Về tấm bia Từ vũ bi ký ở sinh từ Quận công Phạm Huy Đĩnh tại làng Cao Mỗ huyện Đông Hưng (Thái Bình) (Tạp chí Hán Nôm, Số 2 (87)2008; Tr.78-82)
VỀ TẤM BIA TỪ VŨ BI KÝ Ở SINH TỪ QUẬN CÔNG PHẠM HUY ĐĨNH TẠI LÀNG CAO MỖ HUYỆN ĐÔNG HƯNG (THÁI BÌNH)(1)
PHẠM MINH ĐỨC
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Quận công Phạm Huy Đĩnh người làng Cao Mỗ, huyện Thần Khê, phủ Tiên Hưng (nay thuộc thôn Cao Mỗ, xã Chương Dương, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình) sinh ngày 12 tháng 5 năm Bính Ngọ (1726) mất ngày 18 tháng 11 năm Ất Mùi (1775), có rất nhiều công lao đối với triều đình, bên trong trừ nội phản, bên ngoài mộ dân cày cấy, khám đạc ruộng đất, vận chuyển lương thực. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục cho biết:
- Chúa sai Phạm Huy Đĩnh thống kê số tiền 6 cung đã chi dùng từ năm Canh Thìn (1760) đến năm Đinh Hợi (1767).
- Quý Tỵ Cảnh Hưng năm 34 (1773) cho Phạm Huy Đĩnh làm Thự phủ sự, Lê Quý Đôn làm Nhập thị Bồi tụng. Cho Phạm Huy Đĩnh làm Trấn thủ Sơn Nam.
- Tháng 3 năm Giáp Ngọ, Cảnh Hưng 35 (1774) sai Trấn thủ Sơn Nam là Thiều Quận công Phạm Huy Đĩnh, Bồi tụng Dĩnh Thành hầu Lê Quý Đôn khám đạc ruộng ven biển xứ Sơn Nam, đắp đê, mộ dân đến cày cấy.
Sai Nguyễn Đình Huấn, Phạm Huy Đĩnh (Huấn người Yên Thường huyện Đông Ngạn. Đĩnh người làng Cao Mỗ, huyện Thần Khê, đều là hoạn quan xuất thân) định lại lệ cấp phát thóc cho các quân trong ngoài.
- Không thấy Việp công giục tải đến chúa không vui lòng, lập tức sai trung quan là Phạm Huy Đĩnh làm Kiêm lý lương hướng, bắt đinh tráng và thuyền biển các huyện ở Nghệ An vận chuyển lương cả đường thủy đường bộ, đem đến nơi đóng quân của quận Việp.
Do có nhiều công lao cho nên Quận công Phạm Huy Đĩnh được làm quan đến chức “Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân, Suy trung tuyên lực Tráng liệt công thần, Phụng sai Dao lĩnh Thái Nguyên xứ Trấn thủ kiêm Đề lĩnh tứ thành quân vụ sự Trung thắng Tiền dực đẳng doanh Cơ trưởng Doanh quan, Thiêm quản Thị hầu thị trù Nội thủy Trung hầu Tả trạch Ưu tiền đẳng đội thuyền, Nội sai ngũ phủ phủ liêu Tri thị nội Thư tả Hộ phiên Tư lễ giám Trung quân Đô đốc phủ Tả đô đốc”. Sau đó, dân làng lập đền thờ ông ngay khi ông còn sống.
- Đền thờ Quận công Phạm Huy Đĩnh ở thôn Cao Mỗ, xã Chương Dương, huyện
Đông Hưng trước đây được xây dựng với quy mô rất to, đẹp: “chỗ đó nổi lên một mô đất, phía trước có ao hình bán nguyệt, có gò đất, cây cỏ tươi tốt, có nhiều ánh sáng lấp lánh ẩn hiện. Tiến đến khu đất ấy quy hoạch xây dựng đền thờ, xây ba gian thất, hai gian đường, bên ngoài là nghi môn, bên trong có tường bao quanh”, đến nay chỉ còn hai gian mới xây dựng, nhỏ bé rộng chừng 30m2, mái lợp bằng ngói, bên trong có bài vị thờ bằng đá, xung quanh là khoảnh đất rộng chừng 400m2có cây cối và hai hàng voi đá, ngựa đá ở trước cửa đền, phía trước có ao hình bán nguyệt. Ở đây còn lưu giữ được tấm bia của Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm soạn năm Cảnh Hưng thứ 33 (1772), nằm ở phía bên trái của đền. Nhận thấy đây là một tấm bia có giá trị cả về nội dung và hình thức cho nên chúng tôi xin giới thiệu tấm bia này. Bia đá hình trụ tròn cỡ lớn cao 2m, bên trên có mũ bia hình trụ, bên dưới có đế bia rộng được chôn xuống đất, thân bia dài 1,40 m, đường kính 1,5m. Xung quanh bia dầy đặc chữ, toàn bộ văn bia có 2115 chữ gồm 64 dòng chữ lớn, mỗi dòng trung bình 33 chữ, dòng nhiều nhất 38 chữ, dòng ít nhất 3 chữ, chữ bia được khắc đẹp, bay bướm mang đậm nét thời Lê Trung hưng. Dưới đây là toàn văn văn bia.
Dịch nghĩa:
BIA GHI VỀ ĐỀN THỜ CỦA CÁC XÃ THUỘC HUYỆN THẦN KHÊ PHỦ TIÊN HƯNG
Bài kí viết rằng: Cái cao quý nhất là đức, thứ đến là việc cho ơn và đền báo. Các quan hiền tài ngày xưa được lập đền thờ là để báo đáp những chính sách tốt của các vị lúc đương triều vậy. Còn như việc tình cảm thấm đượm trong ngoài, ơn sâu khắp cả thôn xóm, không chỉ người nay, đời nay được hưởng ân huệ đó mà đến trăm nghìn đời sau vẫn không hết, vua chúa noi theo hiền đức của các ngài, bắt chước cách đối xử thân thiết của các ngài, người dân thường hưởng cảnh an lạc, hưởng những lợi ích mà các ngài đã để lại, đó cũng là để báo đáp có thể đem ví với những chính sách tốt vậy. Xét thấy có Thái tể Thiều Quận công Phạm Huy Đĩnh vốn là Đương triều Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân, Suy trung Tuyên lực Tráng liệt công thần, Phụng sai Dao lĩnh Thái Nguyên xứ trấn thủ kiêm Đề lĩnh tứ thành quân vụ sự Trung Thắng Tiền Dực đẳng doanh Cơ trưởng Doanh quan, Thiêm quản Thị hầu thị trù Nội thủy Trung hầu Tử trạch Ưu tiền đẳng đội thuyền, Nội sai Ngũ phủ phủ liêu Tri thị nội thư tả, Hộ phiên Tư lễ giám Trung quân Đô đốc phủ Tả đô đốc, quen biết chúa từ khi còn ở ngôi thế tử được làm bề tôi tâm phúc ở nơi màn trướng. Bên trong trông coi cung điện, bên ngoài trấn thủ những nơi trọng yếu. Phát giác sự nổi loại trong cung, đề phòng và quét sạch những bọn phản loạn như Vương Mãng, vì thế được sủng ái ban cho tước lớn không ai bằng, huân vọng lớn nhất một thời, nhiều công lao không sao kể xiết, ông có tính hiếu đễ, yêu rộng rãi mọi người lại thân với điều nhân, ân trạch ở một ấp mà chan chứa khắp bốn bề thôn xóm. Vì thế mọi người trong huyện hơn một vạn người từ già đến trẻ đều yêu mến, ngưỡng mộ ông. Lúc này các xã trong huyện cùng nói rằng: “Xóm dưới có công việc cần làm thì nhân tài vật lực đều thiếu may được nhờ Thái tể tiên công được phong tặng Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Nam Đô đốc phủ Tả Đô đốc cao đình hầu quan tâm giúp đỡ nên mới có ngày hôm nay. Nối tiếp chí của người xưa làm cho người già được yên ổn, trẻ nhỏ được chăm sóc, đùm bọc, giúp dân các việc tiện lợi, trừ bỏ những việc tệ hại khắp nơi đều nhận được ơn đức của ông, thêm vào đó uy vọng của ông làm mọi người đều thuần phục. Xóm làng trăm dặm rực rỡ như đài xuân vực thọ. Dân ta yêu như cha mẹ, ngước nhìn như sao thái tuế. Được nhờ bóng mát của cây cao mà nhớ đến tấc lòng cỏ dại phải nghĩ đến việc báo đáp ân đức của ông, mà chưa thể được. Việc đền ơn đáp nghĩa như bài thơ Quỳnh Dao ở chương Vệ Phong trong Kinh Thi sao bằng đặt lệ hương hỏa phụng thờ nơi lăng mộ”. Bàn mưu đã hợp bèn chọn nơi xây dựng, chọn nơi rộng rãi. Chỗ đó nổi lên một mô đất, phía trước có ao hình bán nguyệt, có gò, cây cỏ tươi tốt, có nhiều ánh sáng lấp lánh ẩn hiện. Tiến đến khu đất ấy quy hoạch xây dựng đền thờ, xây ba gian thất hai gian đường, bên ngoài là nghi môn, xung quanh có tường bao quanh, quy mô một phen đổi mới, trăm loại thợ cùng làm. Ông chợt nghe được việc này, không muốn phiền dân liền bỏ ra hơn hai nghìn quan làm chi phí xây dựng, hơn hai mươi mẫu ruộng tốt làm nhu phí tần tảo. Từ đường xây dựng xong liền định điều ước hàng năm có ngày bái lễ, chỗ này là nơi để ca ngợi chúc tụng công đức của ông, đến khi ông trăm tuổi chầu trời thì đây sẽ là nơi hưởng tự, cùng nhau quy ước muôn đời không được quên. Muốn có mấy lời để truyền đời bất hủ, đến xin ta bài ký, ta vốn biết ông là người có tấm lòng nhân đức mà cả huyện đều thấy. Nói rằng việc để lại những niềm ưu ái của người xưa thì có truyện: “Cây đường của Thiệu công(2), cây trúc của Khấu công(3)”. Tóm lại ghi nhớ đến công lao nhưng chưa được trực tiếp nhận biết. Ánh sáng rực rỡ, ngôi nhà thơm tho nhận ánh sáng của ngài, bỗng nhiên xây thành miếu mạo. Nay vốn là người mà sẽ thành thần, thế thì công đức của ông đối với dân sao có thể kể hết. Công lao của ông với xã tắc, đức độ của ông với xóm làng là như thế, khó báo đáp hết được. Hôm nay bản huyện kính phụng lòng thành là để báo đáp ân đức, ngày khác triều đình phong thưởng là để báo đáp công lao, chẳng phải càng để lâu thì càng mờ đi ư? Hôm nay và ngày sau gò đống có thể đổi mà công đức của ông trong lòng mọi người không đổi; gỗ đá có thể nát mà nghi thức tôn sùng đức của huyện này không nát. Thích điều nhân chuộng điều nghĩa trăm đời lưu tiếng tốt, huyện này cần gắng gỏi lên. Đem những lời này khắc vào đá để mãi mãi muôn đời làm gương. Tiền, ruộng đất cùng những nghi thức tế lễ được trình bày ở phần sau của bia.
Cấp cho thôn Mỗ xã Cao Mỗ 300 quan tiền, 5 mẫu ruộng (1 thửa 9 sào ở xứ Diệp Liêu, 1 thửa 8 sào ở xứ Cửa Ngòi, 1 thửa 1 mẫu 2 sào ở xứ Khu Nhương, 1 thửa 8 sào ở xứ Viên Dạ, 1 thửa 4 sào ở xứ Viên Dạ, 1 thửa 9 sào ở xứ Miếu Bà, thuế mỗi mẫu trong 1 năm là 3 quan tiền cộng với 15 quan dùng để làm các lễ. Hàng năm làm 2 lễ vào ngày sinh và ngày giỗ, mỗi lễ cúng 1 miếng thịt lợn, 3 quan tiền, 1 mâm xôi, định đúng 1 quan tiền, 1 vò rượu cùng vàng bạc trầu cau, định đúng 5 mạch tiền. Đến ngày sinh và ngày giỗ hàng năm mọi người đến đền thờ cúng tế, tế xong bản thôn cùng chia nhau ăn uống.
Hiển khảo hiển tỉ nhị húy, mỗi lễ 1 miếng thịt lợn, định đúng 2 quan tiền, 1 mâm xôi, định đúng 8 mạch tiền, 1 vò rượu, định đúng 2 mạch tiền, hàng ngày đến từ đường cúng tế, tế xong bản thôn cùng chia nhau ăn uống.
Cấp cho thôn Thọ Cao xã Cao Mỗ 300 quan tiền, 3 mẫu ruộng (1 thửa 8 sào ở xứ Đồng Dư, 1 thửa 9 sào ở xứ Pha Đa, 1 thửa 1 mẫu 3 sào ở xứ Đồng Sát). Thu thuế hàng năm mỗi mẫu 3 quan cùng với 9 quan để làm lễ vào ngày sinh và ngày giỗ, mỗi lễ 1 miếng thịt lợn, định đúng 3 quan tiền, 1 mâm xôi, định đúng 1 quan tiền, 1 vò rượu cùng vàng bạc trầu cau, định đúng 5 mạch tiền đến ngày sinh, ngày giỗ hàng năm cúng tế, tế xong bản thôn cùng chia nhau ăn uống.
Cấp cho thôn Phú Vinh xã Cao Mỗ 300 quan tiền, 3 mẫu ruộng (1 thửa 7 sào ở xứ Đồng Bãi, 1 thửa 1 mẫu 1 sào ở xứ Cửa Chùa, 1 thửa 1 mẫu 2 sào ở xứ Đồng Khâu). Thu thuế hàng năm mỗi mẫu 3 quan tiền cùng với 9 quan làm lễ vào ngày sinh ngày giỗ hàng năm, mỗi lễ 1 miếng thịt lợn, định đúng 3 quan tiền, 1 mâm xôi, định đúng 1 quan tiền, 1 vò rượu cùng vàng bạc trầu cau, định đúng 5 mạch tiền ngày sinh ngày giỗ hàng năm đến đền thờ cúng tế, tế xong bản thôn cùng chia nhau ăn uống.
300 quan tiền, 3 mẫu ruộng, thu thuế hàng năm mỗi mẫu 3 quan tiền cùng 9 quan làm lễ vào ngày sinh, ngày giỗ hàng năm, mỗi lễ 1 miếng thịt lợn, định đúng 3 quan tiền, 1 mâm xôi, định đúng 1 quan tiền, 1 vò rượu cùng vàng bạc trầu cau định đúng 5 mạch tiền ngày sinh ngày giỗ hàng năm đến đền thờ cúng tế, tế xong bản xã cùng chia nhau ăn uống.
Cấp cho thôn Kim Bôi, xã [....] 300 quan tiền, 3 mẫu ruộng (1 thửa 7 sào ở xứ Đồng Hộ, 1 thửa 4 sào 10 thước ở xứ Đồng Lạc, 1 thửa 8 sào ở xứ Tổ Xá, 1 thửa 1 mẫu 1 sào ở xứ Trà Cách. Thu thuế hàng năm mỗi mẫu 3 quan cùng 9 quan làm lễ vào ngày sinh ngày giỗ, mỗi lễ 1 miếng thịt lợn, định đúng 3 quan tiền, 1 mâm xôi, định đúng 1 quan tiền, 1 vò rượu cùng vàng bạc trầu cau, định đúng 5 mạch tiền đến ngày sinh, ngày giỗ hàng năm đến từ đường cúng tế, tế xong bản thôn cùng chia nhau ăn uống.
Cấp cho thôn Đông Lỗ xã Nam Lỗ 300 quan tiền, 3 mẫu ruộng (1 thửa 3 sào 10 thước ở xứ Đồng Đông, 1 thửa [.] sào 4 thước ở xứ Đồng Đống, 1 thửa 1 mẫu 1 sào 10 thước ở xứ Đồng Đống, 1 thửa 6 sào ở xứ Đồng Mẹt. Hàng năm thu thuế mỗi mẫu 3 quan tiền cùng 9 quan tiền hàng năm làm lễ vào ngày sinh, ngày giỗ, mỗi lễ 1 miếng thịt lợn, định đúng 3 quan tiền, 1 mâm xôi, định đúng 1 quan tiền, 1 vò rượu cũng vàng bạc trầu cau, định đúng 5 mạch tiền đến ngày sinh ngày giỗ hàng năm đến từ đường cúng tế, tế xong mọi người trong bản thôn cùng chia nhau ăn uống.
Cấp cho thôn Thổ Khối xã Nam Lỗ 300 quan tiền, 3 mẫu ruộng (1 thửa 1 mẫu ở xứ Đồng Quần, 1 thửa 8 sào 7 thước ở xứ Đồng Lục, 1 thửa 7 sào ở xứ Đồng Lục, 1 thửa 5 sào 6 thước ở xứ Đồng Lục). Thu thuế hàng năm mỗi mẫu 3 quan tiền cùng 9 quan làm lễ vào ngày sinh, ngày giỗ, mỗi lễ 1 miếng thịt lợn, định đúng 3 quan tiền, 1 mâm xôi, định đúng một quan tiền, 1 vò rượu cùng vàng bạc trầu cau, định đúng 5 mạch tiền đến ngày sinh, ngày giỗ hàng năm đến đền thờ cúng tế, tế xong bản thôn cùng chia nhau ăn uống.
[..........] (1 thửa 1 mẫu ở xứ Cửa Ra, 1 thửa 1 mẫu 4 sào 8 thước ở xứ Chùa Trống, 1 thửa 2 sào 7 thước ở xứ Vực Gió, 1 thửa 1 sào 12 thước tại xứ Cửa Nguyễn, 1 thửa 1 sào 4 thước ở xứ Biến Gan. Thu thuế hàng năm mỗi mẫu 3 quan cùng 9 quan làm lễ vào ngày sinh ngày mất, mỗi lễ 1 miếng thịt lợn, định đúng 3 quan tiền, 1 mâm xôi, định đúng 1 quan tiền, 1 vò rượu cùng vàng bạc trầu cau, định đúng 5 mạch đến ngày sinh, ngày giỗ đến đền thờ cúng tế, tế xong bản xã cùng chia nhau ăn uống.
Các thôn xã nếu có lễ vật cúng tế thì bản tộc không được yêu sách. Kính cho !
Các xã thôn được chia đất tốt thì phải truyền cho các đời giữ để cúng tế thờ tự, ngày sau người nào, xã thôn nào, danh nhân nào làm bừa tự đề xướng việc bán đất này thì có lời nguyền: Trời đất quỷ thần giết nó, con cháu sẽ diệt vong và danh nhân nào nghe lời mua đất này cũng chịu tội, gặp tai họa như người bán đất.
Đất tốt chia cho các xã thôn thờ cúng tế tự hàng năm, con cháu sau này nếu ỷ thế chiếm đoạt tự bán đất này thì có lời nguyền:
Trời đất quỷ thần giết nó, các xã thôn không được coi nhẹ lời hứa, nếu bán đất này làm trái với lời này thì có lời nguyền: Trời đất quỷ thần làm chứng cho những người thân trong gia đình bị tiêu diệt.
Ngày tốt tháng Quý thu năm Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ khoa Tân Hợi Kim tử Vinh lộc đại phu nhập thị tham tòng Thượng thư Bộ Hộ tri trung thư giám kiêm tri Đông các Quốc sử tổng tài trí sĩ khởi phục Đại tư đồ Xuân Quận công Nghi Xuân Tiên Điền Nguyễn Nghiễm tự là Hi Tư soạn.
Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu phụng quản dực Tả thuyền câu kê thị nội thư tả hộ phiên Tả thứ tử Phái Đình bá văn công lộng đình Đặng Duy Triệu đốc áp.
Thủ hợp Thị nội Thư tả Hộ phiên đồng tri phủ đàn trung Thanh Trì nhân mục môn Nguyễn Hữu Côn viết.
Bạt Thạch cục Đông Sơn An Hoạch Bách hộ Đào Sĩ Cẩn khắc.
Chú thích:
(1) Tấm bia do Nguyễn Nghiễm (1707 - 1775), tự Hy Tư, hiệu Nghi Hiên, biệt hiệu Hồng Ngư cư sĩ người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh soạn. Ông là thân phụ Nguyễn Khản và Nguyễn Du. Năm 1731 (niên hiệu Vĩnh Khánh thứ 3) ông đậu Hoàng giáp, làm đến Công bộ Thượng thư, Tham tụng tri Quốc tử giám kiêm Đông các, Quốc sử quán tổng tài, Thái bảo đại tư không, tước Xuân Quận công. Ông không những giỏi về chính trị, văn thơ nổi tiếng mà còn là một sử gia trung thực.
(2) Thiệu công: tên thật là Cơ Thích là con của Văn Vương em của Vũ Vương. Ông và Chu công là 2 bậc hiền thần đời Chu. Tương truyền Thiệu công có tài sử kiện ông thường ngồi dưới gốc cây cam đường xét xử rất công minh lên được mọi người yêu mến.
(2) Khấu công: Tể tướng Khấu Chuẩn đời Tống có tài sử kiện giỏi như Bao Công được người đời ca tụng.
Các sách tham khảo
1. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Giáo dục, 2001.
2. Đại Việt Sử ký tục biên, Nxb. KHXH, H. 1998.
3. Hoàng Lê nhất thống chí, Ngô gia văn phái, Nxb. Văn học, 1970.
4. Chu Hy: Tứ thư tập chú, Nxb. Văn hóa - Thông tin, 1998.
5. Khang Hy từ điển.
6. Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại, PGS.TS. Ngô Đức Thọ, Nxb. Văn hóa, 1997.
7. Đất và người Thái Bình từ truyền thuyết đến lịch sử. Phạm Minh Đức và Bùi Duy Lan, 2002.
8. Lược truyện các tác gia Việt Nam. Trần Văn Giáp chủ biên, Nxb. Văn học./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 2 (87)2008; Tr.78-82)