VI | EN
Phú giang trung thạch biểu tượng nhân cách của Nguyễn Văn Siêu (Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (108) 2011, Tr.47 - 52)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (108) 2011, Tr.47 - 52)

PHÚ GIANG TRUNG THẠCH

BIỂU TƯỢNG NHÂN CÁCH CỦA NGUYỄN VĂN SIÊU

TS. NGUYỄN THỊ THANH CHUNG

Trường ĐHSP Hà Nội

Nguyễn Văn Siêu (阮文超) (1799 - 1872), tên khác là Định (), tự là Tốn Ban (遜班), hiệu là Phương Đình (方亭)Thọ Xương cư sĩ (壽昌居士), thụy là Chí Đạo (志道). Ông là tác gia lớn trong thế kỉ XIX với những trước tác về tư tưởng, thơ văn, lịch sử, địa lí như Đại Việt địa dư toàn biên (大越地輿全編), Phương Đình văn loại (方亭文類), Phương Đình tùy bút lục (方亭隨筆錄), Phương Đình thi tập (方亭詩集)... Riêng về thơ ca, ông sáng tác hơn một nghìn bài thơ chữ Hán(1). Bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu Phú giang trung thạch, một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt trong Phương Đình vạn lí tập (方亭萬里集).

Về mặt văn bản, Phương Đình Vạn lí tập hiện còn 01 bản khắc in Phương Đình Vạn lí tập(方亭萬里集) và 02 bản viết tay gồm Sứ trình vạn lí tập(使程萬里集), Bích viên tảo giám(璧垣藻鑑).Phú giang trung thạch là bài số 67 trong bản khắc in, bài số 62 trong Sứ trình vạn lí tập, bài số 28 trong Bích viên tảo giám. Bài thơ trên trong các văn bản chỉ có 01 chữ đương () khác nhau về tự dạng phồn thể, giản thể. Dưới đây là nguyên văn, phiên âm, dịch nghĩa và vẻ đẹp mang tính biểu tượng của Phú giang trung thạch.

Nguyên văn:

Phiên âm:

Phú giang trung thạch

Trác lĩnh như nhân lập,

Đương sơn vô dữ quần.

Trung lưu hoặc yển kiển,

Khuynh nhĩ tẩy phù vân.

Tạm dịch:

Làm thơ về đá giữa sông

Đỉnh núi vững chãi như người đứng,

Núi này không quần tụ cùng núi khác.

Ở giữa sông mà lại cao vút,

Nghiêng tai rửa phù vân.

 

Vẻ đẹp mang tính biểu tượng của thi phẩm:

Biểu tượng vốn có căn cội từ quan niệm văn hóa, tư tưởng, triết học... Xin dẫn lời của tác giả I.X. Lixêvich trong cuốn Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc: “Sự tự cảm thụ cá nhân không biết đến những đường nét rõ ràng, và một trong các thành phần của vũ trụ tam vị nhất thể thiên địa nhân không hề cảm thấy mình tách khỏi hai phần kia của thế giới”(2). Thi nhân là một phần không thể thiếu trong bức tranh thiên nhiên được phác họa bằng ngôn từ của mình. Tuy nhiên, khi nhà thơ tìm thấy sự đồng điệu tuyệt đối ở thiên nhiên thì họ không xuất hiện nữa. Bởi vì, những ngọn núi, dòng sông, cánh hạc, cỏ cây… đã chính là con người thi nhân. Hình tượng thiên nhiên trong thơ trở thành cái biểu đạt của suy nghĩ, tình cảm, nhân cách. Biểu tượng trong Phú giang trung thạch còn bắt nguồn từ quan niệm của người xưa về núi. Thiên Ung dã trong Luận ngữ ghi: , . , . , . (Trí giả nhạo thủy, nhân giả nhạo sơn. Trí giả động, nhân giả tĩnh. Trí giả lạc, nhân giả thọ - Người trí thích nước, người nhân thích núi. Người trí thì động, người nhân thì tĩnh. Người trí thì vui, người nhân thì thọ). Sơn và thủy với những người theo tinh thần Nho giáo như Nguyễn Văn Siêu không chỉ là ngọn núi, dòng sông. Nó vượt qua vẻ đẹp thiên nhiên để biểu đạt những tư tưởng, tinh thần, giá trị thuộc về con người và cá nhân.

Mặt khác, tạo dựng biểu tượng cũng là đặc tính tự thân của thơ ca. Thậm chí, “Thơ mở rộng đến mức độ dùng các biểu tượng, các trực giác và các tình cảm bên trong để dựng lên một thế giới khác quan”(3). Nguyễn Văn Siêu chú trọng sự sáng tạo, mới mẻ, mang hơi thở cuộc sống trong việc tạo dựng hình tượng thơ ca. Ông cho rằng người viết văn làm thơ cũng như người trồng cây. “Một người dùng đất hàng trăm mẫu bón tưới bằng nước sông, định làm cho cây cao trăm trượng, gió sương dầu dãi, mưa móc thấm nhuần, lá lớn cành dài, tha hồ phát triển. Nhờ thế mà cây có nhiều vẻ đẹp, giống như văn chương của trời đất. Một người thì dùng lưng giỏ đất, tưới bằng nước chén, chỉ mong cây cao bằng gang tấc, hôm nay uốn cành ngày mai cắt lá, cong queo nghiêng ngửa, trăm vẻ khác nhau, tuy có giúp cho con mắt vui vẻ được phần nào nhưng cái sinh ý tự nhiên kia, tránh sao không mòn mỏi”(4). Hành trình vạn dặm là cuộc trải nghiệm quý giá đối với sự sáng tạo nghệ thuật của ông. Phương Đình tạo nên những biểu tượng nghệ thuật độc đáo và giàu giá trị từ những tiền đề cơ bản trên.

Vạn lí tập viết nhiều về núi và đá, có thể kể đến những tác phẩm như: 鰲頭山(Ngao Đầu sơn - Núi Ngao Đầu), 葆華山(Bảo Hoa sơn - Núi Bảo Hoa), 陽朔山(Dương Sóc sơn - Núi Dương Sóc), 桂林石(Quế Lâm thạch - Đá Quế Lâm), 應山(Ưng Sơn - Ưng Sơn), 廣武山(Quảng Võ sơn - Núi Quảng Võ)… Núi và đá là trở ngại, vất vả, gian nan trên hành trình. Trong đêm rời cửa ải Hoành Sơn, đá cũng biến thành hiểm họa rình rập: , . , (Hữu cố vụ điền hải, tả cố vân yểm san. Kình ngạc ba thần bế, hổ báo nham linh nhàn - Quay phải mù ngập biển, quay trái mây trùm núi. Sóng kình ngạc thần bí, đá hổ báo linh thiêng)(5). Cảnh núi non vạn trùng nơi cửa ải khiến niềm li biệt càng thêm da diết: 辭國春三月, 過關山萬重. 官軍齊返轡, 番土錯行蹤. (Từ quốc xuân tam nguyệt, quá quan san vạn trùng. Quan quân tề phản bí, phiên thổ thác hành tung - Rời nước xuân tháng ba, qua ải non vạn trùng. Quan quân đều quay lại, người dân lắm lối mòn)(6). Đá và núi cũng mới lạ, đẹp đẽ, ấn tượng: 翠標春雨滴, 光動水波圓. 當此一峰照, 奇於山滿天(Thuý tiêu xuân vũ trích, quang động thuỷ ba viên. Đương thử nhất phong chiếu, kỳ ư sơn mãn thiên - Màu xanh đọng trong mưa xuân từng giọt tí tách, ánh sáng lay động sóng nước gợn tròn lăn tăn. Lúc này, một ngọn núi bừng sáng, Lạ kì bởi núi non đầy trời)(7). Núi còn gửi gắm khát vọng đăng cao viễn vọng: 何當上獨秀, 萬景看南趨 (Hà đương thướng Độc Tú, vạn cảnh khán Nam xu - Khi nào lên Độc Tú, vạn cảnh hướng trời Nam)(8). Trong Phú giang trung thạch, hình tượng thơ không chỉ mang vẻ đẹp tự nhiên mà còn trở thành biểu tượng cho nhân cách, con người thi nhân.

Nói như Heghen trong Mỹ học: “Biểu tượng nên thơ là biểu tượng có hình tượng bởi vì biểu tượng nên thơ không phơi bày trước mắt ta bản chất trừu tượng của cái hiện thực cụ thể”(9). Biểu tượng trong thơ trước hết là hình tượng nghệ thuật cụ thể, hữu hình và không lặp lại. Bằng trí tưởng tượng phong phú cùng khả năng sử dụng ngôn từ tinh tế, Nguyễn Văn Siêu đã tái hiện hình ảnh ngọn núi ấn tượng chỉ trong hai mươi chữ. Ông sử dụng hình dung từ, từ tượng hình như trác (cao chót vót, vẻ vững vàng, thẳng đứng), yển kiển (cao vút)… Câu so sánh trác lĩnh như nhân lập với hư từ so sánh cụ thể cũng góp phần hữu hình hóa, khơi gợi sự đồng sáng tạo. Trên cơ sở đó, biểu tượng được tạo dựng bởi những từ đa nghĩa và hình tượng nghệ thuật thơ biểu đạt tư tưởng, nhân cách, con người.

Trác lĩnh như nhân lập,

Đương sơn vô dữ quần.

(Đỉnh núi vững chãi như người đứng,

Núi này không quần tụ cùng núi khác).

Núi cô độc trong dáng vẻ “đỉnh núi vững chãi như người đứng” mà “không quần tụ cùng núi khác”. Thi nhân thường nhận ra mình trong sự đơn lẻ của thiên nhiên. Khi ngồi một mình cùng núi Kính Đình, Lí Bạch viết: 眾鳥高飛盡, 孤云獨去閒. 相看兩不厭, 只有敬亭山. (Chúng điểu cao phi tận, cô vân độc khứ nhàn. Tương khan lưỡng bất yếm, chỉ hữu Kính Đình sơn - Bầy chim bay đi hết trên tầng cao, áng mây cô đơn một mình trôi nhẹ nhàng. Cùng nhìn nhau cả hai không biết chán, chỉ có núi Kính Đình). Nguyễn Văn Siêu từng không dấu nổi nỗi buồn như lúc ngắm trăng ở Linh Xuyên, khi trung thu nơi Yên Quán… 此夜靈川月, 孤舟萬里心 (Thử dạ Linh Xuyên nguyệt, cô chu vạn lí tâm - Đêm nay, trăng Linh Xuyên, thuyền côi, lòng vạn dặm)(10). 獨此中秋月, 寧知萬里人 (Độc thử trung thu nguyệt, ninh tri vạn lí nhân - Trăng trung thu này đơn độc, liệu có thấu tình người vạn dặm?)(11). Nhân vật trữ tình thường xuất hiện một mình: (獨對-độc đối), (獨坐- độc tọa), (獨飲 - độc ẩm) Người thơ thành cõi lòng vạn dặm (vạn lí tâm), người vặn dặm (vạn lí nhân)…

Nỗi cô đơn thường trôi qua khi sứ giả - thi nhân đặt chân đến một không gian mới lạ, gặp gỡ những người chưa từng quen. Nhưng con người Nguyễn Văn Siêu mang những vết thương lòng về sự cô độc. Xin dẫn một vài lần trải nghiệm của ông. Lần thứ nhất, ông cô độc khi bạn tri âm bị tội xử tử còn bản thân bị phạt trượng đồ. Theo Đại Nam thực lục, năm 1841, Nguyễn Văn Siêu làm Phó chủ khảo trường Thừa Thiên. Ông bị hệ lụy vì liên quan tới Cao Bá Quát. Vì chỗ thân tình, Nguyễn Văn Siêu giữ Cao Bá Quát nghỉ lại qua đêm nên phạm phép trường thi. Lần thứ hai, ông cô độc khi tâm huyết đổ ra mà dân chẳng yên cònbề trên lại không thấu hiểu. Sau khi đi sứ về, Nguyễn Văn Siêu được bổ chức Án sát Hưng Yên. Khi đó, trong nước nổi lên nạn cướp giật, chém giết, quần tụ, bè phái… Năm 1854, ở Hưng Yên, tình hình đặc biệt nghiêm trọng. Nguyễn Văn Siêu cùng Phó lãnh binh tạm dẹp yên. Tuần phủ Hưng Yên đem công trạng báo với vua Tự Đức để xin ban thưởng nhưng vua Tự Đức lại khiển trách Nguyễn Văn Siêu vì để địa phương xảy ra bạo loạn. Lần thứ ba, ông cô độc khi viết điều trần nói những điều thẳng thắn mà lại “bị tội giáng chức về nghỉ”(12). Phương Đình Chí Đạo tiên sinh thần đạo bi ghi rõ: “Thời gian này (năm 1854) đang có việc bàn luận bỏ đắp đê, tiên sinh viết điều trần nói những điều thẳng thắn. Nhưng vì việc nghị luận ấy, ông bị hạ ba cấp. Nhân đó, tiên sinh lấy cớ ốm xin về quê nhà”(13). Nguyễn Văn Siêu từng trải nghiệm những nỗi đau trong cô độc. Bởi vậy, ông tìm thấy sự đồng điệu, nhận ra mình trong dáng vẻ của ngọn núi “vững chãi, cao vút”, “không quần tụ cùng núi khác”…

Trung lưu hoặc yển kiển,

Khuynh nhĩ tẩy phù vân.

(Ở giữa dòng sông mà lại cao vút,

Nghiêng tai rửa phù vân).

Trong hai câu cuối, biểu tượng nghệ thuật được xác lập từ ba tín hiệu gồm từ "yển kiển", từ "phù vân" và hình tượng rửa mây trôi của núi. "Yển kiển" là từ đa nghĩa. Từ này vốn có nghĩa “cao vút”, Li Tao trong Sở từ viết: 望瑤臺之偃蹇 (Vọng Dao Đài chi yển kiển - Trông Dao Đài chừ cao vút). Từ nghĩa “cao vút” mở rộng nghĩa “kiêu hãnh”, “kiêu ngạo”, “ngạo mạn”... Sách Tả truyện có câu: 彼皆偃蹇, 將棄子之命(Bỉ giai yển kiển, tương khí tử chi mệnh - Những kẻ kia đều kiêu ngạo, sẽ vứt bỏ mệnh của ngài). Sách Hán thư cũng viết lời Đổng Trác mắng Sái Ung dám coi thường mình: 我力能族人, 蔡邕遂偃蹇者, 不旋踵矣 (Ngã lực năng tộc nhân, Sái Ung toại yển kiển giả, bất toàn chủng hĩ - Ta là người có thể giết cả họ người khác, Sái Ung là kẻ ngạo mạn, không muốn sống nữa”(14). Vậy nên, hai câu cuối có thể hiểu là “Ở giữa sông mà dáng ngạo nghễ, nghiêng tai rửa mây trôi”.

Núi cô độc nhưng ngạo nghễ “giữa sông cao vút”, “nghiêng tai rửa phù vân”. Hình ảnh ngọn núi nghiêng tai rửa mây trôi gợi nhớ chuyện hai ẩn sĩ đời xưa. Hứa Do (許由) là người hiền, Ðế Nghiêu muốn nhượng thiên hạ nhưng Hứa Do không nhận. Đế Nghiêu lại muốn vời Hứa Do vào làm quan, Hứa Do bèn ra sông Dĩnh rửa tai. Sào Phủ (巢父) cho trâu tới sông uống nước nhưng đã dắt trâu bỏ đi khi biết dòng nước bị Hứa Do rửa tai. Chuyện hai ẩn sĩ này trở thành điển cố về những con người ẩn dật, không màng danh lợi.

Hơn nữa, "phù vân" cũng là từ đa nghĩa. "Phù vân (mây trôi) được dùng để tỉ dụ cho những sự tình không đáng coi trọng, tỉ dụ cho tiểu nhân, tỉ dụ cho bút pháp phiêu dật, tỉ dụ cho sự biến ảo vô định. Đáng chú ý là lời Khổng Tử trong Luận ngữ: 不義而富且貴, 於我如浮雲 (Bất nghĩa nhi phú thả quý, ư ngã như phù vân - Không có nghĩa mà giàu và sang, với ta sự giàu sang đó chỉ như mây trôi). Vậy nên, hình tượng núi cô độc nhưng ngạo nghễ có thể xem như biểu tượng của lòng kiêu hãnh trong con người Phương Đình.

Nguyễn Văn Siêu từng tự hào vì mình là người mặc áo gấm Thành Đông (城東晝錦人- Thành Đông trú cẩm nhân)(15). Năm 1825, ông đỗ Á nguyên trường Thăng Long nhưng không đi thi Hội. Gần 40 tuổi, ông mới bắt đầu bước vào hoạn lộ. Trải nhiều thăng giáng, ông thoái lui khỏi quan trường khi mới hơn 50 tuổi. Ông thấy con đường làm quan thật giống bèo nước trôi nổi (宦遊萍 - hoạn du bình thủy)(16). Ông thấu hiểu lẽ sống: 人事去留爭彼此, 天時消息迭冬春 (Nhân sự khứ lưu tranh bỉ thử, thiên thời tiêu tức điệt đông xuân - Chuyện của đời người đi hay, cớ gì tranh giành cái này cái kia; thời vận ở trời khi đầy lúc vơi, cứ hết đông lại đến xuân)(17). Ông cũng khẳng định điều quan trọng nhất trong đời người là việc gìn giữ được chân tính (抱真 - bão chân)(18). Trong hoàn cảnh xã hội biến động, con người ấy từng kiêu hãnh, kiêu ngạo (yển kiển), sẵn sàng gạt bỏ danh lợi (tẩy phù vân) để gìn giữ chân tính, sự thanh bạch, cao khiết của nhân cách và để giúp đời theo con đường phù hợp hơn với bản tính của mình.

Phú giang trung thạch trước tiên là một bài thơ viết về thiên nhiên. Bức tranh thiên nhiên được tái hiện trong hai mươi chữ thể hiện tài thơ của thi nhân. Hình tượng ngọn núi hiển hiện trong dáng vẻ cô độc và kiêu hãnh trở thành biểu tượng độc đáo của nhân cách, con người cá nhân mà Nguyễn Văn Siêu tạo dựng cho mình. Cũng có thể, ông chỉ có ý định làm thơ về đá trên sông khi viết tác phẩm này nhưng con người tài hoa nước Nam một thời đã để lại những "thần phẩm" như vậy. Vạn lí tập từng được nhận định là “sách mới” (新篇 - tân thiên) và Phương Đình được ca tụng là bậc “học rộng giỏi thơ” (富學工詩- phú học công thi)(19).

 

Chú thích:

1. Xem bài: Sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Văn Siêu của Nguyễn Thị Thanh Chung trên Tạp chí Hán Nôm, số 1/2009, tr.41-47.

2. I.X.Lixevich, Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc, (Trần Đình Sử dịch), Nxb. Giáo dục, H. 2000, tr.220.

3. Trần Đình Sử (chủ biên), Lí luận văn học, tập II, Nxb. Đại học Sư phạm, H. 2011, tr.266.

4. Quan niệm văn học của một số nhà Nho Việt Nam, Nguyễn Đức Vân sưu tầm, dịch, Tạp chí Văn học, số 6/1963, tr.115-147.

5. Bài Dạ xuất Hoành Sơn quan.

6. Bài Nam Quan kỉ biệt.

7. Bài Lạp Chúc nhất phong.

8. Bài Đăng Tượng Tị sơn lâu.

9. Heghen: Mỹ học, Phan Ngọc dịch và giới thiệu, Nxb. Văn học, H. 2005, tr.903.

10. Bài Linh Xuyên kiến nguyệt

11. Bài Yên Quán trung thu

12. Đại Nam thực lục (大南寔錄), kí hiệu A.27/38, trang 32 viết: (阮文超, 河內人, 原按察使, 以事坐降告假 - Nguyễn Văn Siêu, Hà Nội nhân, nguyên Án sát sứ, dĩ sự tọa giáng cáo giá).

13. Nguyên văn chữ Hán là: (辰方有休堤之議 , 條上其不便言者, 是之七年甲寅干議, 降三級, 離用, 因引病歸里 - Thời phương hữu hưu đê chi nghị, điều thượng kì bất tiện ngôn giả, thị chi thất niên Giáp Dần can nghị, giáng tam cấp, li dụng, nhân dẫn bệnh quy lí).

14. Từ nguyên, Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1999, tr.239 giải thích về từ yển kiển như sau: 1. Cao tủng. Sở từ, Li tao: “Vọng Dao Đài chi yển kiển…”. 2. Tòng cao tủng dẫn thân vi kiêu ngạo, ngạo mạn. Tả Truyện, Ai lục niên: “Bỉ giai yển kiển, tương khí tử chi mệnh”. Hán Thư, Sái Ung truyện: “Đổng Trác vi Tư Không, văn Ung danh cao, tị chi, xưng tật bất tựu. Trác đại nộ, lị viết: ngã lực năng tộc nhân, Sái Ung toại yển kiển giả, bất toàn chủng hĩ”. (1. Cao vút. Sở từ, Li tao viết: “Trông Dao Đài chừ cao vút…”. 2. Từ nghĩa cao vút dẫn thân nghĩa kiêu ngạo, ngạo mạn. Trong sách Tả truyện, phần Ai, năm thứ sáu có câu: “Những kẻ kia đều kiêu ngạo, sẽ vứt bỏ mệnh của ngài”. Trong Hán thư, phần Sái Ung truyện viết: Đổng Trác làm Tư Không, muốn vời Sái Ung là người có tiếng tăm nhưng Sái Ung tránh Đổng Trác, lấy cớ bị bệnh không đến. Đổng Trác vô cùng tức giận, mắng rằng: “Ta là người có thể giết cả họ người khác, Sái Ung là kẻ ngạo mạn, không muốn sống nữa”.

15. Bài Đồng sứ bộ phát Nhị Hà.

16. Bài Kinh vũ bất xuất quan thư tác thuộc Phương Đình lưu lãm tập.

17. Bài Xúc cảm thuộc Phương Đình anh ngôn tập.

18. Bài Xúc cảm thuộc Phương Đình anh ngôn tập.

19.方亭詩類, VHv.838/1-4, (Viện Nghiên cứu Hán Nôm - VNCHN) tr.1.

 

Tư liệu tham khảo chính

1.璧垣藻鑑, A.2589, (VNCHN).

2.大南寔錄, A.27/56,(VNCHN).

3.方亭詩類, VHv.838/1-4, (VNCHN).

4.使程萬里集, A.2769, (VNCHN).

5.說文解字. 李恩江-賈玉民主編, 中原農民出版社, 河南, 2000.

6.辭源, 商務印書館, 北京, 1999.

7.Đường thi tứ tuyệt, Nguyễn Hà tuyển dịch, Nxb. VH-TT, H. 1996.

8.Nguyễn Trọng Hợp:Bia thần đạo tại lăng Phương Đình thụy Chí Đạo, (Trần Lê Sáng dịch), Tạp chí Hán Nôm, số 1/1996.

9.Lí Lạc Nghị: Tìm về cội nguồn chữ Hán, Nxb. Thế giới, H. 1997.

10.Trần Lê Sáng (2006), Thơ Nguyễn Văn Siêu, Tạp chí Hán Nôm, số 5/2006.

11.Nguyễn Như Thiệp…: Nét bút thần của Nguyễn Văn Siêu - thi ca và lịch sử, Nxb. Tân Việt, 1944.

12.Tuyển tập văn thơ Phương Đình - Nguyễn Văn Siêu, Trần Lê Sáng chủ biên, Nxb. Hà Nội, H. 2010./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (108) 2011, Tr.47 - 52)

Nguyễn Thị Thanh Chung
Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm