VI | EN
Tư liệu mới về Đào Sư Tích (Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (104) 2011, Tr.69-72)
Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (104) 2011, Tr.69-72)

TƯ LIỆU MỚI VỀ ĐÀO SƯ TÍCH

DUY PHI

Nhà nghiên cứu Hán Nôm, Tp. Bắc Giang

Đào Sư Tích sinh năm 1347 tại Song Khê, Yên Dũng, Bắc Giang. Cha ông là Đào Toàn Bân, đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Nhâm Thìn (1352), được bổ làm quan tại Thiên Trường, ông xây tư dinh tại Cổ Lễ, cách Thiên Trường hơn mười cây số (nay thuộc huyện Trực Ninh, Nam Định). Bốn tuổi, Đào Sư Tích được cha đón về Cổ Lễ để rèn rũa. Khoa Giáp Dần, niên hiệu Long Khánh (1374), Đào Sư Tích thi đỗ Trạng nguyên, làm quan đến Thượng thư Bộ Lễ. Năm Nhâm Thân (1392), Đoàn Xuân Lôi dâng vua tờ biểu, phê phán sách Minh Đạo của Hồ Quý Ly, nên bị Hồ Quý Ly, giáng chức. Vì Đào Sư Tích xem tờ biểu này nên cũng bị giáng chức làm Trung thư Thị lang.

Chán cảnh rối ren, lúc đó tuổi bốn lăm, ông xin về quê. Trong thời gian ấy, ông lên cư ngụ tại quê vợ - thôn Lý Hải (tên xưa của thôn là Kẻ Muối, nay thuộc xã Phú Xuân, Yên Lạc, Vĩnh Phúc). Thấy ông không ở Song Khê, không ở Cổ Lễ, Hồ Quý Ly cho người đi tìm, triệu ông về kinh, rồi cử ông đi sứ phương Bắc. Ông bị mất trong thời gian ấy, thọ 49 tuổi. Hiện nay, Song Khê còn mộ Đào Toàn Bân, Cổ Lễ có mộ Đào Sư Tích. Cả ba nơi (Song Khê, Cổ Lễ, Lý Hải) đều có đền thờ Đào Sư Tích.

Về thơ văn Đào Sư Tích, lâu nay người ta chỉ biết ông có hai tác phẩm: Văn sách thi đình Cảnh Tinh phú. Trong đó, Cảnh Tinh phú là một thi phẩm đã được giới thiệu trên nhiều tập sách.

Với nhãn quan minh triết, Đào Sư Tích đã khẳng định, không do điềm sao Cảnh Tinh, mà do đức tốt của vua, nước non được thịnh trị.

Khi biên soạn cuốn sách Danh nhân văn học Kinh Bắc và cuốn Bắc Giang danh nhân cảo luận, chúng tôi mong muốn mỗi danh nhân khoa bảng có năm, bảy bài thơ, nhưng tiếc thay, cũng như một số danh nhân khác, thơ Đào Sư Tích bị thất lạc nhiều. Gần đây, nhờ công tác sưu tầm của các ông Đào Dương Tất (Cổ Lễ), Đào Văn Bội, Đào Văn Pháp (Song Khê), chúng tôi mới có thêm tư liệu. Thơ chữ Hán của Trạng nguyên Đào Sư Tích hiện còn khá phong phú. Trong số đó có chùm thơ năm bài sau đây:

NHĨ HÀ

Thế sự như giang nhật giáng thăng

Tòng phong thiên đả phá đê tằng

Nhãn trung hậu lãng truy tiền lãng

Thủy thượng cao lăng duệ hạ lăng

Lai vãng dục an nan hữu vọng

Nhân thuyền giai úy tự cư băng

Duy tầm thiển xứ y lư bạn

Thiểu đắc thư hoài đãi tuế chung.

Dịch thơ:

Sông Nhĩ Hà

Thế sự như sông nước xuống, dâng

Đê cao gió thúc muốn xô vầng

Sóng trước sóng sau dồn tới tấp

Làn cao làn thấp cuốn phăng phăng

Lại qua nơm nớp dường bay vía

Lữ khách kinh hoàng tựa đạp băng

Tìm chốn bờ nông nương túp cỏ

Đôi niềm uẩn khúc, đợi qua năm...

田井 末加 末憂

QUY ĐIỀN

Lam sơn chí thử duyên sinh kế

Canh giá vô ưu bão noãn thân

Ngư võng tùy triều thu tiểu lợi

Tàm tang cần tác hữu lương ân

Hạnh phùng quan lộ nhưng đa họa

Bất thức nhân hoà đại thất chân

Điều lý tảo hồi quan cúc kính

Thiện hành di phúc hậu lai nhân.

Dịch thơ:

Về với ruộng

Núi lam này đến duyên sinh kế

Cày cấy lo gì thiếu thốn đâu

Lợi nhỏ tùy theo triều lưới vó

Ân nhiều bởi gắng lứa tằm dâu

Chen vào quan lộc lo canh cánh

Chẳng thấu lẽ người mất lớn lao

Sớm tỉnh về quê chăm luống cúc

“Thiện”đường để phúc mãi muôn sau.

BÁI TRÌNH NƯƠNG MIẾU

Nan tầm nam dũng tại gia trung

Nhất quốc giai như thán bích khung

Phu tử dĩ xuy anh khí diệm

Quan tham hựu phấn phụ tâm hưng

Trưng vương nam bắc nhân sùng trọng

Trình tướng chinh chu tặc tán vong

Thế vận bất phù mưu bất toại

Tiền thời tâm sự hậu đương cung.

Dịch thơ:

Vái ở miếu Bà Trình

Khó tìm nam dũng tại gia cư

Oán giận trời xanh cũng phải mờ

Chí lớn khơi nguồn, chồng dậy lửa

Quan tham gây hận, nữ giương cờ

Trưng vương nam bắc dân sùng kính

Trình tướng kiên hùng giặc bại to

Thời vận chưa thành, mưu chẳng đạt

Tấm gương ngày ấy mãi sau thờ.

陳名

TƯỚNG LÊ PHỤ TRẦN

Lê công đắc tứ Phụ Trần danh

Lịch kỷ xuân thu lễ bất canh

Cố quốc hương dân thùy hữu vĩnh

Thăng đường vọng bái tự năng minh.

Dịch thơ:

Tướng Lê Phụ Trần

Phụ Trần, Lê tướng được ân vinh

Hương nến xuân thu vẫn tấc thành

Đâu tá, dân làng non nước cũ?

Lên đến, bái vọng một tài danh.

ỨC CHIÊU HOÀNG

Hành khiển Đào Sư Tích

Ức tích Chiêu Hoàng chí thử phương

Canh điền tạc tỉnh đới sầu trường

Mao gia hậu nhật thành linh miếu

Di tượng thanh cao tự sự chương.

Dịch thơ:

Nhớ Chiêu Hoàng

Hành khiển Đào Sư Tích

Nhớ thuở Chiêu Hoàng ở tại đây

Cày nương đào giếng não lòng thay

Nhà tranh nay đã thành linh miếu

Tượng đó, thanh cao sáng đất này.

Về các bản dịch thơ, tôi xin tạm dịch, mong được trao đổi. Để giúp một số bạn đọc hiểu thêm, có đôi điều chú dẫn:

- Nhĩ Hà, Đào Sư Tích viết khi thấy tình hình “thâm cung” phức tạp, ông muốn về (Nhĩ Hà: dòng sông như cái khuyên đeo tai quanh cung điện, không phải là Nhị Hà).

- Quy điền, viết khi đã về “lam sơn” Lý Hải, Vĩnh Phúc.

- Bái Trình nương miếu, ca ngợi Trình tướng, một nữ kiệt thời khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

- Hai bài thơ Tướng Lê Phụ Trần Ức Chiêu Hoàng (tên bài do chúng tôi đặt), còn trong Đền Nhì, xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc, Nam Định. Về hai bài thơ này, chúng tôi xin bàn đôi điều:

Vua Huệ Tông và hoàng hậu Trần Thị Dung chỉ sinh hai công chúa: Thuận Thiên - sinh năm 1216 và Chiêu Thánh - sinh năm 1218. Vua Huệ Tông xuất gia, năm Giáp Thìn 1224, Chiêu Thánh lúc đó tám tuổi được truyền ngôi, lấy tôn hiệu là Chiêu Hoàng. Do sự “đạo diễn” của Trần Thủ Độ (và Trần Thị Dung), Chiêu Hoàng kết hôn cùng Trần Cảnh. Còn anh ruột của Trần Cảnh là Trần Liễu thì lấy công chúa Thuận Thiên. Cả lấy cả, thứ lấy thứ. Hợp đạo lý. Làm vua được trên một năm, Chiêu Hoàng đã trút bỏ hoàng bào, nhường ngôi cho chồng - Trần Cảnh.

Có chồng mười hai năm, Chiêu Hoàng vẫn không có con. Lại với sự “đạo diễn”, vua Trần Cảnh lập Thuận Thiên (vợ của anh, đã có thai ba tháng) làm hoàng hậu. Chiêu Hoàng bị giáng làm công chúa. Thấy sự lỗi đạo, vua đã trốn lên Yên Tử. Trần Thủ Độ lên tìm, thúc bức, vua lại phải về triều.

Năm Đinh Tỵ (1257), giặc Nguyên xâm lấn đã tràn đến Bình Lệ Nguyên (vùng Tam Đảo). Vua thân chinh đi đánh giặc, thấy tướng Lê Tần nhiều mưu lược, tả xung hữu đột, lại có công lấy tấm gỗ ván thuyền che cho vua, tránh được muôn vàn mũi tên giặc. Về triều, lúc đó tuổi chừng bốn mươi, Lê Tần được vua ban thưởng ba thứ: được ban cho tên là Phụ Trần, tức Lê Phụ Trần; được phong tước là Ngự sử đại phu; được vua ban cho người vợ cũ của mình- công chúa Chiêu Thánh.

Lấy Phụ Trần, công chúa Chiêu Thánh về làng quê Mỹ Trung, Mỹ Lộc, tự cày ruộng trồng lúa mà ăn, tự đào giếng lấy nước uống.

Hai bài thơ trên đều thuộc loại tứ tuyệt, kiệm lời mà hàm súc, thể hiện lòng nhân ái, Đào Sư Tích đã ca ngợi đức độ tài năng của Lê Phụ Trần và tỏ niềm thông cảm sâu sắc với cuộc đời truân chuyên của Chiêu Thánh, một nữ hoàng đặc biệt, đáng kính của đất nước./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (104) 2011, Tr.69-72)

Duy Phi
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm