VI | EN
Tìm hiểu ảnh hưởng của tiếng Hán đối với tiếng Tày - Nùng (Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (83) 2007)
tchn 3, 2007

TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA TIẾNG HÁN ĐỐI VỚI TIẾNG TÀY

HOÀNG HỰU

Đại học Sư phạm Thái Nguyên

Thư tịch viết bằng chữ Nôm Tày là di sản văn hóa tinh thần vô giá; là thứ văn tự đánh dấu nền văn minh của một dân tộc. Nó được sử dụng rộng rãi của nhiều triều đại trong phạm vi sáu tỉnh Việt Bắc cũ (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang) và cả Yên Bái nữa.

Tác phẩm chữ Nôm Tày được thể hiện bằng nhiều thể loại như sử thi, ca dao, tục ngữ, then, bụt, lượn, phong slừ, văn tế, văn khế (trong chữ Nôm văn khế được biểu hiện qua tên đất và tên ruộng).

Chữ Nôm Tày từ trước đến nay vẫn ghi được tiếng của dân tộc Tày do vậy vẫn giữ nguyên được bản sắc truyền thống, và ngày càng phát triển.

Nôm Tày được hình thành khoảng thời gian thế kỷ XV thời Hậu Lê, phát triển giai đoạn Lê Trung hưng (1533-1786), thịnh hành vào thời Nguyễn (1802 - 1945). Vốn thư tịch bằng chữ Nôm qua nhiều cơn binh hỏa mai một khá nhiều, số còn lại ngoài một số cơ quan chức năng như Viện Nghiên cứu Hán Nôm, các sở văn hóa và một số nhà nghiên cứu sưu tầm được, vẫn còn tiềm tàng trong nhân dân một khối lượng không nhỏ. Phần khai thác được chủ yếu là dịch thuật, giới thiệu, sơ bộ đánh giá; các lĩnh vực khác như ngôn ngữ, lịch sử, địa lý, tôn giáo, dân tộc học… có thể nói là còn “hoang hóa”, chưa khai thác được bao nhiêu.

Lâu nay việc khai thác văn tự Tày lắng xuống bởi số người biết chữ Nôm Tày “như lá mùa thu, như sao buổi sớm”, hơn thế nữa chỉ đọc được chữ cũng chưa đủ, đòi hỏi có trình độ học vấn cao mới có thể phân tích, đánh giá nhiều phạm trù chuyên ngành khác trên nền văn tự này.

Tiếng Tày thuộc ngữ bộ Hán Tạng, loại hình đơn âm tiết. Qua hai nghìn năm Bắc thuộc, chịu ảnh hưởng ngôn ngữ phương Bắc rất lớn. Chúng tôi có tham dự báo cáo khoa học, viết bài đăng(1) nhưng mới chỉ là “muối bỏ bể”.

Bài viết này giới thiệu đôi nét về ảnh hưởng của tiếng Hán đối với tiếng Tày chưa được nghiên cứu. (Ở đây tạm thời chúng tôi không đề cập về đặc điểm Nôm Tày, chữ Nôm tự tạo, chữ Nôm Tày mượn âm Hán Việt).

Qua việc khảo sát một số văn bản Nôm Tày và thực tế tiếng Tày hiện đại, xin được lưu ý một số điểm:

+ Chúng tôi chỉ xem xét âm Tày vùng Bắc Cạn thuộc tỉnh Bắc Cạn(2).

+ Trong tiếng Tày có âm lửng, tức là nửa dấu huyền, nửa dấu hỏi, chúng tôi tạm mượn ký hiệu thanh nhẹ (khinh thanh) của Trung Quốc để biểu thị: “o”

+ Âm “ph” của tiếng Tày là âm hai môi (môi - môi), không đọc như âm “ph” (môi - răng) của tiếng Việt.

Loại chữ Nôm mượn gốc Hán, đọc giống hoặc gần giống tiếng, sử dụng chữ Hán, nghĩa Hán

a. Loại đọc giống, hoặc gần âm Hán, giữ nguyên nghĩa Hán:


TT

Chữ Hán

Âm La tinh

Âm Hán Việt

Nghĩa Hán

Chữ Nôm Tày

Âm Tày

Nghĩa Tày

1

nuō

nua

cơm nếp

nua

cơm nếp

2

guā

qua

dưa, bí

qua

dưa

3

bāng

bang

giúp

pang

giúp

4

bāo

bao

gói, bọc

pao

bao

5

gāo

cao

cao

cao

cao

6

bìng

bệnh

bệnh

ping

bệnh

7

kuài

khoái

nhanh

khoái

nhanh

8

尿

niào

niệu

Nước tiểu

尿

neo

nước tiểu

9

tāng

thang

canh

thang

canh

10

giàn

chiên

rán

chen

rán

11

dīng

đinh

đinh

teng

đính

12

dào

đạo

đạo

tao

đạo

13

bàn

bán

nửa

pán

nửa

14

zhuàn

khiểm

lãi

chuan

lãi

15

qián

tiền

Tiền

chèn, xèn

tiền

16

bĭng

bính

bánh

Pẻng

bánh

17

bào

báo

báo

páo

báo

18

zăo

tảo

sớm

chạu

sớm

19

đổ

đánh bạc

tỏ

đánh bạc

20

dòu

đấu

tuýp (thuốc)

tẩu

tuýp (thuốc)

21

bổ

vá, bổ (sung)

pố

bổ sung, thêm

22

bất

không

bố, bậu

không

23

朋友

péngyǒu

bằng hữu

bạn bè

朋友

pằng dạu

bè bạn

24

rĕn

nhẫn

nhịn, chịu đựng

chẳn

nhịn, chịu đựng

25

féng

phùng

gặp

phống

gặp

26

pàng

bàng

phệ

pảng

béo, phệ

27

địa

nơi, chỗ

ti0

nơi chỗ

28

jiăng

giảng

giảng, nói

chảng cảng

nói

29

qĭng

thỉnh

mời

Sỉnh

mời

30

dĭng(dĕng)

đẳng

chờ đợi

tắng

chờ đợi

31

kāi

khai

mở

khay

mở

32

tán

đàn

nơi thờ cúng

tan, thản

bàn thờ

33

dùn

đốn

bữa

tón

bữa

34

jiá

jiả

giả

chả

giả

35

qiān

thiên

nghìn

xiên

nghìn

36

zhēn

chân

thật

chăn

thật

37

gāo

cao

bánh khảo

cao

cao

38

mạt

cuối

muôt

cuối

39

li

xa cách

lìa

xa cách

40

dān

đơn

đơn

tán

một mình, riêng

41

zhĭ

chỉ

giấy

chỉa

giấy

42

bàn

bán

nửa

nán

nửa

43

guăng

quảng

rộng

quảng

rộng

44

sàn

tán

tan

slán

tán

45

shén

thần

thần

slấn

thần

46

sòng

tống

đưa

slống

đưa


b. Loại mượn chữ Hán, đọc giống hoặc gần giống âm Hán Việt, nghĩa thay đổi theo tiếng Tày.


TT

Chữ Hán

Âm La tinh

Âm Hán Việt

Nghĩa Hán

Chữ Nôm Tày

Âm Tày

Nghĩa Tày

1

hòa

và, với

khứa

quả ương (gần chín)

2

guài

quái

quái

quai

khôn

3

kāi

khai

mở

khai

bán

4

bả

bó, nắm

bụi, khóm

5

xiáng

hàng

hàng

sảng

gần

6

dāng

đương

đương

tang

trừ (bữa)

7

dàng

đáng

đang

táng

tự (làm)

8

duò

đa

nhiều

tua

con (lượng từ)

9

dàn

đảm

đảm

tạn

hết cách

10

shòu

thụ

chịu

sáu

với

11

guī

qui

về

quây

xa

12

biāo

tiêu

tiêu

pjao

nứa

13

調

diào

điệu

điều

調

teo

lại

14

bān

ban

ban

pan

phiên

15

bān

ban

ban

pan

phiên

16

bủ

đem

kèm

17

gài

cái

lợp, che đậy

cái

cây (số)

18

găo

cảo

làm

cảo

ép (mía)

19

gai

cải

sửa

cải

lớn

20

luó

la

la

lủa

cái mai (để sắn)

21

láo

lao

lao

lao

Sợ

22

zhùn

chuẩn

chuẩn

chổn

chốn, nơi

23

pha

phên

24

lái

lai

đến

lai

nhiều

25

gòng

cộng

cộng

cung

cũng


Đối chiếu các cột với nhau ở hai bảng A và B ta sẽ thấy rõ tiếng Hán ảnh hưởng tiếng Tày về mặt chữ viết (chữ Nôm), âm đọc và nghĩa. Tuy nhiên chữ Nôm Tày còn mượn âm Hán - Việt để thể hiện nghĩa Tày và nhiều chữ tự tạo (Nôm thuần túy).

Do khuôn khổ của bài viết, chúng tôi mới chỉ đưa ra con số thống kê một số chữ Hán và chữ Nôm Tày nhất định để làm tư liệu tham khảo.

Chữ Hán khi được dùng làm chữ Nôm Tày có thể có cách đọc:

+ Đọc giống y tiếng Hán

+ Đọc chệch thanh điệu

+ Thay đổi phần phụ âm đầu hoặc phần vần.

Sự vay mượn ngôn ngữ giữa nước này nước nọ, dân tộc này, dân tộc khác là chuyện bình thường. Dân tộc nào càng phát triển thì ngôn ngữ càng phong phú. Dân tộc Tày có lịch sử văn hóa lâu đời, là dân tộc có chữ viết riêng (chữ Nôm) sớm thứ hai sau dân tộc Kinh, thể hiện một chữ Nôm có thể viết mấy dạng chữ. Ngược lại chữ có thể có một số từ đồng nghĩa, chẳng hạn:

+ Từ “không” tiếng Tày có các chữ: bố, bấu, mí, nắm, bậu, ná, páy, sằng, bắn.

+ Từ “anh” tiếng Tày có: cá, có, chài, pì, lùng.

+ Từ “với” tiếng Tày có: sáu, vạ, tó, tằng.

+ Từ “trong” tiếng Tày có: chang, đâư, đâng.

+ Từ “nào” tiếng Tày có: hâu, tầư, lầư.

+ Từ “xem, trông, coi” tiếng Tày có: chồm, ngòi, dòm, chiêm.

Ngoài ra ở đây chúng tôi chưa bàn đến tính đa dạng về âm thanh từng vùng
của người Tày ở các tỉnh hoặc từng địa phương trong tỉnh, xin được trở vấn đề này trong một dịp khác.

Đại hội Đảng lần thứ 5 khóa VIII đã nhấn mạnh việc khai thác, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc. Riêng việc khai thác bản sắc tinh hoa di sản bằng văn tự Nôm Tày trên nhiều lĩnh vực ở các tỉnh chưa được quan tâm đúng mức, nên chăng, các tỉnh Đông bắc cần tổ chức một cuộc hội thảo về vấn đề này. Trước mắt Sở Văn hóa - Thông tin, các chi hội VHNT nên tìm những thành viên biết chữ Nôm tập hợp thành tổ, nhóm, dự trù kinh phí, lập kế hoạch cụ thể, sau đó mới có thể tiến hành hội thảo.

Chú thích:

(1) a. Hoàng Hựu: Hiện trạng sách Nôm Tày in trong cuốn kỷ yếu Thư tịch cổ và nhiệm vụ mới, Nxb. KHXH, H. 1979, tr.79-83.

b. Hoàng Hựu: Cấu tạo chữ Nôm Tày in trong Những vấn đề ngữ văn trong nhà trường do Sở Văn hóa - TT Bắc Thái, 1983, tr.81-91.

(2) Viện Ngôn ngữ học đã thống nhất qui định âm chuẩn của tiếng Tày là các vùng: Bắc Bạch Thông, Ngân Sơn (Bắc Cạn), Hòa An (Cao Bằng) và Tràng Định (Lạng Sơn)./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (83) 2007; Tr. 55 - 58)

Hoàng Hựu
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm