VI | EN
Thơ của Nguyễn Nghiễm tại miếu Quan Thánh ở phố cổ Hội An (Tạp chí Hán Nôm, Số 4 (107) 2011, Tr.59 - 67)
(Tạp chí Hán Nôm, Số 4 (107) 2011, Tr.59 - 67)

THƠ CỦA NGUYỄN NGHIỄM

TẠI MIẾU QUAN THÁNH Ở PHỐ CỔ HỘI AN

TRÀ SƠN PHẠM QUANG ÁI

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh

Tại miếu Quan Thánh phố cổ Hội An (Quảng Nam) hiện có ba bức hoành phi khắc bài thơ của Nguyễn Nghiễm và hai bài họa của hai Phó tướng. Ngoài ra còn có một bài tán của Nguyễn Nghiễm. Đây là tài liệu quý về Nguyễn Nghiễm đã được Nguyễn Xuân Diện giới thiệu (phiên âm dịch nghĩa) trên trang mạng Vietsciencs.free.fr. Bản dịch các bài thơ này cũng đã được Tống Quốc Hưng, Phạm Thúc Hồng giới thiệu trong các bài viết về miếu Quan Thánh.

Tuy nhiên ở một số bản đã giới thiệu, còn một vài nhầm lẫn. Cụ thể như bài tán gồm 24 câu/dòng được viết thành 12 hàng, mỗi hàng 2 câu/dòng. Trong hàng, dòng trên cách dòng dưới đều đặn một khoảng bằng một chữ tạo thành hai mảng chữ tách biệt nên ông Phạm Thúc Hồng đã nhầm tưởng là bài tán được cắt ra làm hai nửa và khắc từ trên xuống dưới thành hai phần. Do đó, ông đã đọc và phiên phần trên rồi mới đến phần dưới. Cũng vì thế mà phần dịch thơ/ nghĩa bài tán của ông mất cả mạch lạc, nhiều chỗ tối nghĩa. Nay chúng tôi xin giới thiệu đầy đủ tác phẩm này (phần dịch nghĩa ba bài thơ chúng tôi tham khảo bản dịch của Nguyễn Xuân Diện).

1. Nội dung tác phẩm

Chúng tôi giới thiệu dưới đây nguyên văn ba bài thơ và bài tán với bản phiên âm, khảo dị, dịch nghĩa và dịch thơ. Về phần khảo dị, chúng tôi sẽ khảo dị cả nguyên văn, phiên âm và dịch nghĩa trên cơ sở so sánh tài liệu của chúng tôi với tài liệu nói trên của Nguyễn Xuân Diện qui định là a, của Tống Quốc Hưng (Bản tin của Trung tâm Quản lý bảo tồn di tích - Hội An, số 4/2008, tr.522-526) là b, của Phạm Thúc Hồng (Miếu Quan Thánh chùa Ông - Hội An, Nxb. Lao động, H. 2008) là c.

1/ Bài xướng của Nguyễn Nghiễm

Chữ Hán:

師抵會安铺[1], 題關夫子廟

臲卼[2]炎圖慷慨身

桃園兄弟即君臣

直相忠義師千古

無論英雄敵萬人

心上高光還一統

目中吳魏失三分

至今萬國同瞻奉

匪直巍然海上神

景興三十六年, 乙未, 端暘節, 辛亥科進士, 特進金紫荣禄大夫, 奉差左将軍入侍参從, 户部尚書知東閣兼知中書監, 國史總裁, 大司徒, 致仕起復中捷軍营, 春郡公阮儼, 希思甫書.

Phiên âm:

Sư để Hội An phố, đề Quan Phu tử miếu

Niết ngột viêm đồ khảng khái thân,

Đào viên huynh đệ tức quân thần

Trực tương trung nghĩa sư thiên cổ,

Vô luận anh hùng địch vạn nhân.

Tâm thượng Cao, Quang(1) hoàn nhất thống,

Mục trung Ngô, Ngụy(2) thất tam phân.

Chí kim vạn quốc đồng chiêm phụng,

Phỉ trực nguy nhiên hải thượng thần.

(Cảnh Hưng tam thập lục niên, Ất Mùi, Đoan Dương tiết, tứ Tân Hợi khoa Tiến sĩ, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, phụng sai Tả Tướng quân Nhập Thị Tham tụng, Hộ bộ Thượng thư Tri Đông các kiêm Tri Trung thư giám, Quốc sử Tổng tài, Đại Tư đồ, trí sĩ khởi phục Trung Tiệp quân doanh, Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm, Hy Tư phủ thư.

* Khảo dị:

[1] Bản c chép là chữ bộ (bộ: tên đất, thuộc bộ thổ ), cả hai chữ bộphố đều lấy chữ phủ đặt phía phải làm thanh phù, chỉ khác nhau về bộ nhưng vì bộ kim trong chữ bộ được viết giản lược thànhkhiến người đọc đứng từ xa dễ nhầm với bộ th.

[2]Nguyên văn là chngột . Bản c chép là chữ ngôi(cái cột buồm) vì do nhầm bộ mộc của chữ này với chữ ngột (chữ này nằm bên trái chữ nguy để hợp thành chữ ngột ).

Dịch nghĩa:

Hành quân(3) đến phố Hội An đề miếu Quan Phu tử

Cơ đồ nhà Hán lung lay, (ngài) đem thân hăng hái vì nghĩa,

Anh em chốn vườn đào, cũng là vua tôi (của nhau),

Giương cao tấm gương trung nghĩa làm thầy của muôn đời.

Không thể so (ngài) với loại anh hùng sức địch vạn người,

Tấm lòng hướng lên Cao, Quang, mong giang sơn quy về một mối

Trong mắt không có cảnh nước Ngô, nước Ngụy chia làm ba thiên hạ

Cho đến ngày nay, muôn nước cùng chiêm bái kính phụng

Vòi vọi nguy nga như vị thần trên biển.

Cảnh Hưng năm thứ 36 (1775), Ất Mùi, tết Đoan Ngọ (5.5 âm lịch), vua ban Tiến sĩ khoa Tân Hợi (1731), đặc phong tước Kim tử Vinh lộc đại phu, phụng chỉ nhận chức Tả tướng quân, Tham tụng, Thượng thư Bộ Hộ, coi việc Đông các, kiêm chức Tri trung thư giám, Quốc sử Tổng tài, Đại Tư đồ, về hưu được gọi ra coi việc quân doanh Trung Tiệp, tước Xuân Quận công, Nguyễn Nghiễm, tên chữ là Hy Tư viết.

Dịch thơ:

Hành quân đến phố Hội An, đề thơ miếu Quan Phu tử

Lo Hán suy tàn, chẳng tiếc thân

Vườn đào huynh đệ, lễ quân thần

Nêu cao trung nghĩa thầy thiên cổ

Coi nhẹ anh hùng địch vạn nhân

Lòng hướng Cao, Quang bền một mối,

Mắt nhìn Ngô, Ngụy xóa tam phân

Đến nay muôn nước đều thờ cúng,

Vòi vọi trùng khơi uy đức thần.

2/ Bài họa của Uông Sĩ Dư

Chữ Hán:

奉隨[1]平南戎[2]務經會安铺題關夫子廟詩

為國丹心許國身

義哉[3][4]弟節斯[5]

英聲匪[6]旦蜀三傑

忠烈當求古一人

直把炎圖為己責

[5][7]赤鼎許誰分

角蜗[8]世事都陳迹[9]

正氣洋萬古神

賜丙戌科進士, 奉侍日[10]講添[11][12]侍內書, , 東閣大學士汪士[13][14]和左將軍参從尊貴台元韻.

Phiên âm:

Phụng tùy bình Nam nhung vụ kinh Hội An phố đề Quan Phu tử miếu thi

Vị quốc đan tâm hứa quốc thân

Nghĩa tai! Tư đệ, tiết tư thần.

Anh thanh phỉ đán Thục tam kiệt(4)

Trung liệt đương cầu cổ nhất nhân

Trực bả Viêm đồ vi kỷ trách,

Khẳng giao xích đỉnh hứa thuỳ phân

Giác oa thế sự đô trần tích,

Chính khí dương dương vạn cổ thần

Tứ Bính Tuất khoa Tiến sĩ, phụng Thị nhật giảng Thiêm sai Tri Thị nội thư, Tả công phiên, Đông các Đại học sĩ Uông Sĩ Dư canh họa Tả tướng quân Tham tụng tôn quý đài nguyên vận.

* Khảo dị

[1]. Bản c chép là phụ (bám, nương cậy, cái nhỏ bám vào cái lớn) gồm có bộ phụ () và chữ phó (với nghĩa: giao phó cho); trong khi đó chữ tùy cùng chung bộ phụnên dễ bị nhầm lẫn với chữ ; bản a chỉ phiên là phụng bình 奉平.

[2].Chữ này bản a phiên là giới (không chép nguyên văn), chúng tôi đoán tác giả đã trông nhầm chữ nhung (vũ khí, nhà binh, binh lính) với chữ giới (khuyên răn) vì cả hai chữ đều có bộ qua nằm bên phải; tuy nhiên, trong phần dịch nghĩa, chúng tôi cũng không hiểu tại sao tác giả lại dịch ra là biên giới (nét nghĩa chính của chữ giới này).

[3]. Chữ này bản c đọc/chép nhầm là tại , nay đính chính lại là tai , đúng theo nguyên văn. Vả lại, nếu dùng chữ thì nghĩa câu sẽ khó mà thông;

[4]. Bản c đọc/chép nhầm là (bộ tâm ) nghĩa là: nghĩ ngợi, mến, nhớ; nhưng thực chất nó là chữ (đại từ chỉ trỏ với nghĩa là: ấy) gồm chữ kỳ (đại từ chỉ trỏ) + bộ cân (cái rìu; thêm vào chữ nét nghĩa khác: ghẽ ra, tách rời ra).

[5]. Vốn là chữ phỉ (thuộc bộ : chẳng phải) bản c đọc/chép nhầm thành chữ phỉ (bộ 广: sửa trị).

[6]. Vốn là chữ khẳng (bộ nhục : bằng lòng cho) bản c đọc/chép nhầm thành chữ khẳng (bộ thủ , với nghĩa: đè nén).

[7]. Vốn là chữ giao (bộ phốc, với nét nghĩa là sai khiến) bị bản c đọc/chép nhầm thành chữ giao (bộ đầu , với nét nghĩa: có quan hệ với nhau).

[8]. Vốn là chữ oa (bộ trùng, với nét nghĩa là tranh giành nhau) nhưng bản c đọc/chép nhầm thành chữ oa (cũng bộ trùng + chkhuê : chỉ con ếch, con chẫu chàng).

[9]. Bản c đọc chép nhầm là chữ tích (thuộc bộ túc với nét nghĩa là dấu chân, vết chân). Chữ tích trong nguyên bản thuộc bộ xước nhưng vì cả hai chữ tuy khác bộ nhưng đều lấy chữ diệc làm thanh phù, nét nghĩa chính lại gần nhau nên dễ nhầm lẫn.

[10]. Bản c chép thiếu chữ nhật .

[11]. Bản c không chép chữ Hán phần này nhưng phiên là khâm , chúng tôi đoán là soạn giả đã trông nhầm chữ thiêm (thêm) thành chữ khâm (cái chăn, đồ dùng để bọc người chết).

[12]. Bản c phiên là tư, chúng tôi đoán soạn giả đã nhầm chữ tri (bộ thỉ + chữ khẩu => với nét nghĩa là: làm chủ) thành chữ (bộ hòa + chữ khư => với nét nghĩa là: riêng một).

[13]. Tên tác giả là (bộ ngọc + ch => dư phan , một thứ ngọc quý ở nước Lỗ) nhưng vì chữ trông giống chữ điển nên soạn giả bản a và b đọc/chép nhầm thành chữ điển . Tài liệu Đăng khoa lục ghi là Uông Sĩ Điển 汪士 .

[14]. Nguyên văn là chữ canh (bộ bối ) với nét nghĩa là: nối theo. Bản c không thấy phiên âm chữ này, bản b thì phiên là phụng (phụng họa) với nghĩa là: kính vâng. Chắc là do tự dạng hai chữ nhìn từ xa trông hơi giống nhau lại có nghĩa phù hợp với ngữ cảnh nên tác giả bản b mới đọc/chép/phiên nhầm.

Dịch nghĩa:

Vâng lệnh theo giúp việc quân bình định phương Nam[1], qua phố Hội An đề thơ miếu Quan Phu tử

Lòng son vì nước, đem thân vì nước

Trung nghĩa thay! Người em ấy. Khí tiết thay! Người bề tôi ấy.

Tiếng anh hùng không chỉ kể trong ba người tài giỏi đất Thục.

Lòng trung liệt chỉ có thể tìm được ở một người xưa ấy thôi!

Sẵn sàng coi cơ đồ nhà Hán là trách nhiệm của bản thân mình

Sao có thể để cơ nghiệp đế vương cho người ta chia cắt.

Chuyện tranh giành nhau ở đời cũng chỉ đều là tàn tích cả

Chính khí lẫm liệt đáng là vị thần của muôn thuở.

Vua ban Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1766), phụng chỉ nhận chức Thị nhật giảng được cử coi thêm việc Nội thị, Tả công phiên, Đông các Đại học sĩ, Uông Sĩ Dư họa nguyên vần của ngài Tả tướng quân Tham tụng.

* Khảo dị

[1]. Vế này, bản a dịch là "vâng lệnh đi dẹp biên giới phương Nam" vì đọc/chép sót chữ tùy và nhầm chữ nhung thành chgiới.

Dịch thơ:

Sẵn tấm lòng son, hiến một đời,

Thắm tình huynh đệ, nghĩa bề tôi,

Anh hùng, ai sánh ngoài tam kiệt.

Trung liệt, từ xưa chỉ một người.

Nghiệp Hán, quyết đem thân gánh vác,

Nền Lưu, chẳng để chúng chia bôi.

Tranh giành vương bá, đâu tàn tích?

Lẫm liệt còn đây, thần vạn thời.

3/ Bài họa của Nguyễn Lệnh Tân(5)

Chữ Hán:

綱常任重致[1]其身

疋馬單刀世[2]漢臣

三國英雄無敵手

一場忠烈有完[3]

[4][5]華夏垂千古

義在春秋炳十分

正氣洋洋穹壤[6][7]

廿年為將億年神

賜癸未科進士, 翰林院侍讀[8], 軒阮令賓, 賡和左將軍参從尊貴台元. 皇朝景興三十六年, 乙未, 孟夏敬題.

Phiên âm:

Cương thường nhậm trọng trí kỳ thân

Thất mã đơn đao thế Hán thần

Tam quốc anh hùng vô địch thủ

Nhất trường trung liệt hữu hoàn nhân

Uy lưu Hoa Hạ thùy thiên cổ,

Nghĩa tại Xuân Thu(6)bính thập phân

Chính khí dương dương khung nhưỡng tịnh

Trấp niên vi tướng, ức niên thần

Tứ Quý Mùi khoa Tiến sĩ, Hàn Lâm viện Thị độc, Phu hiên Nguyễn Lệnh Tân, canh họa Tả tướng quân Tham tụng tôn quý đài nguyên vận. Hoàng triều Cảnh Hưng, tam thập lục niên Ất Mùi, mạnh hạ kính đề.

* Khảo dị:

[1]. Bản c đọc/chép là trí (bộ võng ) với nét nghĩa chính là: đặt, để. Nhưng xem kỹ bản chụp chúng tôi thấy rõ là chữ trí (bộ chí + chtruy) với nét nghĩa là: hết bổn phận của mình với người khác;

[2]. Nguyên văn là chữ thế (bộ ) nghĩa là: đời người, cuộc đời nhưng bản c đã chép đọc/chép nhầm thành chữ thế (bộ lực ) với nghĩa là: thế lự; sức hành động; hình thế;

[3]. Nguyên văn là chữ hoàn (bộ miên ) với nghĩa là: đầy đủ, trọn vẹn nhưng bị bản c đọc/chép nhầm thành chữ hoàn (bộ xước ) với nét nghĩa là: trở về, trở lại;

[4], Chữ uy ( bộ nữ + chữ qua ) với nét nghĩa là: oai, có dáng dấp tôn nghiêm đáng sợ bị bản c đọc/chép nhầm thành chữ oai/oa (trên chbất dưới bộ chỉ ) với nghĩa là: méo lệch.

[5]. Nguyên văn là chữ lưu (bộ điền) có nghĩa là: lưu lại bị bản c đọc/chép nhầm là chữ lưu (bộ thủy ) có nghĩa là: nước chảy, dòng chảy.

[6]. Nguyên văn là chữ nhưỡng (bộ thổ ) có nghĩa là đất mềm bị bản c đọc/chép nhầm thành chữ nhũng (bộ mịch ) với các nét nghĩa chính là: 1. Nhàn tản, thừa, vô dụng; 2. Vội vàng, bận rộn; 3. Tạp nhạp; 4. Dân không có chỗ ở yên; 5. Hèn kém;

[7]. Nguyên văn là chữ tịnh (bộ nhất ) có nghĩa là: gồm, đều bị bản c đọc/chép nhầm là chữ trịnh (bộ ấp ) có nghĩa là: 1. Nước Trịnh (một nước Thời Xuân Thu Chiến Quốc ở Trung Hoa, thuộc tỉnh Hà Nam bây giờ); 2. Họ Trịnh; 3. Trịnh trọng.

[8]. Nguyên văn là chữ độc (bộ ngôn) với nghĩa là: đọc, đọc cho rành rọt từng câu từng chữ nhưng bản c phiên là chữ giảng (bộ ngôn ) với nghĩa là: Giảng giải, lấy lời nói mà nói cho người ta hiểu rõ nghĩa

Dịch nghĩa:

Đạo cương thường tự xem là trọng trách, đem thân hiến cho người,

Một ngựa, một đao, làm bề tôi nhà Hán

Trong ba nước, (ngài) là anh hùng không có đối thủ.

Trong hàng các đấng trung liệt, trọn vẹn nhất chỉ có người ấy!

Uy danh bao trùm đất Hoa Hạ ngàn đời nay,

Nghĩa khí trong kinh Xuân Thu tỏ rõ mười phần.

Chí khí mênh mang sánh cùng trời đất.

Hai mươi năm là danh tướng, muôn năm sau là đấng thần linh.

Vua ban Tiến sĩ khoa Quý Mùi, giữ chức Hàn Lâm viện Thị độc, Phu hiên Nguyễn Lệnh Tân họa nguyên vần của ngài Tả tướng quân Tham tụng. Hoàng triều Cảnh Hưng, năm thứ 36, Ất Mùi (1775), tháng tư kính đề.

Dịch thơ:

Cương thường gánh nặng đến quên thân

Cật ngựa thanh đao, bậc Hán thần

Trung liệt, muôn đời không kẻ sánh,

Anh hùng, ba nước có ai cân.

Oai trùm Hoa Hạ, lưu ngàn thuở

Nghĩa tỏa Xuân Thu, sáng bội phần

Chính khí so tày trời với đất,

Hai mươi năm tướng, vạn năm thần.

4/ Bài tán

Chữ Hán:

關夫子廟讚

天眷西顧

篤生神武

炎祚式微

匪躬之故

秀園一叙

兄弟君臣

左周右旋

歷坎履屯

北魏東

三分鼎足

匹馬单刀

帝漢於蜀

赤精一線

冲漠可回

高光舊物

唾手重恢

匪直也勇

匪直也智

忠義流光

千秋仰止

閟宮有侐

遺像有嚴

默扶我越

赫赫炎炎

景興乙未之夏, 左將軍鴻魚居士題

天眷西顧.

Phiên âm:

Quan Phu tử miếu tán

Thiên quyến tây cố[1]

Đốc sinh thần võ

Viêm tộ thức[2] vi

Phỉ cung chi cố

Tú[3] viên nhất tự

Huynh đệ quân thần

Tả chu hữu toàn

Lịch khảm lý truân

Bắc Ngụy, Đông Ngô

Tam phân đỉnh túc.

Thất mã đơn đao,

Đế Hán ư Thục[4].

Xích tinh nhất tuyến,

Xung mạc khả hồi.

Cao, Quang cựu[5] vật

Thóa thủ trùng[6] khôi

Phỉ trực dã dũng,

Phỉ trực dã trí.

Trung nghĩa lưu quang,

Thiên thu ngưỡng chỉ.

Bí[7] cung hữu tuất,

Di tượng hữu nghiêm.

Mặc phù ngã việt,

Hách hách viêm viêm

(Cảnh Hưng Ất Mùi chi hạ, Tả tướng quân Hồng Ngư cư sĩ đề)

* Khảo dị

[1]. Nguyên văn chép chữ cố (bộ hiệt ) với nét nghĩa là: ngoái lại, trông lại nhưng bản c đọc/chép nhầm thành chữ pha (bộ hiệt ) với nét nghĩa là: nghiêng lệch, không bằng phẳng.

[2]. Nguyên văn là chữ thức (bộ dặc hay dực ) đi liền với chữ vi (bộ xích ) có nghĩa là: đã suy yếu quá. Bản b phiên là thí, chúng tôi ngờ là tác giả trông lầm chữ thức thành chữ thí (bộ ngônviết đơn giản + chữ thức ).

[3]. Nguyên văn là chữ (bộ hòa ) với nét nghĩa là: đẹp nhưng tác giả bản b lại đọc/phiên là đào. Chắc là tác giả bị ảnh hưởng tích Đào viên kết nghĩa nên mới đọc nhầm chữ thành chđào (bộ mộc ) với nghĩa là: cây đào.

[4]. Nguyên văn là Đế Hán ư Thục 帝漢於蜀 dịch đúng là: làm vua Hán ở đất Thục nhưng tác giả bản b lại phiên là Đế ư Hán Thục dịch sát nghĩa là: làm vua ở Hán Thục; viết như vậy không thông nghĩa câu cũng như văn cảnh.

[5]. Nguyên văn viết là cựu (bộ cữu ) có nghĩa là: , nhưng tác giả bản c lại đọc/chép nhầm là hộ (bộ ngôn) với nghĩa là: giúp đỡ, che chở;

[6]. Nguyên văn là chữ trọng (bộ ) còn có một âm đọc nữa là trùng nhưng với nét nghĩa là: lại, trùng khôi 重恢 (khôi phục lại). Bản c phiên là trọng. Chúng tôi phiên là trùng và dịch theo nét nghĩa này.

[7]. Nguyên văn là chữ (bộ môn + chtất) với nét nghĩa là: giấu kín, kín đáo nhưng vì trông giống chữ muộn (bộ tâm + chữ môn ) với nghĩa là: buồn bực nên tác giả bản c đọc/chép nhầm thành chữ này. Đây chỉ là một sự nhầm lẫn có tính máy móc, chứ về nghĩa thì đặt chữ này trong câu không thể nào thông được.

Dịch nghĩa:

Bài tán(7) miếu Quan Công

Hướng tây trời chiếu lại,

Giáng sinh đấng thần võ.

Vận nhà Hán gặp hồi suy vi,

(Ngài) nghiêng mình chống đỡ.

Vườn đẹp tỏ một tấm lòng thành,

Anh em cũng là vua tôi.

Phải trái chở che nhau,

Trải bao gian khổ.

Phía Bắc có Ngụy, Đông có Ngô,

Chân vạc chia ba,

Một ngựa, một dao,

Vua Hán ở Thục,

Lòng son bền một mối,

Xông pha cát bụi thu về.

Cao, Quang cơ nghiệp cũ,

Nhổ nước bọt xoa tay là khôi phục được.

Chính trực là dũng,

Chính trực là trí

Trung nghĩa mãi sáng tỏ,

Nghìn thu không ngớt được ngưỡng mộ.

Cung thờ kín đáo, thanh tĩnh,

Tượng (của ngài) để lại rất uy nghiêm.

Âm thầm phù hộ cho nước Việt ta

Rạng rỡ, hiển hách.

Dịch ra văn vần:

Điềm lành trời tây tỏ

Bậc thần võ giáng sinh

Gặp lúc Hán điêu linh,

Phải nghiêng mình chống đỡ.

Vườn đào mở lòng thành,

Vua tôi tình huynh đệ

Bảo vệ nhau chu toàn

Qua nguy nan, khốn khổ.

Bắc có Nguỵ, đông: Ngô

Chân vạc xẻ cơ đồ.

Một thanh đao, một ngựa.

Đất Thục phò Hán chúa,

Lòng son trọn một bề.

Cao, Quang cơ nghiệp cũ

Xông tên đạn thu về,

Gắng ra tay khôi phục.

Một tấm lòng chính trực,

Sinh dũng lực, trí tài.

Trung nghĩa tỏa lâu dài,

Nghìn thu nồng hương lửa.

Thanh tịnh nơi thờ tự,

Uy nghiêm tượng trên tòa,

Ngầm giúp nước Việt ta,

Mãi vẻ vang, hiển hách.

Cảnh Hưng, năm Ất Mùi (1775), mùa hạ

Tả tướng quân, Cư sĩ Hồng Ngư viết.

2. Về xuất xứ những sáng tác này

Tháng 5 năm Giáp Ngọ (1774), thấy tình hình Đàng Trong của chúa Nguyễn loạn, trong triều thì Trương Phúc Loan chuyên quyền, ngoài thì bị anh em Tây Sơn đánh phá dữ dội, chúa Trịnh sai Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc đem quân thủy bộ hơn ba vạn đi trước đánh chiếm thành Phú Xuân (Thuận Hóa), thủ phủ chúa Nguyễn.

Tháng 11 cùng năm, Trịnh Sâm đích thân nam chinh, chia quân làm 4 đội. Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm trước đó, tháng 10 năm Tân Mão (1771), đã về hưu nhưng đến tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1772) lại được triệu ra làm Tham tụng (Tể tướng). Trong cuộc nam chinh này, ông phụng chỉ làm Tả Tướng quân, chỉ huy một cánh quân, được mở quân doanh riêng.

Tháng 3 năm Ất Mùi (1775), Quận Xuân và Quận Việp hợp quân tiến đánh Quảng Nam. Khi đưa quân vào chiếm đóng Hội An, Nguyễn Nghiễm đã đến thăm miếu Quan Phu tử (Quan Công) và cảm khái làm bài thơ Sư để Hội An phố đề Quan Phu tử miếu và bài tán Quan Phu tử miếu tán. Hai vị tùy tướng là Tiến sĩ Uông Sĩ Dư, Tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân đã họa nguyên vận bài thơ Sư để Hội An phố đề Quan Phu tử miếu và tự tay viết cả ba bài thơ và bài tán rồi sai thợ khắc chạm thành ba tấm hoành phi treo trên bái đường ngôi miếu.

Tương truyền, không chỉ có miếu Quan Công mà rất nhiều di tích khác của xứ Quảng nói chung, Hội An nói riêng đã được Nguyễn Nghiễm đề thơ.

 

Chú thích:

(1) Cao, Quang 高光:

- Cao là Hán Cao Tổ, tức Lưu Bang, người khai lập nhà Tây Hán vào năm 206 TCN - 9 SCN;

- Quang trỏ Hán Quang Vũ, tức Lưu Tú, một hoàng tộc nhà Hán đã nổi dậy chống Vương Mãng (cướp ngôi nhà Hán vào năm thứ 9 SCN), khôi phục lại nhà Hán, lập ra nhà Đông Hán (25-220).

(2) Ngô, Ngụy : Nhà Hán đến đời Hoàn Linh bắt đầu suy sụp, tạo ra một thời kỳ loạn lạc kéo dài từ năm 190 đến năm 280 SCN, các thế lực phong kiến cát cứ xâu xé nhau tàn khốc khiến đất nước bị tàn phá, nhân dân điêu linh. Trong cuộc tranh giành đó nổi lên ba thế lực: Ngụy, do Tào Tháo (155-220) làm chủ; Thục do Lưu Bị (161-223) làm chủ; Ngô do Tôn Quyền (182-252) cầm đầu. Ngụy được thiên thời, Ngô được địa lợi và Thục được nhân hòa.

Trong thế lực của nhà Thục có Quan Vũ (關羽, 162?-220), cũng được gọi là Quan Công (關公), tự là Vân Trường (雲長), Trường Sinh (長生) là một vị tướng nổi tiếng trung dũng, mưu lược thời kỳ cuối nhà Đông Hán và thời Tam QuốcTrung Quốc, là anh em kết nghĩa với Lưu Bị và Trương Phi. Ông là người đã góp công lớn vào việc thành lập nhà Thục Hán, với vị hoàng đế đầu tiên là Lưu Bị. Ông cũng là người đứng đầu trong số ngũ hổ tướng của nhà Thục Hán, bao gồm: Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Hoàng TrungMã Siêu. Sau khi mất, ông được nhân dân Trung Hoa lập đền thờ phụng ở nhiều nơi. Tại Việt Nam, Hoa kiều cũng lập đền thờ ông ở một số nơi.

(3) Hai chữ 師抵(sư để)bản a dịch là "đưa quân đến", bản b dịch là "dừng quân" chúng tôi theo bản c dịch là "hành quân đến".

(4) Thục tam kiệt: ba người kiệt xuất nhà Thục là Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi.

(5) Bài họa của Nguyễn Lệnh Tân cùng chung đầu đề với bài họa của Uông Sĩ Dư;

(6) Nghĩa tại Xuân Thu... Xuân Thu 春秋, cũng được gọi là Lân Kinh 麟經 là bộ biên niên sử nước Lỗ viết về giai đoạn từ năm 722 TCN tới năm 481 TCN. Tương truyền, cuốn sách này do Khổng Tử biên soạn (theo giả thuyết của Mạnh Tử), nó được đưa vào trong bộ Ngũ kinh của văn hóa Trung Quốc. Nội dung Kinh Xuân Thu chủ yếu thông qua các sự kiện, nhân vật lịch sử đương thời tập trung vào việc đề cao đạo nghĩa vua tôi, phận tôi con hết lòng trung nghĩa với vua, cha

(7) Bài tán: Bài thơ, bài văn ca ngợi, đề cao con người hoặc sự việc nào đó./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 4 (107) 2011, Tr.59 - 67)

Trà Sơn Phạm Quang Ái
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm