Nguyễn Văn Siêu với tư tưởng văn hóa - giáo dục của Hội Hướng thiện đền Ngọc Sơn (Tạp chí Hán Nôm, Số 4(101) 2010; Tr.72-80)
NGUYỄN VĂN SIÊU VỚI TƯ TƯỞNG VĂN HÓA -
GIÁO DỤC CỦA HỘI HƯỚNG THIỆN ĐỀN NGỌC SƠN
VŨ THẾ KHÔI
Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây
Trong lịch sử 1000 năm văn hiến Thăng Long, nếu đặt vấn đề giai đoạn Hà Nội, bắt đầu từ 1831, đã có những đóng góp gì vào văn hóa Thăng Long thì có thể trả lời rằng một đóng góp nổi bật và độc đáo chính là ngôi đền Ngọc Sơn do Hội Hướng thiện sáng lập năm 1841, với kiến trúc độc nhất vô nhị tôn vinh sự học ở nơi tuy không còn là kinh đô dưới triều Nguyễn nhưng “vẫn đứng đầu vương quốc về nghệ thuật, về kỹ nghệ, thương nghiệp, sự giầu có, số dân đông đúc, sự lịch duyệt và học vấn” (Le Courrier de Saigon - dẫn theo Nguyễn Thừa Hỷ, 1993)(1). Ấy là nhờ có những “chủ trương” (道有主張 - “đạo hữu chủ trương” là chữ trên một vế đối trong đền Ngọc Sơn) văn hóa - giáo dục đúng đắn của trí thức Nho học tập hợp trong Hội Hướng thiện, và những hoạt động văn hóa - giáo dục “phi chính phủ” họ đã cùng các tầng lớp xã hội rộng rãi tiến hành trong khắp phường thôn (Vũ Thế Khôi; 1995, 2001) [1], và từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX thì là cả sự tham gia tích cực của đền Ngọc Sơn vào phong trào văn thân yêu nước Duy tân - Đông kinh nghĩa thục (Vũ Thế Khôi, 2000, 2007) [2].
Tuy nhiên, cho đến nay, đã trước thềm đại lễ 1000 năm Thăng Long rồi, vị trí lịch sử - văn hóa của ngôi đền này trong hệ thống di tích danh thắng Hà Nội vẫn chưa được đánh giá đúng mức, vai trò trung tâm văn hóa - giáo dục yêu nước của di tích này chưa được nhận thức, cho nên tất cả những gì liên quan đến bình diện độc đáo này của đền Ngọc Sơn vẫn chưa được phục hồi, thậm chí vẫn bị vi phạm nghiêm trọng mà điển hình là sự chiếm dụng 弘善經壇 Hoằng Thiện kinh đàn - đàn giảng kinh khuyến Thiện và tuyên truyền yêu nước, từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và góp ý “giảng thêm điều Thiện lớn nhất là yêu nước, yêu dân chủ” (1990) [3]. Đã từ nhiều năm nay người ta biến Giảng đàn lịch sử này thành nơi kinh doanh văn hóa phẩm chẳng liên quan gì đến đền Ngọc Sơn!
Thiết nghĩ, một trong những nguyên nhân chủ yếu là vì di sản Hán Nôm -
những văn bia, hoành phi, câu đối, đề tự - ở trong đền tuy đã không phải một lần được các nhà nghiên cứu chuyển dịch sang tiếng Việt (Tuyển tập văn bia Hà Nội, TTVBHN -1978 [4] và Tuấn Nghi & Tảo Trang 1991 [5]), song do chưa khai thác được tư liệu liên quan hoạt động của Hội Hướng thiện nên chưa giải mã được thấu đáo, do đó chưa phân biệt được những gì thể hiện tư tưởng văn hóa - giáo dục đích thực của tầng lớp sĩ phu sáng lập Hội, những gì do những người của thời cuộc đã thất thế sau này đưa vào, do đó chưa chứng minh được mối liên quan trực tiếp, thậm chí vai trò chủ đạo về tư tưởng của đền Ngọc Sơn đối với những cuộc vận động chấn hưng văn hóa và tuyên truyền yêu nước của tầng lớptrí thức Nho học trong thế kỷ XIX - mươi năm đầu thế kỷ XX. Bởi vậy, người gọi Ngọc Sơn là đền Tam giáo (Nho - Phật - Lão), người chỉ căn cứ hiện trạng tượng thờ (mới hình thành từ đầu thế kỷ XX) bảo đó là đền thờ Tam thánh (Quan Công - Văn Xương - Lã Tổ, hoặc Thánh Trần, tùy tác giả), một vị Tiến sĩ còn cho đó là quán tu tiên của Nguyễn Văn Siêu, vì các câu đối trong Đền đều do cụ Siêu viết (?) và chúng “phảng phất vị hư vô” (?!)(2).
Giải mã không có nghĩa là suy đoán tùy tiện, đoán mò không căn cứ, bất chấp lịch sử xây dựng và những hình thức hoạt động từng diễn ra nơi đây, đặc biệt là quan điểm của chính những người sáng lập, được họ gửi gắm trong thơ văn của mình. Chẳng hạn gần đây có tác giả khẳng định (không dẫn ra bất kỳ căn cứ nào!) rằng tất cả đại tự, hoành phi, câu đối ở mặt trước khu đền Ngọc Sơn (ý nói toàn bộ kiến trúc cổng với 4 cột trụ sát đường Đinh Tiên Hoàng, gọi là nghi môn ngoài), Bảng Rồng và Bảng Hổ đều là của Nguyễn Văn Siêu và chính Thần Siêu đã đích thân cho đề theo đúng trật tự như hiện nay ta thấy là “có ý nhắn gửi” người đời sau điều này, điều nọ v.v và v.v… [6] - thực ra, hoàn toàn do tác giả sách tự bịa đặt, bởi vì trong bài 湖山勝會序 Hồ sơn thắng hội tự do chính Nguyễn Văn Siêu viết ghi lại việc mồng 4 tháng Giêng năm 1864 ông hướng dẫn các quan đầu tỉnh Hà Nội đi tham quan ngôi đền Ngọc Sơn mà ông mới chủ trì việc trùng tu mấy năm qua, rồi trong bài 儗文昌廟碑 Nghĩ Văn Xương miếu bi viết cho bia dựng năm sau, ông chỉ liệt kê Tháp Bút, Đài Nghiên, cầu Thê Húc và đình Trấn Ba, hoàn toàn không nói gì đến Bảng Rồng, Bảng Hổ [7]. Nếu đã cho xây và đề câu đối thì Thần Siêu, vốn là một nhà khoa bảng, không thể nào quên. Trên bức ảnh đền Ngọc Sơn do Hocquard, viên bác sĩ quân y đi theo đạo quân viễn chinh Pháp, chụp năm 1884 (với cầu Thê Húc không có thành cầu, lát ván mộc, nhiều chỗ hư hỏng), tức sau khi Thần Siêu mất 12 năm, vẫn chưa có hai cái bảng đó thì Thần Siêu đề các câu đối vào đâu để mà “nhắn gửi”? Lối vào đền Ngọc Sơn, theo miêu tả của G. Dumoutier viết năm 1887, vẫn chỉ là một chiếc cổng nhỏ, ở trên chỉ có 3 Hán tự mà Dumoutier dịch là “Porte de la montagne du lac” (Cửa lên núi trên hồ - “Hồ sơn môn”?) và hai bên là câu đối duy nhất: “Ce chemin conduit vers l’eau…” (tức câu đối ở 2 cột chính giữa ngày nay: “Lâm thủy… - Tầm nguyên…”) [8]. Làm gì đã có những đại tự PHÚC - LỘC và những câu 玉於斯 “Ngọc ư tư”, 山仰止 “Sơn ngưỡng chỉ” v.v… ở cái cổng mặt tiền ấy mà bảo rằng Thần Siêu đề nhằm “nhắn gửi” người đời sau?! Cái mặt tiền to đẹp hiện nay, lần đầu tiên được xây lên là vào năm 1898, theo André Masson [9]. Vậy thì những đề tự trên đây chỉ có thể xuất hiện sau năm 1898. Còn nguy hại hơn nữa khi người ta tùy tiện xuyên tạc tư tưởng danh nhân: bài minh trên nghiên đá, vốn đã được nhiều vị túc Nho dịch đúng ý về căn bản, chỉ khác nhau về chi tiết, đã bị “dịch lại”, thực ra là suy diễn, thậm chí đưa lên làm tiêu đề ở ngay những trang đầu sách, để khẳng định rằng Cụ Siêu “nhắn nhủ” người đời sau (tức là chúng ta đấy!) “phải trọng và bảo vệ loại người không vuông, không tròn”, “không ở cao, không ở dưới - kẻ sĩ”, “để họ làm được nhiều việc cho Đất Nước” (xin xem tài liệu 6, tiêu đề 3, các tr.25-26). Tác giả quên mất ý nghĩa của biệt hiệu Nguyễn Văn Siêu thường dùng là Phương Đình 方亭(nguyên văn: đình vuông) và dường như chưa hề biết đến câu thơ Thần Siêu nguyện với các đồng chí khi năm 1834 dựng Phương Đình để dạy học - chính câu thơ cho phép giải mã biệt hiệu đó:
固知圓是智
Cố tri viên thị trí
願守方為型
Nguyện thủ phương vi hình
(Vẫn biết tròn là khôn ngoan, [nhưng] nguyện giữ vuông làm khuôn mẫu [10].
Gần đây, tác giả Trần Văn Đạt (2007) [11] trong tác phẩm công phu của mình về di sản Hán Nôm trong đền Ngọc Sơn, đã viện dẫn thư tịch kinh điển của Trung Hoa để truy nguyên một số điển cố, điển tích trong văn bia và câu đối của Nho sĩ Việt Nam từng tham gia sáng lập và chủ trì các hoạt động của đền Ngọc Sơn. Tác giả đã làm sáng rõ thêm và giúp bạn đọc hiểu sâu rộng hơn một số câu chữ hai cụ Tuấn Nghi và Tảo Trang đã chú giải giản lược, vài trường hợp đã đính chính được người đi trước, như trong câu đối ở mặt sau cổng thứ ba:
夜月或過仙是鶴
Dạ nguyệt hoặc quá tiên thị hạc
濠梁信樂子非魚
Hào lương tín lạc tử phi ngư
thì 濠梁không phải là “cầu hào” (tức cầu và hào) mà là “cầu sông Hào”. Theo thiển ý của chúng tôi, cả xét về mặt văn bản học của thể đối, ông Trần Văn Đạt cũng có lý: “hào lương” với nghĩa cầu và hào là cụm từ danh - danh chỉ hai sự vật, nên đối không chỉnh với “dạ nguyệt” với nghĩa trăng đêm, là cụm từ tính - danh; “lương” có tính ngữ “Hào” mà đối với “nguyệt” có tính ngữ “dạ” mới thực chỉnh về luật đối chữ.
Tuy nhiên, cũng chính lại do không thâm nhập tư tưởng văn hóa - giáo dục của những người sáng lập đền Ngọc Sơn, đã khiến ông Đạt lặp lại ngộ nhận của một vài người khác, khi cho Nguyễn Văn Siêu là tác giả của câu đối trên đây và một số câu nữa thể hiện rõ rệt tư tưởng Đạo giáo. Điều này càng đáng tiếc cho công trình nghiêm túc của tác giả vì từ mươi năm trước đây một số tác phẩm chính luận của Nguyễn Văn Siêu về văn hóa - giáo dục đã được Trần Lê Sáng (1996) chuyển ngữ sang tiếng Việt, tạo điều kiện cho sự tiếp cận rộng rãi. Xin cùng đọc những dòng sau đây của Phó bảng Siêu:
- Về Đạo giáo: “Vũ Tông [Đường] sùng bái Huyền thuật Lão tử vì vậy ra sức bài Phật, thế là lấy tà thay tà, đâu có bỏ được tà đạo”, “…đến đời Nguyên Minh cùng Phật trở thành hai giáo lớn, ngang với Nho, thành ba giáo. Vua đương thời có khi lại tôn trọng Đạo giáo hơn cả. Điều đó thật đáng phàn nàn. Nay lại có đạo nước ngoài; các tín đồ hoặc xưng là Đạo trưởng, hoặc xưng là Đạo sư, ra sức mê hoặc lòng người. May nhờ có đạo Thánh hiền (tức Đạo Khổng Tử - VTK thêm) như mặt trời mặt trăng sáng tỏ, các tà giáo đâu có thể che lấp được. Cuối cùng chúng ta sẽ thấy chúng bị tiêu diệt” (chúng tôi nhấn - VTK) [12].
- Về Phật giáo: “Người Tây là Lỵ Mã Đậu(3) bắt đầu đem tôn giáo Tây dương vào Trung Quốc. Ở bên Tây, buổi đầu theo đạo Phật ở Tây vực; ứng dụng cụ thể có khác đạo Phật, song gốc là một. Thuật ấy là dựa vào thuật báo ứng, họa phúc; nói từ cái nhỏ và dễ hiểu, nhằm làm mê đắm lòng người. Người theo đạo Phật cho rằng khi chết là vượt lên Tịnh địa; người theo đạo Tây dương, cho rằng khi chết là lên Lạc thiên; cả hai đạo đều cho người sống ở đời là bể khổ. Người Tây lại nhiều kỹ xảo nên có thể làm cho người ta ham thích vật chất đủ đầy*, mà nhanh chóng xô đẩy họ đến với tà đạo*. Đạo này cùng với đạo Phật, hỗ trợ yếu mạnh cho nhau, làm hại đời rất nhiều, không thể diệt trừ** được” (xem tài liệu 12, tr.196 và 198 - những chữ nhấn đều của chúng tôi).
* Nguyên văn ngữ đoạn này là: 西洋又多技巧可喜悅之物足以速人于邪 - chúng tôi căn cứ quan điểm của Nguyễn Văn Siêu trọng nghĩa khinh lợi, khinh vật chất để hiệu chỉnh câu trên cho sát ý nguyên tác hơn.
** Nguyên văn ngữ cú này: 不可拔也 - bất khả bạt dã. Chữ 拔trong ngữ cảnh (context) này phải chọn nghĩa “nhổ” (Hán - Việt từ điển của Thiều Chửu: 連根拔起- liên căn bạt khởi: nhổ cả rễ lên). Vì chữ và ý này rất quan trọng đối với lập luận dưới đây của chúng tôi, nên xin được dịch lại là: “không thể diệt trừ được”.
Chúng tôi trích dẫn những dòng trên đây không phải để luận bàn về quan điểm tôn giáo của Nguyễn Văn Siêu đúng hay sai, hơn nữa những yếu nhân khác trong Hướng thiện hội đền Ngọc Sơn như các Tiến sĩ Nho học Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Lý, Lê Duy Trung lại không “chính thống” như Phó bảng Siêu [13]. Chúng tôi chỉ cốt chứng minh rằng, với quan điểm phủ định tuyệt đối tư tưởng “xuất thế” của đạo Phật và đạo Giáo, chỉ tôn sùng Nho giáo tích cực “nhập thế”, dứt khoát liệt vào hàng “tà giáo” cả Phật giáo lẫn Đạo giáo, thì những câu đối thể hiện tư tưởng Phật - Lão trong đền Ngọc Sơn đều không thể do Nguyễn Văn Siêu soạn, vả lại theo sự khảo cứu của chúng tôi, chúng mới xuất hiện ở đây vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, sau khi cụ Phó bảng mất đã lâu.
Nguyễn Văn Siêu là bạn đồng môn với Vũ Tông Phan, cùng xuất môn năm 1825 và cùng đỗ cử nhân, tức đồng niên, lại đồng chí hướng chấn hưng văn hóa - giáo dục Thăng Long, người (Phan) sớm bỏ quan trường (1833) về bên Hồ Gươm dựng ngôi nhà lá mới để dạy học, sau thành trường Hồ Đình nổi tiếng; người (Siêu) mười năm đóng cửa đọc sách, rồi theo “lời hẹn ước cũ lấy kinh sách luận tâm thuật” 黃卷論心存舊約- hoàng quyển luận tâm tồn cựu ước) ngay năm sau (1834) cũng xây 方亭Phương đình bên bờ sông Tô (nay phố Nguyễn Văn Siêu), đối diện với học quán của một người bạn đồng môn-đồng niên-đồng tâm nữa là cử nhân Trần Văn Vi, để cùng nhau 方正 - phương chính (làm ngay thẳng, chân chính) học phong đã suy đồi. Nhưng rồi họ cùng sớm giác ngộ vấn nạn, người bạn chung Nguyễn Văn Lý đã nêu: “Trung hưng vận nước mà không chấn chỉnh đạo làm người được sao?” (國運中興人道起無再振 - quốc vận trung hưng nhân đạo khởi vô tái chấn?). Thời nào thì cũng vậy thôi: không thể chấn chỉnh học phong trong mấy ốc đảo học đường giữa một môi trường xã hội đồi phong bại tục! Đó là bối cảnh đã thúc đẩy họ lập ra Hội Hướng thiện thu hút rộng rãi các tầng lớp xã hội và xây đền Ngọc Sơn làm trung tâm hoạt động chấn hưng văn hóa.
Dưới chuyên chế tàn bạo của Gia Long và Minh Mạng (xin nhớ lại vụ án văn tự khi chỉ vì mấy câu thơ mà cả hai cha con Quận công Tổng trấn Nguyễn Văn Thành đều bị kết tội chết!) tư tưởng văn hóa - giáo dục của các sĩ phu sáng lập và chủ trì hoạt động của Hướng thiện hội đã được Hội trưởng đầu tiên Vũ Tông Phan ngầm gửi gắm ở hai chữ hành - tàng 行藏gắn liền với hình ảnh “gươm báu mới mài” 寶劍新磨trong bốn câu thơ giáng bút tưởng như vô thưởng vô phạt ở ngay đầu bài văn bia 玉山帝君祠記 - Ngọc Sơn Đế Quân từ ký do ông biên soạn năm 1843, nhân dịp khánh thành việc xây dựng đền Ngọc Sơn.
Mười lăm năm qua, trong các bài báo đăng tạp chí chuyên ngành và trong các tham luận khoa học tại các hội thảo quốc gia và quốc tế, chúng tôi đã vài lần trình bày sự giải mã của mình [14]. Ở đây chỉ xin nêu lại một số ý chủ yếu liên quan vấn đề đang bàn.
Dựa trên cơ sở sự tìm hiểu một cách có hệ thống những sự việc đã diễn ra trên thực tế và thơ văn tức sự, xướng họa nhóm sĩ phu Phan - Siêu đã sáng tác trong quá trình chuẩn bị lập Văn hội Thọ Xương và Hướng thiện hội, chúng tôi khẳng định rằng: tư tưởng văn hóa - giáo dục chính yếu của Hội Hướng thiện khi dựng đền Ngọc Sơn là giáo hóa hướng Thiện: tập họp mọi người lâm tình thế phải bất hợp tác với “bá đạo” cùng tàng để hành: tàng là ẩn giấu chí khí kẻ sĩ như “gươm báu mới mài” luôn tỏa sáng khắp xung quanh, tu dưỡng bản thân theo các thuần phong mỹ tục cổ truyền của dân tộc và chuẩn mực quân tử của đạo Khổng nguyên thủy, đó là: phương chính (方正), trung với dân (忠於民) và lo cho dân (務民之義), làm quân tử trong làng, thầy đồ trong xã (為鄉君子為社先生) để cùng hành phương tiện (行方便), tức làm những việc mang lại lợi ích cho mọi người, qua đó mà giáo hóa họ.
Những việc có ích nhằm giáo hóa mọi người mà Hội Hướng thiện đã triển khai rộng rãi trong đền Ngọc Sơn là khắc in sách kinh đạo lý và sách kiến thức phổ thông (đến năm 1966, theo cụ Tảo Trang (1997), trong kho Đền vẫn còn 1156 ván khắc) [15], đều đặn mồng 2 và 16 hàng tháng tổ chức giảng luân lý cổ truyền - lập những chuẩn mực đạo đức, những “cột tiêu”, (đó chính là ẩn ý của một vế đối ở cổng Đền: Gây dựng con người thì lập cột tiêu chỉ đường khai hóa cho họ*; nguyên văn: 立人标表開人徑 - Lập nhân tiêu biểu khai nhân kính), và ở ngoài Đền, khắp các thôn phường, là mở các tư thục, riêng quanh hồ Hoàn Kiếm và khu vực lân cận chúng tôi đã phát hiện qua gia phả và thơ văn chữ Hán 13 trường - tức các “cầu bến giác ngộ” (đó là ẩn ý của vế thứ hai: Cứu giúp thế tục thì xây cầu bến làm cửa giác ngộ cho đời*; nguyên văn: 度世津梁覺世關 - Độ thế tân lương giác thế quan).
Tư tưởng văn hóa - giáo dục do Hội trưởng Hướng thiện đầu tiên (1841 - 1851) Vũ Tông Phan nêu lên trong bài văn bia “tuyên ngôn”, cũng được Hội trưởng thứ hai (1854 - 1872) Nguyễn Văn Siêu khẳng định lại trong thơ văn của ông, trước hết là trong bài văn bia chúng tôi đã đề cập ở trên. Bài ký này khắc trên tấm bia từng dựng giữa đình Trấn Ba, như một tấm ảnh chụp nó trước khi bị đạn pháo của giặc Pháp phá đổ vỡ trong những ngày Thủ đô kháng chiến cuối năm 1946 - đầu 1947. May thay, tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội còn lưu trữ bản dập của Trường Viễn đông Bác cổ làm từ trước năm 1945. Trên bản dập không có trán bia, tức không có đề bài, ở góc phía trên lề phải bản dập có nét bút viết tay một cột chữ Hán: 河城還劍湖玉山文昌廟碑文立於鎮波亭內 - Hà thành Hoàn Kiếm hồ Ngọc Sơn Văn Xương miếu bi văn lập ư Trấn Ba đình nội. Tiêu đề 重修文昌廟碑記 Trùng tu Văn xương miếu bi ký, là do TTVBHN - 1978 đặt khi chuyển dịch khá chính xác và gần như toàn văn, chỉ lược bỏ một đoạn ngắn tác giả giới thiệu về chòm sao Văn Xương (tài liệu 4, tr.70-71; nguyên bản chữ Hán: tr.153-154). Tại lạc khoản cuối bản dập bài văn bia này ghi: 河内省按察使鄧良軒謹記 - Hà Nội tỉnh Án sát sứ Đặng Lương Hiên cẩn ký. Đặng Lương Hiên tức cử nhân 1841 Đặng Huy Tá, anh họ danh sĩ Đặng Huy Trứ, cả hai cùng có người bác ruột là Đặng Văn Hòa, khi làm Tổng đốc Hà Nội - Ninh Bình (1835 - 1838) từng mời các hưu quan Tiến sĩ Vũ Tông Phan và Cử nhân Nhữ Bá Sĩ làm “mặc khách”; về sau, khi ông quyền Thượng thư Bộ Lại ở Huế (1841) lại có Lang trung dưới trướng là Phó bảng Nguyễn Văn Siêu. Phải nói hơi dài như vậy vì ở đây có một chút vấn đề về “tác quyền” theo quan niệm ngày nay, nhưng xưa kia chẳng thành vấn đề gì giữa những người cùng chí hướng, mà tất cả các vị trên đây quả là cùng một chí hướng chấn hưng văn hóa Thăng Long. Thành công của Hướng thiện hội trong sự nghiệp chấn hưng văn hóa - giáo dục Hà Nội, như chúng tôi từng chỉ ra trong báo cáo khoa học tại Hội thảo quốc tế ở Đại học Provence (2007; tài liệu 14.3, mục 3.2.) là ở chỗ ngoài các “chủ trương” đúng đắn, họ còn thu hút được rộng rãi các tầng lớp thương nhân và quan lại đương chức tham gia. Vì những lý do trên, việc xác định tác giả bài văn bia chỉ quan trọng ở chỗ nó giúp đặt tác phẩm trong một hệ thống sáng tác nhất định để tìm hiểu chính xác hơn, sâu hơn về giá trị tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm.
Bài văn bia đang đề cập ở đây, có trong sách 方亭文類續集của Phó bảng Nguyễn Văn Siêu, với đầu đề 儗文昌廟碑 - Nghĩ Văn Xương miếu bi. Bộ sách này không phải là sưu tập chép tay, thường có thể chép lộn thơ văn của nhiều người, khiến đời sau dễ nhầm lẫn như Lịch sử Thủ đô Hà Nội (1960, GS. Trần Huy Liệu chủ biên) đã gán 4 bài thơ trong chùm Kiếm hồ thập vịnh của Vũ Tông Phan cho bác ruột và thầy dạy là Phạm Quý Thích. Điều này từ năm 1995 chúng tôi đã phát hiện trên cơ sở phân tích văn bản di cảo thơ văn của hai danh sĩ đó (tài liệu 1.1. tr.69, 182, 187), vậy mà đến nay một số sách kỷ niệm 1000 năm Thăng Long vẫn hồn nhiên dĩ ngoa truyền ngoa! Bộ sách 方亭文類續集do Hoàng giáp khoa 1868 Vũ Nhự, học trò của Cụ Phó bảng, biên tập và đưa khắc in năm 1882. Xưa, các bài văn bia, văn tế, chúc mừng… viết hộ người khác đều thấy có chữ “nghĩ” ở đầu đề. Áp dụng vào trường hợp này phương pháp phân tích văn bản học toàn diện của Viện sĩ Đmit’ri Likhatrov, mà chúng tôi đã sử dụng để xác định tác giả của Văn minh tân học sách, bản “cương lĩnh” khuyết danh của Đông Kinh nghĩa thục [16], chúng tôi khẳng định bài văn bia do Nguyễn Văn Siêu viết và đề nghị bạn là Đặng Huy Tá, một viên quan đương nhiệm đứng tên (vì vậy chăng mà ở lạc khoản không dùng chữ 撰 - soạn mà chỉ dùng chữ 記- ký?) bởi lẽ: trong toàn bộ di sản thơ văn của Đặng Huy Tá chúng tôi chưa phát hiện câu chữ nào phủ định Phật giáo và đặc biệt là Đạo giáo! Trong khi đó bài văn bia này lại nhất quán cả về tư tưởng lẫn văn phong phê phán Đạo giáo, độc tôn Nho giáo mà Nguyễn Văn Siêu đã thể hiện trong nhiều tác phẩm của mình. Đoạn miêu tả cung Văn Xương mà TTVBHN - 1978 lược đi, Trần Lê Sáng là người đầu tiên phục hồi trong bản dịch của mình (2001; tài liệu 7, tr.27-29).
Nguyên văn đoạn đó như sau:
載考天官書斗魁戴筐六星曰文昌宮魁下六星两两相比曰三台文昌寔主天下文明而西近文昌二星曰上台其下一星主荆揚越分也開闢以來我人文軋於諸夏象如此 - Tái khảo Thiên quan thư: Đẩu Khôi Đới Khuông lục tinh viết Văn Xương cung. Khôi hạ lục tinh lưỡng lưỡng tương tỉ viết Tam thai. Văn Xương thực chủ thiên hạ chi văn minh nhi Tây cận Văn Xương nhị tinh viết Thượng thai, kì hạ nhất tinh chủ Kinh Dương Việt phân dã. Khai tịch dĩ lai ngã nhân văn ca ư chư Hạ tượng như thử.
Chúng tôi xin được dùng bản dịch đã tương đối chính xác của Trần Lê Sáng với đôi chỗ hiệu chỉnh như sau:
Lại khảo cứu sách Thiên quan ta thấy: sáu ngôi sao chòm “Đẩu Khôi Mang Sọt”* gọi là cung Văn Xương. Dưới sao Khôi sáu ngôi sao đối nhau từng cặp, gọi là Tam thai. Văn Xương thực chủ nền văn minh thiên hạ. Cặp 2 sao ở gần Văn Xương về phía Tây gọi là Thượng thai, ở dưới [Thượng thai] có một ngôi cai quản địa phận Kinh, Dương, Việt [nên] từ thuở mở mang đến nay, nhân văn nước ta gần gũi với các nước Hoa Hạ chắc là vì vậy).
* Các dân tộc tưởng tượng và đặt tên khác nhau: dân ta gọi chòm sao này là “gầu sòng”, người Ailen lại gọi là “cỗ xe” v.v…
Rõ ràng là trong đoạn văn trên đây Nguyễn Văn Siêu không có chữ nào viết về… “sự sáng đẹp của Đạo giáo”, như ông Trần Văn Đạt viết (tài liệu 11, tr.119), thậm chí không hề một lần nhắc đến chữ “Đạo giáo” mà chỉ viết về chòm 6 sao của cung Văn Xương; những danh từ “Tam thai”, “Thượng thai” mà về sau Đạo giáo biến thành của mình theo nghĩa thần bí, Thần Siêu chỉ dùng theo nghĩa của chiêm tinh học Trung Hoa cổ đại từ trước Đạo giáo đã coi như cát tinh chủ về văn minh của Hoa Hạ. Vị Hội trưởng Hướng thiện thứ hai giới thiệu cung Văn Xương chủ yếu chỉ để chuẩn bị cho đoạn sau đây, quan trọng nhất trong cả bài văn bia:
新廟成前繼水為鎮波亭以寓文澜砥柱左栖旭橋之東起硯臺又東於獨尊山建筆塔以象文物閱三四載藉捐費乃卒役願為記之於維文昌廟滿天下其教謂使人向善而已然人之為善莫要於遏人欲存天理非求福而福自至吾儒之教炳在溼簿何以加諸自世人為梓潼帝君之說而報應輪迴趣之日盛欲拔俗未易也 - Tân miếu thành: tiền kế thủy vi Trấn Ba đình dĩ ngụ văn lan Chỉ Trụ; tả Thê Húc kiều chi đông khởi Nghiễn Đài, hựu đông ư Độc Tôn sơn kiến Bút Tháp dĩ tượng văn vật. Duyệt tam tứ tải tịch quyên phí cập tốt dịch, nguyện vi ký chi. Ư duy: Văn Xương miếu mãn thiên hạ kì giáo vị sử nhân hướng Thiện nhi dĩ. Nhiên nhân chi vi Thiện mạc yếu ư át nhân dục, tồn thiên lý, phi cầu phúc nhi phúc tự chí. Ngô Nho chi giáo bính tại kinh bạ, hà dĩ gia chư. Tự thế nhân vi Tử Đồng Đế Quân chi thuyết nhi báo ứng luân hồi thú chi nhật thịnh, dục bạt tục vị dị dã.
TTVBHN từ năm 1978 đã cung cấp một bản dịch tốt, chuẩn xác hơn vài bản dịch gần đây, nhìn chung đều chép lại bản dịch của các cụ, với đôi ba chỗ sửa chữa khiến bản dịch mới chỉ thiếu chính xác hơn. Vậy xin trích bản dịch của TTVBHN - 1978 (tài liệu 4, tr.71), có 3 chỗ liên quan lập luận của chúng tôi nên xin phép sửa lại cho xát ý hơn (in đậm để bạn đọc xem xét):
“Hiện nay đền thờ mới đã hoàn thành: phía trước kề bờ nước, làm đình Trấn Ba, ngụ ý là Chỉ Trụ sừng sững giữa sóng lớn tà văn*; bên tả, phía đông cầu Thê Húc, dựng Đài Nghiên; lại về phía đông trên núi Độc Tôn, xây Tháp Bút, tượng trưng cho nền văn vật. Qua ba bốn năm, dựa vào tiền quyên góp mới làm xong, nhờ tôi làm bài ký. Tôi nghĩ rằng: miếu thờ Văn Xương ở khắp cả thiên hạ để dạy mọi người hướng thiện mà thôi. Nhưng người ta làm điều thiện, không gì quan trọng bằng ngăn lòng dục của người mà bảo tồn lẽ phải của trời, chẳng cầu phúc mà tự nhiên được phúc. Đạo nhà Nho ta sáng chói trong kinh sách, không có thứ nào hơn. Từ khi người đời xướng lên thuyết Tử Đồng Đế Quân thì việc tuân theo báo ứng luân hồi càng ngày càng thịnh, muốn diệt trừ tục ấy không phải là dễ”.
Trong đoạn văn bia này, Nguyễn Văn Siêu trình bày 3 ý liên quan lô-gich với nhau:
Một là, việc trùng tu tôn tạo là nhằm khẳng định lại mục tiêu văn hóa - giáo dục của đền Ngọc Sơn, đề cao nó bằng những biểu tượng kiến trúc cụ thể Bút và Nghiên, ngòi bút thẳng đứng 正, viết lên trời xanh寫青天, nhấn mạnh vai trò của văn hóa - giáo dục phương chính 方正, mà ông cùng Hướng thiện hội “chủ trương” ngay từ đầu; trong tình hình mới (năm 1862 thực dân Pháp, được các giáo sĩ Gia-tô dẫn đường đã chiếm xong Nam kỳ và đang dòm ngó Bắc kỳ) phương chính là phải ngăn chặn sóng lớn của tà giáo 邪教, tức làm nhiệm vụ ngôi đình vuông 方亭Chắn Sóng 鎮波 vững vàng như núi Chỉ Trụ sừng sững giữa dòng Hoàng Hà. Ông Trần Văn Đạt phủ định ngụ ý này vì lý do trong cả từ điển Từ nguyên lẫn từ điển Từ hải không có thành ngữ 文澜砥柱 - văn lan Chỉ Trụ (tài liệu 11, tr.118). Xin thưa rằng: đó là chữ của Thần Siêu sáng tạo theo mẫu điển cố 中流砥柱 - trung lưu Chỉ Trụ (núi Chỉ Trụ sừng sững giữa dòng sông Hoàng Hà), có trong cả hai cuốn từ điển đó, và tất cả những ai biết Hán cổ, đọc “văn lan Chỉ Trụ” tức khắc hiểu thâm ý của tác giả do liên tưởng với “trung lưu Chỉ Trụ”, hơn nữa ông lại đã gợi ý tên 鎮波- Trấn Ba là có “ngụ ý”.
Hai là, tuy không thể nhắc lại “hành - tàng” 行藏với “gươm báu mới mài” 寶劍新磨trong bối cảnh cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương vừa mới thất bại mươi năm trước (1854), người bạn vong niên thân thiết Cao Bá Quát hy sinh tại trận tiền và gia tộc ông bị án chu di, nhưng Cụ Phó bảng có lẽ là người đầu tiên dám nhắc đến hai chữ hướng thiện 向善và khẳng định lại mục tiêu chính dựng đền Ngọc Sơn không phải là để cúng bái Văn Xương, mà là để dạy mọi người hướng thiện 向善. TTVBHN - 1978 dịch hai chữ này là “làm điều thiện”, có lẽ vì khi đó còn chưa rõ ẩn ý lập Hội Hướng thiện là “tàng để hành”, trước hết phải “tàng” và “mài mới” chí khí, tu dưỡng bản thân hướng thiện 向善đã, rồi mới vi Thiện (làm điều thiện) 為善theo nghĩa “hành phương tiện” 行方便 chúng tôi đã giải mã, tức không chỉ bố thí là đủ mà phải qua đó giáo dục được mọi người, mà muốn giáo dục được người thì tu dưỡng bản thân cho phương chính 方正 (chân chính, thẳng ngay) đã. Ẩn ý này (hướng thiện rồi mới vi thiện) có ngay trong câu tiếp theo: “Người ta làm điều Thiện không gì quan trọng bằng ngăn lòng dục của người mà bảo tồn lẽ phải của trời”. Đọc câu này “những người trong khoa mục”, tức có học Nho tất nhớ đến điều Thánh hiền đạo Nho dạy: “Thích kỷ giáo nhân thị nghịch, chính kỷ giáo nhân thị thuận” 釋己教人是逆正己教人是順 (buông thả mình mà dạy người là ngược, chân chính mình rồi mới dạy người là thuận).
Ba là, có thể thấy Nguyễn Văn Siêu nhất quán độc tôn Nho giáo và phê phán Đạo giáo một cách rõ ràng và dứt khoát. Ông từng phê phán Lão Tử và Đạo sĩ Trương Lăng sùng bái Lão. Đến đây ông phê phán nốt vị Thánh nữa của Đạo giáo là Trương Á Tử, vạch thẳng ra rằng chỉ “từ khi (tức về sau này) người đời” nhập nhằng cát tinh Văn Xương vốn chủ về văn minh Hoa Hạ, Nho gia coi như chủ về văn chương và khoa cử, với Tử Đồng Đế Quân mà Đạo giáo tôn thờ làm vị thánh coi sổ tước lộc ở nhân gian, đến đời Nguyên (1316) sắc phong “Văn Xương tư lộc” nên được các môn đồ Đạo giáo đặc biệt sùng bái, từ đó mới sinh ra cái tệ cầu cúng mê tín dị đoan khó mà "bạt". Xin lưu ý sự trùng hợp này trong dùng từ mà Viện sĩ Đmit’ri Likhatrov đặc biệt coi trọng đối với việc xác định tác giả của thư tịch cổ: Phó bảng Siêu dùng lại cái từ mạnh mẽ 拔mà ông đã từng dùng để nói lên thái độ quyết liệt của ông đối với Đạo giáo như một “tà giáo”!
Nguyễn Văn Siêu chủ trì hoạt động của Hội Hướng thiện đền Ngọc Sơn trong hai chục năm khó khăn, khi triều Nguyễn bắt đầu lâm vào khủng hoảng sâu sắc, nội bộ chia rẽ, bị động lúng túng trước thù trong giặc ngoài, rốt cuộc để đất nước mất dần vào tay ngoại bang. Biết đâu, trong tình thế buộc phải làm Chỉ Trụ giữa tà giáo văn lan, Cụ Phó bảng không còn con đường nào khác là buộc phải độc tôn Nho giáo với phương châm nhập thế dứt khoát, mong giữ vững “chủ trương” của Hội Hướng thiện, là: trên cơ sở “tầm nguyên phỏng cổ” 寻源訪古 (chữ Nguyễn Văn Siêu từng dùng trong thơ tại cuộc tụ hội ở Hồ đình của Vũ Tông Phan; hiện nay đắp trong vế đối trên cột trụ chính giữa của đền Ngọc Sơn) để kết hợp được “Cựu bang văn nhã” 舊邦文雅với Cổ đạo nghi hình 古道儀型 (chữ của Vũ Tông Phan trên câu đối từng treo tại bái đường Văn chỉ Thọ Xương) mà giáo hóa mọi người hướng thiện, tu dưỡng thành con người phương chính, sẵn sàng nhập cuộc chống bọn tà đạo xâm lăng. Không ngẫu nhiên Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Văn Lý, Trần Văn Vi và các cựu môn sinh của Vũ Tông Phan như Vũ Duy Ninh, Nguyễn Tư Giản, Lê Đình Diên, Ngô Dạng… đều đứng về phía chủ chiến chống Pháp xâm lược; năm 1873, một năm sau khi Hội trưởng Nguyễn Văn Siêu mất, nhiều thành viên Văn hội Thọ Xương và Hướng thiện hội đã gia nhập nghĩa đoàn đánh trả bọn Jean Dupus gây sự.
Người ta lấy bài thơ Phương Đình tử phóng ca sáng tác thuở thanh niên (lại dịch sai nữa!) để phán tác giả đã buông xuôi, “mình thế nào cũng xong”(!), hoặc đã quá vội vã tin mà không thẩm định mấy sách chép tay đáng ngờ, rồi gán cho con người “nguyện thủ phương vi hình” là tác giả những câu đối mơ tiên với hạc, tuyên truyền quan điểm chiết trung, không nên rạch ròi trắng đen, bảo vệ những kẻ không vuông, cũng chẳng tròn v.v. và v.v…, dẫn đến sự quy kết võ đoán, xuyên tạc diện mạo danh nhân của Từ điển Bách khoa Việt Nam: (T.III, tr.192): “Dần dần, Nguyễn Văn Siêu quay lưng với thực tế, và đi đến triết lý nhàn tản vô vi” (?!). Xin hãy một lần nữa suy ngẫm trên trang sách viết vào giai đoạn cuối đời của con người khi bắt đầu công cuộc chấn hưng văn hóa Thăng Long từng “nguyện thủ phương vi hình”: 士風厚則議論正而是非明 - sĩ phong hậu tắc nghị luận chính nhi thị phi minh (sĩ khí trung hậu thì nghị luận ngay thẳng, mà phải trái rõ ràng.
Chú thích:
Tài liệu tham khảo
[1] Vũ Thế Khôi: 1. Vũ Tông Phan, cuộc đời và thơ văn, Nxb. Văn học, 1995, tr.36-46; 2. Vũ Tông Phan với văn hóa Thăng Long (chủ biên), Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây 2001.
[2] Vũ Thế Khôi: 1. Đức Thánh Trần trong đền Ngọc Sơn - Tạp chí Xưa & Nay, số 80, tháng 10 năm 2000, tr.10; 2. Từ Hội Hướng thiện đền Ngọc Sơn đến Trường Đông Kinh nghĩa thục, Tạp chí Xưa & Nay, số 283, tháng 5 - 2007, tr.10-11.
[3] Báo Nhân dân, số ra ngày 22-8-1990.
[4] Tuyển tập văn bia Hà Nội, Nxb. KHXH, 1978, T.II, tr.68-71.
[5] Tuấn Nghi & Tảo Trang: Câu đối, hoành phi và đề tự bằng chữ Hán ở đền Ngọc Sơn Hà Nội, Tạp chí Hán Nôm, số 1 (10)-1991, tr.69-80.
[6] Phạm Đức Huân: Tháp Bút Đài Nghiên Đình Trấn Ba. Lời nhắn của người xưa, Nxb. Văn hóa - Thông tin, 2006, tr.18-21.
[7]方亭文類續集. - Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội, ký hiệu VHv.840/5, tr.50b-52b, 52b-54a; Phương Đình văn loại. Phần Hà Nội - văn vật, Trần Lê Sáng dịch, Nxb. Văn học, 2001, tr.20-23, 27-29.
[8] G. Dumoutier: Les pagodes de Hanoi - Hanoi, Imprimerie - Typographique F.-H. Schneider, 1887, p.13-24.
[9] A. Masson: Hanoi pendant la période héroique (1883-1888), Paris, Librairie Orientaliste Paul Geuthner, 1929; bản dịch tiếng Việt “Hà Nội giai đoạn 1873-1888”, Nxb. Hải Phòng, tr.125.
[10] 方亭嬰言詩集 - Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.188/1-2, tr.35a.
[11] Trần Văn Đạt: Hoành phi - Câu đối - Chữ Hán đền Ngọc Sơn, Nxb. Từ điển bách khoa, H. 2007, tr.78; 118, 119.
[12] Nguyễn Văn Siêu: Phương Đình tùy bút lục, PGS. Trần Lê Sáng dịch, Nxb. Hà Nội, H. 1996, tr.141; 196, 198; 235.
[13] Xin tham khảo thêm: TS. Huỳnh Công Bá: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa (2007), tr.97. TS. Bá cho rằng Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát… thuộc khuynh hướng Hán Nho, Vũ Tông Phan, Nguyễn Tư Giản thuộc khuynh hướng Đường Nho.
[14] Vũ Thế Khôi: 1. Câu đối đền Ngọc Sơn, một di sản văn hóa quý giá, Tạp chí Văn hiến Việt Nam, số 7, tháng 9+10/ 2001, tr.20-24; 2. Câu đối đền Ngọc Sơn, vài vấn đề địa chí và dịch thuật, Tạp chí Hán Nôm, Số 6 (61)-2003, tr.54-62; 3. Hội Hướng thiện đền Ngọc Sơn, một cội nguồn văn hóa - xã hội sâu xa của phong trào Duy tân - Đông Kinh nghĩa thục (Báo cáo khoa học tại Hội thảo quốc tế Vietnam - le momente moderniste 1905 - 1908”, tổ chức tại Đại học Provence, CH Pháp, ngày 3-5/5/2007); toàn văn xem: http://htx.dongtak.net, từ khóa: Vũ Thế Khôi; tóm lược: Xưa & Nay, số 283, tháng 5/2007; 4. Một trào lưu văn hóa của sĩ phu Hà thành qua giải mã thơ văn chữ Hán - Kỷ yếu hội thảo khoa học “Những vấn đề ngôn ngữ: Tiếng Hà Nội với ngôn ngữ văn hóa Việt Nam”, do Khoa Ngôn ngữ học Đại học KHXH & NV thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội, Hội Ngôn ngữ học Hà Nội và Tạp chí Ngôn ngữ đồng tổ chức 29-12-2007, tr.225-234; 5. Trào lưu tư tưởng giáo dục phi chính thống của sĩ phu Hà Nội thời Nguyễn, Tạp chí Xưa & Nay, số 319, tháng 11/2008, tr.4-8.
[15] Tảo Trang: Hội Hướng thiện đền Ngọc Sơn - Tạp chí Hán Nôm, số 4/1997.
[16] Vũ Thế Khôi: Tác giả Văn minh tân học sách phải chăng là Ngô Đức Kế - Tạp chí Hán Nôm, số 2 (93) - 2009, tr.22-33./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 4(101) 2010; Tr.72-80)