Nói chuyện quy đổi dương lịch cho các niên hiệu (Tạp chí Hán Nôm, số 3 (112) 2012 (tr.60 - 73)
NÓI CHUYỆN QUI ĐỔI DƯƠNG LỊCH CHO CÁC NIÊN HIỆU
NGUYỄN VĂN NGUYÊN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Đã từ lâu trên sách vở, báo chí, kí hiệu năm Dương lịch được đặt trong ngoặc đơn biểu thị sự qui đổi đối với thông tin về thời gian âm lịch đứng trước nó đã trở nên thông dụng và quen thuộc không chỉ riêng trong giới khoa học mà đối với cả mọi tầng lớp độc giả thông thường. Sở dĩ phải dùng đến kí hiệu qui đổi này là bởi có sự khác nhau cơ bản giữa hai thứ lịch: Âm lịch là lịch chính thống duy nhất của ta sử dụng suốt trong thời kì cổ và cận đại, còn Dương lịch có xuất xứ từ phương Tây mới chỉ được du nhập và sử dụng trong khoảng hơn một thế kỉ lại đây. Sự khác nhau là ở chỗ, Âm lịch có tính chu kỳ, tính đếm thời gian bằng can chi, tức sự kết hợp của hệ thống 10 thiên can và 12 địa chi, từ đó xác định ra một chu kỳ cứ 60 năm thì lặp trở lại một lần. Cách tính lịch như vậy đã tạo ra hàng loạt kí hiệu ghi năm Âm lịch trùng tên và chênh nhau một bội số của 60 năm về thứ tự thời gian. Thống kê trong suốt thời kì phong kiến kể từ khi Ngô Quyền giành được nền độc lập cho nước ta trở đi đã có đến 21 năm cùng mang tên Giáp Tí, 20 năm cùng mang tên Ất Sửu v.v... Khi sử dụng Âm lịch, người xưa cũng còn kết hợp yếu tố can chi đồng thời với niên hiệu của các triều đại nên cũng định vị những năm cùng tên này để từ đó vẫn có thể xác định được vị trí chính xác của các năm trong tiến trình lịch sử. Trong khi đó Dương lịch mang tính chất tuyến tính với một điểm mốc được chọn là năm Thiên Chúa giáng sinh để từ đó tính cộng thêm những đơn vị năm ra hai phía, do đó các năm được thể hiện bằng những chữ số nguyên riêng biệt, không có hiện tượng trùng nhau như ở Âm lịch. Qua đó thì thấy, chỉ xét riêng từ góc độ sử dụng thì Dương lịch rõ ràng tỏ ra thuận tiện hơn nhiều, và đó là lí do Dương lịch được chấp nhận như một cách tính thời gian chính thống trong mọi lĩnh vực đời sống hiện nay, trong khi phạm vi sử dụng của Âm lịch thu hẹp lại chỉ còn giới hạn trong các dịp lễ tết, cúng giỗ cũng như một số hoạt động văn hóa truyền thống hoặc tôn giáo, tín ngưỡng... mà thôi.
Sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây ở nước ta vào thế kỉ XVIII - XIX đã
làm nảy sinh nhu cầu qui đổi giữa Âm lịch và Dương lịch. Một trong những văn bản sớm nhất ghi lại sự qui đổi này là tấm bia mộ chí của Giáo sĩ P.Joanes Baptisanasar người Tây Ban Nha sang truyền đạo và mất tại An Nam ngày 16 tháng Giêng năm Bính Ngọ. Sau đoạn ghi ngày mất của vị Giáo sĩ này, trên bia có thêm đoạn ghi chú “Tự Thiên chúa giáng sinh hậu nhất thiên thất bách nhị thập lục niên”. Sau đó, sự qui đổi lịch cũng đã xuất hiện trên những văn bản quan phương của triều Nguyễn,như bản Dự thảo các điều khoản Hòa ước ký kết giữa triều Nguyễn với Pháp năm 1874, bên cạnh dòng chữ ghi niên hiệu Tự Đức thứ 27 có kèm theo sau đó năm Dương lịch “Nhất thiên bát bách thất thập tứ niên...”. Sang thế kỉ XIX do nhu cầu này càng trở nên phổ biến hơn, nên vào tháng 3 năm Khải Định thứ 5, triều đình chính thức ra qui định: “Chuẩn cho Khâm thiên giám khi ghi lịch thì ghi tăng thêm ngày tháng của năm Dương lịch để tiện thông dụng”. Và chính vua Khải Định đã trực tiếp sử dụng sự qui đổi lịch trong các tờ dụ, trong đó mỗi khi đề cập đến sự kiện xảy ra vào năm Âm lịch đều được ghi thêm năm Dương lịch (gọi là lịch Tây) ở đằng sau. Đó là đối với văn bản chữ Hán, còn trên những văn bản chữ Quốc ngữ, như những tờ báo xuất bản ở vùng đất đã trở thành thuộc địa của Pháp tại Lục tỉnh Nam Kỳ thì Dương lịch đã được sử dụng phổ biến sớm hơn nhiều, và khi mà Âm lịch vẫn đang còn được sử dụng ở phần đất do triều đình nhà Nguyễn quản lý thì nhu cầu cần qui đổi sang Dương lịch cũng cấp thiết hơn, từ đó hình thành nên cách ghi chú năm Dương lịch để trong ngoặc đơn. Cho đến thời Tạp chí Nam Phong kể từ số đầu tiên xuất bản vào năm 1917, lối ghi chú này đã trở nên thuần thục.
Phải lan man nhắc tới chuyện xa xưa, đã trở thành quá thông thường từ hơn một thế kỷ nay rồi, là bởi tôi vừa mới gặp phải hai tình huống khó xử. Trường hợp thứ nhất xảy ra vào năm ngoái. Tôi có một anh bạn mới về quê để tổ chức lễ mừng thọ cửu tuần cho bà dì. Vừa gặp nhau tôi liền hỏi thăm:
- Thế nào, lễ mừng thọ ở quê có vui không?
- Vui vẻ trang trọng lắm. Con cháu về đông đủ, cả các vị ở chính quyền xã cũng tới dự và biếu quà mừng. Nhưng mình suýt bị một phen bẽ mặt. Cũng là tại ông đấy!
Sửng sốt tôi hỏi lại:
- Chuyện gì? Sao lại tại tôi?
Số là bà dì của bạn tôi tuy vẫn còn khỏe mạnh nhưng đầu óc đã có phần lẫn lộn, nên không nhớ chắc được tuổi của mình. Còn năm sinh của cụ ghi ở chứng minh thư và trong hộ khẩu là do gia đình tự ý kê khai ra hồi ấy chứ chẳng có căn cứ gì. Đầu xuân năm ngoái bạn tôi về quê ngẫu nhiên tìm được một tờ giấy chữ Nho cất giữ đã lâu của gia đình, bèn mang tới tôi nhờ giải mã. Tôi xem thì là một văn tự vay nợ tiền của cụ lập từ năm Bảo Đại thứ 17, trên đó thấy ghi rõ cụ 23 tuổi. Tôi bèn lấy quyển sách niên biểu tra ra năm Bảo Đại thứ 17 là năm 1942, từ đó tính ra năm sinh của cụ bằng cách lấy 1942 trừ đi 22 (vì các cụ ngày xưa luôn tính theo tuổi âm lịch đã cộng thêm 1 tuổi mụ vào tuổi thực) được kết quả là 1920. Bạn tôi mừng lắm, bảo gia đình có nguyện vọng làm lễ mừng thọ cho cụ từ lâu lắm rồi, chỉ tội không biết tuổi thực của cụ để chọn năm nào là năm chẵn mà tổ chức. Nay mới đầu xuân lại đúng vào năm cụ tròn thọ cửu tuần, các vị gia tiên run rủi thế nào báo cho mà biết, phải về báo cho họ hàng chuẩn bị tiến hành ngay mới được.
- Mình thành tâm như thế, nhưng ông biết không, giữa lúc đang vui, bọn mấy đứa thanh niên lại rách chuyện đứng ra bảo: Chú tính thế nào chứ đáng lẽ phải tổ chức mừng thọ cho cụ từ năm ngoái cơ, chứ năm nay cụ đã 91 tuổi rồi. Mình mới nóng mặt quát: Bọn trẻ chúng mày biết gì mà nói bậy. Tao là nói có sách mách có chứng. Tao đã nhờ ông bạn tra cứu rõ ràng năm Bảo Đại thứ 17 là năm 1942. Bọn nó lại cãi: Chúng cháu cũng có chứng cứ rõ ràng đấy ạ. Rồi còn chìa cả cái máy tính laptop ra cho tôi xem, quả thấy ở đó có cái bảng biểu ghi niên hiệu Bảo Đại bắt đầu từ năm 1925, tính ra năm thứ 17 là 1941, thì có vẻ như chúng nó có lý. Đang khi có phần bối rối, mình bèn chống chế: Ấy là tao tính theo tuổi mụ của cụ đấy chứ. Thành ra càng sai. Bị chúng nó cười cho một mẻ. Rõ bực.
Câu chuyện thứ hai xảy ra năm nay, có phần nghiêm trọng hơn. Hồi đầu năm một người không quen biết lắm mang theo một quyển gia phả tìm tới nói là thuê tôi dịch ra Quốc ngữ, có trả thù lao hẳn hoi. Quyển sách cũng mỏng nên tôi nhanh chóng dịch và giao trả sản phẩm xong xuôi. Không ngờ mấy tháng sau lại thấy anh ta tìm đến gặp. Với thái độ không mấy vui vẻ anh ta trình bày rằng, anh nguyên là trưởng tộc của một dòng họ lớn. Hồi nọ anh nhờ tôi dịch cho cuốn gia phả, thấy trong đó nói cụ Thủy tổ nhà mình bắt đầu di cư về định cư ở làng lập ra dòng họ vào năm Hoằng Định thứ 12 mà tôi đã ghi chú là năm 1611 Dương lịch. Anh rất mừng, lập tức bàn bạc với mấy vị cao niên trong dòng họ quyết định sẽ tổ chức nghi lễ thật long trọng nhân dịp kỉ niệm gia khánh (ý anh nói là dịp mừng kỉ niệm thành lập dòng họ) lần thứ 400 vào năm nay. Hiện đã thông báo rộng rãi cho con cháu các chi phái xa gần, kể cả người làm ăn sinh sống ở nước ngoài biết và cùng nhau đóng góp kinh phí để tu bổ lại ngôi từ đường, xây sửa các phần mộ gia tiên và cử hành lễ mừng vào ngày giỗ tổ vào tháng Chạp cuối năm. Nói chung mọi người trong họ tộc rất hoan nghênh sáng kiến này và đều phấn khởi nhiệt tình hưởng ứng kế hoạch của anh. Nhưng gần đây lại có một số người ở xa, nhất là mấy vị sinh sống tại nước ngoài có liên lạc về nêu ý kiến đề nghị lui lễ kỉ niệm lại đến sang năm, vì theo họ năm 2012 mới là chẵn 400 năm thành lập dòng họ. - Chuyện này mang ý nghĩa rất trọng đại, trước sau gì chúng tôi cũng phải tiến hành. Nhưng vì họ nhà tôi đông con cháu, lại có nhiều người đang đi làm ăn, học tập ở phương xa. Chọn không đúng thời điểm sẽ làm lỡ việc cho bao nhiêu người, chưa kể tốn phí tiền tàu xe đi lại. Lại buồn một nỗi là nhân những ý kiến đó, có người lại còn xì xào gây dư luận nói rằng tôi năm nay vì làm ăn khó khăn nên muốn mượn cớ này định lạm dụng huy động tiền đóng góp của mọi người để lo chuyện kinh doanh của riêng mình.
Rồi anh yêu cầu tôi tìm cách chứng thực cho động cơ trong sáng và tấm lòng thành thực của anh để có thể thanh minh với bà con trong họ tộc, gột bỏ tiếng xấu cho anh trong chuyện này. Tôi đứng lên định tìm quyển sổ niên biểu thì anh gạt đi, chìa ra một tờ giấy mà nói với giọng như cố kìm nén sự gay gắt: - Đây, họ cũng gửi cho tôi một bản in bảng tra niên hiệu các triều vua Việt Nam, mà là của chính Viện cũ của anh đấy, họ lấy từ trên mạng xuống. Có ghi hẳn hoi là được cập nhật năm 2007, chắc là còn mới hơn sách niên biểu của anh.
Thế là cả hai sự việc đều liên quan đến chuyện qui đổi thời gian sự kiện từ Âm lịch sang Dương lịch. Sau chuyện ấy tôi mới để tâm sưu tầm đối chiếu một số công cụ bảng tra niên hiệu hiện nay và thật ngạc nhiên khi phát hiện quả có sự vênh nhau giữa các bản không chỉ ở hai trường hợp tôi đã vấp phải mà còn xảy ra ở khá nhiều niên hiệu khác. Xin kê ra một số dẫn chứng trong bảng đối chiếu dưới đây:
Niên hiệu | Bản A | Bản B | Bản C | Bản D | Bản E | Bản F | Bản G | Bản H |
Thái Bình | 970-979 | 970-979 | 970-979 | 970-979 | 970-979 | 970-979 | 970--980 | 970-980 |
Quang Thái | 1388-1398 | 1388-1398 | 1388-1398 | 1388-1389 | 1388-1389 | 1388-1389 | 1388-1389 | 1388-1398 |
Hưng Khánh | 1407-1408 | 1407-1409 | 1407-1409 | 1407-1408 | 1407-1408 | 1407-1408 | 1407-1408 | 1407-1409 |
Quảng Hòa | 1541-1546 | 1541-1545 | 1541-1546 | 1540-1546 | 1540-1546 | 1540-1546 | 1540-1546 | 1541-1546 |
Thuận Bình | 1549-1556 | 1549-1556 | 1549-1556 | 1548-1556 | 1548-1556 | 1548-1556 | 1548-1556 | 1549-1556 |
Thiên Hựu | 1557 | 1556-1557 | 1557 | 1556-1557 | 1556-1557 | 1556-1557 | 1556-1557 | 1557 |
Thận Đức | 1600 | 1600 | 1600 | 1600-1601 | 1600-1601 | 1600-1601 | 1600-1601 | 1600 |
Hoằng Định | 1600-1619 | 1600-1619 | 1600-1619 | 1601-1619 | 1601-1619 | 1601-1619 | 1601-1619 | 1601-1619 |
Long Thái | 1618-1625 | 1618-1625 | 1621-1625 | 1623-1638 | 1623-1638 | 1623-1638 | 1623-1638 | khôngcó |
Vĩnh Trị | 1676-1680 | 1676-1679 | 1676-1680 | 1676-1679 | 1676-1679 | 1676-1679 | 1676-1679 | 1676-1679 |
Chiêu Thống | 1787-1789 | 17871788 | 1787-1789 | 1786-1788 | 1786-1788 | 1786-1788 | 1786-1788 | 1786-1788 |
Cảnh Thịnh | 1792-1801 | 1792-1801 | 1793-1801 | 1793-1801 | 1793-1801 | 1793-1801 | 1793-1801 | 1793-1801 |
Bảo Hưng | 1801 | Không có | 1801-1802 | Không có | Không có | Không có | 1801-1802 | Không có |
Hàm Nghi | 1884-1885 | | 1885 | 1885-1888 | 1885-1888 | 1885-1888 | 1885-1888 | 1885-1888 |
Đồng Khánh | 1885-1888 | | 1885-1888 | 1886-1888 | 1886-1888 | 1886-1888 | 1886-1888 | 1886-1888 |
Bảo Đại | 1926-1945 | | 1926-1945 | 1925-1945 | 1925-1945 | 1925-1945 | 1925-1945 | 1925-1945 |
Ghi chú: A: Nguyễn Bá Trác: Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu, Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn, 1963.
B: Viện Sử học: Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam (từ đầu đến giữa thế kỷ XIX), Nxb. KHXH, H. 1987.
C: Lê Thành Lân, Lịch và niên biểu lịch sử hai mươi thế kỷ (0001-2010),
Nxb. Thống Kê, H. 2000.
D: Website:http://www.hannom.org.vn: Bảng tra Niên hiệu các triều vua Việt Nam.
E: Website: http://lichsuvn.info: Bảng tra Niên hiệu các triều vua Việt Nam.
F: Website: http://www.sugia.vn: Bảng tra Niên hiệu các triều vua Việt Nam.
G: Website: http://vi.wikipedia.org: Niên hiệu các triều vua, chúa Việt Nam.
H: Website: http://www.nomna.org:Niên biểu lịch sử Việt Nam.
Hẳn nhiên đây chính là nguyên nhân gây ra rắc rối cho tôi trong cả hai câu chuyện kể bên trên. Nhưng trước khi đi vào khảo cứu đúng sai ra sao, tưởng cũng cần phải thảo luận một chút về tính chất và ý nghĩa của việc qui đổi Dương lịch cho niên hiệu các triều đại phong kiến.
Hãy xét một trường hợp cụ thể, ví dụ niên hiệu Kiến Trung của Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của triều nhà Trần. Ngày nay tất cả mọi tài liệu sách vở lịch sử đều thống nhất qui đổi ra năm Dương lịch cho niên hiệu này là Kiến Trung (1225-1232), tức thời gian bắt đầu sử dụng niên hiệu này là năm 1225. Đó là bởi căn cứ vào cứ liệu trong các bộ chính sử, ví dụ Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Ngày 11 tháng 12 mùa đông năm Ất Dậu niên hiệu Thiên Chương Hữu Đạo năm thứ 2, Lý Chiêu Hoàng mở hội lớn ở điện Thiên An, ngự trên sập báu, các quan mặc triều phục vào chầu, lậy ở dưới sân. Chiêu Hoàng bèn trút bỏ áo ngự mời Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế. Đổi niên hiệu là Kiến Trung năm thứ nhất”. Tra lịch năm Ất Dậu sẽ được năm Dương lịch là 1225. Tuy nhiên nếu đem ngày bắt đầu đổi niên hiệu Kiến Trung mà đoạn sử đã ghi, tức ngày 11 tháng 12 năm Ất Dậu đó qui đổi ra Dương lịch thì ta sẽ được kết quả là ngày 10 tháng 1 của năm 1226!.
Tại sao cùng dựa vào một cứ liệu lịch sử mà lại cho ra hai kết quả năm qui đổi khác nhau như thế? Nguyên nhân chính là bởi sự khác nhau về đơn vị thời gian thiên nhiên của hai thứ lịch. Dương lịch là loại lịch theo mặt trời, dùng đơn vị thời gian là năm mặt trời, tức là độ dài chu kỳ quay của trái đất xung quanh mặt trời. Còn Âm lịch là loại lịch theo mặt trăng, lấy đơn vị thời gian là tháng mặt trăng, tức là độ dài chu kỳ quay của mặt trăng xung quanh trái đất. Hai loại lịch này cùng sử dụng chung một đơn vị ngày, tức là thời gian trái đất tự quay quanh mình một vòng. Theo đó tính ra 1 năm mặt trời có độ dài xấp xỉ bằng 365,242198 ngày, 1 tháng mặt trăng có độ dài xấp xỉ bằng 29,5 ngày. Với những số lẻ ở sau hàng thập phân như vậy, để hai thứ lịch khác nhau như mặt trăng với mặt trời này có thể đi song hành đo ghi các mốc trên trục thời gian người ta đã phải nghĩ ra biện pháp “nhuận”, nghĩa là thêm vào một số ngày, thậm chí có lúc thêm hẳn một tháng vào niên lịch của mỗi loại theo những qui tắc phức tạp khác nhau. Nhưng cũng chính vì biện pháp đó nên trong thực tế chúng ta hầu như không thể qui đổi trùng khớp một cách chính xác giữa một năm hoặc một tháng Âm lịch sang năm, tháng Dương lịch tương ứng hay ngược lại. Nói cách khác, ta sẽ thu được kết quả với những mức độ trùng khớp khác nhau tùy thuộc vào đơn vị qui đổi, trong đó đối với đơn vị ngày, do cả Âm và Dương lịch cùng dùng chung một số đo thời gian một vòng tự quay của trái đất nên có thể qui đổi với độ chính xác cao nhất, còn đối với đơn vị tháng và năm sẽ mang theo những sai số và do đó có độ trùng khớp thấp hơn.
Đối với niên hiệu, với định nghĩa là tên hiệu dùng để ghi năm thời phong kiến, việc qui đổi tức là đem một năm ghi bằng can chi qui ra năm ghi bằng chữ số tương ứng, như vậy tất yếu sẽ phải chấp nhận mang theo một dung sai nào đó trong kết quả qui đổi. Nhưng như thế thì có ý nghĩa gì khi chuyển đổi một niên hiệu sang năm Dương lịch? Thứ nhất, thay vì là một năm ghi theo can chi rất dễ nhầm lẫn với cái tên y hệt như thế ở trước và sau nó 60 năm, hoặc lại phải ghi kèm theo một niên hiệu hay triều đại của một ông vua nào đó ta mới định vị được nó trong trục thời gian của lịch sử, thì sau khi qui đổi ta có được một năm Dương lịch bằng các chữ số gọn gàng và cụ thể để giúp ta dễ dàng đạt được cùng mục đích đó. Điều thứ hai quan trọng hơn, năm Dương lịch của năm khởi đầu một niên hiệu (tức năm nguyên niên) chính là số mốc cơ sở để tính toán ra những năm tiếp theo của triều đại sử dụng niên hiệu đó bằng thao tác đã trở nên rất quen thuộc đối với người nghiên cứu lịch sử: Năm Dương lịch bằng năm Dương lịch của nguyên niên cộng với năm thứ trừ đi 1 đơn vị. Qua đó ta thấy để việc qui đổi niên hiệu có được tác dụng thực tiễn cần phải tuân theo hai điểm qui ước sau. Một là phạm vi thời gian tồn tại của một niên hiệu là tính từ năm khởi đầu niên hiệu đó được triều đình phong kiến ban bố đưa ra áp dụng cho đến năm niên hiệu đó bị bãi bỏ hoặc được thay thế bằng một niên hiệu mới. Bởi lẽ, như đã từng xảy ra trong lịch sử, phạm vi đó không phải bao giờ cũng trùng khớp với thời gian lên ngôi trị vì của một ông vua, kể cả những vị thường được gọi tên bằng chính niên hiệu của họ như vua Đồng Khánh hay vua Bảo Đại. Hai là, vì đối tượng qui đổi là niên hiệu nên cấp độ chính xác áp dụng phải là của đơn vị năm. Nếu chọn không đúng cấp độ này, ví như lại muốn qui đổi chính xác tới ngày Dương lịch thì có thể sẽ dẫn tới sự chênh lệch giống như trường hợp ví dụ về niên hiệu Kiến Trung đã nêu ở trên.
Bây giờ đi vào khảo sát đối với những trường hợp không thống nhất với nhau giữa các bảng tra niên biểu liệt kê ở trên. Để lần lượt xem xét xác định niên đại dương lịch của hai điểm mốc đầu và cuối, trong đó đặc biệt chú trọng tới năm khởi đầu của một niên hiệu, có lẽ cách đơn giản nhất là căn cứ vào năm can chi của niên hiệu đó được ghi trong các bộ sử mà tính ngược tới năm nguyên niên rồi qui đổi năm can chi đó ra Dương lịch. Tuy nhiên sẽ thuyết phục hơn nếu tìm ra những cứ liệu lịch sử liên quan trực tiếp ghi nhận sự xuất hiện và kết thúc của một niên hiệu. Ngoài ra, trong điều kiện cho phép, chúng tôi sẽ cố gắng tìm kiếm thêm những bàng chứng bên ngoài, ví như từ tư liệu văn bia, để thông qua ứng dụng thực tế các niên hiệu trong xã hội lúc đương thời xác thực thêm độ tin cậy của sử liệu.
1. Niên hiệu Thái Bình:
+Đại Việt sử ký toàn thư (viết tắt TT) và Khâm định Việt sử thông giám cương mục (viết tắt CM): Năm Canh Ngọ, niên hiệu Thái Bình năm thứ nhất, (Tống Khai Bảo năm thứ 3). Mùa xuân, tháng giêng, đặt niên hiệu.
→ Năm khởi đầu: Canh Ngọ = 970.
+ TT và CM: Năm Canh Thìn, [Thái Bình] năm thứ 11, Phế Đế vẫn dùng niên hiệu Thái Bình. Từ tháng 7 về sau là niên hiệu Thiên Phúc nguyên niên của triều Lê Đại Hành.
+ CM: Năm Canh Thìn, [Thái Bình] năm thứ 11: Dương Hậu thấy ai cũng một lòng hả hê mến phục, liền sai lấy áo long cổn khoác lên mình Lê Hoàn, rồi chính Dương Hậu khuyên mời Lê Hoàn làm vua. Hoàn bấy giờ mới lên ngôi, đổi niên hiệu, giáng chức Đế Toàn xuống làm Vệ Vương như cũ.
→ Năm kết thúc: Canh Thìn = 980.
2. Niên hiệu Quang Thái:
+ TT: Năm Mậu Thìn, [Xương Phù] năm thứ 12. Tháng 12. Ngày 27, Thượng hoàng lập con út là Chiêm Định Vương Ngung làm Hoàng đế. Ngung lên ngôi, đổi niên hiệu là Quang Thái năm thứ nhất, đại xá, tự xưng là Nguyên Hoàng.
→ Năm khởi đầu: Mậu Thìn = 1388.
+ TT: Năm Mậu Dần, [Quang Thái] năm thứ 11, (từ tháng 3 trở đi là Thiếu Đế Kiến Tân năm thứ nhất, Minh Hồng Vũ năm thứ 31). Mùa xuân, tháng 3, ngày 15, Lê Quý Ly bức vua phải nhường ngôi cho hoàng tử An.... Hoàng thái tử An lên ngôi ở cung Bảo Thanh, đổi niên hiệu là Kiến Tân năm thứ nhất. Đại xá.
→ Năm kết thúc: Mậu Dần = 1398.
3. Niên hiệu Hưng Khánh:
+ TT: Năm Đinh Hợi Hưng Khánh năm thứ nhất: Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 2, Giản Định Đế lên ngôi ở Mô Độ, châu Trường Yên, dựng niên hiệu là Hưng Khánh.
→ Năm khởi đầu: Đinh Hợi= 1407.
+ TT: Năm Kỷ Sửu, [Hưng Khánh] năm thứ 3: từ tháng 3 trở đi là niên hiệu Trùng Quang năm thứ nhất.
+ Đại Việt sử ký tiền biên (viết tắt TB): Năm Kỷ Sửu, [Hưng Khánh] năm thứ 3: Tháng 3, Trần Quý Khoáng lên ngôi ở Chi La, đổi niên hiệu là Trùng Quang.
→ Năm kết thúc: Kỷ Sửu= 1409.
4. Niên hiệu Quảng Hòa:
+ TT: Năm Canh Tý, [Nguyên Hòa] năm thứ 8, (Mạc Đại Chính năm thứ 11; Minh Gia Tĩnh năm thứ 19). Mùa xuân, tháng giêng, ngày 15, Mạc Đăng Doanh chết. Con trưởng là Phúc Hải lên ngôi, lấy năm sau làm Quảng Hòa năm thứ nhất.
+ Thực chứng: Dòng niên đại trên bia Trùng tu trí thạch tứ kiều bi minh ở chùa Hướng Sơn xã Phù Ninh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ (thác bản Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN) số 9842) ghi: “Quảng Hòa tam niên Quí Mão trọng thu thất nguyệt nhị thập tứ nhật”. Từ đó tính ra năm Quảng Hòa nguyên niên là năm Tân Sửu.
→ Năm khởi đầu: Tân Sửu = 1541.
+ TT: Năm Bính Ngọ, [Nguyên Hòa] năm thứ 14, Tháng 5, ngày mồng 8, Mạc Phúc Hải chết. Con trưởng là Phúc Nguyên mới lập, lấy năm sau làm năm Vĩnh Định thứ nhất.
→ Năm kết thúc: Bính Ngọ= 1546.
5. Niên hiệu Thuận Bình:
+ TT: Năm Mậu Thân, [Nguyên Hòa] năm thứ 16, (Mạc đổi Vĩnh Định thành Cảnh Lịch năm thứ nhất; Minh Gia Tĩnh năm thứ 27). Mùa xuân, tháng giêng, ngày 29, vua băng, Thái tử Huyên lên ngôi, lấy năm sau làm Thuận Bình năm thứ nhất.
+ TT: Năm Kỷ Dậu, Thuận Bình năm thứ nhất. (Mạc Cảnh Lịch năm thứ 2; Minh Gia Tĩnh năm thứ 28).
+ Thực chứng: Đề bia Tiến sĩ ở Văn miếu Quốc tử giám, Hà Nội (thác bản VNCHN số 1357: “Thuận Bình lục niên Giáp Dần Chế khoa đề danh kí”. Từ đó tính ra năm Thuận Bình nguyên niên là năm Kỉ Dậu.
→ Năm khởi đầu: Kỉ Dậu= 1549.
+ TT: Năm Bính Thìn, [Thuận Bình] năm thứ 8, (Mạc Quang Bảo năm thứ 3; Minh Gia Tĩnh năm thứ 35). Mùa xuân, tháng giêng, ngày 24. Vua băng, không có con nối.
→ Năm kết thúc: Bính Thìn= 1556.
6. Niên hiệu Thiên Hựu:
+ TT: Năm Bính Thìn, [Thuận Bình] năm thứ 8 [1556]: Tìm được cháu bốn đời của Lam Quốc công Lê Trừ là Lê Duy Bang ở hương Bố Vệ huyện Đông Sơn, đón về lập làm vua. Đại xá, lấy năm sau làm năm Thiên Hựu thứ nhất.
+ TT: Năm Đinh Tị, Thiên Hựu năm thứ nhất, (Mạc Quang Bảo năm thứ 4; Minh Gia Tĩnh năm thứ 36).
→ Năm khởi đầu: Đinh Tị= 1557.
+ TT: Năm Đinh Tị, Thiên Hựu năm thứ nhất, (Mạc Quang Bảo năm thứ 4; Minh Gia Tĩnh năm thứ 36). Mưa to kéo dài hàng tháng không tạnh. Ở Thanh Hoa, Nghệ An lúa đồng phần lớn bị ngập nước, mùa màng bị mất, do vậy vua xuống chiếu đổi năm sau thành năm Chính Trị thứ nhất.
→ Năm kết thúc: Đinh Tị= 1557.
7. Niên hiệu Thận Đức:
+ TT: Năm Kỉ Hợi, [Quang Hưng] năm thứ 22. Tháng 8, Xuống chiếu rằng: “... Trẫm ... đã lên nối nghiệp lớn vào ngày 27 tháng này năm nay, sang năm sẽ đổi niên hiệu.... Sẽ lấy sang năm làm năm Thận Đức thứ nhất”.
+ CM: Năm Kỉ Hợi, [Quang Hưng] năm thứ 22. Tháng 8, Nhà vua bị bệnh, đến ngày 24 tháng này thì mất, ở ngôi vua 27 năm, hưởng thọ 33 tuổi. Từng cùng bầy tôi trong triều bàn định: lấy cớ rằng, Duy Trì, con trưởng nhà vua, là người tính chất không được minh mẫn, bèn rước Duy Tân, con thứ nhà vua, lập lên làm vua (tức là Kinh Tông). Hạ chiếu lấy sang năm làm năm Thận Đức thứ nhất.
→ Năm khởi đầu: Canh Tí= 1600.
+ TT: Năm Canh Tí, [Thận Đức] năm thứ nhất. (Từ tháng 11 trở về sau là Hoàng Định năm thứ nhất; Minh Vạn Lịch năm thứ 28).
+ CM: Năm Canh Tí, Kính Tông Huệ Hoàng đế, năm Thận Đức thứ nhất. Tháng 11. Đổi niên hiệu. Đại xá cho trong nước. Lời cẩn án: Theo "Phàm lệ" chép Cương mục của Chu Tử, về việc đổi niên hiệu: phàm ông vua nào đương giữa đời mà đổi niên hiệu khác, thì chỉ chép việc đổi niên hiệu mới đổi ấy. Nay Kính Tông mới lên ngôi vua mà trong một năm hai lần đổi niên hiệu, thật là không kê cứu gì đến phép đời cổ, cho nên chép cả hai niên hiệu, để tỏ rõ sự sai lầm.
→ Năm kết thúc: Canh Tí= 1600.
8. Niên hiệu Hoằng Định:
+ TT: Năm Canh Tí, [Thận Đức] năm thứ nhất. Tháng 11, đại xá, đổi niên hiệu, lấy năm ấy làm Hoằng Định năm thứ nhất.
+ Thực chứng: Đề bia Tiến sĩ ở Văn miếu Quốc tử giám, Hà Nội (thác bản VNCHN số 1375: “Hoằng Định tam niên Nhâm Dần khoa Tiến sĩ đề danh kí”.
+ Thực chứng: Dòng niên đại trên bia Tam quan án tiền hương đình bi ở chùa Đại Dương xã Phú Thị huyện Gia Lâm (thác bản VNCHN số 3166) ghi: “Hoằng Định bát niên tuế thứ Đinh Mùi”. Từ đó tính ra năm Hoằng Định nguyên niên là năm Canh Tí.
→ Năm khởi đầu: Canh Tí= 1600.
+ TT: Năm Kỷ Mùi, [Hoằng Định] năm thứ 20, (Từ tháng 6 trở đi là Thần Tông Vĩnh Tộ năm thứ nhất. Tháng 5, ngày 12, bức vua thắt cổ chết. Sau truy tôn là Huệ Hoàng Đế, miếu hiệu là Kính Tông. Tháng 6, Hoàng tử lên ngôi ở điện Cần Chính, đổi niên hiệu là Vĩnh Tộ năm thứ nhất.
→ Năm kết thúc: Kỉ Mùi= 1619.
9. Niên hiệu Long Thái:
+ CM: Năm Mậu Ngọ, năm [Hoằng Định] thứ 19. (Minh Vạn Lịch thứ 46). Tháng giêng, mùa xuân. Sai bọn Trịnh Tráng đi đánh Cao Bằng. Mạc Kính Khoan chạy trốn. Kính Khoan, cháuKính Cung, hô hào tụ họp đồ đảng còn sót lại là bọn Trí Thủy, lấp ló ra vào ở quãng Vũ Nhai, Đại Từ, xưng ngụy tước là Khánh Vương, tiếm niên hiệu là Long Thái.
+ Đại Việt thông sử: Năm Tân Dậu Vĩnh Tộ thứ 3, tháng 11, lại đi đánh Cao Bằng. Sau khi Mạc Kính Cung trốn khỏi Kim Thành, bèn lẩn lút ở Cao Bằng, xưng niên hiệu nguỵ là Càn Thống. Nguỵ Khánh vương Kính Khoan trước đó đã đóng giữ ở vùng núi Thái Nguyên, lúc này cũng chiếm cứ Cao Bằng, tiếm xưng niên hiệu là Long Thái, biệt lập với Kính Cung, không chịu phục nhau.
+ CM: Năm Quý Hợi, [Vĩnh Tộ] năm thứ 5, Mùa thu, tháng 7. Bấy giờ Mạc Kính Khoan tiếm hiệu là Long Thái chiếm cứ Cao Bằng đã lâu.
→ Năm khởi đầu: Mậu Ngọ = 1618.
+ TT: Năm Ất Sửu [Vĩnh Tộ] năm thứ 7, Mùa xuân, ... Mạc Kính Khoan sai Danh Thọ đến xin hàng, xin bỏ ngụy hiệu, xưng là phiên thần.
+ CM: Năm Ất Sửu [Vĩnh Tộ] năm thứ 7, Tháng 5, mùa hạ. Kính Khoan thua chạy, sai người dâng tờ biểu đến Kinh sư xin đầu hàng. Triều đình y cho, phong cho Kính Khoan chức Thái úy Thông Quốc công, bắt bỏ hết ngụy hiệu, tuân theo chính sóc triều đình, lại cho hết đời này đến đời khác trấn giữ một phương làm một phiên trấn giúp sức triều đình mãi mãi. Kính Khoan xin tuân theo lệnh.
→ Năm kết thúc: Ất Sửu = 1625.
10. Niên hiệu Vĩnh Trị:
+ TT: Năm Ất Mão, [Đức Nguyên] năm thứ 2, Tháng 12, Hoàng đệ là Duy Cáp lên ngôi hoàng đế... Đổi niên hiệu, lấy tháng Giêng năm sau làm Vĩnh Trị năm thứ nhất.
+ CM: Năm Ất Mão, [Đức Nguyên] năm thứ 2, (Thanh Khang Hi thứ 14). Tháng 12, Trịnh Tạc bèn cùng các đại thần tôn lập Duy Hiệp làm vua (tức là Hi Tông), kể từ năm sau làm năm Vĩnh Trị thứ nhất. Đại xá cho trong nước.
+ Thực chứng: Đề bia Tiến sĩ ở Văn miếu Quốc tử giám, Hà Nội (thác bản VNCHN số 1327): “Vĩnh Trị nguyên niên Bính Thìn khoa Tiến sĩ đề danh kí”.
→ Năm khởi đầu: Bính Thìn= 1676.
+ CM: Năm Canh Thân, Vĩnh Trị năm thứ 5. Ngày Canh Ngọ, tháng 10, mùa đông. Sao Chổi xuất hiện ở phương tây. Hạ lệnh: ân xá; đổi niên hiệu.
+ Đại Nam thực lục (TL): Năm Canh Thân, năm thứ 32, (Lê - Chính Hòa năm 1, Thanh - Khang Hy năm thứ 19). Mùa đông, tháng 10, vua Lê đổi niên hiệu là Chính Hòa.
→ Năm kết thúc: Canh Thân= 1680.
11. Niên hiệu Chiêu Thống:
+ CM: Năm Bính Ngọ, [Cảnh Hưng] năm thứ 47. (Thanh Càn Long thứ 51). Tháng 7. Ngày Mậu Ngọ. Nhà vua mất. Hoàng Thái tôn (cháu trưởng của nhà vua) Duy Khiêm lên ngôi, đổi tên là Duy Kỳ... Văn Huệ nhận lời, bèn phò Thái tôn lên ngôi Hoàng đế, đổi tên là Duy Kỳ, kể bắt đầu từ sang năm là năm Chiêu Thống thứ nhất.
+ TL: Năm Bính Ngọ, năm thứ 7. (Lê - Cảnh Hưng năm thứ 47, Thanh Càn Long năm thứ 51), Mùa thu, tháng 7, vua Lê nước An Nam băng, đặt thụy là Hiển Tông Vĩnh Hoàng đế. Cháu là Duy Kỳ nối ngôi, lấy năm sau là Đinh Mùi làm năm Chiêu Thống thứ nhất.
+ Thực chứng: Dòng niên đại trên bia Hậu thần bi ký ở đình xã Phượng Cách phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây (thác bản VNCHN số 1726) ghi: “Hoàng Lê Chiêu Thống nguyên niên tuế tại Đinh Mùi trọng đông cát nhật”.
→ Năm khởi đầu: Đinh Mùi = 1787.
+ CM: Năm Kỷ Dậu, năm thứ 3 (Thanh Càn Long năm thứ 54). Tháng giêng, mùa xuân. Nhà vua chạy sang nhà Thanh. Bầy tôi là bọn Nguyễn Viết Triệu 25 người đi theo. Nhà Lê mất.
+ TL: Năm Kỷ Dậu, năm thứ 10 (năm ấy nhà Lê mất, Thanh Càn Long năm thứ 54), mùa xuân, tháng giêng. Quân Thanh đánh nhau dữ dội với giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ ở Thanh Trì bị thua. Tôn Sĩ Nghị chạy về, Điền Châu Thái thú Sầm Nghi Đống chết. Vua Lê cũng chạy sang nước Thanh. Nhà Lê mất.
→ Năm kết thúc: Kỉ Dậu = 1789.
12. Niên hiệu Cảnh Thịnh:
+ Tây Sơn thuật lược: Năm Quí Sửu, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ nhất của Trát (một tên gọi của Nguyễn Quang Toản). Trát ra Thăng Long tiếp nhận sách phong của nhà Thanh.
+ Thực chứng: Dòng niên đại trên bia Hậu thần bi ký ở chùa Bảo Khánh xã Tuyên Bố huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh (thác bản VNCHN số 6356-6357) ghi: “Cảnh Thịnh nguyên niên tuế tại Quí Sửu mạnh xuân Phúc sinh nhật”.
+ Thực chứng: Dòng niên đại trên bia Trùng tu bi ký ở văn chỉ xã Nhị Khê huyện Thượng Phúc tỉnh Hà Đông (thác bản VNCHN số 2686-2687) ghi: “Hoàng triều Cảnh Thịnh vạn vạn niên chi nguyên Quí Sửu quí hạ sóc”.
+ Thực chứng: Dòng niên đại trên bia Hậu thần bi ký ở đình xã Thượng Đáp tổng Vạn Tải phủ Nam Sách tỉnh Hải Dương (thác bản VNCHN số 3793-3794) ghi: “Cảnh Thịnh nguyên niên tuế tại Quí Sửu mạnh xuân cốc nhật”.
Ghi chú: Một số tài liệu lịch sử của triều Nguyễn như Đại Nam thực lục, Quốc triều chính biên toát yếu hoặc Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim v.v... chép việc Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi và lấy niên hiệu Cảnh Thịnh vào tháng 7 năm Nhâm Tí (1792) , đó là do các tài liệu này chép gộp sự kiện xảy ra sau này vào sau sự kiện vua Quang Trung qua đời. Vua Quang Trung mất khi Quang Toản còn nhỏ tuổi. Do nhiều nguyên nhân đối nội và đối ngoại, sự kiện Quang Trung qua đời được các Đại thần triều Tây Sơn lúc đương thời giữ bí mật rất kín, hàng tháng sau mới được công bố ra ngoài (Tham khảo thêm: “Triều đại Quang Trung dưới ánh mắt các nhà truyền giáo Tây phương”, Tập san Sử địa, số 13 năm 1969, tr.144). Do đó niên hiệu Cảnh Thịnh phải tới sang năm sau (tức năm Quí Sửu) mới bắt đầu được ban bố áp dụng như thể hiện trên những văn bia nêu trên.
→ Năm khởi đầu: Quí Sửu = 1793.
+ TL: Năm Tân Dậu, năm thứ 22, (Thanh - Gia Khánh năm thứ 6), mùa hạ, tháng 5. Giặc Tây Sơn Nguyễn Quang Toản chạy ra Bắc Thành, đổi ngụy hiệu làm Bảo Hưng.
→ Năm kết thúc: Tân Dậu = 1801.
13. Niên hiệu Bảo Hưng:
+ TL: Năm Tân Dậu, năm thứ 22, (Thanh - Gia Khánh năm thứ 6), mùa hạ, tháng 5. Giặc Tây Sơn Nguyễn Quang Toản chạy ra Bắc Thành, đổi ngụy hiệu làm Bảo Hưng.
+ Tây Sơn thuật lược: Năm Tân Dậu, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 9 cùa Trát. Tháng 6, Trát làm lễ cúng đàn Phương Đàm ở Tây hồ, tiếm đổi niên hiệu thành Bảo Hưng nguyên niên.
+ Thực chứng: Dòng niên đại trên bia Hưng công tập phúc ở chùa Tiên Sơn núi Côi Sơn tổng Vân Côi huyện Thiên Bản tỉnh Nam Định (thác bản Tv VNCHN số 2801-2802) ghi: “Hoàng triều Bảo Hưng nguyên niên tuế tại Tân Dậu mạnh đông nguyệt cốc nhật”.
→ Năm khởi đầu: Tân Dậu = 1801.
+ TL: Năm Nhâm Tuất, năm Gia Long thứ nhất, Tháng 6, ngày Canh Thân, xa giá đến thành Thăng Long (nay là tỉnh lỵ Hà Nội). Giặc Nguyễn Quang Toản đã bỏ thành chạy trước cùng với em là Quang Thùy, Quang Duy, Quang Thiệu và bọn Tư mã Nguyễn Văn Dụng, Nguyễn Văn Tứ qua sông Nhĩ Hà đến sông Xương Giang (thuộc tỉnh Bắc Ninh), đêm trú ở chùa Thọ Xương. Dân thôn mưu cướp. Quân đi theo đều tan. Quang Thùy tự thắt cổ chết; Quang Toản, Quang Duy, Quang Thiệu, Văn Dụng, Văn Tứ tìm đường trốn chạy, đều bị thôn dân bắt được. Binh đuổi theo của Tả quân chợt đến, đóng cũi đưa về Thăng Long. Giặc Tây Sơn dẹp yên hết, lấy hết đất An Nam,
→ Năm kết thúc: Nhâm Tuất = 1802.
14. Niên hiệu Hàm Nghi:
+ TY: Năm Giáp Thân, Ngài lên ngôi tại điện Thái Hòa. Đặt niên hiệu Hàm Nghi, lấy sang năm là năm Hàm Nghi nguyên niên.
+ Đồng Khánh chính yếu (ĐKCY) Quyển 1: Ngày Đinh Sửu, 11 tháng 8, mùa thu năm Hàm Nghi nguyên niên (Cẩn án: Từ ngày rằm tháng 10 năm này trở về sau vâng chuẩn cho chép vào niên hiệu Đồng Khánh Ất Dậu; còn từ đó trở về trước vẫn lấy theo niên hiệu Hàm Nghi...).
+ Thực chứng: Dòng niên đại trên bia Lê thị công đức bi ký ở đền Thể Giao quận Hai Bà Trưng Hà Nội (thác bản VNCHN số 49065) ghi: “Hàm Nghi nguyên niên tuế thứ Ất Dậu nhị nguyệt cốc đán”.
→ Năm khởi đầu: Ất Dậu = 1885.
+ Trần Trọng Kim - Việt Nam sử lược: Vua Hàm Nghi bị bắt. Qua tháng giêng năm Mậu Tí (1888), viên Đại tá coi đạo quân ở Huế ra Quảng Bình, rồi chia quân đi tuần tiễu, để tìm vua Hàm Nghi và đuổi bắt ông Lê Trực và ông Tôn-thất Đạm.... Được mấy hôm tên Ngọc và tên Tinh về tình nguyện xin đi bắt vua Hàm-nghi.... Ngày 26 tháng 9, tên Ngọc và tên Tinh đem hơn 20 đứa thủ hạ, người ở làng Thanh Lang và Thanh Cuộc lên vây làng Tả Bảo là chỗ vua Hàm Nghi đóng. Đến độ nửa đêm, khi chúng nó xông vào, thì Tôn Thất Thiệp còn đang ngủ, hoảng hốt cầm gươm nhảy ra, thì chúng đâm chết. Vua Hàm Nghi trông thấy tên Ngọc làm phản như vậy, cầm thanh gươm đưa cho nó và bảo rằng: "Mày giết tao đi, còn hơn đưa tao về nộp cho Tây". Ngài vừa nói dứt lời, thì bọn chúng nó có một đứa lẻn ra sau lưng ôm quàng lấy ngài rồi dựt thanh gươm ra. Từ khi ngài bị bắt rồi, ngài không nói năng gì nữa.... Người Pháp đem vua Hàm Nghi xuống tầu về Thuận An, rồi đem sang để ở bên xứ Algérie, là xứ thuộc địa của nước Pháp...
→ Năm kết thúc: Mậu Tí = 1888.
15. Niên hiệu Đồng Khánh:
+ ĐKCY Quyển 1: Ngày Đinh Sửu, 11 tháng 8, mùa thu năm Hàm Nghi nguyên niên. Nhà vua lên ngôi tại điện Thái Hòa, lấy năm sau là năm Bính Tuất làm năm Đồng Khánh nguyên niên.
+ Khải Định chính yếu sơ tập: Năm Hàm Nghi nguyên niên, Tháng 9, chuẩn mệnh lấy từ tháng 10 năm ấy trở đi làm năm Đồng Khánh Ất Dậu. Trước đó Đình thần tấu bàn, vâng theo ý chỉ của Từ Dũ Thái hoàng Thái hậu nói rằng, Hoàng thượng lên ngôi đã hơn một tháng nhưng vẫn giữ niên hiệu Hàm Nghi, khiến trong dân chúng còn đem lòng nghi hoặc. Vì vậy nghị bàn nên dùng ngay niên hiệu Đồng Khánh để ổn định nhân tâm mà không phải đợi đến sang năm. Nay xin tính từ ngày mồng một tháng 10 năm nay trở đi đề là ngày tháng năm Đồng Khánh Ất Dậu, đến ngày mồng một tháng Giêng sang năm là năm Bính Tuất sẽ vẫn tuân theo chỉ dụ trước đây lấy làm năm Đồng Khánh nguyên niên cho mới mẻ và thống nhất lòng người. Vua chuẩn y, cho sao chép ý chỉ cùng bản nghị tâu của triều đình ban bố khắp trong ngoài.
Ghi chú: Qua đoạn ghi chép này ta thấy, do hoàn cảnh lịch sử lúc đương thời, việc áp dụng niên hiệu của vua Đồng Khánh được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn đầu từ tháng 10 đến tháng 12 năm Ất Dậu lấy niên hiệu là Đồng Khánh Ất Dậu, từ tháng 1 năm Bính Tuất trở đi mới bắt đầu tính theo thứ tự Đồng Khánh nguyên niên, Đồng Khánh nhị niên và Đồng Khánh tam niên. Cho nên để tránh nhầm lẫn, phải chăng nên thêm vào đời vua Đồng Khánh một niên hiệu Đồng Khánh Ất Dậu (1885).
+ Thực chứng: Dòng niên đại trên bia Trùng tu Huyền thiên quán bi ký ở quán Huyền Thiên phố Hàng Khoai Hà Nội (thác bản VNCHN số 265) ghi: “Đồng Khánh nguyên niên tuế thứ Bính tuất Trọng thu Thượng cán”.
→ Năm khởi đầu: Bính Tuất = 1886.
Trần Trọng Kim - Việt Nam sử lược: Ngày 27 tháng Chạp năm Mậu Tí là ngày 28 tháng Giêng năm 1888, vua Đồng Khánh phải bệnh mất, thọ 25 tuổi, làm vua được 3 năm, miếu hiệu là Cảnh Tông Thuần Hoàng đế. Bấy giờ ông Rheinard lại sang làm Khâm sứ ở Huế, thấy con vua Đồng Khánh còn nhỏ, và lại nhớ ông Dục Đức ngày trước, khi vua Dực Tông hãy còn thường hay đi lại với người Pháp, bởi vậy viên Khâm sứ nghĩ đến tình cũ mà truyền lập ông Bửu Lân là con ông Dục Đức lên làm vua. Ông Bửu Lân bấy giờ mới lên mười tuổi, đang cùng với mẹ phải giam ở trong ngục. Triều đình vào rước ra, tôn lên làm vua, đặt niên hiệu là Thành Thái, cử ông Nguyễn Trọng Hợp và ông Trương Quang Đản làm Phụ chính.
→ Năm kết thúc: Mậu Tí= 1888.
16. Niên hiệu Bảo Đại:
+ Từ điển bách khoa Việt Nam: Bảo Đại: (tên thật: Nguyễn Vĩnh Thụy; 1913-1997), vua cuối cùng triều Nguyễn, con vua Khải Định. Năm 1922, được phong Đông cung Hoàng Thái tử, rồi sang Pháp du học. Sau khi vua Khải Định chết (1925), trở về nước nối ngôi, lấy niên hiệu Bảo Đại từ tháng 1 năm 1926.
+ Gia phả Nguyễn Phước tộc: Vua Bảo Đại, con Đức Vua Khải Định, sinh năm 1913, lên ngôi ngày 8/1/1926.
+ Thực chứng: Dòng niên đại trên tấm bia Hậu kị bi chí của đình Hòa Mã, địa chỉ số 3 Phùng Khắc Khoan quận Hai Bà Trưng, Hà Nội (thác bản lưu giữ tại VNCHN kí hiệu No17103) ghi: “Hoàng triều Bảo Đại nguyên niên tuế thứ Bính Dần quí đông”.
+ Thực chứng: Dòng niên đại trên tấm bia Bản thôn Hậu bi ở xóm An Thịnh xã Đông Viên phủ Vĩnh Tường tỉnh Phúc Yên (thác bản lưu giữ tại VNCHN kí hiệu No13613) ghi: “Hoàng triều Bảo Đại nguyên niên tuế Bính Dần tam nguyệt nhị thập nhất nhật”.
→ Năm khởi đầu: Bính Dần = 1926.
+ Từ điển bách khoa Việt Nam: Bảo Đại: Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi, Bảo Đại thoái vị; được giữ chức cố vấn tối cao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
→ Năm kết thúc: Ất Dậu = 1945.
Đến đây, nhìn vào các bảng tra niên biểu mà chúng tôi đã sưu tập liệt kê bên trên, có thể rút ra nhận xét là sự qui đổi các niên hiệu ra năm Dương lịch ở những sách vở công cụ xuất bản từ trước đây trên chục năm (bản A, B, C) về cơ bản đều phù hợp với những kết quả thu được thông qua khảo chứng của chúng tôi. Những kết quả qui đổi khác chủ yếu là ở các bảng tra niên hiệu trên một số Website của những cơ quan học thuật có thẩm quyền hoặc ít nhiều có uy tín ở trong và ngoài nước. Những bảng tra trên mạng này đều xuất hiện muộn hơn các ấn phẩm xuất bản, đó có thể là kết quả cập nhật những thành tựu nghiên cứu khoa học mới chăng, nhưng rất tiếc là chúng tôi không tìm thấy giải thích nào về căn cứ cho những sửa đổi đó. Thiết nghĩ, với những ưu thế vượt trội nhờ áp dụng thành tựu mới của khoa học công nghệ thông tin, những công cụ tra cứu trên mạng ngày nay đã trở thành phương tiện vô cùng thiết yếu và dễ dàng tiếp cận đối với hầu khắp mọi tầng lớp người dùng trong và ngoài nước. Tính năng tiện dụng cộng với uy tín học thuật của cơ quan quản lý những công cụ này khiến chúng có tầm ảnh hưởng không nhỏ trong xã hội. Nhưng cũng chính vì thế các đơn vị đó càng cần phải có trách nhiệm hơn trong việc cung cấp những thông tin khoa học chuẩn xác cho độc giả. Bởi chỉ sơ xuất đưa ra một thông tin sai lạc thì bằng những đường link, những cú copy, sai sót đó nhanh chóng được nhân lên lưu hành trong xã hội, khi đó cho dù chỉ là chuyện nhỏ như việc qui đổi Dương lịch cho các niên hiệu nhưng cũng có thể dẫn tới hậu quả khôn lường.
Ngoài ra, một số bảng tra niên biểu còn có ghi thêm niên hiệu chữ Hán, thế là rất tiện cho người đọc. Tuy nhiên không có thì thôi, đã có thì phải đảm bảo chính xác để tránh lưu truyền những sai sót không đáng có. Ví dụ: Thái Hòa viết là 大和, không viết 太和; Cảnh Lịch viết là景曆, không viết景歷; Khang Hựu viết là康佑, không viết康祐; Long Thái viết là隆泰, không viết龍泰; Đức Long viết là德隆, không viết德龍; Vĩnh Hựu viết là永佑, không viết永祐 v.v... (Những đính chính này chúng tôi đều căn cứ vào mặt chữ Hán ở nguyên văn trên văn bản in sách Đại Việt sử ký toàn thư)./.
(Tạp chí Hán Nôm, số 3 (112) 2012 (tr.60 - 73)