiệu đính), Sở Văn hóa - Thông tin và Thể thao Thái Bình, 1993.

[61] Nguyễn Thạch Giang (Chủ biên): Tinh tuyển văn học Việt Nam - Tập 5 Q1 - Văn học thế kỉ XVIII, Nxb. KHXH, H. 2004.

[62] Nguyễn Thanh Tùng: Vài nét về tình hình văn bản Hoàng hoa sứ trình đồ bản của Nguyễn Huy Oánh, Tạp chí Hán Nôm số 1 (104) - 2011, tr.23-32.

[63] Nguyễn Thị Minh: Thơ sứ trình chữ Nôm của Nguyễn Tông Quai, Thông tin về Khóa luận tốt nghiệp Đại học khóa 2007-2011 hệ Cử nhân Tài năng - Tiểu ban Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh. http://khoavanhoc-gonngu.edu.vn/

[64] Nguyễn Trãi (Phan Huy Tiếp dịch, Hà Văn Tấn hiệu đính và chú thích) Ức Trai di tập - Dư địa chí, Nxb. Văn Sử học, H. 1960.

[65] Nhiều tác giả: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam - Tập 3: Văn học Việt Nam thế kỉ XVIII - giữa thế kỉ XIX, Nxb. Văn hóa, Viện Văn học, 1963.

[66] Nhiều tác giả: Nguyễn Tông Quai danh nhân văn hóa (Kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ niệm 300 năm sinh Nguyễn Tông Quai 1693-1767), Sở Văn hóa - Thông tin và Thể thao Thái Bình, 1993.

[67] Tương đồng văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam trong Nhiều tác giả: (Nguyễn Bá Thành tuyển chọn, biên soạn, giới thiệu), Nxb. Văn hóa, H. 1996.

[68] Phạm Đình Hổ: Vũ trung tùy bút (Dựa theo bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, đã đăng trên Tạp chí Nam Phong năm 1927-1928; Nguyễn Quảng Tuân khảo đính và chú thích; Lời bạt của Nguyễn Lộc), Nxb. Trẻ - Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học Tp. Hồ Chí Minh, 1989.

[69] Phạm Hóa, Vũ Mạnh Quang, Nguyễn Thanh: Trạng nghè ở Thái Bình, Sở Văn hóa - Thông tin Thái Bình, 1989.

[70] Phạm Thiều, Đào Phương Bình (Chủ biên): Thơ đi sứ, Nxb. KHXH, H. 1993.

[71] Phan Huy Chú (Tổ phiên dịch Viện Sử học Việt Nam phiên dịch và chú giải), Lịch triều hiến chương loại chí - Tập IV, Nxb Sử học, H. 1961.

[72]Quách Thu Hiền: Những vấn đề văn bản, tác gia, tác phẩm của Vịnh sử thi quyển, Thông báo Hán Nôm học năm 2007. Địa chỉ truy cập: http://www.hannom.org.vn/

[73] Shimizu Taro: Cuộc gặp gỡ sứ thần của Việt Nam và Triều Tiên ở Trung Quốc trọng tâm là chuyện xảy ra trong thế kỷ XVIII, Tạp chí Hán Nôm số 3 (48)-2001, tr.88-99.

[74]Shimizu Taro清水太郎, 2010,「北京におけるベトナム使節と朝鮮使節の交流: 15世紀から18世紀を中心に[Giao lưu của các sứ thần Việt Nam và Triều Tiên ở Bắc Kinh: Trung tâm là từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII],東南アジア研究Vol.48 No.3, pp. 334-363.

[75]Thúy Toàn: Nhóm Lê Quý Đôn: những dịch giả xuất sắc, In trong Những con ngựa thồ, Nxb. Tri thức, H. 2011). Có thể đọc bản trên mạng ở địa chỉ sau: http:// lyluanvanhoc.com/

[76] Trịnh Khắc Mạnh: Việt Nam Hán văn Yên hành văn hiến tập thành, công trình hợp tác giữa Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Việt Nam) và Viện Nghiên cứu Văn Sử Đại học Phúc Đán Thượng Hải (Trung Quốc), Tạp chí Hán Nôm, số 4 (100) 2010, Website Viện Nghiên cứu Hán Nôm. http:// www. hannom.org.vn/

[77] Trịnh Khắc Mạnh (Giới thiệu, biên dịch và chú thích): Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam, Nxb. Giáo dục, H. 2006.

[78] Trịnh Khắc Mạnh: Tên tự, tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, Nxb. KHXH, H. 2002.

[79] Trịnh Khắc Mạnh, Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam (Tái bản có chỉnh lí và bổ sung), Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 2007.

[80]Tạ Ngọc Liễn - Trương Thị Yến, Nguyễn Tông Khuê nhà thơ Nôm xuất sắc thế kỷ XVIII và những bài thơ chữ Hán của ông xướng họa với sứ thần Triều Tiên ở Bắc Kinh, Bản thảo viết tay gồm 11 trang cho Hội thảo khoa học kỷ niệm 300 năm sinh Nguyễn Tông Quai tại Thái Bình, 1993 (bài không in vào Kỷ yếu Hội thảo).

[81]Tạ Ngọc Liễn: Nguyễn Tông Khuê nhà thơ Nôm xuất sắc thế kỷ XVIII, Báo Nhân dân Chủ nhật số ra ngày 30/5/1993.

[82] Trần Nghĩa, François Gros (đồng chủ biên): Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, Nxb. KHXH, H. 1993.

[83]Trần Tiến (Nguyễn Đức Đạm dịch), 1968, Đăng khoa lục sưu giảng, Sài Gòn: Trung tâm học liệu - Bộ Giáo dục xuất bản.

[84] Trần Văn Giáp: Một số tư liệu về việc giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Triều Tiên, Tập tư liệu đánh máy gồm 80 trang có ảnh và phần chữ Hán viết tay, Tư liệu Thư viện Viện Sử học, 1969.

[85] Trần Văn Giáp (Chủ biên): Lược truyện các tác gia Việt Nam, Tập I (Tác gia các sách Hán Nôm từ thế kỷ XI đến thế kỷ XX), Bản in lần thứ hai có sửa chữa và bổ sung, Nxb. KHXH, H. 1971 (1962).

[86] Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm Tập II, Nxb. KHXH, H. 1990.

[87] Tư liệu mạng 1: Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Trị năm thứ 8 (1670), Website Viện Nghiên cứu Hán Nôm. http://www.hannom.org.vn.

[88] Tư liệu mạng 2: Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Tân Sửu niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 6 (1710), Website Viện Nghiên cứu Hán Nôm. http:// www.hannom.org.vn/...

[89] Tư liệu mạng 3: Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Tân Sửu niên hiệu Bảo Thái năm thứ 2 (1721), Website Viện Nghiên cứu Hán Nôm. http://www. hannom.org.vn

[90] Tư liệu mạng 4: Văn bia thứ bảy Văn miếu Hưng Yên, Website Viện Nghiên cứu Hán Nôm. http://www.hannom.org.vn/...

[91] Tư liệu mạng 5: Văn bia thứ tám Văn miếu Hưng Yên, Website Viện Nghiên cứu Hán Nôm. http://www.hannom.org.vn/...

[92] Tư liệu mạng 6: Văn bia thứ bảy Văn miếu Hưng Yên (ảnh chụp nguyên vật hiện còn tại Văn miếu Xích Đằng), Từ điển Bách khoa toàn thư mở. http://vi.wikipedia.org/

[93] Tư liệu mạng 7: Sứ hoa tùng vịnh 使華叢詠”, Website Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Địa chỉ truy cập: http://www. hannom. org.vn/trichyeu.asp?param=7013&Catid ...

[94] Tư liệu mạng 8: 南漢喃文獻目錄資料庫系統 [Việt Nam Hán Nôm văn hiến tư liệu khố hệ thống]. http://www.litphil. sinica. du.tw/hannan/

[95] Tư liệu mạng 9: Từ điển chữ Nôm, http://www.nomna.org/cong-cu-nom/tu-dien -chu-nom...

[96] Ủy ban KHXHVN: Lịch sử văn học Việt Nam - Tập I, Nxb. KHXH, 1980.

[97] Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi: Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam - Quyển III (Thế kỷ XVIII), Nxb. Văn Sử Địa, 1959.

[98] Viện Sử học: Lê Quý Đôn - Kiến văn tiểu lục (Phạm Trọng Điềm phiên dịch và chú thích; Giới thiệu của Viện Sử học ghi tháng 12/1961), Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 2007.

[99] Vu Tại Chiếu于在照: Thơ bang giao chữ Hán Việt Nam trong sự giao lưu văn hóa Việt Nam và Trung Quốc trên lịch sử Trung đại, Hội thảo quốc tế 2006.

Địa chỉ truy cập: http://www.vienvanhoc. org.vn/reader/?id=94&menu=107.

[100] Vũ Bích (921-1922): Sứ Hoa nhàn vịnh (Dịch thơ triều Lê), Tạp chí Nam Phong từ số 48 đến số 56 (dịch 112 bài thơ và tiểu dẫn kèm theo ở mỗi bài).

[101] Vũ Khiêu (Chủ biên), Tạ Ngọc Liễn, Nguyễn Hữu Sơn: Danh nhân Thăng Long - Hà Nội, Nxb. Hà Nội, H. 2010.

[102] Vũ Ngọc Khánh (Chủ biên), Bích Ngọc, Minh Thảo: Nhân vật chí Việt Nam, H. 2009, Nxb. Văn hóa - Thông tin.

[103] Vũ Thế Khôi: Về thân thế và sự nghiệp Tiến sĩ Vũ Tông Phan, Tạp chí Hán Nôm số 3 (16) - 1993./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (110) 2012; Tr.54-78)
...

Chu Xuân Giao
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm