Văn bia Báo Ân phường bi ký ở sinh từ Quận công Phạm Huy Đĩnh do Bảng nhãn Lê Quý Đôn soạn (Tạp chí Hán Nôm, Số 5(96) 2009; Tr.76-83)
VĂN BIA BÁO ÂN PHƯỜNG BI KÝ
Ở SINH TỪ QUẬN CÔNG PHẠM HUY ĐĨNH
DO BẢNG NHÃN LÊ QUÝ ĐÔN SOẠN
PHẠM MINH ĐỨC
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Đền thờ Quận công Phạm Huy Đĩnh ở thôn Cao Mỗ, xã Chương Dương, huyện Đông Hưng trước đây được xây dựng với quy mô to, đẹp: “chỗ đó nổi lên một mô đất, phía trước có ao hình bán nguyệt, có gò, cây cỏ tươi tốt, có nhiều ánh sáng lấp lánh ẩn hiện. Tiến đến khu đất ấy quy hoạch xây dựng đền thờ, xây ba gian thất, hai gian đường, bên ngoài là nghi môn, bên trong có tường bao quanh”, đến nay chỉ còn hai gian mới xây dựng, nhỏ bé rộng chừng 30m2, mái lợp bằng ngói, bên trong có bài vị thờ bằng đá, xung quanh là mảnh đất rộng chừng 400m2 có cây cối và có hai hàng voi đá, ngựa đá ở trước cửa đền, phía trước còn có ao hình bán nguyệt. Ở đây còn lưu giữ hai văn bia do Bảng nhãn Lê Quý Đôn và Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm soạn năm Cảnh Hưng thứ 33 (1772). Văn bia do Lê Quý Đôn soạn nằm ở bên phải của đền thờ, tấm bia do Nguyễn Nghiễm soạn nằm ở phía bên trái của đền. Đây là hai văn bia có giá trị cả về nội dung và hình thức. Cho nên trong Tạp chí Hán Nôm số hai năm 2008, chúng tôi đã giới thiệu v¨n bia do Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm soạn. Trong bài viết này chúng tôi xin giới thiệu v¨n bia do Bảng nhãn Lê Quý Đôn soạn.
Đây là hai học giả nổi tiếng và thường giao du với nhau nờn đó cựng về đõy soạn vãn bia ở di tớch này.
Bia đá hình trụ tròn cỡ lớn cao 2m, trên có chóp hình tròn, bên dưới có đế rộng được chôn xuống đất, thân bia cao 1,40 m, đường kính 1,5m. Xung quanh bia dầy đặc chữ, toàn bộ vãn bia có 1860 chữ gồm 61 dòng chữ lớn, mỗi dòng trung bình 30 chữ, dòng nhiều nhất 38 chữ, chữ trong văn bia được khắc đẹp, bay bướm mang đậm nột thời Lê Trung hưng. Dưới đây là toàn văn văn bia.
Phiên âm:
BÁO ÂN PHƯỜNG BI KÍ
Cao thử hàng xuân ca công chi niệm trọng; bạt đường thựy ấm bỏo thớ chi nghĩa tồn. Khai thương chẩn hương lý Lưu thứ sử dó, dõn hụ tục mệnh chi điền.
Thụi tài dĩ bộ khỳc Phan tướng quân dó, dõn tụng Nam Sơn chi thọ. Yờn Đài kỷ ỏi, xó chỳc Loan Cụng. Tề quận minh nhõn, từ sựng Thạch tướng. Lưu hinh thụ đức, tự tớch nhi nhiờn vĩnh chi. Đương kim tắc Thỏi tể Thiều Quận cụng Phạm cụng kỳ nhõn dó. Cụng hành năng thuần bị, khớ thức hàm, hoằng, thanh, hũa, biểu kỳ phong tiờu, học vấn ớch kỳ thần trớ. Lan hoài hương nhi tự viễn, ngọc tại bội nhi hữu thanh. Tảo hỏ long quang nhĩ bồi hạc cấm. Trung thành chớnh trực, thực giản miện lưu. Đói hồ tiờu hỏn long phi võn quỳ hồng tiệm, điển chương am luyện, tư thứ sự chi xứng hành. Mệnh lệnh phu dương tủng đại đỡnh chi phong thỏi. Khư phiền thích đố nhật nguyệt hồi quang; cầm nghịch tồi gian giang sơn khởi sắc. Cố dĩ đan thư khiết khoỏn, kỉ vĩ tớch ư tụng phương; bảo đỉnh cảnh chung lặc hồng du ư lang miếu giả hĩ. Tố cụng chi tài chi đức tỳc dĩ biện sự nhi phục nhõn; thụi chớ thụi cần tỳc dĩ sựng cụng chi quảng nghiệp. Thõn đụ phỳ quý nhậm kiờm nội ngoại thanh hoa chớnh mậu. Quyến sủng phương long nhi nói luật kỉ khiờm vĩ đề cung kiệm ước. Vị Xuyờn thiờn mẫu chi trỳc mỗi cụ doanh trỡ; dương nhị khoảnh chi điền hằng tư chỉ tỳc. Bất cầu đa tạng, bất thự tư tài. Phiếm ỏi nhi thõn nhõn, ụn cung nhi hiếu thiện. Ư tộc đảng vụ sở khan, ư hương lư vụ sở khiếp. Hưng tiện trừ hại ký di bỏch lý chi an; chẩn phạp chu cựng cỏnh thăng vạn gia chi nhuận. Dịch viết: “Thớ lộc cập hạ”, Truyện viết: “Phõn nhõn dĩ tài”. Cụng kỳ dĩ chi bản phường nhõn đẳng cửu mộc dư ba tỳc y cự tớ. Hưởng Mó Cụng chi vạn hộc cảm bội đầu đào; hưởng Nguỵ tướng chi thiờn chung tỡnh du ỏi thụ. Bạch thiều cộng hội đại tiểu tương mưu sỏng thử sinh từ thõn kỳ tư bỏo. Ngoó thạch như vụ, đống vũ duật tõn cụng thổ chi tắc thế bất năng nhậm chi tắc ý bất khiếp. Phục dư phỡ điền thập thất mẫu sử thu tuế [...] khất tự ư dư, dư dữ.
Đồng quận tương tri tối thõm liờu mệnh quản thành, thư kỡ ngạnh khái thứ sử minh kha, lý nội trường chiêm sùng đức chi nghĩa [....]hiếu nhân chi nghị. Cụng Thần Khờ Cao Mỗ nhõn Đương kim Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quõn, Suy trung Tuyờn lực Trỏng liệt cụng thần, Phụng sai Dao lĩnh Thỏi Nguyờn xứ Trấn thủ kiờm Đề lĩnh tứ thành quõn vụ sự Trung thắng Tiền dực đẳng doanh cơ trưởng Doanh quan, Thiờm quản Thị hầu thị trự Nội thủy Trung hầu Tử trạch Ưu tiền đẳng đội thuyền, Nội sai ngũ phủ phủ liờu Tri thị nội thư tả Hộ phiờn tư lễ giỏm Trung quõn Đụ đốc phủ Tả đụ đốc, Thỏi tể Thiều Quận cụng Phạm Huy Đĩnh.
Nhất phường nhõn chỳc khỏnh điều ước.
Nhất phú Bỏo Ân phường giỏm thủ từ vũ nhị liờn cập lưỡng nghi mụn dữ tường nội chu viờn ngoại chớ đỡnh tiền cộng nhất mẫu bỏt cao lục xớch tịnh bỏn nguyệt trỡ tam cao nhất xớch nhị thốn, vạn niờn chi hậu tuế thời phụng tự như nghi.
Nhất hứa Bỏo Ân phường cổ tiền ngũ bỏch quan điền thập thất mẫu (nhất sở thất cao ngũ xớch tại Đồng Giản xứ; nhất sở nhất mẫu tại Dưới Đồng xứ; nhất sở lục cao tại Dưới Đồng xứ; nhất sở lục cao tại Đồng Môn xứ; nhất sở nhất mẫu tứ cao tại Đồng Giản xứ; nhất sở lục cao tại Đồng Điều xứ; nhất sở lục cao tại Khu Mộng xứ; nhất sở nhất mẫu tại Đồng Giai xứ; nhất sở tam cao tại Mả Thầm xứ; nhất sở bát cao tại Đồng Giai xứ; nhất sở tam cao thập xích tại Đồng Ngải xứ; nhất sở nhất mẫu nhị cao tại Khu Mộng xứ; nhất sở lục cao thất xích tại Đồng Lâu xứ; nhất sở nhất mẫu nhị cao tại Đồng Giai xứ; nhất sở tứ cao tại Đồng Giai xứ; nhất sở thất cao tại Đồng Giai xứ; nhất sở nhị cao tại [...] xứ; nhất sở bát cao thập nhị xích tại Thành Hoàng xứ; nhất sở ngũ cao thập nhất xích tại Đồng Hồ xứ; nhất sở nhị cao thất xích tại Miếu Bà xứ; nhất sở thất cao tại Khu Mộng xứ; nhất sở nhất cao tại Đồng Lẫm xứ; nhất sở bát cao tại Khu Cốt xứ; nhất sở ngũ cao tại Đồng Giai xứ).
Lượng tính đồng niên thuế mỗi mẫu cổ tiền tam quan, cộng cổ tiền ngũ thập nhất quan dụng hành các lễ.
Đệ niên sinh thời, kị thời nhị lễ, mỗi lễ cụ nhất bàn nhị thập bát, chuẩn cổ tiền lục quan, trư nhất khẩu, xuy nhất bàn, tửu nhất vu tịnh phù lưu kim ngân chuẩn cổ tiền tứ quan ngũ mạch chí nhật đệ tựu từ vũ kính tế, tế tất kì cụ dữ trư thủ hứa bản phường quan viên ứng tế tồn lễ vật hứa bản phường quân phân ẩm thực.
Nhất đệ niên ngũ nguyệt thập nhị nhật thủ thuế tiền cổ tiền tứ quan ngũ mạch, chỉnh trư nhất khẩu, xuy nhất bàn, tửu nhất vu tịnh phù lưu kim ngân đệ tại từ vũ kính tế, tế tất tác cụ ẩm thực ca xướng nhất dạ, hựu thủ cổ tiền tứ quan ngũ mạch hứa giáo phường tư. Đệ niên thập nhị cá nguyệt, chính nguyệt sơ thất, nhị nguyệt sơ nhị, tam nguyệt sơ tam, tứ nguyệt sơ tứ, ngũ nguyệt sơ ngũ, lục nguyệt sơ lục, thất nguyệt thập ngũ, bát nguyệt thập ngũ, cửu nguyệt sơ cửu, thập nguyệt sơ thập, thập nhất nguyệt thập nhất, thập nhị nguyệt tam thập đẳng nhật, mỗi nhật chỉnh lễ kê nhất chích chuẩn cổ tiền nhị mạch tam thập văn, xuy nhất bàn chuẩn cổ tiền nhị mạch, tửu tịnh kim ngân dữ phù lưu chuẩn cổ tiền tam thập văn các y nhật bị lễ đệ tại từ vũ kính tế, tế tất kì lễ vật hứa đương cai nhất nhân phường trưởng, huyện nhân quân phân ẩm thực.
Nhất thuế điền tại đệ niên tồn dư cổ tiền thập ngũ quan trữ tại đương cai như kiến từ vũ, tế khí đẳng vật kiện hủy liệt thông bản phường hội nghị tu lý vụ tại kiên chí.
Nhất phó thủ từ nhân điền nhị mẫu (nhất sở thất cao tam xích tại Ông Không xứ, nhất sở ngũ cao tại Đồng Ngải xứ, nhất sở bát cao tứ xích tại Ông Không xứ). Lượng tính đồng niên thuế mỗi mẫu cổ tiền tam quan cộng cổ tiền lục quan, đệ niên mỗi nguyệt sóc vọng đẳng nhật chỉnh mỗi nhật oản thập phẩm, quả, tịnh hương đăng phù lưu chuẩn cổ tiền nhị mạch tam thập văn cung tất hứa thủ từ nhân ẩm thực.
Nhất hứa thủ từ nhân điền nhị mẫu (nhất sở ngũ cao thập xích tại Ông Sầm xứ, nhất sở nhất mẫu nhất cao tam xích tại Ông Đinh xứ, nhất sở tam cao nhị xích tại Đồng Giai xứ) dĩ vi hương đăng cập sinh thời kị thời đẳng, nhật chỉnh ẩm trà, phù lưu, tửu tịnh khẩu lương, sái tảo từ vũ khiết tịnh nhược giải, đãi bất động hứa bản phường biệt trạch tha nhân thế thủ.
Nhất bản phường dữ thủ từ như hữu lễ vật kính tế kì bản tộc bất đắc yêu sách kính biểu.
Nhất bản phường phân hứa thượng hạng điền sổ ứng các thế thủ dĩ cung tế tự hoặc hậu nhật bản phường mỗ viên danh nhân vọng tự xướng suất chuyên mại thử điền nguyện.
Thiên địa quỷ thần chu chi cức chi tử tôn tuẫn diệt cập mỗ danh nhân thính mãi thử điền giả kì họa diệc mại điền nhân đồng tội.
Nhất thượng hạng điền sổ phân hứa bản phường dĩ cung tuế thời tế tự kì tử tôn miêu duệ hữu ỷ thế lăng thiện tự chuyên mại thử điền nguyện.
Thiên địa quỷ thần chu chi cức chi kì bản phường bất đắc khinh hứa chuyên mại thử điền hữu vi thử ngôn giả nguyền.
Thiên địa quỷ thần chứng tri thân gia vẫn diệt.
Chư tử tôn miêu duệ dự đắc phân hứa điền trì thổ trạch đẳng, hạng kì xứ sở mẫu cao xích thốn, hiện hữu trứ lập chúc thư, danh chiếu bản phận khác cần sinh nghiệp gian, hoặc bất năng bảo thủ thính ư bản chi tộc trung, y giá mãi mại bất đắc cố mại dữ ngoại nhân. Nhược mỗ danh cảm vi nghiêm hối điên đảo cố mại dữ biệt chi ngoại nhân chí hữu điếm lụy gia thanh giả, định tọa bất hiếu chi tội. Đoạt kì bản phận bản tộc nhận thủ quân phân, tức mãi chủ giả thất kì nguyên tiền. Vạn nhất sự đáo công môn, diệc đương chiếu cứ bi trung điều ước dĩ bằng phân đoạn. Đệ niên sinh kị thời tế văn thông dụng.
Duy
Hoàng hiệu mỗ niên nguyệt nhật, mỗ xã thôn mỗ đẳng cẩn dĩ mỗ vật cảm chiêu cáo vu.
Vị tiền
Sinh tiền danh tá, một hậu phúc thần, thể đồng dữ quốc trạch cập ư nhân thích phùng. Kim nhật chính trị sinh kị thời trưng thầm liêu ngụ, lễ cụ trần thốn thành nhiên cách ngũ phúc biền trăn, thượng hưởng.
Công dĩ Bính Ngọ niên ngũ nguyệt thập nhị nhật tuất thời sinh, Ất Mùi niên nhuận thập nhất nguyệt thập bát nhật thìn thời chung. Sĩ chí Thự phủ sự Đại Tư đồ phong tặng [...] công tứ thụy [...] bao phong.
Chính trực Huân du Đại vương
Hoàng triều vạn vạn niên chi tam thập tam, tuế tại Nhâm Thìn quý thu nguyệt cốc nhật.
Tứ Nhâm Thân khoa Tiến sĩ cập đệ, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Công bộ Tả Thị lang, Ngự sử đài, Hành đô Ngự sử, Hành binh chính thự, Quốc tử giám Tế tửu, Dĩnh Thành bá, Diên Hà Quế Đường Lê Quý Đôn soạn.
Đặc tiến Kim tử Vinh lộc §ại phu, phụng quản Dực tả thuyền Câu khê Thị nội Thư tả Hộ phiên Tả thứ tử Phái Đình bá, Văn Giang Lộng Đình, Đặng Duy Triệu đốc áp.
Thủ hợp Thị nội thư tả, Hộ phiên, Đồng tri phủ Đàn Trung, Thanh Trì, Nhân Mục môn, Nguyễn Hữu Côn thừa tả.
Bạt thạch cục Đông Sơn, An Hoạch, Lê Văn Ái san khắc.
Dịch nghĩa:
BIA GHI VỀ PHƯỜNG BÁO ÂN
Lúa tốt trải dài mùa xuân ca ngợi việc ghi nhớ công ơn sâu nặng; cam đường rủ bóng mát bày tỏ nghĩa báo thí đang còn. Mở kho phát chẩn cho làng xóm là Lưu Thứ sử, mọi người gọi đó là lấy đất để cứu người. Lấy của cải cho người dưới là Phan tướng quân, dân ca tụng thọ như Nam Sơn. Yên Đài ghi chép về sự yêu thương, mọi người trong xã chúc thọ Loan công. Tề quận ghi về điều nhân, từ đường là để tôn sùng Thạch tướng. Lưu hương thơm trồng cây đức, từ xưa mà đúng mãi về sau. Đương kim Thái tể Thiều Quận công Phạm công cũng là người như thế. Ông làm việc có đầy đủ kiến thức: sâu sa, rộng mở, thanh liêm, khoan hòa. Ông tỏ rõ được tấm gương nêu cao, học vấn của ông có ích cho việc mở mang thần trí. Danh tiếng của ông như hương lan thoang thoảng từ xa, ngọc bội ngân nga vang tiếng. Sớm được giao trọng trách, giúp đỡ thế tử. Ông là người chính trực, ăn mặc giản dị. Đã đến lúc rồng bay lên tầng trời cao, chim hồng dần tới đường mây, ông thành thạo các luật lệ, giải quyết các việc đều công bằng, khi ban lệnh ông tỏ rõ được phong thái cao ngất của lệnh ban ra. Khử điều phiền muộn, diệt loài sâu mọt khiến cho mặt trăng mặt trời lại sáng; bắt kẻ phản nghịch, trừ loài gian ác làm cho giang sơn khởi sắc. Cho nên có những lời thề son sắt ghi những công lao to lớn của ông trong miếu thờ; Đỉnh báu chuông lớn khắc những kế sách lớn lao của ông đối với tông miếu xã tắc. Tài của ông, đức của ông đầy đủ để phân định rạch ròi mọi việc khiến người khác phải khâm phục; ý chí của ông, sự siêng năng của ông đủ để tỏ rõ công lao và mở mang cơ nghiệp. Không những bản thân được đầy đủ phú quý mà họ nội, họ ngoại danh tiếng cũng vẻ vang. Đang được sủng ái nhiều mà còn khiêm nhường, đề cao kiệm ước. Nghìn mẫu trúc ở Vị Xuyên luôn sợ nước tràn bờ; ruộng hai khoảnh ở phía bắc luôn nghĩ đến lúc đủ dừng. Không chất chứa nhiều, không tham của riêng, yêu rộng rãi mọi người mà thân với điều nhân; ôn hoà cung kính mà thích điều thiện. Ở trong tộc đảng thì không hẹp hòi, ở trong xóm làng thì luôn nhân ái. Khởi xướng việc trừ hại giúp cho nhân dân hàng trăm dặm được yên ổn, phát chẩn cho người thiếu thốn, chu cấp cho người khốn cùng làm cho muôn nhà được no ấm. Kinh Dịch ghi rằng: “Ban phát lộc cho người dưới”, trong Truyện ghi rằng: “Chia của cải cho mọi người”. Những người trong bản phường từ lâu đã được hưởng ân đức của ông, trông cậy vào sự che chở của ông. Ăn vạn hộc của Mã công thì phải cảm kích bội phần và nghĩ đến việc trả ơn; hưởng ngàn chung đỉnh của Nguỵ tướng thì phải biết bồi đắp vun trồng. Thế là già trẻ lớn bé cùng nhau bàn bạc xây dựng sinh từ để báo đáp công ơn của ông cho phải lẽ. Gạch ngói nhanh chóng được tề tập, chọn đất công làm nơi xây từ đường. Mọi người không ai không dốc lòng dốc sức. Lại chọn 17 mẫu ruộng tốt sai người cầy cấy thu gặt hàng năm, [.....] đến xin chữ ở ta, ta cho.
Đồng quận đều chịu ơn sâu, nhận mệnh cai quản thành khiến cho ngọc sáng ngân vang, trong xóm làng thường chuộng đức nghĩa điều nhân. Ông là người thôn Cao Mỗ, huyện Thần Khê, ông là đương kim Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Suy trung Tuyên lực Tráng liệt công thần, Phụng sai Dao lĩnh Thái Nguyên xứ Trấn thủ kiêm Đề lĩnh tứ thành quân vụ sự, Trung thắng Tiền dực đẳng doanh cơ trưởng Doanh quan, Thiêm quản Thị hầu thị trù, Nội thủy Trung hầu Tử trạch Ưu tiền đẳng đội thuyền, Nội sai ngũ phủ phủ liêu, Tri thị nội Thư tả Hộ phiên, Tư lễ giám, Trung quân Đô đốc phủ Tả đô đốc, Thái tể Thiều Quận công Phạm Huy Đĩnh.
Người trong phường làm điều ước.
Giao cho phường Báo Ân trông giữ từ đường, 2 nghi môn, cùng tường bao quanh đến trước đình, tổng cộng là 1 mẫu 8 sào 6 thước cùng ao hình bán nguyệt 3 sào 1 thước 2 tấc. Vạn đời phụng thờ như nghi thức.
Đồng ý cho phường Báo Ân 500 quan tiền và 17 mẫu ruộng. Một thửa 7 sào 5 thước ở xứ Đồng Giản; 1 thửa 1 mẫu ở xứ Dưới Đồng; 1 thửa 6 sào ở xứ Dưới Đồng; 1 thửa 6 sào ở xứ Đồng Môn; 1 thửa 1 mẫu 4 sào ở xứ Đồng Giản; 1 thửa 6 sào ở xứ Đồng Điều; 1 thửa 6 sào ở xứ Khu Mộng; 1 thửa 1 mẫu ở xứ Đồng Giai; 1 thửa 3 sào ở xứ Mả Thầm; 1 thửa 8 sào ở xứ Đồng Giai; 1 thửa 3 sào 10 tấc ở xứ Đồng Ngải; 1 thửa 1 mẫu 3 sào ở xứ Khu Mộng; 1 thửa 6 sào 7 thước ở xứ Đồng Lâu; 1 thửa 1 mẫu 2 sào ở xứ Đồng Giai; 1 thửa 4 sào ở xứ Đồng Giai; 1 thửa 7 sào ở xứ Đồng Giai; 1 thửa 4 sào 12 thước ở xứ Thành Hoàng; 1 thửa 5 sào 11 thước ở xứ Đồng Hồ; 1 thửa 2 sào 7 thước ở xứ Miếu Bà; 1 thửa 7 sào ở xứ Khu Mộng; 1 thửa 7 sào tại xứ Đồng Lẫm; 1 thửa 8 sào ở xứ Khu Cốt; 1 thửa 5 sào ở xứ Đồng Giai.
Thuế tính trong năm 1 mẫu là 3 quan tiền cùng 51 quan dùng để hành lễ.
Hàng năm đến ngày sinh kỵ làm 2 lễ, mỗi lễ làm 1 cỗ gồm 20 bát, 6 quan tiền, 1 miếng thịt 1 mâm xôi, 1 vò rượu cùng trầu cau tiền giấy 4 quan 5 mạch, đến tập trung ở từ đường làm lễ. Lễ xong cỗ cùng thủ lợn cho các quan viên bản phường ứng tế, còn các lễ vật khác chia đều cho những người trong bản phường ăn uống.
Hàng năm vào ngày 25 tháng 5 thu thuế 4 quan 5 mạch; sửa sang 1 miếng thịt, 1 mâm xôi, 1 vò rượu cùng trầu cau, tiền giấy làm lễ ở từ đường. Lễ xong làm cỗ ăn uống ca hát 1 đêm, lại cho giáo phường 4 quan 5 mạch tiền. Một năm có 12 tháng, ngày mồng 7 tháng giêng, ngày mồng 2 tháng 2, ngày mồng 3 tháng 3, ngày mồng 4 tháng 4, ngày mồng 5 tháng 5, ngày mồng 6 tháng 6, ngày 15 tháng 7, ngày 15 tháng 8, ngày mồng 9 tháng 9, ngày mồng 10 tháng 10, ngày 11 tháng 11, ngày 30 tháng 12, mỗi ngày chỉnh biện lễ: 1 con gà, 2 mạch 30 đồng, 1 mâm xôi; 2 mạch tiền, rượu, tiền giấy cùng trầu cau; 30 đồng tiền làm lễ tại từ đường, lễ xong các lễ vật giao cho trưởng phường, mọi người chia nhau ăn uống.
Tiền thuế ruộng hàng năm còn thừa 15 quan dùng để mua sắm đồ lễ, sửa chữa từ đường.
Giao cho thủ từ 2 mẫu ruộng, 1 thửa 7 sào 3 thước ở xứ Ông Chất; 1 thửa 5 sào ở xứ Đồng Ngải; 1 thửa 8 sào 4 thước ở xứ Ông Sầm. Thuế hàng năm mỗi mẫu ruộng là 3 quan, cùng 6 quan tiền hàng năm vào tháng sóc vọng làm lễ gồm: 10 phẩm oản, hoa quả, hương đèn, trầu cau cùng tiền 2 mạch 30 đồng. Lễ xong giao cho thủ từ ăn uống.
Giao cho thủ từ 2 mẫu ruộng, 1 thửa 5 sào 10 thước ở xứ Ông Sầm; 1 thửa 1 mẫu 1 sào 3 thước ở xứ Ông Đinh; 1 thửa 3 sào 2 thước ở xứ Đồng Giai lấy làm hương hỏa. Vào ngày sinh, ngày giỗ chỉnh biện trà, trầu cau, rượu và đến quét dọn từ đường sạch sẽ. Nếu như trễ nải không chăm chỉ thì bản phường sẽ chọn người khác thay thế.
Bản phường cùng giữ từ đường, nếu như có lễ vật tế lễ thì bản tộc không được yêu sách.
Bản phường đồng ý để những thửa ruộng tốt cho các đời giữ để làm tế tự, về sau ở bản phường có người nào làm trái điều này, chuyên bán ruộng này thì có lời nguyền: Trời đất quỷ thần giết nó, diệt nó, con cháu bị tuyệt diệt. Người nào mua ruộng này thì cùng gặp họa, chịu tội như người bán.
Những thửa ruộng tốt ở bản phường dùng để cúng tế hàng năm, nếu con cháu người nào ỷ thế chiếm đoạt, tự ý bán ruộng này thì có lời nguyền: Trời đất, quỷ thần giết nó, diệt nó. Bản phường không được khinh nhờn lời hứa chuyên bán ruộng này, nếu trái với điều này thì lại có lời nguyền: Trời đất quỷ thần làm chứng cho những người trong gia đình bị diệt vong.
Các con cháu đồng ý cho số ruộng, ao, đất ở các xứ, thửa, mẫu, sào, thước hiện có, lập chúc thư chiếu theo bản phận chuyên cần sinh nghiệp. Nếu không thể giữ được thì y giá bán cho những người ở trong bản tộc, không được cầm cố hoặc bán cho người ngoài. Nếu người nào trái với lời dạy bán số ruộng đất trên cho người ngoài dòng tộc thì bị xem là mang tội bất hiếu. Bản tộc sẽ đoạt lấy số đất đó và chia đều, chủ mua sẽ bị mất tiền. Nếu việc này có mang đến cửa quan cũng sẽ chiếu theo những điều ước trong bia để làm bằng cứ.
Hàng năm vào ngày sinh kỵ sẽ dùng tế văn thông dụng.
Hoàng hiệu, năm, tháng, ngày, xã thôn kính cẩn mang lễ vật đến báo cáo trước bài vị.
Khi sinh thời, ông luôn giúp đỡ mọi người, sau khi mất thì làm phúc thần, đem ân trạch đất nước đến với mọi người. Hôm nay là ngày sinh kị, kính thực vời ngài hãy cùng đến để bày tỏ tấc lòng thành, 5 phúc cùng đến thượng hưởng.
Ông sinh vào giờ Tuất ngày 12 tháng 5 năm Bính Ngọ, mất vào giờ Thìn ngày 18 tháng 11 năm Ất Mùi (1775). Làm quan đến chức Thự phủ Đại Tư đồ, được phong tặng [....], tên húy là [...].
Ông được phong mỹ tự là “Chính trực Huân du Đại vương” (Đại vương chính trực, có công lao và mưu kế).
Ngày tốt, tháng Quý thu, năm Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thø 33 (1772).
Tiến sĩ Cập đệ khoa Nhâm Thân (1752), Kim tử Vinh lộc Đại phu, Tả Thị lang Bộ Công, Ngự sử đài Hành đô Ngự sử, Hành binh Chính thự, Quốc tử giám Tế tửu, tước Dĩnh Thành bá, quê ở Diên Hà, hiệu Quế Đường, Lê Quý Đôn soạn.
Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, phụng quản Dực tả thuyền Câu kê, Thị nội Thư tả Hộ phiên Tả thứ tử, tước Phái Đình bá là Đặng Duy Triệu đốc áp.
Thủ hợp Thư tả Hộ phiên, đồng Tri phủ Đàn Trung, người xã Nhân Mục, huyện Thanh Trì là Nguyễn Hữu Côn viết chữ.
Người ở xã An Hoạch, huyện Đông Sơn làm ở cục Bạt Thạch là Lê Văn Ái khắc bia.
Tài liệu tham khảo
1. Khâm định Việt sử thông giám cýõng mục. Vv.2183, Thý viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (TVHN).
2. Đại Việt sử ký tục biên. Vv.1105, TVHN.
3. Hoàng Lê nhất thống chí, Ngô gia vãn phái. Nxb. Vãn học, 1970.
4. Tứ thý tập chú. Chu Hy. Nxb. Vãn hóa - Thông tin, 1998. Vv.2025, TVHN.
5. Khang Hy từ điển, Ht.79, TVHN.
6. Từ điển Hán Việt hiện đại, Nxb. Thế giới, 1994.
7. Đất và ngýời Thái Bình từ truyền thuyết đến lịch sử. Phạm Minh Đức và Bùi Duy Lan, 2002.
8. Từ điển văn học Việt Nam. Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường, Nxb. Giáo dục, H. 1995./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 5(96) 2009; Tr.76-83)