Diên cách Chu Tử học tại Việt Nam: từ Tứ thư chương cú tập chú đến Tứ thư ước giải (Tạp chí Hán Nôm, số 5 (114) 2012; tr.3 - 21)
Thứ Sáu, 06/12/2013 16:14
Diên cách Chu Tử học tại Việt Nam: từ Tứ thư chương cú tập chú đến Tứ thư ước giải (Tạp chí Hán Nôm, số 5 (114) 2012; tr.3 - 21)
DIÊN CÁCH CHU TỬ HỌC TẠI VIỆT NAM: TỪ TỨ THƯ CHƯƠNG CÚ TẬP CHÚ ĐẾN TỨ THƯ ƯỚC GIẢI TS. NGUYỄN TUẤN CƯỜNG Trường Đại học KHXH & Nhân văn, Hà Nội 1. Tiểu dẫn Vào thời Nam Tống, Chu Hi 朱熹(1130-1200) đã áp dụng thể “chương cú” và thể “tập chú” trong phương pháp chú giải kinh điển để thông diễn Tứ thư, viết thành bộ Tứ thư chương cú tập chú四書章句集注, hay còn gọi là Tứ thư tập chú四書集注. Bộ sách này sau khi ra đời đã tạo nên một phong trào nghiên cứu Tứ thư học, “khiến cho kinh học Nho gia chuyển hướng từ chương cú huấn hỗ sang thông diễn nghĩa lí, mở ra một hướng mới cho tư tưởng Nho học từ trực quan kinh điển thăng hoa thành tư biện trừu tượng” [Lục Hiến Tù, 2002, tr.1]. Với ảnh hưởng xã hội to lớn ấy, Tứ thư chương cú tập chú đã sớm lưu truyền sang Việt Nam. Theo ghi chép trong bộ tín sử Đại Việt sử kí toàn thư 大越史記全書, năm 1253, vua “xuống chiếu vời Nho sĩ trong nước đến Quốc tử viện giảng tứ thư lục kinh” [1993, tr.25]; rất có thể là ngay từ khi ấy, Tứ thư chương cú tập chú đã lưu hành tại Việt Nam. Đến đời nhà Hồ, Hồ Quý Li 胡季犛(1336 - 1407) đã làm sách Quốc ngữ Thi nghĩa 國語詩義và viết bài tựa theo hơi hướng phản đối Thi kinh tập truyện 詩經集傳của Chu Tử [1993, tr.190]. Vậy hẳn là vào thời điểm đó, không chỉ có Thi kinh tập truyện mà các sách chú giải kinh điển khác của Chu Tử như Tứ thư chương cú tập chú cũng đã lưu hành rộng rãi ở Việt Nam. Sự lưu hành của Tứ thư chương cú tập chú đã ảnh hưởng tới nhiều trước tác của Nho gia Việt Nam, trong đó có Tứ thư ước giải. Tứ thư ước giải 四書約解(gọi tắt: Ước giải) là bộ thư tịch cổ của Việt Nam dịch Tứ thư từ tiếng Hán (dùng chữ Hán) sang tiếng Việt (dùng chữ Nôm), có kèm các chú giải bằng Hán văn. Văn bản mà người dịch chú dựa vào chính là bản Tứ thư chương cú tập chú (gọi tắt: Tập chú) của Chu Hi. Từ góc nhìn thông diễn học (hermeneutics, 詮釋學), bài viết này đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu sự duy trì (diên) và thay đổi (cách) trong phần chú giải bằng Hán văn từ bản Tập chú đến bản Ước giải để tìm hiểu mục đích, quan điểm và phương pháp chú giải của Ước giải trong mối quan hệ so sánh với Tập chú, từ đó thực hiện một “nghiên cứu trường hợp” (case study, 案例研究) đối với sự tiếp biến quan niệm kinh học của Chu Tử tại Việt Nam. Về bản Tứ thư ước giải, văn bản gốc duy nhất hiện còn lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội, Việt Nam), gồm 5 kí hiệu sách AB.270/1-5 với tổng số 458 tờ hai mặt (= 916 trang), in theo ván khắc năm Minh Mệnh thứ 20 (1839)(1), Liễu Văn đường tàng bản(2), văn bản này từng được Lê Quý Đôn 黎貴惇 (1726 - 1784) hiệu đính(3) (xin xem ảnh chụp trang bìa, kí hiệu sách AB.270/1). Tên đầy đủ của mỗi bộ kinh điển trong Tứ thư ước giải là “Tứ thư ước giải XXX giải quốc âm nghĩa tăng bổ đại toàn bị chỉ” (四書約解XXX解國音義增補大全備旨), trong đó XXX lần lượt là nhan đề của một trong Tứ thư (Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử). Để giản tiện, xin gọi tắt nhan đề mỗi bộ kinh điển trong Tứ thư ước giải lần lượt là Đại học ước giải, Trung dung ước giải, Luận ngữ ước giải, Mạnh Tử ước giải. Trong bốn bộ kinh điển này, chỉ có Luận ngữ ước giải là thiếu 14/20 thiên (từ Học nhi đệ nhất đến Hiến vấn đệ thập tứ), ba bộ còn lại đều đủ bộ. Bài viết này lựa chọn hai phần văn bản của Ước giải là Đại học ước giải và Trung dung ước giải làm tư liệu nghiên cứu chủ yếu, hai phần này đều nằm ở kí hiệu sách AB.270/1, gồm tổng cộng 64 tờ (128 trang)(4). Ngoài ra, ở một số trường hợp cần thiết, bài viết cũng đưa thêm tư liệu từ các phần khác của Tứ thư ước giải. Theo khảo cứu mới nhất của tôi (sắp công bố), niên đại hoàn thành “tác phẩm” (chứ không phải “văn bản”) Tứ thư ước giải có thể vào khoảng thế kỉ XVII, tác phẩm ấy ít nhất đã được khắc ván 5 lần với số ván khắc ở mỗi lần khác nhau: lần thứ nhất trước thời Lê Quý Đôn (1726 - 1784) sống hoặc khi ông còn trẻ, lần thứ hai trong khoảng các năm 1752 - 1784 do đích thân Lê Quý Đôn hiệu đính văn bản và viết thêm bài Tựa, lần thứ ba do Hải Học đường khắc trong khoảng 1811-1814, lần thứ tư do Úc Văn đường khắc bổ sung năm 1839, lần thứ năm cũng do Úc Văn đường khắc bổ sung từ sau năm 1847. Việc được khắc ván và in ấn nhiều lần cho thấy Tứ thư ước giải đã có tầm ảnh hưởng xã hội rất rộng lớn, đó cũng là câu trả lời cho câu hỏi: tại sao trong thế kỉ XIX, ở Việt Nam đã khắc in hàng loạt tác phẩm thuộc hệ thống sách tiết yếu cho Tứ thư Ngũ kinh đại toàn(5), nhưng trong đó chỉ có các bản “diễn nghĩa” (dịch Nôm) cho Ngũ kinh, chứ không hề có bản “diễn nghĩa” Tứ thư, bởi vì vai trò dịch Nôm đã được bộ Tứ thư ước giải đảm nhận trọn vẹn. Về bản Tứ thư chương cú tập chú của Chu Hi, bài viết sử dụng văn bản trong cuốn sách nhan đề Tứ thư chương cú tập chú 四書章句集注 do Trung Hoa thư cục in năm 1983 theo khổ chữ dọc, cuốn sách này thuộc bộ Tân biên chư tử tập thành 新編諸子集成 gồm 60 tập do Trung Hoa thư cục ấn hành. 2. So sánh về hình thức văn bản và ngôn ngữ 2.1. Hình thức văn bản Cách trình bày văn bản trong Ước giải như sau: 1). Một đoạn kinh văn bằng chữ Hán khổ to; 2). Phần dịch bằng chữ Nôm theo khổ chữ nhỏ dạng lưỡng cước: 3). Một khuyên tròn để chuyển sang phần chú giải bằng Hán văn (cũng theo khổ chữ nhỏ dạng lưỡng cước) cho đoạn kinh văn đó, phần thứ ba này có thể không có, tùy theo từng đoạn kinh văn (xin xem ảnh chụp minh họa tờ 1a, quyển II, kí hiệu sách AB.270/1). Bài viết gọi mỗi “bộ ba” trên là một “phiến đoạn” (片段). Cũng cần phải nói thêm rằng, nhiều lúc giữa Ước giải và Tập chú không thống nhất với nhau về vị trí đặt chú giải, như có khi cùng một nội dung, Tập chú tập trung chú giải cho cả đoạn dài, còn Ước giải lại tách thành nhiều chú giải nhỏ cho nhiều phiến đoạn. Trong trường hợp đó, bài viết lấy những phiến đoạn trong Tứ thư ước giải làm bản vị để tìm và trích những nội dung chú giải tương ứng trong Tứ thư chương cú tập chú để so sánh, đối chiếu. Theo cách tính này, Đại học ước giải có 349 phiến đoạn, Trung dung ước giải có 766 phiến đoạn, tổng số phiến đoạn là 1115. Đối với phần chú thích chữ Hán của Ước giải, sau khi đối chiếu với Tập chú tôi nhận thấy, xét theo hai tiêu chí là “ngôn từ dùng để chú giải” và “nghĩa lí được chú giải”, có thể xảy ra 7 trường hợp được đánh chỉ số từ (1) đến (7) trong bảng dưới đây. Theo cách phân loại này, khi áp dụng với toàn bộ 1115 phiến đoạn kể trên(6), sẽ rút ra những số liệu được biểu thị trong bảng thống kê và biểu đồ sau:
Phân loại | ĐHƯG | TDƯG | Tổng | % (≈) | Nhóm | (1). Ước giải theo đúng Tập chú | 51 | 85 | 136 | 12% | 37% | A | (2). Ước giải theo Tập chú nhưng vắn tắt hơn Tập chú | 11 | 77 | 88 | 8% | (3). Ước giải và Tập chú đều không có chú giải | 35 | 154 | 189 | 17% | (4). Ước giải khác hẳn Tập chú | 110 | 128 | 238 | 22% | 63% | B | (5). Ước giải theo Tập chú nhưng chi tiết hơn Tập chú | 60 | 65 | 125 | 11% | (6). Ước giải có chú giải, Tập chú không có | 65 | 95 | 160 | 14% | (7). Tập chú có chú giải, Ước giải không có | 17 | 162 | 179 | 16% | | 349 | 766 | 1115 | | | |
Trong những số liệu trên, có thể nhận thấy rằng các chỉ số (1), (2), (3) thuộc nhóm A (phần có nét chấm trên biểu đồ), thể hiện sự duy trì (diên) về mặt chú giải; còn các chỉ số (4), (5), (6), (7) thuộc nhóm B (phần có nét gạch trên biểu đồ) thể hiện sự thay đổi (cách) về mặt chú giải giữa hai bản. Tất nhiên, mỗi chỉ số có mức độ quan trọng khác nhau đối với giá trị mà nó thể hiện. Ví dụ, trong nhóm B, chỉ số (5) là “Ước giải theo Tập chú nhưng chi tiết hơn Tập chú” vừa thể hiện việc Ước giải giữ lại tập chú, nhưng cũng cho thấy Ước giải đã có bổ sung so với Tập chú, bởi nhấn mạnh đến sự bổ sung này nên bài viết xếp chỉ số (5) vào nhóm B chứ không phải nhóm A. Xuất phát từ thống kê định lượng, có thể thấy rằng Ước giải duy trì ít nhất 37% những nội dung chú giải trong Tập chú, và có đến 67% khác với Tập chú. So sánh với Thi kinh giải âm Những con số này hết sức ấn tượng nếu đem so sánh với với phần chú giải trong Thi kinh giải âm詩經解音, văn bản in theo ván khắc của nhà tàng bản Kế Thiện đường 繼善堂 khắc năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714), hiện lưu tại Thư viện Viện Văn học (Hà Nội, Việt Nam) trong 4 kí hiệu sách HN.527-530, văn bản này đã được Sùng Chính viện cho khắc lại vào năm Quang Trung thứ 5 (1792) theo chiếu chỉ của vua Quang Trung yêu cầu dịch gấp một số bộ kinh điển Nho gia(7). Hai văn bản Tứ thư ước giải và Thi kinh giải âm có rất nhiều đặc điểm giống nhau: cùng là dịch Nôm kinh điển có chú thích, cùng lối dàn trang, cùng dạng nét chữ khắc in, cùng lối cấu trúc chữ Nôm, cùng một đặc điểm từ cổ tiếng Việt, tức là về mặt nội tại (văn bản, văn tự, ngôn ngữ) thì tương đồng. Điều này khiến tôi nghĩ rằng truyền bản đầu tiên của hai văn bản ấy cũng được ra đời trong cùng một bối cảnh thời gian, tức là khoảng đầu thế kỉ XVIII. Có thêm hai chứng cứ ngoại tại ủng hộ giả thiết đó. Một là trong bài viết đã công bố, khi khai thác các thông tin từ bài Trùng san Tứ thư ước giải tự重刊四書約解序của Lê Quý Đôn, tôi đã phán đoán rằng hẳn phải có một truyền bản Tứ thư ước giải lưu hành ngay khi Lê Quý Đôn (1726-1784) còn sống [Nguyễn Tuấn Cường, 2010], thậm chí trước khi ông ra đời, rồi ông được đọc văn bản ấy, thấy nó phù hợp với việc giảng dạy của mình, nên đưa đi khắc in lại, rất có thể đã biên tập thêm. Hai là những ghi chép trong Lịch triều tạp kỉ 曆朝雜紀 gián tiếp cho biết, trong những năm Vĩnh Thịnh (1705 - 1719) thời Lê Dụ Tông đã có hai yếu tố mang tính điều kiện để các bản dịch Nôm kinh điển Nho gia được khắc in và lưu hành phổ biến: 1). Thái độ với chữ Nôm của nhà cầm quyền là khá mềm dẻo, nhiều chúa Trịnh yêu thích thơ văn Nôm, chữ Nôm thậm chí còn được đưa vào khoa cử: ngày 4 tháng 7 mùa thu năm 1715, thi Sĩ vọng, trong đề thi có một bài cho phép: “Bài này cho làm bằng Nôm” [1995, tr.202]. 2). Năm 1718, Phủ liêu vâng mệnh truyền cho cả nước: “Phàm các sách vở gì có quan hệ đến việc giáo hóa ở đời thì mới nên khắc in và lưu hành. Gần đây, những kẻ hiếu sự lượm lặt càn bậy những truyện tạp nhạp và lời quê kệnh bằng quốc âm, không biết phân biệt nên hay chăng, cứ khắc vào ván gỗ, in ra để buôn bán. Việc đó đáng nên cấm chấp. Từ nay về sau, hễ nhà nào có chứa chấp các ván in sách và các sách in nói trên thì cho phép viên quan đi ốp làm, việc ấy được lục soát, tịch thu, rồi tiêu hủy hết cả” (Những đoạn in nghiêng là do tôi nhấn mạnh - NTC). [1995, tr.269]. Thi kinh giải âm và Tứ thư ước giải nằm trong nhóm “các sách vở gì có quan hệ đến việc giáo hóa ở đời”, bởi chúng góp phần quảng bá “cái đạo của thánh kinh hiền truyện”, vì vậy mới được “khắc in và lưu hành” trong khoảng thời gian đầu thế kỉ XVIII ấy. Như vậy là giữa Tứ thư ước giải và Thi kinh giải âm có nhiều đặc điểm tương đồng về văn bản, ngôn ngữ, văn tự, và niên đại thành thư. Tuy có những đặc điểm giống nhau như thế, nhưng giữa hai bản ấy lại có một đặc điểm rất khác nhau: trong khi phần chú giải của Thi kinh giải âm hoàn toàn theo đúng với những chú giải trong Thi kinh tập truyện 詩經集傳 của Chu Hi, thì Tứ thư ước giải đã thay đổi tới gần 2/3 nội dung chú giải. Để lí giải sự khác biệt này, bài viết đưa ra hai nguyên nhân, một là cấu trúc văn bản khác nhau, hai là sự tham gia của người hiệu đính. Về nguyên nhân thứ nhất, nếu Tứ thư ước giải tách rời kinh văn thành từng “phiến đoạn” và đặt chú ngay sau phiến đoạn kinh văn ấy, tức là khác với cách đặt chú trong Tứ thư tập chú; thì Thi kinh giải âm lại trình bày dồn cụm kinh văn từng chương của mỗi bài thơ và dịch Nôm ngay dưới mỗi câu thơ trong chương ấy (có thể thêm chú giải về âm đọc những chữ khó), rồi sau đó lại dồn cụm tập chú cho toàn bộ chương đó (xin xem ảnh chụp minh họa tờ 1a, quyển VI, kí hiệu sách HN.529), đây là cách trình bày giống với Thi kinh tập truyện. Có nghĩa là trong khi Thi kinh giải âm giữ nguyên cấu trúc trình bày của Thi kinh tập truyện, thì Tứ thư ước giải lại phá vỡ cấu trúc của Tứ thư chương cú tập chú, xé lẻ cả phần kinh văn và phần chú giải, nên có điều kiện thuận lợi để thay đổi các nội dung chú giải đồng thời với sự thay đổi cấu trúc trình bày văn bản. Về nguyên nhân thứ hai, tức sự tham gia của người hiệu đính, tôi cho rằng bản thân Lê Quý Đôn đã sửa chữa văn bản Ước giải rồi mới cho in. Sự mở rộng về quốc văn (in sách chữ Nôm) đầu thế kỉ XVIII, kết hợp với lệnh của Phủ liêu dẫn trên chính là điều kiện ưu việt để sản sinh ra những cuốn sách dịch Nôm kinh điển Nho gia như Thi kinh giải âm và Tứ thư ước giải. Ban đầu, có thể những văn bản này đều tuân theo chú giải của Chu Hi (như trong Thi kinh giải âm, 1714), nhưng sau đó do Tứ thư ước giải đã kinh qua sự hiệu đính của Lê Quý Đôn nên mới có độ “lệch chuẩn” so với bản gốc của Chu Hi; trong khi Thi kinh giải âm thì hoàn toàn theo Chu Hi và không bị/ được sửa chữa, kể cả khi nó được Sùng Chính viện của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp 阮浹khắc in lại năm 1792 theo lệnh vua Quang Trung. Cũng cần biết rằng, theo nghiên cứu của Hoàng Xuân Hãn, hai tờ truyền của Quang Trung gửi cho Nguyễn Thiếp đề ngày mùng một và mùng bốn tháng sáu (âm lịch) năm 1792, hạn trong 3 tháng phải dịch xong Thi, Thư, Dịch, trong đó Thi phải dịch gấp trước [Hoàng Xuân Hãn, 1998, tr.1072]; mà bản Thi kinh giải âm của Sùng Chính viện được in trong mùa thu(8) năm 1792, tức trong tối đa 4 tháng, việc biên soạn và khắc in đã hoàn thành. Thật nan giải cho Sùng Chính viện nếu trong một thời gian ngắn như thế phải dịch Nôm, soạn chú, và khắc in một văn bản dày 976 trang. Với điều kiện ấy, dù có muốn tái chú giải Kinh Thi thì Nguyễn Thiếp cũng khó mà thực hiện được, vậy nên ông chọn giải pháp in lại nguyên vẹn bản Thi kinh giải âm niên đại 1714 mà hầu như không sửa chữa gì. 2.2. Hình thức ngôn ngữ Sau đây tôi sẽ phân tích, so sánh phần chú thích của bản Ước giải so với bản Tập chú. Trong khuôn khổ một bài viết, tôi chỉ tập trung phân tích chương đầu của Đại học và Trung dung, cũng là phần trọng yếu nhất của hai cuốn kinh điển này. (¬) Nếu cắt bỏ toàn bộ kinh văn chỉ còn lại phần tập chú của Chu Hi và phần chú giải của bản Ước giải, tức là chỉ giữ lại phần chú giải của cả hai bản, thì chương đầu của Đại học chương cú tập chú có 691 lượt chữ, của Đại học ước giải có 744 lượt chữ (nhiều hơn số lượt chữ trong Tập chú), hai phần chú giải này chỉ trùng nhau 367 lượt chữ; tình hình lại hơi khác đối với Trung dung: chương đầu của Trung dung chương cú tập chú có 949 lượt chữ, của Trung dung ước giải chỉ có 450 lượt chữ (chưa bằng một nửa Tập chú), hai phần chú giải này chỉ trùng nhau 163 lượt chữ. Những mối quan hệ này được thể hiện trong biểu đồ dưới đây: Như vậy có thể thấy, mức độ tỉ mỉ hay sơ sài của phần chú thích trong bản Ước giải không thống nhất giữa toàn bộ các chương, mà có độ tăng giảm tùy theo quan điểm chú giải của bản Ước giải. Trong trường hợp chương đầu này, bản Ước giải tập trung ngôn từ để chú giải cho Đại học nhiều hơn cho Trung dung, đặc biệt với trường hợp Đại học, bản Ước giải còn sử dụng nhiều chữ hơn cả bản Tập chú, trong khi với trường hợp Trung dung thì số chữ bản Ước giải sử dụng chưa bằng một nửa số chữ trong Tập chú. Trong cả hai trường hợp ấy, độ dài văn bản chú giải trùng nhau giữa Tập chú và Ước giải đều khá thấp (xem phần trống trong hai biểu đồ), chứng tỏ khi xét về định lượng, bản Ước giải khác biệt rất nhiều so với bản Tập chú. Khi xem xét cụ thể vào từng phần chú giải, có thể nhìn nhận sự khác biệt về chú giải giữa Tập chú và Ước giải từ góc độ “ngôn từ dùng để chú giải”. Ngôn từ dùng để chú giải (từ pháp, cú pháp) Nếu Tập chú chủ trương sử dụng văn ngôn để chú giải, thì Ước giải có thiên hướng chuyển dùng Hán ngữ bạch thoại trung đại. Về mặt từ pháp, có một loạt từ ngữ đặc trưng cho giai đoạn tiếng Hán này được Ước giải sử dụng: thị 是được dùng phổ biến với tư cách hệ từ (‘là’); sở dĩ 所以 dùng với nghĩa ‘cho nên’; đô 都dùng như một phó từ chỉ phạm vi bao quát (‘đều’), như giai 皆trong văn ngôn; cai 該dùng làm động từ năng nguyện (‘nên, phải’); sử dụng cả bổ ngữ xu hướng đơn (lai 來) và bổ ngữ xu hướng kép (xuất lai 出來); ngoài ra còn một số cách nói như chỉ tại只在 (‘chỉ ở’), khước yếu 却要 (‘lại muốn). Ví dụ về 是 trong Ước giải: “近道是近大學之道” Cận đạo thị cận đại học chi đạo (Gần đạo là gần đạo đại học); “道是日用當然之理” Đạo thị nhật dụng đương nhiên chi lí (Đạo là cái lí đương nhiên hằng ngày); “修是品節栽成意” Tu thị phẩm tiết tài thành ý (Tu nghĩa là phẩm tiết vun bồi nên); “須臾是一刻間” Tu du thị nhất khắc gian (Tu du là trong một khoảnh khắc); “君子是體道之人” Quân tử thị thể đạo chi nhân (Quân tử là người thể hội được đạo); “戒慎是敬謹不忽意” Giới thận thị kính cẩn bất hốt ý (Giới thận nghĩa là kính cẩn không lơ là); “恐惧是敬畏不忽意.不聞是未及聽之時” Khủng cụ thị kính úy bất hốt ý. Bất văn thị vị cập thính chi thì (Khủng cụ nghĩa là kính nể không lơ là. Bất văn là lúc chưa kịp nghe); “見是著見, 隐是暗處” Hiện thị trước hiện, ẩn thị ám xứ (Hiện là rõ ràng, ẩn là nơi kín); “顯是明顯,微是细事” Hiển thị minh hiển, vi thị tế sự (Hiển là sáng tỏ, vi là việc tỉ mỉ); “發是喜怒哀樂之見. 中節是合于當然之節度” Phát thị hỉ nộ ai lạc chi hiện. Trúng tiết thị hợp vu đương nhiên chi tiết độ (Phát là hỉ nộ ai lạc thể hiện ra. Trúng tiết là hợp với tiết độ đương nhiên); “大是無所不統意. 本是根源” Đại thị vô sở bất thống ý. Bản thị căn nguyên (Đại nghĩa là thống thuộc mọi thứ. Bản là nguồn gốc); “達是無所不通意. 道是人所共由之路” Đạt thị vô sở bất thông ý. Đạo thị nhân sở cộng do chi lộ (Đạt nghĩa là thông suốt tất cả. Đạo là con đường mà mọi người cùng đi); “位是安其所” Vị thị an kì sở (Vị là yên với chỗ của mình); “育是遂其生” Dục thị toại kì sinh (Dục là thuận theo sự sống của mình). Ví dụ về 所以, 都, 該, 出來, 來, 只在, 却要trong Ước giải: “所以人之尊卑雖不同,都該以修身爲本也” Sở dĩ nhân chi tôn ti tuy bất đồng, đô cai dĩ tu thân vi bản dã (Cho nên tôn ti của người ta dù không giống nhau, nhưng đều phải lấy tu thân làm gốc vậy); “率性言此心随吾本然之性發出來” Xuất tính ngôn thử tâm tùy ngô bản nhiên chi tính phát xuất lai (Xuất tính là nói tâm ấy tùy cái tính bản nhiên của ta mà phát ra); “道字承命於天,率於性來” Đạo tự thừa mệnh ư thiên, suất ư tính lai (Chữ đạo là vâng mệnh trời, noi theo tính mà ra); “欲致其知, 只在即物以穷其理…” Dục trí kì tri, chỉ tại tức vật dĩ cùng kì lí (Muốn trí tri, chỉ ở chỗ đến với vật để hiểu trọn cái lí của nó); “若不能修身, 是本先乱, 却要家齊、國治、天下平, 必無是理矣” Nhược bất năng tu kì thân, thị bản tiên loạn, khước yếu tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, tất vô thị lí hĩ (Nếu không thể tu thân thì cái gốc ấy loạn trước, lại muốn tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, ắt không có cái lẽ ấy). Về mặt cú pháp, với cùng nội dung ngữ nghĩa nhưng Ước giải nhiều lần dịch cách diễn đạt bằng văn ngôn của Tập chú sang cách diễn đạt bằng bạch thoại trung đại, tiêu biểu là với kiểu câu phán đoán (‘A là B’).
Tập chú | Ước giải | Dịch nghĩa | Phân tích | 位者, 安其所也 | 位是安其所 | Vị là yên với chỗ của mình. | Đổi cấu trúc giả dã 者也thành cấu trúc hệ từ thị 是. | 育者, 遂其生也 | 育是遂其生 | Dục là thuận theo sự sống của mình. | 隱, 暗處也. | 隐是暗處. | Ẩn là nơi kín. | 微, 細事也. | 微是细事. | Vi là việc tỉ mỉ. |
Đặc điểm từ vựng và cú pháp nêu trên chứng tỏ người làm chú giải trong bản Ước giải đã chịu ảnh hưởng của tiếng Hán bạch thoại trung đại. Việc đưa tiếng Hán bạch thoại trung đại vào chú giải khiến cho văn bản chú giải (Ước giải) trở nên dễ hiểu hơn với người đương thời, bởi văn ngôn, tức ngôn ngữ trong Tứ thư, Ngũ kinh, ngày càng xa rời ngôn ngữ nói (bạch thoại), khiến hậu nhân ngày càng khó hiểu. Chính Lê Quý Đôn trong bài Tựa cho Ước giải cũng đã than phiền về sự khó hiểu này [Nguyễn Tuấn Cường, 2010]. 3. So sánh về nội dung chú giải kinh điển 3.1. Về thủ pháp chú giải Xét về mặt thủ pháp chú giải trong mối quan hệ so sánh với phần chú giải trong Tập chú, thì Ước giải sử dụng ba thủ pháp là nguyên chú, bổ chú và lược chú. (a). Nguyên chú: Theo bảng thống kê đã trình bày trong mục “2.1. Hình thức văn bản” ở trên, nhóm (1). “Ước giải theo đúng Tập chú” gồm có 12% tổng số chú giải, tức là có 136 trên tổng số 1115 phiến đoạn của toàn văn Đại học và Trung dung được Ước giải sao chép nguyên văn từ Tập chú. Trong số 88% chú giải còn lại, Ước giải vẫn thường xuyên sử dụng lại chú giải trong Tập chú một cách mặc dù có gia giảm, thêm bớt ít nhiều. Như vậy, hàm lượng sử dụng thủ pháp nguyên chú tối thiểu là 12%. Ví dụ, để chú giải cho đoạn kinh văn “意誠而後心正” Ý thành nhi hậu tâm chính (Ý thành rồi sau tâm chính) trong sách Đại học, thì Ước giải theo đúng chú giải trong Tập chú là “意既實,則心可得而正矣” Ý kí thực, tắc tâm khả đắc nhi chính hĩ (Ý đã thành thực, thì tâm có thể được chính vậy). (b). Bổ chú: Ước giải thêm vào một số đoạn chú giải nghĩa lí không có trong Tập chú, để diễn giải thêm về nghĩa lí của kinh văn và Tập chú. Hiện tượng này xuất hiện rất nhiều trong phần chú giải cho Đại học (xin xem Phụ lục). Ví dụ, cùng chú giải cho đoạn kinh văn trong sách Đại học: “物有本末,事有終始,知所先後,則近道矣” Vật hữu bản mạt, sự hữu chung thủy, tri sở tiên hậu, tắc cận đạo hĩ (Vật có gốc ngọn, việc có đầu cuối, biết chỗ trước sau, thì gần đạo rồi), Tập chú chỉ viết ngắn gọn: “明德為本,新民為末。知止為始,能得為終。本始所先,末終所後。此結上文兩節之意” Minh đức vi bản, tân dân vi mạt. Tri chỉ vi thủy, năng đắc vi chung. Bản thủy sở tiên, mạt chung sở hậu. Thử kết thượng văn lưỡng tiết chi ý (Minh đức là gốc, tân dân là ngọn. Tri chỉ là đầu, năng đắc là cuối. Gốc và đầu là trước, ngọn và cuối là sau. Đó là kết lại cái ý của hai tiết ở đoạn trên); trong khi đó Ước giải viết rất chi tiết, nhưng cũng không thoát ra ngoài đại ý của Chu Tử: “[物有本末],明德為本,新民為末。合而觀之,明德、新民皆物也。然必明德方可新民,物不有本末乎! [事有終始],知止為始,能得為終。合而觀之,知止、能得皆事也。然必知止方纔能得,事不有終始乎![知所先後],本與始所該先,末與終所該後。此結上文兩節之意。[則近道矣]。近道是近大學之道 - [Vật hữu bản mạt] Minh đức vi bản, tân dân vi mạt. Hợp nhi quan chi, minh đức, tân dân giai vật dã. Nhiên tắc minh đức phương khả tân dân, vật bất hữu bản mạt hồ! [Sự hữu chung thủy] Tri chỉ vi thủy, năng đắc vi chung. Hợp nhi quan chi, tri chỉ, năng đắc giai sự dã. Nhiên tất tri chỉ phương tài năng đắc, sự bất hữu chung thủy hồ! [Tri sở tiên hậu] Bản dữ thủy sở cai tiên, mạt dữ chung sở cai hậu. Thử kết thượng văn lưỡng tiết chi ý. [Tắc cận đạo hĩ] Cận đạo thị cận đại học chi đạo” ([Vật có gốc ngọn] Minh đức là gốc, tân dân là ngọn. Tóm lại mà xét, thì minh đức và tân dân đều là vật vậy. Vậy thì minh đức rồi mới có thể tân dân, chẳng lẽ vật không có gốc ngọn sao! [Việc có đầu cuối] Tri chỉ là đầu, năng đắc là cuối. Tóm lại mà xét, thì tri chỉ và năng đắc đều là việc vậy. Vậy thì tri chỉ rồi mới năng đắc, chẳng lẽ việc không có đầu cuối sao! [Biết chỗ trước sau] Gốc và đầu phải là trước, ngọn và cuối phải là sau. Đó là kết lại cái ý của hai tiết ở đoạn trên. [Thì gần đạo rồi] Gần đạo là gần đạo đại học). Một ví dụ nữa, cùng chú giải cho đoạn kinh văn trong sách Đại học: “自天子以至於庶人,壹是皆以修身為本” Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản (Từ thiên tử cho đến dân thường, tất cả đều lấy tu thân làm gốc), Tập chú chỉ viết ngắn gọn: “正心以上,皆所以修身也。齊家以下,則舉此而措之耳” Chính tâm dĩ thượng, giai sở dĩ tu thân dã. Tề gia dĩ hạ, tắc cử thử nhi thố chi nhĩ (Từ chính tâm trở lên, đều là để tu thân. Từ tề gia trở xuống, thì chỉ lấy [sự tu thân] đó mà thi hành thôi); trong khi đó Ước giải viết khá dài mà cũng không có ý nào mới mẻ: “自天子以至庶人,凡有國家天下之責也,一切皆以修身為本。蓋能格致、誠意、正心以修身,則齊家、治國、平天下,舉而措之耳。所以人之尊卑雖不同,都該以修身為本也 - Tự thiên tử dĩ chí thứ nhân, phàm hữu quốc gia thiên hạ chi trách dã, nhất thiết giai dĩ tu thân vi bản. Cái năng cách trí, thành ý, chính tâm dĩ tu thân, tắc tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, cử nhi thố chi nhĩ. Sở dĩ nhân chi tôn ti tuy bất đồng, đô cai dĩ tu thân vi bản dã” (Từ thiên tử cho đến dân thường, hễ có trách nhiệm với quốc gia thiên hạ, nhất thiết đều phải lấy tu thân làm gốc, nếu có thể cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm để tu thân, thì tề gia, trị quốc, bình thiên hạ chỉ lấy [tu thân] mà thi hành thôi. Cho nên thứ bậc của người ta dù khác nhau, nhưng đều phải lấy tu thân làm gốc vậy). Những chỗ “bổ chú”, “tăng chú” như trên phần lớn chỉ là dùng thêm ngôn từ để diễn giải lại ý tứ trong kinh văn và Tập chú, người làm chú giải dường như không có mong muốn dùng chú giải để “biệt vi nhất gia” (别為一家) trong lịch sử kinh học. (c). Lược chú: Ước giải cắt bỏ và đơn giản hóa một số đoạn chú giải nghĩa lí của Tập chú, hiện tượng này xuất hiện rất nhiều trong phần chú giải cho Trung dung (xin xem Phụ lục). Ví dụ, trong đoạn chú giải sau, Chu Hi giảng về các phạm trù thiên mệnh luận, nhân tính luận vốn có tính trừu tượng khá cao, có lẽ vì vậy mà Ước giải đã cắt bỏ cả một đoạn dài này trong Trung dung chương cú tập chú: “修,品節之也。性道雖同,而氣稟或異,故不能無過不及之差,聖人因人物之所當行者而品節之,以為法於天下,則謂之教,若禮、樂、刑、政之屬是也。蓋人之所以爲人,道之所以為道,聖人之所以為教,原其所自,無一不本於天而備於我。學者知之,則其於學知所用力而自不能已矣。故子思於此首發明之,讀者所宜深體而默識也 - Tu, phẩm tiết chi dã. Tính đạo tuy đồng, nhi khí bẩm hoặc dị, cố bất năng vô quá bất cập chi sai, thánh nhân nhân nhân vật chi sở đáng hành giả nhi phẩm tiết chi, dĩ vi pháp ư thiên hạ, tắc vị chi giáo, nhược lễ, nhạc, hình, chính chi thuộc thị dã. Cái nhân chi sở dĩ vi nhân, đạo chi sở dĩ vi đạo, thánh nhân chi sở dĩ vi giáo, nguyên kì sở tự, vô nhất bất bản ư thiên nhi bị ư ngã. Học giả tri chi, tắc kì ư học tri sở dụng lực nhi tự bất năng dĩ hĩ. Cố Tử Tư ư thử thủ phát minh chi, độc giả sở nghi thâm thể nhi mặc thức dã” (Tu là làm cho có phẩm tiết. Tính đạo tuy giống nhau, nhưng khí bẩm có khi khác nhau, cho nên không thể không có sự sai lầm thái quá hoặc bất cập, thánh nhân theo cái mà người và vật đáng theo để làm cho chúng có phẩm tiết, để làm khuôn thước cho thiên hạ, thì gọi là giáo, như những thứ lễ nhạc hình chính vậy. Đại khái, người sở dĩ là người, đạo sở dĩ là đạo, thánh nhân sở dĩ là giáo, truy về ngọn nguồn thì không đâu không có gốc ở trời và đầy đủ trong ta. Người học biết điều đó, thì với việc học, họ biết là dù có chăm chỉ nhưng một mình thì không thể làm được. Cho nên Tử Tư mới làm sáng tỏ ra ở đoạn đầu này, là chỗ người đọc nên thể hội sâu sắc và ngầm nhận thức lấy). Một ví dụ khác, để chú giải cho đoạn kinh văn của Trung dung: “天命之謂性” Thiên mệnh chi vị tính (Cái mà trời mệnh cho gọi là tính), Tập chú diễn giải khá chi tiết về mối quan hệ giữa thiên, tính, lí, khí: “命,猶令也。性,即理也。天以陰陽五行化生萬物,氣以成形,而理亦賦焉,猶命令也。於是人物之生,因各得其所賦之理,以為健順五常之德,所謂性也 - Mệnh, do lệnh dã. Tính, tức lí dã. Thiên dĩ âm dương ngũ hành hóa sinh vạn vật, khí dĩ thành hình, nhi lí diệc phú yên, do mệnh lệnh dã. Ư thị nhân vật chi sinh, nhân các đắc kì sở phú chi lí, dĩ vi kiện thuận ngũ thường chi đức, sở vị tính dã” (Mệnh cũng như lệnh vậy. Tính tức là lí vậy. Trời lấy âm dương ngũ hành để hóa sinh vạn vật, lấy khí để tạo thành hình và lí cũng được ban cho vạn vật, cũng như mệnh lệnh vậy. Vậy nên sự sống của người và vật, tuân theo cái lí mà người nào vật nào cũng được phú bẩm, để làm cái đức ngũ thường kiện thuận, đó gọi là tính vậy); trong khi đó Ước giải chỉ nói vắn tắt, giản lược một số vấn đề lí khí luận trừu tượng: “命,猶令也,即錫予意。性,即理也。仁義禮智,乃人所受于天之理,以為健順五常之德,所謂性也- Mệnh, do lệnh dã, tức tích dư ý. Tính, tức lí dã. Nhân nghĩa lễ trí, nãi nhân sở thụ vu thiên chi lí, dĩ vi kiện thuận ngũ thường chi đức, sở vị tính dã” (Mệnh cũng như lệnh vậy, tức là ban cho ta. Tính tức là lí vậy. Nhân nghĩa lễ trí là cái lí mà người ta được bẩm thụ từ trời, để làm cái đức ngũ thường kiện thuận, đó gọi là tính vậy). Dù cho chú giải trong Ước giải có giản lược hơn Tập chú, nhưng vẫn giữ nguyên cái đại ý cho rằng “tính tức lí” 性即理- một quan niệm then chốt tạo nên lí học của Chu Tử. 3.2. Về việc chú giải nghĩa lí kinh điển (a). Đặc trưng Chu Tử học: xem xét cách lí giải mối quan hệ giữa tâm và lí: nhà Chu Tử học người Đài Loan là Hoàng Tuấn Kiệt cho rằng trong hệ thống Chu Tử học, thì mối quan hệ giữa “tâm” 心 và “lí” 理“chiếm một địa vị cực kì quan trọng, không những đó chính là tiêu chuẩn để phán đoán xem một nhà Nho Đông Á nào đó có thuộc về học phái Chu Tử hay không, mà hơn nữa, những trào lưu phản Chu, bài Chu hay ủng hộ Chu, xiển thích Chu đều có mối liên quan mật thiết đối với vấn đề này” [2010, tr.275]. Ở đây, bài viết sẽ phân tích một đoạn bàn về mối quan hệ giữa “tâm” và “lí” trong thiên Tận tâm -thượng sách Mạnh Tử để so sánh quan điểm của Ước giải với quan điểm của Chu tử trong Tập chú. Để chú giải cho đoạn chính văn Mạnh tử: “盡其心者,知其性也。知其性,則知天矣” Tận kì tâm giả, tri kì tính dã. Tri kì tính, tắc tri thiên hĩ (Tận được tâm sẽ biết được tính. Biết được tính sẽ biết được thiên), xin hãy so sánh chú giải của Chu Tử trong Tập chú với chú giải trong Ước giải:
Tập chú (Chu Hi, 1983, tr. 349) | Ước giải (AB.270/5, quyển IX, tờ 1a) | “心者,人之神明,所以具眾理而應萬事者也。性則心之所具之理,而天又理之所從以出者也。人有是心,莫非全體,然不窮理,則有所蔽而無以盡乎此心之量。故能極其心之全體而無不盡者,必其能窮夫理而無不知者也。既知其理,則其所從出, 亦不外是矣。以大學之序言之,知性則物格之謂,盡心則知至之謂也 - Tâm giả, nhân chi thần minh, sở dĩ cụ chúng lí nhi ứng vạn sự giã dã. Tính tắc tâm chi sở cụ chi lí, nhi thiên hựu lí chi sở tùng dĩ xuất giả dã. Nhân hữu thị tâm, mạc phi toàn thể, nhiên bất cùng lí, tắc hữu sở tế nhi vô dĩ tận hồ thử tâm chi lượng. Cố năng cực kì tâm chi toàn thể nhi vô bất tận giả, tất kì năng cùng phù lí nhi vô bất tri giả dã. Kí tri kì lí, tắc kì sở tùng xuất, diệc bất ngoại thị hĩ. Dĩ “Đại học” chi Tự ngôn chi, tri tính tắc vật cách chi vị, tận tâm tắc tri chí chi vị dã” (Tâm là cái thần minh của người, là chỗ tồn tại của mọi lí để ứng phó với muôn việc. Tính là cái lí vốn có sẵn trong tâm, mà thiên lại là chỗ mà lí xuất hiện từ đó. Người ta có cái tâm ấy, không gì không phải là toàn thể, nhưng nếu không cùng được lí thì có chỗ bị che lấp mà không có cách nào cùng tận được cái hạn lượng của tâm. Cho nên, nếu có thể đi đến cùng cực cái toàn thể của tâm mà không gì không cùng tận, thì sẽ có thể cùng tận được lí mà không có gì là không biết. Đã biết được lí, thì nơi mà lí xuất phát cũng không nằm ngoài chỗ đó. Lấy lời Tựa trong sách Đại học mà nói, thì tri tính là nói cách vật, tận tâm là nói tri trí vậy). | “心者,人之神明,所以具眾理而應萬事者也。性則心之所具之理。知性是即事窮理。天是理之所從出,即性之源頭處” Tâm giả, nhân chi thần minh, sở dĩ cụ chúng lí nhi ứng vạn sự giã dã. Tính tắc tâm chi sở cụ chi lí. Tri tính thị tức sự cùng lí. Thiên thị lí chi sở tòng xuất, tức tính chi nguyên đầu xứ” (Tâm là cái thần minh của người, là chỗ tồn tại của mọi lí để ứng phó với muôn việc. Tính là cái lí vốn có sẵn trong tâm. Biết tính là đến với việc để biết cùng tận cái lí. Thiên là nơi mà lí xuất phát, tức là chỗ bắt nguồn của tính. |
Qua so sánh phần chú giải dẫn trên có thể nhận ra, dù Ước giải sử dụng ngôn ngữ chú giải ngắn gọn và giản lược hơn nhiều so với Tập chú, nhưng về đại ý thì vẫn bám sát tư tưởng của Tập chú trong vấn đề lí giải mối quan hệ giữa “tâm” và “lí”. Đó chính là một điểm thể hiện rõ nét đặc trưng Chu Tử học của Ước giải. (b). Pha trộn “tâm học” của Vương Thủ Nhân: Ví dụ, để giải nghĩa “trí tri” 致知 trong kinh văn, Tập chú viết: “推極吾之知識, 欲其所知無不盡也 - Suy cực ngô chi tri thức, dục kì sở tri vô bất tận dã” (Đẩy tri thức của ta đến cùng cực, muốn sự biết của mình không đâu không trọn vẹn). Ước giải diễn giải khác: “欲誠其意者, 必先推吾心之良知, 以尽其量而知, 無不致也- Dục thành kì ý giả, tất tiên suy ngô tâm chi lương tri, dĩ tận kì lượng nhi tri, vô bất trí dã” (Người muốn làm ý mình được thành, ắt trước hết phải đẩy cái lương tri của tâm ta đến hết hạn lượng của nó để mà biết, không đâu không đạt tới). Ở đoạn chú giải này, Ước giải không chỉ tiếp thu chú giải của Chu Tử mà còn đề cập đến “tâm học” 心學 của Vương Thủ Nhân 王守仁(Vương Dương Minh 王陽明, 1472-1528). Minh chứng cho điều này là việc sử dụng học thuyết “trí lương tri” 致良知 của Vương Thủ Nhân để chú giải cho khái niệm “trí tri” 致知 trong kinh văn Đại học. Để giải nghĩa “trí tri” trong kinh văn, Tập chú cho rằng “tri” 知 là “tri thức” 知識, tức là thuộc về phạm trù nhận thức trong lí học. Còn Ước giải giải nghĩa “tri” là “tâm chi lương tri” 心之良知, thuộc về tâm học, bởi Vương Thủ Nhân cho rằng: “Cái bản thể của tâm là thiên lí, cái chiêu minh linh giác của thiên lí là lương tri” (夫心之本體,即天理也。天理之昭明靈覺,所謂良知也) [Vương Thủ Nhân, 1992, tr.190]. Tuy nhiên, những chỗ tiếp thu tâm học như vậy xuất hiện rất ít trong Ước giải. Dù cho chú giải trong Ước giải có thể thêm bớt ít nhiều so với Tập chú, nhưng về nghĩa lí thì nhìn chung không đi ngược lại với tinh thần của Tập chú, căn bản vẫn là trường phái lí học của Chu Tử. Đây là một biểu hiện chú giải kinh điển của Nho gia mà sau này Hoàng Khản 黃侃(1886 - 1935) gọi là “sớ bất phá chú” (疏不破注). Qua những đặc điểm về giải vừa phân tích trên (mục 3.1 và 3.2), nhìn chung có thể nhận thấy, Ước giải có xu hướng tập trung chú giải cho các phạm trù học vấn có tính cụ thể như trong chương đầu Đại học, và giảm thiểu chú giải về những phạm trù có tính trừu tượng cao như trong chương đầu Trung dung. Đặc trưng chung của lối chú giải ấy là “dễ hiểu” hơn chú giải trong Tập chú. Sự “dễ hiểu” này có hai tác dụng trái chiều, một mặt nó làm cho độc giả dễ nắm bắt tác phẩm kinh điển hơn, nhưng mặt khác nó lại khiến cho độc giả không được gợi dẫn ở những đoạn trừu tượng, minh chứng rõ ràng cho đặc điểm này là chương đầu của Trung dung - bộ kinh điển được đánh giá là có độ trừu tượng triết học cao nhất trong Tứ thư - đã bị Ước giải cắt bỏ đi rất nhiều đoạn minh giải nghĩa lí một cách trừu tượng của Chu Hi, như những đoạn diễn giải về thiên mệnh luận, nhân tính luận, lí khí luận nêu trên. Mặc dù Ước giải có gia giảm nội dung của Tập chú, nhưng tinh thần chủ đạo của Ước giải vẫn là ủng hộ Chu Tử học. Tuy nhiên cũng cần thừa nhận, Ước giải cũng có ý thức dung hợp tâm học - dù còn rất hạn chế - vào phần chú giải của mình, chứ không chỉ hạn chế trong nội dung chú giải của Chu Hi thể hiện qua Tập chú. Về động cơ dẫn đến tính chất “dễ hiểu” ấy trong Ước giải, tôi cho rằng nó xuất phát từ chủ trương biên soạn Ước giải mà Lê Quý Đôn đã nói rõ trong bài Tựa: Ước giải dùng để phục vụ giáo dục Nho học ở bậc sơ học cho trẻ em, nên cần phải đơn giản, dễ hiểu: “Còn lũ trẻ miệng còn hôi sữa, thì lại càng khó khăn hơn nữa. Chúng ở tuổi lên năm sáu bảy, chỉ hiểu những lời nói bình thường, cha mẹ dạy cho biết số đếm một hai ba bốn, các mùa xuân hạ thu đông, mà còn chưa lĩnh hội hết được, thì sao dạy nổi cái ý sâu nghĩa lớn của cổ nhân để chúng nhanh chóng hiểu cho trọn vẹn! Huống hồ, tiếng quốc âm nước ta lại khác với Trung Quốc, việc dạy dỗ lại càng khó. […] Lúc rảnh việc quan, có khi đến trường nhà, chơi đùa cùng đám con em ở đó, mỗi khi chúng cầm đọc bộ Tứ thư ước giải thì đều có thể biết ngắt câu, hiểu âm nghĩa. Nhớ lại lúc chúng mới đi học, thầy cha nghiêm khắc giảng đi giảng lại ngay trước mặt, mà chúng nghe lơ mơ như chẳng hiểu chút nào. Nói về hiệu quả [của Tứ thư ước giải], thì đúng là dạy một biết mười vậy! Ôi, sách ấy thật là thuận tiện cho việc ngâm đọc biết bao!” (trích: Trùng san Tứ thư ước giải tự) [Nguyễn Tuấn Cường, 2010]. Chúng ta thấy một sự tương đồng hoàn toàn giữa ý nghĩa của đoạn trích lời Tựa này với đặc điểm của những chú giải trong Ước giải đã phân tích ở trên. Bài Tựa nhấn mạnh sự khó khăn về hiểu ngôn ngữ (“huống hồ, tiếng quốc âm nước ta lại khác với Trung Quốc, việc dạy dỗ lại càng khó”) và hiểu nghĩa lí (“sao dạy nổi cái ý sâu nghĩa lớn của cổ nhân”), nội dung của Ước giải chính là đã hiện đại hóa ngôn ngữ văn ngôn trong Tập chú, và đơn giản hóa những vấn đề nghĩa lí trong Tập chú. Những sự thay đổi trong cách chú giải ấy có mục đích là để làm cho kinh điển Nho gia trở nên dễ hiểu hơn, dễ tiếp thu hơn, tức là phục vụ mục đích học tập, chứ không phải là sự thay đổi để đào sâu nghiên cứu, phát huy nghĩa lí, hoặc tái thông diễn nội dung và tư tưởng kinh điển Nho học, mặc dù một đôi chỗ cũng có đề cập đến tâm học - một nội dung nằm ngoài phạm vi lí học của Chu Tử. Nếu nhìn từ góc độ giáo dục Nho điển, thì sự thay đổi ấy là một bước tiến bộ, bởi người học dễ tiếp thu nội dung văn bản hơn so với các tác phẩm chú giải của Chu Tử. Nhưng nếu xét trên lịch sử kinh học, sự thay đổi ấy có vẻ như không phải là điều đáng tự hào đối với Nho học Việt Nam, vì nó không sản sinh ra được những phát kiến mới, nếu không muốn nói đó là một bước lùi. Xin lưu ý, nhận xét này chỉ hạn chế cho đối tượng văn bản Tứ thư ước giải vốn là một bản dịch Nôm kiêm chú giải kinh điển Nho gia tại Việt Nam phục vụ mục đích giáo dục chữ Hán và Nho học ở cấp độ sơ học. 4. Tiểu kết Khi đối chiếu phần chú giải của Tứ thư ước giải với phần chú giải của Tứ thư chương cú tập chú theo phương pháp định lượng và định tính, tôi nhận thấy Ước giải đã giữ lại ít nhất 37% nguyên văn những chú giải trong Tập chú, còn lại 63% là những thay đổi, có thể là thay đổi về cách diễn đạt từ văn ngôn sang bạch thoại, hoặc thay đổi về nghĩa lí được giải thích rõ qua các chú giải. Đặc điểm chủ yếu của nội dung chú giải trong Ước giải là nguyên chú, bổ chú, lược chú, bám sát tư tưởng Chu Tử, và có tham khảo tư tưởng tâm học của Vương Dương Minh. Từ đó, Ước giải đã “bạch thoại hóa” một phần văn ngôn trong Tập chú, và giảm thiểu những chú giải về vấn đề nghĩa lí trừu tượng trong Tập chú, khiến cho đối tượng độc giả của Ước giải - những em nhỏ bắt đầu học chữ Hán và Nho học - dễ nắm bắt nội dung Tứ thư hơn, tức là phát huy tác dụng tích cực trong việc giáo dục Nho điển ở bậc sơ học. Nhưng mặt khác, với quan điểm chú giải ấy, bản Ước giải dường như không có ý định “trước thư lập ngôn”, “biệt vi nhất gia” khi chú giải kinh điển, mà đã tuân thủ quan điểm “sớ bất phá chú” trong lịch sử Nho học, có nghĩa là phần lớn vẫn nương theo cựu chú để thông diễn kinh điển, nên vẫn nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Chu Tử học, mặc dù một đôi chỗ cũng đã tiếp thu tâm học của Vương Dương Minh(9). PHỤ LỤC Bảng đối chiếu phần chú giải giữa Tập chú và Ước giải (Giới hạn trong chương đầu của Đại học và Trung dung) Ghi chú cho bảng đối chiếu: - Chữ khổ to - in đậm: phần kinh văn của Đại học và Trung dung. - Chữ khổ to - không đậm và chữ khổ nhỏ: phần chú giải. - Những đoạn không gạch chân, xuất hiện cả ở Tập chú và Ước giải: thể hiện sự tương đồng (diên) giữa hai văn bản. - Những đoạn gạch chân, chỉ xuất hiện ở Tập chú hoặc Ước giải: thể hiện sự sai lệch (cách) giữa hai văn bản. - Nguồn tài liệu Đại học chương cú và Trung dung chương cú: Chu Hi (1983), tr.3-4; tr.17-18. - Nguồn tài liệu Đại học ước giải và Trung dung ước giải: Tứ thư ước giải, AB.270/1, quyển I, tờ 1a-3a; quyển II, tờ 1a-2a.
Tứ thư chương cú tập chú (trích) | Tứ thư ước giải (trích, đã loại bỏ những đoạn văn dịch Nôm, Nguyễn Tuấn Cường hiệu điểm) | 大學章句大,舊音泰,今讀如字。 子程子曰:「大學,孔氏之遺書,而初學入德之門也。」於今可見古人為學次第者,獨賴此篇之存,而論、孟次之。學者必由是而學焉,則庶乎其不差矣。 大學之道,在明明德,在親民,在止於至善。程子曰:「親,當作新。」大學者,大人之學也。明,明之也。明德者,人之所得乎天,而虛靈不昧,以具眾理而應萬事者也。但為氣稟所拘,人欲所蔽,則有時而昏;然其本體之明,則有未嘗息者。故學者當因其所發而遂明之,以復其初也。新者,革其舊之謂也,言既自明其明德,又當推以及人,使之亦有以去其舊染之污也。止者,必至於是而不遷之意。至善,則事理當然之極也。言明明德、新民,皆當至於至善之地而不遷。蓋必其有以盡夫天理之極,而無一毫人欲之私也。此三者,大學之綱領也。知止而后有定,定而后能靜,靜而后能安,安而后能慮,慮而后能得。后,與後同,後放此。止者,所當止之地,即至善之所在也。知之,則志有定向。靜,謂心不妄動。安,謂所處而安。慮,謂處事精詳。得,謂得其所止。物有本末,事有終始,知所先後,則近道矣。明德為本,新民為末。知止為始,能得為終。本始所先,末終所後。此結上文兩節之意。古之欲明明德於天下者,先治其國;欲治其國者,先齊其家;欲齊其家者,先修其身;欲修其身者,先正其心;欲正其心者,先誠其意;欲誠其意者,先致其知;致知在格物。治,平聲,後放此。明明德於天下者,使天下之人皆有以明其明德也。心者,身之所主也。誠,實也。意者,心之所發也。實其心之所發,欲其一於善而無自欺也。致,推極也。知,猶識也。推極吾之知識,欲其所知無不盡也。格,至也。物,猶事也。窮至事物之理,欲其極處無不到也。此八者,大學之條目也。物格而後知至,知至而後意誠,意誠而後心正,心正而後身修,身修而後家齊,家齊而後國治,國治而後天下平。治,去聲,後放此。物格者,物理之極處無不到也。知至者,吾心之所知無不盡也。知既盡,則意可得而實矣,意既實,則心可得而正矣。修身以上,明明德之事也。齊家以下,新民之事也。物格知至,則知所止矣。意誠以下,則皆得所止之序也。自天子以至於庶人,壹是皆以修身爲本。壹是,一切也。正心以上,皆所以修身也。齊家以下,則舉此而措之耳。其本亂而末治者否矣,其所厚者薄,而其所薄者厚,未之有也!本,謂身也。所厚,謂家也。此兩節結上文兩節之意。 右經一章,蓋孔子之言,而曾子述之。凡二百五字。其傳十章,則曾子之意而門人記之也。舊本頗有錯簡,今因程子所定,而更考經文,別為序次如左。凡千五百四十六字。凡傳文,雜引經傳,若無統紀,然文理接續,血脈貫通,深淺始終,至為精密。熟讀詳味,久當見之,今不盡釋也。 | 大學 大,舊音泰,今讀如字。 子程子曰:「大學,孔氏之遺書,而初學入德之門也。」於今可見古人爲學次第者,獨賴此篇之存,而論、孟次之。學者必由是而學焉,則庶乎其不差矣。 大學之道,大學者,大人之學也。在明明德,在明明德者,己之德本明也,而不能不昏於氣稟物欲。故學者當因其所發而遂明之,以復其初也。在親民,程子曰:「親,當作新。」民之德本新也,而不能不污於習俗,又當推吾之所明,立法聖教,使革其舊而自新焉。在止於至善。止者,必至於是而不遷之意。至善,則事理當然之極也。言明明德、新民,皆當至於至善之地而不遷。此三者,大學之綱領也。知止而後有定,止者,所當止之地,即至善之所在也。知之,則志有定向。定而後能靜,靜,謂心不妄動。靜而後能安,安,謂所處而安。安而後能慮,慮,謂處事精詳。慮而後能得。得,謂得其所止。物有本末,明德為本,新民為末。合而觀之,明德、新民皆物也。然必明德方可新民,物不有本末乎!事有終始,知止為始,能得為終。合而觀之,知止、能得皆事也。然必知止方纔能得,事不有終始乎!知所先後,本與始所該先,末與終所該後。此結上文兩節之意。則近道矣。近道是近大學之道。古之欲明明德於天下者,先治其國;治,平聲,後放此。古人欲明明德於天下者,使天下之人皆有以明其明德而自新也,必先治其國,使無紊亂焉,蓋遠由於近也。欲治其國者,先齊其家;欲治其國者,必先以齊其家,使無參差焉,蓋疏由於親也。欲齊其家者,先修其身;欲齊其家者,必先有以修其身,使無缼陷焉,蓋人由於己也。欲修其身者,先正其心;心者,身之主宰也。欲修其身者,必先敬以育內,虛以應物,以正其心。欲正其心者,先誠其意;意者,心之發端也。欲正其心者,必先戒其自欺,求其自慊,以誠其意。欲誠其意者,先致其知;致,推極也。知,猶識也。欲誠其意者,必先推吾心之良知,以尽其量而知,無不致也。致知在格物。格,至也。物,猶事也。欲致其知,只在即物以穷其理,而物無不格,可也。此八者,大學之條目也。物格而後知至,物格者,物理之極處無不到也。知至者,吾心之所知無不尽也。知至而後意誠,知既尽,則意可得而實矣,意誠而後心正,意既實,則心可得而正矣。心正而後身修,身修而後家齊,家齊而後國治,國治而後天下平。治,去聲,後倣此。自天子以至於庶人,壹是皆以修身爲本。壹是,一切也。自天子以至庶人,凡有國家天下之責也,一切皆以修身為本。蓋能格致、誠意、正心以修身,則齊家、治國、平天下,舉而措之耳。所以人之尊卑雖不同,都該以修身爲本也。其本亂而末治者否矣,若不能修身,是本先乱,却要家齊、國治、天下平,必無是理矣。其所厚者薄,而其所薄者厚,未之有也!若不能齊家,是所厚者薄,而國與天下薄者反厚,未之有也! 右經一章,蓋孔子之言,而曾子述之。其傳十章,則曾子之意而門人記之也。 | 中庸章句中者, 不偏不倚、無過不及之名。庸,平常也。 子程子曰:「不偏之謂中,不易之謂庸。中者,天下之正道,庸者,天下之定理。」此篇乃孔門傳授心法,子思恐其久而差也,故筆之於書,以授孟子。其書始言一理,中散為萬事,末復合為一理,「放之則彌六合,卷之則退藏於密」,其味無窮,皆實學也。善讀者玩索而有得焉,則終身用之,有不能盡者矣。 天命之謂性,率性之謂道,修道之謂教。命,猶令也。性,即理也。天以陰陽五行化生萬物,氣以成形,而理亦賦焉,猶命令也。於是人物之生,因各得其所賦之理,以為健順五常之德,所謂性也。率,循也。道,猶路也。人物各循其性之自然,則其日用事物之間,莫不各有當行之路,是則所謂道也。修,品節之也。性道雖同,而氣稟或異,故不能無過不及之差,聖人因人物之所當行者而品節之,以為法於天下,則謂之教,若禮、樂、刑、政之屬是也。蓋人之所以為人,道之所以為道,聖人之所以為教,原其所自,無一不本於天而備於我。學者知之,則其於學知所用力而自不能已矣。故子思於此首發明之,讀者所宜深體而默識也。道也者,不可須臾離也,可離非道也。是故君子戒慎乎其所不睹,恐懼乎其所不聞。離,去聲。道者,日用事物當行之理,皆性之德而具於心,無物不有,無時不然,所以不可須臾離也。若其可離,則為外物而非道矣。是以君子之心常存敬畏,雖不見聞,亦不敢忽,所以存天理之本然,而不使離於須臾之頃也。莫見乎隱,莫顯乎微,故君子慎其獨也。見,音現。隱,暗處也。微,細事也。獨者,人所不知而己所獨知之地也。言幽暗之中,細微之事,跡雖未形而幾則已動,人雖不知而己獨知之,則是天下之事無有著見明顯而過於此者。是以君子既常戒懼,而於此尤加謹焉,所以遏人欲於將萌,而不使其滋長於隱微之中,以至離道之遠也。喜怒哀樂之未發,謂之中;發而皆中節,謂之和。中也者,天下之大本也;和也者,天下之達道也。樂,音洛。中節之中,去聲。喜、怒、哀、樂,情也。其未發,則性也,無所偏倚,故謂之中。發皆中節,情之正也,無所乖戾,故謂之和。大本者,天命之性,天下之理皆由此出,道之體也。達道者,循性之謂,天下古今之所共由,道之用也。此言性情之德,以明道不可離之意。致中和,天地位焉,萬物育焉。致,推而極之也。位者,安其所也。育者,遂其生也。自戒懼而約之,以至於至靜之中,無少偏倚,而其守不失,則極其中而天地位矣。自謹獨而精之,以至於應物之處,無少差謬,而無適不然,則極其和而萬物育矣。蓋天地萬物本吾一體,吾之心正,則天地之心亦正矣,吾之氣順,則天地之氣亦順矣。故其效驗至於如此。此學問之極功、聖人之能事,初非有待於外,而修道之教亦在其中矣。是其一體一用雖有動靜之殊,然必其體立而後用有以行,則其實亦非有兩事也。故於此合而言之,以結上文之意。 右第一章。子思述所傳之意以立言:首明道之本原出於天而不可易,其實體備於己而不可離,次言存養省察之要,終言聖神功化之極。蓋欲學者於此反求諸身而自得之,以去夫外誘之私,而充其本然之善,楊氏所謂一篇之體要是也。其下十章,蓋子思引夫子之言,以終此章之義。 | 中庸 中者,不偏不倚、無過不及之名。庸,平常也。 子程子曰:「不偏之謂中,不易之謂庸。中者,天下之正道,庸者,天下之定理。」鄭云:以其記中和之為用也。庸,用也。孔子之孫子思作以照明聖祖之德也。 天命之謂性,命,猶令也,即錫予意。性,即理也。仁義禮智,乃人所受于天之理,以為健順五常之德,所謂性也。率性之謂道,率,循也,猶言依也。率性言此心随吾本然之性發出來。道是日用當然之理,莫不各有當行之路,是则所谓道也。修道之謂教。修是品節栽成意。教示人法则意。道也者,道字承命於天,率於性來。不可須臾離也,離,去聲,下同。須臾是一刻間。蓋道者,日用事物當然之理,皆性之德而具於心,無物不有,無時不然,所以不可须臾離也。可離非道也。是故君子,是故承上二句來,君子是體道之人。戒慎乎其所不睹,戒慎是敬謹不忽意。不睹未及見之時。恐懼乎其所不聞。恐惧是敬畏不忽意.不聞是未及聽之時。莫見乎隱,見是著見,隐是暗處,指曲中言。莫顯乎微,顯是明顯,微是细事,指一念之動言。故君子慎其獨也。故,承上章二句來。慎,兼上戒懼。獨者,人所不知而已所獨之地也.喜怒哀樂之未發,樂,音洛。未發是未發見。謂之中;中是無偏倚意。發而皆中節,中去声。發是喜怒哀樂之見。中節是合于當然之節度。謂之和。中也者,天下之大本也;大是無所不統意。本是根源。和也者,天下之達道也。達是無所不通意。道是人所共由之路。致中和,致,推而極之, 是克盡此本然之中,和非中和之外。天地位焉,位是安其所,如三光明,五氣順,川岳咸寧之類.萬物育焉。育是遂其生,如百性寧,兆民殖,品彙咸亨之類. 右第一章。子思述所傳之意以立言。 | | | |
Chú thích: (1) Bên phải tờ bìa sách có ghi: “皇朝明命貳拾年桂月吉日重刊” Hoàng triều Minh Mệnh nhị thập niên Quế nguyệt cát nhật trùng san(Khắc lại vào ngày lành tháng tám (âm lịch) năm thứ 20 niên hiệu Minh Mệnh -1839). (2) Bên trái tờ bìa sách, phía dưới có ghi: “郁文堂藏板” Úc Văn đường tàng bản (Nhà in Úc Văn giữ ván khắc). (3) Bên trái tờ bìa sách, phía trên có ghi: “延河榜眼官校訂” Diên Hà Bảng nhãn quan hiệu đính(Quan Bảng nhãn ở Diên Hà hiệu đính). Quan Bảng nhãn ở Diên Hà tức Lê Quý Đôn黎貴惇 (1726-1784), “người xã Diên Hà huyện Diên Hà, nay thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. […] 27 tuổi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhị danh (Bảng nhãn) khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng thứ 13 (1752) đời Lê Hiển Tông. Từ thi Hương, thi Hội, đến thi Đình đều đỗ đầu (Tam nguyên)” (Theo: Ngô Đức Thọ, 2006, tr.610-611). (4) Xin xem thêm thông tin văn bản học của Tứ thư ước giải trong: [Nguyễn Tuấn Cường, 2010]. (5) Về hệ thống sách Đại toàn tại Việt Nam, xin xem [Nguyễn Phúc Anh, 2012]. (6) Quá trình thống kê và xử lí tư liệu này có sự tham gia của Trần Minh Ánh và Nguyễn Thị Giang, đều do tôi (NTC) hướng dẫn. Một phần kết quả thống kê và xử lí tư liệu này đã được công bố trong các khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Hán Nôm của hai tác giả trên (đều do tôi hướng dẫn), xin xem: Trần Minh Ánh, Sơ bộ nghiên cứu tác phẩm Nôm Đại học ước giải, 2008; Nguyễn Thị Giang, Sơ bộ nghiên cứu tác phẩm Nôm Trung dung ước giải, 2009, hiện lưu tại Phòng Tư liệu Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ngoài số liệu về 7 trường hợp này, những số liệu khác dùng trong bài viết đều là của cá nhân tôi (NTC). (7) Về vấn đề văn bản học của hai bản Thi kinh giải âm in theo ván khắc các năm Vĩnh Thịnh 1714 và Quang Trung 1792, xin xem: [Nguyễn Quang Hồng & Nguyễn Tuấn Cường, 2005]. (8) Trên tờ bìa bản Thi kinh giải âm của Sùng Chính viện viết: “光中五年秋月穀日雋” Quang Trung ngũ niên thu nguyệt cốc nhật thuyên (Khắc vào ngày lành tháng thu năm Quang Trung thứ 5 (1792)). Xem: Thi kinh giải âm, trang bìa kí hiệu sách AB.144/1 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. (9) Bài viết này được hoàn thành với sự tài trợ của Quỹ Phát triển khoa học và Công nghệ Quốc gia Việt Nam (NAFOSTED). Tác giả bài viết trân trọng cảm ơn! TÀI LIỆU TRÍCH DẪN 1. Chu Hi 朱熹 (đời Tống), 《四書章句集注》, 中華書局, 1983. 2. Đại Việt sử kí toàn thư, Nội các quan bản, bản dịch tập II, Hoàng Văn Lâu dịch, Nxb. KHXH, H. 1993. 3. Hoàng Tuấn Kiệt (2004), Tầm nhìn mới về lịch sử Nho học Đông Á, Chu Thị Thanh Nga dịch, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010. 4. Hoàng Xuân Hãn (1952), La Sơn phu tử, in trong: La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập II, Hữu Ngọc và Nguyễn Đức Hiền sưu tập, biên soạn, Nxb. Giáo dục, H. 1998. 5. Lục Kiến Tù 陆建猷:《四书集注与南宋四书学》,陕西人民出版社, 2002 6. Ngô Cao Lãng:Lịch triều tạp kỉ, Xiển Trai bổ sung,Hoa Bằng và Hoàng Văn Lâu dịch, Nxb.KHXH, H. 1995. 7. Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919. Ngô Đức Thọ chủ biên, Nxb. Văn học, H. 2006. 8. Nguyễn Phúc Anh: “Từ việc khảo sát các hệ bản Tứ thư Ngũ kinh đại toàn ở Việt Nam bàn về vai trò của hệ thống đại toàn trong khoa cử truyền thống”, Tạp chí Hán Nôm, số 1/2012, tr.27-45. 9. Nguyễn Quang Hồng, Nguyễn Tuấn Cường:“Thi kinh giải âm: Văn bản sớm nhất hiện còn in theo ván khắc năm Vĩnh Thịnh 1714”, Tạp chí Hán Nôm, số 3/2005, tr.36-52. 10. Nguyễn Tuấn Cường: “Nghiên cứu về Tứ thư ước giải (lược tả văn bản và giải đọc bài Tựa của Lê Quý Đôn)”, Tạp chí Hán Nôm, số 6/2010, tr.37-49. 11. Nguyễn Tuấn Cường: “Tiếp cận văn bản học với Tứ thư ước giải”, bài viết sắp công bố. 12. Tứ thư ước giải四書約解, AB.270/1-5, Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội). 13. Vương Thủ Nhân đời Minh soạn(明)王守仁撰,《王陽明全集-上册》,吳光、錢明、董平、姚延福編校,上海古籍出版社,1992./. (Tạp chí Hán Nôm; Số 5(114) 2012; Tr.3-21)
Nguyễn Tuấn Cường
Tin liên quan
-
Văn bia thời Trần ở Ninh Bình (Tạp chí Hán Nôm, số 3 (118) 2013; tr. 50-57)
-
Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (02/12/1953 - 02/12/2013) (Hà
-
Phát biểu của Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tại lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (02/12/1953 -
-
Minh Mệnh với cải cách hành chính ở các cơ quan trung ương thời Nguyễn - Nhìn từ lịch sử và ấn chương hành chính (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121),
-
Bồng Châu thi văn tập của Bảng nhãn Vũ Duy Thanh - Một tác phẩm giá trị trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XIX(Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.29-42)
-
Về tư liệu văn khắc Hán Nôm thời Lý (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.43-50)
-
Bia chí - Nguồn sử liệu quý cần gìn giữ ở Lăng Ông Biên Hòa (Đồng Nai) (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.51-57)
-
Mã chữ Nôm trong Châu bản thời Gia Long (1802-1819) (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.58-65)
-
Nghiên cứu tư liệu gia lễ Việt Nam: Từ sơ đồ ngũ phục đến phục chế (Tạp chí Hán Nôm, số 6 (121), tr.66-78)
-
Nghĩ thêm về Việt Nho (Tạp chí Hán Nôm, số 5 (120); tr. 3-13)
|