Câu đối - một loại hình tư liệu Hán Nôm đặc thù cần được chú ý sưu tầm
Chúng ta đều biết tính chất và giá trị những câu đối, thường thấy hầu như khắp mọi chỗ trong thời đại cũ: công thự, đền đài, chùa miếu, từ đường, nhà tư. Với lối văn ngắn gọn, súc tích, chữ và âm đối xứng giữa hai vế, câu đối ở các di tích đình, đền, chùa, nhất là những đình thường có giá trị khá lớn: đó là những câu văn đầy hình ảnh, âm điệu về địa điểm (tên đất, tên khu vực), về phong cảnh thiên nhiên, quy mô xây dựng, về sự tích nguyên thuỷ của di tích, về vị thần được thờ, đồng thời nhắc nhở niềm tự hào của nhân dân địa phương, niềm tin ở cuộc sống tốt đẹp trong sự hòa thuận giữa các dòng họ, giữa khung cảnh thiên nhiên được ưu đãi, dưới sự phù trợ ân cần của những sức mạnh huyền bí thiêng liêng. Trước kia, câu đối thường được giữ lại bền lâu, nhất là khi được khắc trên gỗ hay tường vôi, có khi trên đá. Nhưng cũng có nhiều câu đối chỉ được viết trên vải, trên giấy, và với tác động của thời gian, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, những câu đối dù khắc trên gỗ, trên đá cũng dễ bị mai một.
Câu đối chùa Trấn Quốc. Ảnh: Internet
Tôi nhớ năm 1936 khi về thăm làng Dâu (tên Nôm là Cổ Châu) ở huyện Đông Anh, nhân hỏi về vị thần được thờ ở đình, mấy vị phụ lão cho biết làng thờ công chúa Vĩnh Huy, nữ tướng của Hai Bà Trưng. Có cụ còn nhớ và đọc câu đối:
Cử mục giang sơn vô Hán Tướng;
Thệ tâm thiên địa hữu Trưng vương.
(Mắt ngắm non sông, sá chi tướng Hán,
Lòng thề trời đất, chỉ có vua trưng).
Các cụ còn cho biết là: trong làng trước đây còn có nhiều nhà nho tham gia phong trào Việt Nam Quang phục hội vào những năm 1912-1923, thường đọc lại câu đối trên ở đình để nhắc nhở nhau, động viên lòng yêu nước.
Bên cạnh câu đối ở các đình, đền chùa, còn có các câu đối ở trên cổng làng, những cổng làng ngày càng trở nên hiếm thấy, vì bị phá huỷ gần hết, do sự mở rộng đường sá tại các thôn làng đổi mới. Nhiều câu đối có giá trị giúp cho người đọc nhận hiểu và yêu mến thêm thiên nhiên xinh đẹp và con người trung hậu, cần cù, đoàn kết trong cuộc sống thuần phác nơi thôn dã. Và đôi khi cả mấy chữ trên trán cổng cũng đáng ghi lại, có thể chỉ là hai chữ “Nghĩa Dân”, nhưng đối với dân địa phương là cả một niềm tự hào, vì đó là sự công nhận thành tích giữ làng chống giặc, và không phải làng nào cũng có thể trưng hai chữ đó lên cổng của mình.
Tại các nhà tư, những câu đối khắc trên tường vôi, trên nền gỗ, nền vải hay cả trên giấy, nhiều khi cung cấp những tư liệu quý giá và lý thú về quê hương, cảnh nhà, vườn, gia thế, tình cảm tông tộc và xóm làng, quan niệm sống và nếp sống cần cù, đôn hậu, coi như truyền thống tốt đẹp của dòng họ được gìn giữ qua bao nhiêu đời.
Một mảng nữa là những câu đối tết, đã dần dà trở thành hiếm hoi, còn sót lại mỗi độ gần “năm hết Tết đến” lại xuất hiện trên mấy vỉa hè phố ở trung tâm Thủ đô, những ông đồ đem bút lông, nghiên mực ghi trên những mảnh giấy hồng điều những lời chúc tụng đón mừng xuân mới. Có nhiều câu sáo, nhưng cũng có khá nhiều câu đáng ghi lại. Ngay dịp Tết vừa rồi, một người bạn cho biết có một câu đối được nhiều người tán thưởng và “cụ đồ” đã phải viết đi viết lại nhiều lần:
Vàng chứa ngàn rương, vàng cũng hết;
Chữ đẹp đôi câu, chữ vẫn còn.
Câu đối thất niêm, không gắn liền mùa xuân ngày Tết, nhưng lại được nhiều người thích, một phần do chữ viết đẹp, phần chính do ý trọng nghĩa khinh tài hàm chứa bên trong.
Chúng ta đều biết, trong kho tàng sách Hán Nôm có khá nhiều những tập “đối liên”, “tạp ký” ghi lại nhiều câu đối thuộc đủ loại. Nhưng thực tế vẫn còn những mảng trống đòi hỏi sự thu lượm. Gần đây, bác Trần Huy Bá, một bậc đàn anh trong giới Hán Nôm mà nhiều người chúng ta đều biết. Có tập hợp trong một tập nhan đề Đối liên thi tán tuyển tập nhiều câu đối, thơ văn ở các đình, đền, chùa, cùng mấy nhà thờ dòng họ lớn ở Hà Nội và lân cận. Đây là một công trình đáng thán phục của các bậc đàn anh năm nay 83 tuổi. Nói chung việc này đòi hỏi tính bền bỉ, và càng bảo đảm tính khoa học càng tốt. Nên ghi đủ cả niên hiệu và lạc khoản. Thực tế có nhiều câu đối rất hay, nhưng bị sứt mẻ (gỗ bị mọt, vôi vữa bị lở), và khi đắp vôi hay tô lại, bị thiếu nét hay nhầm lẫn, chữ nọ biến thành chữ kia. Việc sao chép đòi hỏi ở người làm một tinh thần phụ trách cao để ghi đúng, và muốn ghi đúng nhiều khi phải hiểu đúng, không ngại tốn công để làm tốt công việc.