VI | EN
Giới thiệu một vài tác phẩm Nôm tiêu biểu trên đồ gốm sứ Bát Tràng từ thế kỷ XIV - XIX (Tạp chí Hán Nôm, số 5 (114) 2012; tr.68 - 74)
Giới thiệu một vài tác phẩm Nôm tiêu biểu trên đồ gốm sứ Bát Tràng từ thế kỷ XIV - XIX (Tạp chí Hán Nôm, số 5 (114) 2012; tr.68 - 74)

GIỚI THIỆU MỘT VÀI TÁC PHẨM NÔM TIÊU BIỂU
TRÊN ĐỒ GỐM SỨ BÁT TRÀNG TỪ THẾ KỶ XIV - XIX

NGUYỄN VĂN CHIẾN

NCS. Ban Tuyên giáo TW.

Gốm sứ Bát Tràng từ lâu đã trở thành biểu tượng văn hiến của đất Thăng Long và là niềm tự hào của người dân Hà Nội nói riêng và của người Việt Nam nói chung. Theo biên niên sử thì từ thế kỷ XIV-XV làng gốm Bát Tràng được hình thành. Đại Việt sử ký toàn thư(1) chép "Nhâm Thìn, Thiệu Phong năm thứ 12 (1352) mùa thu, tháng 7, nước lớn tràn ngập, vỡ đê xã Bát, Khối, lúa má chìm ngập. Khoái Châu, Hồng Châu và Thuận An bị hại nhất". Xã Bát là xã Bát Tràng, xã Khối là xã Thổ Khối, hai xã ven đê bên tả ngạn sông Nhị, tức sông Hồng ngày nay. Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư(2) thì năm 1376, trong một cuộc Nam chinh, đoàn chiến thuyền của vua Trần Duệ Tông xuất phát từ Thăng Long xuôi theo sông Nhị (sông Hồng) đi qua "bến sông xã Bát" tức bến sông Hồng thuộc xã Bát Tràng.

Tuy nhiên, theo những câu chuyện mà chúng tôi sưu tầm được ở Bát Tràng thì làng gốm này có thể ra đời sớm hơn. Hiện nay, tại làng Bát Tràng vẫn lưu truyền câu chuyện về nguồn gốc của nghề gốm như sau:

Vào thời nhà Lý, có ba vị Thái học sinh là Hứa Vĩnh Kiều người làng Bồ Bát tỉnh Thanh Hóa, Đào Trí Tiến, người làng Thổ Hà - Hà Bắc và Lưu Phương Tú (hay Lưu Vĩnh Phong) người làng Kẻ Sặt - Hải Dương được cử đi sứ triều Bắc Tống. Sau khi hoàn tất sứ mệnh, trên đường trở về nước qua Thiều Châu, Quảng Đông (nay là Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) gặp bão, ba ông phải nghỉ lại. Ở đây có lò gốm nổi tiếng, ba ông đến thăm và học được một số kỹ thuật đem về nước. Khi đã xong việc trong triều về hưu trí, các ông chọn ngày lành, tháng tốt lập đàn ở bên sông Hồng làm lễ truyền bá nghề cho dân chúng quê hương. Công nghệ mà ba ông học được, phân cho ba vùng như sau:

- Hứa Vĩnh Kiều truyền cho Bát Tràng nước men rạn trắng.

- Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà (huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) nước men sắc vàng đỏ.

- Lưu Phương Tú truyền cho Phù Lãng (huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) nước men màu đỏ và màu vàng thẫm.

Sau một thời gian vừa làm vừa hoàn thiện công nghệ sản xuất gốm, cuối cùng ba ông đã lấy những sản phẩm do mình chế tạo được dâng cho vua. Nhà vua thấy sản phẩm đẹp bèn khen thưởng cho bốn chữ “Trung ái quán thế” (Có lòng trung với vua và yêu thương dân làng truyền đời) và phong là “Khởi nghệ tiên triết” (Người hiền trí trước đã khởi nghề). Câu chuyện trên cũng được lưu truyền ở Thổ Hà và Phù Lãng với dị bản có ít nhiều sai biệt về tình tiết. Nếu đúng như câu chuyện trên thì nghề gốm Bát Tràng đã có từ thời nhà Lý, ngang với thời Bắc Tống (trước năm 1127) bên Trung Quốc. Tuy nhiên, đến nay chúng tôi chưa tìm thấy tư liệu lịch sử nào xác nhận tiểu sử của ba nhân vật tổ nghề kể trên, hay như khẳng định sự hình thành của làng Bát Tràng có từ thời Lý. Trong tương lai, thông qua khai quật khảo cổ học có thể cho chúng ta thấy rõ hơn bề dày lịch sử và những di tích của làng gốm Bát Tràng. Nhưng có một điều chắc chắn là làng gốm Bát Tràng xuất hiện không thể sau thế kỷ XIV. Ông Tăng Bá Hoành, trong Gốm Chu Đậu có trích gia phả nhà họ Vương, trong đó có câu: , , , , , . - Nam Sách phủ, Thanh Lâm huyện, Đặng Xá xã, dĩ đào bát vi nghiệp, hậu nhất chi di cư Gia Lâm huyện, Bát Tràng xã. Vương Quốc Doanh hưng công dĩ đào bát vi nghiệp” (Họ Vương ở xã Đào Xá huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách làm nghề đồ gốm; sau một chi di cư về xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, và cụ Vương Quốc Doanh làm hưng thịnh nghề đồ gốm ở đấy).

Trong quá trình phát triển nghề gốm, Bát Tràng có quan hệ giao thương với nhiều quốc gia nhưng giao lưu với gốm sứ Trung Quốc và tiếp nhận một số ảnh hưởng của gốm sứ Trung Quốc là chủ yếu.

Ảnh hưởng đầu tiên có thể kể đến là các điển tích, điển cố, sau đó là đến văn tự đề vịnh trên những sản phẩm. Ngay từ rất sớm, văn tự Hán Nôm đã xuất hiện trên đồ gốm Bát Tràng, những văn tự này thường được thể hiện bằng cách khắc chìm (minh văn), một số ít được đắp nổi hay viết màu lam dưới nền men rạn trắng, rạn ngà, lam, da lươn... Tuy nhiên, chúng ta có thể xếp những văn tự này vào ba loại sau:

-Loại thứ nhất ghi hiệu đề sản phẩm (thường ghi dưới đáy sản phẩm).

-Loại thứ hai đề vịnh, hay họa cảnh trên sản phẩm (thường ghi mặt sau sản phẩm).

-Loại thứ ba ghi tên người công đức (thường ghi ở mặt trước sản phẩm).

Tuy nhiên, trong quá trình chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Hán, cha ông ta đã biết tiếp biến văn tự Hán để tạo ra chữ Nôm, một thể văn tự như biểu tượng riêng của nền văn hóa Việt. Vì thế, trong các tác phẩm đề vịnh trên đồ gốm sứ cổ Bát Tràng, bên cạnh những tác phẩm Hán, chúng ta còn thấy xuất hiện khá nhiều tác phẩm Nôm. Số lượng tác phẩm đề vịnh viết bằng chữ Hán và chữ Nôm rất phong phú và hàm chứa nhiều thông tin bổ ích, thú vị. Trong bài viết này, chúng tôi không có điều kiện giới thiệu toàn bộ hệ thống văn tự Hán Nôm đề vịnh trên cổ vật gốm sứ Bát Tràng từ thế kỷ XIV – XIX, mà chúng tôi chỉ xin tập trung vào giới thiệu một phần nhỏ trong hệ thống đề vịnh, họa cảnh trên sản phẩm, đó là hệ thống đề vịnh bằng chữ Nôm.

Văn tự Nôm trên gốm sứ cổ Bát Tràng chắc hẳn phải có số lượng phong phú, nhưng trong quá trình sưu tầm, khảo sát, chúng tôi mới có điều kiện tiếp cận với sáu tác phẩm chữ Nôm. Số lượng tác phẩm ít ỏi này có thể chưa bao quát hết được những đặc trưng của các tác phẩm Nôm trên gốm sứ cổ Bát Tràng. Tuy nhiên bằng những thông tin, tư liệu hiện có, bước đầu chúng tôi đưa ra một số những đặc trưng của các tác phẩm Nôm trên gốm sứ cổ Bát Tràng như sau:

- Các tác phẩm chữ Nôm trên gốm sứ cổ Bát Tràng thường là những câu thơ lục bát lấy chất liệu từ ca dao, tục ngữ... hoặc những câu thơ trong các tác phẩm kinh điển và có tính truyền khẩu mạnh mẽ như Truyện Kiều...

- Các câu thơ Nôm đề vịnh này chủ yếu được khắc chìm (minh văn) trên cốt gốm trước khi phủ men và dùng lối chữ hành, thảo.

- Mỗi câu thơ đều nhằm mục đích vịnh cảnh hoặc làm sáng tỏ thêm bức họa được đắp nổi phần thân trước của sản phẩm.

- Những tác phẩm Nôm này thường được các nghệ nhân tập trung vào một dòng sản phẩm chính là những lọ hoa men rạn, ngà.

Để có dẫn chứng cụ thể hơn, dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một vài tác phẩm tiêu biểu.

Tác phẩm 1: là câu thơ theo lối chữ thảo, thể thơ lục bát khắc chìm ở mặt sau chiếc lọ lộc bình men rạn trắng; mặt trước đắp nổi hình một cội mai già và con hạc đứng ở trên tảng đá phía dưới gốc cây. Dân gian vẫn thường gọi những lọ đắp tích này là lọ mai - hạc. Câu thơ này viết thành hai dòng. Nội dung như sau:

𢝙

𡳶𠊛

Nghêu ngao vui thú yên hà

Mai là bạn cũ, hạc là người quen

Nhà sưu tầm, nghiên cứu Vương Hồng Sển trong các bài viết về đồ mai hạc đều cho rằng câu thơ đề vịnh “Nghêu ngao vui thú yên hà...” là do thi hào Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc đề vịnh trên các sản phẩm sứ và mang về nước vào năm Quý Dậu (1813). Ông Vương đã dựa vào giai thoại trong một bài viết của tác giả Bùi Thế Mỹ in trong tập san của Hội khuyến học Nam Kỳ vào năm 1943: Tương truyền lúc Nguyễn Du đi sứ sang Trung Quốc, ông đến thăm một lò chế tác đồ sứ, gặp dịp người thợ đang làm một bộ đồ trà, vẽ kiểu mai hạc. Chủ lò có nhã ý mời quan Chánh sứ An Nam phẩm đề một đôi câu thơ lên món đồ. Nguyễn Du đã dùng chữ Nôm của nước nhà mà đề rằng: “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ hạc là người quen”. Bùi tiên sinh thêm lời bình phẩm: “Bộ đồ trà ấy rất đáng bảo tàng. Nghe đâu như ở phía Bắc Trung kỳ có người đã kiếm được. Với bộ đồ trà quý báu ấy, chúng ta đã có thể nói một cách tự hào rằng: cái ngày cụ Nguyễn Du đã đi sứ sang Tàu đó, không những cụ đã vâng sứ mạng của triều đình, mà đồng thời cũng là vị sứ giả đầu tiên cho văn chương An Nam ở ngoại quốc nữa!”.

Tuy nhiên, trong một bài viết in trong tập san Đô thành hiếu cổ năm 1929 của một tác giả người Pháp dẫn lời ông Hồ Đắc Khải, một quan chức cao cấp của triều Nguyễn cho biết tác giả hai câu thơ Nôm trên là của Định Viễn quận vương Nguyễn Phúc Bính, con trai của vua Gia Long. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu ở Huế còn cho rằng vị Phó sứ Đinh Phiên trong sứ bộ sang Thanh năm 1819 mới là tác giả của hai câu thơ Nôm trên.

Đến nay, tác giả của câu thơ lục bát này còn nhiều tranh luận và chưa thống nhất. Nhưng giới nghiên cứu vẫn cho rằng, với âm hưởng và khí phách như trên thì đại thi hào Nguyễn Du rất có thể là tác giả.

Tác phẩm 2: là câu thơ theo lối chữ thảo, thể thơ lục bát khắc chìm ở mặt sau chiếc lọ cổ cao men rạn trắng, người miền Nam vẫn quen gọi những chiếc bình dạng này là bình bá huê tôn, người miền Bắc quen gọi là lọ dáng tỳ bà; mặt trước lọ đắp nổi một vài nhánh sen đang nở hoa trong hồ nước. Câu thơ được viết thành hai dòng, nội dung như sau:

𤽸𦲿

𧵆

Nhị vàng hoa trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Đọc câu thơ lục bát trên lọ gốm Bát Tràng này, đa số người Việt Nam đều nhận thấy âm hưởng quen thuộc, bởi câu thơ được trích từ bài ca dao ca ngợi vẻ đẹp của hoa sen.

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Tuy nhiên, khi so sánh với toàn bài ca dao trên, chúng ta thấy có một chữ trong câu thơ khắc trên chiếc lọ men rạn Bát Tràng này khác với nguyên bản trong bài ca dao. Trên lọ Bát Tràng dùng chữ hoa (), trong khi đó, bài ca dao dùng chữ bông ().

Tác phẩm 3: là câu thơ theo lối chữ thảo, thể thơ lục bát khắc chìm ở mặt sau chiếc lọ lộc bình men rạn trắng; mặt trước lọ đắp nổi một cây tùng và đôi chim hạc. Câu thơ được viết thành hai dòng. Nội dung như sau:

𩄴

Ngọc còn lẩn bóng cây tùng

Thuyền quyên quyết đợi anh hùng vãng lai

Câu thơ được lấy chất liệu từ ca dao, nói một cách cụ thể hơn đây là dị bản của một câu ca dao, nhưng so với nguyên bản thì câu ca dao trên lọ gốm Bát Tràng có một vài chữ khác biệt. Trong ca dao cổ ta thường gặp hai câu ca thể hiện sự ngóng chờ, mong đợi như sau:

Ngọc còn ẩn bóng cây tùng

Thuyền quyên chỉ đợi anh hùng mà thôi

Hay như câu:

Ngọc còn ẩn bóng cây tùng

Náu nương chờ đợi anh hùng vãng lai

Ở câu thứ nhất, chúng ta thấy trên lọ gốm dùng từ (lẩn), trong câu ca dao dùng từ (ẩn). Tuy chữ có khác nhưng ý nghĩa hoàn toàn không thay đổi.

Sang câu thứ hai so với ca dao thì dị bản giữa hai cụm từ “náu nương” và “thuyền quyên”, “vãng lai” và “mà thôi” có nhiều khác biệt, tuy vậy chúng tôi không xét. Chúng tôi đi so sánh một từ được sử dụng khác nhau và khi sử dụng sẽ làm thay đổi ý nghĩa phần nào của câu. Đó là từ 徐待“chờ đợi”, 止待“chỉ đợi” với 厥待“quyết đợi”. Cùng một trạng thái đợi, chúng ta có thể cảm nhận được phần nào sự quyết tâm của nhân vật trữ tình.

Tác phẩm 4: là câu thơ theo lối chữ thảo, thể thơ lục bát khắc chìm ở mặt sau chiếc lọ lộc bình men vàng ngà, mặt trước lọ đắp nổi một ông già ngồi dưới gốc cây tùng. Câu thơ được viết thành hai dòng. Nội dung như sau:

Trà Lĩnh vân đài là cảnh thú

Tiên ông càng ngủ lại càng say

Trà Lĩnh được nhắc ở trên đây có thể là một địa danh của tỉnh Cao Bằng

Tác phẩm 5: là câu thơ theo lối chữ thảo, thể thơ lục bát khắc chìm ở mặt sau chiếc lọ lộc bình men rạn trắng; mặt trước lọ đắp nổi một ông già ngồi dưới gốc cây tùng. Câu thơ được viết thành hai dòng. Nội dung như sau:

華嶺云

𥄭

Hoa Lĩnh vân đài là cảnh thú

Tiên ông càng ngủ lại càng mê

Theo chúng tôi, đây là một câu thơ nhưng có hai dị bản; so với câu thứ nhất ở tác phẩm thứ 4, chúng ta dễ nhận thấy dị bản ở tác phẩm 5 có một vài khác biệt. Tác phẩm 4 hai chữ đầu tiên là ” -Trà Lĩnh, tác phẩm 5 là華嶺” - Hoa Lĩnh. Trong tác phẩm 4, chữ cuối là” - say, tác phẩm 5 là chữ “” - mê. Về đặc trưng văn tự, chúng ta thấy chữ ngủ trong tác phẩm 4 được thể hiện bằng chữ Nôm là , trong tác phẩm 5 là 𥄭” - ngủ. Rất có thể còn nhiều dị bản, nhiều tác phẩm Nôm khác nữa mà chúng ta chưa có điều kiện tiếp cận.

Tác phẩm 6: là câu thơ theo lối chữ thảo, thể thơ lục bát khắc chìm ở mặt sau chiếc lọ dáng quả bí, người miền Bắc vẫn quen gọi là kiểu thống bình. Câu thơ này được trích từ Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Mặt trước bình đắp nổi một đôi cá chép đang tranh nhau đớp ánh trăng chiếu xuống nước, câu thơ được viết thành ba dòng. Nội dung như sau:

𠄩

𠄩

Một hai nghiêng nước, nghiêng thành

Sắc đành là một, tài đành là hai

Đọc đến đây hẳn chúng ta nhận ra câu thơ được lấy từ đoạn trích tả về vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều. Câu thơ này Nguyễn Du đã dùng đặc tả, ngợi ca vẻ đẹp của nàng Kiều, cùng với đó nhấn mạnh tài năng của nàng.

Một hai nghiêng nước, nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai

Thông minh vốn sẵn tính trời

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm

Trên đây là những tác phẩm Nôm tiêu biểu được thể hiện trên đồ gốm sứ Bát Tràng từ thế kỷ XV - XIX, và cũng là những tác phẩm mang nét đặc trưng riêng của người Việt để chúng ta nghiên cứu chữ Nôm, một hệ ngữ mà cha ông đã thể hiện trên dòng sản phẩm được biết đến như dòng gốm sứ riêng biệt của người Việt. Có thể những tác phẩm mà chúng tôi vừa giới thiệu chưa hẳn đã đầy đủ và bao quát hết những tác phẩm chữ Nôm mà cha ông ta ghi trên đồ gốm sứ Bát Tràng từ thế kỷ XV - XIX. Nhưng qua bài này, chúng tôi xin được phép dừng lại ở những tác phẩm mà chúng tôi sưu tầm được và cũng xin được giới thiệu những tác phẩm tiêu biểu này đến bạn đọc. Rất mong nhận được sự chỉ giáo từ các bậc thức giả cũng như những bạn đọc có sở thích tìm hiểu về đề tài mà chúng tôi vừa đề cập; từ đó cùng nhau học hỏi và trao đổi để có thêm nhiều phát hiện nữa về những tác phẩm Nôm trên đồ gốm sứ cổ Bát Tràng.

Chú thích:

(1) Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. KHXH, H. 2011, tr.134.

(2) Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. KHXH, H. 2011, tr.161: “Tháng 12, vua thân đi đánh Chiêm Thành, dẫn 12 vạn quân xuất phát từ kinh sư. Đến bến sông xã Bát, có người làm lễ đám ma…”

 

Tài liệu tham khảo

-Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. KHXH, H. 2011.

-Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Sử học, 1960.

-Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, Nxb. Thuận Hóa, 1993.

-Nguyễn Đình Chiến: Cẩm nang đồ gốm Việt Nam có minh văn thế kỷ XV - XIX, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, 1999.

-Tăng Bá Hoành: Gốm Chu Đậu, Bảo tàng Hải Dương, 1996.

-Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến, Đồ gốm Bát Tràng từ TK XIV - XIX, Nxb. Thế giới, H. 1995.

-Nguyễn Văn Chiến: Tìm hiểu 11 tác phẩm Nôm trên đồ sứ kí kiểu, TC Xưa & nay, số 337, 338 tháng 8 - 2009

-Huình-Tịnh Paulus Của: Đại Nam quốc âm tự vị (Imprimerie Rey, Curiol & Cie, 1896),

-Vũ Văn Kính, Đại từ điển chữ Nôm, Nxb. Văn nghệ, Tp. HCM, 2002.

-Nguyễn Du, Truyện Kiều (khảo - chú - bình), Trần Nho Thìn và Nguyễn Tuấn Cường (khảo dị, chú thích, bình luận), Nxb. Giáo dục, H. 2007.

-Chu Quang Trứ: Tìm hiểu các nghề thủ công điêu khắc cổ truyền, Nxb. Mỹ thuật, H. 2000.

-Nguyễn Đình Chiến, Phạm Quốc Quân: 2000 năm gốm Việt Nam, Nxb. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, H. 2005.

-Lưu Trần Tiêu, Đặng Văn Bài, Nguyễn Đình Chiến: Cổ vật Việt Nam, Nxb. VH - TT, H. 2002.

-Vũ Từ Trang, Nghề cổ nước Việt, Nxb. Văn hóa dân tộc, H. 2001.

- Trần Khánh Chương, Gốm Việt Nam từ đất nung đến sứ, Nxb. Mỹ thuật, 2001./.

(Tạp chí Hán Nôm; Số 5(114) 2012; Tr.68-74)

Nguyễn Văn Chiến
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm