Nhận diện nguồn gốc tham nhũng và giải pháp phòng ngừa tham nhũng ở nước ta hiện nay
Ở nước ta, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi hiện tượng tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Bài viết dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử để nhận diện đúng nguồn gốc tham nhũng, từ đó làm cơ sở để Đảng và Nhà nước đưa ra các giải pháp phòng, chống tham nhũng hiện nay.
1.
Nhận diện nguồn gốc tham nhũng
Lịch sử thế
giới đến nay đã chứng minh rằng, chưa từng có quốc gia nào trải qua các giai
đoạn phát triển mà không ít nhiều đối diện với tình trạng tham nhũng. Tham
nhũng (tham ô, nhũng nhiễu) xảy ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã
hội, không những ảnh hưởng, gây cản trở tiêu cực đối với sự phát triển mà còn
gây nên tình trạng mất ổn định xã hội với nhiều quốc gia, dân tộc. Hiện nay,
hành vi tham nhũng có xu hướng phát triển sâu rộng với những hình thức tinh vi
và khó ngăn chặn hơn so với trước.
Luật Phòng,
chống tham nhũng năm 2018 của nước ta xác định: “Tham nhũng là hành vi của
người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”1.
Trong Hồ Chí Minh toàn tập, Bác diễn đạt một cách giản dị và dễ hiểu
nhất về tham nhũng là hành vi “ăn cắp của công làm của tư”2.
Tham nhũng
không chỉ là vấn đề nhức nhối ở nước ta hiện nay mà còn là vấn đề mang tính
toàn cầu. Hàng năm, ước tính có khoảng 1.000 tỷ USD bị tham nhũng dưới hình
thức đưa và nhận hối lộ. Con số này nếu tính riêng ở các nước châu Phi chiếm
khoảng ½ khoản nợ nước ngoài (khoảng 148 tỷ USD). Tham nhũng không chỉ xảy ra
phổ biến ở các nước đang phát triển và kém phát triển, mà còn xảy ra ngày cả ở
các nước có nền kinh tế - xã hội phát triển và hệ thống luật pháp khá hoàn
thiện như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc... Ở Việt Nam, sau gần 40 năm đổi mới,
nền kinh tế - xã hội có những bước chuyển mình và đạt được những thành tựu đáng
tự hào, mang tầm vóc lịch sử, nhất là những thành tựu trong đấu tranh phòng và
chống hiện tượng tham nhũng. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực,
vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”3. Song bên cạnh đó, chúng ta
cũng gặp không ít khó khăn, thử thách, trong đó có tệ tham nhũng. “Tổng kết các
vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương theo dõi, chỉ đạo thì qua đấu tranh đã
kê biên, thu giữ tài sản hàng nghìn tỉ đồng, như vụ Hứa Thị Phấn hơn 10.000 tỉ
đồng; vụ Phan Văn Anh Vũ hơn 22.000 tỉ đồng; vụ Phạm Công Danh hơn 9.000 tỉ
đồng; vụ AVG hơn 8.770 tỉ đồng...”4. “Theo báo cáo công tác phòng
chống tham nhũng, trong 10 năm qua (2012 - 2022), đã xử lý kỷ luật 2.740 tổ
chức đảng và hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có hơn 190 cán bộ diện
Trung ương quản lý (có 4 ủy viên Bộ Chính trị, nguyên ủy viên Bộ Chính trị; 36
ủy viên Trung ương, nguyên ủy viên Trung ương); qua thanh tra, kiểm toán kiến
nghị xử lý trách nhiệm gần 44.700 tập thể, cá nhân, chuyển cơ quan điều tra, xử
lý gần 1.200 vụ việc có dấu hiệu tội phạm”5.
Dưới góc độ
triết học Mác - Lênin, tham nhũng là hiện tượng mang tính lịch sử. Tham nhũng
xuất hiện khi xã hội có sự phân chia thành các giai cấp khác nhau và sự hình
thành nên nhà nước. Nó là khuyết tật bẩm sinh của quyền lực. Hiện nay, nhiều ý
kiến khi xem xét vấn đề tham nhũng, nhất là đi tìm hiểu nguồn gốc của nó đã chỉ
ra rằng, đó là do lòng tham, khuyết tật tự nhiên mang tính bản năng của con
người; có quan điểm mang tính mục đích cho rằng chế độ công hữu là nguồn gốc và
đồng hành cùng tham nhũng. Để có quan điểm khoa học, làm cơ sở đấu tranh phòng,
chống tham nhũng có hiệu quả và triệt để ở nước ta hiện nay, chúng ta cần xem
xét nguồn gốc tham nhũng một cách toàn diện cả về kinh tế, chính trị, đạo đức
và văn hoá, xã hội.
Về kinh
tế: triết học Mác khẳng định, con người hoạt động là quá trình tìm kiếm lợi
ích. Lợi ích là động lực và thước đo hoạt động của con người. Song điều đó
không có nghĩa, quá trình tìm kiếm lợi ích, con người có thể xâm phạm lẫn nhau
và xâm phạm lợi ích xã hội. Nhìn nhận tham nhũng từ khía cạnh kinh tế có thể
thấy rằng, tham nhũng có nguyên nhân trực tiếp từ mưu cầu lợi ích riêng về vật
chất của cá nhân hoặc bộ phận có quyền lực. Từ đây, có thể khẳng định, nguồn
gốc sâu xa của tham nhũng bắt nguồn từ cơ sở kinh tế, tức là chế độ chiếm hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất, gắn liền với nhà nước.
Lịch sử loài
người trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao, gắn với hai chế độ
sở hữu là công hữu và tư hữu về tư liệu sản xuất. Chế độ tư hữu là tư liệu sản
xuất chủ yếu của xã hội do một số ít người nắm giữ, do đó của cải được phân
phối không đồng đều và không công bằng, nó thuộc phần lớn những người sở hữu tư
liệu sản xuất. Trong xã hội, các quan hệ xã hội là bất bình đẳng, biểu hiện là
quan hệ giữa thống trị và bị trị được pháp luật thừa nhận. Đây là cơ sở để nảy
sinh, hình thành các quan hệ đối kháng và là nguồn gốc của sự bất bình đẳng
trong phân phối các sản phẩm, nguồn gốc sâu xa của những tiêu cực, tệ nạn xã
hội và tham nhũng. Ở chế độ công hữu, mọi thành viên trong xã hội đều có quyền
và thực tế được sở hữu tư liệu sản xuất. Vì vậy, về mặt nguyên tắc, các thành
viên của cả cộng đồng có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau tổ chức lao động và của
cải xã hội làm ra, do đó được phân phối bình quân, công bằng. Từ nguyên nhân
này dẫn tới các quan hệ xã hội là bình đẳng, hợp tác, tương trợ, nhân ái và tạo
điều kiện lẫn nhau. Chế độ công hữu là nguồn gốc kinh tế của sự bình đẳng trong
phân phối sản phẩm, nguồn gốc sâu xa quyết định tiến bộ và công bằng xã hội.
Trong chế độ công hữu, không còn cơ sở kinh tế làm nảy sinh hiện tượng tham
nhũng và cũng không còn nhu cầu lợi ích để nảy sinh tham nhũng.
Về chính
trị: Tham nhũng xuất hiện khi xã hội có sự phân chia giai cấp và nhà nước
hình thành. Chế độ sở hữu tư nhân là nguồn gốc nảy sinh giai cấp và nhà nước.
Khi nào còn nhà nước là còn chế độ quyền lực, mà trước hết là quyền lực về mặt
chính trị. Đây là nguyên nhân trực tiếp và là điều kiện nảy sinh tham nhũng.
Xem xét chức
năng của nhà nước dưới góc độ tiếp cận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhà nước
có hai chức năng gắn bó chặt chẽ với nhau, là chức năng thống trị chính trị và
chức năng xã hội; trong đó, chức năng thống trị chính trị được hình thành dựa
trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giữ vị trí chi phối phương hướng, mục
tiêu và mức độ thực hiện chức năng xã hội. Chức năng thống trị chính trị áp đặt
vai trò áp bức, bóc lột, quy định tính chất và mức độ tham nhũng của các cá
nhân nắm giữ quyền lực. Chức năng xã hội, trong phạm vi nhất định, phải phục
tùng chức năng thống trị chính trị, theo quan điểm và giới hạn của giai cấp cầm
quyền; đồng thời, đó là phương thức, điều kiện để nhà nước thực hiện vai trò
thống trị giai cấp của mình.
Từ góc độ bản
chất nhà nước, để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, giai cấp thống trị xây
dựng hệ thống luật pháp để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, tạo cơ sở
pháp lý để những kẻ có chức, có quyền lợi dụng chiếm đoạt các giá trị vật chất
và tinh thần của xã hội, của công dân. Trong chế độ công hữu, giai cấp bị xóa
bỏ và xã hội không cần tổ chức ra nhà nước. Những nội dung thuộc chức năng xã
hội sẽ do xã hội tự đảm nhiệm, chế độ tự quản của nhân dân được xác lập, khi đó
trong xã hội sẽ không còn tham nhũng.
Dưới chủ
nghĩa xã hội, chế độ công hữu được xác lập, nhà nước xã hội chủ nghĩa được ra
đời. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của giai cấp cần lao, tức là giai
cấp công nhân và nhân dân lao động. Chức năng tổ chức xây dựng là cơ bản, cũng
là nhiệm vụ trọng tâm. Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước là mọi quyền lực
thuộc về nhân dân. Từ bản chất này khách quan phủ nhận sự tồn tại của tham
nhũng. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước xã hội chủ
nghĩa, các cơ sở kinh tế, xã hội của chế độ cũ vẫn còn tồn tại và làm nảy sinh
hiện tượng tham nhũng. Quá trình đấu tranh phòng ngừa, loại bỏ tham nhũng không
phải là quá trình xóa bỏ nhà nước, ngược lại phải tăng cường xây dựng hiệu lực
quản lý của nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, phải hoàn thiện nhà
nước xã hội chủ nghĩa làm cho nhà nước thực sự hiệu quả trong phòng, chống tham
nhũng.
Về đạo đức
và văn hóa: Đạo đức và văn hóa là những yếu tố của đời sống tinh thần,
thuộc ý thức hệ của mỗi quốc gia ở từng giai đoạn lịch sử. Đạo đức, văn hóa là
sản phẩm của đời sống kinh tế, mà trước hết là phương thức sản xuất. Lịch sử
các xã hội chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, tham nhũng đã nhận được sự
bảo trợ của ý thức hệ, của nhà nước, tôn giáo, hoặc nó ẩn náu trong lớp vỏ đạo
đức, văn hoá nào đó. Trong các giai đoạn đó, với việc nắm giữ quyền lực và mục
đích cá nhân, đôi khi những hành vi tham nhũng cũng được coi là một hiện tượng
đạo đức tự nhiên, là văn hóa của một bộ phận quan chức trong xã hội. Ở đó, tham
nhũng đồng nhất với bóc lột và trở thành tiêu chí đạo đức, văn hoá của các tập
đoàn và cá nhân nắm quyền lực. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở sở hữu
công cộng về tư liệu sản xuất làm nảy sinh nền đạo đức cộng sản và văn hóa mới
xã hội chủ nghĩa thì hành vi tham nhũng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng
viên lại trở nên xa lạ, trái ngược với đạo đức cách mạng và nền văn hóa mới và
nhất thiết phải bị loại bỏ.
Như vậy, xét
về bản chất, nguồn gốc sâu xa của tham nhũng là từ cơ sở kinh tế, tức là chế độ
chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất
không phải là nguồn gốc sinh ra tham nhũng.
2.
Giải pháp ngăn chặn hiện tượng tham nhũng ở nước ta
Ở nước ta,
hành vi tham nhũng còn điều kiện để tồn tại, khi chúng ta đang ở thời kỳ quá độ
xây dựng chủ nghĩa xã hội, chế độ công hữu chưa được xác lập hoàn toàn và triệt
để. Trong xã hội, tồn tại quyền lực nhà nước ở nhiều mức độ khác nhau; cơ chế,
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang hoàn thiện, môi
trường kinh tế - xã hội chưa minh bạch; hệ thống luật pháp về phòng chống tham
nhũng chưa có những điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn, cơ chế giám sát, kiểm
soát còn có hạn chế cùng với sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối
sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Điều đó có nghĩa rằng, các cơ
sở nảy sinh và tồn tại của tham nhũng ở nước ta hiện nay vẫn còn và sự tồn tại
của tham nhũng là điều khó tránh khỏi.
Chúng ta thừa
nhận cơ sở khách quan về kinh tế, pháp luật, đạo đức xuất hiện hành vi tham
nhũng vẫn tồn tại. Do đó, việc làm cần thiết nhất hiện nay, là song song với
việc hoàn thiện thể chế kinh tế, hoàn thiện luật pháp và xây dựng các tiêu
chuẩn đạo đức thì cần đấu tranh ngăn chặn hành vi tham nhũng bằng các biện pháp
cứng rắn của hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay các thế lực thù địch lợi
dụng việc Đảng và Nhà nước đang quyết liệt đấu tranh loại bỏ các cán bộ, đảng
viên thoái hóa, biến chất, tham ô, tham nhũng để tuyên truyền, kích động, bôi
nhọ danh dự của cán bộ, của Đảng, làm giảm lòng tin về sự lãnh đạo của Đảng.
Hiện có hai luồng ý kiến của các thế lực phản động về đấu tranh phòng, chống
tham nhũng của Đảng. Luồng ý kiến thứ nhất: bôi nhọ, kích động, phủ nhận công
lao của Đảng về phòng, chống tham nhũng. Ý kiến này cho rằng, tham nhũng xuất
hiện từ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, từ cơ chế độc đảng lãnh đạo, từ
năng lực quản lý yếu kém của đội ngũ lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Đấu tranh chống
tham nhũng là sự thanh trừng lẫn nhau của các thế lực không cùng phe cánh trong
nội bộ Đảng. Luồng ý kiến thứ hai: Hô hào, ủng hộ, quyết tâm cùng Đảng và Nhà
nước để diệt trừ quan tham, làm sạch bộ máy công quyền nhằm tung hỏa mù về công
tác phòng chống tham nhũng của Đảng. Mục đích của các thủ đoạn trên nhằm tạo
nên bức tranh đen tối của xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
gây hoài nghi, nghị kỵ, mâu thuẫn, chia rẽ, hoang mang trong nội bộ Đảng và
trong nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Vấn đề đặt ra đối với cả hệ
thống chính trị và toàn dân ta là quyết tâm đẩy lùi hiện tượng tham nhũng, tiêu
cực; đồng thời, chống lại các quan điểm xuyên tạc, phủ nhận thành tựu phòng,
chống tham nhũng của các thế lực thù địch, phản động.
Đấu tranh
phòng, ngừa hiện tượng tham nhũng ở nước ta hiện nay là việc làm tất yếu, đồng
thời là xu thế không thể đảo ngược, bởi tham nhũng là “giặc nội xâm”, gây thiệt
hại về kinh tế, làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; làm suy
yếu bộ máy của Đảng, Nhà nước, nhất là làm suy giảm lòng tin của quần chúng
nhân dân với Đảng và “là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và
chế độ”6. Đảng luôn xác định phòng, chống tham nhũng là “một cuộc
đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách
mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kẻ địch là tệ tham ô, lãng
phí, quan liêu”7, phải được tiến hành thường xuyên, kiên quyết, kiên
trì, bền bỉ. Quá trình đó, phải “xây dựng cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không
thể” tham nhũng, tiêu cực; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không
dám” tham nhũng, tiêu cực; xây dựng văn hóa liêm chính để “không muốn” tham
nhũng, tiêu cực; và một cơ chế bảo đảm để “không cần” tham nhũng”8,
tiêu cực. Truyền thống cha ông ta đặc biệt nhấn mạnh ở sự chọn đề cao liêm
chính, đề cao đạo đức con người để không muốn, “không thèm” tham nhũng. Một số
ý kiến cho rằng, chỉ có khi nào giàu mới không có tham nhũng hoặc không thèm
tham nhũng. Nhưng thực tế chứng minh rằng, con người không tự từ bỏ được lòng
tham thì giàu đến đâu, quyền cao chức trọng đến đâu vẫn tham nhũng. Nhận thức
và xác định nguồn gốc tham nhũng ở nước ta là cơ sở quan trọng để đánh giá và
đưa ra các giải pháp ngăn chặn vấn nạn tham nhũng có hiệu quả là việc làm vô
cùng cần thiết. Từ nhận diện nguồn gốc tham nhũng, quá trình đấu tranh ngăn
chặn tham nhũng cần chú ý vào các vấn đề:
Một là,
hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa làm cơ sở đẩy lùi hiện tượng tham nhũng. Việt Nam đang trong
bước quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội nên các hình thức sở hữu đan xem còn là
cơ sở khách quan cho sự tồn tại, len lỏi của tham nhũng. Nhiệm vụ đặt ra đối
với chúng ta trước mắt và lâu dài là tiếp tục hoàn thiện và phát triển đồng bộ
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là nền kinh tế thị
trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật
của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đảng ta xác định: “Nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành
phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể,
kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một
động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát
triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội”9. Với định hướng như vậy, chúng ta đang quyết tâm tạo ra cơ sở
kinh tế vững chắc để từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng.
Hai là,
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệ thống
pháp luật hiệu lực, hiệu quả trong ngăn chặn, đẩy lùi hiện tượng tham nhũng. Đi
đôi với việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
chúng ta phải tiến hành song song và đồng bộ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước,
chú trọng đến hệ thống luật pháp về phòng, chống tham nhũng để bảo đảm rằng
không ai có thể tham nhũng. Nhận thức rõ điều này, Đảng ta chủ trương: “Tiếp
tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để vận hành có hiệu quả
nền kinh tế... Tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám
sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan
công quyền”. Từ năm 2012 đến nay, “Trung ương đã ban hành hơn 250 văn bản về
xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trong đó có
nhiều chủ trương, quy định mạnh mẽ, quyết liệt, được cán bộ, đảng viên và nhân
dân đồng tình, đánh giá cao, triển khai thực hiện nghiêm túc, đi vào cuộc sống,
tạo chuyển biến rõ rệt”10. Kết quả của việc từng bước hoàn thiện hệ
thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng chính là kết quả ngăn chặn ngày càng
hiệu quả các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực ở các cấp, các ngành trong cả
nước.
Ba là,
thực sự coi trọng việc giáo dục đạo đức, văn hóa cách mạng. Thực tiễn nước ta
cho thấy, sự suy giảm về phẩm chất, đạo đức của cán bộ, đảng viên là con đường
dẫn đến tham nhũng, chúng luôn đồng hành cùng nhau và là hệ quả của nhau. Tham
nhũng là hành vi phản văn hóa, vô đạo đức. Văn hóa, đạo đức hướng tới xây dựng
xã hội nhân văn, nhân ái. Tham nhũng là hành vi có ý thức đi ngược lại với văn
hóa và đạo đức dân tộc. Việc lợi dụng quyền lực, uy tín của tổ chức, địa vị của
cá nhân để mưu lợi cá nhân là sự phản lại tinh thần dân tộc trong quá trình
phấn đấu cho mục tiêu vì một xã hội văn minh, phát triển và tiến bộ.
Trên thế
giới, trong đấu tranh ngăn chặn hành vi tham nhũng, hầu hết các quốc gia đều
coi trọng xây dựng, giáo dục về mặt đạo đức con người, coi đây là một trong
những biện pháp đầu tiên và được tiến hành thường xuyên. Một số nước ban hành
luật về đạo đức của công chức (Thụy Điển, Đức, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a,...).
Xin-ga-po xây dựng đạo đức công vụ hướng tới mục tiêu làm cho cán bộ “không nỡ”
tham nhũng. Ở nước ta, Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều quy tắc, chuẩn mực
đạo đức và văn hóa. Xây dựng, hoàn thiện Đề cương văn hóa Việt Nam, quy
tắc ứng xử đạo đức công vụ của cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, lên án, phê phán
các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng thông qua phương tiện truyền thông. Đảng ta
xác định: “Quan tâm xây dựng, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng
viên, đạo đức công vụ, chuẩn mực, giá trị con người Việt Nam phù hợp với truyền
thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên rèn luyện,
nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm của mình trước Đảng
và nhân dân”11. Đại hội XIII, Đảng ta rất nhiều lần nhắc đi nhắc lại
cụm từ “đạo đức” để khẳng định rằng, toàn Đảng luôn đặt vấn đề “đấu tranh
phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi có
hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những
biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là yêu cầu cấp bách hiện
nay12.
Kết luận
Từ nhận diện
nguồn gốc tham nhũng nhằm đưa ra các giải pháp phòng, chống hành vi tham nhũng
được tiến hành toàn diện cả trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức.
Một thể chế kinh tế hướng tới công bằng, bình đẳng, nhân văn sẽ tạo ra điều
kiện khách quan và khả năng ngăn ngừa, hạn chế tham nhũng. Một thể chế chính
trị với nhà nước trong sạch và hệ thống pháp luật đầy đủ, dân chủ, nghiêm minh,
có cơ chế quản lý kiểm soát chặt chẽ cùng với đội ngũ cán bộ, công chức được
giáo dục tốt về đạo đức, văn hoá và sự quyết tâm, đồng hành của hệ thống chính
trị và toàn bộ nhân dân sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp, hạn chế và đẩy lùi tham
nhũng. Với những giải pháp đó, cùng với sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân,
công cuộc đấu tranh ngăn ngừa và đẩy lùi hành vi tham nhũng ở nước ta nhất định
sẽ thành công./.
Chú thích
và tài liệu tham khảo
1.
Luật phòng
chống tham nhũng (2018), Điều 3, mục “Giải thích từ ngữ”, Luật số 36/ 2018
/QH14 ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2018.
2.
Hồ Chí
Minh Toàn tập (2011), NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 7,
tr.355.
3. Đảng Cộng Sản
Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB. Chính
trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr.25.
4. Nguyễn Phú
Trọng (2023), Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhung, tích
cực, góp phần xây dụng Đảng và nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh,
NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.29-30.
5.
Nguyễn Phú
Trọng (2023), tlđd, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.26.
6.
Đảng Cộng Sản
Việt Nam (2021), tlđd, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr.93.
7.
Nguyễn Phú
Trọng (2023), tlđd, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.7.
8.
Nguyễn Phú
Trọng (2023): tlđd, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.37.
9.
Đảng Cộng Sản
Việt Nam (2021), tlđd, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr.128.
10.
Nguyễn Phú
Trọng (2023), tlđd, NXB. Chính trị Quốc gia- Sự thật, Hà Nội, tr.30.
11. Nguyễn Phú
Trọng (2023), tlđd, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.34.
12. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2021), tlđd, NXB. Chính
trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr.41.