Bàn về "mệnh" và triết lý "mệnh" trong Truyện Kiều (Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (94) 2009; Tr. 3-10)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (94) 2009; Tr. 3-10)
BÀN VỀ “MỆNH” VÀ TRIẾT LÝ “MỆNH”
TRONG TRUYỆN KIỀU
GS.TS. LÊ VĂN QUÁN
ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội
Mọi người đều biết, Nguyễn Du viết Đoạn trường tân thanh là phỏng theo Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Sau này, các học giả Việt Nam đặt tên lại tác phẩm đó là Tân Kim Vân Kiều tân truyện, gọi tắt là Truyện Kiều. Vì thế Truyện Kiều ít nhiều không tránh khỏi chịu ảnh hưởng tư tưởng “mệnh” của Nho gia Trung Quốc, cho nên ở đây trước tiên chúng tôi điểm qua đôi nét về quan niệm “mệnh” của học phái Nho gia Khổng Mạnh.
1. CÁC NHÀ NHO TRUNG QUỐC BÀN VỀ MỆNH
Mệnh là một khái niệm quan trọng trong triết học Trung Quốc cổ đại, nó chỉ tính tất nhiên của sức con người không thể tuỳ tiện thao túng. Lực lượng tự nhiên này chẳng phải người xưa dễ dàng nắm vững, đến như Khổng Tử lúc năm mươi mới nhận thức được “mệnh”. Khi tổng kết lịch trình nhận thức về cuộc đời, Khổng Tử nói: “Ngũ thập nhi tri thiên mệnh” (Luận ngữ, Vi Chính) (Năm mươi tuổi thì biết mệnh trời). Song Khổng Tử lại nói: “Bất tri mệnh, vô dĩ vi quân tử dã” (Luận ngữ, Nghiêu viết) (Không biết mệnh, chẳng có thể làm người quân tử). Nói như thế, có nghĩa “mệnh” đối với người quân tử vô cùng quan trọng. Tử Hạ (học trò của Khổng Tử) kế thừa luận điểm thiên mệnh “mệnh trời” của Khổng Tử và nói: “Tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên” (Luận ngữ, Nhan Uyên) (Chết sống có mệnh, giàu sang ở trời). Ở đây tuy đã đề cập đến chết và sống, giàu và sang nhưng chỉ là thừa nhận một cách trừu tượng, còn chưa phải là nhận thức cụ thể của mệnh về chết và sống, giàu và sang.
Khổng Tử chẳng những yêu cầu người quân tử biết “mệnh”, mà còn yêu cầu người quân tử “Úy thiên mệnh” (Luận ngữ, Quý Thị) (Sợ mệnh trời). Tiếp đó, ông phê bình kẻ tiểu nhân không biết mệnh trời lại còn không sợ mệnh trời. Khổng Tử biết mệnh trời, sợ mệnh trời là lẽ đương nhiên ở trong tự nhiên. Ông cho rằng “Phú dữ quý thị nhân chi sở dục dã, bất dĩ kì đạo đắc chi, bất xử dã, bần dữ tiện thị nhân chi sở ố
dã, bất dĩ kì đạo đắc chi, bất khử dã” (Luận ngữ, Lý nhân) - (Giàu và sang là điều ai chẳng muốn, nhưng chẳng phải đạo mà được giàu sang thì người quân tử chẳng thèm. Nghèo và hèn là điều ai lại chẳng ghét, nhưng chẳng phải đạo mà bỏ được nghèo hèn, thì người quân tử chẳng từ bỏ). Qua đó có thể thấy, điều gọi là “thiên mệnh”, kỳ thực là “thiên đạo” (đạo trời). Người quân tử mọi việc đều nên tuân theo trời, chỉ có biết mệnh trời, mới có thể tuân theo đạo trời. Ông đã khẳng định “trời” là thực chỉ tự nhiên, điều gọi là “mệnh” là thực chỉ lực lượng của tính tự nhiên tồn tại ở trong tự nhiên không bị con người tùy tiện thao túng.
Thiên mệnh quan của Khổng Tử chỉ là đại diện lời nói của một nhà. Cuối thời Xuân Thu đầu Chiến Quốc đã có người đề xuất ý kiến khác. Mặc Địch người sáng lập Mặc gia, trên căn bản là phủ nhận sự tồn tại của “mệnh”. Theo ông, xã hội trị hay loạn là ở sự giáo hoá và chính trị của kẻ thống trị, quyết không phải là ở “thiên mệnh” (mệnh trời). Người thống trị chăm lo việc triều chính và biết tự cường thì thiên hạ yên định. Nếu người thống trị không tự cường vì dân, vì nước thì thiên hạ nguy loạn. Những người kiên trì chủ trương “phi mệnh” (không có mệnh) giống như Mặc Tử trong xã hội phong kiến là rất hiếm. Ngay cả nhà tư tưởng duy vật chủ nghĩa như Vương Sung thời Đông Hán cũng tán thành quan điểm “hữu mệnh” - (có mệnh). Ông nói: “Hữu tử sinh thọ yểu chi mệnh, diệc hữu quý tiện bần phú chi mệnh” (Luận hành, Mệnh lộc thiên) - (Có mệnh chết sống, sống lâu, chết non, cũng có mệnh sang hèn nghèo giàu). Theo ông, không chỉ con người có mệnh mà tất cả động vật cũng đều có mệnh. Tuy tin có “mệnh” nhưng Vương Sung tin “mệnh” không phải là ý chí của thiên đế, mà là lực lượng tự nhiên, con người khó có thể nắm bắt và chống cự lại lực lượng đó như quỷ và thần. Ông nói: “Phú quý nhược hữu thần trợ, bần tiện nhược hữu quỷ họa” (Luận hành, Mệnh lộc thiên) (Giàu sang như có thần giúp, nghèo hèn như có quỷ gây tai vạ). Đồng thời Vương Sung chẳng vì tin tưởng có “mệnh” mà nảy sinh ý thức tiêu cực, đợi chờ để mặc; ông cho rằng: “Lực thắng bần, thận thắng họa” (Sđd) (Sức thắng nghèo, thận trọng thắng tai họa). Theo Vương Sung, điều gọi là “hữu mệnh” (có mệnh) không phải là tiêu cực, đợi chờ, mà là lấy “tinh học”, “lực tác”(1) làm tiền đề (Sđd).
Vương Sung tuy tin ở mệnh, nhưng vẫn ẩn chứa nội dung tiến thủ tích cực, có thể coi là kế thừa và phát triển học thuyết “Chết sống có mệnh, giàu sang ở trời” của Khổng Tử.
2. PHÂN TÍCH TRIẾT LÝ MỆNH
Ở thời nay các học giả lại thường bàn đến vấn đề “tri mệnh” (biết mệnh), nghĩa là làm người phải biết vận mệnh của mình. Nếu không biết trước được vận mệnh của mình thì chẳng khác như người không thấy được đường đi, rất khó tránh vấp ngã. Do đó, thông qua triển khai vấn đề “tri mệnh” đã hình thành một loạt lý luận tướng học. Theo tài liệu lịch sử tướng học của Trung Quốc từ thời Hoàng đế Chuyên Húc, người ta đã căn cứ vào đặc trưng hình thể, diện mạo của con người, suy đoán ra sự giàu sang, nghèo hèn, sống lâu, chết non và suy luận những đức hạnh tốt xấu của người đó.
Khi tướng học thịnh hành, người đứng ra công kích mãnh liệt tướng học là Tuân Tử. Ông cho rằng: “Thuật chính nhi tâm thuận chi, tắc hình tướng tuy ác nhi tâm thuật thiện, vô hại vi quân tử dã. Hình tướng tuy thiện nhi tâm thuật ác, vô hại vi tiểu nhân dã”. (Tuân Tử, Phi tướng) (Thuật ngay thẳng mà lòng thuận, thì hình tướng tuy ác mà lòng dạ thiện, không tổn hại là quân tử. Hình tướng tuy thiện mà lòng dạ ác, không tổn hại là tiểu nhân).
Tuân Tử khẳng định hình thể con người to cao, thấp bé, mặt mũi đẹp xấu không thể quyết định người đó là quân tử hay tiểu nhân. Kết luận của Tuân Tử rõ ràng, chính xác, đặc trưng diện mạo bên ngoài của con người không thể làm căn cứ để phán đoán thiện ác, hoạ phúc, giàu sang, nghèo hèn. Song, có rất nhiều người không tán đồng với quan điểm “Phi tướng” (không có tướng mệnh) của Tuân Tử. Lý luận “tướng mệnh” của Vương Sung chủ yếu là thông qua quan sát đặc trưng bên ngoài của hình thể con người mà suy biết được vận mệnh, và ông đã dẫn chứng hàng loạt diện mạo của các nhân vật lịch sử Trung Hoa để chứng minh cho điều đó (xem Vương Sung, Cốt tướng thiên). Vương Sung cho rằng: “Nhất nhân chi thân, hàm ngũ hành chi khí” (Thân thế của một con người, chứa khí của ngũ hành). Do đó, từ trong trời đất biến đổi tìm ra nguyên nhân quyết định tính mệnh thiện ác của con người và ý định từ trong thiên tướng nhiều đặc thù tìm ra đầu mối quyết định quy luật chung của tính và mệnh của con người.
Càng đi sâu nghiên cứu tướng mệnh, mọi người phát hiện chỉ qua hình tướng bên ngoài của con người để suy luận phẩm hạnh, tính nết, người ta cảm thấy vận mệnh của con người xét đến cùng vẫn thiếu liên hệ của tính tất nhiên nào đó. Cho nên đến đời Đường, Lý Hư Trung đã căn cứ vào ba yếu tố ngày tháng năm sinh của con người để tính số mệnh, vì thế mới gọi là phép “tam trụ”. Lý Hư Trung đã liên hệ âm dương ngũ hành với ngày tháng năm sinh của con người, phối với thiên can, địa chi, suy luận ra sự giàu sang nghèo hèn, sống lâu, chết non, tốt xấu, họa phúc của một đời người” (Hàn Xương Lê Văn Tông).
Trong thực tiễn, các nhà mệnh lý học phát hiện phép “tam trụ” vẫn chưa đủ tinh vi. Cho nên đến đầu đời Tống, Từ Tử Bình căn bản là dựa vào phép “tam trụ” của Lý Hư Trung phát triển, bổ sung thêm yếu tố giờ thành phép “tứ trụ”.
Các nhà mệnh lý học suy tính, các yếu tố giờ ngày, tháng, năm sinh của con người ứng với can chi hai chữ sẽ thành tám chữ, cho nên gọi là "bát tự pháp" (phép tám chữ). Căn cứ vào quan hệ biến hóa sinh khắc của âm dương, ngũ hành phối với thiên can địa chi ở trong tám chữ thì suy đoán được tình hình vận mệnh cả cuộc đời của một con người. Như vậy, phương hướng tìm tòi mệnh lý là vấn đề đời người với thời gian. Song, qua kinh nghiệm thực tế suy tìm mệnh lý các nhà mệnh lý học Trung Quốc nhận thấy không thể bỏ qua điều kiện không gian. Bởi vì, thiên can địa chi tuy chẳng phải là sáng tạo của triết lý mệnh, nhưng trong văn hóa truyền thống Trung Quốc thuộc tính ngũ hành là từ thiên can địa chi hóa thành, chịu ảnh hưởng chế ước của phương vị trời đất. Và sau khi kết hợp ngũ hành với phương vị đưa vào hệ thống tính toán địa lý, lại sản sinh một tác dụng mới, đó là căn cứ vào tình hình ngũ hành, can chi tám chữ biến hóa, suy tính điều tốt xấu, lợi hại của phương vị không gian. Hơn nữa, từ góc độ phương vị không gian lại có thể điều chỉnh hướng theo điều lợi, tránh được điều hại. Chẳng hạn, xét về phương vị khác nhau, thì phương Nam là hỏa, Đông là mộc, Bắc là thủy, Tây là kim. Hai người cùng một mệnh hỏa, một người sinh ở phương Nam một người sinh ở phương Bắc tất nhiên sẽ khác nhau. Phương Nam hỏa vượng, phương Bắc bị thủy khắc, cho nên người ở phương Nam thuận lợi hơn người ở phương Bắc.
Đặc biệt trong thiên can địa chi thể hiện chính xác thuộc tính của âm dương ngũ hành, mà những thuộc tính này lại là tiêu chí cụ thể về các thông tin của cơ thể. Cho nên âm dương ngũ hành, thiên can địa chi không những nói rõ ảnh hưởng to lớn đối với sinh lý, bệnh lý, sự thay đổi do khí hậu, mà còn nói rõ sự thống nhất cơ thể con người với hoàn cảnh sự sống xung quanh của phương vị không gian, đó là quan điểm trời và người tương ứng thành một chỉnh thể. Đúng như sách Hoàng đế nội kinh, âm dương tượng đại luận viết: “Âm dương là đạo của trời, là kỷ cương của vạn vật, là cha mẹ của sự biến hóa, là nguồn gốc của sự sinh sát” và “Sự hợp của trời đất gắn chặt với ngũ hành”.
Thật ra, vận mệnh không phải là một sức mạnh thần kì. Trong thực tế, nó là hợp lực của quy luật tự nhiên, quy luật xã hội và đặc điểm của sinh mệnh cá nhân. Chính hợp lực này đã chi phối phương thức xu thế và trong trạng thái sinh tồn, hoạt động của mỗi con người. Đối với một cá thể được chỉ định, phương thức và mức độ chịu lực khác nhau sẽ biểu hiện ra cảnh ngộ và kết cục đời người khác nhau. Sự sinh tồn và phát triển của con người quyết định bởi quy luật tự nhiên và xã hội, quyết định bởi đặc điểm sinh mệnh cá thể và sự di truyền bẩm sinh của nó. Con người chỉ có thể sinh tồn, hoạt động chọn lựa và thích nghi trong quy định thời gian, không gian chỉ định này; mà sự sinh tồn và hoạt động, sự lựa chọn và thích nghi này chính là vận mệnh.
Xét từ khía cạnh quy luật tự nhiên, thì con người là sản phẩm của tự nhiên, mọi sự sinh tồn và hoạt động của con người chỉ có thể tiến hành trong thời gian không gian mà tự nhiên tạo cho, tất cả mọi nhu cầu sinh tồn cũng chỉ có thể hấp thụ trong tự nhiên. Nghĩa là quy luật tự nhiên quyết định sự sinh tồn và phát triển của con người, quyết định sự lựa chọn và hoạt động của cá thể trong thời gian không gian chỉ định của tự nhiên. Còn đối với tự nhiên to lớn bao la và vĩnh hằng, không kể là toàn bộ hay là quần loại mãi mãi vẫn là bé nhỏ, mãi mãi vẫn chỉ là một trẻ thơ trung thực của tự nhiên. Định vượt qua hoặc là không tuân thủ quy luật tự nhiên, cứ bành trướng bản thân mình một cách không kiềm chế thì vận mệnh của nó nhất định phải bi thảm. Thế giới ngày nay do những cuồng vọng và mù quáng của con người tạo nên, như làm mất cân bằng và phá hoại sinh thái, làm ô nhiễm bầu khí quyển và cái gọi là “hiệu ứng nhà kính” làm cho chúng ta cảm thấy loài người đang đứng trước vận mệnh bi thảm, như vô vàn sự chết chóc, đói rét do hạn hán và lũ lụt gây ra. Xét từ khía cạnh tự nhiên, thì vận mệnh là sự thích nghi và mức độ tôn trọng của con người đối với quy luật tự nhiên.
Xét từ khía cạnh xã hội, cá thể con người là sản phẩm của quần loại cũng là một phần tự tạo của quần thể. Cũng giống như loài người không tách rời đại tự nhiên, sự tồn tại của cá thể cũng không thể tách rời xã hội. Quy luật xã hội tất nhiên sẽ quyết định sự lựa chọn và hoạt động của một người trong thời gian không gian chỉ định của xã hội. Sự lựa chọn và hoạt động cũng có thể xem nó như là vận mệnh. Nếu cá thể đó vi phạm quy tắc giá trị, quan niệm luân lý, phương thức sinh hoạt của quần thể, như thế thì tất nhiên sẽ gặp phải sức mạnh xã hội lớn hơn gấp hơn nhiều lần sức mạnh cá thể, nó sẽ lạnh nhạt ruồng bỏ, thậm chí bị trừng phạt. Ví như một người có tính quái dị, làm việc quá thiên tư, làm cho mọi người không ai hiểu nổi và không thể chấp nhận được, thì mọi hành vi cử chỉ của người đó tất nhiên sẽ long đong lận đận.
Từ khía cạnh xã hội, vận mệnh chính là trình độ hiểu biết, nắm bắt thông tin của con người đối với xã hội.
Xét từ khía cạnh sinh mệnh, sinh mệnh con người chịu hạn chế của kết cấu sinh lý của cá thể chỉ định, cần phải tiến hành tuyển chọn và hoạt động trong phạm vi công năng về sinh lý của nó có thể đạt tới, cũng có thể xem nó là vận mệnh. Vi phạm thiên tính của con người, không yêu quý sinh mệnh, đương nhiên sẽ không mạnh khỏe, sống lâu, dùng những phương thức vi phạm thiên tính của con người để chọn lựa, để hoạt động, đương nhiên sẽ không đạt được kết quả như mong muốn. Mặc dù chúng ta không làm cho mình “trường sinh bất tử”, cũng không thể nắm vững một cách hữu hiệu tuổi thọ và sống chết của mình, nhưng nếu mỗi người chúng ta biết dựa theo quy luật sinh mệnh để sinh tồn, thì việc kéo dài tính mệnh của mình, thực tế chứng minh là có khả năng. Chẳng hạn, người ta thường nói về sức khỏe của con người: “Bốn chín chưa qua năm ba lại tới”. Nếu ta biết được thời điểm như thế để giữ mình thì có thể tai qua nạn khỏi. Tóm lại, từ khía cạnh sinh mệnh để xét vận mệnh chính là thấu hiểu sinh mệnh.
3. VẬN MỆNH TRONG TRUYỆN KIỀU
Trong văn học cổ điển Trung Quốc thường hay nói đến ý thức sinh mệnh và tinh thần sinh mệnh của tác giả biểu hiện trong tác phẩm văn học. Nguyễn Du viết Truyện Kiều phỏng theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, (Trung Quốc), ít nhiều cũng không tránh khỏi điều đó.
Trong Truyện Kiều (TK), cuộc đời của Thúy Kiều chìm nổi chính là vận mệnh. Theo quan niệm của thời xưa, đấy là cái số do ông trời quy định, con người dù tài giỏi đến mấy cũng không thể thay đổi. Vận mệnh của con người được lặp đi lặp lại trong vòng luân hồi.
Xét từ góc độ Phật giáo, vận mệnh của mọi người trong thực tế tức là nghiệp nhân quả báo 業因果報, nhân quả báo ứng 因果报應, tức là nhân quả 因果.Đó là một trong những nguyên lý cơ bản của Phật giáo. “Nhân 因” tức là nguyên nhân, “quả 果” tức là kết quả, cũng gọi là quả báo. “Nhân 因” cũng tức là “nghiệp 業”, “nghiệp 業” là chỉ thân thể và tâm trí hoạt động phân chia làm ba nghiệp: thân thể, miệng nói và ý nghĩ. "Báo" tức là báo ứng của nghiệp, tức là do hậu quả của thiện ác do ba nghiệp đưa đến. Chúng ta hễ làm một việc, nói một câu, thậm chí động não suy nghĩ đều là gieo trồng nhân (chủng nhân 種因), cho nên mới có nhân nào thì quả ấy: gieo trồng nhân thiện thì được quả phúc, gieo trồng nhân ác sẽ được quả khổ.
Ở đây vận mệnh của Thúy Kiều được Nguyễn Du diễn đạt trong sự mâu thuẫn hay trong biện chứng đối lập giữa trời và mệnh: “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” (TK, câu 2).
Do vận mệnh được xem là đặc điểm và xu thế chung của cảnh ngộ của đời người, được quyết định một cách tuyệt đối bởi quy luật tự nhiên, xã hội và sinh mệnh, nên trạng thái tư chất bẩm sinh tự nhiên và tình hình hun đúc tài năng của xã hội khi trưởng thành, cũng sẽ tạo thành quan hệ tỷ lệ thuận với trạng thái vận mệnh. Song, theo Trần Văn Đoàn: “Ý chí con người, ước vọng tự nhiên của chúng sinh như tình ái (Kim Trọng, Thúc Sinh) cũng như tài hoa (Thúy Kiều) và quyền lực (Từ Hải) vẫn không thể thắng được định mệnh: Mưu sự tại nhân song thành sự tại thiên. Sự bất lực của con người được diễn đạt bởi niềm tin vào định mệnh, là sự bi đát vượt khỏi những bi thương thường nhật. Tính chất mất tự do của thân phận con người là một bi đát vượt xa cái bi thảm “thường tình” của con người như sinh, lão, bệnh, tử, tức là cái nghiệp mà đức Thích ca Mâu ni khám phá trước giác ngộ đạo. Cái nghiệp mà cụ Nguyễn diễn tả là một định mệnh bi đát, vượt khỏi luật nhân quả thường tình của ác giả ác báo, tức định luật mà Phật giáo xác tín như trồng dưa được hái dưa, trồng đậu được hái đậu. Đối với cụ Nguyễn, sự việc chấp nhận định mệnh giống như hành động chấp nhận một điều phi lý mà con người không thể hiểu”(2). Điều mà Trần Văn Đoàn vừa phát biểu đúng với quan niệm của Nho gia thời phong kiến, nhưng khó đứng vững được lâu dài. Bởi vì, vận mệnh của con người có được là có tính hợp tự nhiên, hợp xã hội đầy đủ, thì ắt có vận mệnh tốt, không có tính hợp tự nhiên, hợp xã hội đầy đủ thì tất nhiên không có được một đời người tốt đẹp. Cũng giống như chúng ta không có cách nào trông chờ một người trí tuệ bẩm sinh không hoàn hảo lại có thể giành được danh vọng, cũng như một người vốn ốm yếu bệnh tật lại có thể sống lâu. Chúng ta cũng không thể trông chờ một người thần thái suy nhược, dung mạo quái dị lại có được vận mệnh tốt đẹp. Đấy là do không có tính hợp tự nhiên, hợp xã hội đầy đủ. Đặc biệt trong thiên can địa chi thể hiện chính xác thuộc tính của âm dương ngũ hành, mà những thuộc tính này lại là tiêu chí cụ thể các thông tin của cơ thể. Cho nên âm dương ngũ hành, thiên can địa chi không những nói rõ sự ảnh hưởng to lớn của sinh lý bệnh lý, sự thay đổi do khí hậu, mà còn nói rõ sự thống nhất cơ thể con người với hoàn cảnh xung quanh, với phương vị không gian, tức là quan điểm trời người tương ứng thành một chỉnh thể.
Về quan điểm vận mệnh là trời định, tôi cho rằng không nói như thế được. Vận mệnh là sản phẩm của âm dương ngũ hành từ trong thiên nhiên sinh khắc chế hoá mà biến thành. Con người cũng như mọi vật sống trong thiên nhiên đều chịu ảnh hưởng sự vận động của các thiên thể chứ không một ý chí cố định nào do mệnh trời định đoạt (mà người xưa gọi là định mệnh).
Cách nhìn truyền thống của người Trung Quốc đối với vận mệnh là: Một mô thức cố định của người sinh ra đã có, quyết định sự sinh tử, thọ yểu, giàu sang, nghèo hèn, tốt xấu, vinh nhục của một đời. Một con người vừa mới thoát ra khỏi bụng mẹ đã có vận mệnh, nó chi phối đặc điểm, trạng thái, kết cục và xu thế chung của một đời. Nó quyết định bởi sức mạnh thần thánh làm chúa tể loài người và muôn vật. Sức mạnh vô hình này, người ta không thể làm thay đổi nó, nắm chắc nó; cho nên đứng trước sức mạnh thần bí của vận mệnh con người chỉ có thể nghe theo nó vô điều kiện, tiếp thu sự chi phối của nó.
Rõ ràng, quan điểm vận mệnh cổ xưa này đã biến thành một sức mạnh vô hình, phủ lên nó một lớp màu sắc thần bí. Trong dân gian xem vận mệnh đồng nghĩa với ý trời. Khổng Tử nói: “Sống chết có (số) mệnh, giàu sang ở trời”. Như vậy người ta không thể dùng lý tính để phân tích vận mệnh, cải biến vận mệnh, mà chỉ có bằng thái độ sợ hãi để xem xét vận mệnh và tiếp thu vận mệnh. Chính vì lẽ đó, cho nên theo Trần Văn Đoàn: “Sự chấp nhận định mệnh không theo nguyên lý của nhân quả, song theo cái đạo của mệnh, tức phi lý. Chính vì sự phi lý của mệnh mà Nguyễn Du biểu tả tâm tư của ông một cách vừa phẫn uất vừa nhẫn nhục qua miệng Kiều: “Đã mang lấy nghiệp vào thân” (TK, 3249) hoặc: “Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai” (TK, 708).
Nhưng khác với ông tổ hiện sinh vô thần, cụ cũng không giống như Cao Bá Quát mạt sát kiếp người:
“Ba hồi trống giục đù cha kiếp
Một lát gươm rơi đéo mẹ đời”.
(Thơ của Cao Bá Quát)
Cụ nhẫn nhục an phận theo mệnh: “Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa” (TK, 3250)(3).
Nguyễn Du giải thích căn nguyên gây ra cuộc đời oan trái của Kiều là do học thuyết mệnh trời của đạo Nho và thuyết “luân hồi”, “nhân quả” của đạo Phật, đều là những lực lượng siêu nhiên, thần bí. Gắn liền vào đó, Nguyễn Du thông qua hình tượng nhân vật với những đoạn thơ nói về “nghiệp”, “mệnh” gieo rắc không ít những tư tưởng bi quan, tiêu cực. Đấy là hạn chế của một thời đại, một chế độ mà Nguyễn Du chịu ảnh hưởng.
Ở thời phong kiến, Nguyễn Du cũng như các nhà nho Việt Nam hầu hết đều cho là, không phải chỉ có giàu nghèo, sang hèn là do trời đất, mà ngay cả những hoạt động cơ bản của người Nho sĩ, xuất hay xử, hành và tàng cũng đều do trời, hay hoàng đế. Hoàng đế có uy quyền tuyệt đối. Hoàng đế thay trời trị dân. Người dân chỉ có phục tùng theo lệnh của vua, của hoàng đế. Nguyễn Du hiểu rõ điều đó, cho nên động thái chống lại trật tự phong kiến của ông tế nhị hơn, uyển chuyển hơn. Qua câu thơ: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” (TK, 420)
Cho ta thấy đối với Nguyễn Du mệnh trời không phải là cố định vĩnh hằng, mà có thể biến đổi được.
Qua nhân vật Từ Hải trong Truyện Kiều chúng ta lại càng nhận rõ, Từ Hải chống lại triều đình. Tuy Từ Hải còn mang trong mình tình cảm cá nhân, vẫn bị cuốn hút vào con đường “lộc trọng quyền cao”, cho nên bị Hồ Tôn Hiến tên quan đại thần lừa gạt, giết hại. Song, Nguyễn Du tả Từ Hải là một con người có khí phách, trí lực phi thường “Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài”. Từ Hải là con người sống khác hẳn bọn quan lại “vào luồn ra cúi” để tranh nhau hai chữ “công hầu”. Từ Hải sống một cuộc đời “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”. Lúc này, thái độ Từ Hải tỏ ra phản phong khá mạnh mẽ. Điều đó chứng minh Từ Hải có thể đánh đổ triều đại phong kiến này lập triều đại phong kiến khác. Cái triều đình phong kiến Việt Nam ở thế kỷ XVIII cường quyền tàn bạo, thối nát, con người bị chà đạp, bị áp bức sẽ vùng dậy quật ngã bọn vua quan “mũ cao áo dài” của xã hội phong kiến. Nhưng mọi người đều thừa nhận có sự sinh tồn của loài người thì sẽ có vận mệnh và do trời quyết định, cho nên không dám làm trái mệnh trời. Họ chưa nhận thức được vận mệnh chịu sự kiềm chế của cả hai quy luật tự nhiên và xã hội. Sự kiềm chế này đã được quy định và khách quan. Thật ra nó không phải là một sức mạnh thần bí, mà là một sức mạnh khách quan có thể miêu tả và phân tích, nó có thành phần của “tiên thiên” mà cũng có thành phần của “hậu thiên”. Vì vậy, có thể nắm chắc và thông qua phương thức nhất định để dự đoán nó(4). Chỉ cần mỗi người chúng ta tôn trọng quy luật tự nhiên và xã hội, tiến hành chọn lựa và phấn đấu tích cực bằng lý trí vượt mọi khó khăn trở ngại, quyết tâm hoàn thành tốt sự nghiệp của mình thì vận mệnh sẽ có thể biến đổi trong một chừng mực và phạm vi nhất định. Đây chính là sự phân biệt căn bản về thực chất của vận mệnh, khiến cho người ta được thoát ra khỏi sự ràng buộc của vận mệnh xưa cũ. Chúng ta nên tích cực nhìn thẳng vào và nghiên cứu những phương thức độc đáo đoán mệnh, từ đó dùng luận chứng khoa học làm cho người ta thoát khỏi vũng lầy mê tín thần bí, thúc đẩy bước tiến văn minh. Mặt khác, qua quá trình lịch sử lâu dài, vấn đề “vận mệnh” đã đề ra hàng loạt đặc trưng có liên quan đến sinh lý và tâm lý sẵn có của con người, mà các đặc trưng tâm lý, sinh lý này lại chuyển hóa thành cơ chế văn hoá tâm linh, tham dự vào kết cấu của nền văn hoá dân tộc và hình thành một hiện tượng văn hóa đặc biệt, tỏ rõ sức sống mãnh liệt của nó. Vì thế, cho dù xét từ khía cạnh nghiên cứu văn hoá tâm linh cũng cần phải có thái độ tích cực để nghiên cứu nó, chứ không thể không chú ý đến sự tồn tại của hiện tượng văn hóa này, mà đối xử thô bạo với nó. Tâm linh trong sáng tác văn học nghệ thuật là những hình ảnh, biểu tượng thiêng liêng nào đó mà tác giả thể hiện ra trong tác phẩm làm rung động những trái tim, ngấn lệ những tâm hồn. Muốn được như vậy nhà sáng tạo nghệ thuật thực sự phải có đời sống tâm linh cảm thụ đối tượng, để sáng tạo ra tác phẩm đến độ thiêng liêng nhất. Đọc Truyện Kiều ta xót thương cho thân phận nàng Kiều, các bà các chị trước đây ai mà không bói một trang Kiều, tìm một mảnh đời mình trong đó.
Nhưng chúng ta cứ theo quan niệm vận mệnh của người xưa thì tự mình ràng buộc tính năng động chủ thể của con người, làm cho con người trở thành nô lệ tiếp thu vận mệnh và nghe theo sự sắp đặt của vận mệnh, từ đó trở thành công cụ nảy sinh sự ngu muội và lạc hậu. Vì thế, vận mệnh quan xưa là một quan niệm ràng buộc thiên tính tự do và tính sáng tạo của con người, làm trở ngại văn minh tiến triển. Khi người ta còn chưa nhận thức được sự hoạt động sinh tồn của con người là do chịu sự kiềm chế của quy luật tự nhiên và xã hội thì thường xuyên tự hỏi không biết tại sao số mình lại như thế? Sự tiến hóa và văn minh của loài người là cả một quá trình lịch sử phấn đấu không ngừng để cải thiện vận mệnh của mình, cho nên mọi người cùng phát huy bằng chính nội lực và trí tuệ của mình, không cầu xin, đợi chờ phúc lành từ đâu tới, thì ta nhất định sẽ vượt qua được cái số mệnh hẩm hiu, mà lâu nay chúng ta thường cho là do mệnh trời.
Chú thích:
(1) Tinh học: học tinh sâu. Lực tác: làm hết sức (mình).
(2) Trần Văn Đoàn: Việt triết luận tập, Thượng tập, tài liệu lưu trữ tại Thư viện Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, kí hiệu Vb.7276, tr.209-210.
(3) Trần Văn Đoàn, tài liệu đã dẫn, tr.211.
(4) Bạch Tuyết, Thiên thời, địa lợi, nhân hòa (Nguyễn An, Nguyễn Văn Mậu dịch), Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 1998, tr.63./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (94) 2009; Tr. 3-10)