VI | EN
Văn bản Văn minh tân học sách và khát vọng “vươn mình” của Đông Kinh Nghĩa Thục qua bản in A.567

Nhóm sĩ phu Bắc Hà gồm Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Lê Đại, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Kỳ, Dương Bá Trạc, Vũ Hoành đã nối tiếp các sĩ phu lớp trước cùng nhau lập ra một trường học, lấy tên là Đông Kinh Nghĩa Thục. “Đông Kinh Nghĩa Thục xuất hiện ở Hà Nội tháng 3 năm 1907 đến tháng 12 năm 1907 dưới hình thức một trường học hợp pháp và mở rộng hoạt động ra các tỉnh xung quanh trên các lĩnh vực: văn hóa và xã hội, kinh tế… như một phong trào cải cách tư tưởng- văn hóa và xã hội, góp phần quan trọng vào công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam đầu thế kỉ 20”

Trường không thu học phí, các tài liệu giảng dạy được sao chép, in ấn phát miễn phí cho người học mà đề ra tôn chỉ phát triển nền giáo dục Việt Nam. Trường đổi mới giáo dục, bắt đầu từ việc dạy cả tiếng Nho lẫn tiếng Pháp. Chương trình học tùy vào cấp học. Lớp có thể dạy từ tiếng Hán (Trung Quốc) để cho người học tiếp xúc với văn hóa truyền thống, sau đó ở bậc cao hơn có thể dạy tân thư (các kiến thức mới phương Tây và ngôn ngữ Pháp) để mở mang kiến thức. Nội dung các tài liệu giảng dạy đều hướng tới tuyên truyền, rèn giũa nâng cao lòng yêu nước, phê phán nền cựu học khoa hoạn từ chương cũ, đề cao tân học, giới thiệu văn minh phương Tây, chỉ ra sự cần thiết phải phát triển khoa học kỹ thuật... Đông Kinh Nghĩa Thục đã cho in ấn phát hành tài liệu rộng rãi, xiển dương cho tư tưởng canh tân, đổi mới và phát triển khoa học, nâng cao dân trí.

Văn minh tân học sách (Sách lược xây dựng nền học mới để đạt tới văn minh, từ đây viết tắt là VMTHS) là cuốn sách được Đông Kinh Nghĩa Thục cho in ấn làm tài liệu giảng dạy trong nhà trường, Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện lưu giữ bản in với kí hiệu A.567. Nội dung cuốn sách cũng như phương thức phát hành đã thu hút được sự chú ý của xã hội. VMTHS. phân tích mối liên hệ giữa “văn minh” - “dân trí” và việc cần thiết phải nâng cao dân trí: “Văn minh với dân trí, hai đàng cùng làm nhân quả lẫn nhau. Nhưng muốn mở dân trí, trước hết phải thấy bế tắc ở chỗ nào và sự phát đạt bắt đầu từ đâu, bấy giờ mới có thể bắt tay vào việc được. Bằng không chỉ có thể nhìn thấy biển cả mênh mông rồi than thở mà thôi/文明與民智, 寔遍相為因果者也. 然欲開民智, 必先求明塞之在於何處, 與發達之起於何方, 然後有下手地否則未自不望洋而嘆者也”.

Tuy không phủ nhận văn minh nước ta, thậm chí còn ghi nhận nước ta có thành tựu văn minh lớn, trải dài trong lịch sử, nhưng nhìn nhận một cách thực tế: Sự văn minh ấy chỉ có trong lịch sử, quá khứ. Nếu dân tộc ta, nhân dân ta ngủ quên trong niềm tự hào là nước “ngàn văn văn hiến”, không tự vươn lên, không tìm được kế sách để đưa đất nước tiến bộ theo thời cuộc thì tất yếu sẽ không theo được thời cuộc thế giới. VMTHS. đánh giá và nhìn nhận: “Á châu là ngọn nguồn văn minh đấy. Nước Đại Nam ta vốn là một nước lớn văn minh. Nói về vị trí thì vào khoảng ở giữa ôn đới và nhiệt đới. Đất tốt, khí hậu điều hòa, thóc lắm, tằm nhiều, các nguồn lợi miền núi, miền biển hơn cả thiên hạ. Dân trong nước làm ăn dễ dàng. Trải qua các triều đại, vua thánh, tôi hiền cùng làm cho thịnh vượng lên, rực rỡ thêm, to tát ra. Trong bài tựa của Lao Sùng Quang đề đầu tập Phong nhã thông biên có nói ta được các nước trong, ngoài đều khen là nước thanh danh văn vật. Cái đó đã đành rồi/亞洲 固文明之發源, 我大南則文明一大國也. 以其地居熱帶溫帶之間.其土沃其氣勻稻蠶之饒富於吳都山海之利甲於天下. 民生其間謀生較易. 歷朝聖君賢根相與昌明之光大之勞使星. 序風雅統編會稱薄海內外推為聲名交物之邦. 斯固然矣.

Và tuy đã từng là một nước văn minh: “Nhưng nay thì sao? Của báu núi rừng, nguồn lợi đó ta không được hưởng. Trăm thứ hàng hóa, quyền lợi đó ta không được nắm. Cho đến các hàng vóc nhiễu, nhung, len, vải, lụa,... không mua của Tàu thì cũng nhập của Tây cả…/ 而今固何如哉? 山林寶藏利源非我有也財貨百物利權非我操也. 綢緞絨氈布帛... 諸貨項不購之托則資之西...”.

Chủ trương chấn hưng công nghệ cũng thể hiện một sự thay cũ, đổi mới trong suy nghĩ của tác giả VMTHS.: “Thiết nghĩ: văn minh là một danh từ đẹp đẽ không phải do một sự hào nhoáng, màu mỡ mà làm nên; các môn học văn minh là những phúc tốt lành, không phải chuyện một sớm, một chiều có thể lấy được. Muốn làm nên và lấy được là nhờ có một chủ nghĩa lớn. Chủ nghĩa gì thế? Ấy là chủ nghĩa mở trí khôn cho nhân dân/竊思文明美名也, 非粉飭可以致之. 文明諸學新福也. 非旦夕可以得之其所以致之而得之者. 蓋有一大主 義焉. 主義云何. 開民智是也.

Việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để cải thiện, tăng năng xuất lao động không chỉ là việc của cá nhân ngành nghề, lĩnh vực nào mà tất cả các các ngành nghề đều phải nghiên cứu, áp dụng. Chỉ ra sự trì trệ lạc hậu của ta so với cái tiên tiến của các nước phương Tây chính là muốn nhân dân ta nhìn thấy việc lợi ích của việc đổi mới, áp dụng khoa học công nghệ: “Nông học có hội: người ta đương cạnh tranh về nghề nông đây, còn ta thì vẫn như cũ. Hỏi ta có cày máy để giúp việc cày, điện khí để làm cho lúa tốt, các phương pháp để cứu hạn hán, trị sâu keo không?

Thương chính có sở: Người ta đương cạnh tranh về nghề buôn đây, còn ta thì vẫn như cũ. Hỏi có hạm đội để hộ thương, thị trường để thông thương, các công ti lớn do chính phủ và nhân dân góp cổ phần để lập nên không?

Công nghiệp có xưởng: Người ta đương cạnh tranh về công nghệ đây! Còn ta thì vẫn như cũ./農學有會人農戰矣而我如故也. 問其有雪犁以催耕電氣以助長救旱治蝗井井新法乎. 商政有衛人商戰矣. 而我如故也. 問其有護商, 有兵船通商有互市官民合股龐然公司乎. 工作有廠人工戰矣. 而我如故也.

Trong khi nước ngoài họ đã thay đổi, áp dụng khoa học kỹ thuật vào tất cả các lĩnh vực từ nông nghiệp, thương mại... nhưng chúng ta thì sao? Chúng ta vẫn “như cố dã/如故也 (vẫn như cũ)” thôi. 

Những người còn hoài nghi, bài xích việc phải đổi mới hay những người lấy sự thay đổi để tẩy chay chủ trương áp dụng khoa học công nghệ cần phải thay đổi nhận thức. VMTHS. phê phán, đả phá: “Kìa những kẻ ham mê đàn sáo, đầu hồ, bài lá, cờ tướng, độ thơ, đánh chữ, số, tướng, địa lý, phù thủy, ngày ngày dốc cả trí không vào những thứ vô dụng, sống say chết mộng thì chả kể làm gì. Nhưng hạng cao hơn, đỗ đạt một tí, được cái tiếng quèn, đã vội khủng khỉnh ta đây là kẻ cả, tự xưng là bậc giữ gìn thế đạo, ngày ngày khoe câu văn hay, khư khư ngồi giữ những thuyết hủ lậu, khinh bỉ hết thảy học mới văn minh. Hạng kém thua nữa thì chỉ nghe có vấn đề thăng quan lên mấy bậc, cất nhắc mấy người, chứ không biết đến vấn đề nào khác. Có một ông nào đó đã nói với các bạn hậu tiến: các thầy muốn ra làm quan thì phải cẩn thận, chớ có đọc sách mới, chớ có xem báo mới. Ôi! Nếu không biết đến sách báo mới thì thôi, chứ biết đến mà lại bưng bít che lấp đi, làm như không nghe, không thấy điều gì, để tự mình lại củng cố trong mình một căn tính nô lệ, nhân cách như thế, thật nên lấy làm đau đớn!/彼琴而笛而投壺而葉戲而圍棋而詩謎而字賭而星命而占驗而風水而符籙日役智於無用諸夢死醉生固無論矣.其高焉者,博一名之微號便詡詡以高人,自居以世道,自命日誇佳文日,守陋說而文明,新學一切鄙夷其下焉,者不聞有何問題惟聞有陞幾級,推幾員之,問題聞有.某先生誤後進口諸君欲做官慎,勿讀新書閱新報.夫!弗知之則已耳,既已之而復塗塞之,使之無所見無所聞以,自固其為奴隸之根性人故如,此真可痛也.

Tính dân tộc, đề cao chủ nghĩa dân tộc: “Người da vàng chúng ta thì kém gì người da trắng đâu. Có điều là tai mắt chưa thấy qua, thì chưa thể phát triển; hình thức có cái còn thiếu thì không biết bắt chước vào đâu; vốn liếng chưa dồi dào thì không thể nên làm được. Vậy không nhờ người đại biểu để mở mang cho thì quyết là không thể được/ 我黃人何讓白人哉. 但耳有未經則無以發之, 儀式具則以倣之. 資本有未裕則無以成之. 非籍代表人以闡發之尤.

Đông Kinh Nghĩa Thục đề ra giải pháp cụ thể: Để việc chấn hưng công nghệ trở thành hiện thực, cùng với chủ trương mở trường dạy kỹ thuật, tác giả còn đề nghị: “Lại hạ lệnh khắp nước, hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì theo lối Âu châu, cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp cho lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để bảo vệ quyền lợi của họ. Những ai giỏi về khoa cách trí, khí học, hóa học, thì làm cho họ được vẻ vang sang trọng hơn cả những người đỗ đại khoa. Như thế mà không có người chịu trổ tài, đua khéo, để cho hơn người thì có lẽ nào! 下令國中, 諸有能學得新式, 製得新器諸做歐洲, 功牌憑炤之例榮之, 以品銜厚之, 以專利諸有能格, 致氣化諸學者,其榮貴出大科. 上如是而不術, 巧爭奇, 以求勝人未之有也”. Con đường trở thành nhân tài như thế không phải chỉ là để dành riêng cho những người xuất thân từ khoa bảng. Mà con đường đưa dân tộc tới bến văn minh, tới dân quyền, tới độc lập và giàu mạnh chỉ có đường tiến lên bằng khoa học, kỹ thuật của tất cả mọi ngành nghề trong xã hội.

Những người viết Văn minh tân học sách đã rất tâm huyết, kỳ công thể hiện trách nhiệm trong việc tìm kế mở mang dân trí: “Nay đã từng ngửng đầu trông lên, cúi đầu nhìn xuống, trầm ngâm suy nghĩ cho cùng, để tìm kế mở mang dân trí giữa nghìn muôn khó khăn, thì chỉ thấy có sáu đường/ 今日竊嘗俯仰沉吟窮思, 極想于千難萬難中, 一而得其所以為開民智之引者, 厥有六線. Và 6 đường/ cách thức mà Đông Kinh Nghĩa Thục đã tổng kết và chỉ ra: (1) Một là dùng văn tự nước nhà; (2) Hai là hiệu đính sách vở; (3) Ba là sửa đổi phép thi; (4) Bốn là cổ võ nhân tài; (5) Năm là chấn hưng công nghệ; (6) Sáu là mở tòa báo.

Sáu vấn đề mà Đông Kinh Nghĩa Thục chỉ ra từ đầu thế kỷ XX, đã rất có ý nghĩa thời sự. Những vấn đề về ngôn ngữ, văn tự, giáo dục, trọng dụng nhân tài, đặc biệt là chấn hưng công nghệ và báo chí cho đến nay vẫn là những vấn đề hết sức nóng. Quản lý báo chí, đổi mới giáo dục và phát triển khoa học công nghệ cũng chính là những quyết sách được Đảng và nhà nước ta hiện nay đang chỉ đạo thực hiện rất quyết liệt.

Trong bản khắc này, bìa sách có in hình nhân vật mang dáng dấp Á Đông, nét mặt hiền hòa, thân hình mảnh mai, quấn khố theo kiểu trang phục truyền thống của người Việt. Việc kết hợp hình tượng nhân vật truyền thống phương Đông với quả địa cầu - biểu tượng của tri thức phương Tây cho thấy sự giao thoa văn hóa mạnh mẽ trong bối cảnh cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, khi tri thức khoa học hiện đại du nhập Việt Nam. Hình ảnh đứa trẻ nâng quả địa cầu cũng cho thấy sự kỳ vọng vào thế hệ tương lai sẽ chăm chỉ học tập, trau dồi kiến thức mới.

Quả địa cầu được khắc chi tiết, có lưới kinh vĩ tuyến và các lục địa, thể hiện sự quan tâm đến bản đồ học và nhận thức toàn cầu. Sự đối lập giữa cơ thể của một em bé-nhân vật và quả địa cầu khổng lồ làm nổi bật ý niệm “gánh vác thế giới”, nhấn mạnh tinh thần trách nhiệm hoặc khát vọng muốn hiểu biết thêm tri thức thế giới. Đồng thời, nếu gắn hình ảnh này với phong trào Duy Tân sẽ thấy một thông điệp rõ ràng là: Con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ cần gánh lấy sứ mệnh tiếp thu tri thức nhân loại, hội nhập văn minh thế giới, để đưa đất nước trở nên hùng cường.

Anh-tin-bai

Như vậy, bức tranh không chỉ đơn thuần là một bức hình minh họa mà còn là biểu tượng của sự chuyển mình, cho thấy tinh thần sẵn sàng tìm kiếm cơ hội mới, tiếp nhận tri thức mới trong xã hội Việt Nam thời cận đại.

 Tuy khát vọng và sự chuyển hướng tư tưởng “duy tân” đề cao dân trí đã không đem lại sự thay đổi xã hội như mong đợi trong bối cảnh xã hội khi đó nhưng: “Đông Kinh Nghĩa Thục cũng đi vào lịch sử dân tộc với tư cách là một trong những phong trào dân tộc - dân chủ đầu tiên trong thời đại mới, hướng tới việc giải phóng dân tộc, trước hết bằng những hoạt động có tính chất cải cách dân chủ, đổi mới tư tưởng, kết hợp với những biện pháp thực hiện cụ thể về văn hóa, giáo dục, xã hội, kinh tế...”. VMTHS. đã đề cập đến rất nhiều vấn đề của dân tộc ở thời điểm đầu thế kỷ XX, nhất là về mặt tư tưởng. Khát vọng đổi mới đất nước, khát vọng đổi mới về khoa học công nghệ của Đông Kinh Nghĩa Thục nhằm đưa Việt Nam trở thành nước giàu mạnh, tự lực tự cường vẫn là khát vọng của chúng ta ngày nay. Những mong muốn về sự đổi mới đất nước của Đông Kinh Nghĩa Thục thể hiện qua VMTHS. đến nay vẫn còn nguyên giá trị, đặc biệt là sức mạnh của dân trí, vai trò của khoa học công nghệ đối với tiến bộ xã hội và phát triển đất nước. Và giờ đây, đất nước trước kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, những mong muốn “canh tân” đất nước của Đông Kinh Nghĩa Thục lại một nữa chứng minh khát vọng đổi mới khoa học của chí sĩ đầu thế kỷ XX giờ đã trở thành nhiệm vụ cấp bách, cần quyết tâm thực hiện của toàn xã hội. Cần nhắc lại một ý mà VMTHS. nhắc tới, đến nay vẫn là một “mệnh lệnh” đối với sự cần thiết phải phát triển khoa học công nghệ. “Ôi! Công nghệ rất quan hệ với quốc gia. Ta không hơn người thì người sẽ bỏ rơi ta. Tiền của phung phí ra ngoài nước không còn gì hại hơn thế nữa./ !工藝之有關於國家也大矣, 我弗勝人, 人將棄我. 財用漏邕莫此”./.*

 

Nguồn bài viết: Nghiên cứu Hán Nôm năm 2025
Vương Thị Hường
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm