VI | EN
Giá trị truyền thống trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống thực thi quyền hành pháp ở Việt Nam hiện nay (kỳ 2)
Bài viết phân tích quá trình vận dụng và chuyển hóa các giá trị truyền thống trong quản trị quốc gia vào việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống thực thi quyền hành pháp ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở kết hợp tư liệu lịch sử, văn bia Hán Nôm, và các văn bản pháp luật hiện hành, bài viết làm rõ ba giá trị cốt lõi của truyền thống quản trị dân tộc gồm: tư tưởng “lấy dân làm gốc”, tinh thần trách nhiệm của người thực thi công quyền và nguyên tắc đề cao kỷ cương - phép nước. Qua đó cho thấy nhiều giá trị truyền thống vẫn tiếp tục được kế thừa và phát huy trong quá trình xây dựng nền hành chính phục vụ, nhà nước pháp quyền và chính phủ số ở Việt Nam hiện nay. Bài viết đồng thời đánh giá mức độ tương thích giữa truyền thống quản trị với yêu cầu quản lý nhà nước hiện đại trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó nhấn mạnh ý nghĩa của việc phát huy các giá trị truyền thống như một nền tảng văn hóa quản trị góp phần thúc đẩy cải cách hành chính và nâng cao hiệu quả thực thi quyền hành pháp.

2. Mức độ và cách thức vận dụng, chuyển hóa giá trị truyền thống trong hoàn thiện hệ thống hành pháp

Trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống hành pháp hiện nay, nhiều giá trị quản trị truyền thống đã được kế thừa, chuyển hóa mạnh mẽ vào tư duy và thiết chế quản lý nhà nước. Những giá trị này không chỉ là di sản tư tưởng lịch sử mà còn đóng vai trò nguyên tắc định hướng trực tiếp cho hoạt động của bộ máy hành chính hiện đại.

2.1. Vận dụng tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong hoàn thiện hệ thống hành pháp

Nguồn gốc tư tưởng trong truyền thống quản trị: Lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam luôn coi “lấy dân làm gốc” là nguyên tắc trị nước cốt lõi, xác định nhân dân là nền tảng quốc gia và việc chăm lo dân sinh là trách nhiệm tối thượng của người cầm quyền. Tư tưởng này được kết tinh trong các trước tác chính luận, chiếu dụ và hệ thống văn bia qua nhiều thời kỳ.

Thời trung đại, tư tưởng “dân vi bản” thể hiện rõ nét trong Bình Ngô đại cáo (1428) của Nguyễn Trãi qua khẳng định: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”[1]. “Yên dân” tại đây không chỉ là ổn định xã hội mà còn là trách nhiệm bảo vệ, chăm lo đời sống trăm họ. Nhiều chính sách thời Lê Thánh Tông cũng thể hiện tinh thần giảm nhẹ gánh nặng cho dân và ổn định đời sống xã hội, như sử thần đã ghi nhận trong Đại Việt sử ký toàn thư  khi ghi chép về các chính sách thời Hồng Đức, sử thần cũng nhiều lần đề cập đến chủ trương giảm nhẹ gánh nặng cho dân và bảo đảm ổn định đời sống xã hội, thể hiện rõ quan điểm quản lý quốc gia gắn với việc chăm lo cho nhân dân[2].

Bên cạnh đó, trong Quốc triều Hình luật, triều đình cũng quy định rõ rằng các quan lại nếu có hành vi ức hiếp hoặc sách nhiễu nhân dân sẽ bị xử phạt nghiêm khắc, qua đó thể hiện quan điểm quản lý xã hội gắn với việc bảo vệ đời sống của dân chúng.[3]

Tư tưởng coi trọng dân sinh còn phản ánh sinh động qua tư liệu văn bia. Nhiều văn bản ghi nhận việc xây dựng, tu sửa các công trình công cộng như chợ, cầu, quán, thể hiện trách nhiệm của chính quyền địa phương và cộng đồng. Chẳng hạn, văn bia Hậu thần bi ký (後神碑記, N09265- 9266), thác bản sưu tầm tại đình thôn Trung Đàm, xã Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, soạn năm Quang Trung thứ 5 (1792), ghi việc trùng tu các công trình phục vụ sinh hoạt cộng đồng như quán chợ và các kiến trúc công cộng: “由於壬子年三月日為有崇修造舘在埬𠄼市” (tháng Ba năm Nhâm Tý trùng tu quán ở chợ Đống Năm). Văn bia cũng nhắc lại việc trước đó vào năm Bính Thân (1716) bản xã đã trùng tu chợ: “至丙申年,本社重修會市”.

Văn bia ghi nhận trường hợp ông Mạc Thế Khuông (莫世匡) cùng vợ công đức dựng quán chợ, xây lầu chuông và tu sửa cầu đường để cầu để thuận tiện cho việc qua lại của dân chúng: 市中作三間之舘人免露;居寺前搆二層之樓,鍾聲遠奏;如欲通往来之客,少資作橋樑之修” (Giữa chợ xây quán ba gian, giúp người qua lại tránh khỏi nắng mưa; Trước chùa dựng lầu cao hai tầng, tiếng chuông vang vọng khắp phương xa; Nếu muốn thông đường cho khách qua lại, hãy góp chút tiền để tu sửa cầu cống). Những dữ liệu này minh chứng cho sự gắn kết giữa trách nhiệm cá nhân với lợi ích dân sinh tại địa phương..

Bên cạnh đó, văn bia còn ghi lại các biện pháp bảo vệ cộng đồng trong binh hỏa. Bia Hậu thần bi ký (1760) tại xã Nhũ Tỉnh (Tứ Kỳ) cho biết khi xảy ra chiến loạn các năm Canh Thân và Nhâm Tuất, bản xã đã chủ động đào hào đắp lũy bảo vệ dân làng: 庚申歷壬戌兵燹相因,本社臨時相机,不問土田出於誰某,随便鍳濠築壘保守方民 (Trải qua nạn lụt năm Canh Thân và nạn binh đao năm Nhâm Tuất niên tiếp xảy ra, bản xã đã tùy thời ứng biến, không câu nệ đất đai thuộc về ai, cứ thuận tiện là đào hào đắp lũy để bảo vệ dân chúng trong vùng). Khi tình hình ổn định, cộng đồng lại tính việc sửa chữa thành hào và hoàn trả tiền đất cho dân theo ruộng tốt xấu khác nhau.

Những ghi chép thực tiễn ở cấp làng xã đã cụ thể hóa tư tưởng chính trị “lấy dân làm gốc”. Trong Bạch Vân am thi tập, Nguyễn Bỉnh Khiêm một lần nữa khẳng định nguyên tắc đạo lý này: “古來國以民為本 (Cổ lai quốc dĩ dân vi bản- Từ xưa quốc gia luôn lấy nhân dân làm nền tảng)[4]. Điều này củng cố quan điểm: sự hưng vong của quốc gia luôn gắn liền với thực trạng đời sống và lòng dân.

Ý nghĩa tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong quản trị truyền thống: Trong truyền thống quản trị Việt Nam, tư tưởng “lấy dân làm gốc” không chỉ là chuẩn mực đạo lý mà còn định hướng trực tiếp cho hoạt động của bộ máy nhà nước. Quan niệm này đặt nhân dân vào trung tâm đời sống chính trị, xác định trách nhiệm quản lý xã hội của nhà nước phải vì lợi ích chung. Trong xã hội truyền thống, triết lý này được cụ thể hóa qua yêu cầu đối với đội ngũ quan lại trong việc chăm lo dân sinh và bảo đảm trật tự cộng đồng. Do đó, các nguyên tắc “an dân”, “yên dân” luôn được nhấn mạnh như nhiệm vụ cốt lõi trong mọi văn bản chính trị và hành chính thời trung đại.

Chuyển hóa của tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong quản trị hiện đại: Quan niệm này đặt nhân dân vào trung tâm đời sống chính trị, xác định trách nhiệm quản lý xã hội của nhà nước phải vì lợi ích chung.

Trong xã hội truyền thống, triết lý này được cụ thể hóa qua yêu cầu đối với đội ngũ quan lại trong việc chăm lo dân sinh và bảo đảm trật tự cộng đồng. Do đó, các nguyên tắc “an dân”, “yên dân” luôn được nhấn mạnh như nhiệm vụ cốt lõi trong mọi văn bản chính trị và hành chính thời trung đại.

Song song với cải cách hành chính, việc xây dựng Chính phủ điện tử và Chính phủ số tạo tiền đề thực hiện nguyên tắc quản trị hướng tới người dân. Hệ thống dịch vụ công trực tuyến cùng các cổng thông tin và nền tảng dữ liệu số quốc gia không chỉ giúp tiếp cận dịch vụ thuận tiện, giảm khâu trung gian mà còn minh bạch hóa hoạt động của cơ quan hành pháp. Những biện pháp này đánh dấu sự chuyển dịch từ mô hình mệnh lệnh hành chính sang nền hành chính phục vụ, đặt nhu cầu và lợi ích của người dân vào vị trí trung tâm.

Như vậy, tư tưởng “lấy dân làm gốc” hiện nay không chỉ là giá trị đạo lý truyền thống mà đã chuyển hóa thành nguyên tắc tổ chức, vận hành cốt lõi của nền hành chính nhà nước. Thông qua cải cách hành chính và chuyển đổi số, tư tưởng này tiếp tục định hướng quá trình hoàn thiện hệ thống thực thi quyền hành pháp tại Việt Nam.

2.2. Trách nhiệm trị nước và sự chuyển hóa trong đạo đức công vụ

Nguồn gốc tư tưởng trong quản trị truyền thống:  Trong truyền thống chính trị Việt Nam, trách nhiệm của người cầm quyền là chuẩn mực đạo lý cốt yếu. Sử liệu và các văn bản thể chế hành chính đều xác định quan lại phải tận tâm với dân sinh, giữ gìn liêm chính và chịu trách nhiệm trực tiếp về địa bàn quản lý.

Đại Nam thực lục ghi nhận triều đình thường xuyên ban dụ nhấn mạnh trách nhiệm này. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), khi cải cách hành chính cấp tỉnh, nhà vua chỉ dụ: “Quan lại địa phương phải xét rõ tình hình dân gian, nếu có nơi mất mùa đói kém thì phải kịp thời tâu báo để triều đình liệu cách cứu giúp”[5], điều này khẳng định chăm lo đời sống dân chúng là thiên chức căn bản của người làm quan.

Để ràng buộc trách nhiệm, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ đã thiết lập hệ thống cơ chế kiểm tra, khảo hạch và chế tài nghiêm khắc: “Phàm quan lại làm việc không đúng chức phận, để việc công sai lầm, đều tùy theo mức độ nặng nhẹ mà xét tội”[6]. Các quy định này minh chứng cho nỗ lực của nhà nước phong kiến trong việc duy trì kỷ cương và xác lập trách nhiệm hành chính của đội ngũ quan lại.

Tinh thần này còn được khắc ghi trên văn bia qua việc tôn vinh những người đứng đầu địa phương tận hiến cho cộng đồng. Bia Hậu Thành hoàng bi ký/Lập từ cung sự ký (1675) tại Thượng Xá (Hải Dương) ca ngợi Triều Dương hầu Hà Đương Vinh đã dùng tài sản riêng phục vụ công ích: “以築道路,賑貧人又發長腰之物,以修梁橋,造隩舘”[7] (dùng tiền của để đắp đường, cứu giúp người nghèo, lại xuất của cải để sửa cầu, dựng quán). Những ghi chép thực tiễn này phản ánh sâu sắc quan niệm truyền thống về trách nhiệm xã hội và đạo đức của người nắm giữ quyền lực.

Lịch sử quản trị Việt Nam ghi nhận nhiều triều đại đã chủ động giảm thuế, phu dịch và hạn chế lao dịch nhằm khoan thư sức dân, tạo sự ổn định bền vững. Bia Đại Việt Lam Sơn Kính lăng bi (1505) ghi lại chính sách của nhà vua khi mới lên ngôi: “Thả một số tù nhân, giảm phu dịch, bớt cống nạp và tạm dừng những công việc chưa cấp thiết”[8]. Việc điều chỉnh chính sự theo hướng giảm bớt gánh nặng dân sinh này minh chứng cho quan niệm quản trị thực tiễn: lấy sự ấm no của nhân dân làm nền tảng cho sự hưng thịnh và trường tồn của quốc gia.

Vận dụng và chuyển hóa trong quản trị hành chính hiện đại: Trong hoàn thiện hệ thống hành pháp hiện nay, tinh thần trách nhiệm truyền thống được vận dụng làm định hướng cốt lõi. Cải cách hành chính nhấn mạnh việc nâng cao trách nhiệm đội ngũ công chức, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu, nhằm tối ưu hóa hiệu quả quản lý và hình thành phong cách lãnh đạo gắn với trách nhiệm cá nhân.

Tinh thần này còn là cơ sở tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính. Qua hệ thống kiểm tra, giám sát và đánh giá, nhà nước xác lập môi trường công vụ nơi mỗi cá nhân phải chịu trách nhiệm trực tiếp về nhiệm vụ được giao. Việc xử lý nghiêm các sai phạm, thiếu trách nhiệm hay lạm dụng chức quyền minh chứng cho yêu cầu khắt khe về trách nhiệm công vụ trong quản lý nhà nước hiện đại.

Trên nền tảng đó, trách nhiệm truyền thống đã chuyển hóa thành các chuẩn mực pháp lý và đạo đức công vụ. Hệ thống luật về phòng, chống tham nhũng, cơ chế trách nhiệm giải trình và quy tắc ứng xử đã thiết lập hàng rào kiểm soát quyền lực hiệu quả. Các quy định về kê khai tài sản, thu nhập và trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu chính là sự cụ thể hóa các giá trị đạo đức lịch sử thành thiết chế hành chính minh bạch.

Quá trình này cho thấy giá trị truyền thống về trách nhiệm người cầm quyền không chỉ dừng lại ở tư tưởng mà đã trở thành các cơ chế pháp lý vận hành thực tế trong hệ thống hành pháp hiện nay.

2.3. Kỷ cương- phép nước và sự kế thừa trong quản trị hiện đại

Nguyên tắc pháp trị trong hệ thống pháp luật truyền thống: Trong lịch sử Việt Nam, đề cao kỷ cương - phép nước là nguyên tắc cốt lõi để duy trì trật tự xã hội và hiệu lực quyền lực nhà nước. Pháp luật quân chủ vừa là công cụ quản lý xã hội, vừa là khuôn khổ ràng buộc trách nhiệm của quan lại và dân chúng.

Dưới triều Lê, Quốc triều hình luật đã thể chế hóa các chuẩn mực hành chính và trách nhiệm công vụ. Luật xử phạt nghiêm khắc hành vi lạm quyền, nhận hối lộ hoặc xử án oan sai[9] qua đó thiết lập kỷ cương quản trị chặt chẽ.

Đến thời Nguyễn, nguyên tắc này tiếp tục được củng cố qua Hoàng Việt luật lệ. Bộ luật bổ sung quy định về trách nhiệm liên đới của quan đầu tỉnh đối với các sai phạm trong phạm vi quản lý, buộc việc thực thi quyền lực phải nằm trong khuôn khổ pháp luật và sự giám sát của triều đình[10]. Bên cạnh hệ thống pháp luật của triều đình, nguyên tắc kỷ cương - phép nước còn được thể hiện trong các hương ước và tục lệ làng xã.

Bên cạnh luật pháp triều đình, kỷ cương - phép nước còn được duy trì qua hệ thống hương ước, tục lệ làng xã. Các điều khoản thường quy định chi tiết việc giữ gìn trị an và xử phạt hành vi gây rối.. Khoán lệ thôn Kiều Mai xã Phú Diễn tổng Cổ Nhuế huyện Từ Liêm phủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông, kí hiệu AF.a2/55 lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, soạn năm Duy Tân thứ 8 (1914) ghi: “bắt được kẻ trộm lần một, phạt đánh 30 roi, ghi tên trên bảng ở cửa đình rồi thả. Lần hai, bắt được phạt cũng như vậy, phạt thêm 2 đồng bạc. Lần ba, bắt được giải nộp trình quan trừng trị, bị tước tên ra khỏi sổ làng”. hay “bắt được kẻ ăn trộm hoa màu như buồng cau, chuối, gà lợn bắt phạt 3 quan. Người đó sau này không được vọng bàn lão”[11].

Hương ước cũng xác lập trách nhiệm cộng đồng trong bảo vệ an ninh và công trình chung. Phong tục xã Mạc Xá (1750) quy định nghiêm ngặt về phòng cháy: “Gia đình sống ở bản xã cốt được bình yên. Hễ nhà nào trong làng ngoài xóm, mỗi nhà hai cái vò nước để phòng hỏa hoạn. Nếu nhà nào không có vò nước, phạt mỗi vò một mạch tiền cổ. Nếu người nào có vò nước mà không cứu hỏa, lại vắng mặt thì luận tội phạt 1 quan tiền cổ”[12]. Hay “Lấy 10 quan tiền công mua 2 cái câu liêm, 3 cái gầu, 2 đôi thùng nước, 2 cái thang, để ở điếm, nhà nào có hỏa hoạn gõ chuông phát hiện để cứu hỏa”[13]. Những quy định này minh chứng hương ước là công cụ quan trọng để duy trì kỷ cương và chuẩn mực ứng xử xã hội tại cấp cơ sở.

 Kế thừa nguyên tắc pháp trị trong hệ thống hành pháp hiện nay: Trong xây dựng nhà nước hiện đại, nguyên tắc kỷ cương - phép nước truyền thống đã phát triển thành nền tảng của Nhà nước pháp quyền. Quản lý xã hội bằng pháp luật trở thành nguyên tắc bắt buộc, yêu cầu mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, công chức và tổ chức xã hội phải tuân thủ nghiêm ngặt hệ thống quy phạm pháp luật.

Trong hệ thống hành pháp, nguyên tắc này cụ thể hóa qua việc hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh mọi lĩnh vực quản lý. Cơ quan hành chính phải vận hành trong khuôn khổ luật định, đồng thời thực hiện trách nhiệm giải trình về các quyết định của mình. Việc đề cao tính hợp pháp và minh bạch giúp kiểm soát quyền lực hành pháp, bảo đảm tính thống nhất và lợi ích chung.

Trong mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, pháp luật giữ vai trò tối cao để điều chỉnh các quan hệ xã hội và kiểm soát quyền lực. Sự chuyển hóa từ nguyên tắc “kỷ cương - phép nước” sang các thiết chế quản trị hiện đại minh chứng cho sự kế thừa có chọn lọc và phát triển bền vững các giá trị truyền thống trong bối cảnh mới.

Phát huy kỷ cương - phép nước trong quản trị nhà nước hiện đại: Trong bối cảnh cải cách hành chính và chuyển đổi số, việc phát huy nguyên tắc kỷ cương - phép nước là yêu cầu cấp thiết. Nhà nước tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo khuôn khổ pháp lý minh bạch cho hoạt động quản lý. Việc nâng cao chất lượng xây dựng chính sách và sửa đổi văn bản quy phạm giúp bảo đảm tính thống nhất, hiệu lực của pháp luật trong thực tiễn.

Đồng thời, kỷ luật hành chính được siết chặt qua các cơ chế thanh tra, kiểm tra và giám sát. Môi trường công vụ hiện đại yêu cầu mọi cán bộ, công chức phải tuân thủ nghiêm chuẩn mực pháp lý. Việc xử lý quyết liệt các hành vi lạm quyền, vi phạm kỷ luật là minh chứng cho quyết tâm duy trì kỷ cương bộ máy.

Đặc biệt, Chính phủ số tạo ra phương thức mới để củng cố pháp trị. Các hệ thống quản lý điện tử và dữ liệu quốc gia không chỉ minh bạch hóa hoạt động của cơ quan nhà nước mà còn tạo điều kiện để nhân dân giám sát quyền lực công. Trong môi trường số, việc tuân thủ quy trình hành chính trở nên chặt chẽ và dễ kiểm soát hơn.

3. Sự tương thích giữa quản trị truyền thống với quản lý nhà nước hiện đại trong bối cảnh chuyển đổi số

3.1. Giá trị cốt lõi của quản trị truyền thống Việt Nam:

Truyền thống trị nước của dân tộc đã hình thành hệ giá trị và chuẩn mực quản lý bền vững, tạo nên nền tảng văn hóa chính trị đặc trưng. Trong đó, nổi bật là tư tưởng đề cao vai trò của nhân dân, tinh thần trách nhiệm công vụ và nguyên tắc tôn trọng kỷ cương - phép nước.

Quan niệm “lấy dân làm gốc” xuyên suốt lịch sử, coi nhân dân là nền tảng cho sự ổn định và phát triển. Tư tưởng này được cụ thể hóa bằng các chính sách bảo đảm dân sinh và củng cố mối quan hệ nhà nước - xã hội. Gắn liền với đó là yêu cầu khắt khe về trách nhiệm của đội ngũ quan lại với các chuẩn mực: thanh liêm, tận tụy, vị quốc vong thân. Văn bia Đại Việt Lam Sơn Chiêu Lăng bi khẳng định: “biết phong tục là gốc của chính hóa”, cho thấy quản trị quốc gia luôn phải gắn kết chặt chẽ với thực tiễn đời sống và văn hóa dân tộc.

Bên cạnh đó, truyền thống quản trị còn đặc biệt coi trọng kỷ cương - phép nước. Việc ban hành luật pháp và thiết lập các định chế quản lý được xác định là công cụ trọng yếu để duy trì trật tự và hiệu lực bộ máy. Sự kết hợp giữa tư tưởng dân bản, đạo đức công vụ và tính pháp trị đã tạo nên bản sắc quản trị Việt Nam, đồng thời là tiền đề quan trọng để kế thừa, vận dụng trong xây dựng nền quản lý nhà nước hiện đại.

3.2. Yêu cầu quản lý nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số

Dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, quản lý nhà nước hiện đại đòi hỏi tính toàn diện, minh bạch và hiệu quả cao. Hệ thống hành pháp cần vận hành theo các nguyên tắc mới, phù hợp với xu hướng quản trị số và nhu cầu thực tiễn.

Xây dựng nền hành chính phục vụ, lấy dân làm trung tâm: Yêu cầu then chốt là chuyển dịch từ mô hình hành chính quản lý sang hành chính phục vụ. Trong đó, người dân và doanh nghiệp là trung tâm của mọi hoạt động cung ứng dịch vụ công. Bộ máy hành pháp cần đổi mới phương thức quản lý, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến và nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ công chức nhằm tối ưu hóa trải nghiệm của người dân.

Tư tưởng coi trọng dân sinh này vốn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt sử liệu Việt Nam. Văn bia Đại Việt Lam Sơn Chiêu Lăng bi từng nhấn mạnh trị nước phải: “Cần dân thì cốt nông tang làm gốc”[14] . Quan niệm coi sự ổn định đời sống nhân dân là nền tảng quản lý quốc gia chính là tiền đề tư tưởng để xây dựng nền hành chính phục vụ hiện nay.

Nâng cao trách nhiệm giải trình và tính minh bạch: Trong quản trị hiện đại, trách nhiệm giải trình và minh bạch là nguyên tắc cốt yếu bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi đúng pháp luật. Hệ thống hành pháp phải công khai thông tin, minh bạch hóa quy trình chính sách và chịu trách nhiệm trước xã hội về kết quả công vụ. Việc nâng cao các tiêu chuẩn này không chỉ hạn chế lạm quyền, quan liêu mà còn củng cố niềm tin của nhân dân. Hiện nay, xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực và tăng cường sự giám sát, tham gia của người dân là yêu cầu cấp bách của nền quản trị công hiện đại.

Thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị nhà nước: Chuyển đổi số là xu thế tất yếu để hiện đại hóa hành chính và tối ưu hóa quản trị quốc gia. Ứng dụng công nghệ số giúp cải thiện hiệu suất xử lý công việc, tăng cường kết nối dữ liệu liên thông và tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp. Trong hệ thống hành pháp, chuyển đổi số không chỉ là số hóa thủ tục mà còn là xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số. Qua đó, các cơ quan hành chính có thể nâng cao năng lực điều hành, minh bạch hóa quản lý và đáp ứng tốt yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên số.Điều này góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền quản trị hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội trong thời đại số.

Quản lý nhà nước hiện đại đòi hỏi sự thay đổi căn bản về tư duy và phương thức tổ chức quyền lực hành pháp. Việc xác lập nền hành chính phục vụ, đề cao trách nhiệm giải trình và đẩy mạnh chuyển đổi số là những trụ cột quan trọng hướng tới một hệ thống quản trị minh bạch, hiệu quả và lấy lợi ích cộng đồng làm mục tiêu tối thượng.

3.3. Mức độ tương thích giữa quản trị truyền thống và hiện đại

Mối quan hệ giữa truyền thống quản trị và yêu cầu hiện đại cho thấy nhiều điểm tương thích sâu sắc. Giá trị lịch sử không chỉ là kinh nghiệm quá khứ mà còn chứa đựng các nguyên tắc phù hợp với quản trị công hiện đại. Văn bia 大越藍山昭陵碑Đại Việt Lam Sơn Chiêu Lăng bi (1498) khẳng định: “Đối với những thưởng phạt thì giữ chữ tín mà chuẩn mực; đối với hiệu lệnh thì nghiêm khắc mà rõ ràng… Biết quan lại là nguồn của trị loạn thì lấy đức thanh liêm, sự răn đe để khích lệ”[15]. Quan điểm này minh chứng yêu cầu về kỷ luật hành chính và trách nhiệm quan lại trong truyền thống vốn có sự tương đồng mật thiết với nguyên tắc trách nhiệm giải trình hiện nay.

 Việc nhận diện sự tương thích này có ý nghĩa quyết định trong hoàn thiện hệ thống hành pháp và thúc đẩy chuyển đổi số: Là tiền đề tư tưởng cho mô hình hành chính phục vụ, lấy người dân làm trung tâm. Trong cả hai thời đại, nhân dân vừa là chủ thể được phục vụ, vừa là thước đo hiệu quả quản lý. Bên cạnh đó, trách nhiệm công vụ là sự giao thoa giữa đạo đức quan lại truyền thống và trách nhiệm giải trình hiện đại. Cả hai đều hướng tới kiểm soát quyền lực, bảo đảm thực thi công vụ vì lợi ích công và đúng pháp luật.. Tương tự, nguyên tắc đề cao kỷ cương- phép nước nguyên tắc pháp trị truyền thống tương thích với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, nơi mọi hoạt động của bộ máy đều phải vận hành trên nền tảng pháp lý thống nhất.

Hạn chế và thách thức trong quá trình chuyển hóa: Một khó khăn đáng kể là sự tồn tại của tư duy quản lý mệnh lệnh, nặng tính hành chính truyền thống, chưa thực sự chuyển sang tư duy phục vụ. Cơ chế quan liêu, thủ tục phức tạp và sự chậm trễ trong đổi mới phương thức quản lý làm giảm hiệu quả vận dụng các giá trị truyền thống tích cực. Ngoài ra, khoảng cách về hạ tầng số và năng lực công nghệ của đội ngũ công chức cũng là rào cản lớn trong lộ trình xây dựng nền hành chính hiện đại.

Ý nghĩa của việc phát huy truyền thống trong quản trị hiện đại:Truyền thống quản trị đóng vai trò là nền tảng văn hóa, định hình các chuẩn mực đạo đức công vụ và tinh thần phục vụ nhân dân. Vận dụng phù hợp các giá trị này không chỉ củng cố tính chính danh, sự gắn kết giữa nhà nước với xã hội mà còn hỗ trợ đắc lực cho cải cách hành chính. Trong bối cảnh chuyển đổi số, sự kết hợp giữa giá trị cốt lõi lịch sử và phương thức quản trị hiện đại sẽ tạo nên một nền hành chính vừa bản sắc, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển thời đại.

Sự tương thích giữa truyền thống và hiện đại là cơ sở quan trọng để hoàn thiện hệ thống thực thi quyền hành pháp. Việc nhận diện đúng các giá trị này không chỉ làm rõ chiều sâu văn hóa - lịch sử của quản trị quốc gia mà còn thúc đẩy quá trình xây dựng một bộ máy nhà nước hiệu quả, minh bạch trong điều kiện chuyển đổi số hiện nay.

Kết luận: Truyền thống quản trị quốc gia Việt Nam là một dòng chảy liên tục, được bồi đắp qua nhiều giai đoạn lịch sử với những giá trị cốt lõi bền vững. Trong đó, tư tưởng “lấy dân làm gốc”, tinh thần trách nhiệm của người cầm quyền và nguyên tắc kỷ cương - phép nước không chỉ là những chuẩn mực đạo đức mà còn là những

chuẩn mực đạo lý mà còn phản ánh kinh nghiệp quản trị quốc gia được tích lũy qua thực tiễn lịch sử. Thông qua việc khai thác nguồn sử liệu, đặc biệt là hệ thống tư liệu Hán Nôm, bài viết đã làm rõ quá trình kế thừa, vận dụng vận dụng và chuyển hóa linh hoạt những giá trị truyền thống này trong xây dựng và hoàn thiện nền hành chính hiện đại ở Việt Nam hiện nay.

Kết quả nghiên cứu cho thấy giữa tư duy quản trị truyền thống và yêu cầu của nền hành chính hiện đại có một sự tương thích rõ rệt. Những nguyên tắc "an dân", "yên dân" từ thế kỷ XV-XIX chính là tiền đề tư tưởng cho mô hình hành chính phục vụ, lấy người dân làm trung tâm hiện nay. Đồng thời, tinh thần liêm chính và trách nhiệm của đội ngũ quan lại xưa cũng được tiếp tục được kế thừa và phát triển thành các cơ chế trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và chuyển đổi số.

Trong giai đoạn tới, việc nhận diện và phát huy các giá trị tích cực này cần được xem là một nhiệm vụ quan trọng nhằm củng cố nền tảng văn hóa quản trị quốc gia. Điều này đòi hỏi sự gắn kết chặt chẽ hơn nữa giữa công tác nghiên cứu lịch sử - văn hóa với việc hoạch định chính sách và hoàn thiện thể chế pháp luật. Việc tiếp tục khai thác sâu nguồn tư liệu Hán Nôm sẽ góp phần cung cấp những bài học kinh nghiệm quý báu cho quá trình hoàn thiện nền hành chính hiện nay. Qua đó, hoạt động hành pháp không chỉ hướng tới hiệu quả quản lý và ứng dụng công nghệ mà còn đảm bảo tính nhân văn và củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân.

Tài liệu tham khảo

         1.  Chính phủ (2021), Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021- 2030, Hà Nội.

         2.  Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

        3.  Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), Luật Cán bộ, công chức năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2019, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội (xuất bản năm 2020).

         4.  Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2018), Luật Phòng, chống tham nhũng, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

         5.  Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Huệ Chi (Biên soạn) (1987), Nguyễn Bỉnh Khiêm toàn tập (Bạch Vân quốc ngữ thi), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

         6.  Lê Thánh Tông (Thế kỷ XV), Hồng Đức thiện chính thư, Viện Sử học dịch (1998), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

         7.  Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (1998), Đại Việt sử ký toàn thư (Tập II), Viện Sử học dịch, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

        8.  Nguyễn Hiến Lê (1992), Kinh Thư (Mục: Ngũ tử chi ca), Nxb. Văn học, Hà Nội. Nguyễn Trãi (1976), Nguyễn Trãi toàn tập (Bình Ngô đại cáo), Viện Sử học chủ biên, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

         9.  Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (Tập 2), Viện Sử học dịch, Nxb. Thuận Hóa, Huế.

        10.    Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (Tập 2, Tập 3), Viện Sử học dịch, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

        11.    Trịnh Khắc Mạnh (Chủ biên) (2013), Văn bia thời Lê (Tập 1), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

        12.    Viện Sử học (1994), Hoàng Việt luật lệ, Nxb. Văn hóa  - Thông tin, Hà Nội.

        13.    Viện Sử học (1995), Quốc triều hình luật (Hình luật triều Lê), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

        14.    Nguyễn Hữu Hải (2018), Cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

        15.    Trần Ngọc Đường (2017), Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

        16.    Vũ Duy Mền (2010), Hương ước cổ làng xã Bắc Bộ, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.



[2] Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 468 - 470.

[3] Viện Sử học (dịch), Quốc triều Hình luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.

[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Chính biên, đệ nhị kỷ, bản dịch Viện Sử học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, t. 3, tr. 214.

[6] Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, bản dịch Viện Sử học, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993, t. 2, tr. 241–242.

 

 

[10] Hoàng Việt luật lệ, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1994, tr. 112–118

[11]河東省懷德府慈廉縣富家總富舍社風俗, AF.a2/63. Xem thêm: Nguyễn Hoàng Yến (2020), “Nghiên cứu điều lệ tuần phòng, an ninh trật tự và phòng cháy chữ cháy qua văn bản tục lệ Hán Nôm huyện Từ Liêm”, Nghiên cứu Hán Nôm năm 2020, Nxb thế giới, tr.272-296.

[12] 河東省懷德府慈廉縣下池總莫舍社風俗, AF a2/59.

[13] 有光巷俗例, AF, a2.69.

[14] Phạm Thị Thùy Vinh (2014, chủ biên), Văn bia Lê Sơ (tuyển tập), Nxb KHXH, tr.435.

[15] Phạm Thị Thùy Vinh (2014, chủ biên), Văn bia Lê Sơ (tuyển tập), Nxb KHXH, tr.435.

Lê Thị Thu Hương
Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm