Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng nhiều
ngoại ngữ, nhưng tiếng Hán là ngoại ngữ duy nhất Người dùng để làm thơ. Khảo
sát ngôn ngữ Hán trong thơ của Người chắc chắn sẽ rút tra được những bài học bổ
ích.
Đối tượng khảo sát của chúng tôi là
toàn bộ 144 bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh đã được công bố:
- 127 bài trong Nhật ký
trong tù(1)
- 16 bài thơ chữ Hán trong Thơ
Hồ Chí Minh(2)
- Bài, Vấn thoại vốn
trong Ngục trung nhật ký, đã giới thiệu trên báo Nhân
dân(3).
Câu hỏi đầu tiên thường đến với
người nghiên cứu một cách rất tự nhiên là tại sao nhà thơ - lãnh tụ của chúng
ta lại chọn Hán ngữ làm phương tiện biểu đạt trong trường hợp này.
Bìa tập thơ "Ngục trung nhật ký". Ảnh: Internet
Theo suy nghĩ của chúng tôi, câu trả
lời cho vấn đề đặt ra trên đây có thể tìm thấy từ hai phía.
Một mặt, tiếng Hán ở Việt Nam là một
ngoại ngữ đặc biệt. Đó là ngoại ngữ duy nhất mà người Việt Nam đã cấp cho hẳn
một hệ thống ngữ âm riêng hoàn chỉnh hình thành trong lịch sử. Những đặc điểm
loại hình học chung cho hai ngôn ngữ Việt, Hán (có thanh điệu, âm tiết tính…)
giúp cho các thể loại thơ Trung Quốc, trước hết là thơ cổ phong và thơ Đường
luật dễ dàng được người Việt Nam tiếp nhận và mau chóng trở thành những bộ phận
của thi pháp Việt Nam. Thơ cổ phong và Đường luật dù viết bằng chữ Hán, nếu
được đọc theo âm Hán - Việt thì xét riêng về âm vận, không có gì xa lạ với
truyền thống cảm thụ nghệ thuật của người Việt Nam. Hơn thế, trong nhiều thế
kỷ, dân tộc Việt Nam đã sử dụng Hán tự như thứ chữ viết chính thức để sáng tạo
nên nền văn học viết của mình với bao thành tựu rực rỡ từ Thơ đuổi giặc (Thoái
lỗ thị) của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Cáo
bình ngô của Nguyễn Trãi, từ rất nhiều thơ phú của Trần Quang Khải,
Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Nguyễn Phi
Khanh, Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì
Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Cao Bá Quát, Phan Đình Phùng,
Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Xuân Ôn cho đến Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền…
Các tác phẩm ưu tú của nhiều thế hệ Việt Nam tuy viết bằng chữ Hán nhưng nội
dung mang tính dân tộc sâu sắc chắc chắn đã thấm sâu vào tâm hồn Người, bên
cạnh các kiệt tác Đường Tống đã trở thành vốn quý trong kho tàng thơ ca cổ điển
của nhân loại.
Mặt khác, ở thế hệ của Người, trong
truyền thống gia đình của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã học làm thơ bằng chữ
Hán từ rất sớm, nên những khi xúc cảnh sinh tình thốt lên lời thơ bằng chữ Hán
là một điều dễ hiểu. Đặc biệt, là ngôn phong của Đường thi vốn hàm súc, nhiều
tính ước lệ, gợi nhiều hơn tả, sở trường ở “ý tại ngôn ngoại”, nói chung rất
hợp với nhu cầu giải bày tình cảm bằng một lượng chất liệu cực kỳ tiết kiệm.
Tất nhiên, ngôn ngữ thơ chữ Hán Hồ Chí Minh vẫn có những đặc điểm riêng, khác
với thơ Đường mà chúng tôi sẽ cố gắng phân tích ở dưới.
Ấn tượng mạnh đối với người đọc thơ
chữ Hán Hồ Chí Minh là tác giả đã sử dụng một cách tinh xác và thoải mái cả hai
hệ thống của chữ Hán: văn ngôn (văn ngôn văn) và bạch
thoại (bạch thoại văn)(*)
Trên đại thể phần lớn các bài thơ
trữ tình không hướng tới một đối tượng cụ thể thì Chủ tịch Hồ Chí Minh viết
bằng văn ngôn, còn những bài có tính chất thù tiếp xã giao trong thời gian đi
thăm Trung Quốc, nói trực tiếp với nhân dân Trung Quốc thì Người dùng bạch
thoại.
Đương nhiên, sự phân chia ấy cũng
chỉ có tính chất tương đối.
Trong Ngục trung nhật ký và
cả trong tập Thơ Hồ Chí Minh đều có rất nhiều bài viết theo
lối văn ngôn chặt chẽ. Từ ngữ, cú pháp và cả thi pháp đều rất điển hình theo
lối thơ Đường cổ điển.
Trong Ngục trung nhật ký, đó
là các bài Khai quyển với các câu:
Liêu
tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật,
Thả ngân thả đãi tự do thì.
Thế lộ nan:
Vô
nại phong ba bình địa khởi,
Tống dư nhập ngục tác giai tân.
Trung thu (nhị)
Tâm
tùy thu nguyệt cộng du du.
Dạ túc Long Tuyền
Cách
lân hân thính hiểu canh đề
Điền đông
Tân
như quế dã, mễ như châu…
Và rất nhiều bài khác: Nạn
hữu xuy địch, Vọng nguyệt, Hoàng hôn, Tẩu lộ, M, Tảo giải, Dạ lãnh, Bán lộ đáp
thuyền phó Ung, Thuỵ bát trước, Ức hữu, Lại sang, Chiết tự, Tảo tình, Thanh
minh, Thu dạ, Tình thên, Khán (Thiên gia thi) hữu cảm, Tân xuất ngục học đăng
sơn…
Đó cũng là hầu hết các bài trong tập Thơ
Hồ Chí Minh. Ngôn ngữ các bài ấy mang đậm chất ngôn ngữ thơ Đường.
Ngược lại cú pháp bạch thoại rất rõ
nét trong các kết cấu sau:
Hữu
nhân tống phạn ngật đắc bão.
Một nhân tống phạm hám da nương.
(Tù lương)
Dân
gian đổ bác bị quan lại.
(Đổ)
Tai
ương bả ngã lai đoàn luyện
(Tự miễn)
Can
tịnh tù lung hảo vệ sinh
(Long An Lưu sở trường).
Giả
như nhĩ tưởng hảo hảo thụy
Nhĩ yếu đa hoa kỉ khối tiền
(Lữ quán)
Sử
nhân đỗ tử chiến căng căng
(Nam Ninh ngục)
Vẫn
giai giải phược cấp tha thụy
(Mạc ban trướng)
Khả
tích tha bào bán lí tử,
Hựu bị cảnh binh tróc hồi lai.
(Tha tưởng đào)
Đặc điểm chung của các kết cấu này
là tính chất khẩu ngữ. Đi vào câu thơ Đường luật, chúng có lúc vượt ra ngoài
niêm luật bằng trắc. Một số người nghiên cứu khi phiên âm các bài thơ này đã
điều chỉnh thanh điệu của âm chữ (môn>mão; bão>bào v.v…) nhằm gò chúng
vào cái khuôn niêm luật. Thiết tưởng làm như vậy là không thỏa đáng. Đúng ra,
những bài thơ như vậy, nhất là những câu đã dẫn, phải đọc bằng âm bạch thoại mới
diễn đạt hết dụng ý của tác giả.
Điều đáng nói hơn, chính là ở những
bài mà tác giả đã sử dụng tài tình cả hai hệ thống văn ngôn và bạch thoại kết
hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn, hài hòa.
Một vài thí dụ:
Khuyến
quân thả ngật nhát cá bão
Bĩ cực chi thời tất thái lai
(Tảo,2)
Khẩu
bát năng thuyết đích,
Chỉ lại nhãn truyền ngôn.
(Nạn hữu chi thê thám giam)
Các liên từ nhân vị, sở dĩ,
hạch nhi trong bài Tứ cá nguyệt liễu cũng thuộc loại
đó.
Ở đây, xin dừng lại chốc lát trên
bài Chính trị bộ cấm bế thất để làm rõ đặc điểm này. Bài tứ
tuyệt ấy như sau:
Nhị
xích khoát hề tam xích trường,
Tứ nhân trú thử nhật bàng hoàng.
Yếu thân thân cước, dã bất khả,
Nhân vị nhân đa, thiểu địa phương.
Màu sắc văn ngôn nổi lên rất rõ ở
hai câu đầu, với cú pháp nhắc đôi câu chen trợ từ ngữ khí “hề” đặc trưng của Sở
từ, với trạng ngữ đơn viết Nhật đặt trước động từ
song tiết bàng hoàng là một điệp vận.
Ngược lại ở hai câu sau, kiểu lặp
lại động từ đơn tiết trước bổ ngữ trực tiếp thân thân cước, cách
dùng phó từ dã (cũng), liên từ nhân vị và
nhất là kết cấu thiểu địa phương đều đặc trưng cho cú pháp
bạch thoại.
Sự đối lập về ngôn phong giữa hai
câu đầu và hai câu sau làm bật lên cái ý vị mỉa mai châm biếm, miêu tả một cách
tài tình cái phòng giam của Cục chính trị.
Xin lưu ý rằng các bản dịch đã có từ
trước đến nay chưa chú ý đến đặc điểm ngôn phong này. Riêng bài trên, xin đề
nghị một lời dịch như sau:
Ba
thước dài chừ hai thước rộng,
Quanh quẩn bốn người sống ở trong.
Muốn duỗi cái chân, không duỗi được,
Bởi chưng đất chật, lại người đông.
Trái với tình hình trên đây, bài Công
lí bi (Một cây số) cả bài được viết bằng hệ thống văn ngôn chặt chẽ,
toát lên ý vị trang trọng ngợi ca. Bởi thế, trong cặp câu cuối bài:
Nhĩ
công dã bất tiểu
Nhân nhân bất nhĩ vương (vong)
Cần lưu ý kết cấu cú pháp đại từ
nhân xưng nhĩ làm tân ngữ của động từ vong trong
câu phủ định (có phó từ bát) nên đặt trước động từ ấy. Đó là một kết cấu cú
pháp điển hình cho tiếng Hán thời thượng cổ(4).
Trong tương quan ấy, chúng tôi cho
rằng dã không nên hiểu là phó từ và dịch là “công anh cũng
không nhỏ” mà nên coi là trợ từ ngữ khi ngắt sau chủ ngữ của câu.
Cũng như vậy, cú pháp đặc trưng văn
ngôn trong bài Các báo: Hoan nghênh Ủy ki đại hội tô đậm sắc
thái mỉa mai của cả bài, nhất là trong 4 câu cuối:
Đồng
thị đại biểu dã,
Đãi ngộ hồ huyền thù ?
Nhân tình phân lãnh nhiệt,
Tự cổ thủy đông lưu.
Xét riêng trên bình diện sử dụng
ngôn ngữ, việc kết hợp nhuần nhuyễn cả hai hệ thống văn ngôn và bạch thoại như
vậy là một đặc điểm quan trọng khiến Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh chẳng
những là sự tiếp nối cái mạch thơ chữ Hán của các thế hệ thi nhân Việt Nam
trước kia mà còn đem đến cho thơ chữ Hán Việt Nam một chất lượng mới, phản ánh
sự giao lưu và tiếp xúc ngôn ngữ Trung Quốc - Việt Nam trong thời hiện đại.
Đặc điểm thứ hai dễ nhận thấy là
tính bình dị của ngôn ngữ. Thơ hay bao giờ cũng bình dị.
Bình dị trong cách dùng từ. Theo
thống kê của chúng tôi, nhà thơ Hồ Chí Minh đã dùng vẻn vẹn 1330 chữ Hán trong
tổng số ngót 5 vạn chữ Hán hiện có. Trừ một số rất ít chữ là tên riêng như Ung
(Nam Ninh), Dụ (Thượng Hải)… hầu hết đều nằm trong bảng chữ Hán tối thiểu,
thuộc số những chữ có tần số sử dụng cao nhất.
Bình dị cả trong cách đặt câu. Hầu
như không có một câu nào rắc rối khó hiểu về mặt cú pháp.
Song song với tính bình dị là tính chính
xác cao độ, đạt tới mức tinh xác.
Xin nêu một vài thí dụ.
“Quân cơ”, “quân sự” và “quân vụ”
trong các câu:
Quân
cơ quốc kế thương đàm liễu,
(Đối nguyệt: Vô đề)
Yêu
ba thâm xứ đàm quân sự
(Nguyên tiêu)
Quân
vụ nhưng mang vị tố thi
(Báo tiệp)
Các bài dịch đều chuyển sang tiếng
Việt là “việc quân” (cũng khó dịch hơn được) nhưng những ai biết tiếng Hán đều
hiểu được sự khác nhau giữa 3 từ trong nguyên tác:
Quân cơ chỉ việc cơ mật trong quân, quân vụ chỉ
sự vụ của quân đội, còn quân sự là từ chung nhất chỉ mọi hoạt
động của lực lượng vũ trang.
Cũng như vậy, các ngòi bút phiên
dịch đều cảm thấy lúng túng trước các từ chính nhân và hành
nhân xuất hiện cạnh nhau trong chùm thơ Tảo giải:
Chính
nhân di tại chính đồ thượng
(bài I)
và
Hành
nhân thi hứng hốt gia nồng
(bài II)
Đó cũng là trường hợp của Vĩnh
và trường trong:
Liêu
tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật
(Khai quyền)
và
Tố
sự thung dung nhật nguyệt trường
(Thất cửu)
Càng ngẫm nghĩ càng thấm thía cái
tinh tế tài tình của tác giả trong một chữ dùng, như chữ ma chẳng
hạn, ở câu:
Yếu
đáo ngục trung căn trước ma
(Tân Dương ngục trung bài)
Ma chứ không phải mẫu hoặc nương vì
đây là lời của một em bé “vừa nửa tuổi”.
Các cụm từ thướng sơn và đăng
sơn đều dịch là “lên núi”. Nhưng trong sự tinh tế của từ vựng tiếng
Hán thì đăng khác thướng ở chỗ đăng có
hàm nghĩa “đi bộ lên”, còn thướng thì không quan tâm đến
phương hướng (dĩ nhiên còn có sự đối lập bằng trắc trong thanh điệu).
Những thí dụ như vậy nhiều không kể
xiết. Truyền thống thi pháp Trung Hoa đã từng có giai thoại “thôi xao” nổi
tiếng, chính là trong ý nghĩa đó.
Thế đối lập ngữ nghĩa giữa ma
đăng (dịch âm tiếng Anh modern) và hiện đại hiện ra
chủ yếu là trên sắc thái biểu cảm.
Tự
cung trong câu:
Tự cung thanh đạm tinh thần sảng
(Thất cửu)
dịch là “sống cách thanh đạm” thì
cũng là tạm dịch vậy thôi, chứ đâu đã truyền đạt đến được hàm lượng ngữ nghĩa
rất xác định của nó.
Những từ như xuất cung trong
câu:
Xuất
cung đã bị nhân chế tài
(Hạn chế)
rõ ràng đã được cân nhắc kỹ để tránh
sự khiếm nhã mà bản dịch đã không tránh được (Đến buồn đi ta cũng
không cho)
Thiên lượng - trong câu:
Tất
cảnh tỉ đồ bộ phiêu lượng
(Tháp hỏa xa vãng Lai Tân)
cũng là một trường hợp khó tìm được
từ thay thế trong nguyên tác.
Chỉ xin thêm một thí dụ về các đại
từ nhân xưng. Đại từ nhân xưng (nói rộng ra là từ nhân xưng) vốn là một phạm
trù khá phức tạp trong các ngôn ngữ tiếng Hán, tiếng Việt, nhất là tiếng Hán
cổ.
Trong bài Trưng binh gia
quyến, tác giả đã phân biệt rất tế nhị từ tự xưng thiếp trong
quan hệ hô ứng với Lang quân ở hai câu đầu:
Lang
quân nhất khứ bất hồi đầu,
Sử thiếp khuê trung độc bão sầu;
với dư ở hai câu
cuối trong quan hệ với đương cục và với người đối thoại.
Đương
cục khả liên dư tịch mịch,
Thỉnh dư lai tạm trú lao tù.
Cũng như tiếng Việt, tiếng Hán là
ngôn ngữ thanh điệu. Âm vận học là một ngành rất phát triển của ngôn ngữ học
Trung Hoa. Thanh điệu được thi pháp Trung Hoa chú ý rất sớm. Với Đường luật,
quy tắc phối hợp thanh điệu trong các câu thơ đã được ngiên cứu tỉ mỉ và chặt
chẽ thành các mô hình bằng trắc nghiêm ngặt và các yếu quyết “nhất tam ngũ bát
luận nhị tứ lục phân minh” v.v.
Nhưng, cũng như các thi nhân chân
chính khác, nhà thơ Hồ Chí Minh không chịu để cho hình thức thể loại trói buộc
khi hình thức ấy tỏ ra bất lực trước những cảm xúc mạnh mẽ, những suy nghĩ sâu
sắc của mình.
Sự luân phiên bằng trắc vốn có tác
dụng làm cho âm thanh trở nên êm ái, dịu ngọt. Nhưng khi cần thiết phục vụ nội
dung. Người sẵn sàng hạ những câu toàn thanh trắc:
Lục
nguyệt nhị thập tứ
(Thướng sơn)
hay:
Ngũ
nguyệt thập cửu phỏng Khúc Phụ
(Phỏng Khúc Phụ)
Đường cong âm điệu của câu thơ như
vậy thật hiếm trong lịch sử thơ ca, gợi lên cho trí tưởng tượng của người đọc
những ấn tượng rất mạnh.
Ngược lại, Người cũng đã viết một
câu thơ 7 chữ toàn thanh bằng:
Ô
hô phu quân hề phu quân
(Dạ báo văn khốc phu)
nghe như một tiếng khóc than ai oán.
(Bản dịch năm 1983 của nhà xuất bản
Văn học:
Than
ôi, chàng ơi! Hỡi chàng ơi!
Chúng tôi đề nghị thay Hỡi bằng Hờ để
giữ nguyên âm điệu 7 chữ toàn bằng của nguyên tác).
Sự tinh xác cũng được thể hiện trên
cấp độ cú pháp.
Trong bài Vọng nguyệt chẳng
hạn, cặp câu:
Nhân
hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.
với cú pháp sóng đôi chung một động
từ khán làm vị ngữ, có sự hoán vị giữa “người” và “trăng”
trong vai trò chủ ngữ và tân ngữ, đã thể hiện tài tình mối giao hòa tình cảm
giữa một người tù vĩ đại, giàu cốt cách thi nhân với một thiên nhiên mĩ lệ đầy
thi vị một mối giao hòa kỳ diệu mà song sắt nhà tù không thể nào ngăn chặn nổi.
Lại lấy một cặp khác làm thí dụ, cặp
câu:
Thùy
yếu tẩy diện, vật phanh trà,
Thùy yếu phanh trà, vật tẩy diện.
(Phân thủy)
Cùng một cú pháp, với cùng ngần ấy
yếu tố từ vựng, chỉ có các cụm từ “rửa mặt” và “pha trà” đảo lên đảo xuống, gợi
lên một cảm giác luẩn quẩn bế tắc. Thêm vào đó vần trắc, dấu nặng của tiện và diện gieo
vào tâm trí người nghe một ấn tượng nặng nề đến khó chịu.
Trên câu là cấp độ bản (exte).
Nhà thơ của chúng ta dành vị trí ưu tiên tuyệt đối cho thể thất ngôn tứ tuyệt.
Trong tổng số 44 bài thất ngôn tứ tuyệt chiếm 134 (93%). Trong một bài tứ
tuyệt, người ta chỉ có 28 âm tiết để dựng lên một kiến trúc hoàn chỉnh hài hòa
gắn bó hình thức với nội dung. Với thơ tứ tuyệt người ta đạt tới đỉnh cao của
sự hàm súc, vốn là phẩm chất hàng đầu của ngôn ngữ thơ.
Sẽ là một thiếu sót lớn nếu không đề
cập ở đây bình diện văn tự, một bình diện độc đáo của tiếng Hán, nhất là tiếng
Hán trong thơ ca.
Không phải ngẫu nhiên mà ở Trung
Quốc, thư pháp (phép viết chữ) với tác dụng tôn thêm vẻ đẹp của văn tự biểu ý,
đã thực sự trở thành một bộ môn nghệ thuật.
Quả thật là trong khuôn khổ của Hán
ngữ, người ta có thể nói đến một dạng tu từ học văn tự (stylistique graphique)
đặc biệt phát triển ngoài các dạng tu từ học ngữ âm, tu từ học từ vựng, tu từ
học ngữ pháp như vẫn thường thấy ở mọi ngôn ngữ.
Do đặc điểm của chữ Hán, người ta
phát minh một lối thơ độc đáo, thơ chiết tự.
Đây là một trò chơi trí tuệ khá thú
vị.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã viết
một bài thơ chiết tự như sau:
Tù
nhân xuất khức hoặc vi quốc,
Hoạn quá đầu thời thủy kiến trung.
Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,
Lung khai trúc sản xuất chân long.
(Chiết tự)
Ý nghĩa của bài thơ gắn sát với hoàn
cảnh thực của tác giả lúc bấy giờ.
Người
tù ra khỏi ngục, có khi dựng nên đất nước,
Qua cơn hoạn nạn mới rõ lòng trung thành.
Người biết lo lắng thì ưu điểm lớn,
Nhà lao mở cái then tre, thì con rồng chân chính sẽ bay.
Nhưng cái thần tình của bài thơ lại
phải theo phép chiết tự mà cảm thụ:
Chữ tù bỏ chữ nhân ra,
thêm chữ hoặc vào, thành chữ quốc;
Chữ hoạn bớt phần
đầu đi thành chữ trung. Thêm chữ Nhân (đứng)
vào chữ ưu trong ưu sầu thành chữ ưu trong ưu
điểm;
Chữ lung bỏ trúc
đầu thành chữ long.
Trên đây có thể xem là mấy suy nghĩ
bước đầu của chúng tôi trong nỗ lực nghiên cứu toàn diện thơ chữ Hán của Chủ
tịch Hồ Chí Minh.
Phan Văn Các
Chú thích:
(1) Nhật ký trong tù, in
lần thứ ba, Viện Văn học dịch - chỉnh lý - bổ sung, Nxb Văn học, H. 1983.
(2) Hồ Chí Minh - Thơ, in
lần thứ ba, Nxb. Văn học, H. 1975.
(3) Báo “Nhân dân” 13-5-1978 công bố
7 bài thì 6 bài trong số đó sau này được in vào Nhật ký trong tù, bản
đã dẫn.
(*) Văn ngôn hay
“văn ngôn văn” là hệ thống ngôn ngữ sách vở trên cơ sở tiếng Hán cổ, thông dụng
ở Trung Hoa trước cuộc Vận động Ngũ tứ (1919). Thoạt đầu, khoảng trước đời Tần,
thư ngôn ngữ văn hóa này đương nhiên có mối quan hệ khắng khít với khẩu ngữ đương
thời. Song do nhiều nguyên nhân trong và ngoài ngôn ngữ, trong đó phải đặc biệt
kể đến chính sách độc quyền lũng đoạn văn hóa và tấm lý sùng cổ của giai cấp
thống trị Trung Hoa, văn ngôn tách dần khỏi khẩu ngữ. Được coi là hình thức
ngôn ngữ chính thống, “cao quý” trong một thời kỳ lịch sử kéo dài mấy ngàn năm, văn
ngôn trở nên khó hiểu, xa lạ với hoạt động nói năng phổ thông của toàn
dân. Người Trung Hoa, trừ những người được đào tạo chuyên, không dễ dàng gì
hiểu nổi các thư tịch, văn bản viết bằng thứ ngôn ngữ sách vở cổ kính ấy. Hầu
hết thư tịch Hán văn của ta cũng viết bằng văn ngôn mà đặc
trưng ngữ pháp đã được cha ông ta khái quát bằng bốn chữ “chi, hồ, giả, dã” là
những hư từ tiêu biểu.
Bạch thoại văn là hệ thống ngôn ngữ viết của tiếng Hán hiện đại. Nó
được hình thành trên cơ sở khẩu ngữ từ thời Đường Tống (thế kỷ VII-XIII) đến
nay, thoạt đầu chỉ thấy trong các tác phẩm văn học thông tục, đến sau phong
trào Ngũ tứ mới được ứng dụng phổ biến trong xã hội.
(4) Theo Vương Lực, Hán ngữ sử cảo, T.2,
Nxb. KHXH, H. 1958, tr.297-358.