VI | EN
Nhận diện nguồn gốc tham nhũng và giải pháp phòng ngừa tham nhũng ở nước ta hiện nay
Ở nước ta, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi hiện tượng tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Bài viết dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử để nhận diện đúng nguồn gốc tham nhũng, từ đó làm cơ sở để Đảng và Nhà nước đưa ra các giải pháp phòng, chống tham nhũng hiện nay.

1.    Nhận diện nguồn gốc tham nhũng

Lịch sử thế giới đến nay đã chứng minh rằng, chưa từng có quốc gia nào trải qua các giai đoạn phát triển mà không ít nhiều đối diện với tình trạng tham nhũng. Tham nhũng (tham ô, nhũng nhiễu) xảy ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, không những ảnh hưởng, gây cản trở tiêu cực đối với sự phát triển mà còn gây nên tình trạng mất ổn định xã hội với nhiều quốc gia, dân tộc. Hiện nay, hành vi tham nhũng có xu hướng phát triển sâu rộng với những hình thức tinh vi và khó ngăn chặn hơn so với trước.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 của nước ta xác định: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”1. Trong Hồ Chí Minh toàn tập, Bác diễn đạt một cách giản dị và dễ hiểu nhất về tham nhũng là hành vi “ăn cắp của công làm của tư”2.

Tham nhũng không chỉ là vấn đề nhức nhối ở nước ta hiện nay mà còn là vấn đề mang tính toàn cầu. Hàng năm, ước tính có khoảng 1.000 tỷ USD bị tham nhũng dưới hình thức đưa và nhận hối lộ. Con số này nếu tính riêng ở các nước châu Phi chiếm khoảng ½ khoản nợ nước ngoài (khoảng 148 tỷ USD). Tham nhũng không chỉ xảy ra phổ biến ở các nước đang phát triển và kém phát triển, mà còn xảy ra ngày cả ở các nước có nền kinh tế - xã hội phát triển và hệ thống luật pháp khá hoàn thiện như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc... Ở Việt Nam, sau gần 40 năm đổi mới, nền kinh tế - xã hội có những bước chuyển mình và đạt được những thành tựu đáng tự hào, mang tầm vóc lịch sử, nhất là những thành tựu trong đấu tranh phòng và chống hiện tượng tham nhũng. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”3. Song bên cạnh đó, chúng ta cũng gặp không ít khó khăn, thử thách, trong đó có tệ tham nhũng. “Tổng kết các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương theo dõi, chỉ đạo thì qua đấu tranh đã kê biên, thu giữ tài sản hàng nghìn tỉ đồng, như vụ Hứa Thị Phấn hơn 10.000 tỉ đồng; vụ Phan Văn Anh Vũ hơn 22.000 tỉ đồng; vụ Phạm Công Danh hơn 9.000 tỉ đồng; vụ AVG hơn 8.770 tỉ đồng...”4. “Theo báo cáo công tác phòng chống tham nhũng, trong 10 năm qua (2012 - 2022), đã xử lý kỷ luật 2.740 tổ chức đảng và hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có hơn 190 cán bộ diện Trung ương quản lý (có 4 ủy viên Bộ Chính trị, nguyên ủy viên Bộ Chính trị; 36 ủy viên Trung ương, nguyên ủy viên Trung ương); qua thanh tra, kiểm toán kiến nghị xử lý trách nhiệm gần 44.700 tập thể, cá nhân, chuyển cơ quan điều tra, xử lý gần 1.200 vụ việc có dấu hiệu tội phạm”5.

Dưới góc độ triết học Mác - Lênin, tham nhũng là hiện tượng mang tính lịch sử. Tham nhũng xuất hiện khi xã hội có sự phân chia thành các giai cấp khác nhau và sự hình thành nên nhà nước. Nó là khuyết tật bẩm sinh của quyền lực. Hiện nay, nhiều ý kiến khi xem xét vấn đề tham nhũng, nhất là đi tìm hiểu nguồn gốc của nó đã chỉ ra rằng, đó là do lòng tham, khuyết tật tự nhiên mang tính bản năng của con người; có quan điểm mang tính mục đích cho rằng chế độ công hữu là nguồn gốc và đồng hành cùng tham nhũng. Để có quan điểm khoa học, làm cơ sở đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả và triệt để ở nước ta hiện nay, chúng ta cần xem xét nguồn gốc tham nhũng một cách toàn diện cả về kinh tế, chính trị, đạo đức và văn hoá, xã hội.

Về kinh tế: triết học Mác khẳng định, con người hoạt động là quá trình tìm kiếm lợi ích. Lợi ích là động lực và thước đo hoạt động của con người. Song điều đó không có nghĩa, quá trình tìm kiếm lợi ích, con người có thể xâm phạm lẫn nhau và xâm phạm lợi ích xã hội. Nhìn nhận tham nhũng từ khía cạnh kinh tế có thể thấy rằng, tham nhũng có nguyên nhân trực tiếp từ mưu cầu lợi ích riêng về vật chất của cá nhân hoặc bộ phận có quyền lực. Từ đây, có thể khẳng định, nguồn gốc sâu xa của tham nhũng bắt nguồn từ cơ sở kinh tế, tức là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, gắn liền với nhà nước.

Lịch sử loài người trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao, gắn với hai chế độ sở hữu là công hữu và tư hữu về tư liệu sản xuất. Chế độ tư hữu là tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội do một số ít người nắm giữ, do đó của cải được phân phối không đồng đều và không công bằng, nó thuộc phần lớn những người sở hữu tư liệu sản xuất. Trong xã hội, các quan hệ xã hội là bất bình đẳng, biểu hiện là quan hệ giữa thống trị và bị trị được pháp luật thừa nhận. Đây là cơ sở để nảy sinh, hình thành các quan hệ đối kháng và là nguồn gốc của sự bất bình đẳng trong phân phối các sản phẩm, nguồn gốc sâu xa của những tiêu cực, tệ nạn xã hội và tham nhũng. Ở chế độ công hữu, mọi thành viên trong xã hội đều có quyền và thực tế được sở hữu tư liệu sản xuất. Vì vậy, về mặt nguyên tắc, các thành viên của cả cộng đồng có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau tổ chức lao động và của cải xã hội làm ra, do đó được phân phối bình quân, công bằng. Từ nguyên nhân này dẫn tới các quan hệ xã hội là bình đẳng, hợp tác, tương trợ, nhân ái và tạo điều kiện lẫn nhau. Chế độ công hữu là nguồn gốc kinh tế của sự bình đẳng trong phân phối sản phẩm, nguồn gốc sâu xa quyết định tiến bộ và công bằng xã hội. Trong chế độ công hữu, không còn cơ sở kinh tế làm nảy sinh hiện tượng tham nhũng và cũng không còn nhu cầu lợi ích để nảy sinh tham nhũng.

Về chính trị: Tham nhũng xuất hiện khi xã hội có sự phân chia giai cấp và nhà nước hình thành. Chế độ sở hữu tư nhân là nguồn gốc nảy sinh giai cấp và nhà nước. Khi nào còn nhà nước là còn chế độ quyền lực, mà trước hết là quyền lực về mặt chính trị. Đây là nguyên nhân trực tiếp và là điều kiện nảy sinh tham nhũng.

Xem xét chức năng của nhà nước dưới góc độ tiếp cận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhà nước có hai chức năng gắn bó chặt chẽ với nhau, là chức năng thống trị chính trị và chức năng xã hội; trong đó, chức năng thống trị chính trị được hình thành dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giữ vị trí chi phối phương hướng, mục tiêu và mức độ thực hiện chức năng xã hội. Chức năng thống trị chính trị áp đặt vai trò áp bức, bóc lột, quy định tính chất và mức độ tham nhũng của các cá nhân nắm giữ quyền lực. Chức năng xã hội, trong phạm vi nhất định, phải phục tùng chức năng thống trị chính trị, theo quan điểm và giới hạn của giai cấp cầm quyền; đồng thời, đó là phương thức, điều kiện để nhà nước thực hiện vai trò thống trị giai cấp của mình.

Từ góc độ bản chất nhà nước, để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, giai cấp thống trị xây dựng hệ thống luật pháp để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, tạo cơ sở pháp lý để những kẻ có chức, có quyền lợi dụng chiếm đoạt các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, của công dân. Trong chế độ công hữu, giai cấp bị xóa bỏ và xã hội không cần tổ chức ra nhà nước. Những nội dung thuộc chức năng xã hội sẽ do xã hội tự đảm nhiệm, chế độ tự quản của nhân dân được xác lập, khi đó trong xã hội sẽ không còn tham nhũng.

Dưới chủ nghĩa xã hội, chế độ công hữu được xác lập, nhà nước xã hội chủ nghĩa được ra đời. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của giai cấp cần lao, tức là giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Chức năng tổ chức xây dựng là cơ bản, cũng là nhiệm vụ trọng tâm. Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước là mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Từ bản chất này khách quan phủ nhận sự tồn tại của tham nhũng. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa, các cơ sở kinh tế, xã hội của chế độ cũ vẫn còn tồn tại và làm nảy sinh hiện tượng tham nhũng. Quá trình đấu tranh phòng ngừa, loại bỏ tham nhũng không phải là quá trình xóa bỏ nhà nước, ngược lại phải tăng cường xây dựng hiệu lực quản lý của nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, phải hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa làm cho nhà nước thực sự hiệu quả trong phòng, chống tham nhũng.

Về đạo đức và văn hóa: Đạo đức và văn hóa là những yếu tố của đời sống tinh thần, thuộc ý thức hệ của mỗi quốc gia ở từng giai đoạn lịch sử. Đạo đức, văn hóa là sản phẩm của đời sống kinh tế, mà trước hết là phương thức sản xuất. Lịch sử các xã hội chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, tham nhũng đã nhận được sự bảo trợ của ý thức hệ, của nhà nước, tôn giáo, hoặc nó ẩn náu trong lớp vỏ đạo đức, văn hoá nào đó. Trong các giai đoạn đó, với việc nắm giữ quyền lực và mục đích cá nhân, đôi khi những hành vi tham nhũng cũng được coi là một hiện tượng đạo đức tự nhiên, là văn hóa của một bộ phận quan chức trong xã hội. Ở đó, tham nhũng đồng nhất với bóc lột và trở thành tiêu chí đạo đức, văn hoá của các tập đoàn và cá nhân nắm quyền lực. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất làm nảy sinh nền đạo đức cộng sản và văn hóa mới xã hội chủ nghĩa thì hành vi tham nhũng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên lại trở nên xa lạ, trái ngược với đạo đức cách mạng và nền văn hóa mới và nhất thiết phải bị loại bỏ.

Như vậy, xét về bản chất, nguồn gốc sâu xa của tham nhũng là từ cơ sở kinh tế, tức là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất không phải là nguồn gốc sinh ra tham nhũng.

 

2.   Giải pháp ngăn chặn hiện tượng tham nhũng ở nước ta

Ở nước ta, hành vi tham nhũng còn điều kiện để tồn tại, khi chúng ta đang ở thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chế độ công hữu chưa được xác lập hoàn toàn và triệt để. Trong xã hội, tồn tại quyền lực nhà nước ở nhiều mức độ khác nhau; cơ chế, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang hoàn thiện, môi trường kinh tế - xã hội chưa minh bạch; hệ thống luật pháp về phòng chống tham nhũng chưa có những điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn, cơ chế giám sát, kiểm soát còn có hạn chế cùng với sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Điều đó có nghĩa rằng, các cơ sở nảy sinh và tồn tại của tham nhũng ở nước ta hiện nay vẫn còn và sự tồn tại của tham nhũng là điều khó tránh khỏi.

Chúng ta thừa nhận cơ sở khách quan về kinh tế, pháp luật, đạo đức xuất hiện hành vi tham nhũng vẫn tồn tại. Do đó, việc làm cần thiết nhất hiện nay, là song song với việc hoàn thiện thể chế kinh tế, hoàn thiện luật pháp và xây dựng các tiêu chuẩn đạo đức thì cần đấu tranh ngăn chặn hành vi tham nhũng bằng các biện pháp cứng rắn của hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay các thế lực thù địch lợi dụng việc Đảng và Nhà nước đang quyết liệt đấu tranh loại bỏ các cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, tham ô, tham nhũng để tuyên truyền, kích động, bôi nhọ danh dự của cán bộ, của Đảng, làm giảm lòng tin về sự lãnh đạo của Đảng. Hiện có hai luồng ý kiến của các thế lực phản động về đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng. Luồng ý kiến thứ nhất: bôi nhọ, kích động, phủ nhận công lao của Đảng về phòng, chống tham nhũng. Ý kiến này cho rằng, tham nhũng xuất hiện từ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, từ cơ chế độc đảng lãnh đạo, từ năng lực quản lý yếu kém của đội ngũ lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Đấu tranh chống tham nhũng là sự thanh trừng lẫn nhau của các thế lực không cùng phe cánh trong nội bộ Đảng. Luồng ý kiến thứ hai: Hô hào, ủng hộ, quyết tâm cùng Đảng và Nhà nước để diệt trừ quan tham, làm sạch bộ máy công quyền nhằm tung hỏa mù về công tác phòng chống tham nhũng của Đảng. Mục đích của các thủ đoạn trên nhằm tạo nên bức tranh đen tối của xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gây hoài nghi, nghị kỵ, mâu thuẫn, chia rẽ, hoang mang trong nội bộ Đảng và trong nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Vấn đề đặt ra đối với cả hệ thống chính trị và toàn dân ta là quyết tâm đẩy lùi hiện tượng tham nhũng, tiêu cực; đồng thời, chống lại các quan điểm xuyên tạc, phủ nhận thành tựu phòng, chống tham nhũng của các thế lực thù địch, phản động.

Đấu tranh phòng, ngừa hiện tượng tham nhũng ở nước ta hiện nay là việc làm tất yếu, đồng thời là xu thế không thể đảo ngược, bởi tham nhũng là “giặc nội xâm”, gây thiệt hại về kinh tế, làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; làm suy yếu bộ máy của Đảng, Nhà nước, nhất là làm suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng và “là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”6. Đảng luôn xác định phòng, chống tham nhũng là “một cuộc đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kẻ địch là tệ tham ô, lãng phí, quan liêu”7, phải được tiến hành thường xuyên, kiên quyết, kiên trì, bền bỉ. Quá trình đó, phải “xây dựng cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể” tham nhũng, tiêu cực; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám” tham nhũng, tiêu cực; xây dựng văn hóa liêm chính để “không muốn” tham nhũng, tiêu cực; và một cơ chế bảo đảm để “không cần” tham nhũng”8, tiêu cực. Truyền thống cha ông ta đặc biệt nhấn mạnh ở sự chọn đề cao liêm chính, đề cao đạo đức con người để không muốn, “không thèm” tham nhũng. Một số ý kiến cho rằng, chỉ có khi nào giàu mới không có tham nhũng hoặc không thèm tham nhũng. Nhưng thực tế chứng minh rằng, con người không tự từ bỏ được lòng tham thì giàu đến đâu, quyền cao chức trọng đến đâu vẫn tham nhũng. Nhận thức và xác định nguồn gốc tham nhũng ở nước ta là cơ sở quan trọng để đánh giá và đưa ra các giải pháp ngăn chặn vấn nạn tham nhũng có hiệu quả là việc làm vô cùng cần thiết. Từ nhận diện nguồn gốc tham nhũng, quá trình đấu tranh ngăn chặn tham nhũng cần chú ý vào các vấn đề:

Một là, hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làm cơ sở đẩy lùi hiện tượng tham nhũng. Việt Nam đang trong bước quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội nên các hình thức sở hữu đan xem còn là cơ sở khách quan cho sự tồn tại, len lỏi của tham nhũng. Nhiệm vụ đặt ra đối với chúng ta trước mắt và lâu dài là tiếp tục hoàn thiện và phát triển đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đảng ta xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”9. Với định hướng như vậy, chúng ta đang quyết tâm tạo ra cơ sở kinh tế vững chắc để từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng.

Hai là, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệ thống pháp luật hiệu lực, hiệu quả trong ngăn chặn, đẩy lùi hiện tượng tham nhũng. Đi đôi với việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải tiến hành song song và đồng bộ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước, chú trọng đến hệ thống luật pháp về phòng, chống tham nhũng để bảo đảm rằng không ai có thể tham nhũng. Nhận thức rõ điều này, Đảng ta chủ trương: “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để vận hành có hiệu quả nền kinh tế... Tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”. Từ năm 2012 đến nay, “Trung ương đã ban hành hơn 250 văn bản về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trong đó có nhiều chủ trương, quy định mạnh mẽ, quyết liệt, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, đánh giá cao, triển khai thực hiện nghiêm túc, đi vào cuộc sống, tạo chuyển biến rõ rệt”10. Kết quả của việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng chính là kết quả ngăn chặn ngày càng hiệu quả các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực ở các cấp, các ngành trong cả nước.

Ba là, thực sự coi trọng việc giáo dục đạo đức, văn hóa cách mạng. Thực tiễn nước ta cho thấy, sự suy giảm về phẩm chất, đạo đức của cán bộ, đảng viên là con đường dẫn đến tham nhũng, chúng luôn đồng hành cùng nhau và là hệ quả của nhau. Tham nhũng là hành vi phản văn hóa, vô đạo đức. Văn hóa, đạo đức hướng tới xây dựng xã hội nhân văn, nhân ái. Tham nhũng là hành vi có ý thức đi ngược lại với văn hóa và đạo đức dân tộc. Việc lợi dụng quyền lực, uy tín của tổ chức, địa vị của cá nhân để mưu lợi cá nhân là sự phản lại tinh thần dân tộc trong quá trình phấn đấu cho mục tiêu vì một xã hội văn minh, phát triển và tiến bộ.

Trên thế giới, trong đấu tranh ngăn chặn hành vi tham nhũng, hầu hết các quốc gia đều coi trọng xây dựng, giáo dục về mặt đạo đức con người, coi đây là một trong những biện pháp đầu tiên và được tiến hành thường xuyên. Một số nước ban hành luật về đạo đức của công chức (Thụy Điển, Đức, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a,...). Xin-ga-po xây dựng đạo đức công vụ hướng tới mục tiêu làm cho cán bộ “không nỡ” tham nhũng. Ở nước ta, Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều quy tắc, chuẩn mực đạo đức và văn hóa. Xây dựng, hoàn thiện Đề cương văn hóa Việt Nam, quy tắc ứng xử đạo đức công vụ của cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, lên án, phê phán các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng thông qua phương tiện truyền thông. Đảng ta xác định: “Quan tâm xây dựng, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng viên, đạo đức công vụ, chuẩn mực, giá trị con người Việt Nam phù hợp với truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm của mình trước Đảng và nhân dân”11. Đại hội XIII, Đảng ta rất nhiều lần nhắc đi nhắc lại cụm từ “đạo đức” để khẳng định rằng, toàn Đảng luôn đặt vấn đề “đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là yêu cầu cấp bách hiện nay12.

Kết luận

Từ nhận diện nguồn gốc tham nhũng nhằm đưa ra các giải pháp phòng, chống hành vi tham nhũng được tiến hành toàn diện cả trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức. Một thể chế kinh tế hướng tới công bằng, bình đẳng, nhân văn sẽ tạo ra điều kiện khách quan và khả năng ngăn ngừa, hạn chế tham nhũng. Một thể chế chính trị với nhà nước trong sạch và hệ thống pháp luật đầy đủ, dân chủ, nghiêm minh, có cơ chế quản lý kiểm soát chặt chẽ cùng với đội ngũ cán bộ, công chức được giáo dục tốt về đạo đức, văn hoá và sự quyết tâm, đồng hành của hệ thống chính trị và toàn bộ nhân dân sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp, hạn chế và đẩy lùi tham nhũng. Với những giải pháp đó, cùng với sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, công cuộc đấu tranh ngăn ngừa và đẩy lùi hành vi tham nhũng ở nước ta nhất định sẽ thành công./.

 Chú thích và tài liệu tham khảo

1.   Luật phòng chống tham nhũng (2018), Điều 3, mục “Giải thích từ ngữ”, Luật số 36/ 2018 /QH14 ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2018.

2.   Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 7, tr.355.

3.    Đảng Cộng Sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr.25.

4.    Nguyễn Phú Trọng (2023), Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhung, tích cực, góp phần xây dụng Đảng và nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.29-30.

5.    Nguyễn Phú Trọng (2023), tlđd, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.26.

6.    Đảng Cộng Sản Việt Nam (2021), tlđd, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr.93.

7.    Nguyễn Phú Trọng (2023), tlđd, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.7.

8.    Nguyễn Phú Trọng (2023): tlđd, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.37.

9.    Đảng Cộng Sản Việt Nam (2021), tlđd, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr.128.

10.     Nguyễn Phú Trọng (2023), tlđd, NXB. Chính trị Quốc gia- Sự thật, Hà Nội, tr.30.

11.     Nguyễn Phú Trọng (2023), tlđd, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.34.

12.   Đảng Cộng Sản Việt Nam (2021), tlđd, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr.41.

Nguồn bài viết: Tạp chí Hán Nôm
Vương Thị Hường, Vũ Văn Tự
Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm