Suy nghĩ về một số vấn đề xây dựng nông thôn mới qua văn bản "Xuân Sơn thôn hương lệ".
Hương lệ là tên gọi tắt của hương ước và tục lệ. Hương lệ của một thôn là những qui định có tính chất pháp lý của toàn dân trong thôn. Xuân Sơn là một thôn của tỉnh Nghệ An, song cũng như bao làng quê khác trên khắp đất nước Việt Nam, người dân nơi đây từ bao đời đã xây dựng cho mình một nếp sống với những điều lệ mà mọi người trong thôn nhất mực tuân theo. Từ việc xây dựng và duy trì trật tự làng xã nông thôn xưa thông qua văn bản Xuân Sơn thôn hương lệ, tác giả nêu ra một số suy nghĩ đối với công cuộc xây dựng nông thôn mới hôm nay.
Văn bản mang
tên Xuân Sơn thôn hương lệ hiện đang lưu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm
(VNCHN), kí hiệu VHv.1216 ghi lại hương ước, tục lệ của thôn Xuân Sơn (một xã nhỏ của huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An cũ). Văn bản viết tay, chữ thảo do các chức dịch và nhân
dân toàn xã phụng soạn. Văn bản khổ 28 x 16cm, gồm 42 trang, chữ Hán có xen một
số chữ Nôm. Về hình thức
văn bản: trang 1 là tên văn bản, trang 2 là khoán lệ, từ trang 3 đến trang 33
là nội dung các điều lệ. Từ trang 34 đến hết là phần chữ kí của chức sắc và
nhân dân trong thôn xã.
Cũng đề cập
đến phong tục, lệ làng của thôn Xuân Sơn, tìm hiểu trong trong kho sách của
VNCHN, hiện chúng tôi còn thấy có một văn bản nữa mang kí hiệu VNv.38 và nằm
trong tập văn bản gồm (40 bản) có tên Nghệ An tỉnh khai sách,
ở bộ hồ sơ điều tra xã hội học tiến hành vào năm 1911. Có thể thấy, các
bản điều tra (khai sách) được Phó sứ Nghệ An lúc đó là Ogeier cho
tiến hành vào năm 1911, trùng với năm mà bản Xuân Sơn thôn hương lệ được
sao chép lại. Nội dung chính văn bản này gồm nhiều câu hỏi và trả lời về các
hiện tượng tự nhiên như trời đất, trăng sao, mưa gió, sấm sét, cây cỏ, chim
muông; về phong tục tập quán; về truyền thuyết dân gian lưu hành tại các địa
phương trong tỉnh Nghệ An. Đặc biệt có nhiều bài dẫn ca dao, tục ngữ hoặc các
tích chuyện để thuyết minh.
Văn bản được
viết bằng chữ Nôm, một số chữ Nôm mang âm địa phương đã được chú thích bằng chữ
Quốc ngữ bên dưới. Điều này đảm bảo những tên riêng như đồng ruộng, tên người,
tên lễ hội…. được đọc đúng.
Trang 1 văn
bản ghi: “Huyện Yên Thành tổng Quan Trung xã Thọ Sơn làng Xuân Sơn hào lí cả
dân chúng tôi chả lời. Quan lớn hỏi ba khoản dân tôi dám xin chả lời lại như
sau ni”. (Phía sau là phần câu hỏi và trả lời). Hỏi về phong tục, tín ngưỡng
chiếm dung lượng lớn nhất trong văn bản. Những câu hỏi đại loại như:
[Hỏi]: Những
lễ là nhất định làm khi các vì sao hiện ra mọc lên hay là lặn dưới là những lễ
gì:
[Trả lời]:
Dân tôi làm lễ tế sao gọi bằng lễ Nhương tinh. Như người nào tế ông sao Thái
Dương thì lấy giấy vàng làm bài vị, viết tên ông sao ấy lại làm một cái đèn
mười hai ngọn đợi đến ngày hai mươi bảy ông sao ấy giáng hạ thì đặt đàn tràng
trở mặt về phương Tây mà tế…
… [Hỏi]:
Người ta có cầu nguyện gửi thờ cúng gì các cái sao không?
[Trả lời]:
Dân tôi nghĩ các ông sao làm chủ vận hạn cho người ta thì là to lớn lắm. Người
ta gặp phải hạn nặng mà muốn kêu van với các ông sao ấy để các ông sao đổi sang
vận hạn khác cho tốt thì phải đặt đàn tràng làm lễ cúng tế mà cầu nguyện với
các ông sao mới đặng. Cũng thí dụ như dân mà có tội gì thì phải làm đơn đến kêu
với ông quan, để ông quan soi xét khoan giảm cho được nhẹ tội cho nên dân tôi có
hội Nhương tinh, để đầu năm làm lễ tế sao…
Hay khi hỏi
về lệ thờ cúng ở đây:
[Hỏi]: Người
ta có cúng tế mặt trời không?
[Trả lời]:
Dân tôi nghĩ mặt trời cũng như ông vua. To lắm, nặng lắm. Dân tôi bé nhỏ, không
dám cúng tế, chỉ có khi tế sao thì tế ông sao Thái Dương mà thôi…
Tác giả Phạm
Tú Châu đã đặt câu hỏi trên Tạp chí Hồn Việt về cuộc điều tra xã hội học
của Phó sứ Nghệ An Ogeier rằng: Phó sứ Nghệ An Ogeier muốn tìm hiểu những gì về
đất nước ta qua Nghệ An tỉnh khai sách? Sau nhiều phân tích, tác giả đã
cho rằng: “Dù còn nhiều điều phải tiếp tục tìm hiểu, Nghệ An tỉnh khai sách
vẫn là những tư liệu vô cùng quý giá để hiểu về mình và hiểu về người, rộng
ra là hiểu về đất nước một trăm năm trước”.
Qua hai văn
bản về “lệ làng” của thôn Xuân Sơn tỉnh Nghệ An vừa nêu, chúng ta có thể gặp
rất nhiều vấn đề “nóng” đang được quan tâm hiện nay, từ việc thờ cúng, khen
thưởng khuyến học cho tới xây dựng quy hoạch nhà cửa, đường sá, các công trình
thuỷ lợi, vấn đề đảm bảo an ninh xã hội… Những quy định này đã ràng buộc, cố
kết người dân trong thôn xã với nhau trong thời gian rất dài.
Trở lại với
câu hỏi tiếp theo là vì sao Phó sứ Ogeier lại phải làm như vậy vào năm 1911?
Với công cụ hỗ trợ từ một đất nước có chế độ quản lý hành chính hơn hẳn chúng
ta lại có một bộ máy chính quyền thân Pháp, phụ thuộc vào Pháp mà với cương vị
Phó sứ ông ta lại phải kì công cho điều tra xã hội học với sự chuẩn bị các câu
hỏi chi tiết, kĩ càng, phù hợp với trình độ dân trí đương thời như vậy. Chúng
tôi cho rằng: ngoài những điều như tác giả Phạm Tú Châu đã đánh giá, trình bày
thì rất có thể, để việc nhậm chức thuận lợi và có phương án cai trị phù hợp nên
Phó sứ Ogeier đã cho tìm hiểu kĩ về văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng dân
gian,… người Nghệ An. Phó sứ Nghệ An Ogeier đã nhận thấy nếu muốn xây dựng một
xã hội ổn định, bền chặt tại đất Nghệ An thì phải biết và hiểu được tâm tư
nguyện vọng của người dân và cái chính là hiểu được cái hồn cốt nơi mà mình
định cai trị. Đó chính là địa bàn nông thôn và các vấn đề của nông thôn, nông
dân.
Trải qua
nhiều thăng trầm nền sản xuất ở nước ta, nông nghiệp vẫn chiếm đại đa số, tỷ lệ
dân số nông thôn vẫn chiếm ưu thế. Theo thống kê được tổng cục thống kê công
bố, ở Việt Nam, dân số sống ở vùng nông thôn năm 1999 chiếm 76,5%, đến năm 2009
là 70,4%. Dân số trung bình năm 2016 của cả nước ước tính 92,70 triệu người,
trong đó dân số thành thị 32,06 triệu người, chiếm 34,6%; dân số nông thôn
60,64 triệu người, chiếm 65,4%; dân số nam 45,75 triệu người, chiếm 49,4%; dân
số nữ 46,95 triệu người, chiếm 50,6%.
Nhìn vào con
số trên ta thấy, mặc dù đã có những bước thay đổi về cơ cấu dân số nhưng dân số
sống ở vùng nông thôn vẫn chiếm số lượng rất lớn. Điều này phản ánh thực trạng
về xã hội Việt Nam. Khu vực nông thôn đất rộng, dân đông, sản xuất chủ yếu là
nông nghiệp. Đây cũng là nơi làm nên bộ mặt văn hóa, làm nên bản sắc Việt hàng
ngàn năm.
Nhận thức rõ
trong xu thế phát triển hiện nay, không thể có một nước công nghiệp nếu nông
nghiệp, nông thôn còn lạc hậu và đời sống nông dân còn thấp. Vì vậy, việc xây
dựng nông thôn mới được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu, là bước đi bền vững của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Tại Hội nghị lần thứ 7 (2008), Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản
Việt Nam khoá X đã ban hành Nghị quyết số 6- NQ/TW về nông nghiệp, nông thôn và
nông dân với mục tiêu xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch, xã hội
nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, dân trí được nâng cao, môi
trường sinh thái được bảo vệ, hệ thống chính trị ở nông thôn được tăng cường.
Đến nay, quá trình xây dựng nông thôn mới của Việt Nam đang bước đầu được triển
khai thực hiện. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đã mang
lại sự cải thiện hơn đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nông thôn.
Tuy nhiên
cũng qua quá trình thực hiện, chương trình còn bộc lộ một số hạn chế cần khắc
phục. Nhiều nghiên cứu và điều tra xã hội học đã chỉ ra rằng, những hạn chế đó
là do “… Chưa có quy hoạch và quản lý có hiệu quả về không gian chung nông thôn
- đô thị, công nghiệp - nông nghiệp, về hạ tầng nông thôn, nên đã dẫn đến không
gian nông thôn truyền thống đang bị phá vỡ tại nhiều nơi, mất đi tính đặc thù
với các giá trị bản sắc văn hóa, mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường gia
tăng. Thứ hai, xã hội nông thôn chưa được tổ chức thích hợp với quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ cơ sở còn bị vi phạm ở nhiều nơi, mâu thuẫn
xã hội gia tăng, văn hóa truyền thống bị mai một. Thứ ba, kinh tế nông thôn
phát triển nhưng thiếu tính bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Người
dân thiếu việc làm ổn định, nghèo đói giảm chậm và có xu thế tái nghèo ở một số
địa phương, một bộ phận dân cư còn sống dưới mức nghèo khổ. Thứ tư, cơ chế lồng
ghép các nguồn lực từ các chương trình, dự án chưa rõ ràng và chưa quan tâm tới
đặc thù từng địa phương. Thực tế các địa phương mới chỉ tiến hành ghép vốn đối
với các công việc, mục tiêu có cùng nội dung. Tuy nhiên, điều này lại gây khó trong
tổng hợp kết quả đạt được của từng dự án, chương trình từ việc ghép các nguồn
vốn của các chương trình, dự án trên địa bàn…” . Ở góc độ nghiên cứu văn hóa
truyền thống, chúng tôi cho rằng ý kiến “không gian nông thôn truyền thống đang
bị phá vỡ tại nhiều nơi, mất đi tính đặc thù với các giá trị bản sắc văn hóa”;
“văn hóa truyền thống bị mai một” đang là nguyên nhân quan trọng làm cho cuộc
vận động xây dựng và đổi mới nông thôn chưa phát huy được hết tác dụng. Xét
trên nhiều khía cạnh, nhất là với góc nhìn từ nông thôn truyền thống thì thấy,
chúng ta muốn nông nghiệp nông thôn phát triển, nhưng lại chưa bắt đầu phát
triển từ chính nông thôn; hay nói cách khác là chúng ta còn chưa thực sự hiểu
nông thôn và nông dân. Trải qua hàng ngàn năm sống trong làng xóm, chịu ảnh
hưởng sâu sắc những đặc tính sinh hoạt nông thôn từ cách nghĩ cách làm người
dân nông thôn Việt Nam không thể một sớm một chiều rũ bỏ những tư duy “ xưa cũ
của mình”. Những tư duy “làng xã” “sau lũy tre làng” đã ăn sâu vào nhiều thế
hệ. Người nông dân và văn hóa nông thôn cũng có mặt tích cực và mặt chưa tích
cực - xét theo quan điểm hiện đại.
Chúng ta hay
phê phán những cái xấu, cái trì trệ trong nông thôn nhưng lại không nhìn thấy
mặt tích cực của nông thôn và nông dân. Xem qua hai văn bản “hương lệ” và “khai
sách” ở trên thì thấy rõ ràng, nông thôn nông dân cũng có những quan niệm và
quản lí xã hội tích cực. Từ việc tôn trọng nhau, lấy hòa mục làm đầu, đảm bảo
lợi ích kinh tế cho nhau hay chí ít ra là đã xây dựng được bộ quy tắc ứng xử khá
văn minh. Là một xã hội thu hẹp, làng xã nông thôn tự tạo ra hệ thống thiết chế
quản lí và hình thái xã hội chặt chẽ, logic; các vấn đề kinh tế “tự cung tự
cấp”, quan hệ sản xuất, trồng cấy, thủy lợi cách sinh hoạt, ứng xử giữa con
người với con người cho đến các vấn đề an sinh xã hội, đảm bảo an toàn cho
người dân (chống trộm cắp, phát hiện kẻ gian người lạ…), xử phạt hành chính
(mang ra đình kết tội, không cho tham dự các công việc chung của làng, phạt
tiền) đến xử phạt (bắt trình lên quan trên)… thì thấy người nông dân nông thôn
không phải không có ý thức kiến tạo xã hội. Cũng không thể không nói tới mặt
trái của “tính làng xã” như kiểu tư duy tuỳ tiện thích làm thì làm thích nghỉ
thì nghỉ, hay “con gà tức nhau tiếng gáy”, bè phái dòng họ trong thôn; lệ phạt
vạ ăn uống linh đình; việc cưới hỏi, hiếu hỷ rườm rà nhiều hủ tục…. Nhiều luật
lệ của làng xã đã vô tình đẩy con người vào bước đường cùng hay trói buộc tính
sáng tạo, tính cá nhân trong mỗi con người. Song vấn đề cố kết cộng đồng trong
làng xã Việt Nam truyền thống vẫn sẽ là bài học cho cuộc vận động nhân dân đoàn
kết, cùng nhau xây dựng nếp sống “thuần phong mỹ tục”. Tôn trọng và hiểu biết
về văn hoá, lối sống nông thôn nông dân; vận dụng những “luật làng” hữu ích mà
người dân nông thôn từng đặt ra trong quá trình dựng làng lập ấp sẽ dễ được tự
nguyện chấp nhận. Một số nơi nhờ sự vận dụng quy tắc cố kết làng xóm, đã có rất
nhiều người tham gia hiến đất làm đường; hàng xóm, dòng tộc đùm bọc giúp nhau
thoát nghèo…
Nếu có cách
nhìn thấu đáo về một xã hội truyền thống với tư duy kế thừa và phát triển phù
hợp thì có lẽ sẽ đạt hiệu quả cao hơn trong xây dựng và phát triển cái mới.
Trong trường hợp này, nếu các cấp chính quyền, người đứng đầu phụ trách về công
tác phát triển nông thôn mới am hiểu sâu sắc hơn nông thôn truyền thống với
những bản “hương ước”, “tục lệ” về vốn văn hoá “hương ước” trong lịch sử địa
phương và dân tộc chúng tôi tin rằng bộ mặt địa phương sẽ thay đổi, phát triển
nhanh chóng mà vẫn giữ được “hồn cốt” vùng miền.
Có thể nhìn
thấy một số đóng góp của loại hình văn bản hương ước, hương lệ, tục lệ - đặc
biệt là hương ước, hương lệ, tục lệ Hán Nôm - loại văn bản vẫn được coi là di
sản ông cha gửi lại như: giải quyết những mâu thuẫn, bất hoà trong làng xóm,
đoàn kết đùm bọc lẫn nhau... Việc hoà giải, tự giải quyết những mâu thuẫn phát
sinh trong làng xóm, tôn trọng tình làng nghĩa xóm, khuyến khích lối sống
nhường nhịn lẫn nhau. Đảm bảo an ninh trật tự thôn xóm, nhanh chóng phát hiện
người lạ, kẻ gian … phục vụ tích cực trong tác phòng chống tội phạm. Đảm bảo
cho những công trình công cộng được sử dụng đúng mục đích (đình làng - trung
tâm văn hóa sinh hoạt cộng đồng; chùa triền - nơi thỏa mãn tâm linh tín ngưỡng;
giữ gìn giếng nước, cây đa,… - môi trường sống…). Đạo đức xã hội luôn được đề
cao, trọng người già, trọng người có công; hiếu đễ với cha mẹ, anh em;…
Nghiên cứu về
giá trị văn hoá nông thôn sẽ có ảnh hưởng nhất định, nếu không muốn nói có ảnh
hưởng sâu rộng tới các mặt của đời sống xã hội. Nghiên cứu văn hoá truyền thống
từ những văn bản Hán Nôm hay từ các nguồn tài liệu khác chính là nghiên cứu để
chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại được liền mạch, thông suốt… Ở các nước
tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc,… các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách
đều chỉ ra sợi dây liền mạch và sự kế nối các giá trị truyền thống chính là
điều kiện sống còn để phát triển đất nước. Đã đến lúc chúng ta cũng cần xác
định vai trò của văn hóa truyền thống như một nguồn lực của sự phát triển, là
đòn bẩy để tương lai phát triển bền vững.
Bài viết này
không thể trình bày hết được những thuận lợi và khó khăn trong việc gìn giữ, kế
nối và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, song cái mà chúng tôi muốn
nhấn mạnh ở đây là công cuộc xây dựng và phát triển nông thôn mới cần phải xuất
phát từ chính những giá trị tạo nên bản sắc của nông thôn, để từ đó có thể có
được những thành tựu như mong đợi./.