"Tân Việt Nam", một bước phát triển của Phan Bội Châu về tư tưởng dân chủ
Đồng chí Võ Văn Sạch, cán bộ nghiên
cứu của Trung tâm lưu trữ Quốc gia (Cục Lưu trữ Nhà Nước) trong khi làm công
tác chỉnh lý tài liệu chữ Hán trước năm 1945, đã may mắn tìm thấy tác phẩm Tân
Việt Nam của Phan Bội Châu, và đã hoàn thành việc dịch thuật và chú
thích khoa học, tác phẩm đó sẽ xuất bản theo kế hoạch của cơ quan. Chúng tôi
nghĩ rằng việc công bố rộng rãi tác phẩm Tân Việt Nam sẽ góp
thêm tư liệu cần thiết cho việc nghiên cứu và tìm hiểu quá trình biến chuyển tư
tưởng chính trị của nhà yêu nước họ Phan hồi đầu thế kỷ XX, nên không ngần ngại
giới thiệu cùng độc giả.
Bìa tác phẩm "Tân Việt Nam", Cục lưu trữ Nhà nước, 1989
1. Tình hình văn bản
Đây là lần đầu tiên Tân Việt
Nam được giới thiệu một cách tương đối hoàn chỉnh, từ một bản chữ Hán(1).
Sách chép tay trên giấy dó khổ 29x16cm, dày 26 trang (tờ), mỗi trang có 16
dòng, mỗi dòng khoảng 21 chữ. Sách còn nguyên vẹn, rõ ràng, dễ đọc. Trang đầu
ghi tên sách: Tân Việt Nam. Trang cuối ghi: Thượng Hải, Hoành
Tân thư quán và tên tác giả: Sào Nam tử. Lòng sách có 3 bút tích khác
nhau: của người chép lại toàn bộ cuốn sách bằng mực đen; của người soát lại và
chấm câu, có thêm một số chữ viết mực đỏ; của người viết dòng chữ: “Thượng Hải
- Hoành Tân thư quán, Sào Nam tử tập” ở cuối sách. Về số chữ viết mực đỏ của
người soát lại và chấm câu, cụ thể như sau:
|
Trang
|
dòng
|
chữ từ trên xuống
|

|
|
9
|
1
|
13
|
Tái khủng thú Pháp nữ chi lực vô du
|
|
10
|
3
|
1
|
thủ
|
|
20
|
6
|
9
|
tân
|
|
31
|
1
|
13
|
xu
|
|
33
|
5
|
10
|
Nhật sửa
lại thành mục
|
|
36
|
1
|
1
|
mai
|
|
37
|
3
|
5
|
giả
|
|
45
|
4
|
17
|
thử
|
|
46
|
5
|
12
|
kim
|
|
47
|
5
|
2
|
Vi
|
|
55
|

|

|
Giá thư tuyên thúc chi cao các sĩ thiên hạ thái bình thiên
hậu dụng chi
|
Với tình hình văn bản như trên, có
thể ngờ rằng đây chưa phải là nguyên bản của Phan Bội Châu. Đã vậy, nghiên cứu
nội dung tài liệu thì thấy có một số điểm cho phép khẳng định đây chỉ là một
bản sao với một số sửa chữa nhỏ để phù hợp với tư tưởng của người sao:
- Người chép lại bản này đã kỵ húy
các chữ “thời” là tên vua Tự Đức nên viết thành chữ “thì”. Điều này không hề
bắt gặp lần nào trong các công trình khác của Phan Bội Châu(2).
- Về các triều đại phong kiến Trung
Quốc sang xâm lược Việt Nam, không thấy chép nhà Thanh, hay có chép rồi lại xóa
đi. Phan Bội Châu không hề kiêng kỵ như vậy trong các tác phẩm của Cụ.
- Danh từ Ấn Độ - Chi na (tr.7)
phiên âm chữ Pháp Indochina chỉ chung xứ Đông Dương, người
chấm câu lại chấm tách ra thành hai nước Ấn Độ và China (Trung Quốc). Phan Bội
Châu không thể lầm như vậy, trong các sách khác Cụ đã phiên âm đúng chữ đó.
- Trang cuối cùng có câu “Sách này
tạm gói cất trên gác cao, đợi khi thiên hạ thái bình mới đem ra dùng”, đối với
cụ Phan là người có ý thức viết sách để kịp thời tuyên truyền vận động cách
mạng thì tư tưởng đó thật sự xa lạ.
- Bản sao này không mang bút tích
Phan Bội Châu, nếu có thì rất dễ nhận đối với những ai đã từng tiếp cận một số
nguyên bản tác phẩm của Cụ. Vì các lẽ trên, chúng tôi cho rằng đây là hai bản
khác nhau: bản thứ nhất sao lại bằng mực đen và bản thứ hai cùng nội dung với
bản trên có thêm một số chữ của người chấm câu soát lại viết bằng mực đỏ. Hiện
nay, do chưa có một bản khác để so sánh kết luận, chúng tôi căn cứ vào bản 2 có
nội dung đầy đủ hơn, những chữ được thêm vào không hề làm thay đổi nội dung
chính của văn bản, để khẳng định bản đó có nhiều khả năng, gần hơn với nguyên tác
của Phan Bội Châu.
2. Niên đại nguyên bản và
bản sao.
Cho tới nay xung quanh Tân
Việt Nam vẫn có những ý kiến khác nhau về năm và nơi sách ra đời.
Trong Ngục trung thư(3) Phan Bội Châu có nói tới tác phẩm Tân
Việt Nam nhưng không cho biết viết vào thời kỳ nào? và viết ở đâu?
Nguyễn Huệ Chi cho rằng cụ Phan viết vào khoảng thời gian từ tháng 4 tới tháng
6 năm 1907 (Đinh Mùi) là lúc Cụ đang ở Trung Quốc(4). Chương Thâu cho là viết
vào năm 1907 ở Nhật Bản(5) và Trần Lê Sáng cũng ý kiến đó(6). Chúng tôi thấy cần
lưu ý tới các điểm sau:
- Trong Tạp chí Nghiên cứu
lịch sử số 78 (tháng 9-1965) khi chỉnh lý và giới thiệu Tân
Việt Nam đồng chí Chương Thâu có cho biết đó là bản dịch quốc ngữ từ
một bản Tân Việt Nam chữ Hán có 26 trang in, có ghi viết là Bính ngọ hiên và
sách được bán tại nhà Tân Hưng, thành Đông Kinh (Nhật Bản).
- Trong hồ sơ số 74 thuộc phòng tài
liệu Hà Đông (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 Hà Nội) có nói tới tác phẩm Tân
Việt Nam do Phan Bội Châu viết ở Yokohama(7) và bán tại nhà sách Tân
Hưng ở Tokyo (Shinkoto). Đồng thời hồ sơ đó cũng cho biết sách Tân
Việt Nam này cùng với một số tài liệu khác như Bài hát khuyên trẻ em chữ
Nôm của Phan Bội Châu, sách kinh và 2 cuốn sách của Đông Kinh nghĩa thục ấn
hành đã bị tịch thu tại nhà Nguyễn Sĩ Luận ngày 19-5-1913(8). Tiếc rằng toàn bộ
số tài liệu trên hiện nay vẫn chưa tìm thấy, chỉ có ghi tên trong hồ sơ mà
thôi.
Cuốn Sùng bái giai nhân phát
hiện trước đây trong Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 Hà Nội và đã được giới thiệu
rộng rãi(9) cũng được viết ở Bính Ngọ hiên, Hoành Tân (Nhật
Bản) vào năm 1906 rồi in và phát hành ở nhà sách Tân Hưng ở Đông Kinh (Tokyo -
Nhật Bản) vào giữa tháng 5 năm 1907.
Căn cứ vào tình hình trên, có thể
cho rằng Phan Bội Châu viết Tân Việt Nam ở Hoành Tân vào năm 1906, sau đó cho
in và phát hành vào năm 1907 ở Đông Kinh, nghĩa là viết và in vào cùng thời
gian và cùng nơi với Sùng bái giai nhân.
Thế còn niên đại bản sao chúng ta
hiện có trong tay thì như thế nào?
Bản sao Tân Việt Nam hiện có không
ghi rõ chép từ đâu, ở đâu, vào ngày nào,tháng nào. Nhưng trong văn bản có ghi: Thượng
Hải, Hoành Tân thư quán, Sào Nam tử tập (nơi in và bán sách ở Thượng
Hải, Hoành Tân, Phan Sào Nam soạn). Trong cuộc đời hoạt động của Phan Bội Châu,
không có thời kỳ nào Cụ sống lâu ở Thượng Hải, vì vậy Cụ không thể viết Tân
Việt Nam tại địa điểm đó. Còn Hoành Tân là nợi Cụ Phan từng sống một
thời kỳ dài vào năm 1906. Như vậy có nhiều khả năng Cụ Phan đã viết cuốn này ở
Hoành Tân vào năm 1906, và sách đó đã được in và đem bán ở cả hai nơi Hoành Tân
và Thượng Hải. Khi nhắc tới sách Tân Việt Nam Cụ Phan viết:
“Lúc tôi ở Quảng Đông ra đi (tức vào cuối năm 1906) gặp hai đồng chí tỉnh Quảng
Ngãi từ trong nước xuất dương, tôi thấy hai người có nhiệt tình, có dũng cảm có
thể làm được những việc trọng yếu… tôi mới đem những văn kiện đã làm ra như Việt
Nam vong quốc sử Tân Việt Nam… giao cho hai anh này đem về nước để
dùng làm tài liệu tuyên truyền vận động”(10).
Kết hợp với việc chúng ta đã biết
rằng Việt Nam vong quốc sử được viết năm 1905, rõ ràng Tân
Việt Nam phải được viết vào khoảng đầu năm 1906 để có thể đưa cho
người đem về nước vào cuối năm đó.
Nhưng ở một đoạn khác, Cụ Phan lại
viết: “Trong lúc này (tức 1907) tôi có chút thời giờ nhàn rỗi, viết quyển sách Tân
Việt Nam đại lược chia làm hai mục lớn, mục thứ nhất là Thập
đại khoái, mục thứ hai là Lục đại nguyện in thành
1000 bản”.
Căn cứ vào ý kiến trên của Phan Bội
Châu, chúng tôi cho rằng Cụ đã viết Tân Việt Nam vào khoảng
đầu năm 1906 và đã gửi người mang về nước một số bản chép tay vào cuối năm đó,
đến năm 1907 thì tiến hành tu chỉnh và cho in. Như vậy Tân Việt Nam đã được đưa
về nước thành hai đợt:
- Sách chép tay (với số lượng ít)
đem về nước từ cuối năm 1906.
- Sách in và phát hành ở Nhật Bản
vào năm 1907 trong đó có ghi: Soạn ở Hoành Tân và phát hành ở Tân Hưng đường
(Tokyo).
Bản sao chúng tôi hiện có trong tay
được sao lại từ nguồn thứ hai là bản in có niên đại 1907.
3. Nội dung tác phẩm:
Có thể khẳng định Tân Việt
Nam là một luận văn trong đó tác giả Phan Bội Châu trình bày mô hình
nước Việt Nam mới theo Cụ quan niệm. Đây là một nước Việt Nam trong đó mọi
ngành kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục, xã hội đều được đổi mới
theo hướng tư bản chủ nghĩa. Trên cơ sở công cuộc “duy tân” đó, dân sẽ giàu
nước sẽ mạnh, văn minh ngày càng phát triển, uy tín nước ta trên trường thế
giới ngày càng nâng cao. Muốn được vậy thì có sáu điều mong muốn lớn (Lục
đại nguyện) đối với mỗi người dân trong nước: có chí tiến thủ mạo
hiểm; có tinh thần thương mến, tin yêu lẫn nhau; có tư tưởng tiến bước lên nền
văn minh; có sự nghiệp thực hành yêu nước có sự nghiệp thực hành công đức; có
hy vọng về danh dự và lợi ích. Thực hiện đầy đủ sáu điều mong muốn lớn đó thì
sẽ đạt tới mười điều sung sướng lớn (Thập đại khoái): không có
cường quốc nào bảo hộ; không có bọn quan lại hại dân; không có người dân nào mà
không được thỏa nguyện; không có người lính nào mà không được vinh hiển; không
có loại thuế má nào mà không công bằng, không có hình pháp nào mà không thỏa
đáng; không có nền giáo dục nào mà không hoàn thiện; không có nguồn địa lợi nào
mà không được khai thác; không có ngành công nghệ nào mà không phát đạt; không
có ngành thương nghiệp nào mà không được mở mang. Trong khi tập trung trình bày
nội dung trên, tác giả đã thể hiện khá sâu sắc nhiều tư tưởng tiến bộ. Trước hết
phải nói tới một lòng tin vững chắc vào tinh thần và khả năng của đồng bào,
đồng chí. Theo Cụ Phan, sở dĩ trước đó trong các tầng lớp nhân dân ta có phần
nào thiếu sót về suy nghĩ và hành động, chính vì thiếu một sự hiểu biết cần
thiết, vì chưa được giác ngộ về quyền lợi và nghĩa vụ. Một khi đã hiểu biết, đã
giác ngộ thì tất nhiên ai nấy đều sẽ tự nguyện vượt qua mọi cực khổ, chấp nhận
mọi gian lao, hy sinh mọi phí tổn để cùng nhau phấn đấu cho mục đích cao cả.
Tiếp đó tác giả đặc biệt nhấn mạnh
tới quyền làm chủ của người dân. Trên cơ sở, duy tân đất nước, dân trí sẽ mở
mang nhiều, dân khí sẽ lớn mạnh hơn, dân quyền sẽ phát triển nhanh, vận mệnh
nước nhà sẽ do toàn dân nắm giữ và quyết định trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa
quyền lợi và nghĩa vụ của người dân trong nước.
Đặc biệt tác giả đã dành nhiều trang
để nói về vai trò to lớn và quan trọng của người phụ nữ trong xã hội, trên mọi
lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục. Trách nhiệm của người
phụ nữ đối với xã hội vô cùng to lớn, vì vậy xã hội có nghĩa vụ phải chú ý tới
người phụ nữ, bảo đảm quyền bình đẳng hoàn toàn của họ với nam giới, sao cho
“phụ nữ trong cả nước không ai là không mong muốn làm một người mẹ anh hùng,
làm một người chị anh hùng, làm một người phụ nữ giàu lòng yêu nước”. Cũng
trong phần nói về quyền làm chủ của người dân, tác giả đã đề cập tới các quyền
tự do ngôn luận, hội họp, xuất bản, báo chí… đành rằng những điều kiện lịch sử
đầu thế kỷ XX chưa cho phép Cụ Phan có một nhận thức sâu sắc và đầy đủ. Nhưng
nếu ta nhớ rằng phải 13 năm sau các yêu sách của nhân dân Việt Nam mới được
người thanh niên yêu nước thuộc thế hệ mới là Nguyễn Ái Quốc trình bày một cách
hệ thống và toàn diện để đưa tới bàn hội nghị các nước đế quốc thắng trận vào
giữa tháng 6-1919 đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do dân chủ và
bình đẳng của dân tộc ta thì sẽ thấm thía biết bao về ý nghĩa tiến bộ và tính
chất tiên phong của tư tưởng và việc làm của Phan Bội Châu hồi đó. Đồng thời,
nếu ta nhớ rằng Tân Việt Nam được viết chưa đầy hai năm sau
khi Duy tân Hội với chủ trương quân chủ lập hiến ra đời (5
-1904) thì sẽ thấy rõ nhà yêu nước họ Phan đã chuyển biến nhanh chóng đến chừng
nào về tư tưởng chính trị trong thời gian ngắn ngủi đó để khi thời cơ tới, chủ
động thành lập Việt Nam quang phục hội với chủ trương cộng hòa
dân quốc (6-1912), đánh dấu một bước tiến mới của cách mạng Việt Nam trên con
đường dân tộc và dân chủ.
Giá trị của Tân Việt Nam về
mặt nội dung tư tưởng vì những lẽ đó, và đặt trong những điều kiện lịch sử cụ
thể của nước ta hồi đầu thế kỷ rõ ràng là to lớn, rất đáng trân trọng. Tư tưởng
đó cần được tiếp tục phát huy trong hoàn cảnh hiện nay có lợi cho việc nâng cao
quyền làm chủ của người dân vì lợi ích của cách mạng. Nội dung của Tân
Việt Nam có nhiều điểm tích cực, tiến bộ như vậy, đó là điều cần khẳng
định và cần được giới thiệu rộng rãi với bạn đọc. Nhưng sẽ vô cùng thiếu sót
nếu không đề cập tới mặt hạn chế trong nội dung tác phẩm. Rải rác qua các
trang, các đoạn, người đọc có thể bắt gặp một số tư tưởng không thích hợp, thậm
chí lệch lạc, như đề cao sức mạnh quân sự, nuôi ảo tưởng bành trướng thế lực ra
ngoài, nặng về chủ nghĩa chủng tộc v.v… Tất nhiên đối với một người vốn căm thù
sâu sắc mọi hình thức áp bức bóc lột, suốt đời kiên trì chống cường quyền và
bất công thì tuyệt nhiên đây không phải vì vật chất, vì lợi nhuận, mà chỉ vì
say sưa một thứ “vinh quang” giả tạo, đặt không đúng chỗ, cốt sao cho “dung mạo
nước ta lừng lẫy chói lọi ở hoàn cầu”.
Cuối cùng xin nói vài lời về hình
thức tác phẩm. Đọc Tân Việt Nam chúng ta vô cùng sung sướng
gặp lại giọng văn rất đặc sắc của Phan Bội Châu, rất dễ nhận, không thể lẫn lộn
với văn người khác. Đó là một giọng văn đằm thắm, thiết tha khi nói về đồng
bào, đồng chí, nhưng cũng hừng hực căm thù khi nói tới bè lũ thực dân cướp nước
và vua quan bán nước. Đó cũng là một giọng văn có sức cổ vũ, động viên mạnh mẽ,
khiến người đọc như bị cuốn hút theo để rồi chia sẻ mối đồng tình và sẵn sàng
hành động theo lời kêu gọi của người viết.
“Nếu người trong nước ta đều đồng
lòng thì việc dời đất trời xoay sông núi đều làm dư sức. Người nước ta há lẽ
nào lại tụt lùi mà không làm được hay sao? Gom chí khí của muôn người để xây
nên thành cao ngút trời, góp trí tuệ lớn rung chuyển cả núi cao thì biển nào mà
không lấn nổi. Tôi xin cúi đầu lạy, xin cúi đầu chào nước Việt Nam mới muôn
muôn năm ! Đồng bào nước Việt Nam mới muôn muôn năm!”.
Thiết tưởng có thể mượn mấy câu cuối
tác phẩm Tân Việt Nam, khẳng định lòng tin sắt đá, không gì
lay chuyển nổi của nhà yêu nước họ Phan vào tinh thần và khả năng của nhân dân
vào tiền đồ của dân tộc để kết thúc bài giới thiệu này vậy.
Đinh Xuân Lâm
CHÚ
THÍCH
(1) Trước đây, trên Tạp chí
Nghiên cứu lịch sử, số 78 (tháng 9-1965); khi giới thiệu Tân
Việt Nam, đồng chí Chương Thâu cho biết đã dựa vào một bản dịch quốc
ngữ mà không có bản chữ Hán. So với bản đó, bản chữ Hán mới sưu tầm được lần
này có nội dung đầy đủ hơn, câu văn cũng hoàn chỉnh hơn. Chúng tôi cho rằng bản
của Chương Thâu có khả năng là một bản viết tóm lược lại.
(2) Như cuốn Việt Nam vong
quốc sử, Việt Nam quốc sứ khảo...
(3) Phan Bội Châu: Ngục
Trung thư, Đào Trinh Nhất dịch, Tân Việt, Sài Gòn, 1959.
(4) Nguyễn Huệ Chi: Niên
biểu Phan Bội Châu, trong cuốn: Nhà yêu nước và nhà văn Phan Bội Châu,
Nxb. KHXH, H. 1970).
(5) Chương Thâu: Tác phẩm
Tân Việt Nam của Phan Bội Châu, Tạp chí NCLS, số 78 tháng 9 - 1965).
(6) Trần Lê Sáng - Thư mục
về Phan Bội Châu (trong cùng sách trên).
(7) Hoành Tân (Nhật Bản) Bính Ngọ
hiện được cụ Phan thành lập đầu tiên tại Hoành Tân, tới đầu năm 1907 Phan Bội
Châu dời về Đông Kinh, nhưng vẫn giữ tên cũ.
(8) Nguyễn Sĩ Luận người làng Đông
Phủ, tổng Nam Phù liệt, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (cũ), bố là Nguyễn Hữu
Dự, từng giữ chức Bố Chánh tỉnh Hà Nội.
(9) Phan Bội Châu: Sùng bái
giai nhân, Nxb. Nghệ Tĩnh, Vinh, 1983.
(10) Phan Bội Châu: Niên biểu, Phạm
Trọng Điểm và Tôn Quang Phiệt dịch, Nxb. Văn - Sử - Địa, H. 1957.