Đó là bài Hịch văn thân ngày mồng 2 tháng 2 năm Tự Đức thứ 27 (đối chiếu Dương lịch là ngày 19.3.1874). Tư liệu này hiện được bảo quản tại Lưu trữ Quốc gia Pháp ở thành phố Aix (Aix en Provence) miền Nam nước Pháp, kho Hải ngoại (A.O.M), phông các Đô đốc (Fonds des Amiraux), số hiệu 11649(1). Đây không phải bản gốc, mà là bản sao, chữ Hán viết rất chân phương và đẹp. Cuối bài không đứng tên cá nhân, hay tổ chức nào. Nhưng căn cứ vào ngày viết bài hịch (19.3.1874) và đối chiếu với tình hình Việt Nam trước sau năm 1874 cũng như liên hệ nội dung tư tưởng bài hịch với thực tiễn phát triển của phong trào hồi đó, có thể khẳng định bài hịch này ra đời tại vùng Nghệ Tĩnh, gắn liền với cuộc khởi nghĩa của văn thân Nghệ Tĩnh do Trần Tấn và Đặng Như Mai lãnh đạo, bùng nổ mãnh liệt ngay sau khi triều đình Tự Đức ký hiệp ước năm Giáp Tuất (15.3.1874), tiến sâu thêm một bước nữa trên con đường khuất phục đầu hàng giặc. Nội dung bài hịch có điểm đáng chú ý. So với các bài kêu gọi ra đời trong giai đoạn đầu chống Pháp ở miền Nam (1859-1876), cũng như trong giai đoạn chống Pháp ở miền Bắc và miền Trung (1873-1884)(2), tuy các phong trào này đều nằm trong phạm trù phong kiến, mục tiêu hướng tới là bảo vệ nhà nước phong kiến độc lập, nhưng do sự phân hóa kịch liệt của giai cấp phong kiến Việt Nam trước sự tấn công hung bạo của chủ nghĩa đế quốc Pháp nên mức độ chống phong kiến của các phong trào có biến đổi khác nhau qua các giai đoạn. Nếu như trong giai đoạn đầu kháng chiến ở miền Nam (1859-1862), tính chất chống phong kiến còn dừng lại ở mức độ oán trách "triều đình khí dân" ký hàng ước năm 1862 dâng 3 tỉnh đông Nam Kỳ cho giặc, thì đến giai đoạn thứ hai kháng chiến ở hai miền Bắc-Trung (1873-1884), tính chất đó đã được nâng lên một bước mới. Trong cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất năm 1874 đã khẳng định "phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây", cố nhiên đây tuyệt nhiên không phải là đánh đổ triều Nguyễn, mà chỉ chống lại bộ phận đầu hàng trong triều đình Huế do chính vua Tự Đức cầm đầu vừa ký thêm hàng ước năm 1874 nhượng đứt 3 tỉnh tây Nam Kỳ cho giặc.
Một điểm mới khác trong nội dung bài hịch này là thái độ chống công giáo vô cùng kịch liệt. Tất nhiên ở đấy phải kể tới sự phản ứng của tầng lớp văn thân sĩ phu mang nặng tư tưởng Nho giáo, nhưng riêng nguyên nhân đó không đủ giải thích sự bùng nổ quyết liệt của phong trào "Bình tây sát tả" thời kỳ này. Chỉ có thể giải thích hiện tượng đó bằng việc vạch rõ đến lúc này, lợi dụng thái độ nhu nhược đầu hàng của triều đình Huế, các giáo sĩ Pháp và một số giáo dân dưới quyền đã trắng trợn đẩy mạnh các hoạt động chống đối, tiếp tay đắc lực cho đội quân viễn chinh Pháp trong việc mở rộng đánh chiếm các nơi. Sự câu kết giữa quân Pháp với một số giáo dân lại còn được triều đình Huế dung túng, bao che, tiếp sức. “Bình Tây” là đúng, nhưng "Sát tả" thì hoàn toàn sai. Chính sách sai trái đó chỉ có lợi cho kẻ thù dân tộc vì việc không có sự phân biệt thích đáng đã gạt tất cả những người theo đạo Cơ đốc lúc đó về phía đế quốc. Chúng ta sẽ thấy đến thời kỳ Cần Vương (1885-1896), sai lầm đó đã được hạn chế, khắc phục về cơ bản những lãnh tụ tiêu biểu của phong trào như Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân... đều nhận thức rõ và đã tránh được những sai lầm đáng tiếc trước đó.
Sau đây là phần phiên âm và dịch nghĩa bài Hịch văn thân nói trên để các nhà nghiên cứu văn học và sử học tham khảo.
Phiên âm:
Văn thân hịch tuyển sao ký
Tự Đức nhị thập thất niên nhị nguyệt sơ nhị nhật.
Cái văn: Thệ đồng cừu nhi bào trạch, ngô Nho địch khí chi hùng phong; tạm đầu bút nhi nhung nhiên, quân tử dụng quyền chi năng cử.
Nghĩa như năng vãng, Chung Quân do thả thỉnh anh; đạo hữu khả hành, Tổ Địch thượng văn kích tập.
Cái tang bồng hồ thỉ, nam tử sơ tâm; nhi nghĩa phủ nhân can, thiên hạ vô địch.
Thẩn tư Gia-tô nhập vu ngã quốc: Ngữ kỳ thuật, tắc xưng thiên xưng thánh, lủng ế ngu mông; ngữ kỳ giáo, tắc vô phụ vô quân, khuyển dương tộc loại.
Xả khúc trực dĩ ngôn cường nhược, mạn khoa bác khả phá sơn; ứng trung dũng nhi thiệp ba đào, lãng thuyết thuyền năng nhập thủy.
Tự Đinh Tị duyên biên vi hoạn, phong đản tứ kỳ xương cuồng; kinh nhung thần phấn lữ nhi tiền, thú dĩ thư kỳ cuồng phệ.
Phụng Hoàng thượng phấn nhiên canh đoạn, phương dục hữu vi; nại hà nhân tự nhĩ thâu an, cẩu cầu vô sự.
Tấn đại phu chi sách lập hỗ lợi nhi hại tùy; Tống tướng quốc chi mưu, kiếm nhất hoà nhi ngạnh khởi.
Toại sử Tây huynh Nam đệ, nhẫn cam thành hạ chi minh; giáp quyển nhung tàng, thùy phấn quân trung chi dũng.
Dẫn chiên cầu vu quốc ấp, kê thê phượng tập ngưu hỗn ký quần; nhập tinh xú vu bang đình, hổ bị khuyển khi, long vi hà hí.
Lục tỉnh chi thần dân hà tội, hàm oan nhi diện cách triều đình; nhất phương chi thủy hỏa thùy tô, tố khổ nhi thanh đằng vũ trụ.
Hạ xuân đài nhi đồ thán, sĩ dân cô hiệp đạo chi hoài; ly thiên nhật nhi âm hàn, phụ lão thất cử phan chi vọng.
Huống hựu: Trưởng ác bất thoan, vi hại thậm đại.
Sách tăng tuế tệ, dương tiêu bản quốc cao chi;
Sức yết đao đường, âm dụ ngã bang lê thứ.
Tư tạo ngã tỉnh, yết lệ đạo đồ; phụ thỉ mẫu khuyển chi phong, tự ô danh giáo; Chu lợi Giê-du chi thuyết, phục uế thính văn.
Bi kỳ cảm nhĩ hoành hành, ngã diệc khởi nhiên an tọa !
Dữ kỳ lâm thần thảng thốt, đồ di hậu sự chi ưu; hà như tảo cập đồ hồi, dụng hiệp tiên ưu chi nghĩa.
Phù! Khuyển dương nan tín, cầm độc nan thân.
Vị đốn Hán dương, Kim Tiêu Tống thỉ.
Ngã nhược khai môn nghênh khấu, miễn thủ dĩ tòng; bỉ tương vu mãng phục nhung, phệ tê hà cập!
Thỉnh quí liệt mộc tục hưu phong, tao phùng thịnh thế. Hoặc triều đình quan tước, dự tại giản tư, hoặc khoa mục trung nhân, tằng kinh hoa lục. Hoặc viên tử, ấm tử, quan thanh nhi ti lập giai ân;
Hoặc thí sinh, khóa sinh, thánh trạch nhi chương tương thức hóa. Dĩ chí phú gia vật lực, quân hoàng cực chi dụng phu. Tổng lý dương hào, tinh hoàng ân chi phổ cập.
Hữu từ khả chấp, Chu Công phương thả ưng chi; kiến nghĩa bất vi, Khổng Tử viết vô dũng giả.
Miễn dịch hàn thu chi tiết, dụng trinh kình thảo chi phong, chỉnh ngã bằng đồ, tiễn bi vũ dực.
Sử Tây tặc vô môn khả nhập, nhi dương di hà xứ đắc lai?
Lý Cương bãi triều, nhi Thái học nho sinh kiến cổ; Bào Tuyên hạ ngục, nhi bác sĩ chi tử đệ cử phan.
Huống sự thuộc an nguy; lự quan đắc thất.
Cổ kim cộng phẩn, thiên địa bất dung.
Phàm hữu trung nghĩa chi tâm, sinh nhi tự hứa.
Cẩu vi xã tắc chi lợi, tử thả bất từ.
Tuy kim nhật vi chỉ hành sự, dụng tri đắc tội ư cửu trùng;
Đệ hậu lai phục khuyết thính chu, do đắc tấu công ư liệt thánh.
Vô khả đồ ngôn, thủ vụ ngoại địch.
Chí như kế tương an xuất, lánh hữu hậu ngôn.
Cảm cáo đồng minh, nguyên phù minh giám.
Dịch nghĩa:
Hịch văn thân
Tự Đức ngày mồng hai tháng hai năm 27(3) Nghe nói:
Có chung kẻ thù cùng thề chiến đấu, vốn nhà Nho noi truyền thống hùng anh; thề quẳng nghiên bút mà cầm lấy gươm giáo, là quân tử phải ra tay hành động.
Việc đạo nghĩa, Chung Quân(4) cũng đội mũ tòng chinh; Tổ Địch(5) cũng vỗ chèo giết giặc.
Hồ thỉ tang bồng, ấy chí nam nhi; theo nghĩa theo nhân, thiên hạ vô địch.
Huống nay, đạo Gia-tô đã lọt vào bờ cõi.
Cầu nguyện thì xưng Trời xưng Thánh, thật là đui điếc ngu si;
Giảng rao thì vô phụ vô quân, đúng là loài dê loài chó.
Bỏ lẽ phải ỷ vào sức mạnh, hết khoe khoang đại bác phá núi phá thành;
Quên điều ngay cậy ở tài năng, lại huyênh hoang tàu đồng vượt sóng vượt gió.
Từ Đinh Tị(6) nước ta lâm nạn, chúng nó hoành hành;
Võ quan phấn phát tiến lên, bầy thú dữ phải thôi gào rú.
Thánh thượng một bề kiên quyết, hăng say giết giặc, ai dám cầu an.
Ngẫm mà xem:
Đại phu Tấn(7) chỉ lo mối lợi nên hại nước hại nhà;
Tướng quốc Tống(8) nhất thiết nghị hòa mới gay go rắc rối.
Tây anh, Nam em cam tâm thề thốt dưới thành;
Cởi giáp qui hàng, dũng khí đâu còn mà đánh?
Bọn di địch tràn vào khắp nước, gà phượng cùng đàn ngựa trâu lẫn lộn;
Giống hôi tanh xông chốn miếu đình, hổ bị chó khinh nhờn, rồng bị tôm đùa giỡn.
Lục tỉnh(9) có tội tình gì, phải ngậm oan tách khỏi triều đình.
Một phương chìm trong nước lửa, tiếng kêu khóc vang trời dậy đất.
Xa nền thịnh trị, rơi xuống bùn đen, sĩ dân đi vào ngõ tắc;
Khuất ánh mặt trời, sống trong u ám, phụ lão hết hướng vươn lên.
Huống chi:
Chúng nó hoành hành, ta càng tổn hại.
Vơ vét thuế má, ta phải kiệt quệ hao mòn;
Xây dựng nhà thờ, ta thành bầy chiêm nô lệ.
Truyền đạo chúa Giê-du Cờ-rít, gai mắt bẩn tai;
Coi mẹ cha như chó như heo, xỉ nhục danh giáo.
Chúng cứ nghiễm nhiên ngang ngược;
Ta há nhẫn nhục ngồi yên?
Buổi đầu chểnh mảng, sau phải âu lo;
Hãy sớm lo toan, tìm đường ngăn chặn.
Ai tin được bọn chó dê, ai thân được loài cầm thú?
Chúng là dê nhà Hán, lợn nhà Tống.
Ta mở cửa đón vào, cúi đầu nghe theo,
Chúng sẽ đóng khắp nơi, bấy giờ đã muộn.
Hỡi những ai từng sống an nhàn, gặp thời thịnh trị!
Hoặc là bậc chức tước trong triều, hay ở chốn nha môn,
Hoặc là hàng khoa giáp bảng vàng, đã từng bổ dụng,
Hoặc là viên tử ấm tử, tiếng tăm, lương bổng là của vua ban,
Hoặc là khóa sinh, thí sinh, tổng lý, phú hào, thảy đều chịu ơn mưa móc.
Lời nói phải lẽ, Chu Công(10) cũng hăng hái nghe theo,
Chuyện nghĩa không làm, Khổng Tử(11) cho là hèn nhát !
Lúc này cần người dũng cảm, cần kẻ kiên trinh,
Hãy siết chặt hàng ngũ.
Khiến giặc Tây không lối mà vào; cho bọn Dương di(12) không nơi mà đến.
Xưa Bào Tuyên(13) tống ngục, con em bác sĩ phất cờ!
Lý Cương(14) bỏ triều, nho sinh Thái học nổi trống.
Huống chi chuyện an nguy được mất, xưa nay phẫn nộ, trời đất không dung.
Phàm người trung nghĩa, sống phải biết liều mình;
Vì lợi ích nước nhà, chết cũng không từ chối.
Nay hành động không có chiếu chỉ, vốn biết có tội với cửu trùng(15);
Dù cúi đầu đành chịu chu di, vẫn có công dâng lên liệt thánh(16).
Không thể nói suông mà chịu lăng nhục;
Còn như mưu kế, thì sẽ tính sau.
Xin cùng thề thốt,
Nguyện hãy xét soi !
CHÚ THÍCH
(1) Gần đây, trong cuốn Đế quốc Việt Nam đối diện với nước Pháp và Trung Quốc (L'Empire vietnamien face à la France et à la Chine) của tác giả Yoshiharu Tsuboi cũng có giới thiệu tư liệu này trong phần phụ lục cuối sách (Nxb, L'Harmattan, Paris, 1987, tr.275-277). Nhưng chủ yếu là dịch thoát ý, nên không phản ánh được hết nội dung của bài hịch, đó là chưa nói có khi dịch sai ý.
(2) Như bài Hịch Quan Định ở miền Nam, bài Hịch sĩ phu kêu gọi chống Pháp ở miền Bắc, và Nghệ Tĩnh nghĩa dũng di văn ở miền Trung.
(3) Đối chiếu dương lịch là ngày 19-3-1874.
(4) Chung Quân: Người đời Hán Võ Đế, từng sang thuyết vua nước Nam Việt quy phụ nên bị Lữ Gia giết.
(5) Tổ Địch: Người đời Tấn, khi qua sông đã gõ mái chèo thề không đánh tan giặc thì không trở về.
(6) Năm 1858 dương lịch.
(7) Đại phu nhà Tấn (chưa xác định được tên) vì quá chú ý tới mối lợi nên đã để giặc ngoại xâm tràn vào.
(8) Tần Cối giữ chức tướng quốc nhà Tống là phần tử chủ hòa nên đã để mất nước vào tay quân Kim
(9) Chỉ Nam Kỳ hồi đó chia làm 6 tỉnh.
(10) Chu Công: tên là Đán, người đời Chu, định ra chế độ lễ nhạc, đặt ra nghi thức quan hôn, tang tế.
(11) Khổng Tử: tên là Khâu, người nước Lỗ là ông tổ đạo Nho.
(12) Dương di: Chỉ bọn xâm lược Pháp từ bên kia đại dương tới.
(13) Bào Tuyên: Đời Đông Hán có loạn đảng tranh, sau khi Bào Tuyên bị tống ngục thì các gia đình quyền quý nổi dậy chống giặc.
(14) Lý Cương: người đời Tống, chống giặc Kim
(15) Cửu trùng: chỗ ở của vua.
(16) Liệt thánh: Các vua đời trước của triều đại đang trị vì (đây là triều Nguyễn)./.