VI | EN
Hoàng Cao Khải có phải là tác giả của Nam sử diễn âm ? (Tạp chí Hán Nôm, số 4 (113) 2012; tr.40 - 53)
Hoàng Cao Khải có phải là tác giả của Nam sử diễn âm ? (Tạp chí Hán Nôm, số 4 (113) 2012; tr.40 - 53)

HOÀNG CAO KHẢI CÓ PHẢI LÀ TÁC GIẢ CỦA
NAM SỬ DIỄN ÂM ?

TS. ĐÀO PHƯƠNG CHI

Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Chúng tôi tìm đọc Nam sử diễn âm (NSDA) 南史演音 khi nghiên cứu về tư liệu lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Nôm, với đối tượng chính là những văn bản viết theo dạng tóm lược. Đây là cuốn lịch sử chép từ đời Hồng Bàng đến hết Lê Cung Hoàng. Hiện nay, theo như chúng tôi được biết, NSDA chỉ có một bản, được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AB.482, chép tay, 183 tờ, trang 9 hàng, hàng đủ 25 - 28 chữ, viết theo thể chân đá hành, tương đối dễ đọc. Từ tờ 1a đến 5b là phần bản đồ, gồm: 1. Nước Tàu về đời nhà Tần; 2. Nước Tàu về đời Tam quốc; 3. Nước Tàu về đời Ngũ quý; 4. Nước Nam khi nhà Trần chống với Mông Cổ. Tờ 6a là Mục lục. Phần chính văn bắt đầu từ tờ 7a đến 183a.

Đầu tờ 7a là dòng chữ: “Phụ chính đại thần, Thái tử Thái phó, Văn minh điện Đại học sỹ, Diên Mậu Quận công, Thưởng thụ Đệ nhị đẳng Bắc đẩu Bội tinh Hoàng Cao Khải soạn.” (Hoàng Cao Khải, Phụ chính đại thần, Thái tử Thái phó, Văn minh điện Đại học sỹ, Diên Mậu Quận công, được ban thưởng Bắc đẩu Bội tinh hạng Nhì soạn.) Ngoài cương vị đại thần của nhà Nguyễn, Hoàng Cao Khải còn được biết đến với tư cách một nhà sử học và là tác giả của nhiều cuốn lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán, chữ Nôm. Bởi vậy, việc NSDA là sách do ông soạn cũng không phải là điều bất ngờ với người đọc. Một số từ điển hiện nay cũng khẳng định điều này(1).

Sách sử Việt Nam viết bằng chữ Nôm, như sự khảo sát của chúng tôi, đều có niên đại cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Bởi vậy, bắt tay vào đề tài này, người viết cũng để tâm tìm hiểu những tác phẩm lịch sử bằng chữ Hán và chữ Quốc ngữ có hình thức trình bày tương tự và cùng thời kỳ. Một trong số đó là Việt Nam sử lược (VNSL) 越南史略 của Trần Trọng Kim. Đọc lại cuốn sách đã từng có lần tiếp xúc từ thuở sinh viên, chúng tôi không khỏi bất ngờ vì sự tương đồng quá lớn của nó và NSDA. Chỉ có điều, VNSL không dừng lại ở thời Lê Cung Hoàng như NSDA, mà còn có thêm các phần Nam Bắc phân tranh thời đạiCận kim thời đại.

Chúng tôi xin dẫn ra một số đoạn sau đây để minh chứng cho sự giống nhau đặc biệt của hai văn bản(2):

Bảng 1: Sự tương đồng giữa VNSLNSDA(3)

VNSL(4)

NSDA

4. Giặc Bể.

Năm đinh-vị (767) là năm Đại-lịch thứ 2, đời vua Đại Tôn nhà Đường, sử chép rằng có quân Côn-lôn và quân Đồ-bà là quân ở những đảo ngoài bể vào cướp phá ở đất Giao-châu, lên vây cả châu-thành.

Quan Kinh-lược-sứ là Trương-bá-Nghi cùng với quan Đô-úy là Cao-chính-Bình đem quân đánh phá được lũ giặc ấy. Trương-bá-Nghi bèn đắp La-thành để phòng giữ phủ trị. La-thành khởi đầu từ đấy. [45]

Đệ tứ: Giặc bể

Năm Đinh Mùi là năm Đại Lịch thứ hai đời vua Đại tông nhà Đường. Sử chép rằng có quân Côn Lôn và quân Đồ Bà là quân ở những đảo ngoài bể vào cướp phá đất Giao Châu, lên vây cả châu thành.

Quan Kinh lược sứ là Trương Bá Nghi cùng mới quan Đô hộ là Cao Chính Bình đem quân đánh phá được lũ giặc ấy. Trương Bá Nghi bèn đắp La Thành để phòng giữ phủ trị. La Thành khởi đầu tự đấy. [39b - 40a]

2. Sự Thi Cử.

Tuy bấy giờ lo việc võ bị nhiều, nhưng cũng không quên việc văn học; năm giáp-dần(1374)mở khoa thi tiến-sĩ, lấy hơn 50 người cho áo mũ vinh quy. Trước vẫn có thi thái học sinh, đến bấy giờ mới đổira làthi tiến-sĩ. [148]

Đệ nhị: Sự thi cử

Tuy bấy giờ lo việc vũ bị nhiều, nhưng cũng không quên việc văn học. Năm Giáp Dần (1374), mở khoa thi Tiến sỹ, lấy hơn năm mươi người cho áo mũ vinh quy. Trước vẫn có thi Thái học sinh, đến bây giờ mới đổilàmthi Tiến sỹ. [117b - 118a]

7. Đại-Việt sử-ký.

Thánh-tôn sai Ngô-sĩ-Liên làm bộ Đại-Việt sử-ký chia ra làm 2 bản. Một bản kể từ Hồng-bàng-thị cho đến thập-nhị Sứ-quân có 5 quyển. Một bản kể từ Đinh Tiên-hoàng cho đến Lê Thái-tổ, có 10 quyển. Cả thảy là 15 quyển. [212]

Đệ thất: Đại Việt sử ký

Thánh tông sai Ngô Sỹ Liên làm bộ Đại Việt sử ký chia ra làm hai bản. Một bản kể tự Hồng Bàng thị cho đến mười hai quan Sứ quân, có năm quyển. Một bản kể tự Đinh Tiên hoàng cho đến Lê Thái tổ, có mười quyển. Cả thảy là mười lăm quyển. [172b - 173a]


Chúng ta đều biết rằng Trần Trọng Kim là một chính trị gia kiêm học giả nổi tiếng của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ông đã quá quen thuộc với người đọc, đặc biệt là những người mới nhập môn về lịch sử văn hoá Việt Nam, qua các cuốn Quốc văn giáo khoa thư, Luân lý giáo khoa thư, Việt Nam văn phạm, Nho giáo, Phật giáo, Đường thi, Việt thi v.v… Tình hình nói trên của hai văn bản khiến chúng tôi thực sự băn khoăn. Cho dù NSDA có phải là của Hoàng Cao Khải hay không, thì việc làm rõ thực chất mối quan hệ giữa hai cuốn sách cũng là một việc cần thiết, dù mất thời gian đến đâu. Bài viết này của chúng tôi được hình thành từ suy nghĩ ấy.

Đầu tiên, người viết tìm hiểu về các văn bản VNSL. Theo như chúng tôi được biết, tính từ khi ra đời năm 1920, VNSL đã được in tổng cộng 9 lần:

1. Việt Nam sử lược. Trung Bắc Tân Văn. H, 1920.

2. Việt Nam sử lược. Imprimerie Vĩnh & Thành, H. 1928.

3. Việt Nam sử lược. Lê Thăng. H, 1943.

4. Việt Nam sử lược. Tân Việt. H, 1949.

5. Việt Nam sử lược. Tân Việt. S, 1951.

6. Việt Nam sử lược. Tân Việt. S, 1954.

7. Việt Nam sử lược. Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 1999.

8. Việt Nam sử lược. Nxb. Thanh Hóa. Thanh Hóa, 2006.

9. Việt Nam sử lược. Nxb. KHXH. H. 2011.

Như vậy là cho đến nay, VNSL đã có tuổi đời 84 năm, với 9 dị bản. Tìm hiểu mối quan hệ của NSDA với cả 9 văn bản này sẽ là một công việc lãng phí thời gian và công sức. Để khoanh vùng mối quan hệ của NSDA với các bản VNSL, chúng tôi tiến hành bước tiếp theo: tìm hiểu thời điểm gia nhập kho sách Hán Nôm của NSDA. Thật may mắn, chúng tôi đã có được thông tin cần biết từ Bước đầu tìm hiểu kho sách chữ Hán của Việt Nam ở Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp(5) qua thư mục của Matsumoto Nobuhiro(6). Bài viết đã công bố một số đoạn dịch phần Lời tựa của GS. Matsumo, trong đó có đoạn: "Vào tháng 8 năm 1933, khi sang Hà Nội, tôi đã nhờ ông Trịnh Văn Cự, nhân viên làm thuê của Học viện chép lại thư mục sách của những người làm trước đây mang về Nhật Bản, phân loại rồi cho in, đó chính là bộ thư mục sách Hán Nôm này.” Cũng theo lời vị giáo sư người Nhật, thì đây là ấn bản được in theo bộ Thư mục của Gaspardonne, nhân viên Viễn đông Bác cổ (VĐBC). Chúng tôi không có bộ thư mục của ông Matsumoto trong tay, nhưng khi tra thư mục của Gaspardonne thì thấy có NSDA, với ký hiệu AB.482(7). Như vậy thì, thời điểm muộn nhất mà NSDA có mặt tại VĐBC là năm 1933 và trong số 9 bản VNSL, thì chỉ có bản đầu tiên được đặt trong mối quan hệ với NSDA. Các bản còn lại không nằm trong đối tượng cần quan tâm, vì đều được xuất bản sau mốc thời gian 1933 nói trên.

Sau khi so sánh, chúng tôi thấy sự xuất nhập giữa hai bản được chia thành 2 dạng: . Sự bớt/hoặc thêm chữ và ‚. Sự sai khác chữ.

Qua thống kê về sự bớt/hoặc thêm chữ(8), chúng tôi thu được 147 trường hợp, trong đó, có 9 trường hợp sau gây ảnh hưởng đến ý nghĩa câu:

Bảng 2:

TT

NỘI DUNG

ẢNH HƯỞNG(9)

VNSL

NSDA

TRANG(10)

1

Nước Việt Nam ở về phía đông nam châu Á-tế-á

N

x (11)

 

2

2

… lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ

N

x

 

7

3

… hễ nước lên cao bao nhiêu,thì Sơn Tinh làm núi cao lên bấy nhiêu

N

x

 

 

10

4

… nên phân biệt truyện nào là truyện thực, truyện nàotruyện đặt ra

N

x

 

 

11

5

… nhà Hánđã làm vua thiên hạ

N

x

 

21

6

… thì nhà vua làm thế nào?

N

x

 

22

7

Tất là tướng-quân-sĩ chết nhiều

n

x

 

 

23

8

Trẫm nay xincùngnhà vua gác bỏ điều cũ

n

x

 

9

… phụng mệnh ra trị nước ĐạiHán

N

 

x

22b


Trong 9 trường hợp này, thì VNSL có 8 lần chuẩn xác hơn NSDA, NSDA chỉ chuẩn hơn VNSL 1 lần. Như vậy, có thể coi những trường hợp ngoài 9 trường hợp nêu trên là sự bớt/thêm có chủ ý, khiến cho ý nghĩa câu văn không bị ảnh hưởng. Còn những trường hợp ở bảng 2 này là sự bỏ sót chữ do vô tình, nên dẫn đến sự sai lạc

nghĩa hoặc vô nghĩa của câu hoặc đoạn văn. Vậy
NSDA sao chép từ VNSL rồi sơ ý bỏ sót chữ hay VNSL sao chép từ NSDA rồi bổ sung “hộ” NSDA? Để trả lời câu hỏi này, cần phải tìm hiểu thêm về những đoạn bớt/hoặc thêm có số chữ tương đối dài(12). Qua thống kê, chúng tôi đã tìm ra được những trường hợp sau:

Bảng 3:

TT

VNSL

NSDA

 

1

Thanh Hóa đổi ra Thanh Đô Trấn(13); Quốc Oai là Quảng Oai Trấn; Đà Giang Lộ là Thiên Hưng Trấn; Nghệ An Lộ là Lâm An Trấn; Tràng An Lộ là Thiên Quan Trấn; [157]

Thanh Hóa đổi làm Thanh Đô trấn, Quốc Oai làm Quảng Oai trấn, Đà Giang lộ là Thiên Hưng trấn [125b]

 

2

"Ta sống cũng ở đất Hóa Châu này, mà chết cũng ở đất Hóa Châu này. Hóa Châu mà không lấy được thì không mặt mũi nào về trông thấy chúa thượng !" [173]

“Ta sống cũng ở đất Hóa Châu này. Hóa Châu mà không lấy được, thời không mặt mũi nào về trông thấy chúa thượng.” [140a]

 

3

Nguyễn Súyvà Đặng Dung nửa đêm đem quân đến đánh trại Trương Phụ. Đặng Dung đã vào được thuyền của Trương Phụđịnh để bắt sống lấy nhưng không biết mặt […] [173]

Nguyễn Soái và Đặng Dung nửa đêm đem binh đến đánh trại Trương Phụ, định để bắt sống lấy, nhưng không biết mặt […] [140a]

 

4(a)

4(b)

Lưu Phương thừa kế tiến quân sang sông đuổi đánh, gặp đại binh Lâm Ấp kéo đến, có nhiều voi thế rất mạnh. Lưu Phương bèn dùng mưu: saiquân đào hố lấy cỏ phủ lên, rồi sai quân ra đánh nhử, giả tảng bại trận. Quân Lâm Ấp đuổi theo được một quãng, voi sa xuống hố, quân sĩ loạn cả. [43]

Lưu Phương thừa thế tiến quân sang sông đuổi đánh, gặp đại binh Lâm Ấp kéo đến, có nhiều voi, thế rất mạnh. quân đào hố, lấy cỏ phủ lên, rồi sai quân ra đánh giữ, nhử voi sa xuống hồ. Quân sỹ loạn cả. [38a]

 

5

Năm Đinh Mão(907)nhà Đường mất ngôi, nhà Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu, tranh nhau làm vua. Mỗi nhà được mấy năm, gồm tất cả là 52 năm, gọi là đời Ngũ Quí hay là Ngũ Đại. [51]

Năm Đinh Mão nhà Đường mất ngôi, nhà Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu tranh nhau, gọi là đời Ngũ Quý, hay là Ngũ đại. [45a]

 

6

Nhưng xét ra thì điều gì mình cũng thuakémTàu, mà tự người mình không thấy có tìm kiếmvà bày đặt ra được cái gì cho xuất sắc […] [61]

Nhưng xét ra thời điều gì mình cũng thua kém và bày đặt ra được cái gì cho được xuất sắc […] [52a]

 

7

Một hôm Đỗ Thíchthấy Tiên-hoàng say rượu nằm trong cung, bèn lẻn vàogiết Tiên-hoàng đi, rồi giết cả Việt Nam-vương Liễn. [68]

Một ngày Đỗ Thích giết Tiên hoàng đi, rồi giết cả Việt Nam vương Liễn. [57a]

 

8

Bấy giờ các quan là bọn Lý nhân Nghĩa xin Thái-tử cho đem quân ra thành quyết được thua mộttrận. Khi quân của Thái-tử và quân các vương đối trận, thì quan Võ-vệ tướng-quân là Lê phụng Hiểu rút gươm […] [75]

Bấy giờ các quan là bọn Lý Nhân Nghĩa xin Thái tử cho đem quân ra thành quyết được thua một trận. Thì quan Vũ vệ Tướng quân là Lê Phụng Hiểu rút kiếm [62a]

 

9

Thủ Độđã hại hết cả dòng dõinhà Lý, lại muốn cho hậu thế không ai nhớ đến họ Lý nữa, cho nên nhân vì tổ nhà Trần tên là Lý, bắt trong nước ai là họ Lý đều phải cải là họ Nguyễn.

Thủ Độ thật là người rất gian-ác với nhà Lý, nhưng lại là một ngườiđại công-thần của nhà Trần. [98]

Thủ Độ đã hại hết cả giòng dõi nhà Lý, nhưng lại là một người công thần của nhà Trần [78b]

 

 

10

Khi quân gần đến thành Đồ Bàn, quả nhiên bị quân Chiêm đổ ra vây đánh. Quan quân thua to [149]

Khi vây đánh, quan quân thua to [118b]

 

11

Năm canh thân(1380) lại sang phá ở đất Thanh Hóa, Nghệ An. Vua sai Lê Quý Ly lĩnh thủy binh, Đỗ Tử Bình lĩnh bộ binh vào giữ ở Ngu Giang, huyện Hoằng Hóa (Thanh Hóa).Lê Quý Ly đánh đuổi được quân Chiêm về. [150]

Năm Canh Thân (1380), lại sang phá ở đất Thanh Hóa. Lê Quý Ly đánh đuổi được quân Chiêm về [119a]

 

12

... lại đặt ra 3 ti là: Bố Chính Ti, Án Sát Ti, Chưởng Đô Ti, và cả thảy ở trong nước lập ra 472 nha môn để cai trị, sai quan thượng thư là Hoàng Phúc coi cả Bố Chính ti và Án Sát Ti [169]

... lại đặt ra ba ti là Bố Chính ti, Án Sát ti, Trưởng Đô ti, sai quan Thượng thư là Hoàng Phúc coi cả Bố Chính ti và Án sát ti [136b]

 

13

Bọn Hoàng Phúc ở lại sửa sang các việc trong nướcđể khiến cho người An Nam đồng hóa với người Tàu. Lậpra đền miếu, bắt người mình cúng tế theo tục bên Tàu [175]

Bọn Hoàng Phúc ở lại sửa sang các việc trong nước, ra đền miếu bắt người mình cúng tế theo tục bên Tàu. [141a]

 

14

Bấy giờ lý trưởng và giáp thủ phải đập đánh cực khổ không biết thế nào mà nói được.[178]

[144a]

 

15

... vương không nghe, bảo rằng: "Việc đánh thành là hạ sách, nay ta hãy cứ dưỡng binh súc nhuệ để đợi quân địch đến thì ra đánh. Hễ viện quân mà thua, thì quân trong thành tất phải ra hàng. [194]

vương không nghe, dưỡng binh súc nhuệ để đợi quân địch đến thời ra đánh. Hễ viện quân mà thua, quân trong thành phải ra hàng. Việc đánh thành là hạ sách. [157a]

16

xã nào hơn 100 người trở lên, gọi là đại xã, đặt ba người xã quan; xã nào có 50 người trở lên, gọi là trung xã, đặt hai xã quan; xã nào có 10 người trở lên gọi là tiểu xã [203]

... xã nào hơn một trăm người trở lên gọi là Đại xã, đặt ba người Xã quan, xã nào có mười tuổi trở lên gọi là tiểu xã [164b]

17

... châu thì đặt Phòng-ngự-sứ; huyện thì đặt Chuyển-vận-sứ và Tuần-sát-sứ; xã thì đặt Xã-quan. [209]

... châu thời đặt Phòng ngự sứ, xã thời đặt Xã quan. [169a]

18

Thánh-tông liền cho người lên do-thám thực hư. Ngài bảo với triều-thần rằng: "Ta phải giữ-gìn cho cẩn-thận [216]

Thánh tông liền cho người lên giữ gìn cho cẩn thận [175b]

19

... chia ra từ họ Hồng-Bàng cho đến thập-nhị Sứ-quân làm ngoại-kỷ, còn từ Đinh Tiên-hoàng đến Lê Thái-tổ làm bản-kỷ, cả thảy là 26 quyển. [219]

... chia ra tự họ Hồng Bàng cho đến Thập nhị sứ quân làm Ngoại kỷ, cả thảy là hai mươi sáu quyển. [178a]

20

... có ngươi Trần Cao thấy sấm nói rằng ở phương đông có thiên-tử khí, bèn cùng với đồ-đảng đánh lấy đất Hải-dương [219]

... có ngươi Trần Cao thấy sấm nói rằng lấy đất Hải Dương [178b]

21

… quan Quan-sát-sứ là ôngNguyễn tự Cường, tước Bình-hồ-bá là ông Nghiêm bá [224]

… quan Quan sát sứ là ông Nghiêm Bá Kỳ [182b]

22

… người thì nhổ vào mặt Mạc đăng Dung, hay là lấy nghiên mực đập vào mặtĐăng Dung, rồi bị giết. [224]

… người thời nhổ vào mặt Đăng Dung, rồi bị giết. [182b]


Trong 23 trường hợp trên (vì trường hợp 4 có 2 chỗ thêm/bớt là 4(a) và 4(b) nên tổng cộng là 23 chứ không phải 22 như số TT thể hiện trong bảng) không có trường hợp nào những chữ dôi ra nằm ở NSDA, trừ trường hợp 15, nhưng đây cũng không phải là do NSDA có nhiều chữ hơn VNSL mà chỉ là do có một ý ở VNSL được đặt lên trên còn ở NSDA lại được đưa xuống dưới.

Sau khi đối chiếu, chúng tôi thấy có thể chia các trường hợp trên thành 3 nhóm:

. Số chữ không có ở NSDA bằng đúng 1 hoặc nhiều dòng liền nhau trong VNSL (trường hợp 5, 10, 12, 13, 14, 15, 18), chiếm 30,4%;

‚. Phần không có trong NSDA thường là phân câu/câu có chữ kết thúc (hoặc mở đầu) trùng với chữ kết thúc (hoặc mở đầu) phân câu/câu trước trong VNSL (trường hợp 1, 2, 3, 6, 8, 9, 11, 16, 17, 19, 21, 22), chiếm 52,2%;

ƒ. Không rõ quy luật (trường hợp 4a, 4b, 7, 20), chiếm 17,4%;

Trong đó, đặc điểm của ‚ khiến chúng tôi nghiêng về khả năng NSDA được sao chép từ VNSL, vì sự bỏ sót cả dòng hoặc cả câu/phân câu, đặc biệt là khi những câu/phân câu lại có đặc điểm như đã nêu ở ‚ là rất dễ xảy ra đối với người vừa đọc vừa sao chép, chứ ít khi xảy ra đối với người chỉ tập trung vào việc đọc. Nhưng để khẳng định sự thêm/bớt trên là do NSDA chép thiếu từ VNSL hay VNSL bổ sung thêm theo ý của mình, vẫn cần phải tìm hiểu thêm một bước nữa:

Trong số 23 trường hợp, thì 5 (2, 4a, 6, 8, 19) câu/đoạn văn ở NSDA trở nên có vấn đề. Điều đó chứng tỏ rằng: . Viết như VNSL mới đúng; ‚. NSDA bỏ sót chữ chứ không phải là VNSL thêm chữ và sự bỏ sót chữ của NSDA đã làm hỏng cả câu/đoạn văn. 4 trong 5 trường hợp trên (80%) rơi vào dạng ‚: phần bị thiếu là phân câu/câu có chữ kết thúc (hoặc mở đầu) trùng với chữ kết thúc (hoặc mở đầu) phân câu/câu trước, nên dễ gây lầm lẫn và sao chép sót. Chỉ có 1 trường hợp bỏ sót không rõ quy luật (4a). Tỷ lệ thiếu chữ ở dạng ‚ rất cao như trên khiến chúng tôi càng thêm tin vào khả năng NSDA được sao chép từ VNSL.

Xin được trình bày cụ thể phần lý giải nguyên nhân sao chép sót trong từng trường hợp như sau:

Bảng 4: (Xin theo dõi những chữ gạch chân ở bảng 3. Đó là những chữ dễ khiến cho người sao chép bị lầm lẫn, dẫn đến bỏ cách một đoạn hoặc cả câu)

 


TT

LÝ GIẢI NGUYÊN NHÂN GÂY SAO CHÉP THIẾU Ở NSDA

1

Ở đoạn liệt kê, dễ nhìn lầm vì các phân câu đều kết thúc bằng chữ “trấn”

2

Bị sót do nhìn nhầm vì phân câu trên cũng kết thúc bằng “Hóa Châu này”

3

Bị sót do nhìn nhầm vì câu trước kết thúc bằng “Trương Phụ”

4(a)

Không rõ quy luật

4(b)

Không rõ quy luật

5

Bằng đúng 1 dòng của VNSL

6

Có thể do “kém” và “kiếm” cùng mã chữ Nôm 劍 nên người sao chép mới chép đến chữ “kém” nhưng lại lầm là “kiếm”, vì vậy đã bỏ sót cả đoạn từ sau chữ “kém” đến trước chữ “kiếm”

7

Không rõ quy luật

8

Do phân câu trên cũng kết thúc bằng chữ “trận”

9

2 câu đều mở đầu bằng “Thủ Độ” và đều có 2 chữ “nhà Lý” kết thúc phân câu thứ nhất

10

Vừa đúng 1 dòng trong VNSL

11

Do chữ lin sát với đoạn bị bỏ sót và chữ kết thúc đoạn đó đều là “Thanh Hóa”

12

Bằng đúng 1 dòng trong VNSL

13

Bằng đúng 1 dòng trong VNSL

14

Là 2 dòng cuối của 1 trang trong VNSL

15

Vừa đúng 1 dòng trong VNSL. Có lẽ phát hiện ra bị sót nên đã đưa câu Việc đánh thành là hạ sách xuống dưới

16

Do nằm trong đoạn liệt kê, lầm vì phân câu trên cũng kết thúc bằng ”xã quan”

17

Do nằm trong đoạn liệt kê, nhầm vì phân câu trên cũng kết thúc bằng chữ ”sứ”

18

Bằng đúng 1 dòng trong VNSL

19

Do cuối phân câu trên cũng kết thúc bằng chữ ”kỷ” 

20

Không rõ quy luật

21

Do liền trước chữ “Nguyễn” cũng là chữ “ông“

22

Do phân câu trước và phân câu sau đều kết thúc bằng “Đăng Dung”

 

Như vậy, trong phần khảo sát những chỗ thêm/bớt của 2 bản, chúng tôi đã đi đến nhận định: nhiều khả năng NSDA là cuốn sách sao chép từ VNSL. Sau đây, xin chuyển sang phần khảo sát về những chỗ dị tự giữa hai bản, để xem nhận định trên của chúng tôi có khả dĩ hay không.

Giống như trường hợp bớt/thêm chữ, dị tự giữa hai bản cũng rất nhiều, ở đây, người viết chỉ liệt kê những chỗ mà câu văn không được thông về ý nghĩa, có nghĩa là bản đó đã viết sai.

Bảng 5: Một số dị tự giữa VNSLNSDA

TT

NỘI DUNG

 

VNSL

NSDA

1

... biết giữ kỷ luật [4]

… biết giữ kỷ vệ [10a]

2

... nước ta khởi đầu quốc sử từ cuối thập tam thế kỷ [10]

… nước ta khởi đầu từ quốc sử từ cuối đời thập tam thế kỷ [14a]

3

... những con trai ăn phải, hóa ra có ngọc trân châu [15]

… những con trai ăn phải, hóa ra có ngọc trần châu [17a]

4

Trẫm cũng nghe lờithư của nhà vua, thời đã bảo Bác Dương hầu bãi binh về [23]

Trẫm cũng nghe lờinhư của nhà vua, thời đã bảo Bác Dương hầu bãi binh về [23a]

5

Xemthưcủa Hán Văn đế lời nhẽ tử tế, thực là có nhân từ. [23]

Xem như của Hán Văn đế lời nhẽ tử tế, thực là có nhân từ. [23b]

 

6

Dương vương lên làm vua được độ một năm, thời vua Vũ đế nhà Hán sai Phục Ba Tướng quânLộ Bác Đức và Dương Bộc đem năm đạo quân sang đánh lấy Nam Kỳ [25]

Dương vương lên làm vua được độ một năm, thời vua Vũ đế nhà Hán sai Phục Ba Tướng quânLộ Bác Đức và Dương Bộc đem năm đạo quân sang đánh lấy Nam Kỳ [25b]

 

7

Sỹ Nhiếp trị dân có phép tắc,lại chăm sự dạy bảo dân, cho nên [30b] lòng người cảm mộ cái công đức, mới gọi tôn lên là Sỹ vương. [33]

Sỹ Nhiếp trị dân có phép tắc,chalại chăm sự dạy bảo dân, cho nên lòng người cảm mộ cái công đức, mới gọi tên là Sỹ vương. [30a]

 

8

Nhưng chỉ vì nước thì nhỏ, ngườithì hèn, mà người trong nước lại không biết đồng tâm với nhau, không hiểu các lẽ hợp quần đoàn thể là thế nào, cho nên không thành công được. [51]

Nhưng chỉ vì nước thì ít, ngườihèn, mà người trong nước lại không đồng tâm mới nhau, không hiểu các nhẽ hợp quần đoàn thể là thế nào, cho nên không thành công được. [45a]

9

Đức Thích Ca làcon một nhà quý tộc ở đất Ấn Độ. [59]

Đức Thích Ca là một connhà quý tộc ở đất Ấn Độ. [50b]

 

10

Thân Lợi xưng là con riêng vua Nhân tông, trước đã xuất gia đi tu, rồichiêu tậpnhững đồ vong mạng hơn một ngàn người, chiếm giữ mạn Thái Nguyên [89]

Thân Lợi xưng là con riêng vua Nhân tông, trước đã xuất gia đi tu, rồichiếm lậpnhững đồ vong mạng hơn một ngàn người, chiếm giữ mạn Thái Nguyên [72b]

 

11

Bấy giờ nhà Nguyên đương […] truyền hịch cho ba tỉnh Giang Hoài, Hồ Quảng, Giang Tây tụtậpquân sỹ [124]

Bấy giờ nhà Nguyên đương […] truyền hịch cho ba tỉnh Giang Hoài, Hồ Quảng, Giang Tây tụlậpquân sỹ [99a]

 

12

Hưng Đạo vương biết ý, sai tướng lên giữ núi Kỳ Cập và ải Nữ Nhi ở mặt Lạng Sơn, khôngchongười Tàu đi lại. [128]

Hưng Đạo vương biết ý, sai tướng lên giữ núi Kỳ Cập và ải Nữ Nhi ở mặt Lạng Sơn, khôngngười Tàu đi lại. [102b]

13

Cho hay, ba quân đã đến ngày đại định, kỷ niệm [162a] công vô địch về sau. [199]

Cho hay, ba quân đã đến ngày đại địch, kỷ niệm công vô địch về sau. [162a]

14

Quan phủ huyện phải dẫn các xã trưởng về kinh để khai sổ hộ khẩu ở các xã. [209]

Quan phủ huyện phải dẫn các trường có kinh để khai sổ hộ khẩu ở các xã. [169b]

 

15

Các dân Mường Mán ở ngoài bờ cõi,nếu giữ lời di huấn, không được trái đạo luân thường. [212]

Các dân Mường Mán ở ngoài bờ cõi, liệu giữ lời di huấn, không được trái đạo luân thường. [172b]

 

16

Bấy giờ, Uy mục lại hay tin dùng mấy kẻ ngoại thích và tìm những người có sức mạnh để làm vây cánh cho mình. [217]

Bấy giờ, Uy mục lại hay tin dùng mấy kẻ ngoại thích và tìm những người có sắc mệnhđể làm vây cánh cho mình. [177a]

17

Vàng mười thứ tốt là kiêm kim [219]

Vàng mười thứ tốt là liêm kim [178a]

 

18

Bấy giờ, có Nguyễn Quận công là Trịnh Duy Sản trước vẫn có công đi đánh giặc, nhưng sau vì hay can vua mà phải đánh. Trịnh Duy Sản tức giận, bèn mưu mới Lê Quảng Độ và Trần Trí Sâm để lập vua khác [220]

Bấy giờ, có Nguyễn Quận công là Trịnh Duy Sản trước vẫn có công đi đánh giặc, nhưng sau vì hay can vua khác. Trịnh Duy Sản tức giận, bèn mưu mới Lê Quảng Độ và Trần Trí Sâm để lập vua khác [179a]


Có thể chia các lỗi thành 6 trường hợp sau:

. Vô nghĩa (câu 1, 2, 5, 10, 11, 13, 14, 16, 18)

‚. Tối nghĩa (4)

ƒ. Khiên cưỡng (7)

„. Sai ngữ pháp (8, 9, 15)

…. Sai thông tin (6, 12)

†. Sai thuật ngữ (3, 17)

Sau đây, chúng tôi sẽ lập bảng phân loại các lỗi sai, phân tích (nếu cần) và chỉ ra bản viết đúng:

Bảng 6: Phân tích các lỗi sai

TT

LỖI

PHÂN TÍCH

BẢN ĐÚNG

1

Vô nghĩa

 

VNSL

2

Vô nghĩa

 

VNSL

3

Sai thuật ngữ

Không có loại ngọc “trần châu”, chỉ có “trân châu”

VNSL

 

4

 

Tối nghĩa

Đây là lời thư Hán Văn đế nói về việc Triệu Đà đưa thư cho Long Lư hầu xin bãi binh ở quận Trường Sa. Bởi vậy, “thư” thì sáng nghĩa hơn “như”

 

VNSL

5

Vô nghĩa

Đây là đoạn nói về việc Triệu Đà nhận được thư của Hán Văn đế và chịu phục. Bởi vậy phải là “thư”, “như” vô nghĩa

VNSL

 

6

 

Thông tin sai

Theo Trung văn đại từ điển, Lộ Bác Đức (? - ?) là vị tướng nhà Hán, được phong Phục ba Tướng quân(14). Vậy Phục ba Tướng quân và Lộ Bác Đức là một người. Viết như NSDA sẽ có nghĩa là hai người.

 

VNSL

7

khiên cưỡng

Viết là “cha” thì không ổn về ngữ nghĩa, vì người này không thấy được dân ta gọi là “cha” bao giờ, chỉ gọi là “vương” hoặc “Sỹ vương”

 

VNSL

8

Sai ngữ pháp

Đang ở trong mạch văn liệt kê dạng đẳng lập “thì… thì…”, thay “thì” bằng “vì” như NSDA là không đúng với ngữ pháp, đồng thời cũng làm sai lệch ý của tác giả

 

VNSL

9

Sai ngữ pháp

 

VNSL

10

Vô nghĩa

 

VNSL

11

Vô nghĩa

 

VNSL

12

Thông tin sai

Văn cảnh đang nói đến việc quân ta lên chặn ở không cho quân giặc về nước để cầu viện, vì vậy “không người Tàu đi lại” thì không hợp văn cảnh và cũng không hợp lý. Nếu đã “không có” thì chặn ai?

 

VNSL

13

Vô nghĩa

 

VNSL

14

Vô nghĩa

 

VNSL

15

Sai ngữ pháp

Đây là 1 trong 24 điều giáo hóa do Lê Thánh tông đặt ra, quy định cho dân phải theo. “liệu” ở đây có nghĩa là “tính toán”, “tìm cách”(15). Thay “liệu” bằng “nếu” vừa vô nghĩa vừa sai ngữ pháp

 

NSDA

16

Vô nghĩa

 

VNSL

17

Sai thuật ngữ

Không có “liêm kim”, mà chỉ có “kiêm kim” – thứ vàng tốt, giá cao gấp đôi vàng thường(16). Câu này viết là “liêm” nhưng ở ngay câu dưới, NSDA lại viết là “kiêm” như VNSL, chứng tỏ “liêm kim” là nhầm

 

VNSL

18

Vô nghĩa

Viết như VNSL rất sáng nghĩa, như NSDA thì câu văn sai cả logic lẫn ngữ nghĩa. Có lẽ là do người sao chép đã nhầm, vì ở ngay câu dưới cũng có chữ “vua“ và sau chữ “vua“ ấy là chữ “khác“, nên đã đưa nhầm lên trên

 

VNSL

Trong 18 trường hợp trên, thì 17 (94%) là NSDA sai. Có một điều đặc biệt, ít nhất là 13/18 trường hợp (72%) sai khác thuộc về nhầm tự dạng chữ Việt, có nghĩa là nhiều khả năng những sai khác ấy là do NSDA nhìn vào bản VNSL rồi đọc lầm, viết lầm, dẫn tới câu văn bị sai. Đó là các trường hợp có số TT từ 3 đến 15. Với tỷ lệ sai sót do lầm tự dạng chữ Việt cao như vậy, kết hợp với tỷ lệ sai sót do vừa đọc vừa sao chép như chúng tôi phân tích ở trên, đã có thể khẳng định NSDA sao chép từ VNSL. Tuy vậy, thiết nghĩ, cũng nên đưa ra một bằng chứng nữa để làm chắc chắn thêm kết luận đó: Ở dòng cuối văn bản NSDA là hàng chữ “Cộng nhất bách cửu thập trang. Chung” (Tổng cộng 190(17) tờ. Kết thúc). Như vậy là người viết văn bản trên đã thông báo cuốn NSDA đến đây là hết. Nhưng lần ngược lên phần đầu văn bản, ta lại thấy VNSLNSDA viết như sau:

Bảng 7:

VNSL

NSDA

Nay ta nên theo từng thời đại mà chia sách Việt Nam sử ra 5 quyển để cho tiện sự kê cứu.

Quyển I: Thượng-cổ thời-đại.

Quyển II: Bắc-thuộc thời-đại.

Quyển III: Tự-chủ thời-đại.

Quyển IV: Nam-bắc-phân-tranh thời-đại.

Quyển V: Cận-kim thời-đại.

Nay ta nên nói từng thời đại, mà chia sách Việt Nam sử ra làm 5 quyển, để cho tiện sự kê cứu.

Cũng như những chỗ khác, phần liệt kê đề mục ở VNSL đã được NSDA lược đi. Đối chiếu với văn bản, thì ta thấy 2 quyển IVV không có trong NSDA. 2 quyển này nằm trong Quyển hạ của VNSL. Chỉ chép từ Quyển I đến Quyển III (Thượng cổ thời đại đến Tự chủ thời đại), nhưng ở phần đầu, NSDA cũng chia ra 5 quyển như VNSL là sao? Ta có thể đặt giả thiết như sau: NSDA vốn có đủ cả 5 quyển, nhưng 2 quyển cuối, vì một lý do nào đó, đã bị thất lạc. Cuốn NSDA có trong kho sách Hán Nôm ngày nay là bản sao từ phần đầu gồm 3 quyển của bản NSDA đã bị thất lạc phần cuối đó và hàng chữ “Cộng nhất bách cửu thập trang. Chung” là do người sao chép tự thêm vào. Nhưng theo chúng tôi, giả thuyết trên chỉ tồn tại trong trường hợp những phần khảo văn bản được thể hiện từ bảng 2 đến bảng 5 trong bài viết này không chứng tỏ rằng NSDA là bản sao của VNSL. Còn khi những bằng chứng khách quan từ các bảng thống kê trên đã cho thấy sự đáng ngờ của NSDA, thì sự bất nhất giữa việc chia quyển ở phần đầu và nội dung trong chính văn của NSDA chỉ có thể là một bằng chứng nữa khẳng định thêm về việc “đạo văn” của nó mà thôi.

Hơn nữa, nếu VNSL được chép lại từ NSDA thì khi nó ra đời là năm 1920, lúc Hoàng Cao Khải vẫn còn sống(18). Chắc chắn ông sẽ không im lặng trước sự việc đó. Và Trần Trọng Kim cũng không thể hi sinh cả sự nghiệp học thuật của mình bằng một việc làm vụng về nhường ấy. Đến đây, ta đã minh oan được cho nhà sử học họ Trần. Vậy Hoàng Cao Khải có phải là kẻ đạo văn?

Khi VNSL của Trần Trọng Kim ra đời, xét về địa vị chính trị, Hoàng Cao Khải đã là một nhân vật quyền lực, với những chức vụ quan trọng như Kinh lược Bắc Kỳ, Thượng thư Bộ Binh, Phụ chính Đại thần, Thái tử Thái phó, Văn minh điện Đại học sĩ, tước Diên Mậu Quận công. Còn xét về vị trí học thuật, thì cũng như Trần Trọng Kim, ông là tác giả của khá nhiều công trình, mà sử học chiếm một phần lớn trong số đó. Ngoài những cuốn chép tay, đã có nhiều cuốn được in như Việt sử yếu (326 trang), Việt sử kính (84 trang), Tây Nam hiếu diễn ca (44 trang), Trung hiếu thần tiên (252 trang)(19)..., có thêm NSDA hay không cũng không làm sự nổi tiếng của ông hơn lên hay kém đi. Với địa vị chính trị và uy tín học thuật của mình, thiết nghĩ, Hoàng Cao Khải khó có thể làm cái việc “tham bát bỏ mâm” như thế.

Vậy nguyên nhân nào dẫn đến sự ra đời của NSDA? Theo phỏng đoán chủ quan của chúng tôi, nhiều khả năng sự ra đời của văn bản này xuất phát từ nhu cầu thu mua sách và thác bản văn khắc Hán Nôm của VĐBC. Vì miếng cơm manh áo, nhiều người đã làm giả sách của những tác gia có tên tuổi hoặc làm giả thác bản văn bia bằng cách ngụy tạo niên đại để bán cho cơ quan này(20). Và NSDA là một trong những sản phẩm như thế. Có thể tạm đưa ra giả thiết về con đường tạo nên văn bản NSDA như sau:

Biết Hoàng Cao Khải là một đại thần của chính quyền nhà Nguyễn, đồng thời cũng là một nhà sử học khá nổi tiếng, người làm giả sách đã chuyển VNSL của Trần Trọng Kim ra thành bản chữ Nôm, rồi viết tên Hoàng Cao Khải vào để tăng giá trị cho cuốn sách. Sách đã được sao chép theo nguyên tắc bỏ đi toàn bộ những phần ghi số chương, đề mục, năm dương lịch và hầu hết các chú thích trong VNSL, rồi thêm vào một số ít chữ theo ý mình(21). Sau khi sao chép xong Quyển thượng (từ Thượng-cổ thời-đại đến Tự-chủ thời-đại), hoặc thấy cuốn sách đã đủ độ dày, hoặc trong tay không có Quyển hạ của VNSL (Quyển thượngQuyển hạ của VNSL được in thành 2 cuốn sách riêng rẽ), hoặc vì một lý do nào khác, người làm sách giả đã không hoặc không thể chép tiếp 2 quyển cuối, nhưng do sơ ý, không dở lại phần đầu để sửa “5 quyển” thành “3 quyển”, nên đã tạo nên sự bất nhất của cuốn sách. Đó là toàn bộ quá trình ra đời của NSDA theo sự hình dung của chúng tôi.

Bài viết này được khép lại trong tâm trạng nửa buồn, nửa vui. Buồn là bởi một cuốn sách trong kho sách Hán Nôm của chúng ta bị xác định là sách giả. Vui là vì 2 nhà sử học của nước nhà đã được chiêu tuyết. Cho dù từng hoạt động trong lĩnh vực nào, nhưng khi đã được xếp vào giới học thuật, thì họ đều có quyền bình đẳng. Một trong những quyền đó là được minh oan. Bởi vậy, điều mà bài viết này làm được tuy nhỏ bé, nhưng chỉ vậy thôi cũng đủ khiến cho kẻ hậu học thấy lòng thanh thản trước tiền nhân.(*)

Chú thích:

(1) Ví dụ như Từ điển văn học. Bộ mới. Nxb. Thế giới, H. 2003.

(2) Từ đây trở đi, những chữ in nghiêng đậm trong bảng là để biểu thị sự sai khác (hoặc có ở bản này mà không có ở bản khác, hoặc là các dị tự) giữa VNSLNSDA. Số đặt trong [ ] là số trang của các đoạn được dẫn.

(3) Xin xem ảnh chụp các đoạn trích VNSL NSDA tại phần Phụ lục.

(4) Việt Nam sử lược. In lần thứ 1. Trung Bắc Tân Văn, H. 1920.

(5) Những sách mang ký hiệu mở đầu bằng A (trong đó có ký hiệu AB như bản NSDA đang bàn ở đây) trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện nay là do Trường Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội trao lại cho ta vào năm 1958 (Trần Nghĩa. Bước đầu tìm hiểu các kho sách Hán Nôm và lịch sử thư mục học Hán Nôm. Tạp chí Hán Nôm, số 2-1988).

(6) Lương Thị Thu - Nguyễn Thị Oanh. Thông báo Hán Nôm học 2006.

(7) Thư mục Gaspardonne. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. VHc.2977.

(8) Chúng tôi chỉ thống kê từ đầu đến hết Quyển I: Thượng cổ thời đại (từ tr.1 đến tr.26 VNSL; từ tờ 7a đến tờ 25b NSDA).

(9) Sự ảnh hưởng được sử dụng 2 loại ký hiệu: N là ảnh hưởng ở mức độ nặng, còn n là ảnh hưởng ở mức độ nhẹ.

(10) Số có ký hiệu a hoặc b liền sát là số tờ ở NSDA, còn không có thì là số trang ở VNSL.

(11) Ký hiệu x có ở bản nào tức là chữ nghiêng đậmở hàng tương ứng trong cột 2 xuất hiện trong bản đó.

(12) Trong những đoạn bớt/hoặc thêm có số chữ tương đối dài ở hai bản VNSLNSDA, chúng tôi thấy rằng 100% số chương, đề mục, năm dương lịch, thuật ngữ hoặc tên riêng nước ngoài và phần dịch nghĩa chỉ có ở VNSL, khoảng 98% chú thích chỉ có ở VNSL. Đó là sự thêm/ bớt có chủ ý, nên chúng tôi tạm không thống kê ra đây để khỏi mất thời gian của độc giả.

(13) Chúng tôi sẽ trình bày ý nghĩa của những chữ gạch chân trong bảng này ở bên dưới.

(14) Trung văn đại từ điển. Trung Quốc văn hóa Học viện Xuất bản bộ. Đài Bắc, 1968, tr.227.

(15) Đại từ điển tiếng Việt. Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb. VH-TT, H. 1999, tr.1022.

(16) Từ nguyên. Thương vụ ấn thư quán. Bắc Kinh, 1947, tr.178.

(17) Lầm. Văn bản chỉ có 183 tờ.

(18) Hoàng Cao Khải qua đời năm 1933. (Nguyễn Q.Thắng - Nguyễn Bá Thế. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nxb. KHXH, H. 1991.)

(19) Các sách này hiện được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Quốc gia.

(20) Xin xem thêm Nguyễn Văn Nguyên : Phương pháp tổng hợp giới hạn niên đại trong giám định niên đại văn bản cổ (Tạp chí Hán Nôm, Số 3-2007); Hai nguồn sản sinh và các mẫu chữ niên hiệu ngụy tạo trong thác bản văn bia (Tạp chí Hán Nôm, Số 5-2006); Những thủ thuật ngụy tạo niên đại trong thác bản văn bia (Tạp chí Hán Nôm, Số 2-2006); Thực trạng vấn đề ngụy tạo niên đại trong thác bản văn bia Việt Nam (Tạp chí Hán Nôm, Số 1-2006) và Đinh Khắc Thuân. Đính chính niên đại giả trên một số thác bản bia tại kho bia của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Tạp chí Hán Nôm, Số 2-1985).

(21) Xin xem lại bảng 2.

(*) Cảm ơn Quỹ NAFOSTED đã giúp đỡ chúng tôi trong khi thực hiện bài viết này.

 

TƯ LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược. Trung Bắc Tân Văn, H. 1920.

2.南史演音. AB.482. Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

3. 中国人名大辞典. Thương vụ ấn thư quán. Bắc Kinh, 1958.

4. Từ điển văn học. Nguyễn Huệ Chi, Đỗ Đức Hiểu, Trần Hữu Tá, Phùng Văn Tửu chủ biên, Bộ mới, Nxb. Thế giới, H. 2003.

PHỤ LỤC

(Tạp chí Hán Nôm; Số 4(113) 2012; Tr.40-53)

Đào Phương Chi
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm